Tag Archives: dinh dưỡng cho bé

Dinh dưỡng cho trẻ như thế nào vào bữa sáng

Để bữa sáng của trẻ đầy đủ dinh dưỡng, các mẹ cần phải đảm bảo cung cấp cho trẻ 4 nhóm: đạm, chất béo, bột đường, vitamin và khoáng chất. Với 4 nhóm dưỡng chất này, các mẹ có thể tìm thấy ở nhiều loại thực phẩm khác nhau. Dưới đây là một vài gợi ý các nguồn thực phẩm có chứa các nhóm dinh dưỡng cần thiết cho trẻ.

1. Thức ăn tinh bột: có nhiều trong cơm, cháo, khoai tây, khoai lang, mì… Nhóm thức ăn này có chứa các tinh bột tạo nên chất bột đường cần thiết để chuyển hóa thành năng lượng cho các hoạt động của trẻ.

2. Trái cây và rau xanh: rau có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp cho cơ thể vitamin và chất xơ. Trái cây cũng chứa lượng vitamin cao, do đó các mẹ nên cho trẻ dùng thêm trong các bữa ăn.

3. Protein và chất sắt: có trong các loại thực phẩm như thịt, cá, trứng, các loại hạt. Vai trò tạo hình cơ bắp của protein đặc biệt quan trọng. Riêng chất sắt là thành phần quan trọng của huyết sắc tố. Thiếu sắt sẽ dẫn đến thiếu máu, ảnh hưởng không tốt đến trí nhớ của trẻ.

dinh-duong-cho-tre-nhu-the-nao-vao-bua-sang

4. Sữa tươi: đây là nguồn dưỡng chất khá phong phú vì chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất như protein, chất béo, sắt, kẽm, magiê, canxi, vitamin,… Do đó, các mẹ nên lựa chọn những sản phẩm làm từ sữa tươi để trẻ dùng kèm trong bữa ăn.

Thực đơn bữa sáng chuẩn

Mỗi ngày, lượng calories trung bình mà trẻ cần được “nạp” được tính theo công thức: 1000kcal + 100 x số tuổi. Ví dụ, khi lên 4 tuổi trẻ cần 1400 kcal/ngày, đến 10 tuổi thì lượng calories tăng lên đến 2000 kcal/ngày.

Thực đơn bữa sáng chuẩn để các mẹ tham khảo:

– Món chính: phở, bún, hoặc miến (400-500 kcal), hoặc có thể thay đổi khẩu vị cho trẻ bằng bánh mì thịt (khoảng 400kcal), hay các món xôi đậu (khoảng 500kcal).

– Món dùng kèm: 1 hộp hức uống dinh dưỡng (khoảng 200ml) để đảm bảo nguồn dưỡng chất cho nhu cầu phát triển cơ thể của trẻ.

Những thực phẩm không nên cho bé ăn nếu muốn bé cao

 Việc phát triển chiều cao của bé cũng có nhiều nguyên do: do gen, sinh hoạt, do từng thời kỳ và do chế độ ăn uống.

Một trong những yếu tố quyết định quan trọng khác là chế độ ăn uống của bé vô cùng quan trọng. Khi cơ thể được bổ sung đầy đủ dưỡng chất, đặc biệt là vitamin D và canxi giúp hệ xương đầy đủ, thì con bạn mới có thể cao lớn, vững vàng. Tuy nhiên, có một số thức ăn có thể khiến bé… lùn nếu bạn lạm dụng. Chẳng hạn như những thực phẩm chứa nhiều chất béo bão hòa (có nguy cơ đẩy lùi quá trình phát triển): snack, bánh ngọt, soda, các món nhiều dầu mỡ và các thực phẩm chứa caffein như chocolate, kẹo cà phê… Vì vậy không nên cho trẻ em thường xuyên ăn những thực phẩm này.
Soda

 Soda khiến bé lùn đi

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao của bé như ăn uống thất thường, thiếu chất, sức đề kháng kém nên gây ra ốm đau, bé ngủ ít, khó ngủ…

Ngoài việc đảm bảo chế độ ăn uống của bé, hãy lưu ý tới chế độ sinh hoạt đúng giờ giấc cũng như quan tâm tới đời sống tinh thần để bé có thể phát triển tốt nhất bạn nhé. Nếu bạn thấy bé đã đáp ứng đầy đủ những điều kiện này mà vẫn chưa cao lớn như mong muốn, thì cũng có thể là chưa tới thời điểm đấy. Thông thường bé phát triển chiều cao tốt nhất ở 3 thời kỳ: trong bụng mẹ, dưới 5 tuổi và thời kỳ tiền dậy thì. Có những bé tới tuổi dậy thì bỗng nhiên cao vống lên khiến bố mẹ phải ngỡ ngàng đấy.

Theo kiến thức gia đingf

Lời khuyên cho bé uống nước đầy đủ

Bác sĩ dinh dưỡng sẽ cho các mẹ một số lời khuyên để trị bé lười uống nước.

Một số bé vì mải chơi hoặc vì thấy nước lọc quá nhạt nhẽo nên thường lười uống nước. Bác sĩ dinh dưỡng Đặng Thu Hiền (Viện Dinh dưỡng Quốc gia) sẽ chỉ cho các mẹ một vài cách hay để khuyến khích con uống đủ lượng nước cơ thể cần.

1. Cho bé lười uống nước ăn thêm hoa quả

Những loại hoa quả có nhiều nước như dưa hấu, dưa chuột, cam, lê… là một trong những cách bổ sung nước cho các bé lười uống nước.

Đây được coi là một trong những cách hay vì hoa quả vừa bổ sung nước vừa bổ sung vitamin cho cơ thể bé. Vì vậy nếu bé nhà bạn lười uống nước thì mẹ đừng ngần ngại gì mà không thử cách này nhé!

be-luoi-uong-nuoc-me-da-co-cach

2. Pha nước với sữa

Nếu bé nhà bạn là một “fan” của sữa thì mẹ có thể “lợi dụng” điều này để điều trị bệnh lười uống nước của con.

Mẹ hãy pha thêm chút nước lọc vào với sữa, ban đầu pha đặc với lượng sữa nhiều hơn nước lọc, sau đó loãng dần. Đến khi bé quen dần thì mẹ không cần pha sữa vào nước lọc nữa mà chỉ cần cho bé uống nước lọc thôi.

3. Cho uống nước bằng cốc

Nếu bé nhà bạn thích uống sữa bằng bình thì tất nhiên con cũng sẽ thích uống nước lọc bằng bình. Các nhà tâm lý đã phát hiện ra rằng uống nước lọc bằng cốc sẽ kích thích trẻ thích uống hơn rất nhiều so với bằng bình.

Vì vậy, để con không còn lười uống nước, mẹ hãy tập cho bé uống nước bằng cốc nhé!

4. Mẹ phải kiên trì

Khi luyện cho bé thói quen chăm uống nước, mẹ hãy kiên trì, đừng vội bỏ cuộc hoặc cho bé uống nước hoa quả thay thế vì như vậy sẽ khiến bé khó mà chuyển sang uống nước lọc được.

Bác sĩ Đặng Thu Hiền cũng khuyến cáo các mẹ rằng: “Những loại nước đóng chai có thể không phù hợp cho các bé vì chứa hàm lượng chất khoáng cao. Hãy kiểm tra lượng natri (muối) ít hơn 200mg trong một lít nước đóng chai”.

Lượng nước lọc bé cần theo độ tuổi như sau:

Bé dưới 6 tháng tuổi: Chỉ cần bú sữa mẹ bởi vì trong đó đã bao gồm lượng dinh dưỡng và nước cần thiết cho bé.

Bé từ 6 tháng tới một tuổi: Nhu cầu nước lọc của bé lúc này là khoảng 200-300ml/ngày.

Bé trên một tuổi: Lượng nước uống tuỳ thuộc vào nhu cầu của bé, nhất là sau một tuổi bé có thể tự cầm cốc. Mẹ có thể rèn luyện cho bé thói quen uống nước. Không nên đợi tới khi bé cảm thấy khát rồi mới uống vì như vậy là đã bị thiếu nước.

Mặt khác, có thể dựa vào cân nặng của bé để xác định lượng nước cần cho cơ thể bé.

Cụ thể: 4,5kg cần 425ml nước/ngày; 5kg cần 510ml nước/ngày; 6,3kg cần 595ml nước/ngày; 7,2kg cần 680ml nước/ngày; 8,1kg cần 765ml nước/ngày; 8,5kg cần 850ml nước/ngày; 9kg cần 935ml nước/ngày; 10,9kg cần 992ml nước/ngày; 11,8kg cần 1020ml nước/ngày; 12,7kg cần 1077ml nước/ngày; 13,6kg cần 1105ml nước/ngày.

Các mẹ lưu ý là lượng nước này được tính bao gồm cả nước trong sữa và thực phẩm bé ăn hàng ngày nhé!

Theo afamily

Chăm sóc bé yêu khi hệ tiêu hoá chưa hoàn thiện

Khi trẻ biếng ăn, quấy khóc, kém năng động kèm theo một vài dấu hiệu như táo bón, nôn trớ, đầy hơi sau khi ăn rất có thể trẻ đang gặp những rắc rối với hệ tiêu hoá còn chưa hoàn thiện của mình.
Một vài ghi nhớ đơn giản và hiệu quả sau có thể giúp mẹ làm chuyên gia hỗ trợ bé thoát khỏi những rắc rối tiêu hoá thường gặp này nhé!

Cảnh giác với hiện tượng nôn trớ

Tuy nôn trớ là hiện tượng lành tính và trẻ sẽ tự hết khi lớn lên nhưng nếu kéo dài sẽ làm cho thành ruột trẻ bị tổn thương, dẫn đến trẻ sợ bú và bất dung nạp thức ăn. Giúp trẻ ngậm sát đầu vú khi bú sẽ tránh cho trẻ bị nuốt không khí vào dạ dày, hạn chế hiện tượng sữa bị đẩy trào ngược, gây nên tình trạng nôn trớ sau ăn. Với những loại thực phẩm mới, nên pha dần từ lỏng đến đặc, chia thành nhiều bữa trong ngày, tránh ép trẻ ăn quá no và bị trào ngược thực phẩm.

