Tag Archives: Dinh dưỡng

Dinh dưỡng cho trẻ như thế nào vào bữa sáng

Để bữa sáng của trẻ đầy đủ dinh dưỡng, các mẹ cần phải đảm bảo cung cấp cho trẻ 4 nhóm: đạm, chất béo, bột đường, vitamin và khoáng chất. Với 4 nhóm dưỡng chất này, các mẹ có thể tìm thấy ở nhiều loại thực phẩm khác nhau. Dưới đây là một vài gợi ý các nguồn thực phẩm có chứa các nhóm dinh dưỡng cần thiết cho trẻ.

1. Thức ăn tinh bột: có nhiều trong cơm, cháo, khoai tây, khoai lang, mì… Nhóm thức ăn này có chứa các tinh bột tạo nên chất bột đường cần thiết để chuyển hóa thành năng lượng cho các hoạt động của trẻ.

2. Trái cây và rau xanh: rau có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp cho cơ thể vitamin và chất xơ. Trái cây cũng chứa lượng vitamin cao, do đó các mẹ nên cho trẻ dùng thêm trong các bữa ăn.

3. Protein và chất sắt: có trong các loại thực phẩm như thịt, cá, trứng, các loại hạt. Vai trò tạo hình cơ bắp của protein đặc biệt quan trọng. Riêng chất sắt là thành phần quan trọng của huyết sắc tố. Thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu, ảnh hưởng không tốt đến trí nhớ của trẻ.

dinh-duong-cho-tre-nhu-the-nao-vao-bua-sang

4. Sữa tươi: đây là nguồn dưỡng chất khá phong phú vì chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất như protein, chất béo, sắt, kẽm, magiê, canxi, vitamin,… Do đó, các mẹ nên lựa chọn những sản phẩm làm từ sữa tươi để trẻ dùng kèm trong bữa ăn.

Thực đơn bữa sáng chuẩn

Mỗi ngày, lượng calories trung bình mà trẻ cần được “nạp” được tính theo công thức: 1000kcal + 100 x số tuổi. Ví dụ, khi lên 4 tuổi trẻ cần 1400 kcal/ngày, đến 10 tuổi thì lượng calories tăng lên đến 2000 kcal/ngày.

Thực đơn bữa sáng chuẩn để các mẹ tham khảo:

– Món chính: phở, bún, hoặc miến (400-500 kcal), hoặc có thể thay đổi khẩu vị cho trẻ bằng bánh mì thịt (khoảng 400kcal), hay các món xôi đậu (khoảng 500kcal).

– Món dùng kèm: 1 hộp hức uống dinh dưỡng (khoảng 200ml) để đảm bảo nguồn dưỡng chất cho nhu cầu phát triển cơ thể của trẻ.

Những trường hợp tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà

Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng  điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:

1. Bé dưới một tuổi
Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga

Không cho trẻ dưới 1 tuổi ăn cháo trứng

2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.

3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.

4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.

5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga1

6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé

7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.

Nguyên nhân nổi mề đay ở phụ nữ sau sinh

Một số phụ nữ sau khi sinh con thường gặp phải hiện tượng nổi mề đay, mẩn ngứa. Đây không phải là một hiện tượng nguy hiểm đe dọa tính mạng người bệnh tuy nhiên cần xem xét kỹ nguyên nhân và không nên bỏ qua các triệu chứng của căn bệnh này.

Biểu hiện bên ngoài

Đó là các nốt mẩn đỏ toàn cơ thể, có thể xuất hiện thành nhiều nốt nhỏ và càng gãi nhiều thì càng ngứa và lan rộng.

Thường thì khi các mảng mề đay như vậy thường xuất hiện khi nhiệt độ tăng cao trên 35 độ hoặc dưới 15 độ. Mề đay cũng thường khởi phát về đêm hoặc trời lạnh, do khí âm thấm vào người (từ trạng thái nóng sang lạnh hoặc lạnh sang nóng đột ngột).

Khi thấy xuất hiện những mảng mề đay, các bà mẹ chú ý không xông hơi, không quấn nóng, nên hạn chế massage và không nên dùng nước lạnh.

nguyen-nhan-noi-me-day-o-phu-nu-sau-sinh1

Nguyên nhân nổi mề đay ở phụ nữ sau sinh

Hiện tượng nổi mề đay sau sinh chủ yếu do men gan tăng. Men gan tăng cộng thêm với tình trạng dinh dưỡng chưa đầy đủ hoặc ăn không tiêu sẽ làm gan thiếu máu, nhiệt, phát độc, gây ngứa. Ngoài ra, sau khi sinh, cơ thể người mẹ yếu dễ bị nhiễm gió độc, gan không lọc được độc khí gây ngứa trong người. Có một số trường hợp thai phụ còn bị ngứa từ khi đang mang thai. Nếu đúng là lý do này, các bà mẹ có thể uống mật ong kèm chanh tươi để giải độc, có thể uống thêm philatop và cao chè vằng giải độc và bổ máu.

Điều trị nổi mề đay sau sinh

Điều trị nổi mề đay sau sinh cần chú ý đến các phương pháp điều trị tránh bị ảnh hưởng đến lượng sữa cho con bú. Dưới đây là một số phương pháp các bà mẹ có thể tham khảo:

Dùng bã mướp đắng xay

Mướp đắng có tính thanh nhiệt, khử khuẩn. Các bà mẹ áp dụng cách này nên chuẩn bị khoảng 1kg mướp đắng xay ra, sau đó lấy bã đắp vào những chỗ nổi ngứa 1 vòng 1 giờ.nĐắp cho tới khi nào các mụn ngứa lặn. Ngoài ra các bà mẹ có thể dùng hồ nước để bôi cho mát da.

Trà hoa cúc

nguyen-nhan-noi-me-day-o-phu-nu-sau-sinh

Trà hoa cúc vừa có tác dụng mát gan, thanh nhiệt, tẩy độc gan, đắp lên da lại thêm tác dụng trắng da và không gây ảnh hưởng đến sữa mẹ nhiều. Ngoài ra, trà hoa cúc còn có tác dụng chống táo bón cho cả mẹ và em bé. Vì vậy các mẹ có thể mua hoa cúc khô vè hãm uống hàng ngày như uống trà để giải nhiệt.

Phương pháp khác

Ngoài 2 phương pháp trên, các mẹ có thể uống nước mã đề, cam thảo để giải nhiệt. Không nên dùng các loại đồ ăn uống có tính chua để thanh nhiệt vì dễ làm mất máu và lạnh cơ thể.

Giai đoạn sau sinh, cơ thể người mẹ cần lượng dinh dưỡng đẩy đủ để phục hồi cơ thể sau sinh và đủ dinh dưỡng để nuôi em bé. Vì vậy các mẹ cần chú ý ăn uống đủ chất, uống thêm thuốc lợi sữa bổ khí huyết hoặc thuốc bổ máu để cơ thể tăng khí huyết, đủ máu, ăn ngủ ngon giúp gan hoạt động bình thường lại.

Nguồn phòng khám

Dinh dưỡng cho bệnh nhân sau khi phẫu thuật

Các chất sinh năng lượng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của chúng ta. Có năng lượng chúng ta mới có thể sống, làm việc lao động và chống lại bệnh tật. Nhưng với người sau phẫu thuật làm thế nào để bổ sung năng lượng hợp lý, dinh dưỡng đầy đủ để cơ thể mau phục hồi?

Khó hồi phục nếu sai phác đồ dinh dưỡng

Hiện nay nhiều người trong chúng ta đang mắc một sai lầm khi chăm sóc người nhà ốm đó là sau khi ốm mệt hoặc trải qua một kỳ phẫu thuật sẽ cho người bệnh ăn thật nhiều từ thô đến tinh hoặc bổ sung quá nhiều vitamin, dưỡng chất… với một suy nghĩ đơn giản ăn như thế mới mau hồi phục sức khỏe. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng bệnh nhân sau phẫu thuật nếu không được chăm sóc sức khỏe đúng cách và chế độ dinh dưỡng không hợp lý sẽ dẫn đến những biến chứng cho vết mổ như lâu lành, nhiễm trùng, bung vết mổ…

dinh-duong-cho-benh-nhan-sau-khi-phau-thuat

Để nhanh lành vết mổ, điều quan trọng là người bệnh phải ăn uống đầy đủ chất đạm. Chất đạm tốt có nhiều trong các loại thịt như thịt gà, thịt lợn, thịt bò, chim cút…

Chất béo: Các chất béo trong cá hay thủy hải sản là chất béo tốt mà người bệnh nên ăn. Không ăn hoặc rất hạn chế ăn chất béo từ động vật như lợn, chó, gà, vịt… Tránh ăn nước béo trong nước dùng phở, bún, tránh ăn da gà, vịt.

Chất xơ: Trái cây và rau quả tươi chứa cả chất dinh dưỡng và chất xơ, rất cần thiết để giúp lành vết mổ. Thức ăn chứa chất xơ đóng vai trò quan trọng trong ngăn ngừa bệnh táo bón, một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật, nhất là phẫu thuật ổ bụng. Thức ăn chứa nhiều chất xơ là: bánh mì nâu và bánh mì đen làm từ ngũ cốc. Cùng với đó Vitamin C là một chất chống ôxy hóa, giúp nhanh lành vết mổ và nâng cao sức đề kháng, làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Những thực phẩm giàu vitamin C là cam, bưởi, chanh, rau ngót, dâu tây, kiwi, rau xanh các loại. Beta-caroten là chất có ở thức ăn, mà cơ thể sẽ biến thành vitamin A, rất quan trọng cho việc hình thành mô sẹo, làm nhanh lành vết thương. Các thực phẩm chứa nhiều beta-caroten mà bệnh nhân nên ăn là cà rốt, đu đủ, gấc, khoai lang, bí đỏ.

Theo chuyên gia dinh dưỡng một trong những lưu ý hàng đầu khi chăm người bệnh là cần phải cho bệnh nhân uống đủ nước để đào thải các độc tố do thuốc men gây ra. Khi chế biến thực phẩm cần phải mềm như: cháo, súp, sữa… Nếu cần có thể cho ăn thành nhiều bữa và thời gian ăn nên kéo dài hơn bình thường để giúp người bệnh thấy dễ chịu, thoải mái và ăn được nhiều hơn.

Giải pháp cho người bệnh khó ăn

dinh-duong-cho-benh-nhan-sau-khi-phau-thuat1

Một chế độ chăm sóc đặc biệt cho người bệnh sẽ giúp phục hồi sức khỏe nhanh chóng. Trên thực tế, có nhiều bệnh nhân gặp khó khăn ăn uống sau khi phẫu thuật. Nếu bị táo bón có thể gây ra thiếu cảm giác ngon miệng. Khi đó, người bệnh cần báo với bác sĩ phẫu thuật để được hướng dẫn cách làm giảm táo bón

Bên cạnh việc ăn uống hợp lý trong gia đình thì trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thực phẩm dạng bột cũng như dạng nước bổ sung dinh dưỡng cho người bệnh. Theo tư vấn của chuyên gia dinh dưỡng thì tất cả mọi lứa tuổi đều có thể sử dụng được các loại thực phẩm bổ sung dinh dưỡng. Nhưng khi sử dụng phải chú ý vì hiện nay trên cộng đồng số người có khả năng không có men Lactose trong cơ thể không phải là ít. Ví dụ khi uống sữa bò hoặc dùng các sản phẩm có sữa bò sẽ có cảm giác đầy bụng, sôi ruột, dị ứng, tiêu chảy. Tốt nhất nên sử dụng các loại đậu đỗ đặc biệt là đậu nành là loại thực phẩm quý nó cho một hàm lượng đạm cao hơn cả thịt, cao hơn cả mỡ, một hàm lượng các vitamin và khoáng rất cao so với các thực phẩm từ thức ăn động vật.

Với bệnh nhân suy kiệt khi nằm viện không có điều kiện phục vụ nhiều như ở gia đình thì những sản phẩm dinh dưỡng cao năng lượng có bổ sung chất xơ FOS hỗ trợ tiêu hóa là sự lựa chọn yên tâm nhất cho người bệnh

Nguồn giadinh.net

Những cách giảm cân sau mỗi kỳ nghỉ lễ

Kỳ nghỉ lễ kéo dài khiến cơ thể bạn tích trữ khá nhiều năng lượng, làm sao để giải phóng số calo dư thừa ấy sau khi tới công sở? Hãy áp dụng ngay những gợi ý giảm cân dưới đây.

1. Thể dục buổi sáng

Sau khi thức dậy, bạn có thể tập 20 phút với môn thể thao tay không, như thế vừa tạo hưng phấn cho tinh thần để nghênh đón những thách thức của một ngày mới, vừa có thể duy trì được sức khỏe của cơ thể.

Bạn có thể áp dụng những hình thức tập như sau:

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le

– Leo cầu thang: Mỗi tuần bạn nên lên xuống cầu thang 3 – 4 lần, mỗi lần lên xuống liên tục khoảng 30 phút. Cách luyện tập này có thể tiêu hao được 400 calo nhiệt lượng, còn có thể làm cho cơ bắp phần đùi, chân mạnh khoẻ, rắn chắc.
– Chạy tại chỗ: Bạn có thể chọn một chỗ trống khoảng 1m2 ở trong phòng hoặc ở hành lang ngoài nhà và kiên trì chạy dậm chân tại chỗ khoảng 15 phút.

– Đi bộ: Sau bữa cơm khoảng 45 phút, bạn nên đi bộ với tốc độ 4,8km/ tiếng. Như thế, nhiệt lượng tiêu hao rất nhanh. Nếu sau bữa cơm khoảng 2 – 3 tiếng lại đi một lần như thế thì hiệu quả càng tốt.

2. Uống nhiều nước

Uống nước là cách phương pháp dễ nhất để giảm cân. Uống nước giúp tăng cường trao đổi chất và cải thiện sức khỏe, duy trì bôi trơn các khớp và độ đàn hồi của cơ bắp.
Một tác dụng lớn khác của nước là giúp bạn ức chế cơn thèm ăn một cách tự nhiên. Uống nước đúng cách giúp bạn chống lại cảm giác thèm ăn và tránh các loại thực phẩm làm cản trở tiến độ giảm cân của bạn. Ngoài việc uống 500ml nước vào mỗi sáng, hãy áp dụng nhiều cách để tăng lượng nước bạn uống mỗi ngày.
3. Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh

Sau khi đã nạp quá nhiều năng nượng cho kỳ nghỉ lễ, bạn nên dành thời gian để “thanh lọc” cơ thể bằng những chế độ ăn đơn giản. Hãy sử dụng những thực phẩm tốt cho việc giảm cân sau đây:

Khoai lang: Khoai lang làm cho bạn có cảm giác bớt đói. Khi bạn đang thèm chất ngọt, một củ khoai lang cũng có thể làm yên dạ dày và đồng thời nó cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng. Không kể đến chất ngọt của nó thì cứ một củ khoai lang nặng khoảng 100g có chứa chừng 117kcal.

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le1

Bí đao: Chỉ cần nửa quả bí đao, bảo thật mỏng thành sợi nhỏ, thêm ít dầu ăn, hạt tiêu… bạn có ngay món rau tươi ngon, mát lành. Đặc biệt, khi ăn vào buổi tối thay cơm, bí đao trộn còn giúp bạn gái giảm béo, tiêu mỡ.

Cà chua: Được xem là phương pháp giảm cân mới nhất của phụ nữ Nhật, loại quả này mọng nước, giàu chất sơ và vitamin C, A, chứa lượng calo rất thấp và đặc biệt nó giúp bạn giảm được ít nhất 2kg trong 1 tháng. Để đảm bảo phát huy tốt hiệu quả, bạn nên ăn 1 quả cà chua trước mỗi bữa ăn, hoặc 2 quả cà chua trước bữa tối. Mặc dù cà chua giúp bạn giảm 2kg ngay trong tháng đầu tiên nhưng các chuyên gia dinh dưỡng Nhật khuyên bạn nên ăn liên tục trong 3 – 6 tháng để duy trì hiệu quả và tránh tăng cân trở lại sau khi ngừng ăn cà chua.

Đu đủ: Không chỉ có tác dụng làm đẹp da, tốt cho tiêu hóa, ngừa ung thư, đu đủ còn có thể giups phái đẹp giảm cân hiệu quả. 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32 calo, nếu ăn 100g đu đủ trước bữa ăn, bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món giàu calories khác. Bên cạnh đó, đu đủ chứa rất nhiều vitamin B cùng chất chống oxy hóa giúp vòng eo của bạn trở nên thon gọn hơn.

4. Ngủ đủ giấc

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le2

Nếu một ngày bạn không ngủ đủ 7 – 8 tiếng thì cơ thể sẽ không đủ năng lượng để phục vụ bạn làm việc và cảm giác ăn ngon. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, những người thường xuyên ở trong trạng thái mệt mỏi, thiếu sức sống thì quá trình trao đổi chất càng kém vì vậy muốn giảm béo bụng thì trước tiên bạn phải đảm bảo giấc ngủ cho mình.

Theo giadinh.net

Dinh dưỡng cho người tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và có xu hướng ngày một tăng ở nước ta. Stress do áp lực cuộc sống và công việc, chế độ ăn quá nhiều muối, thịt và mỡ động vật, ít rèn luyện thể lực, ít rau xanh… là những căn nguyên chính khiến số người mắc tăng huyết áp tăng cao ở Việt Nam.