Hạn chế để trẻ bị đầy hơi kéo dài

Hiện tượng đầy hơi ở trẻ có thể xảy ra khi trẻ nuốt phải nhiều không khí vào bụng trong lúc bú, lúc ăn, và cả trong lúc khóc. Trẻ cũng có thể bị đầy hơi do thức ăn không được tiêu hóa hết. Tuy đầy hơi không quá nguy hiểm nhưng sẽ làm bé khó chịu, quấy khóc. Vì vậy, mẹ nên cho bé bú đúng tư thế, luôn giữ cho đầu bé cao hơn dạ dày. Sau khi bú, mẹ cần giúp bé ợ hơi bằng cách vác bé lên vai hoặc cho bé nằm sấp trên đùi, vỗ lưng cho bé. Mẹ cũng có thể giúp bé tống hơi bằng động tác đạp chân như đạp xe đạp lúc bé nằm ngửa, giúp bé thoát hơi ra ngoài cơ thể.

Giúp bé duy trì lượng nước cần thiết

Nước giúp trẻ thực hiện việc trao đối chất và tiêu hóa thức ăn. Thiếu nước có thể gây ra tình trạng tiêu hoá kém, thậm chí táo bón. Vì vậy, mẹ nên chú ý thường xuyên bổ sung nước thường hoặc them các loại nước trái cây, để trẻ dễ đào thải chất cặn bã ra khỏi cơ thể, tiêu hoá tốt. Khi trẻ bị tiêu chảy, mẹ có thể dùng dung dịch Oresol pha vào nước cho trẻ uống để ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng mất nước.

Xử lý tình trạng bất dung nạp đường lactose
cham-soc-be-yeu-khi-he-tieu-hoa-chua-hoan-thien
Theo BS Nguyễn Anh Tuấn – Thư ký Chi hội Tiêu hóa Gan mật Nhi Việt Nam, một trong những nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng nôn trớ, đầy hơi, khó tiêu… là do sự bất dung nạp Lactose hoặc đạm Casein – những thành phần chính có trong sữa mẹ và một số loại sữa công thức khác. Để phòng tránh và giảm thiểu tình trạng này, mẹ nên chọn cho trẻ loại sữa bột chứa hệ dưỡng chất tiên tiến Tummy Care. Hệ dưỡng chất này chứa lượng lactose thấp, 100% đạm Whey thuỷ phân cộng với hỗn hợp chất béo không chứa dầu cọ và công thức tăng cường chất xơ GOS có lợi cho cơ thể, giúp trẻ tăng cường chức năng tiêu hoá và dễ dàng hấp thu chất béo, canxi và các dưỡng chất có lợi cho sự phát triển toàn diện của trẻ.

Nguồn afamily

Thực đơn vàng cho trẻ biếng ăn

Trẻ biếng ăn thường do cảm giác không ngon miệng hoặc không thích ăn. Lâu dài có thể dẫn đến còi xương, suy dinh dưỡng, trí tuệ chậm phát triển, tiêu chảy hoặc táo bón, dễ mắc bệnh tật, ốm đau…
Do đó việc trẻ biếng ăn làm ảnh hưởng rất lớn đến bản thân trẻ, gia đình và toàn xã hội. Sau đây là một số chất cần thiết để bổ sung cho trẻ biếng ăn.

Lysine: Là một axit amin rất cần cho hoạt động sống của người và động vật mà cơ thể không tự tổng hợp được, phải lấy từ thức ăn. Nó là chìa khóa trong việc sản xuất các enzym, hoocmon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng và chống trả với bệnh tật.

Lysine giúp trẻ ăn ngon miệng, gia tăng chuyển hóa hấp thu tối đa dinh dưỡng. Nó cũng giúp tăng cường hấp thu Canxi, ngăn cản sự bài tiết khoáng chất này ra ngoài cơ thể nên nó có tác dụng tăng cường chiều cao, ngăn ngừa bệnh còi xương, loãng xương. Lysine có nhiều trong trứng, thịt, cá, sữa đậu nành… nhưng dễ bị phá hủy khi chế biến, nấu thức ăn.
duong-chat-vang-cho-tre-bieng-an
Cơ thể người và động vật nếu thiếu Lysine cơ thể sẽ khó hoạt động bình thường, đặc biệt ở động vật còn non và trẻ em sẽ xảy ra hiện tượng chậm lớn, trí tuệ phát triển kém, dễ thiếu men tiêu hóa và nội tiết tố. Chính vì thế lysine là một loại axit amin thường được cho vào khẩu phần thức ăn của trẻ.

Kẽm: Có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổng hợp và phân giải acid nucleic và protein – là những thành phần quan trọng của sự sống, do đó các cơ quan như hệ tiêu hóa, hệ thần kinh trung ương, da và niêm mạc… rất nhạy cảm với sự thiếu hụt kẽm. Trẻ thiếu kẽm  sẽ cảm thấy ăn không ngon miệng. Kẽm còn giúp tăng cường miễn dịch cho cơ thể do hoạt hóa tế bào Lympho (là lính canh bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật).

DHA và Taurin: 2 chất rất cần thiết cho sự phát triển của mắt và não. Thiếu hai chất này trẻ sẽ kém thông minh và không tinh mắt như các trẻ được sử dụng và bổ sung đầy đủ DHA và Taurin.

Canxi: Có vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn đặc biệt là sự phát triển của xương. Trẻ em khi thiếu canxi: Xương nhỏ, yếu xương, chậm lớn, lùn, còi xương, xương biến dạng, răng không đều, răng dị hình, chất lượng răng kém, bị sâu răng. Nếu chế độ ăn uống hàng ngày bị thiếu canxi, dễ gây ra bệnh loãng xương, còi xương do lượng canxi trong xương phải chuyển một phần vào máu. Thiếu canxi thường có biểu hiện khóc đêm, đêm ngủ giật mình hay quấy khóc, dễ nổi cáu, rối loạn chức năng vận động, không tập trung tinh thần.

Chất xơ:

+ Chống táo bón: vì khi vào ruột chất xơ hút nhiều nước, tăng khối lượng của phân và kích thích nhu động ruột làm tăng co bóp để tống phân ra ngoài. Đại tiện đều đặn hàng ngày giúp cơ thể thải chất độc thường xuyên và tránh việc ngấm chất độc từ phân vào máu. Ở những người bị táo bón lâu ngày thường khó tính bẳn gắt do chất độc ứ đọng trong cơ thể gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh.

+ Điều hòa hệ vi khuẩn đường ruột: Một số loại vi khuẩn sống tại ruột có khả năng phân giải và đồng hóa chất xơ. Chất xơ tạo điều kiện tốt nhất cho chức phận tổng hợp của vi khẩn có lợi tại ruột nên hỗ trợ sự phát triển vi khuẩn có lợi. Chất xơ có tác dụng điều hòa hệ vi khuẩn tại ruột nên tăng cường quá trình tiêu hóa hấp thu tại ruột.

Các Vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B12): Giúp trẻ ăn ngon miệng, tăng cường hệ thống miễn dịch, tiêu hóa của trẻ, tăng khả năng cảm nhận ánh sáng của mắt.

Trên đây chính là những chất rất cần thiết phải bổ sung cho trẻ biếng ăn, giúp bé ăn ngon, tiêu hóa khỏe, thông minh, cao lớn và sức đề kháng tốt.

Nguồn afamily

Phòng ngừa sâu răng cho bé

Ngay từ những năm tháng đầu đời, khi răng trẻ còn chưa mọc, phụ huynh nên tập thói quen dùng một miếng gạc hoặc vải mềm nhúng nước sạch, lau nhẹ nhàng nướu sau mỗi bữa ăn, và ngay trước khi trẻ đi ngủ.

Vệ sinh răng miệng cho trẻ

Không phải đợi đến khi trẻ đã mọc răng chúng ta mới cần phải vệ sinh răng miệng cho trẻ. Ngay từ những năm tháng đầu đời, khi răng trẻ còn chưa mọc, phụ huynh nên tập thói quen dùng một miếng gạc hoặc vải mềm nhúng nước sạch, lau nhẹ nhàng nướu sau mỗi bữa ăn, và ngay trước khi trẻ đi ngủ.

Giai đoạn chiếc răng sữa đầu tiên của trẻ nhú lên đến khi chiếc răng sữa cuối cùng mọc, tức là lúc trẻ khoảng 6 tháng tuổi tới 2 tuổi rưỡi; nên sử dụng bàn chải đánh răng nhỏ của trẻ em cùng với nước muối sinh lý hay kem đánh răng không có chứa fluor. Vì giai đoạn này trẻ không tự đánh răng được, phụ huynh nên giúp trẻ đánh răng.

Từ 3 tuổi trở đi, phụ huynh có thể khuyến khích và tạo môi trường vui thích để trẻ tự chải răng sau mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ, từ đó xây dựng ý thức tự chăm sóc răng miệng của trẻ.
be-danh-rang
Đánh răng thường xuyên bằng loại kem thích hợp

Ngoài thị trường có rất nhiều loại kem đánh răng, tuy nhiên ở mỗi độ tuổi trẻ sẽ cần loại kem nhất định.

– Chẳng hạn từ 6 tháng tuổi đến khi trẻ được 3 tuổi, phụ huynh nên đánh răng cho trẻ với nước muối sinh lý hoặc kem đánh răng không có chứa fluor vì ở giai đoạn này trẻ không biết nhổ kem đánh răng.

– Từ 3-6 tuổi nên dùng kem đánh răng dành cho trẻ em.

– Từ 6 tuổi trở đi bé có thể dùng kem đánh răng của người lớn, nhưng chỉ sử dụng với một lượng nhỏ kem đánh răng cỡ bằng hạt đậu.

Nhiều nguồn thông tin nói fluor giúp phòng ngừa sâu răng. Vậy có nên bổ sung fluor cho mọi trẻ em?

Fluor giúp men răng trẻ em khoáng hóa, tăng sức đề kháng của răng chống lại tác động axit của các vi khuẩn gây sâu răng. Kể cả răng sữa và răng vĩnh viễn fluor tác động tại chỗ là chủ yếu.

Trên thực tế, việc bổ sung fluor chỉ cần thiết trong các trường hợp nhất định như:

– Trẻ thuộc các gia đình có nhiều người bị sâu răng.

– Trẻ hay ăn vặt, ăn nhiều thực phẩm ngọt.

– Trẻ suy dinh dưỡng.

– Trẻ có thói quen bú bình về đêm, bú sữa hay uống nước ngọt, nước trái cây bằng bình.

– Trẻ có thói quen ngủ mà ngậm vú mẹ.

Những trẻ này có nguy cơ bị sâu nhiều răng. Tuy nhiên, việc lạm dụng fluor ở trẻ nhỏ còn có thể gây nhiễm độc fluor. Các bậc phụ huynh cần lưu ý rằng không nên bổ sung fluor cho trẻ mà không có chỉ định của bác sĩ.

Có những em bé có thói quen bú sữa trước khi ngủ. Thói quen này có hại gì cho răng?

– Khi trẻ bú bình sữa hoặc uống nước hoa quả, nước ngọt khi đi ngủ, lượng đường trong các đồ uống này sẽ tích tụ ở miệng, làm tăng lượng axit có hại cho men răng dẫn đến sâu răng.

– Sâu răng do bú bình thường tiến triển nhanh làm cho nhiều răng bị sâu cùng lúc. Dạng sâu răng này thường xảy ra trẻ có thói quen bú bình hoặc ngậm dung dịch ngọt vào ban đêm.

–  Sâu răng do bú bình có thể dẫn đến hậu quả răng bị đau nhức khiến trẻ gặp khó khăn trong việc ăn uống, nguy hiểm hơn là nếu sâu răng trầm trọng răng có thể bị nhiễm trùng nặng cần phải nhổ.

• Cách phòng ngừa sâu răng do bú bình:

– Sau mỗi lần ăn hay bú sữa phụ huynh nên dùng gòn hay gạc lau sạch răng cho trẻ.

– Trước hết, phải lưu ý không để trẻ ngậm bình sữa khi đi ngủ, vì trong sữa có đường sẽ tích tụ ở miệng, làm tăng lượng axit có hại cho men răng. Nếu trẻ cần bú bình mới ngủ được thì chỉ cho trẻ ngậm bình nước thường và lấy ra khi trẻ đã ngủ. Khi trẻ khỏang 1 tuổi nên tập cho trẻ uống sữa bằng ly.

Chế độ ăn uống đúng cách

Đúng là ngoài việc chải răng, chế độ ăn uống cũng ảnh hưởng rất lớn đến răng miệng của trẻ. Trước tiên, trẻ nên hạn chế ăn vặt đặc biệt là các chất đường, bột dính…như bánh kẹo, nước ngọt…Cần tăng cường thức ăn bổ dưỡng tốt cho răng và nướu như rau quả, trái cây tươi, phô mai…

Nguồn sức khỏe đời sống

Trẻ ngủ không đủ giấc dễ mắc bệnh béo phì

Các chuyên gia về trẻ em cho biết rằng, trẻ dễ bị mắc bệnh béo phì nếu không ngủ đủ giấc mỗi ngày.

Ngủ đủ giấc là một trong những điều kiện đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ. Nếu giấc ngủ của trẻ không được đảm bảo sẽ dễ dàng dẫn đến sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể. Các chuyên gia về trẻ em còn cho biết rằng, trẻ dễ bị mắc bệnh béo phì nếu không ngủ đủ giấc mỗi ngày.

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ nên ngủ vào lúc 9h tối
ngu-khong-du-giac
Bên ngoài những tác động của tập thể dục hay các yếu tố liên quan đến dinh dưỡng và sự di truyền thì ngủ đủ giấc sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển chiều cao ở trẻ. Khi trẻ ngủ, trong cơ thể sẽ tiết ra một lượng hoóc môn tăng trưởng.
Thông thường, trẻ thường ngủ say giấc sau khoảng 1 tiếng tính từ lúc bắt đầu ngủ. Vậy nếu trẻ đi ngủ từ lúc 9h tối thì đến khoảng 10h tối trẻ sẽ bắt đầu có giấc ngủ sâu. Đồng thời, ngủ đủ giấc cũng có tác dụng giúp trẻ phát triển trí tuệ. Ở nước ngoài, người ta tiến hành khảo sát và thấy rằng việc trẻ có ngủ đủ giấc hay không sẽ liên quan tới thành tích học tập của trẻ. Nếu trẻ bị thiếu ngủ, não sẽ cảm thấy mệt mỏi và khi tình trạng đó kéo dài sẽ dẫn đến trẻ phát triển chậm, thiếu tập trung và mất trí nhớ.

Thiếu ngủ dễ dàng gây thừa cân

Nhiều phụ huynh lo lắng rằng nếu con mình ngủ quá nhiều thì sẽ bị béo phì. Nhưng trên thực tế thì việc thiếu ngủ mới là nguyên nhân ảnh hưởng tới việc trẻ mất kiểm soát tăng cân. Khi trẻ bị thiếu ngủ, cơ thể sẽ ở tình trạng mệt mỏi và tiết ra một loại chất béo.

Vậy tại sao thiếu ngủ lại dễ khiến trẻ tăng cân? Các chuyên gia cho biết rằng việc thiếu ngủ sẽ ảnh hưởng đến hoóc môn tăng trưởng và kích thích tố khác, làm giảm hệ thống miễn dịch của cơ thể, rối loạn nội tiết, tác động tới các vấn đề trao đổi chất và một trong những hậu quả của rối loạn chuyển hóa là béo phì.

Tất nhiên, không thể để cho em bé ngủ quá nhiều. Nếu trẻ ngủ quá nhiều cũng sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của thị lực, thính giác, cơ bắp, và thậm chí cả trí thông minh của bé cũng sẽ bị tác động. Nói chung, trẻ sơ sinh trong vòng ba tháng sau khi chào đời nên ngủ từ 18 đến 20 giờ sau sinh, ngủ từ 14 đến 18 giờ sau 3 tháng đầu. Từ giai đoạn 6 tháng đến 1 năm, trẻ nên ngủ khoảng từ 12 đến 14 giờ và tốt nhất là ngủ khoảng 13 giờ khi trẻ được 2 đến 3 tuổi.
Theo afamily

Bé bị trào ngược thực quản dạ dày

Bé nhà tôi được chẩn đoán là trào ngược thực quản do khi ăn xong thường xuyên bị trớ.

Vậy, quý báo có thể cho tôi biết nguyên nhân của trào ngược thực quản là thế nào và làm sao chữa trị?

Chào bạn,

Chứng trào ngược dạ dày thực quản khá phổ biến ở trẻ em. Đó là tình trạng dịch tiết dạ dày trào ngược lên thực quản. Nó có thể là hiện tượng sinh lý, cũng có khi là triệu chứng của một bệnh nào đó. Chính vì vậy nên nhiều bậc cha mẹ xem thường và để xảy ra hậu quả nghiêm trọng.
Trào ngược dạ dày thực quản sinh lý xảy ra do trẻ ăn quá no, nuốt hơi nhiều trong khi bú. Trong trường hợp này, trẻ sẽ trớ ngay sau bữa ăn hoặc lúc đang bú, số lần bị rất ít, thoáng qua hoặc mỗi ngày một lần. Bản thân chứng trào ngược sinh lý không nguy hiểm nhưng có thể gây sặc và dẫn đến tử vong do tắc đường thở, cần được cấp cứu nhanh.
be-trao-nguoc-thuc-quan-da-day
Trong trào ngược bệnh lý, triệu chứng này xảy ra thường xuyên, thường là khi thay đổi tư thế. Trẻ có thể bị nôn ra máu, nuốt khó, khóc nhiều, từ chối bú, uốn éo vặn người… Trào ngược dạ dày thực quản có thể lại gây ra nhiều biến chứng nặng nề nếu trẻ không được điều trị sớm. Dịch dạ dày có axít nên lâu ngày sẽ gây loét niêm mạc thực quản, dẫn đến hẹp thực quản. Từ đó, trẻ sẽ bú khó, nuốt đau và ngày càng nôn nhiều hơn. Đến lúc trẻ ọc sữa hoặc thức ăn qua đường mũi thì bệnh đã ở giai đoạn nặng. Nếu trào ngược xảy ra trong lúc trẻ ngủ nằm đầu thấp, không được phát hiện kịp thời cũng dẫn đến tử vong do tắc thở.

Vì vậy, trẻ bị trào ngược cần được đi khám sớm. Nếu được điều trị trước 12 tháng tuổi, cơ vòng thực quản sẽ co bóp trở lại như trẻ bình thường. Sau thời điểm này, khả năng khỏi bệnh rất thấp, trẻ dinh dưỡng không đủ nên chậm phát triển, đề kháng kém và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng

Một số nguyên tắc chăm sóc trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản:

Làm đặc thức ăn

Bạn có thể làm đặc thức ăn bằng cách bổ sung 1 muỗng canh bột gạo (bột gạo đã được chế biến sẵn) vào 60ml – 120 ml sữa.

Đối với trẻ bú mẹ, bạn nên cho trẻ bú mẹ nhiều lần, ngoài ra có thể vắt sữa mẹ và pha thêm bột gạo vào sữa mẹ.

Làm đặc thức ăn có tác dụng làm giảm tần xuất nôn trớ, kéo dài giấc ngủ của trẻ và giảm hiện tượng quấy khóc của trẻ. Ngòai ra, làm đặc thức ăn làm tăng năng lượng giúp trẻ tăng cân tốt hơn, nhưng đồng thời làm tăng nguy cơ táo bón ở trẻ cũng như làm giảm khả năng hấp thu của canxi có trong sữa.