Ăn nhiều mỡ và bệnh tăng huyết áp
Ảnh hưởng của dầu mỡ lên hệ tim mạch rất khác nhau. Hầu hết các loại mỡ động vật đều có chứa cholesterol và chứa từ 60-90% acid béo bão hoà (trừ mỡ cá hay mỡ một số loài chim có chứa ít hơn) nên mỡ động vật không có lợi cho phòng chống THA. Các loại dầu thực vật không có cholesterol và chứa ít (dưới 40%) acid béo bão hòa (trừ dầu dừa và dầu nhân hạt cọ) nên dầu thực vật là loại thực phẩm có lợi cho phòng chữa bệnh THA. Mỗi người một ngày ăn vào khoảng 300-500mg cholesterol. Thức ăn chứa nhiều cholesterol là thịt, gan, óc, lòng đỏ trứng, bầu dục, lòng non… Khi cholesterol tăng nhiều trong máu, nó sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc để dần hình thành mảng đông lipid và phát triển thành những mảng vữa xơ động mạch. Làm cho thành mạch kém đàn hồi, dẫn đến THA.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Muối ăn góp phần tích cực khiến huyết áp tăng cao
Nói muối ăn (NaCl) thực chất là nói đến vai trò của ion Na trong muối ăn vì nó ảnh hưởng tới việc giữ nước trong cơ thể. Trong điều kiện bình thường, các hormon và thận cùng phối hợp điều hoà việc đào thải Na ăn vào. Khi quá khả năng điều chỉnh của cơ thể, hệ thống động mạch có thể tăng nhạy cảm. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ Na sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của calci qua màng, làm tăng khả năng co thắt của tiểu động mạch gây tăng huyết áp. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo người có tuổi không nên dùng quá 6g muối/ngày (trong đó 40% từ các thực phẩm chế biến sẵn, 40% từ nấu nướng, 20% từ thức ăn tự nhiên). Các cuộc điều tra cho thấy: ở nơi ăn nhiều muối, tỉ lệ tăng huyết áp cao hơn những nơi khác. Muốn phòng và chữa bệnh tăng huyết áp cần giảm lượng muối ăn vào chỉ còn dưới 4g muối/ngày (1,5g Na) hoặc ít hơn nữa, có nghĩa là chỉ nên ăn rất nhạt, nấu nướng dùng ít mắm muối hoặc phải chọn thực phẩm chứa ít muối.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn
Ít natri, giàu kali: hạn chế muối xuống dưới 6g/ngày, ăn nhiều rau quả để tăng kali trừ khi có ít nước tiểu. Không ăn các món mặn như dưa, cà muối, mắm tôm, cá biển…
Hạn chế các thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh và tâm thần: rượu, cà phê, trà đặc.
Tăng sử dụng các thức ăn uống có tác dụng an thần, hạ áp, lợi tiểu như canh lá vông, hạt sen, ngó sen, chè sen vông, nước rau, nước luộc ngô…
Hạn chế chất béo, đường bột, bánh kẹo, ăn nhiều rau quả tươi.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những loại thực phẩm kết hợp với nhau rất tốt cho sức khỏe

Trong cuộc sống hằng ngày luôn có những thứ cần phải cặp đôi với nhau sẽ tốt hơn là đứng “solo” một mình.

Một anh chàng suốt đời lận đận đường tình, ngày nọ bỗng có một “người lạ” nằm kế bên thì cuộc đời trở nên tươi đẹp hơn. Thực phẩm cũng vậy. Nếu ăn từng món thì chẳng thấm thía gì cho sức khỏe nhưng khi được “chung xuồng” thì lợi hại vô cùng. Dưới đây là những “cặp bài trùng” mà chúng ta cần biết khai thác để mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Hành, tỏi và ngũ cốc nguyên hạt

nhung-loai-thuc-pham-ket-hop-voi-nhau-rat-tot-cho-suc-khoe

Một nghiên cứu đã được xuất bản trên chuyên san The Journal of Agricultural and Food Chemistry cho thấy nếu kết hợp hành, tỏi với ngũ cốc nguyên hạt thì chúng sẽ hỗ trợ sự hấp thu sắt và kẽm (kẽm và sắt từ thực phẩm có nguồn gốc động vật được cơ thể hấp thu dễ hơn sắt và kẽm có nguồn gốc từ thực vật).

Vì vậy, khi phối hợp hành, tỏi với ngũ cốc nguyên hạt sẽ làm cho kẽm và sắt được hấp thu dễ dàng hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng có thể các hợp chất sulphur có trong hành, tỏi đã “gánh vác” trọng trách này.

Đậu que và rau cải

nhung-loai-thuc-pham-ket-hop-voi-nhau-rat-tot-cho-suc-khoe1

Đây là sự kết hợp của sắt có trong đậu que và vitamin C có trong rau cải. Khi ăn 2 món này kết hợp thì vitamin C trong rau cải sẽ giúp chuyển sắt có trong đậu que thành một dạng mà cơ thể dễ hấp thu hơn.

Cà chua và dầu ô liu

Sự kết hợp này giúp cơ thể dễ dàng hấp thu các hóa chất thực vật (phytochemical) và các chất dinh dưỡng thực vật (phytonutrients). Một nghiên cứu gần đây về gốc tự do cho thấy những người ăn khẩu phần có cà chua và bổ sung những loại dầu tốt như dầu ô liu, dầu hoa hướng dương sẽ giúp cơ thể hấp thu nhiều hơn chất lycopen.

Lycopen là một chất kháng ôxy hóa nổi tiếng và nhờ chất này mà các loại rau củ như cà chua, dưa hấu, ớt Đà Lạt có màu đỏ bắt mắt. Nó cũng là chất có tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư vú, tim mạch và các bệnh về phổi.

Cà chua và bông cải xanh

Không những “ăn ý” với dầu ô liu, cà chua còn tỏ ra hợp gu với nhiều loại thực phẩm khác. Nổi tiếng nhất trong việc bảo vệ “túi tiền” của nam giới chính là sự kết hợp cà chua với bông cải xanh. Bác sĩ Erdman đã làm một thí nghiệm chia những con chuột bị bướu tiền liệt tuyến thành những nhóm được cho ăn các loại thực phẩm khác nhau. Một nhóm chỉ ăn bột cà chua, nhóm kia ăn bột bông cải xanh, trong khi nhóm thứ ba ăn cả bột cà chua và bột bông cải xanh trộn chung. Kết quả cho thấy nhóm cuối cùng có khối bướu nhỏ hơn so với khối bướu của 2 nhóm còn lại.

Trà xanh và chanh

Khi 2 món này phối hợp sẽ làm giảm các bệnh về tim mạch đồng thời tăng phòng thủ cho hệ miễn dịch, ngăn ngừa ung thư. Các nhà nghiên cứu tại ĐH Purdue (West Lafayette – Mỹ) đã chứng minh rằng uống trà xanh cho thêm vài giọt chanh sẽ giúp cơ thể hấp thu catechins (một chất kháng ôxy hóa có trong trà xanh) hiệu quả hơn.

Cải bó xôi và bơ

Trong trái bơ có rất nhiều chất béo monounsaturated (chất béo đơn chưa bão hòa) và các axít béo omega-3 có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch, ung thư, mất thị lực… Ăn chung cải bó xôi với bơ sẽ làm cho cơ thể hấp thu tốt chất carotenoid.

Trứng và nước cam

Vitamin C có trong nước cam khi được kết hợp với trứng sẽ giúp cơ thể hấp thu sắt tốt hơn, giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng mệt mỏi do thiếu máu, thiếu sắt.

Theo DS Nguyễn Bá Huy Cường
Người lao động

Cách điều trị bệnh thiếu máu ngay tại nhà

Mệt mỏi, khó tiêu, cơ thể suy nhược..là những triệu chứng của bệnh thiếu máu. Đây là bệnh xảy ra khá phổ biến ở phụ nữ, được chẩn đoán khi mật độ huyết sắc tố trong máu suy giảm.

1. Ăn nhiều thực phẩm giàu chất sắt

Một chế độ ăn uống cân bằng luôn là bí quyết “vàng” để giữ gìn sức khỏe. Trái cây sấy khô, sò, gạo thô, rau có lá sẫm màu, nho khô, chà là khô và mận cùng với bánh mì, nui, mật đường và gan đều nằm trong danh sách thực phẩm giàu chất sắt. Nếu tiêu thụ những thực phẩm này ở mức vừa phải, bạn sẽ có đủ lượng sắt mà cơ thể đang thiếu hụt.

cach-dieu-tri-benh-thieu-mau-ngay-tai-nha

2. Lựa chọn đồ uống phù hợp

Cà phê và trà là những thứ nằm trong danh sách phải “cắt giảm”. Tiêu thụ cà phê quá mức sẽ cản trở cơ thể hấp thu chất sắt. Thay vào đó, bạn nên chọn những loại đồ uống “xanh” như các loại nước ép làm từ rau, củ, quả tươi hay những ly sinh tố không đường. Một ít mật ong sẽ giúp món sinh tố của bạn thêm thơm ngon và giàu dinh dưỡng hơn.

3. Tắm nước lạnh

Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định tắm nước lạnh có thể giúp cơ thể đạt đến một nhiệt độ lý tưởng cần thiết để máu tuần hoàn tốt hơn đến mọi bộ phận. Chính vì vậy, dầm mình trong nước lạnh cũng là cách giúp chữa trị bệnh thiếu máu.

4. Mát-xa

cach-dieu-tri-benh-thieu-mau-ngay-tai-nha1

Những động tác xoa bóp đúng kỹ thuật sẽ cải thiện khả năng bơm máu của tim cả về số lượng lẫn chất lượng. Khả năng tuần hoàn máu càng cao thì hoạt động của cơ thể càng nhanh nhẹn và linh hoạt. Để có được kết quả tốt nhất, bạn nên lựa chọn cách xoa bóp, mát-xa theo phương pháp cổ truyền, kết hợp với việc kích thích các huyệt đạo bên trong cơ thể.

5. Bổ sung thêm vitamin C

Một ly nước cam ép mát lạnh không chỉ giúp cơ thể giải nhiệt mà còn bổ sung thêm nhiều vitamin C và giúp chữa bệnh thiếu máu.
Hãy bắt đầu một ngày mới bằng một ly nước chanh nóng pha cùng với mật ong. Món đồ uống này mang lại khá nhiều lợi ích: tăng sức đề kháng, lọc thải độc tố trong ruột, bổ sung năng lượng và ngăn ngừa thiếu máu…

6. Đừng bỏ qua các loại thảo dược

Có rất nhiều loại thảo dược giúp chữa trị hiệu quả bệnh thiếu máu như rễ bồ công anh, rễ cây ngưu bàng, tầm ma, cỏ linh lăng, tảo spirulina và cây long đờm. Tuy nhiên, trước khi sử dụng bất kỳ loại thảo dược nào, bạn cần tham khảo ý kiến tư vấn của bác sĩ đông y để được hướng dẫn về liều lượng phù hợp và cách sử dụng.

7. Chuối

Ăn chuối được xem là một trong những cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh thiếu máu. Loại trái cây này rất giàu chất sắt và kali – những dưỡng chất có khả năng kích thích cơ thể sản xuất ra nhiều huyết sắc tố hơn. Nhờ đó, sẽ giảm bớt tình trạng thiếu máu.

8. Suy nghĩ tích cực

cach-dieu-tri-benh-thieu-mau-ngay-tai-nha3

Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các triệu chứng của bệnh thiếu máu có thể suy giảm và bị “tiêu diệt” sau đó nếu như người bệnh luôn giữ được thái độ tích cực trong cuộc sống. Do đó, hãy làm bất kỳ điều gì khiến bạn thấy vui như đi mua sắm, đọc sách hay ca hát… Thái độ tích cực và suy nghĩ lạc quan không chỉ giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn mà còn giúp nâng cao hiệu quả điều trị bệnh.

Theo Duy Khôi – Phụ Nữ Online

Cẩn trọng thiếu hụt dinh dưỡng ở người cao tuổi

Theo độ tuổi, chức năng của các cơ quan đều giảm dần, cường độ trao đổi chất trong cơ thể cũng giảm dẫn đến việc thiếu hụt dinh dưỡng hấp thụ vào cơ thể. Một khi cơ thể bị thiếu hụt dinh dưỡng thì cũng giống như cây xanh thiếu nước, sẽ không thể khỏe khoắn được. Thế cho nên, dinh dưỡng chính là tiền đề cho một sức khỏe tốt…

Thiếu hụt dinh dưỡng ở người cao tuổi

Thiếu hụt dinh dưỡng ở người cao tuổi có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe nói chung và có thể đưa đến nghiêm trọng, nếu bị kéo dài. Thống kê cho thấy rằng có khoảng 1/3 số người cao tuổi bị thiếu các dinh dưỡng cần thiết trong bữa ăn hàng ngày… Nguyên nhân do ăn uống không điều độ, bỏ bữa hoặc không quan tâm đến chất lượng trong mỗi bữa ăn.Cũng có trường hợp một số người cao tuổi bị chán ăn kéo dài thành quen. Ngoài ra, các bệnh về đường tiêu hóa cũng đóng vai trò quan trọng, nhất là bệnh về dạ dày, đại tràng… Hay một số bệnh về tâm thần như: bệnh trầm cảm mạn tính, sa sút trí tuệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ăn uống, khả năng hoạt động của hệ tiêu hóa và khả năng hấp thụ dưỡng chất ở người cao tuổi.

 dinh-duong-chia-khoa-cho-suc-khoe-tuoi-cao-nien

Cũng có một số trường hợp người cao tuổi bị thiếu chất do kiêng khem quá mức cần thiết, không dám ăn bất kỳ một loại thực phẩm nào, ngay cả cá hoặc sữa là loại thực phẩm rất cần cho nhu cầu dinh dưỡng hang ngày ở mọi lứa tuổi họ cũng kiêng không ăn. Điều này phần nhiều xảy ra do người cao tuổi thiếu hiểu biết về dinh dưỡng, cứ nghĩ rằng ít ăn uống những thực phẩm lạ thì ít có nguy cơ bị bệnh. Nhưng trái lại, kiêng cữ quá mức dẫn đến cơ thể thiếu các dưỡng chất cần thiết thì lại càng làm cho sức khỏe sa sút hơn.

Thiếu chất và những biểu hiện

Hầu hết người người cao tuổi có thể tự phát hiện thấy mình gặp phải các vấn đề sau: sụt cân, quần áo thấy tự nhiên rộng ra, các bắp thịt thấy mềm, nhũn không được rắn như trước đây…đó chính là biểu hiện dễ thấy nhất khi cơ thể bị thiếu hụt dưỡng chất. Tuy vậy, đối với một số người cao tuổi do thiếu chất lâu ngày nên đã có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương cho nên tự bản thân người đó không biết mình đang mắc bệnh gì, chỉ có cảm giác sức khỏe sa sút từng ngày. Trong trường hợp này thì những thành viên trong gia đình cũng có thể nhận biết được như: thấy kém dần sự minh mẫn, hay quên, hay kêu mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng, hay cáu gắt vô cớ…

Dinh dưỡng – tiền đề cho một sức khỏe tốt

Ăn uống khoa học để bổ sung đầy đủ dưỡng chất chính là nguồn năng lượng cần thiết cho sức khỏe người cao tuổi và giúp phòng tránh các biến cố tuổi già vô cùng hiệu quả. Để làm được điều này không chỉ cần vào sự nỗ lực của người cao tuổi mà còn rất cần sự quan tâm, động viên của các thành viên khác trong gia đình là hết sức quan trọng: phải tính toán làm thế nào để chuẩn bị cho người cao tuổi có bữa ăn đúng giờ, ngoài ra nên động viên, nhắc nhở để người cao tuổi chịu khó ăn, tránh hiện tượng chán ăn, lười ăn, bỏ bữa.

Một số lưu ý cho gia đình để chăm sóc dinh dưỡng cho người cao tuổi:

1. Nếu các bữa chính mà người cao tuổi ăn chưa đủ số lượng thì có thể tạo điều kiện cho họ ăn thêm các bữa phụ vào khoảng 9 giờ sáng và khoảng

3 giờ chiều. (Sữa là một trong những lựa chọn tốt cho các bữa ăn phụ của người cao tuổi).

2. Nên ăn thêm các loại quả sau bữa ăn (tráng miệng) như: cam, quít, chuối, bưởi… và nên ăn nhiều rau. Rau vừa cung cấp các loại sinh tố vừa cung cấp chất xơ ngăn ngừa táo bón…

3. Để tránh hiện tượng chán ăn, ăn không ngon miệng, nếu không bị các bệnh về tim mạch, dạ dày, đại tràng và có điều kiện kinh tế thì có thể uống một ít rượu vang đỏ trước lúc ăn để khai vị (kích thích ăn uống ngon miệng).

4. Trọng tâm của việc bổ sung dinh dưỡng là làm sao người cao tuổi ăn được, tiêu hóa được, vì vậy thức ăn phải mềm dễ nhai, dễ nuốt nhưng không nên xay nhuyễn vì sẽ làm giảm mùi vị thường có của thức ăn.

5. Người cao tuổi cũng nên hạn chế ăn mỡ động vật, long đỏ trứng hoặc các loại phủ tạng như: gan, tim, lòng, cật (thận) và rất nên ăn cá thay cho ăn thịt. Các loại đạm thực vật cũng nên ăn xen vào trong các bữa ăn chính như đậu phụ và các loại đậu khác.