Nếu bạn không có thời gian hoặc không muốn làm đặc thức ăn bằng cách pha bột vào sữa thì bạn có thể sử dụng sữa công thức dành cho trẻ bị TNDDTQ:

Sữa công thức được bổ sung thêm chất xơ (gôm) thiên nhiên. Các chất xơ tự nhiên này không bị ảnh hưởng bởi pH dịch vị vì vậy phát huy tác dụng trên cả chứng nôn trớ và trào ngược bằng cách làm sệt sữa trong bình và duy trì độ sệt trong dạ dày và không có ảnh hưởng đến thành phần dinh dưỡng của công thức sữa. Lưu ý: pha sữa với nước sôi để nguội 85o, khi nguội đi sữa sẽ trở nên đặc lại do đó nên dùng muỗng hay núm vú có lỗ to hơn để bé dễ ăn. Sau khi pha sữa cần đóng chặt nắp hộp và để nơi khô ráo, mát mẻ. Không nên để sữa đã pha trong tủ lạnh quá 24 giờ. Nên dùng sản phẩm trước hạn sử dụng và trong vòng 4 tuần sau khi mở.

Sử dụng sữa có đạm thủy phân
Một số tác giả cho rằng TNDDTQ là biểu hiện của dị ứng sữa bò. Vài nghiên cứu đã chứng minh rằng dị ứng sữa bò là nguyên nhân của khỏang 20% TNDDTQ ở trẻ nhũ nhi. Một nghiên cứu trên 204 trẻ bị TNDDTQ có đến 41% trẻ bị dị ứng sữa bò và biểu hiện trào ngược được cải thiện khi lọai trừ sữa và sản phẩm sữa khỏi chế độ ăn của trẻ hoặc sử dụng sữa có đạm thủy phân (làm giảm tỉ lệ dị ứng).

Ngòai ra khi cho trẻ bú sữa có đạm thủy phân giúp cho trẻ tiêu hóa tốt hơn, dạ dày được làm trống sau bú nhanh hơn cũng có tác dụng là giảm hiện tượng TNDDTQ. Bạn có thể sử dụng sữa thủy phân có trên thị trường Việt Nam như Pregestimil (Mead Johnson), NAN HA (Nestle), Dumex HA(Dumex).

Bạn nên tránh cho trẻ ăn một số thực phẩm làm tăng TNDDTQ

– Nước cam, quýt, bưởi

– Chế độ ăn giảm chất béo được khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ nhũ nhi bị TNDDTQ So-co-la, café

– Thức ăn chiên hoặc nhiều dầu

– Tỏi, hành, thức ăn cay

– Xốt cà chua và những thực phẩm chế biến kèm xốt cà chua.

Tư thế trẻ sau bữa ăn

– Bế thẳng trẻ sau ăn khoảng 20 – 30 phút.

– Trẻ ngủ với đầu giường nâng cao 30o

– Tránh cho trẻ nằm hoặc đi ngủ ngay sau khi ăn, ít nhất sau 2-3 giờ.

– Bạn cần cho trẻ mặc quần áo rộng.

Cách cho trẻ ăn

– Cho trẻ ăn nhiều cữ, mỗi cữ ít một với thức ăn được làm đặc

– Trẻ phải có thời gian biểu các bữa ăn được phân chia đều trong ngày. Ví dụ: trẻ dưới 4 tháng tuổi: thể tích sữa bú/ngày = Cân nặng trẻ x 150 ml, bạn có thể chia đều cho 10 – 12 cữ/ngày.

Hạn chế cho trẻ bú hơi: khi cho trẻ bú bình bạn cần phải cho sữa xuống đều, trẻ không nút hơi và cho trẻ trẻ ợ hơi sau mỗi lần bú được 30 – 60ml sữa.

– Khi trẻ trào ngược có biểu hiện tím tái, ngưng thở, cần kích thích thở bằng cách vuốt nhẹ lưng và xoa lòng bàn chân. Nếu trẻ sặc sữa, phải vỗ lưng và cho nằm nghiêng để sữa trào ra. Ngay sau khi sơ cứu, cần đưa trẻ đến bệnh viện gần nhất.

Theo chúng tôi, bạn nên cho cháu đi khám lại tại Khoa tiêu hóa – Bệnh viện Nhi. Ngoài ra, bạn cần kiên trì thực hiện theo những nguyên tắc chăm sóc trẻ bị TNDDTQ được gợi ý ở trên. Việc kết hợp điều trị với áp dụng các biện pháp chăm sóc hỗ trợ nêu trên sẽ giúp trẻ giảm dần chứng TNDDTQ.

Theo Đẹp online

Kháng sinh ảnh hưởng đến đường ruột của trẻ

Các nhà nghiên cứu cho biết, những trẻ dùng thuốc kháng sinh càng sớm và liều lượng càng nhiều, nguy cơ phát triển các bệnh viêm đường ruột, được gọi là bệnh Crohn và viêm loét đại tràng sau này càng cao.

Tiến sĩ Matt Kronman, Phó giáo sư Khoa các bệnh truyền nhiễm trẻ em tại Trường ĐH Y Washington ở Seattle (Mỹ) cho biết: “Trẻ sử dụng các loại kháng sinh càng nhiều, càng tăng nguy cơ phát triển bệnh đường ruột”.
khang-sinh
Các nghiên cứu trước đó đã cho thấy mối liên quan giữa bệnh đường ruột với việc sử dụng thuốc kháng sinh, nhưng hầu hết chứng cứ đều chưa thuyết phục.

Nghiên cứu mới, vừa được công bố trên tạp chí Pediatrics (Mỹ) trực tuyến, ngày 24/9/2012, đã xem xét dữ liệu trên 1 triệu trẻ em, có độ tuổi từ 17 trở xuống, trong gần 500 cơ sở y tế thuộc mạng Y tế Quốc gia Anh. Những trẻ tham gia nghiên cứu được theo dõi trong khoảng thời gian từ 2 năm trở lên, từ giữa năm 1994 và 2009.

Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng, có 64% trẻ em đã dùng một số loại thuốc kháng sinh ít nhất một lần, và khoảng 58% đã dùng thuốc kháng sinh chống khuẩn antianaerobic – loại vi khuẩn phát triển mà không cần oxy. Các loại kháng sinh chống khuẩn antianaerobic bao gồm penicillin, amoxicillin, tetracycline, metronidazole, cefoxitin và những loại khác.

Trong thời gian theo dõi, gần 750 trẻ em phát triển bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng. Các triệu chứng thường gặp của những chứng bệnh này (thường sẽ suốt đời) bao gồm đau bụng, tiêu chảy và giảm cân. Nguy cơ phát triển bệnh đường ruột cao hơn 5 lần đối với trẻ dùng các loại thuốc kháng sinh trước 1 tuổi so với những trẻ không sử dụng loại thuốc này, và nguy cơ này giảm đáng kể theo tuổi tác.

Theo giải thích của các nhà khoa học, các loại thuốc kháng sinh có thể làm thay đổi môi trường tự nhiên của vi khuẩn trong đường ruột, tình trạng này có thể gây ra viêm. Và các bệnh đường ruột thường khởi phát từ chứng viêm ruột mãn tính.

Mặc dù nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc dùng thuốc kháng sinh với bệnh đường ruột ở trẻ, nhưng nó không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hai việc này, các chuyên gia cho biết.

Nguồn sức khỏe đời sống

Làm sao để mẹ không phải ‘đánh vật’ với bé khi ăn?

Một số bé thường rất “cứng đầu” mỗi khi giờ cơm tới. Để giải quyết tình trạng này, bố mẹ cần tạo cho trẻ thói quen ăn uống tốt ngay từ khi còn nhỏ.
Chuẩn bị cho bé bữa ăn cân bằng dinh dưỡng

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, chế độ dinh dưỡng cân bằng phải bao gồm đầy đủ các nhóm thực phẩm chứa Carbohydrat, Protein, chất béo, Vitamin, khoáng chất và chất xơ. Vì vậy, trách nhiệm của phụ huynh là cung cấp đầy đủ các nhóm thực phẩm dinh dưỡng này để bé có thể phát triển một cách hoàn hảo.

Không ỷ vào thực phẩm có sẵn
me-danh-vat-khi-cho-an
Với lối sống hiện đại ngày nay, thực phẩm chế biến sẵn đang trở nên thông dụng với nhiều gia đình. Tuy nhiên, mẹ không nên cho gia đình sử dụng nhiều thực phẩm chế biến sẵn bởi chúng thường chứa hàm lượng muối cao, có thể ảnh hưởng xấu tới thận. Không những thế, các loại thực phẩm này còn chứa một hàm lượng chất hóa học, chất bảo quản, chất phụ gia, tạo màu, tạo hương vị… không tốt cho sự phát triển của bé.

Bổ sung thêm các bữa ăn nhẹ

Hầu hết các bé đều thích ăn đồ ăn vặt giữa những bữa ăn chính. Dạ dày của bé có kích thước nhỏ và không thể ăn một lượng lớn thức ăn trong cùng một lúc. Bữa ăn nhẹ sẽ giúp bé bổ sung thêm dinh dưỡng cần thiết mà không bị quá no. Tuy nhiên mẹ nên chú ý chuẩn bị cho bé những món ăn nhẹ bằng hoa quả, rau sống, bánh mỳ nướng hơn là những đồ ăn ngọt như bánh ngọt hay bánh quy…

Không nên cấm bé ăn đồ ăn nhanh cùng đồ ngọt

Nhiều chuyên gia đã khuyên rằng, mẹ không nên cho bé ăn những đồ ăn nhanh như bánh kẹo, khoai tây chiên hay bánh quy… bởi chúng không chứa nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe, thâm chí có thể gây hại nếu bé ăn thường xuyên. Tuy nhiên, mẹ cũng không nên cấm bé ăn tất cả những thực phẩm trên. Cách tốt nhất, mẹ nên quản lý cách bé ăn và số lượng ăn vào để đảm bảo sức khỏe cho bé.

Tiếp tục cho bé uống sữa

Sữa là thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong chế độ dinh dưỡng của bé. Sữa cung cấp nguồn Protein, vitamin và Canxi dồi dào. Đây là những chất dinh dưỡng rất cần thiết để phát triển hệ xương và răng một cách toàn diện. Tốt nhất, mẹ nên cho bé uống sữa nguyên chất tới khi bé 2 tuổi. Ngoài ra, mẹ có thể cho bé uống sữa công thức để bổ sung thêm vitamin và sắt.

Không để bé uống no nước

Nước đóng vai trò quan trọng để chuyển hóa dinh dưỡng trong cơ thể. Tuy nhiên, trong các bữa ăn hàng ngày, mẹ cần cho bé ăn no sau đó mới cho uống nước. Nếu mẹ cho bé uống quá nhiều nước, bé sẽ cảm thấy no và không muốn ăn những thực phẩm dinh dưỡng khác. Các mẹ cũng chú ý nên cho bé uống nước trái cây hơn là những thức uống có ga hay đường để bảo vệ răng cho bé.

Để bé tự ăn một mình

Bé thường thích sự độc lập và sẽ ăn ngoan hơn nếu mẹ để bé tự ăn. Mẹ có thể giúp bé thực hiện điều này bằng cách chuẩn bị những món ăn đã được thái nhỏ để bé có thể dùng tay bốc ăn.

Giữ không khí vui vẻ trong bữa ăn

Giữ không khí bữa ăn vui vẻ sẽ khuyến khích bé ăn nhiều hơn. Việc ép bé ăn quá nhiều hay tạo áp lực về chuyện ăn uống cho bé sẽ không mang lại kết quả gì. Mẹ cũng nên nhớ rằng:

– Khi bé thôi không muốn ăn, điều đó cũng có nghĩa bé đã no. Vì vậy, mẹ không nên thúc bé ăn hết thức ăn còn lại trong bát.

– Nếu bé không ăn, mẹ hãy bỏ món ăn ra nơi khác và đừng cố cho bé ăn một loại thức ăn khác thay thế.

– Hãy khuyến khích bé ăn thử những món ăn mới nhưng cho bé được thương lượng với mẹ và tự quyết định mình có ăn món mới hay không?

Nguồn sức khỏe đời sống

Trẻ béo phì cần ăn uống như thế nào?

Con em hiện nay được 9 tháng, cân nặng của cháu là 12 kg, em theo dõi bảng chỉ số cân nặng trên của bé thì thấy cháu đang có hiện tượng thừa cân béo phì.
Thưa bác sĩ, em có những băn khoăn muốn được sự tư vấn của bác sĩ, mong bác sĩ cho em một lời khuyên. Bé nhà em hiện nay được 9 tháng, cân nặng của cháu là 12 kg, em theo dõi bảng chỉ số cân nặng trên của bé thì thấy cháu đang có hiện tượng thừa cân béo phì.

Em rất lo lắng nhưng không biết nên làm cách nào để thay đổi khẩu phần ăn cho bé. Hiện tại bé nhà em đang ăn 2 bữa bột/ngày. Em có cho cháu uống thêm nước quýt và ăn sữa chua. Cháu ăn 1 ngày 5 bữa sữa, mỗi bữa khoảng 120ml.
tre-beo-phi
Vậy không biết nên thay đổi khẩu phần ăn cho bé thế nào cho hợp lý, xin bác sĩ tư vấn giúp em. Em xin chân thành cảm ơn.

Chào em,

Với lượng ăn như vậy cháu ăn cũng không phải là nhiều nhưng có lẽ do hấp thu tốt quá nên cháu tăng cân quá nhanh, thừa đến 3 kg so với chuẩn.

Theo tôi chị vẫn giữ 2 bữa bột nhưng nấu loãng hơn, cho nhiều rau củ, không cho dầu mỡ ăn vào bột nữa. Còn sữa giảm xuống khoảng 3 bữa /ngày, còn những bữa khác cho cháu uống nước sôi để nguội hoặc nước quả ép ít ngọt như: dưa chuột, củ đậu, cà rốt. Nếu uống nước cam, quýt thì nên pha loãng không nên uống nước nguyên chất.

AloBacsi.vn
Theo BS Lê Thị Hải – Tạp chí Màn Ảnh Sân Khấu/Nguồn sức khỏe đời sống

Để trẻ em cao hơn

Chiều cao phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như di truyền, dinh dưỡng, môi trường sống, tình trạng bệnh tật và vấn đề luyện TDTT.

Những vi chất quan trọng có liên quan đến tăng trưởng chiều cao là vitamin A, vitamin D, lysin, canxi, sắt, kẽm, i-ốt. Ngoài việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, trẻ muốn cao lớn còn phải được ngủ đủ giấc, nhất là giấc ngủ ban đêm. Hormon tăng trưởng do tuyến yên tiết ra cao nhất là vào ban đêm, khoảng 23-24 giờ khi mà trẻ đã ngủ say. Cho trẻ ngủ quá muộn, ngủ nhiều ban ngày thì lượng hormon tiết ra rất ít, trẻ thường chậm lớn, chậm phát triển chiều cao.
chieu-cao-cua-tre-09f57
Sữa là một thực phẩm rất tốt có chứa đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ tăng trưởng và phát triển chiều cao. Sữa là nguồn cung cấp canxi quan trọng, nhất là trẻ được nuôi bằng sữa mẹ thì có cơ hội cao lớn hơn những trẻ không có sữa mẹ, vì canxi trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn canxi trong sữa bò. Khi cai sữa mẹ, trẻ cần được bổ sung các loại sữa bột công thức theo tuổi hoặc uống sữa tươi khi trẻ đã lớn.

Cho trẻ tắm nắng hằng ngày để da tổng hợp đủ vitamin D cho cơ thể. Trẻ cần được ngủ đủ giấc vào ban đêm, không để trẻ ngủ muộn sau 22 giờ. Tạo điều kiện cho trẻ được sống trong môi trường không ô nhiễm, tăng cường cho trẻ được vận động thể lực từ khi còn nhỏ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Dược thiện cho trẻ còi xương

Còi xương là tình trạng bệnh lý thường gặp ở trẻ nhỏ. Bệnh phát sinh do thiếu vitamin D làm cho chuyển hóa canxi và photpho bị rối loạn dẫn đến quá trình sinh trưởng của hệ xương bị trở ngại, thậm chí có thể gây nên biến dạng xương. Trong y học cổ truyền, còi xương thuộc phạm vi các chứng như “ngũ trì ngũ nhuyễn”, “quy hung quy bối”, “hãn chứng”, “cam chứng”, “bộ phận giải lư”…Người xưa cho rằng trẻ bị còi xương có thể do bẩm thụ các yếu tố từ cha mẹ không đủ (tiên thiên bất túc) hoặc do quá trình nuôi dưỡng kém điều hòa (hậu thiên thất điều) làm cho hai tạng tỳ và thận bị hư tổn. Thận chủ xương tủy, tỳ chủ cơ nhục, tỳ thận hư yếu khiến cho cơ xương mềm yếu, kém vững chắc và dễ bị biến dạng.
mevabe-vanh-744-a3740
Để điều trị căn bệnh này, người xưa rất chú trọng việc sử dụng các thực phẩm và vị thuốc chế biến thành những món ăn rất đơn giản nhưng lại được trẻ dễ chấp nhận, vừa đạt hiệu quả trị liệu vừa cung cấp các chất dinh dưỡng lại rất rẻ tiền và dễ kiếm. Xin được dẫn ra dưới đây một số ví dụ điển hình

– Trứng gà tươi vài quả, rửa sạch, đập lấy vỏ rồi sao vàng tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín để dùng dần. Mỗi ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 5g với nước cháo.

– Chân con cua 100g rửa sạch, sao vàng tán bột, mỗi ngày cho trẻ uống 5g với nước cháo.

– Trứng gà 1 quả, rửa sạch, luộc chín rồi bóc lấy lòng đỏ, dùng thìa nghiền nhỏ rồi hòa với cháo, ăn nóng.

– Hến 10 con rửa sạch, đánh đều với 1 quả trứng gà rồi hấp cách thủy, ăn nóng.

– Đầu tôm tươi lượng tùy ý, sắc lấy nước uống.

– Xương sụn lợn 500g rửa sạch hầm nhừ với 50g đậu tương rồi cho trẻ ăn làm vài lần với lượng thích hợp.

– Cá trắm đen 1 con, làm sạch (chú ý bỏ hết mật) rồi cắt khúc, xào qua với gừng tươi, hành và một chút dầu thực vật rồi đổ nước hầm thật nhừ, chế đủ gia vị, chia ăn nhiều lần.

– Hà thủ ô 100g, ngưu tất 100g ngâm với rượu trắng trong 7 ngày rồi lấy ra phơi khô, sao thơm tán bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Mỗi lần lấy 5 quả đại táo, khía dọc bỏ hột rồi cho bột thuốc vào trong, đem hấp cách thủy cho chín rồi ăn trong ngày.

– Ô tặc cốt 15g, quy bản 15g, tây thảo 5g. Tất cả sắc kỹ lấy nước, bỏ bã rồi hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

– Quy bản 15g, cốt toái bổ 15g, đẳng sâm 10g. Tất cả đem sắc kỹ trong 1 giờ rồi lọc lấy nước, hòa với một chút đường đỏ chia uống vài lần.

– Hoàng kỳ sao 60g, nhân sâm 5g, gạo tẻ 150g. Đem hoàng kỳ và nhân sâm sắc kỹ lấy nước rồi cho gạo vào ninh thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Quy bản 30g, chân gà 2 đôi, hồ đào 10g. Quy bản và chân gà chặt vụn, sắc kỹ lấy nước rồi cho hồ đào vào nấu nhừ, nêm đủ muối và gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

– Long cốt 30g, mẫu lệ 20g, sơn thù 10g, gạo tẻ 100g. Các vị thuốc đem sắc kỹ 2 lần, mỗi lần 40 phút rồi lọc lấy nước nấu với gạo thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Xương cá sao dấm, bột nhau thai 60g, vỏ trứng gà sao 18g, đường trắng 25g. Tất cả sao khô tán bột. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,5g.

– Bột thịt  cóc 10g, lòng đỏ trứng gà 2g, chuối ngự 12g. Đây là liều của một viên thuốc. Bột cóc nên mua ở các cơ sở y tế, chuối sấy khô nhưng còn dẻo, giã nhuyễn, trứng gà đánh tan sấy khô tán bột. Ba thứ trộn lại giã nhuyễn, đóng vào khuôn, sấy khô. Liều dùng: Trẻ em 8 – 20 tháng mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên; 20 – 30 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 viên; 30 – 40 tháng mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3 viên.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bổ sung hệ dưỡng chất cho trẻ trong những năm đầu đời

Khoa học đã chứng minh dinh dưỡng đầy đủ và giáo dục khoa học là hai yếu tố quyết định sự phát triển vượt trội của trẻ trong những năm đầu đời. Vậy chế độ dinh dưỡng nào có thể mang lại cho trẻ nền tảng tốt nhất? Chúng tôi đã trao đổi với chuyên gia Nguyễn Anh Tuấn để giải đáp những thắc mắc của mẹ và khám phá những kiến thức dinh dưỡng giúp trẻ phát huy hết tiềm năng trí tuệ.