6. Đặc biệt, nên lưu ý việc người cao tuổi cần tạo thói quen uống sữa để bổ sung vào khẩu ăn hàng ngày, vừa là nguồn cung cấp dinh dưỡng cân đối, vừa có canxi để phòng ngừa bệnh loãng xương… Thường xuyên uống từ 2-3 cốc sữa một ngày nhưng khuyến cáo uống rải đều nhiều lần trong ngày, mỗi lần 100- 120ml.

7. Ngoài ra, người cao tuổi nên vận động cơ thể hàng ngày để máu lưu thong làm các cơ quan trong cơ thể hoạt động nhịp nhàng từ đó sẽ ăn uống ngon miệng, hấp thu tốt.

8. Nếu có biểu hiện chán ăn đột ngột, gia đình nên tìm hiểu nguyên nhân để từ từ khắc phục triệt để, tránh đợi đến lúc chuyển thành “bệnh” thì rất khó khắc phục.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Nguy cơ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi

Suy dinh dưỡng là sự mất cân bằng thực phẩm đã tiêu thụ và nhu cầu năng lượng của mỗi một cơ thể con người và chủ yếu gặp ở trẻ em và người cao tuổi (NCT). Suy dinh dưỡng ở NCT có thể khắc phục được nếu phát hiện sớm và áp dụng đúng phương pháp dinh dưỡng.

Một cơ thể được gọi là suy dinh dưỡng khi trọng lượng của cơ thể bị sụt cân từ 5 – 10% trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm (không bao hàm các bệnh làm cho cơ thể bị sụt cân nhanh như đái tháo đường, dùng thuốc giảm béo, dùng thuốc lợi tiểu…).

Những yếu tố khiến người cao tuổi suy dinh dưỡng

Điều quan trọng nhất đưa đến suy dinh dưỡng ở NCT là ăn uống kém chất lượng, thậm chí không đủ bữa, bữa no, bữa đói. Một số NCT thiếu thốn kinh tế hoặc có khả năng về kinh tế nhưng không có người lo cho từng bữa ăn hàng ngày, sự việc cứ kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng. Một số NCT suy dinh dưỡng do bệnh tật mạn tính kéo dài như hệ thống răng kém (răng lung lay hoặc đã rụng nhiều) gây khó khăn trong việc nhai thức ăn. Một số bệnh cũng rất dễ gặp ở NCT do chức năng sinh lý đã bị suy giảm như tuyến nước bọt bị xơ hóa làm giảm khả năng bài tiết nước bọt. Nếu thiếu nước bọt, NCT sẽ ít ngon miệng hoặc không ngon miệng trong các bữa ăn, vì vậy sẽ làm chán ăn kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng. Hoặc do chức năng sinh lý của các giác quan bị suy giảm nhất là vị giác và khứu giác làm giảm sự kích thích sự thèm ăn.

nguy-co-suy-dinh-duong-o-nguoi-cao-tuoi

Suy dinh dưỡng ở NCT còn có thể gặp trong một số trường hợp bị dị ứng với một số thức ăn, cho nên NCT sợ ăn vì lo rằng sau khi ăn sẽ bị rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy, đau bụng. Một số bệnh về đường tiêu hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc suy dinh dưỡng ở NCT, nhất là bệnh về dạ dày, đại tràng. Một số bệnh về tâm thần như bệnh trầm cảm mạn tính, sa sút trí tuệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến tiêu hóa và vì vậy rất dễ dẫn đến suy dinh dưỡng.

Trong các nguyên nhân gây suy dinh dưỡng ở NCT thì nghiện rượu cũng là một nguyên nhân đáng kể. Người nghiện rượu rất chán ăn thậm chí không muốn ăn bất kỳ loại thức phẩm nào ngoài rượu. Nghiện rượu ngoài việc chán ăn thì chức năng gan ngày một bị suy giảm. Đây là một vòng luẩn quẩn: nghiện rượu gây chán ăn, gây suy giảm chức năng gan; chức năng gan suy giảm thì lại càng chán ăn mà hậu quả là suy dinh dưỡng và xa hơn nữa là xơ gan do rượu. Một số trường hợp NCT bị suy dinh dưỡng do kiêng khem quá mức cần thiết không dám ăn bất kỳ một loại thức phẩm nào, ngay cả cá là loại thực phẩm rất cần cho nhu cầu dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi họ cũng kiêng không dám ăn, uống.

Biểu hiện

Hầu hết người bị suy dinh dưỡng có thể tự phát hiện thấy mình bị gầy đi như sụt cân, quần áo thấy tự nhiên rộng ra, các bắp thịt thấy mềm, nhũn không được rắn như trước đây. Tuy vậy, đối với một số NCT do bị suy dinh dưỡng lâu ngày nên đã có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương cho nên tự bản thân người đó không thể hoặc không biết mình đang mắc bệnh gì. Trong trường hợp này, những thành viên trong gia đình cũng có thể nhận biết được như thấy kém dần sự minh mẫn, hay quên hay kêu mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng hay cáu gắt vô cớ.

Suy dinh dưỡng ở NCT thì ăn khó tiêu, dễ táo bón, phân lúc lỏng lúc rắn, hay đau bụng lặt vặt. Nếu NCT mà đang mắc bệnh mạn tính khác như hen suyễn, bệnh tim, viêm gan, bệnh về xương khớp thì các bệnh này tăng lên nhanh chóng hơn và toàn trạng trở nên dễ bị suy sụp và đặc biệt khi có tác nhân nhiễm trùng xâm nhập rất khó tránh khỏi mắc bệnh.

Một số biện pháp phòng tránh

Ăn uống đủ chất và đủ số lượng là nguồn năng lượng cần thiết cho mỗi một người NCT. Cần tính toán làm thế nào để NCT có bữa ăn đúng giờ, đủ lượng và chất cần thiết. Ngoài ra, nếu NCT không tự lo được cho bản thân mình thì cần có người giúp đỡ lo lắng bữa ăn hàng ngày cho họ. Đó là những việc hết sức cơ bản mà cũng có lẽ là vấn đề cốt lõi giúp NCT thoát khỏi bệnh suy dinh dưỡng. Cũng cần có sự động viên, nhắc nhở để NCT chịu khó ăn và ăn đủ số lượng tránh hiện tượng chán ăn, lười ăn, bỏ bữa. Sự quan tâm, động viên của các thành viên khác trong gia đình là hết sức quan trọng, đặc biệt là tìm hiểu các lý do làm cho NCT bị suy dinh dưỡng, trên cơ sở đó tìm cách khắc phục dần dần. Nếu các bữa chính mà NCT ăn chưa đủ số lượng thì có thể tạo điều kiện cho họ ăn thêm các bữa phụ vào khoảng 9 giờ sáng và khoảng 3 giờ chiều. Nên ăn thêm các loại quả sau bữa ăn (tráng miệng) như cam, quít, chuối, bưởi… và nên ăn nhiều rau. Rau vừa cung cấp các loại sinh tố vừa cung cấp chất xơ ngăn ngừa táo bón…

Để tránh hiện tượng chán ăn, ăn không ngon miệng, nếu không bị các bệnh về tim mạch, dạ dày, đại tràng và có điều kiện kinh tế thì có thể uống 1 ly rượu vang đỏ trước lúc ăn để khai vị (kích thích ăn uống ngon miệng). Trọng tâm của việc phòng suy dinh dưỡng là làm sao NCT ăn được, tiêu hóa được, vì vậy thức ăn phải mềm dễ nhai, dễ nuốt nhưng không nên xay nhuyễn vì sẽ làm giảm mùi vị thường có của thức ăn. Tuy vậy, NCT cũng nên hạn chế ăn mỡ động vật, lòng đỏ trứng (gà, vịt, chim cút, ngỗng) hoặc các loại phủ tạng như gan, tim, lòng, cật (thận) và rất nên ăn cá thay cho ăn thịt. Mỗi tuần nên ăn cá khoảng 2 – 3 lần trong các bữa ăn chính; các loại đạm thực vật cũng nên ăn xen vào trong các bữa ăn chính như đậu phụ và các loại đậu khác.

Vận động cơ thể hàng ngày để máu lưu thông làm các cơ quan trong cơ thể hoạt động nhịp nhàng từ đó sẽ ăn uống ngon miệng, hấp thu tốt cũng cần được hết sức lưu ý. Có nhiều hình thức để vận động cơ thể tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện của từng người mà vận dụng cho hợp lý làm thế nào để có thể thực hiện được thường xuyên trong các hoàn cảnh khác nhau mới là điều quan.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU

Theo SKDS

Dinh dưỡng trong thời kỳ sau phẫu thuật

Dinh dưỡng đối với người bệnh ngoại khoa đóng vai trò rất quan trọng để đương đầu với cuộc phẫu thuật mất máu và sức lực. Đặc biệt, sau khi phẫu thuật phải có một chế độ ăn thật tốt, cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng để chống nhiễm khuẩn và nhanh liền vết mổ, hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân.

Các giai đoạn chuyển hóa sau phẫu thuật

Giai đoạn đầu: là thời gian 1-2 ngày sau khi mổ. Đây là giai đoạn tăng nhiệt độ cơ thể, liệt cơ do ảnh hưởng của thuốc mê dẫn đến liệt ruột, Trướng hơi, bệnh nhân mệt mỏi. Chuyển hoá mất nhiều nitơ, cân bằng nitơ âm tính, mất nhiều kali, vì thế cũng làm tăng thêm sự liệt ruột, trướng hơi.

Giai đoạn giữa: từ ngày thứ 3-5 sau mổ. Thông thường đến giai đoạn này nhu động ruột đã trở lại, bệnh nhân đã có thể trung tiện. Bệnh nhân tỉnh táo hơn, có cảm giác đói nhưng vẫn chán ăn. Bài tiết nitơ giảm đi, cân bằng nitơ trở lại bình thường. Bài tiết kali cũng giảm.

dinh-duong-trong-thoi-ky-sau-phau-thuat-

Giai đoạn hồi phục: đến giai đoạn này bệnh nhân đại, tiểu tiện bình thường, kali máu dần trở lại bình thường. Vết mổ đã liền. Bệnh nhân biết đói, có thể ăn tăng để phục hồi dinh dưỡng nhanh.

Chế độ dinh dưỡng

Giai đoạn đầu

Quan điểm trước kia chưa cho bệnh nhân ăn bằng đường tiêu hoá ở giai đoạn này, chờ bệnh nhân trung tiện được mới bắt đầu cho ăn, chủ yếu bù nước, điện giải, cung cấp glucid, đảm bảo đủ lượng calo cần thiết nuôi dưỡng cơ thể, làm giảm giáng hoá protein. Có thể truyền tĩnh mạch các loại dịch cung cấp đường và điện giải. Cho uống rất ít, nếu bệnh nhân bị trướng bụng nặng thì không nên cho uống. Còn những bệnh nhân mổ ngoài hệ tiêu hoá cho uống ít một (50ml cách nhau 1 giờ) nước đường, nước luộc rau, nước quả. Có thể truyền plasma, máu.

Ngày nay, người ta thấy rằng cho ăn muộn không có lợi cho bệnh nhân. Nửa đời sống của tế bào ruột là 24 giờ, nếu không cho ăn đường ruột sớm thì các tế bào này sẽ có thể bị hoại tử và hệ vi khuẩn đường ruột sẽ thẩm lậu qua ruột vào máu. Nuôi dưỡng đường ruột sớm còn đưa lại nhiều lợi ích khác cho bệnh nhân. Vì vậy, các nhà khoa học đã tiến hành nuôi dưỡng sớm bằng đường tiêu hoá ngay từ ngày đầu tiên, thậm chí giờ thứ 8 sau phẫu thuật và đã mang lại kết quả tốt.

Giai đoạn giữa

Cho ăn tăng dần và giảm dần truyền tĩnh mạch. Khẩu phần tăng dần năng lượng và protein. Bắt đầu từ 500Kcal và 30g protein, sau đó cứ 1-2 ngày tăng thêm 250-500Kcal cho đến khi đạt 2.000Kcal/ngày.

Ăn sữa, nên dùng dưới dạng sữa pha nước cháo. Nên dùng sữa bột loại đã tách bơ, sữa đậu nành. Cho ăn làm nhiều bữa (4-6 bữa). Vì bệnh nhân còn đang chán ăn, do vậy cần động viên bệnh nhân ăn. Có thể dùng nước thịt ép khi bệnh nhân không dùng được sữa.

Ăn thức ăn mềm, hạn chế thức ăn có xơ. Dùng các loại thức ăn có nhiều vitamin B, C, PP như nước cam, chanh…

Giai đoạn hồi phục

Giai đoạn này vết mổ đã liền, bệnh nhân đã đỡ. Vì vậy, chế độ ăn cung cấp đầy đủ năng lượng và protein để tăng nhanh thể trọng và vết thương mau lành. Đây là chế độ ăn nhiều protein và năng lượng. Protein có thể tới 120-150g/ngày và năng lượng có thể tới 2.500-3.000 Kcal/ngày. Khẩu phần này phải được chia thành nhiều bữa trong ngày (5-6 bữa hoặc hơn).

Dùng nhiều sữa, trứng, thịt, cá, đậu đỗ để cung cấp chất đạm và các loại hoa quả để tăng vitamin C và vitamin nhóm B.

Cần lưu ý rằng, việc nuôi dưỡng bằng đường truyền tĩnh mạch lúc đầu là rất cần thiết. Song phải sớm nuôi dưỡng bệnh nhân bằng đường tiêu hoá. Điều này vừa có tác dụng nuôi dưỡng bệnh nhân sinh lý hơn, an toàn hơn, kinh tế hơn vừa có tác dụng kích hoạt cho hệ thống tiêu hoá sớm trở lại bình thường.

Dùng chế độ ăn qua ống thông nếu ăn bằng miệng không đủ nhu cầu, sau đó dần cho bệnh nhân ăn bằng đường miệng. Cho ăn nhiều bữa trong ngày, cho ăn tăng dần lượng protein và năng lượng, không cho ăn quá nhiều một lúc để tránh tiêu chảy.

PGS. TS. Trần Minh Đạo

Theo SKDS

Thiếu vi chất dinh dưỡng gây ảnh hưởng gì?

Cơ thể chúng ta cần rất nhiều chất dinh dưỡng để tăng trưởng, phát triển. Các chất dinh dưỡng được cung cấp từ thức ăn, thức uống, có những chất dinh dưỡng tuy cơ thể chỉ cần một số lượng rất nhỏ (gọi là vi chất dinh dưỡng) nhưng lại vô cùng quan trọng và không thể thiếu được.

Nhu cầu những chất này thường rất nhỏ nhưng rất cần cho sức khỏe, sự phát triển tầm vóc và trí thông minh. Tuy nhiên chúng dễ bị thiếu hụt trong chế độ ăn. Các nghiên cứu cho thấy suy dinh dưỡng không chỉ là chậm lớn, thấp bé, nhẹ cân mà luôn đi kèm với tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu máu, thiếu sắt và thiếu iốt. Cụ thể:

Vitamin A: Ngoài vai trò bảo vệ mắt, vitamin A còn giúp trẻ tăng trưởng, tăng sức đề kháng với bệnh tật… Thiếu vitamin A trẻ sẽ chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng và dễ mắc các bệnh: sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp… Hậu quả nghiêm trọng nhất của thiếu vitamin A là quáng gà, khô mắt, có thể dẫn đến mù lòa.

thieu-vi-chat-dinh-duong-gay-anh-huong-gi-

Sắt: Thiếu máu do thiếu sắt là loại thiếu máu dinh dưỡng thường hay gặp nhất, phụ nữ mang thai, phụ nữ từ 15 – 49 tuổi, đặc biệt là các em gái tuổi dậy thì, là những đối tượng thường bị đe dọa thiếu máu dinh dưỡng. Đối với trẻ em thiếu sắt làm chậm lớn, suy dinh dưỡng, kém thông minh, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: viêm họng, viêm phổi, tiêu chảy…; Đối với phụ nữ có thai thiếu sắt làm chậm phát triển bào thai, dễ bị đẻ non hay đẻ con thiếu cân, tăng tỷ lệ tử vong của mẹ và con; Đối với thanh thiếu niên và người lao động làm giảm thể lực, giảm khả năng học tập, giảm sự tập trung, chú ý, tăng rủi ro khi lao động, giảm sức đề kháng, giảm năng suất và ngày công lao động.

Iốt: Thiếu iốt dễ dẫn đến thiếu hoóc-môn gây ra nhiều rối loạn khác nhau, gọi chung là các rối loạn do thiếu iốt. Thiếu iốt ở phụ nữ trong thời gian mang thai có thể gây sảy thai, thai chết lưu, đẻ non, mẹ thiếu iốt nặng, trẻ sinh ra có thể bị đần độn do tổn thương não vĩnh viễn. Thiếu iốt liên tục ở trẻ em và thanh thiếu niên, sẽ gây giảm khả năng trí tuệ, giảm chỉ số thông minh, học hành kém, lưu ban, bỏ lớp, kể cả chậm phát triển thể chất, suy dinh dưỡng, lùn, kém hoạt động…

Kẽm: Thiếu kẽm có thể dẫn đến một số rối loạn tiêu hóa, chuyển hóa, thần kinh, đặc biệt là các enzym cần thiết cho sự tổng hợp protein, axit nucleic cũng như sự tổng hợp bài tiết của nhiều hoóc-môn tăng trưởng quan trọng khác. Thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai sẽ làm giảm cân nặng và chiều cao trẻ sơ sinh. Trẻ em thiếu kẽm sẽ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, chậm phát triển chiều cao, rối loạn phát triển xương, chậm dậy thì, giảm chức năng sinh dục.

Để phòng ngừa thiếu vi chất dinh dưỡng chúng ta cần phải chú ý đến việc đa dạng hóa bữa ăn trong gia đình, lựa chọn thực phẩm giàu dinh dưỡng, ăn đủ nhu cầu năng lượng, ăn đủ rau và trái cây tươi, tăng cường ăn rau xanh đậm và củ quả vàng đậm, thực phẩm nguồn gốc động vật và hải sản chứa nhiều kẽm, thường xuyên dùng muối iốt trong ăn uống và chế biến thức ăn.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

Theo SKDS

Trứng là nguồn cung cấp năng lượng tốt nhất

Ai chẳng có những giờ phút cảm thấy khó chịu, mệt mỏi, buồn ngủ, uể oải… Đầu óc dường như không làm việc được nữa. Thường họ cầu cứu đến ly cà phê và chiếc bánh ngọt vì hy vọng chất cafein và glucozơ sẽ làm họ tỉnh táo hơn. Nhưng các nhà dinh dưỡng học Anh đã kết luận chẳng gì có thể kích hoạt khả năng làm việc của bạn tốt hơn những quả trứng gà.

Theo kết quả của những nghiên cứu mới nhất, protein có trong lòng trắng trứng giúp con người tỉnh táo và tập trung được sự chú ý khi làm việc, như báo Daily Mail cho biết. Chúng có lợi cho cơ thể hơn các chất kích thích hoặc cacbohydrat như sôcôla, bánh bích quy và những chất ngọt khác.

trung-ga

Một quả trứng lúc mệt mỏi tốt hơn nhiều so với một ly cà phê.

Сác chuyên gia Trương ĐH Cambridge đã nghiên cứu các chất dinh dưỡng khác nhau ảnh hưởng thế nào đến tế bào não. Bằng thực nghiệm, họ đã xác định được rằng hỗn hợp dinh dưỡng trong lòng trắng trứng có tác dụng xúc tiến sự sản sinh ra chất kích thích thiên nhiên là orexin.

Chất này “ra lệnh” cho cơ thể đốt calori nhanh hơn và là chìa khoá của tỉnh táo, minh mẫn, xua tan sự mệt nhọc. Ngược lại những đồ ăn thức uống trên cơ sở các chất ngọt lại ức chế sự sản sinh ra các chất tạo năng lượng thiên nhiên.

Kết luận của các nhà khoa học được đăng trên Tạp chí Neuron, chứng minh là các thức ăn chứa đạm không chỉ làm cho con người sảng khoái và hoạt bát hơn là thức ăn chứa đường mà còn tạo ra tác dụng tốt đến quá trình chống béo phì và mất ngủ. Một tác giả của công trình nghiên cứu là TS Denis Burdakov cho rằng cần phải lưu ý đặc biệt đến vấn đề này để biết được chế độ ăn ảnh hưởng như thế nào đến giấc ngủ và sự ngon miệng ở mức độ tế bào.

Mặc dù nhiều người cho rằng trứng gà là thực phẩm “nặng”, không có lợi song nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học Anh đã xoá bỏ được định kiến này.

Họ đã chỉ ra loại cholesterol trong trứng gà ảnh hưởng không đáng kể đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Theo họ, thủ phạm chủ yếu làm tăng hàm lượng cholesterol trong cơ thể là những chất béo no (không chứa các liên kết kép trong phân tử), sự nghiện thuốc cũng như lười vận động. Trong khi đó, trứng gà là nguồn protein chất lượng cao và hầu như không chứa chất béo có hại.

Theo Vietnamnet

Bài thuốc cho trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng trẻ em Đông y gọi là cam tích. Nguyên nhân thường gặp là do trẻ ăn uống không điều độ (cai sữa quá sớm, ăn nhiều chất ngọt hoặc béo quá, no hoặc đói thất thường) làm tỳ vị bị tổn thương; do chăm sóc không đúng cách hoặc không phù hợp với các giai đoạn phát triển sinh lý của trẻ nhỏ làm nguyên khí hao tổn, tân dịch bị tổn thương.

Khi mới mắc, trẻ hơi gầy, kém ăn hoặc ăn nhiều, đi cầu nhiều, phân khi lỏng khi đặc, đầy bụng, có thể sốt nhẹ, miệng khát, lòng bàn chân, bàn tay nóng, người bứt rứt, hay khóc, ngủ không yên, rêu lưỡi hơi vàng, mạch tế hoạt. Nặng hơn trẻ miệng khô, khát nước, sôi bụng, tiêu chảy, có khi táo bón, bụng to, gân xanh nổi lên, nước tiểu đục trắng, rêu lưỡi trắng. Trẻ suy dinh dưỡng lâu ngày làm người gầy, bộ mặt nhăn nheo như người già, tinh thần mệt mỏi, ăn uống kém, tiếng khóc nhỏ, rêu lưỡi mỏng khô, lông tóc khô; kèm theo da khô, loét niêm mạc, loét miệng, lắng đọng sắc tố, tử ban, phù thũng… Phương pháp điều trị: Vừa công vừa bổ. Trước hết phải tiêu tích (tiêu đồ ăn bị tích trệ), tiếp đến tẩy trùng tích (trừ giun sán), sau đó bổ hư lý tỳ điều vị. Dùng các bài thuốc sau:

Thuốc uống:

bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-1

Bài 1:“Tiêu cam lý tỳ thang”: tam lăng 2g, thanh bì 4g, lô hội 0,2g, sử quân tử 4g, hoàng liên 4g, thần khúc 6g, nga truật 4g, trần bì 4g, binh lang 2g, cam thảo sống 4g, mạch nha 6g. Sắc 3 lần, hợp lại, chia uống 3 lần trong ngày, nên dùng nước đăng tâm thảo và đại táo làm thang. Dùng khi bệnh mới phát, do tích trệ, phần nhiều thuộc thực chứng. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-2

Bài 2: “Sử quân tử tán”: sử quân tử ngâm, ủ, bóc vỏ lụa và cắt phần đầu nhọn. Tất cả sấy khô, tán bột, ngày uống 2 – 4g, uống lúc đói. Tác dụng tẩy trùng tích (giun sán). bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-3

Bài 3: “Sâm linh bạch truật tán”: bạch biển đậu 20g, nhân sâm 40g, bạch linh 40g, bạch truật 40g, cam thảo 40g, hoài sơn 40g, liên nhục 20g, cát cánh 20g, ý dĩ 20g, sa nhân 20g. Tất cả tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 – 8g tùy theo tuổi. Tác dụng bổ hư điều vị. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-4

Bài 4: “Tập thành hoàn gia giảm”: lô hội 0,8g, ngũ linh chi 4g, dạ minh sa 4g, trần bì 6g, xuyên khung 8g, xuyên quy 8g, mộc hương 6g, sử quân tử 8g, nga truật 6g, hoàng liên 6g, thịt cóc 12g, thanh bì 6g. Tất cả tán nhỏ, trộn với nước mật lợn làm viên, ngày uống 4 – 6g. Chữa chứng cam ở các tạng phủ. bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-5

bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-6 bai-thuoc-cho-tre-suy-dinh-duong-7

Ăn chay dưới góc nhìn dinh dưỡng

Đã có một thời, nhiều nhà khoa học cho rằng ăn chay cơ thể không được cung cấp đủ các loại chất dinh dưỡng, sẽ bị suy yếu… Nay ăn chay đang trở thành một xu hướng thịnh hành ở các nước Âu, Mỹ, người ta khuyên nên dùng nhiều các thức ăn có nguồn gốc thực vật. Tuy nhiên, dưới góc nhìn dinh dưỡng, có nhiều nhà dinh dưỡng khuyên những người ăn chay tuyệt đối nên có ý thức lựa chọn thực phẩm để cơ thể được cung cấp các chất một cách tốt nhất.

an-chay-duoi-goc-nhin-dinh-duong

Trên thế giới, hiện đang có 4 loại hình ăn chay (có tác giả phân thành 6 loại) là ăn chay có dùng sữa, ăn chay có dùng trứng, ăn chay có sữa và trứng, ăn chay tuyệt đối. Nhưng cũng có người cho rằng chỉ có 2 loại là ăn chay tuyệt đối và ăn chay tương đối (có dùng sữa, trứng; hoặc chỉ ăn chay một số ngày, một số ngày khác thì có ăn cá, thịt gà). Ăn chay tuyệt đối là ngoài thức ăn thực vật, thì không dùng bất cứ loại thức ăn nào có nguồn gốc động vật.

Con người không thuộc loài ăn thịt

Các trường phái ăn chay (thực dưỡng) đều có những quan điểm chung tuy mức độ có khác nhau chút ít, nhưng đều thống nhất là: con người không phải là loài ăn thịt, mà là ăn ngũ cốc và rau quả, bởi vậy đã ăn chay là không ăn thịt. Các nhà nghiên cứu đã nêu ra nhiều bằng chứng nhằm chứng minh rằng con người là sinh vật ăn ngũ cốc:

So sánh nanh vuốt thấy con thú ăn thịt có móng vuốt sắc như dao là để vồ, cấu xé con mồi. Sự chuyển động độc nhất lên xuống của quai hàm, sự bén nhọn sắc cạnh của những chiếc răng nanh dài và thiếu răng để nghiền. Ruột rất ngắn (chỉ bằng 3 lần chiều dài cơ thể), dạ dày lại tiết nhiều acid (gấp 10 lần so với các loài thú không ăn thịt), vì việc tiêu hóa thịt đòi hỏi không ứ đọng thức ăn lâu trong ruột, không gây lên men thối sản sinh nhiều chất độc.

Con người là sinh vật ăn ngũ cốc, rau quả, có cấu tạo của bộ tiêu hóa khác với sinh vật ăn thịt. Răng người là để nghiền hạt, ruột rất dài (gấp 6 lần chiều dài cơ thể) thức ăn đi qua mất từ 18-24 giờ. Trên thực tế, loài người thời nguyên thủy là những người ăn chay tuyệt đối, chưa tìm ra lửa để nấu nướng, thì phải ăn sống, thức ăn tiêu hóa chậm hơn càng cần phải có thời gian ở trong ruột lâu để được lên men lactic. Cho đến mãi sau này khi biết sử dụng lửa họ mới biết cách ăn thịt. Nếu ăn ngũ cốc và rau quả thì chỉ có sự lên men lactic, hầu như phân không có mùi thối và không chứa chất độc. Khi thức ăn thực vật chứa nhiều glucid dễ lên men thì sự lên men xảy ra sớm và tự nó ngăn cản được việc thối rữa vốn thường xảy ra chậm hơn. Vi khuẩn lên men lactic hoạt động trong môi trường acid, còn vi khuẩn lên men thối rữa không phát triển được trong môi trường này. Sự lên men thối rữa sản sinh nhiều chất độc hại.

Những luận điểm chống ăn thịt

Người ta cho rằng cũng như mọi khoa học, khoa sinh lý dinh dưỡng xuất xứ từ phương Tây, nơi chăn nuôi gia súc lớn phát triển rất sớm. Đồng thời kỹ nghệ len dạ, kỹ nghệ thịt sữa… cũng phát triển mạnh. Khoa học sinh lý dinh dưỡng phương Tây ra đời trên cơ sở ăn uống ấy, nên họ lấy thịt làm đối tượng nghiên cứu chính, tất nhiên không thể có cách nhìn khác mà phải coi protein động vật là rất quan trọng. Dựa theo khái niệm giá trị sinh học do Osborne đề ra năm 1909, các cuộc nghiên cứu của phương Tây đều được tiến hành trên chuột nhắt trắng – giống vật thí nghiệm dễ nuôi nhất. Chuột khác hẳn người, sự phát triển của chuột về khối lượng và trọng lượng cơ thể tăng 112 lần nhanh hơn người. Nhờ vậy mà các nhà nghiên cứu dễ nhận thấy rằng protein động vật là tốt nhất. Quả thật, thế hệ những người ăn nhiều thịt có to lớn hơn lớp ông cha ăn ít thịt, nhưng liệu sự phát triển ấy có tốt cho toàn bộ cuộc đời? Hay như cây lúa bón nhiều phân đạm thì “bốc” nhanh, cây cao, lá rậm, nhưng lại đổ non, kém hạt. an-chay-duoi-goc-nhin-dinh-duong-1Qua những trả giá vì ăn quá nhiều thịt, hiện nay ngay ở phương Tây cũng đã có cái nhìn “đổi mới”. Ăn thịt đến một lượng nào đó thì trong ruột diễn ra một quá trình thối rữa, vì ruột dài thức ăn nằm lại lâu, trong phân có chứa những độc tố. Một bác sĩ người Mỹ đã phân tích nước tiểu người ăn thịt và ăn chay và nhận thấy rằng so với thận của người ăn chay thận của người ăn thịt phải làm việc vất vả gấp 3 lần để loại bỏ những độc chất phức hợp trong thịt. Khi con người còn trẻ, họ thường có thể chịu đựng được gánh nặng bất thường này đến mức không có một dấu hiệu tổn thương hay bệnh tật nào xuất hiện. Nhưng khi thận “già” đi và trở nên hao mòn chậm chạp một cách thật nhanh chóng, chúng sẽ không hoàn thành đầy đủ chức năng và bệnh tật là kết quả hiển nhiên.

Một công trình nghiên cứu khác cho thấy, ăn nhiều thịt khi tiêu hóa cơ thể sẽ tạo ra chất homocystein, làm cho thành mạch dễ bị tổn thương, tạo điều kiện cho cholesterol hình thành xơ mỡ động mạch. Người ta nhận thấy lượng homocystein càng cao càng dễ bị bệnh mạch vành gây nhồi máu cơ tim và hẹp động mạch cảnh dễ gây thiếu máu não, hoặc tai biến mạch máu não.

Ngoài ra, một con vật khi sự đau đớn cùng cực của đời sống bị giết chết, cũng rất đáng lưu ý. Bởi hệ sinh hóa của một con thú bị kinh hoàng khiếp sợ, trải qua những thay đổi sâu xa khi nó vùng vẫy phấn đấu một cách tuyệt vọng để được sống đã sản sinh ra chất độc. Các độc tố xuất tiết từ sự đau đớn… bị đẩy đi khắp cơ thể, có trong máu và ngấm hoàn toàn vào các mô của con vật. Theo sách Bách khoa Brittanica, chất độc trong cơ thể nó gồm acid uric và một số độc tố khác.

Ăn chay có đủ chất dinh dưỡng?

Đã có một thời, nhiều nhà khoa học cho rằng ăn chay cơ thể không được cung cấp đủ các loại chất dinh dưỡng, sẽ bị suy yếu. Nhưng có một thực tế hiển nhiên là các nhà sư chân tu chỉ ăn những thực phẩm có nguồn gốc thực vật mà vẫn khỏe mạnh, có nhiều người đạt tuổi thọ cao. Xu hướng hiện nay, nhiều người cho rằng ăn chay có sức khỏe chẳng thua kém gì ăn thịt, có khi còn khỏe mạnh hơn. Nhà bác học Albert Einstein thì cho rằng: “Không có thứ gì mang lại lợi ích cho sức khỏe con người và làm tăng cơ hội sống còn trên thế gian này bằng phương pháp phát triển một chế độ ăn chay”. Dưới lăng kính y học, ăn chay giúp phòng chống được nhiều bệnh tật. Chế độ ăn chay có ít cholesterol, ít acid béo bão hòa, nhiều acid béo chưa lão hòa đa nối đôi. Có nhiều flavonoid và caroten, nhiều vitamin E, C có tác dụng chống các gốc tự do phát sinh trong cơ thể. Do vậy mà ăn chay phòng chống được nhiều bệnh như: béo phì, bệnh tim mạch, đái tháo đường týp 2, sỏi mật, ung thư, sa sút trí tuệ… Ngoài ra, ăn chay còn có khuynh hướng ít bị viêm ruột thừa, ít bị hội chứng đại tràng kích thích, trĩ và giãn tĩnh mạch chi…

Tuy nhiên các nhà dinh dưỡng khuyên những người ăn chay tuyệt đối nên có ý thức lựa chọn thực phẩm để cơ thể được cung cấp đầy đủ chất. Ăn chay dễ bị thiếu năng lượng bởi ít chất béo và nhiều chất xơ (mau no), đo đó những người đang cần tăng nhu cầu năng lượng (trẻ em đang lớn, phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con bú…) cần lưu ý ăn đủ lượng calo cần thiết như ăn nhiều các hạt có dầu, ăn thêm các bữa phụ, uống nhiều sữa đậu nành. Ngũ cốc thường bị thiếu một số acid amin cần thiết như lysin (gạo, ngô, lúa mỳ), threonin (gạo), tryptophan (ngô) và methionin (các loại đậu). Do vậy cách ăn chay tốt là ăn hỗn hợp nhiều loại thức ăn thực vật để chúng bổ sung các acid amin cần thiết cho nhau.

Chất khoáng cũng có vai trò rất quan trọng. Thường trong rau cung cấp không đủ canxi, sắt và kẽm. Do đó người ăn chay nên sử dụng nhiều nước quả, các sản phẩm từ đậu đỗ. Khi xào nấu tránh cho quá nhiều muối ăn vào rau – vì natri cản trở cơ thể hấp thu canxi. Không nên ăn những loại quả xanh, hoặc chát vì tanin làm giảm hấp thu chất sắt và kẽm. Nên ăn thực phẩm giàu sắt như các hạt họ đậu, rau lá xanh đậm và quả sấy khô. Nên ăn gạo lức, lúa mỳ nguyên cám là thứ có nhiều kẽm.