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ nhỏ, nhưng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ không như người lớn. Xin chuyên gia hãy cho biết những dưỡng chất nào mẹ cần tập trung bổ sung để trẻ phát triển khỏe mạnh ?

bo-sung-he-duong-chat-cho-tre-trong-nhung-nam-dau-doi

CG: Những thiếu hụt về dinh dưỡng sẽ kéo theo những khiếm khuyết của hệ thần kinh hoặc làm giảm khả năng nhận thức, sự khéo léo cũng như trí thông minh của trẻ.Chúng ta cần nhớ rằng trẻ cần cả một hệ dưỡng chất được kết hợp khoa học để phát triển tối ưu và toàn diện chứ không chỉ là những dưỡng chất riêng lẻ. Các dưỡng chất trong hệ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong từng giai đoạn phát triển mà còn hỗ trợ cho nhau để quá trình phát triển được đồng bộ và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ lại chỉ chú trọng bổ sung cho trẻ một vài dưỡng chất, như vậy sẽ không đảm bào nhu cầu của trẻ. Các dưỡng chất trong hệ có thể kể ra như DHA, AA, Omega 3, 6, Iod, Sắt, Kẽm, Taurinvà Cholin. Mẹ lưu ý bổ sung thêm Lutein giúp bảo vệ võng mạc và tăng cường sức khỏe mắt, phát triển thị giác và giúp trẻ tăng khả năng nhận thức, học hỏi và ghi nhớ.

Bác sĩ có nhắc đến Lutein. Xin bác sĩ hãy nói thêm về dưỡng chất này.

CG: Lutein là hợp chất Carotenoid tồn tại nhiều nhất trong điểm vàng của mắt. Lutein còn được thấy trong huyết tương, gan và não. Theo báo cáo nghiên cứu gần đây của PGS. TS. Elizabeth, Lutein hiện diện tại 4 vùng vỏ não…..và tỉ lệ hiện diện của Lutein tại não trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chiếm đến 59% tổng số các carotenoid. Vì vậy, Lutein không chỉ giúp trẻ có đôi mắt sáng, khỏe mạnh mà nhiều khả năng còn có tác động tích cực đến các chức năng nhận thức, học hỏi và ghi nhớ của trẻ. Lutein là dưỡng chất cơ thể người không tự tổng hợp được mà cần phải bổ sung từ thực phẩm hàng ngày. Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể nhận Lutein qua sữa mẹ hoặc thức ăn dặm khi lớn lên. Khi bé có thể ăn dặm, mẹ nên chú ý bổ sung rau củ quả có chứa Lutein trong khẩu phần ăn, như rau có màu xanh đậm (bó xôi, cải, xúp lơ xanh…), các loại củ quả như bắp ngô or bí ngô ?, ớt chuông đỏ, cà rốt, quả bơ, quả kiwi, hay lòng đỏ trứng gà.

Ngoài ra, việc thiết kế các bữa ăn cho trẻ có đầy đủ các dưỡng chất trong hệ quả là gian nan đối với các bà mẹ, đặc biệt là với khoảng thời gian vô cùng hạn hẹp của các mẹ. Như vậy, ngoài thực phẩm, bác sĩ có thể cho biết còn có sản phẩm nào giúp trẻ bổ sung đầy đủ các chất trong hệ dưỡng chất ?

CG : Việc thay đổi các thực phẩm hàng ngày đa dạng và phong phú, cũng như cách chế biến trình bày món ăn hấp dẫn hơn, nhiều màu sắc hơn hay đựng trong dĩa/chén mà bé thích cũng giúp kích thích bé ăn. Tốt nhất là không nên ép bé ăn mà khuyến khích trẻ một cách nhẹ nhàng, như vậy khi bé ăn, cơ thể sẽ hấp thu dưỡng chất tốt hơn. Bên cạnh đó, với những trẻ biến ăn hoặc kén ăn, mẹ có thể tìm đến những thực phẩm thay thế như bột hay sữa công thức hoặc thực phẩm dinh dưỡng.

Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm bổ sung dinh dưỡng cho trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện cả thể chất và trí tuệ. Các bà mẹ cần tìm hiểu kỹ các thành phần dinh dưỡng khi chọn mua sản phẩm để đảm bảo trẻ được cung cấp đủ các dưỡng chất cần thiết. Trên thị trường, hiện có dòng sản phẩm Gain Plus và Gain Kid là sản phẩm bổ sung hệ dưỡng chất duy nhất có chứa Lutein.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những loại thực phẩm không tốt cho bé vào tuổi ăn dặm

Bé yêu của bạn đã đến tuổi ăn dặm nhưng càng háo hức được đưa bé đến với thế giới ẩm thực phong phú bao nhiêu, bạn càng phải cẩn thận bấy nhiêu.

Trái cây ép

Dừng lại nếu bạn muốn cho bé dưới 6 tháng tuổi uống nước trái cây. Nước ép chứa nhiều đường và mất đi nhiều chất dinh dưỡng khác (chỉ có trong trái cây nguyên vẹn). Mặc dù trái cây họ chanh như cam, quýt, bưởi… dồi dào vitamin C nhưng cũng chứa nhiều axit gây khó chịu cho hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện của bé.

Hải sản có vỏ

trung-ga

Các loại hải sản có vỏ như tôm, cua, sò, ốc… là thực phẩm dễ gây dị ứng, vì vậy, các bác sỹ đặc biệt khuyên bạn chỉ nên cho bé ăn sau năm đầu đời. Trước khi cho bé ăn, bạn nên hỏi ý kiến bác sỹ cũng như tìm hiểu xem trong gia đình có ai bị dị ứng với hải sản không.

Trứng

Đây là món ăn dễ làm và dễ ăn nhất. Trứng chứa nguồn protein, vitamin D và chất khoáng dồi dào. Thế nhưng, theo các bác sỹ nhi khoa, trứng được xếp vào danh sách những món ăn dễ gây dị ứng. Nếu muốn, bạn chỉ có thể cho bé ăn lòng đỏ trứng khi bé đã trên 7 tháng tuổi.

Mật ong

Dùng mật ong trong năm đầu tiên có thể khiến bé gặp rắc rối. Mật ong chứa lượng đường rất lớn và chứa bào tử của Clostridium botulinum có thể gây ngộ độc, táo bón, hôn mê.

Dâu

Những trái dâu ngọt ngào, giàu vitamin nên được thêm vào thực đơn của gia đình, nhưng không phải của bé. Dâu không chỉ chứa nhiều axit ảnh hưởng rất lớn đến bao tử bé mà còn có thể gây kích ứng như nổi sảy.

Sữa hộp

Khi bé lớn hơn một chút thì sữa hộp rất tốt cho sự phát triển cơ thể. Nhưng bé dưới một tuổi nên tránh xa chúng bởi nhiều lý do: bé chưa đủ khả năng để tiêu hóa sữa hộp và lượng protein, chất khoáng trong sữa gây ảnh hưởng đến thận, bảo tử và ruột bé. Kể cả khi bé lên một cũng chỉ được uống sữa hộp trong mức vừa phải. Và đừng quên phải kiểm tra xem bé yêu có bị dị ứng với nó không đấy nhé./.

Theo Đẹp/Vietnam+

Để bé thông minh hơn

Ngày nay, việc nuôi con không chỉ là sự lo lắng về miếng ăn, giấc ngủ cho con khỏe mạnh nữa, mà còn là làm cách nào để giúp bé phát triển trí não tối ưu, để bé thông minh nhất, hỗ trợ tối đa cho việc học hỏi sau này. Và không cần chờ đến lúc bé lớn khôn, mẹ đã có thể giúp con có sự tập trung, hình thành thói quen ghi nhớ cho não bộ ngay từ lúc lọt lòng.

DHA cần cho não trước

DHA có tên gọi đầy đủ là Docosahexaenoic Acid – một acid béo thuộc nhóm omega-3 có mặt ở khắp mọi nơi trong cơ thể nhưng tập trung nhiều nhất ở não, mắt và tim. DHA góp phần quan trọng đến việc hỗ trợ phát triển trí não để bé thông minh, thúc đẩy thị giác, nâng cao khả năng miễn dịch và giảm nguy cơ dị ứng của trẻ.

Theo các chuyên gia, bộ não của trẻ tăng trưởng đạt đến 80% trọng lượng não người lớn khi trẻ 2 tuổi và đạt gần 100% trọng lượng não người trưởng thành khi trẻ 6 tuổi. Quá trình này chỉ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, chủ yếu vào những năm đầu đời của trẻ. Lỡ mất thời kỳ này, trẻ sẽ mất đi gần 80% cơ hội để phát huy tiềm năng trí tuệ của mình. Do đó, để bé thông minh học hỏi tốt, cha mẹ nên cung cấp cho con những chất dinh dưỡng giúp hỗ trợ não bộ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, đặc biệt là tích lũy lượng DHA cao trong phần não trước ngay từ lúc lọt lòng.

Hàm lượng đúng DHA để bé thông minh hơn

Theo khuyến cáo của WHO/FAO, các bà mẹ mang thai và cho con bú cần bổ sung hàm lượng khoảng 200mg/ngày để có thể bổ sung đủ DHA cho con ngay từ lúc mang thai và suốt giai đoạn cho bú. Đối với trẻ nhỏ, DHA với hàm lượng 17mg/100kcal là tối ưu. Trẻ từ 1-6 tuổi thì cần được bổ sung DHA với hàm lượng từ 75mg/ngày (dựa theo độ tuổi và cân nặng). Việc bổ sung đầy đủ DHA sẽ giúp cho bộ não phát triển toàn diện, để bé thông minh hơn.
de-be-thong-minh-60a09
Theo chuyên gia dinh dưỡng Nguyễn Thị Lâm, khi trẻ nhận được đầy đủ DHA với hàm lượng là từ 75mg/ngày, trí não của bé sẽ hình thành khá hoàn chỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để bé thông minh từ những ngày đầu, tăng cường khả năng ghi nhớ và xử lý tình huống hiệu quả. Sau 3 năm đầu đời, bộ não của trẻ vẫn tăng trưởng nhưng chậm dần và gần như là dừng lại vào lúc 6 tuổi. Do đó, bố mẹ không nên bỏ qua cơ hội vàng giúp phát huy tối đa tiềm năng học hỏi của trẻ.