Theo SKDS

Chế độ dinh dưỡng cho người đau dạ dày

1. Hạn chế đồ sống, lạnh và thực phẩm kích thích

Đồ ăn sống, lạnh và kích thích mạnh có tác dụng kích thích khá mạnh đối với niêm mạc đường tiêu hóa, nhất là niêm mạc dạ dày nên dễ gây tiêu chảy hoặc viêm dạ dày.

2. Ăn ít các thực phẩm ngâm muối

Trong các thực phẩm này chứa muối nên cũng làm cho dạ dày “vất vả” hơn trong khâu xử lý. Hơn nữa, chúng còn chứa một số chất gây ung thư nên bạn càng không nên ăn.

dau-da-day-dinh-duong

3. Ăn ít các thực phẩm chiên rán

Do các loại đồ ăn này không dễ tiêu hóa nên có thể làm gia tăng gánh nặng cho đường tiêu hóa. Ăn nhiều có thể khiến máu nhiễm mỡ, không tốt cho sức khỏe.

4. Đúng giờ, định lượng

Bạn cần ăn đầy đủ 3 bữa/ngày và ăn đúng giờ, cho dù đói hay không đói. Tuyệt đối không được để dạ dày quá đói hoặc quá no vì khi đó các axit trong dạ dày sẽ tiết ra, gây ảnh hưởng đến hoạt động tiêu hóa.

5. Ăn chậm rãi để giảm bớt gánh nặng cho dạ dày

Khi bạn nhai kỹ, nước bọt cũng sẽ tiết ra nhiều hơn. Điều này rất có lợi cho việc bảo vệ niêm mạc dạ dày.

6. Tránh các chất kích thích

Không hút thuốc, bởi vì hút thuốc khiến mạch máu ở bụng bị co lại, ảnh hưởng tới việc cung cấp máu cho tế bào thành dạ dày, khiến sức đề kháng của niêm mạc dà dày giảm. Bạn cũng nên uống ít rượu, ăn ít các món cay như ớt, hạt tiêu… để bảo vệ dạ dày hoạt động tốt nhất có thể.

7. Chọn giờ uống nước

Thời điểm uống nước tốt nhất là lúc ngủ dậy vào sáng sớm và một giờ trước khi ăn. Uống nước ngay sau bữa ăn sẽ làm loãng dịch vị dạ dày, càng dễ gây ra chứng đau dạ dày. Uống quá nhiều nước canh cũng sẽ ảnh hưởng tới việc tiêu hóa thức ăn trong và sau bữa ăn.

8. Bổ sung vitamin C

Vitamin C có tác dụng bảo vệ dạ dày nếu tiêu thụ trong mức cho phép. Duy trì hàm lượng vitamin C bình thường trong dịch dạ dày có thể phát huy hiệu quả chức năng của dạ dày, bảo vệ bụng và tăng cường sức đề kháng cho dạ dày. Bạn nên bổ sung vitamin C từ các loại rau củ quả.

9. Chú ý phòng lạnh

Vùng bụng sau khi bị lạnh sẽ khiến chức năng dạ dày kém đi. Vì vậy, những người bị bệnh đau dạ dày càng nên chú ý giữ ấm vùng bụng, đừng để nhiễm lạnh.

10. Ăn uống điều độ

Nghiên cứu cho thấy, ăn uống điều độ đúng giờ, có định lượng sẽ hình thành phản xạ có điều kiện, hỗ trợ bài tiết tuyến tiêu hóa, có lợi cho tiêu hóa.

Theo Tri thức trẻ

Bổ sung đạm cho cơ thể

Ăn uống đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Dinh dưỡng là yếu tố quyết định sức khỏe và tuổi thọ. Bữa ăn bảo đảm dinh dưỡng là bữa ăn có đủ các thành phần dinh dưỡng cả về số lượng và chất lượng trọng đó, đạm là một trong chất dinh dưỡng đảm nhận một số chức năng quan trọng trong cơ thể con người.

Đạm là gì?

Đạm (protein) là chất căn bản của sự sống trong mọi tế bào, là thành phần của các mô cấu tạo và bảo vệ cơ thể cũng như tế bào mềm ở các cơ quan. Không có chất đạm hấp thụ từ thực phẩm thì cơ thể con người không thể tăng trưởng và mọi cơ quan nội tạng không thể hoạt động. Protein cũng lưu hành trong máu dưới hình thức những kháng thể, kích thích tố, hồng huyết cầu và các loại diêu tố. Và đạm chất cũng là nguồn duy nhất cung cấp nitrogen, một chất cần thiết cho mọi sinh vật trên trái đất. Trung bình, tỷ lệ chất đạm trong cơ thể con người là từ 10% – 20% trọng lượng, tùy theo cơ thể béo gầy, già trẻ, nam hoặc nữ.

chat-dam

Chất đạm có nhiều trong thịt, sữa, trứng và có ít hơn ở rau, đậu, ngũ cốc…

Đạm có ở đâu?

Nói đến chất đạm là ta thường nghĩ ngay có trong thịt và cho là chỉ có thịt động vật mới có đạm. Nhiều quan niệm cho rằng ta phải ăn nhiều thịt mới có đủ đạm. Thực ra không phải vậy. Đạm có trong nhiều thực phẩm khác như rau,quả, hạt… Loại đạm này vừa dễ tiêu lại vừa ít năng lượng, ít chất béo bão hòa hơn đạm từ thịt động vật. Khác với thực vật, động vật không tạo ra được đạm chất, nên con người phải tùy thuộc vào thực vật và các động vật khác để có chất dinh dưỡng này. Trong khi một số chất dinh dưỡng khác có thể tích trữ để dùng dần, thì protein lại không tích trữ được. Nên ta cần protein mỗi ngày.

Protein không phải là chất đơn thuần. Nó là tổng hợp của nhiều hợp chất hữu cơ mà thành phần căn bản là một chuỗi amino acid với 22 loại khác nhau. Mỗi loại đạm có một số amino acid đặc biệt và chúng nối kết với nhau theo thứ tự riêng. Những amino acid này luôn luôn phân biến hoặc được tái sử dụng trong cơ thể, cho nên con người cần thay thế amino acid đã được tiêu dùng. Quá trình này bắt đầu từ khi thai nhi mới được thành hình và kéo dài suốt đời sống của con người.

Cơ thể con người chỉ tổng hợp được 13 loại amino acids, còn 9 loại kia thì phải được cung cấp từ thực phẩm gốc thực vật hay từ thịt những con thú nào đã ăn những rau trái này. Chín loại amino acids thiết yếu (essential amino acid) phải do thực phẩm cung cấp là histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalamine, threonine, tryptophan và valine. Và để cơ thể tạo ra proein, ta phải cung cấp tất cả 22 loại amino acids.

Khi ta ăn thực phẩm có chất đạm thì hệ tiêu hóa sẽ biến chất đạm thành amino acids và tế bào sẽ hấp thụ những amino acids mà chúng cần. Bởi thế ta phải ăn nhiều thực phẩm khác nhau để bảo đảm có đủ các loại amino acid cần thiết cho cơ thể. Ngoài ra, khi thiếu một amino acid thiết yếu nào đó, cơ thể có khả năng lấy nó từ tế bào thịt trong người. Nhưng nếu diễn tiến này kéo dài sẽ đưa đến hao mòn cơ thịt.

Phân loại chất đạm

Chất đạm được ra làm hai loại: Loại chất đạm đủ và loại chất đạm thiếu.

Chất đạm nào có 9 thứ amino acid thiết yếu kể trên gọi là chất đạm đủ; loại nào không có một vài trong 9 thứ amino acid đó thì gọi là chất đạm thiếu.

Hầu hết mọi thực phẩm gốc động vật như thịt, sữa đều có chất đạm đủ. Trứng, dù bị mang tiếng xấu vì có nhiều cholesterol, cung cấp đầy đủ các amino acid theo đúng phân lượng mà cơ thể cần. Còn chất đạm trong thực phẩm gốc thực vật, như trái cây, ngũ cốc, rau cải, được coi như chất đạm thiếu vì nó thiếu một hoặc hai amino acid thiết yếu kể trên. Đạm trong đậu nành được coi như đủ vì nó có hầu hết amino acid cần thiết.

Nguồn gốc chất đạm

Chất đạm cần thiết cho cơ thể được cung cấp từ thực phẩm gốc động vật hay thực vật. Trong đó, thịt súc vật, sữa và cá là nguồn chất đạm dồi dào nhất, chiếm từ 15 đến 40% trọng lượng thức ăn. Nguồn chất đạm từ ngũ cốc và các thứ đậu chỉ chiếm từ 3% – 10% trọng lượng thức ăn; khoai, trái cây và cải có lá màu lục chỉ chứa có 3% hay ít hơn lượng chất đạm.

Đạm chất từ một loại thực vật không có đủ 9 amino acid thiết yếu, nhưng khi ăn chung thì chúng bổ túc cho nhau. Thí dụ ăn gạo pha với đậu, gạo thiếu lysine mà đậu lại nhiều lysine, nên khi gạo và đậu ăn chung thì cơ thể có đủ hai thứ amino acid này. Điểm cần lưu ý là sự bổ túc cho nhau này có kết quả tốt hơn nếu ăn chung cùng một lúc hoặc chỉ cách nhau vài giờ.

rau-cu-qua

Công dụng của chất đạm

Mỗi amino acid của chất đạm có nhiệm vụ riêng biệt trong cơ thể cho nên một chất này không thay thế cho chất kia được. Do đó phần ăn cần đa dạng, có sự thăng bằng của các thực phẩm. Một cách tổng quát, các amino acid từ chất đạm có 5 chức năng căn bản trong cơ thể:

Cấu tạo các mô tế bào mới: Tu bổ các mô bị hư hao; Là thành phần cấu tạo của huyết cầu tố, kích thích tố, diêu tố; Sản xuất sữa để nuôi con; Cung cấp năng lượng cho các sinh hoạt cơ thể.

Ngoài ra amino acid còn: điều hòa sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể, dung hòa nồng độ acid-kiềm; Hỗ trợ việc trao đổi chất dinh dưỡng giữa tế bào và huyết quản; Là thành phần cấu tạo nhiễm thể và gen di truyền; Một số amino acid dẫn truyền các tín hiệu thần kinh giữa các dây thần kinh và tới các bộ phận; Hỗ trợ để một số sinh tố hoàn thành được công dụng của mình.

Nhu cầu hàng ngày về chất đạm.

Trong cơ thể con người, gan tạo ra được 80% amino acid cần thiết từ chất đạm ta ăn vào còn 20% kia phải do thực phẩm cung cấp. Nhu cầu chất đạm thay đổi tùy theo tuổi tác, giai đoạn tăng trưởng, và tình trạng tốt xấu của cơ thể.

Mỗi ngày, người lớn cần được cung cấp từ 1 – 1,5g chất đạm/kg cân nặng. Trẻ em cần khoảng 2g chất đạm/kg cân nặng. Trẻ sơ sinh đang tuổi tăng trưởng nên nhu cầu chất đạm cho mỗi ngày nhiều hơn ở người già. Phụ nữ mang thai, cho con bú, khi bị bỏng nặng cần số lượng đạm chất cao hơn.

Một chế độ dinh dưỡng nặng về thịt và nhẹ về rau quả khiến thận phải làm việc nhiều hơn trong việc đào thải các cặn bã của chất đạm qua đường tiểu tiện. Đó là chất ammonia và urea. Vì thế ta thấy người có bệnh gan thận đều được hạn chế thịt. Ngoài ra trong thịt động vật, đặc biệt loại thịt đỏ nhiều máu còn có nhiều cholesterol và mỡ bão hòa là những nguy cơ gây ra bệnh tim mạch, mập phì.

Lưu ý: Khi nấu chín vừa phải thì thịt còn mềm và dễ tiêu vì hơi nóng làm rời rạc sự dính liền giữa amino acid. Nhưng khi nấu quá lâu thì amino acid lại quấn quyện với nhau nên khó tiêu hóa và cũng mất bớt 25% số lượng.

Nguồn giáo dục

Dinh dưỡng giúp vết thương mau lành sẹo

Vết thương (sẹo) lành nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng giúp vết thương mau lành và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng hồi phục của vết thương.

Sự lành của một vết thương bao gồm 3 giai đoạn: giai đoạn có xuất huyết và viêm. Ở giai đoạn này, vết thương rất dễ bị nhiễm trùng – mưng mủ. Giai đoạn tạo mô hạt để làm đầy vết thương và giai đoạn tái tạo biểu bì để vết thương lành hoàn toàn.

Một chế độ ăn uống như thế nào là hợp lý để giúp vết thương mau lành sẹo?

dinh-duong-giup-mau-lanh-vet-seo

Ăn đầy đủ chất đạm (protein), đây là nguyên liệu chính để tạo các tế bào mới cũng như các thành phần có liên quan đến quá trình lành vết thương. Do đó nếu chế độ ăn quá nghèo đạm hoặc ở người bị suy dinh dưỡng, người có bệnh lý làm giảm đạm trong cơ thể, người bị rối loạn chuyển hóa đạm thường vết thương lành sẹo chậm hơn, hoặc có khi không lành được do thiếu đạm quá nặng. Mỗi ngày cần ăn khoảng 200g các thức ăn cung cấp chất đạm như: thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu đỗ…

Nên dùng những thực phẩm giàu các vitamin A, B, C, K…Vitamin C hoạt động như một đồng yếu tố trong quá trình sản sinh collagen, giúp gia tăng sức đề kháng của cơ thể chống lại hiện tượng nhiễm trùng ở vết thương, làm gia tăng sự hấp thu chuyển hóa chất sắt trong cơ thể… Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả tươi như cà chua, ớt chuông, khoai tây, rau bina, trái cây thuộc họ cam quít, dâu tây, bông cải xanh, bắp cải, ổi, các loại rau có lá màu xanh sẫm…Vitamin A giúp chữa lành vết thương nhờ kích thích sự tổng hợp collagen và sự đa dạng hóa của các nguyên bào sợi cũng như kiểm soát tình trạng viêm nhiễm. Vitamin A có nhiều trong các loại rau màu lá xanh sẫm, các loại quả màu vàng như cà rốt, đu đủ, bí đỏ, bí ngô, gan động vật, các sản phẩm chế biến từ bơ sữa. Vitamin K cũng rất quan trọng vì trong quá trình đông máu ở giai đoạn đầu tiên của việc chữa lành vết thương, vitamin K đóng vai trò chính. Vitamin K có nhiều trong các loại rau có lá màu xanh đậm, bông cải trắng, cải bắp, bông cải xanh, nho, bơ, kiwi…

Nên dùng những thực phẩm bổ máu chứa sắt, acid folic, vitamin B12 vì máu sẽ giúp mang protein, vitamin, khoáng chất và oxy đến nuôi dưỡng các mô bị tổn thương. Đồng thời, mang các tế bào bạch cầu, đại thực bào đến tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập vào vết thương, dọn dẹp các chất thải như xác vi trùng chết, xác các tế bào đã chết. Trong quá trình tổng hợp collagen, sắt cần thiết cho việc chuyển hóa của các chất proline và lysine. Thực phẩm bổ máu gồm thịt bò, huyết, gan, trứng, sữa, các loại rau có lá màu xanh đậm…

Nên dùng những loại thực phẩm giàu kẽm và selen. Đây là những loại chất khoáng giúp mau lành vết thương, chống nhiễm khuẩn. Kẽm có nhiều ở các loại hải sản (nghêu, sò, ốc, hào, tôm…), gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng…). Selen cũng có nhiều trong cá, hải sản và trứng, vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt.

Cần tránh những thực phẩm trước đây ăn hay bị dị ứng vì dị ứng sẽ gây tăng hiện tượng viêm tại chỗ, tạo mủ.

Đối với người cao tuổi, người suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch… thì vết thương thường chậm lành hơn, do đó cần cung cấp thêm các loại thực phẩm giàu năng lượng như các loại sữa cao năng lượng với đầy đủ hàm lượng chất đạm, vitamin, khoáng chất cần thiết, có thể bổ sung 1 – 2 ly/ngày ngoài các bữa ăn chính để giúp cho vết thương được mau lành hơn.

Để có một vết thương mau lành như ý muốn thì ngoài việc quan tâm chăm sóc vết thương bạn nên có một chế độ ăn đa dạng, cân đối và ưu tiên dùng những loại thực phẩm giúp mau lành vết thương, bỏ thuốc lá, không ăn những thức ăn từng bị dị ứng…

BS. CKII. NGUYỄN VIẾT QUỲNH THƯ

Ăn ít thịt sẽ tốt cho cơ thể bạn

Theo các chuyên gia dinh dưỡng Mỹ, ăn ít thịt, tăng cường rau xanh sẽ giảm cholesterol và lượng đường trong máu, giảm nguy cơ tim mạch, giúp bạn giảm cân mà cơ thể vẫn khỏe mạnh. Đó là lý do ăn ít thịt sẽ tốt cho cơ thể của bạn.

Cải thiện đường tiêu hóa

Ăn nhiều rau và cây họ đậu có nghĩa là lượng chất xơ của bạn sẽ tăng lên, và nhiều chất xơ sẽ cải thiện hệ tiêu hóa. Đặc biệt ở phụ nữ, ăn chay rất tốt cho đường tiêu hóa, bạn sẽ cảm thấy cơ thể nhẹ nhõm hơn, tràn đầy sinh lực, và thậm chí quyến rũ hơn.

an-it-thit-se-tot-cho-co-the-ban

Giảm cân

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Viện Dinh dưỡng, Hoa Kỳ năm 2013 cho thấy, những người không ăn thịt có chỉ số BMI trung bình thấp hơn so với người ăn thịt, và người ăn chay có tỷ lệ béo phì thấp hơn đáng kể so với người ăn tạp (9,4% so với 33,3%). Những người thừa cân và béo phì sau một chế độ ăn chay đã giảm cân nhiều hơn so với những người ăn thịt mặc dù cả hai nhóm cùng tiêu thụ lượng calo như nhau. Tiêu thụ chất béo bão hòa, trong đó chủ yếu là thịt và sữa làm tăng cholesterol trong máu, tăng nguy cơ bệnh tim. Vì vậy ăn nhiều rau làm giảm lượng chất béo bão hòa, yếu tố gây nguy cơ mắc bệnh tim mạch và béo phì.

Giảm nguy cơ bệnh tiểu đường

Một nghiên cứu của Hiệp hội Tiểu đường Mỹ cho thấy những người ăn chay giảm nguy cơ hội chứng chuyển hóa, một nhóm các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tiểu đường tuýp 2, đột quỵ và bệnh tim.

Nguy cơ ung thư giảm

Năm 2002, các nhà nghiên cứu tại Đại học Loma Linda thực hiện một nghiên cứu trong 10 năm đã tìm thấy mối liên quan giữa chế độ ăn chay và nguy cơ ung thư. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng, những người ăn chay ít mắc ung thư đường tiêu hóa, chẳng hạn như ung thư đại trực tràng, và phụ nữ ăn chay giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú.

Làm đẹp da

Ăn chay rất tốt cho làn da của bạn. Ăn trái cây tươi, rau, và ngũ cốc nguyên hạt chứa chất chống oxy hóa, trung hòa các gốc tự do có thể giảm các nếp nhăn, đốm nâu, và các dấu hiệu lão hóa, giúp làn da tươi sáng và căng tràn.

Tăng cường năng lượng

Ăn nhiều rau chân vịt, cải xoăn, đậu, và các thực phẩm khác trong chế độ ăn uống có chứa nitrat giúp bạn cảm thấy tràn đầy sinh lực hơn theo thời gian. Nghiên cứu cho thấy chế độ ăn uống giàu nitrat làm giảm huyết áp, mở rộng các mạch máu để lưu thông oxy, tiếp thêm sinh lực giúp bạn khỏe mạnh hơn và thậm chí có thể nâng cao hiệu suất khi vận động.

Giảm huyết áp

Người ăn chay ít tăng huyết áp hơn so với người ăn thịt, theo kết quả công bố trên tạp chí Dinh dưỡng Y tế công cộng. Cụ thể, những người hạn chế thịt và sản phẩm gia cầm có huyết áp thấp hơn, cũng như vòng eo nhỏ hơn, so với những người thường xuyên tiêu thụ những loại thực phẩm này.

Bạn có thể hạnh phúc hơn

Các nhà nghiên cứu Đại học Warwick và Đại học Dartmouth đã nghiên cứu thói quen ăn uống của 80.000 người Anh và thấy rằng, những người ăn ít thịt và nhiều rau xanh giúp cải thiện tinh thần, tâm trạng vui vẻ và cảm thấy lạc quan, hạnh phúc hơn.

Nguồn gia đình

Quy tắc vàng của người tập thể thao

Bồi dưỡng tốt: Muốn sung sức cần phải có chế độ dinh dưỡng cân bằng và đa dạng. Ăn no để đủ chất dinh dưỡng nhưng không để béo phì. Hãy xem việc ăn uống là một thú vui. Chú ý: sữa rất tốt cho xương và răng; thịt, cá, trứng và rau đem lại protein cần thiết. Sự đều đặn mang lại sự thành công. Tốt nhất ăn đủ 4 cử: sáng, trưa, chiều, tối. Bữa ăn sáng cực kỳ quan trọng trong ngày (nhưng thường bị lãng quên). Không nên ngần ngại dậy sớm một tí để chuẩn bị kỹ lưỡng cho buổi ăn này.

Calo: Các thức ăn không bồi dưỡng cơ thể như nhau. Calo đo giá trị năng lượng thức ăn cho bạn. Một cục đường cung cấp 20 calo trong khi bạn chạy 1 giờ mất đến 780 calo. Nhu cầu về calo trong 1 ngày được tính như sau:
– Từ 7-9 tuổi: 1830 đến 2190 calo.
– Từ 10-12 tuổi: 2600 calo (nam), 2350 calo (nữ).
– Từ 13-15 tuổi: 2600 đến 2900 calo (nam) và 2350 đến 2490 calo (nữ).
– Người lớn: 2400 đến 2700 calo (nam) và 2000 đến 2400 calo (nữ).

quy-tac-vang-cua-nguoi-tap-the-thao

Đường có nhiều loại khác nhau. Đường thông thường chính là đường nhanh, cung cấp trực tiếp calo vào cơ thể: kẹo, sôcôla, mật ong. Đường nhanh thúc đẩy nỗ lực ở mức cao nhưng dùng chừng mực, đề phòng béo phì. Đường chậm dự trữ năng lượng lâu dài, đó là bột, bánh mì, gạo ngũ cốc…

Bạn cũng cần lưu ý thêm những quy tắc vàng quan trọng sau đây:

– Chớ quên uống: cơ thể bạn có 80% là nước, mỗi ngày bạn mất ít nhất 2,5l ít nước như vậy phải uống bù 1 lượng tương đương. Trong thức ăn phần lớn cũng là nước. Như vậy, bạn vẫn phải nên uống 1,5 lít nước/ngày dù không khát. Ra mồ hôi được xem là cách làm “nguội” cơ thể. Không vận động vẫn ra mồ hôi 1 ngày khoảng 1 lít nước. VĐV chạy marathon mất từ 4-6 lít/hành trình. Tránh những thức uống có gas.

– Ngủ tốt: Giấc ngủ giúp bạn sạc lại năng lượng. Với trẻ em, ngủ ban đêm rất có ích cho quá trình trưởng thành. Giấc ngủ dài và sâu kéo dài 9 tiếng.

– Bảo vệ cơ thể bằng cách tập luyện thể thao: Hãy tập luyện đều đặn trong cả năm. Nên chọn 1 môn thể thao yêu thích để có… niềm vui trong tập luyện. Như vâỵ bạn sẽ làm việc tốt hơn và phản ứng nhanh nhạy với cơ thể. Đừng để gián đoạn quá trình vận động trong thời gian dài, sẽ làm cơ thể bạn cùn đi và dễ gặp các triệu chứng đau cơ.

– Và cuối cùng là đừng để béo phì.

Huấn luyện thân thể toàn diện trong võ thuật bao gồm sức mạnh, tốc độ, sức chịu đựng và độ nhanh nhạy.

Sức mạnh: phương pháp cổ điển thường là gánh vật nặng trong tư thế nằm ngửa rồi ngồi dậy, gánh vật nặng ngồi xổm, cử tạ, cầm tạ đánh quyền… “Khi huấn luyện sức mạnh cơ bắp phải chú ý đến tốc độ và tính mềm dẻo”. Nghĩa là cơ bắp có sức mạnh nhưng không mất đi độ linh hoạt.

Tốc độ: bao gồm tốc độ di chuyển vị trí, tốc độ động tác, tốc độ tâm linh, tốc độ ra đòn và tốc độ thị giác. Phương pháp luyện tập:
1.Chạy thật nhanh trên quãng đường 30m
2.Nhảy dây thật nhanh.
3.Tập mang vật nặng di chuyển nhanh
4.Đánh vào mục tiêu cố định và nhanh chóng thối lui.

Sức chịu đựng: chính là độ bền thể lực. Nhờ có sức bền, bạn có khả năng ra đòn chính xác, tăng cường hiệu quả các bài tập tạ…
Phương pháp: liên tục đánh vào mục tiêu cố định, chạy cự ly dài, kết hợp chạy các cự ly ngắn – dài tốc độ, chạy nhanh đều, nhảy dây, tập các loại bóng…

Độ lanh lẹ: là khả năng hoàn thành chính xác động tác trong thời gian nhất định. Điều kiện quyết định độ lanh lẹ bao gồm: khả năng phản ứng bẩm sinh; động tác phong phú đa dạng; phương pháp huấn luyện khoa học.
Phương pháp: nhảy dây, tập luyện phản xạ, quán triệt các kỹ thuật trong thể thao (chẳng hạn thủ môn bắt bóng trong bóng đá). Độ lanh lẹ cần phối hợp với việc rèn luyện tốc độ.

Dinh dưỡng trong thời kỳ sau phẫu thuật

Dinh dưỡng đối với người bệnh ngoại khoa đóng vai trò rất quan trọng để đương đầu với cuộc phẫu thuật mất máu và sức lực. Đặc biệt, sau khi phẫu thuật phải có một chế độ ăn thật tốt, cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng để chống nhiễm khuẩn và nhanh liền vết mổ, hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân.

Các giai đoạn chuyển hóa sau phẫu thuật

Giai đoạn đầu: là thời gian 1-2 ngày sau khi mổ. Đây là giai đoạn tăng nhiệt độ cơ thể, liệt cơ do ảnh hưởng của thuốc mê dẫn đến liệt ruột, Trướng hơi, bệnh nhân mệt mỏi. Chuyển hoá mất nhiều nitơ, cân bằng nitơ âm tính, mất nhiều kali, vì thế cũng làm tăng thêm sự liệt ruột, trướng hơi.

Giai đoạn giữa: từ ngày thứ 3-5 sau mổ. Thông thường đến giai đoạn này nhu động ruột đã trở lại, bệnh nhân đã có thể trung tiện. Bệnh nhân tỉnh táo hơn, có cảm giác đói nhưng vẫn chán ăn. Bài tiết nitơ giảm đi, cân bằng nitơ trở lại bình thường. Bài tiết kali cũng giảm.

dinh-duong-trong-thoi-ky-sau-phau-thuat

Giai đoạn hồi phục: đến giai đoạn này bệnh nhân đại, tiểu tiện bình thường, kali máu dần trở lại bình thường. Vết mổ đã liền. Bệnh nhân biết đói, có thể ăn tăng để phục hồi dinh dưỡng nhanh.

Chế độ dinh dưỡng

Giai đoạn đầu

Quan điểm trước kia chưa cho bệnh nhân ăn bằng đường tiêu hoá ở giai đoạn này, chờ bệnh nhân trung tiện được mới bắt đầu cho ăn, chủ yếu bù nước, điện giải, cung cấp glucid, đảm bảo đủ lượng calo cần thiết nuôi dưỡng cơ thể, làm giảm giáng hoá protein. Có thể truyền tĩnh mạch các loại dịch cung cấp đường và điện giải. Cho uống rất ít, nếu bệnh nhân bị trướng bụng nặng thì không nên cho uống. Còn những bệnh nhân mổ ngoài hệ tiêu hoá cho uống ít một (50ml cách nhau 1 giờ) nước đường, nước luộc rau, nước quả. Có thể truyền plasma, máu.

Ngày nay, người ta thấy rằng cho ăn muộn không có lợi cho bệnh nhân. Nửa đời sống của tế bào ruột là 24 giờ, nếu không cho ăn đường ruột sớm thì các tế bào này sẽ có thể bị hoại tử và hệ vi khuẩn đường ruột sẽ thẩm lậu qua ruột vào máu. Nuôi dưỡng đường ruột sớm còn đưa lại nhiều lợi ích khác cho bệnh nhân. Vì vậy, các nhà khoa học đã tiến hành nuôi dưỡng sớm bằng đường tiêu hoá ngay từ ngày đầu tiên, thậm chí giờ thứ 8 sau phẫu thuật và đã mang lại kết quả tốt.

Giai đoạn giữa

Cho ăn tăng dần và giảm dần truyền tĩnh mạch. Khẩu phần tăng dần năng lượng và protein. Bắt đầu từ 500Kcal và 30g protein, sau đó cứ 1-2 ngày tăng thêm 250-500Kcal cho đến khi đạt 2.000Kcal/ngày.

Ăn sữa, nên dùng dưới dạng sữa pha nước cháo. Nên dùng sữa bột loại đã tách bơ, sữa đậu nành. Cho ăn làm nhiều bữa (4-6 bữa). Vì bệnh nhân còn đang chán ăn, do vậy cần động viên bệnh nhân ăn. Có thể dùng nước thịt ép khi bệnh nhân không dùng được sữa.

Ăn thức ăn mềm, hạn chế thức ăn có xơ. Dùng các loại thức ăn có nhiều vitamin B, C, PP như nước cam, chanh…

Giai đoạn hồi phục

Giai đoạn này vết mổ đã liền, bệnh nhân đã đỡ. Vì vậy, chế độ ăn cung cấp đầy đủ năng lượng và protein để tăng nhanh thể trọng và vết thương mau lành. Đây là chế độ ăn nhiều protein và năng lượng. Protein có thể tới 120-150g/ngày và năng lượng có thể tới 2.500-3.000 Kcal/ngày. Khẩu phần này phải được chia thành nhiều bữa trong ngày (5-6 bữa hoặc hơn).

Dùng nhiều sữa, trứng, thịt, cá, đậu đỗ để cung cấp chất đạm và các loại hoa quả để tăng vitamin C và vitamin nhóm B.

Cần lưu ý rằng, việc nuôi dưỡng bằng đường truyền tĩnh mạch lúc đầu là rất cần thiết. Song phải sớm nuôi dưỡng bệnh nhân bằng đường tiêu hoá. Điều này vừa có tác dụng nuôi dưỡng bệnh nhân sinh lý hơn, an toàn hơn, kinh tế hơn vừa có tác dụng kích hoạt cho hệ thống tiêu hoá sớm trở lại bình thường.

Dùng chế độ ăn qua ống thông nếu ăn bằng miệng không đủ nhu cầu, sau đó dần cho bệnh nhân ăn bằng đường miệng. Cho ăn nhiều bữa trong ngày, cho ăn tăng dần lượng protein và năng lượng, không cho ăn quá nhiều một lúc để tránh tiêu chảy.

PGS. TS. Trần Minh Đạo

Theo SKDS

Ăn quá mặn làm tăng nguy cơ một số bệnh nguy hiểm

Bệnh tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ đang là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới. Hiện nay ước tính mỗi năm có khoảng 17,3 triệu người trên thế giới chết vì những bệnh lý liên quan đến tim mạch.

“Kẻ thù số một” của trái tim

Ăn mặn đã là thói quen của rất nhiều người và đó cũng là nguyên nhân chính gây bệnh cao huyết áp. TS-BS Trần Thị Minh Hạnh, Trưởng Phòng Dinh dưỡng cộng đồng, Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, giải thích khi ăn nhiều muối, chúng ta đã vô tình đưa nhiều natri vào trong cơ thể. Tuy natri rất quan trọng cho cơ thể nhưng khi hàm lượng natri trong máu tăng, thận sẽ phải làm việc không ngừng để lọc máu.

Nếu lượng natri trong máu cao vượt khả năng lọc của thận, sẽ làm gia tăng áp lực thẩm thấu trong lòng mạch. Hậu quả là nước sẽ di chuyển vào bên trong lòng mạch theo áp lực thẩm thấu gây tăng thể tích máu. Điều này dẫn đến tăng huyết áp và tăng gánh nặng hoạt động của tim, nghĩa là tim phải bơm một lượng máu lớn hơn bình thường với áp lực cao, về lâu dài sẽ dẫn đến suy tim.

an-man

Do đó, việc cắt giảm đi số lượng muối không cần thiết mà chúng ta ăn hằng ngày sẽ giúp chúng ta tránh mắc phải những bệnh lý về tim mạch. Kết quả của một nghiên cứu gần đây của Trường Đại học California (Mỹ) cho thấy nếu khi còn trẻ chúng ta giảm sử dụng khoảng 3.000 mg muối ăn/ngày thì khi về già có thể giảm được 30% – 43% nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp.

Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy, nếu giảm ăn muối suốt thời gian khi còn trẻ đến 50 tuổi thì sẽ giảm 7% – 12% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, giảm từ 8% – 14% nguy cơ mắc bệnh tim và giảm từ 5% – 8% nguy cơ mắc bệnh đột quỵ.

Ăn bao nhiêu muối là vừa?

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), để giữ sức khỏe tốt, một người bình thường không nên ăn quá 6 g muối/người/ngày (tương đương 1 muỗng cà phê muối). Cần lưu ý lượng muối cho phép ăn vào ở đây không chỉ là muối ăn mà còn là muối ẩn chứa trong các thực phẩm khác. Trong khi đó, Viện Dinh dưỡng cho biết người Việt Nam hiện nay đang dùng muối lên đến 18-22 g/người/ngày, cao gấp 3 lần so với khuyến cáo.

Sở dĩ có tình trạng trên là bởi từ xa xưa, người Việt Nam đã quen dùng muối để tạo các gia vị mặn như nước mắm, nước tương, tương, chao,… và dùng muối để bảo quản thức ăn tránh hỏng như các loại mắm, khô cá, các loại rau cải muối chua,… Bên cạnh đó, theo xu hướng của cuộc sống hiện đại, chúng ta lại sử dụng nhiều loại thực phẩm chế biến sẵn thường chứa lượng muối cao gấp đôi so với lượng muối dùng trong thức ăn chế biến tại gia đình mà chúng ta thường ít để ý đến.