Hiểu rõ cha mẹ cần cung cấp đúng DHA để bé thông minh và phát triển tối ưu, gia đình Enfa A+ của Mead Johnson đã cải tiến với DHA Power+ bổ sung hàm lượng đúng DHA, phù hợp với khuyến nghị của các chuyên gia dinh dưỡng quốc tế, cùng mẹ đem đến cho trẻ những nền tảng tốt đẹp nhất.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể không được cung cấp đầy đủ năng lượng và chất đạm cũng như các yếu tố vi lượng khác để đảm bảo cho cơ thể phát triển. Đây là tình trạng bệnh lý hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Làm thế nào để phòng tránh suy dinh dưỡng? Cha mẹ cần quan tâm đến chế độ ăn uống của trẻ thế nào?

Vì sao trẻ bị suy dinh dưỡng?

Suy dinh dưỡng ở trẻ thường do tổng hợp nhiều nguyên nhân gây ra như:

– Do dinh dưỡng: Trẻ không được bú sữa mẹ, cho ăn dặm không đúng cách, không biết cách lựa chọn thực phẩm phù hợp với trẻ, cho trẻ ăn quá ít lần trong ngày, kiêng khem quá mức khi trẻ bị bệnh.

– Do ốm đau kéo dài: Trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu hóa nhiều lần, biến chứng sau các bệnh viêm phổi, sởi, lỵ…

– Do thể tạng dị tật: Trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai, các dị tật sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh.

– Do điều kiện kinh tế – xã hội: Suy dinh dưỡng là một bệnh do ảnh hưởng của nghèo nàn và lạc hậu, có liên quan đến kinh tế, văn hóa, dân trí.

Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn như trẻ hoạt động quá nhiều, hoặc sống trong môi trường quá nóng, quá lạnh, làm tiêu hao năng lượng nhiều; hoặc trẻ bị bệnh nặng có nhu cầu các dưỡng chất cao mà không được cung cấp tăng cường.

Muốn biết trẻ có bị suy dinh dưỡng hay không các bà mẹ cần phải theo dõi cân nặng thường xuyên cho trẻ trên biểu đồ phát triển. Nếu thấy 2 – 3 tháng liền trẻ không tăng cân cần phải đưa trẻ đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân.

thap-dinh-duong

Theo tiêu chuẩn cân nặng/tuổi người ta chia suy dinh dưỡng làm 3 độ:

– Suy dinh dưỡng độ I: Trọng lượng còn 90% so với tuổi

– Suy dinh dưỡng độ II: Trọng lượng còn 75% so với tuổi

– Suy dinh dưỡng độ III: Trọng lượng còn dưới 60% so với tuổi.

Những nguy cơ của suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là nguyên nhân làm tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi; là điều kiện thuận lợi để các bệnh lý hô hấp, tiêu chảy… xảy ra và kéo dài, bệnh lý làm cho trẻ ăn uống kém, nhu cầu năng lượng gia tăng và vì vậy suy dinh dưỡng ngày càng trở nên nặng nề hơn; Ảnh hưởng đến phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.

Trẻ bị suy dinh dưỡng cũng thường chậm chạp lờ đờ vì vậy giao tiếp xã hội thường kém, kéo theo sự giảm học hỏi, tiếp thu.

Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ

Giai đoạn sớm: Thường chỉ có biểu hiện đứng cân kéo dài hay sụt cân.

Giai đoàn toàn phát: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng. Khi thăm khám thấy có thể biểu hiện của thể phù, thể teo đét hay hỗn hợp.

Thể phù: Trẻ chỉ được nuôi bằng chất bột, thiếu tất cả những chất dinh dưỡng đa lượng có cung cấp năng lượng và các chất dinh dưỡng vi lượng khác. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là: Phù trắng, mềm toàn thân; Rối loạn sắc tố da; Da xanh, niêm nhạt, suy thoái ở da, lông, tóc, móng; Còi xương;  Chậm phát triển tâm thần, vận động: Trẻ mệt mỏi, không hoạt bát, hay quấy khóc, chán ăn, ít ngủ, hay bệnh, chậm biết bò trườn, đi đứng, chậm mọc răng.

Thể teo đét: Trẻ thiếu dinh dưỡng toàn bộ, cân nặng còn dưới 60% so với cân nặng trẻ bình thường. Mất toàn bộ lớp mỡ dưới da bụng, mông, chi, trẻ teo đét, chi còn da bọc xương, vẻ mặt như cụ già. Tinh thần mệt mỏi, ít phản ứng với ngoại cảnh, trẻ hay quấy khóc, không chịu chơi, không ăn hoặc kém ăn. Thường xuyên có rối loạn tiêu hóa: tiêu chảy, phân sống.

Thể hỗn hợp: Thể phù sau khi điều trị phục hồi một phần, hết phù trở thành teo đét nhưng gan vẫn thoái hoá mỡ.

Làm gì khi trẻ bị suy dinh dưỡng?

Với thể vừa và nhẹ (độ I và độ II): Điều trị tại nhà bằng chế độ ăn và chăm sóc.

– Chế độ ăn: Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu, bất cứ lúc nào kể cả ban đêm,  nếu mẹ thiếu hoặc mất sữa cần bổ sung các loại sữa bột công thức theo tháng tuổi, hoặc dùng sữa đậu nành (đậu tương).

Đối với trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên cho trẻ ăn bổ sung theo tháng tuổi, đảm bảo đầy đủ 4 nhóm thực phẩm: đạm, béo, bột đường, vitamin và khoáng chất nhưng số bữa ăn phải tăng lên, thức ăn phải nấu kỹ, nấu xong ăn ngay.

Tăng đậm độ năng lượng của bữa ăn bằng cách cho tăng thêm men tiêu hóa trong các hạt nảy mầm để làm lỏng thức ăn và tăng độ nhiệt lượng của thức ăn. Cụ thể là: có thể dùng giá đậu xanh để làm lỏng thức ăn cho trẻ, tức là có thể tăng lượng bột khô lên 2 – 3 lần mà độ lỏng của bột không thay đổi. Cứ 10g bột cho 10g giá đậu xanh giã nhỏ lọc lấy nước.

Với trẻ suy dinh dưỡng nặng (độ III): Cho ăn nhiều bữa trong ngày; Tăng dần calo; Dùng sữa cao năng lượng theo chỉ định và tư vấn trực tiếp của bác sĩ.

Trẻ cần được ăn bổ sung theo các chế độ ăn giống như trẻ bình thường. Số lượng một bữa có thể ít hơn nhưng số bữa ăn nhiều hơn trẻ bình thường. Những trẻ có suy dinh dưỡng nặng kèm theo tiêu chảy hoặc viêm phổi phải đưa vào điều trị tại bệnh viện.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thêm khoai lang khi bé ăn dặm

Bột gạo hoặc bột ngũ cốc nhiều hương vị thường là món đầu tiên khi bé tập ăn dặm. Bên cạnh bột, một số loại rau củ quả dễ tiêu hóa, gồm khoai lang cũng nên được thêm vào chế độ ăn dặm đầu đời của bé. Sau khi cho con ăn bột ngọt và khoai lang riêng biệt để đảm bảo không có dị ứng.

Chuẩn bị khoai lang
Khoai lang cần phải được nấu chín kỹ, nhừ trước khi cho bé ăn. Bạn có thể chọn một trong 3 cách như luộc, hấp hoặc nướng chín khoai lang khi chế biến cho bé. Sau đó, nghiền thật mịn khoai lang với chút nước luộc (hấp) hoặc ít sữa mẹ (hay sữa công thức đã pha). Do bé mới ăn dặm nên chỉ ăn được những thứ lỏng, mịn, không có cục để khi nuốt, bé không bị nghẹt thở hoặc bị hóc; vì thế, để thêm khoai lang vào bột ngọt cho bé, cần đảm bảo khoai lang được chế biến là một hỗn hợp thật lỏng, loãng và mịn.
an-dam

Chuẩn bị bột ăn dặm
Vào giai đoạn đầu, bột ngọt ăn dặm (có thể chọn bột bán sẵn, đem pha với nước ấm, quấy đều cho bé) được sử dụng nhiều. Với loại bột này, bạn có thể trộn vào đó ít sữa mẹ hoặc vài thìa sữa bột rồi quấy đều cho bé thưởng thức. Cuối cùng, bạn thêm vào bát bột của bé ít hỗn hợp khoai lang lỏng rồi trộn thật đều.

Tuy nhiên, cần chú ý là bột bán sẵn thường được chế biến thành những hương vị khác nhau như bột gạo sữa, bột chuối đào, bột mơ đào… Khi ấy, muốn thêm khoai lang vào bột cho bé thì cần chú ý chọn loại bột ít hương vị bổ sung như bột gạo sữa để bé không khó ăn.

Lưu ý: Ban đầu, chỉ nên khuấy 1-2 thìa cafe hỗn hợp lỏng khoai lang vào bát bột để bé làm quen
Nguồn sức khỏe đời sống

Giải pháp thông minh cho bé không chịu bú bình

Theo bác sĩ Hải, với các mẹ lười bú sữa, các mẹ có thể trộn sữa vào các bữa cháo cho bé. Các trộn cụ thể như sau.

Chào bác sĩ Hải, xin chị tư vấn giúp em. Con em được 8 tháng tuổi, bé nặng 7.5kg và cao 70cm. Bé rất lười ăn sữa và ăn cháo. Hiện em có nấu cháo cho bé ăn bao gồm các thành phần như cá, tôm, cua, bò với rau xanh (mồng tơi, muống, cải thìa, cải ngọt, khoai lang và cà rốt).