Vì vậy, giảm lượng muối ăn hằng ngày trong món ăn, vừa giữ gìn sức khỏe mà vẫn vừa cảm thấy ngon miệng đang là mối quan tâm của nhiều người. Theo BS Minh Hạnh, để làm được điều này, chúng ta phải tập dần dần, không thể giảm đột ngột (trừ các trường hợp bị các bệnh lý mà bác sĩ chỉ định phải ăn nhạt). Chúng ta nên bắt đầu giảm muối từng bước một như: chọn các loại nước chấm có công thức giảm mặn, pha loãng thay vì ăn nguyên chất, nêm thức ăn nhạt hơn thói quen ăn uống bình thường, hạn chế các món chế biến mặn, thực phẩm chế biến sẵn…

Đồng thời, các bà nội trợ có thể chủ động bảo vệ sức khỏe của gia đình mình bằng cách tích cực tìm hiểu các cách chế biến món ăn lành mạnh mà không cần dùng nhiều muối. Cả gia đình nên ăn giống nhau và cùng giảm muối, chứ không kiêng riêng cho một người vì sẽ khó thực hiện. Các bà mẹ cũng nên tập cho trẻ thói quen ăn ít muối ngay từ nhỏ để hình thành thói quen ăn uống tốt cho sức khỏe.

Nguồn giáo dục

Ăn vặt có thể đem đến nhiều lợi ích

Ăn vặt có thể giúp bạn khỏe mạnh, nếu bạn chọn lựa đồ ăn một cách khôn ngoan và duy trì bình ổn lượng calo cơ thể nạp vào mỗi ngày.

Ăn vặt có thể giúp bạn khỏe mạnh, nếu bạn chọn lựa đồ ăn một cách khôn ngoan và duy trì bình ổn lượng calo cơ thể nạp vào mỗi ngày.

Các bậc cha mẹ thường cho rằng ăn vặt không có lợi cho sức khỏe và cấm con mình ăn vặt. Tuy nhiên, sự thật không phải như vậy. Ăn vặt lành mạnh giúp cải thiện sức khỏe, kiềm chế cảm giác thèm ăn, giúp điều chỉnh tâm trạng, tăng cường sức mạnh não bộ và cung cấp năng lượng cho cơ thể.

an-vat-co-the-dem-den-nhieu-loi-ich

Những đồ ăn ít dinh dưỡng và nhiều đường giống như nhiên liệu dễ dàng bốc cháy

Ổn định lượng đường trong máu

“Ăn vặt giúp lượng đường trong máu ổn định và giúp bạn không bị quá đói giữa các bữa ăn”, Debra Waterhouse, thạc sỹ y tế công cộng người Mỹ cho biết.

Tất nhiên, như vậy không có nghĩa là bạn có thể ăn vặt một cách tùy tiện. 3 đến 5 giờ sau khi ăn, lượng đường trong máu sẽ hạ. Thường xuyên ăn vặt với lượng nhỏ giúp giảm cảm giác đói cồn cào, thúc đẩy quá trình trao đổi chất và cân bằng lượng đường trong máu. Nên lựa chọn những đồ ăn vặt lành mạnh như các loại hạt, trái cây, sữa chua hoặc các đồ ăn ít chất béo, ít đường và giàu chất xơ.

Theo tiến sĩ chuyên khoa tim mạch Rita Redberg (Đại học California): “Chế độ dinh dưỡng hợp lý là chìa khóa của một phong cách sống lành mạnh, giúp giảm nguy cơ tim mạch và tăng cường sức khỏe tổng thể”.

Giúp kiểm soát cân nặng

Nhà dinh dưỡng người Mỹ Megan Mullin khuyến cáo khách hàng của cô cứ 3 đến 5 giờ đồng hồ lại ăn một bữa nhỏ. “Bạn nên thường xuyên ăn những bữa nhỏ, đồng thời ăn nhiều hơn khi phải vận động nhiều. Nếu cân bằng được năng lượng nạp vào với năng lượng tiêu thụ, bạn có thể dễ dàng kiểm soát cân nặng của mình”.

Nên mang theo người những món ăn vặt lành mạnh và không nên đi tới cửa hàng khi đang đói vì như vậy bạn sẽ dễ dàng mua những món đồ không nên mua.

Giúp kiểm soát tâm trạng

“Tôi cho rằng thức ăn cũng như nhiên liệu vậy”, Mullin nói. Những đồ ăn ít dinh dưỡng và nhiều đường giống như nhiên liệu dễ dàng bốc cháy. Khi ăn, bạn sẽ có được nguồn năng lượng nhưng ngay sau đó, bạn sẽ cảm thấy đói, cáu kỉnh, buồn ngủ và không thể tập trung.

Trong khi đó, những đồ ăn vặt lành mạnh giống như nhiên liệu cháy chậm, cung cấp cho bạn năng lượng suốt cả ngày. Việc ăn vặt vài lần trong ngày giúp xua đuổi cơn buồn ngủ sau khi ăn – cơn buồn ngủ bắt nguồn từ việc hấp thụ quá nhiều calorie cùng lúc. Nếu ăn những đồ ăn vặt có protein như cá, thịt, trứng, phô mai, đậu phụ; bạn sẽ tăng khả năng tập trung và sự tỉnh táo.

Nhiều người còn chọn những đồ ăn có carbohydrate khi buồn vì chúng thúc đẩy việc sản xuất serotonin trong não, giúp cải thiện tâm trạng.

Theo giáo dục

Chọn thời điểm ăn rau quả chính xác

Trong số các loại thực phẩm như: thịt, cá, trứng, sữa và ngũ cốc thì trái cây là thức ăn có lượng chất dinh dưỡng, vitamin và chất xơ phong phú nhất. Tuy lượng chất hữu cơ cần thiết cho cơ thể không nhiều, nhưng trái cây có những công năng, vai trò rất quan trọng.

Nhưng các chất hữu cơ trong rau quả không được ổn định lắm, khi nấu nướng nó dễ thay đổi tính chất và hư hỏng. Trong đó vitamin C rất nhạy cảm với nhiệt độ, trong quá trình nấu nướng nó dễ mất đi. Kết quả của một cuộc điều tra dinh dưỡng tại Trung Quốc cho thấy lượng vitamin C thực vật bị tiêu hao là rất cao. Nguyên nhân chính là các loại rau tươi đã được chế biến thành các món ăn chín, điều đó làm một lượng lớn vitamin C bị tiêu hao.

chon-thoi-diem-an-rau-qua-chinh-xac

Nếu chúng ta ăn trái cây tươi không qua chế biến thì lượng vitamin bị hao tổn là rất thấp và chúng sẽ bổ sung được lượng vitamin đã bị hao tổn trong rau khi nấu chín. Vì vậy tốt nhất nên xem trái cây như một món trong bữa ăn, mỗi bữa ăn nên dùng thêm một phần trái cây để bổ sung vitamin.

Nên ăn trái cây vào buổi sáng là tốt nhất, bởi vì buổi ăn sáng rất đơn giản và ít các món ăn. Ngoài ra, qua 1 đêm dạ dày của chúng ta hoàn toàn trống rỗng và vitamin trong trái cây càng phát huy được chức năng của một “người nhân công quét dọn” tiêu trừ những chất có hại. Vitamin còn có tác dụng điều tiết và cải thiện lượng mỡ, lượng đường trong máu, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.

Luôn khỏe mạnh từ buổi sáng là một trong những nhân tố cho một ngày làm việc hiệu quả.

Theo VietNamNet

Dinh dưỡng dành cho người bệnh Alzheimer

 Bệnh Alzheimer là một loại bệnh đe dọa tuổi già khó chữa trị. Bệnh có biểu hiện mất trí nhớ hoàn toàn, mất tập trung tư tưởng, sụt cân không giải thích được, khó khăn trong việc đi đứng. Các triệu chứng về dinh dưỡng trong thời kỳ đầu của bệnh là: thay đổi sự nhận xét mùi vị như kêu quá nhạt, thích ăn đồ ăn ngọt và mặn, ăn không biết ngon và hay ăn những loại thực phẩm không thường dùng hàng ngày.

Liệu pháp dinh dưỡng

Chế độ ăn cần đầy đủ chất dinh dưỡng. Nên tăng cường rau và hoa quả để cung cấp các vitamin và muối khoáng. Chia thành nhiều bữa nhỏ và ăn nhẹ xen kẽ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể. Thời gian ăn uống tốt nhất trong ngày (bữa sáng, bữa trưa…) để cung cấp thức ăn, nguồn dinh dưỡng và năng lượng đầy đủ. Bữa tối có thể ăn ít hơn. Khuyến khích người bệnh uống đủ nước. Tránh cho uống cốc nước quá đầy vì dễ bị đổ. Giúp người bệnh cầm dụng cụ như thìa để tự lấy thức ăn, nếu khó khăn có thể giúp họ cầm thức ăn để ăn như bánh sandwiches, trứng luộc hoặc chuối…

dinh-duong-chua-cac-loai-benh-alzheimer

 Chế độ ăn uống cần chú ý

Tránh ăn nhiều mỡ động vật bão hòa có nhiều cholesterol như thịt mỡ, các phủ tạng. Có thể dùng mỡ dạng omega-3 có nhiều trong các loại cá, có tác dụng chống lão hóa cho tế bào não. Năng lượng từ chất béo chỉ nên ở mức dưới 25% tổng nhu cầu năng lượng hàng ngày.

Tăng cường các loại rau và hoa quả sẫm màu để bảo vệ não chống lại sự lão hóa.

Đậu nành là thực phẩm có nhiều isoflavone, tác dụng như estrogen thực vật, giúp giảm nguy cơ loãng xương, ung thư vú, tăng huyết áp và nguy cơ mắc bệnh tim mạch, giảm thiểu những dấu hiệu tiền mãn kinh và mãn kinh… Thí nghiệm trên động vật cho thấy, đậu nành có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh Alzheimer. dinh-duong-chua-cac-loai-benh-alzheimer-1 Rượu: Nếu dùng lượng vừa phải (1 đến 2 ly mỗi ngày) thì có tác dụng tốt bảo vệ não do kích thích phóng thích acetylchotine (chất dẫn truyền thần kinh bị khiếm khuyết trong bệnh Alzheimer). Tuy nhiên nếu dùng quá nhiều sẽ gây hại, đặc biệt phụ nữ uống rượu sẽ tăng nguy cơ bị ung thư vú và không được dùng khi có thai.

Folate và vitamin B12: sẽ làm giảm hemocysteine (chất làm tăng nguy cơ Alzheimer và bệnh tim mạch).

Vitamin chống ôxy hóa: chủ yếu là vitamin E và C, chống sự giải phóng gốc tự do làm tổn thương tế bào.

Chú ý, không nên nấu ăn và đựng thực phẩm trong nồi, dụng cụ bằng nhôm. Không ăn các thực phẩm ướp gia vị có chất nhôm như aluminum sulfate hay aluminum potassium sulfate.

Các nghiên cứu đã cho thấy, tập thể dục hàng ngày có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh Alzheimer ở người cao tuổi.

Ngoài ra, luyện trí nhớ rất quan trọng: tập làm các phép tính cộng, tính nhân thay dùng máy tính; tập nhớ tên người mới gặp, mới quen; luôn kiếm công việc làm có liên quan đến sử dụng trí nhớ của bộ óc; trước khi đi ngủ cần ôn những việc làm trong ngày để luyện trí nhớ.

ThS.BS. Dzoãn Thị Tường Vi

Theo báo công an

Chống béo phì ở trẻ thơ bằng cách làm vườn

Một giáo sư ở Kansas phát biểu: Công tác làm vườn có thể là phương pháp chống lại vấn đề nan giải đang phát triển về chứng béo phì ở tuổi thơ.

Candice Shoemaker, phó giáo sư khoa giải trí, lâm nghiệp, trồng và chăm sóc cây cảnh tại trường Đại học bang Kansas, đã nhận được số tiền trợ cấp 1,04 triệu USD từ Viện nghiên cứu Quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp cho đề án PLANTS, hoặc Hoạt động Kéo dài Tuổi thọ và Dinh dưỡng cho nhà trường.

chong-beo-phi-bang-cach-lam-vuon

Shoemaker và đồng nghiệp sẽ nghiên cứu để tạo ra những khu vườn và đường hầm cao cho công tác làm vườn suốt những tháng mùa đông – trong một ngôi trường thuộc địa hạt Kan, ở Manhattan. Chuơng trình sẽ bao gồm một chương trình sau giờ học dành cho những học sinh lớp 4, lớp 5 tự trồng cây ăn trái, rau cải và hoa cho chúng.

Bà nói: “khi những đứa trẻ giúp trồng rau cải và cây ăn quả, thì chúng lại quan tâm nhiều hơn đến việc sẽ ăn những gì mình trồng. Ngoài ra, làm vườn giúp cho những đứa trẻ có dịp đi ra ngoài và được coi như là hoạt động cơ thể”.

Shoemaker nói mỗi trường sẽ có một nhóm phụ huynh nòng cốt, đội ngũ nhân viên sau giờ học, các giáo viên, những nhà làm vườn bậc thầy trong vùng và tập thể các tình nguyện viên giúp tạo vườn và trông chừng vườn vào mùa hè. Shoemaker phát biểu trong tờ tin tức phát hành hôm thứ hai: “Chúng tôi hy vọng chứng minh được cộng đồng có thể cộng tác như thế nào với nhà trường để dựng nên một khu vườn.”

Nguồn khoa học

Bảo quản sữa mẹ để dự trữ cho bé

Nếu để trong ngăn đá tủ lạnh, sữa mẹ có thể được bảo quản trong 2 tuần. Vì vậy, các bà mẹ mới đi làm trở lại sau sinh vẫn có thể cho con bú hoàn toàn trong nửa năm đầu như khuyến cáo của ngành y tế.

Nếu kiên trì vắt sữa và biết cách bảo quản, bé vẫn có đủ sữa để ăn khi mẹ đi làm. Vật đựng tốt nhất là bình sữa chuẩn bằng nhựa hoặc bằng thủy tinh. Sữa mới vắt trong nhiệt độ phòng có thể được bảo quản trong một khoảng thời gian tương đối dài:

– Đến 4 giờ ở 27 độ C.
– Đến 10 giờ ở 21độ C.
– Đến 24 giờ ở 16 độ C, ví dụ trong túi đá lạnh.

bao-quan-sua-me-de-du-tru-cho-be

Bạn có thể trữ sữa mẹ trong tủ lạnh, sẽ để được 5 ngày ở 4 độ C. Nếu để trong ngăn đá, sữa mẹ có thể bảo quản được 2 tuần.

Khi bạn làm lạnh sữa, chất béo trong sữa sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt. Khi làm ấm sữa trở lại, bạn nên lắc đều để tái phân bố lại lớp chất béo này.

Làm ấm sữa

Lò vi sóng có thể làm hủy hoại các chất kháng thể chống nhiễm trùng trong sữa mẹ, tạo ra các “hạt nóng” có thể gây bỏng con bạn. Do đó, không nên làm ấm sữa mẹ bằng lò vi sóng.

Nên đặt bình sữa vào chén nước ấm, hoặc dưới vòi nước ấm, và làm ấm đến nhiệt độ phòng. Trẻ sơ sinh có thể từ chối uống sữa mới lấy ra từ tủ lạnh, nhưng sữa này không có hại.

Có thể cho trẻ dùng lại lượng sữa mẹ còn thừa ở cữ trước hay không?

Hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này. Tuy nhiên, các bà mẹ có thể cất vào tủ lạnh lượng sữa mẹ còn thừa mà trẻ chưa uống hết và cho uống tiếp vào cữ sữa kế tiếp. Nếu có vấn đề gì nghi ngờ, tốt nhất bạn nên bỏ lượng sữa thừa này đi.

Sau khi làm tan sữa đông lạnh bằng cách đặt bình sữa vào chén nước ấm, bạn có thể tiếp tục bảo quản ở tủ lạnh thêm 24 giờ nữa, nhưng không nên làm đông đá lần thứ hai.

Tại sao sữa mẹ đông lạnh đôi khi có mùi khi rã đông?

Lipase là một loại men tiêu hóa chất béo, vẫn còn hoạt tính trong khi sữa mẹ được làm đông lạnh. Một số bà mẹ có hàm lượng men lipase trong sữa cao và khi làm tan đông, sữa của những bà mẹ này thường có mùi và nếm có vị của xà phòng. Sữa này không có hại gì cho trẻ, nhưng trẻ thường không thích và từ chối bú.

Trong trường hợp này, bạn có thể đun sôi nhẹ sữa (khoảng 82 độ C) trước khi lưu trữ để làm bất hoạt men lipase, đến khi có những bọt nước nhỏ ở xung quanh nồi là được. Sau đó, bạn làm lạnh nhanh và lưu trữ.

BS Cam Ngọc Phượng
Theo Nhân Dân, Vnexpress

Hơn 3,2 triệu trẻ suy dinh dưỡng

Tại buổi họp báo phát động tuần lễ “Dinh dưỡng và phát triển”, do Viện Dinh dưỡng Quốc gia tổ chức ngày 8/10, theo số liệu giám sát dinh dưỡng (do Tổng cục Thống kê và Viện Dinh dưỡng công bố) thì tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em là 16,2% (thể nhẹ cân), 26,7% (thể thấp còi) và 6,7% (thể gầy còm).

Thống kê trên ước lượng tại Việt Nam hiện nay có khoảng 7,6 triệu trẻ dưới 5 tuổi thì số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân hiện có hơn 1,2 triệu trẻ và suy dinh dưỡng thấp còi vào khoảng trên 2 triệu trẻ.

Theo các bác sĩ, những năm gần đây, tốc độ giảm suy dinh dưỡng thể thấp còi đã chậm lại so với những năm trước đây ở tất cả các địa phương. Tuy nhiên, hiện nay trên toàn quốc vẫn còn 17 tỉnh/thành phố có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở mức cao, trên 20%; 21 tỉnh/thành phố có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thấp còi trên 30% (mức cao), trong đó đáng lưu ý nhất là tỉnh Kon Tum có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở mức trên 40% – mức rất cao. Bên cạnh vấn đề suy dinh dưỡng ở trẻ em, thì tình trạng trẻ thừa cân béo phì những năm gần đây tiếp tục tăng nhanh, đặc biệt trong 10 năm (từ 2000 – 2010), tỉ lệ trẻ béo phì tăng 9 lần.  Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chiều cao và thể chất con người phụ thuộc 20% vào di truyền và 80% vào dinh dưỡng, môi trường sống và rèn luyện thể thao. Vì vậy, một chế độ ăn với liều lượng dinh dưỡng hợp lý giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất.

hon-3-2-trieu-tre-bi-suy-dinh-duong

Tuần lễ dinh dưỡng năm nay do Bộ Y tế phát động với chủ đề “Đảm bảo an ninh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm để mọi người khỏe mạnh” sẽ diễn ra từ ngày 16 đến 23/10.
Viện Dinh dưỡng Quốc gia sẽ phối hợp chặt chẽ với ngành nông nghiệp để đưa kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kiến thức về dinh dưỡng hợp lý tới mọi gia đình, đặc biệt là các gia đình ở những vùng khó khăn, vùng hay có thiên tai xảy ra. Đặc biệt, trong thời điểm phát động sẽ tuyên truyền hướng dẫn người dân sử dụng đa dạng các thực phẩm giàu dinh dưỡng, an toàn để đảm bảo sức khỏe, đặc biệt là đối tượng bà mẹ và trẻ em. Bên cạnh đó, các chuyên gia về dinh dưỡng hướng dẫn cho người dân biết cách chế biến và thực hành vệ sinh đúng để đảm bảo thức ăn không trở thành nguồn lây bệnh, không bị hao hụt chất dinh dưỡng.Trong thời gian này, sở y tế các địa phương phối hợp với các viện dinh dưỡng, vệ sinh dịch tễ, ngành nông nghiệp để đưa kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kiến thức về dinh dưỡng hợp lý tới mọi gia đình.

Thùy Minh

Theo SKDS

Cách nuôi dưỡng trẻ trong thời kỳ bú mẹ

Dinh dưỡng hợp lý trong những năm đầu đời đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, giảm nguy cơ mắc bệnh và tử vong. Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ như thế nào để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ là băn khoăn của không ít các bà mẹ đang nuôi con nhỏ.
Đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi được nuôi bằng sữa mẹ thì ngay sau đẻ trong vòng 1 giờ, bà mẹ nên bắt đầu cho con bú sớm sẽ kích thích sữa bài tiết, trẻ sẽ nhận được sữa non giúp trẻ phòng chống nhiễm khuẩn sau đẻ và thải phân nhanh, trẻ đỡ vàng da. Đặt trẻ vào vú mẹ và giúp trẻ ngậm bắt vú tốt để trẻ nhận đủ sữa. Cho trẻ bú theo nhu cầu và nên cho bú kiệt một bên vú rồi mới chuyển sang vú bên kia để trẻ nhận được sữa cuối giàu chất béo. Điều quan trọng là bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu vì sữa mẹ đáp ứng đủ nhu cầu nước và các chất dinh dưỡng, không cần cho trẻ ăn thêm bất kỳ thức ăn, nước uống nào khác (kể cả nước trắng).

Đối với trẻ từ 6 – 24 tháng tuổi thì sữa mẹ vẫn là nguồn thức ăn quan trọng, đáp ứng được 70% nhu cầu năng lượng lúc trẻ 6 – 8 tháng tuổi, 55% khi trẻ từ 9 – 11 và 40% khi trẻ 12 – 24 tháng tuổi. Vì vậy, cần tiếp tục cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 2 năm cùng với ăn bổ sung.

A86907

Ăn bổ sung là cho trẻ ăn thêm các thức ăn khác cùng với sữa mẹ. Thức ăn bổ sung bù đắp sự thiếu hụt năng lượng và các chất dinh dưỡng (protein, sắt, vitamin A…). Thời gian bắt đầu ăn bổ sung là khi trẻ tròn 6 tháng tuổi (180 ngày hoặc 26 tuần tuổi) vì ở lứa tuổi này trẻ mới có biểu hiện thích thú trong ăn uống, răng bắt đầu mọc, biết sử dụng lưỡi để di chuyển thức ăn trong miệng và cử động hàm để nhai, đồng thời có khả năng tiêu hóa thức ăn đặc. Ăn bổ sung quá sớm sẽ làm cho trẻ bú mẹ ít đi, sự tiết sữa giảm ảnh hưởng đến việc duy trì nuôi con bằng sữa mẹ. Hơn nữa, ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, chức năng tiêu hóa còn yếu nên chỉ chấp nhận thức ăn lỏng. Những thức ăn bổ sung dưới dạng lỏng thường ít chất dinh dưỡng, ảnh hưởng đến phát triển của trẻ, đồng thời thiếu hụt các yếu tố miễn dịch từ sữa mẹ làm cho trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là tiêu chảy và hô hấp. Ngược lại, ăn bổ sung quá muộn thì trẻ cũng dễ bị suy dinh dưỡng, thiếu hụt vi chất (kẽm, sắt, vitamin A, B…).

Thức ăn bổ sung cần đa dạng và đáp ứng đủ nhu cầu cho sự phát triển của thể chất, tinh thần, trí não của trẻ và sẵn sàng có ở từng địa phương nhưng phải có đủ 4 nhóm thức ăn:

Nhóm tinh bột từ ngũ cốc và khoai củ là thức ăn chiếm nhiều năng lượng khẩu phần để bù đắp sự thiếu hụt năng lượng của trẻ ở thời kỳ này.

Nhóm chất đạm từ nguồn đạm động vật và đậu đỗ để bù đắp sự thiếu hụt protein, sắt, vitamin A…

Nhóm chất béo từ dầu mỡ là nguồn bổ sung năng lượng và làm cho thức ăn mềm dễ nuốt, đồng thời là dung môi để hòa tan các vitamin tan trong chất béo (vitamin A, D, E, K).

Nhóm vitamin và khoáng chất từ các loại rau lá màu xanh thẫm và củ quả có màu vàng đỏ giúp trẻ phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng.

Năng lượng từ thức ăn bổ sung khoảng 200 – 300 kcal/ngày cho trẻ từ 6 – 8 tháng tuổi, 300 – 400 kcal/ngày cho trẻ từ 9 – 11 tháng tuổi và 500 – 700 kcal/ngày lúc trẻ 12 – 24 tháng tuổi.

Số bữa ăn và số lượng mỗi bữa tăng dần theo tháng tuổi để phù hợp với dung tích dạ dày của trẻ. Để trẻ nhận đủ dinh dưỡng, cần tăng đậm độ năng lượng thức ăn bằng cách quấy bột đặc hơn, có thể thay thế một phần nước nấu bột bằng một lượng sữa tươi hoặc 1 thìa sữa bột vào bát bột hoặc cho thêm giá đỗ (10g giá đỗ/10g bột) để thủy phân tinh bột làm cho bột lỏng mà không thay đổi thể tích, đảm bảo đậm độ năng lượng. Cho trẻ ăn bổ sung 2 bữa/ngày, mỗi bữa 100 – 150ml (10g bột/100ml) với trẻ từ 6 – 8 tháng tuổi; 3 bữa/ngày, mỗi bữa 200ml và ăn thêm 1 bữa phụ với trẻ từ 9 – 11 tháng tuổi; 3 bữa/ngày, mỗi bữa 250ml và 2 bữa phụ với trẻ từ 12 – 24 tháng tuổi. Bữa ăn chính thường là bột, cháo, súp nấu đặc và đa dạng thực phẩm đủ 4 nhóm thức ăn. Bữa ăn phụ cung cấp thêm dinh dưỡng như hoa quả, sữa và các sản phẩm của sữa. Thức ăn chứa nhiều đường, ít dinh dưỡng như nước ngọt có ga, kẹo, kem… không coi là bữa ăn phụ. Các bữa ăn phụ không thể thay thế các bữa ăn chính.

Khi ăn bổ sung, cần cho trẻ uống thêm nước, trung bình 100 – 150ml/ngày kể cả lượng nước có trong thức ăn. Vì vậy, cần chú ý cho trẻ uống thêm nước đun sôi để nguội khoảng 400 – 600ml/ngày.

PGS.BS. Đào Thị Ngọc Diễn

Theo SKDS

Những giải pháp tốt nhất đối với trẻ em béo phì

Trẻ em với cân nặng quá khổ có nên tiến hành thắt dạ dày, bóc mỡ để cứu các em? Các chuyên gia về dinh dưỡng phân tích những giải pháp tốt nhất đối với trẻ em béo phì là gì?

Béo phì và vô sinh

Thạc sĩ, Bác sĩ Phan Bích Nga, Phó giám đốc Trung tâm tư vấn phục hồi dinh dưỡng và kiểm soát béo phì, Viện dinh dưỡng Quốc gia cho biết: “Tỉ lệ các cháu đến khám béo phì thấp hơn so với các rối loạn dinh dưỡng khác.

Những năm 2003- 2004, tỉ lệ này thấp chỉ 1 – 2% sau đó tăng dần. Hiện nay tỉ lệ các cháu béo phì đến khám chiếm 7 – 8% vẫn là rất khiêm tốn. Trong khi đó, các cháu đến khám suy dinh dưỡng khoảng 50 – 60%, còi xương khoảng 60% nhưng béo phì vẫn dưới 10%.

nhung-giai-phap-tot-nhat-doi-voi-tre-em-beo-phi

Điều này nói lên ý thức các phụ huynh chưa để tâm nhiều đến khám béo phì cho con. Họ chưa thấy đó là vấn đề đáng lo ngại và ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì nhiều người vẫn quan niệm “béo đẹp, béo khỏe. Thông thường, những trẻ đó khi bé rất khỏe mạnh, ít ốm đau, ăn dễ, ngủ dễ. Vì vậy, các bậc cha mẹ rất hay chủ quan. Nhưng sau này, các cháu có nguy cơ mắc nhiều bệnh”.

Béo phì nặng từ độ 2 trở lên đa phần là do bệnh lý. Béo phì dẫn đến rối loạn tâm sinh lý trẻ làm trẻ dậy thì sớm. Khi trẻ trưởng thành béo phì gây rối loạn chức năng sinh sản, khó có con.

Trẻ béo phì sớm bị đái tháo đường, bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, các bệnh lý về thận, ung thư xương.

Bác sĩ Nga phân tích: Ung thư xương vì tế bào mỡ khi bị phì đại, không ở kích thước bình thường sẽ rất khó thu nhỏ. Nó tràn lan và xâm lấn vào các cơ quan tổ chức. Khi đó nó gây ra rối loạn điều tiết hormone của cơ thể và gây rối loạn chuyển hóa trong đó có gây ra ung thư xương.

Việc phá vỡ sự cân bằng hormone của cơ thể khiến béo phì trở thành một yếu tố nguy hiểm gây vô sinh ở cả nam và nữ.

Việc suy giảm chức năng buồng trứng là yếu tố chính dẫn tới vô sinh ở phụ nữ béo phì. Sự bất thường trong nồng độ các hormone như là androgen, estrogen và progesteron có thể làm thay đổi chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.

Nồng độ lý tưởng của các loại hormone này là thực sự rất cần thiết cho việc thụ thai và mang thai. Sự tích tụ chất béo ở buồng trứng cũng làm đảo lộn sự phát triển của bào thai và dẫn tới sảy thai.
Đối với nam giới, béo phì có liên quan mật thiết với vô sinh ở nam giới. Các tế bào chất béo sản sinh estrogen và nam giới càng có nhiều tế bào chất béo càng tăng số lần tuần hoàn estrogen trong cơ thể so với những người có cân nặng bình thường. Điều này dẫn tới nguy cơ vô sinh ở nam giới, gây ra sự sản sinh tinh trùng không bình thường.

Có nên thắt dạ dày, cắt mỡ?

Về nguyên nhân béo phì, bác sĩ Nguyễn Thị Hoa, trưởng khoa Dinh dưỡng, bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM cho rằng 10% trẻ em béo phì do yếu tố nội sinh, 90% do ngoại sinh.

Nội sinh gây béo phì có thể do gen, rối loạn nội tiết… Còn ngoại sinh do môi trường bên ngoài, chế độ dinh dưỡng vượt quá nhu cầu, ít vận động.

Phương pháp chữa trị là tìm ra nguyên nhân cụ thể để giải quyết. Nhưng với nguyên nhân nội sinh cũng khó khăn để chữa trị.

“Với trẻ em béo phì chủ yếu do yếu tố ngoại sinh, trong phác đồ điều trị là kiểm soát chế độ ăn, tập luyện, trẻ con không dùng thuốc. Với biện pháp bóc mỡ, thắt đai dạ dày, không được áp dụng với trẻ con”, bác sĩ Hoa nói.

Còn theo bác sĩ Nga: Có những trường hợp khó, béo phì do rối loạn nội tiết. Khi đó, bệnh nhân đến khám tại Viện dinh dưỡng sẽ được chuyển đến khoa nội tiết, bệnh viện Nhi Trung Ương hoặc bệnh viện nội tiết.

Có những biểu hiện béo phì do bệnh lý hiếm gặp như u ở thùy sau tuyến yên. Vấn đề về rối loạn chuyển hóa lipid máu do nguyên nhân bẩm sinh.

Cũng có trường hợp béo phì do di truyền. Các nghiên cứu thống kê cho thấy, nếu bố mẹ cùng béo phì thì khả năng con bị béo phì lên tới 70 – 80%. Một mình bố hoặc mẹ béo phì, con sẽ bị nguy cơ 40%.

Còn lại các cháu béo phì do chế độ ăn. Cũng có thể các cháu béo phì còn có sự kết hợp di truyền với chế độ ăn.

Theo bác sĩ Nga, với bệnh lý u ở não thì phải điều trị bên thần kinh, làm các xét nghiệm chẩn đoán vị trí u, kích thước. Bác sĩ chuyên khoa sẽ cho hướng điều trị phù hợp với việc khả năng chèn ép xung quanh của khối u. Thậm chí có thể phải phẫu thuật.

Nếu béo phì do nguyên nhân di truyền rối loạn lipid máu phải điều trị bằng thuốc. Đây là những trường hợp nặng, khó khăn. Vì những thuốc điều trị này rất hại gan, thận, uống vào, trẻ sẽ thấy rất mệt.

Trong trường hợp béo phì thông thường do chế độ ăn thừa năng lượng. Đối tượng này hay gặp ở những trẻ vận động ít.

Về phương pháp mạnh để giảm béo phì như thắt eo dạ dày, bóc mỡ, các bác sĩ đều cho rằng, phương pháp này chỉ áp dụng với những người trưởng thành trên 18 tuổi chứ không dành cho trẻ em.

Kể cả với trường hợp người trưởng thành có nhiều trường hợp thất bại, gây biến chứng nguy hiểm.
Rủi ro của một cuộc mổ, tuột đai thắt, biến chứng bệnh lý dạ dày. Thậm chí, có thể tử vong. Còn bóc mỡ cơ thể lại đùn mỡ trở lại nếu không có phương pháp kiêng khem hợp lý trong dinh dưỡng.

Có nên có chế độ ăn uống kiêng khem tuyệt đối cho trẻ?

Béo phì ở trẻ em khác người lớn. Người lớn khi đã trưởng thành rồi có thể kiêng khem tuyệt đối. Nhưng trẻ em vẫn phải phát triển cơ thể. Vì vậy, cần có một chế độ ăn cân bằng.

Nếu kiêng khem quá thì ảnh hướng đến tốc độ lớn của trẻ. Phải đảm bảo năng lượng đủ, đảm bảo lượng đạm. Vì đạm, nhất là đạm động vật rất cần cho sự phát triển của trẻ cùng với chất béo.

Chất béo tối thiểu vẫn cần 20 – 25 gr/ngày, chất béo vẫn là cả dầu, mỡ.

Trẻ béo phì vẫn cần bổ sung thực phẩm giàu canxi như tôm, cua cá, bổ sung sữa nhưng khuyến cáo nên sử dụng sữa tách béo. Ngoài ra, cần ăn tăng rau, củ chất xơ.

Chế độ ăn cho trẻ béo phì thường phải giảm chất bột, giảm chất béo. Nhất là thịt mỡ, thậm chí hạn chế ăn thịt lợn vì trong thịt nạc của lợn, hàm lượng chất béo vẫn khá cao. Hạn chế cho trẻ ăn món xào rán.

Bác sĩ Nga chia sẻ: “Trẻ em từ 11 tuổi trở lên sau khi áp dụng điều trị bằng phương pháp dinh dưỡng, ăn uống đã cân bằng mà vẫn béo phì thì cần xem xét bé có bị rối loạn nội tiết hay không.  Điều trị béo phì càng sớm càng tốt, càng để lâu thì khả năng điều trị thành công càng khó. Trẻ đến khám ở trung tâm  chúng tôi sẽ được tư vấn chế độ ăn, hoạt động hợp lý. Và điều trị có thành công hay không cần có sự tác động, giúp đỡ của bố mẹ.

Chúng tôi hướng dẫn cả chế độ vận động, phải chơi các môn thể thao vận động nhiều, ra nhiều mồ hôi, kết hợp tăng chiều cao”.

Theo vtc