Một ngày em cho ăn 5 bữa nhỏ, bé chỉ uống sữa ngoài khoảng 100ml đến 150ml mà thôi, tối bé ăn sữa mẹ.

Bé nhà em ra mồ hôi đêm rất nhiều, ngủ không ngon giấc, bé chưa mọc răng nào cả, thóp đầu bé trỏm xuống và trán hơi nhô một tí. Mong bác sĩ tư vấn giúp em các vấn đề như sau:

– Bé như vậy có bị suy dinh dưỡng không ạ?

– Bé có bị bệnh còi xương không?

– Bác giúp em chế độ ăn của bé như thế nào là hợp lý?

– Cách để cho bé ăn nhiều và chịu bú bình?

– Làm cách nào để chăm bé tốt hơn (hiện bé ở nhà với bà).

Cảm ơn bác sĩ Hải. (Lê Thị Thuận – thuanle@ino….vn)
giai-phap-thong-minh-cho-be-khong-chiu-bu-binh
Trả lời:

Không biết bé là trai hay gái, nếu là bé gái thì cân nặng chiều cao như vậy là bình thường, còn là bé trai hơi nhẹ cân một chút nhưng cũng cũng chưa bị suy dinh dưỡng.

Muốn biết cháu có bị còi xương hay không em phải cho cháu đi khám bác sĩ, cần thiết thì phải làm xét nghiệm máu. Nhưng theo các dấu hiệu em mô tả có khả năng cháu bị còi xương, vì bây giờ là mùa đông không có nắng các cháu bé thường hay mắc bệnh còi xương lắm. Còi xương cũng là nguyên nhân gây biếng ăn ở trẻ.

Chế độ ăn của cháu ở lứa tuổi này nên như sau:

– Ngày 3 bữa bột/ cháo

– Sữa: 500ml (cả sữa mẹ và sữa chua)

– Quả chín sau các bữa ăn.

Thành phần 1 bát cháo hoặc bột bao gồm: – Gạo tẻ: 20g, thịt (cá, tôm): 20 – 25g, dầu (mỡ): 5g, rau xanh: 20g.

Nếu cháu không chịu bú sữa bạn có thể trộn thêm sữa bột vào các bữa cháo mặn, khi cháo đã nguội ấm, mỗi bữa trộn 3 thìa trong hộp sữa, cho ăn thêm sữa chua 1 – 2 cốc /ngày.

Để cháu ăn ngon miệng hơn bạn nên cho con đi khám bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị bệnh còi xương, bổ sung thêm vi chất dinh dưỡng men tiêu hoá nếu cần thiết.

Nguồn afamily

4 Sự thật về dinh dưỡng cho bé

Nhiều kinh nghiệm chăm con được các mẹ rỉ tai nhau trở thành kiến thức không chính thống nhưng được nhiều người áp dụng và tin tưởng.  Dù vậy, không phải kinh nghiệm truyền miệng nào cũng hoàn toàn đúng, sau đây là sự thật của 4 lời đồn đại phổ biến về dinh dưỡng cho bé yêu mà có lẽ các mẹ cũng nên tham khảo.
1. Sữa đậu nành cũng tốt như sữa bò
Sự thật: Không đúng! Sữa bò là tốt nhất để thay thế cho sữa mẹ vì đạm sữa bò khá tương đồng với đạm trong sữa mẹ. Đạm đậu nành hoàn toàn khác biệt với đạm động vật, trong khi trẻ sơ sinh sinh trưởng nhờ đạm động vật. Đậu nành khá an toàn, nhưng không phải luôn cần thiết. Phụ huynh có con bị đầy hơi thường có xu hướng chuyển sang cho bé bú sữa công thức từ đậu nành với hy vọng giảm tình trạng ứ hơi, nhưng đậu nành không hẳn là dễ tiêu hóa hơn sữa bò.

Đối với các bé bị dị ứng đạm sữa bò, sữa đậu nành có thể là một thay thế, nhưng lựa chọn tốt hơn cả là sữa có công thức thủy phân, trong đó đạm sữa bò được phân tách để tránh gây dị ứng. Sữa đậu nành nói chung chỉ được khuyên dùng cho trẻ đủ tháng, khỏe mạnh, không bú mẹ và có chủ đích nuôi như người ăn chay, loại sữa này cũng có thể dùng cho trẻ bị rối loạn carbon hydrat bẩm sinh do rối loạn trao đổi chất làm chúng không thể tiêu hóa được đường trong sữa bò.

4-su-that-ve-dinh-duong-cho-be

2. Chất sắt khiến trẻ bị táo bón

Sự thật: Không đúng! Sữa công thức dành cho trẻ sơ sinh chứa nhiều chất sắt, lượng chất sắt mà bé thu nạp không đủ để gây ra táo bón, trái lại nó lại vô cùng cần thiết và quan trọng cho sự phát triển thể chất và tinh thần cho bé. Trên thực tế, gần đây nhiều hãng sữa đã ngừng sản xuất các sản phẩm có hàm lượng sắt thấp.

3. Bắt đầu ăn dặm sớm sẽ giúp trẻ sơ sinh ngủ trọn đêm

Sự thật: Không hẳn là đúng! Trẻ con thức giấc trong đêm không chỉ vì đói, mà đơn giản là vì chúng chưa sẵn sàng để ngủ dài hơn. Ở 4 tháng tuổi, hầu hết các bé có thể ngủ từ 5 – 6 giờ hoặc hơn, phụ thuộc một phần vào đặc điểm sinh trưởng của hệ thần kinh trung ương. Cân nặng và chiều cao của trẻ cũng có thể là một yếu tố, thông thường những bé lớn hơn thì ngủ cũng lâu hơn. Những trẻ sơ sinh lớn hơn cũng thường ngủ qua đêm sớm hơn, lý do có thể là do những bé nhỏ hơn phải ăn thường xuyên hơn để bắt kịp chuẩn tăng cân.

Vì vậy, đừng vội cho trẻ ăn dặm; các chuyên gia khuyên bạn nên đợi đến khi trẻ được ít nhất là 4 tháng, và tốt nhất là đến 6 tháng. Bạn cũng không nên bổ sung thêm chế phẩm ngũ cốc vào sữa để con bú vào ban đêm, vì sẽ khiến bé thu nạp thêm calo không cần thiết và gia tăng nguy cơ béo phì – càng khiến bé khó ngủ lâu hơn nữa.

4. Khi đã bắt đầu ăn dặm, trẻ không cần thêm nhiều sữa mẹ và sữa công thức nữa

Sự thật: Khi trẻ mới bắt đầu làm quen với ăn thức ăn, chúng thường không nạp đủ calo và chất dinh dưỡng để thay thế hoàn toàn cho sữa (dù là sữa mẹ hay sữa công thức). Sữa mẹ hay sữa công thức vẫn là một nguồn dinh dưỡng quan trọng trong suốt năm đầu tiên của trẻ. Ngay cả khi đã ăn nhiều thức ăn rắn hơn, bé vẫn cần bổ sung ít nhất 500ml sữa mỗi ngày cho đến khi được 1 tuổi. Nếu con uống không đủ lượng sữa, bạn hãy cho bé bú trước vào giờ ăn, khi bé đói nhất.

Theo WTT/SKDS

Giải khát mùa hè an toàn cho bé

Mùa hè nắng nóng, thời tiết oi bức, thêm vào đó do trẻ em vì tính hiếu động, ham chơi đùa làm cho trẻ bị xuất tiết nhiều mồ hôi nên dễ bị thiếu nước. Để giúp trẻ giải khát một cách hiệu quả và đảm bảo sức khỏe, phụ huynh nên chọn những loại nước giải khát mang tính bổ dưỡng và an toàn cho sức khỏe của trẻ.

Tác hại thường gặp khi cơ thể bị thiếu nước

Nước có vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe con người. Theo phản ứng tự nhiên, khi thiếu nước cơ thể sẽ ưu tiên đưa nước tới các cơ quan trọng yếu như não, tim, gan, phổi, thận, đồng thời giảm lượng nước tới các cơ quan ít quan trọng hơn như tiêu hóa, cơ, khớp, da và niêm mạc. Chính vì vậy, dấu hiệu thiếu nước sẽ xuất hiện sớm nhất ở các cơ quan ít quan trọng này. Những tác hại thường gặp khi cơ thể bị thiếu nước:

giai-khat-bo-duong-an-toan-cho-tre

Thiếu nước nhẹ và vừa sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi, buồn ngủ, đi tiểu ít, táo bón; da khô, ngứa, vì các tế bào da thiếu nước bị bong tróc, nổi mụn trứng cá; chảy máu mũi vì niêm mạc khô, mạch máu dễ tổn thương; nhức đầu, chóng mặt, cơ bắp mềm yếu; dễ tái phát viêm tiết niệu vì ít nước tiểu nên không loại trừ được các chất cặn bã và vi khuẩn qua đường tiểu; sỏi thận cũng dễ hình thành hoặc tái sinh do sự cô đặc các chất khoáng; tăng nguy cơ viêm nhiễm vùng hầu họng, đường hô hấp do không khí qua mũi không được làm ẩm, gây kích thích và làm cho phổi nhạy cảm với khói, bụi, hóa chất, viêm mũi dị ứng…

– Thiếu nước trầm trọng dẫn đến hạ huyết áp, tim đập nhanh, tiểu tiện ít; miệng khô, rất khát nước; da, niêm mạc khô, không có mồ hôi; mắt khô và sưng đau, cơ thể mất thăng bằng.

– Theo khuyến cáo của của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), lượng nước cần thiết hàng ngày cho cơ thể thay đổi tùy theo từng khu vực và theo từng lứa tuổi. Tại vùng nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam, do khí hậu lượng mồ hôi thải ra lớn nên lượng nước mất đi mỗi ngày khoảng 1,8 – 2 lít nước. Nếu ăn nhiều canh, rau thì lượng nước uống hàng ngày cần thiết đối với người lớn khoảng 1 lít (5 – 6 ly nước), nếu bữa ăn ít canh, rau thì nên uống nhiều hơn, khoảng 1,5 lít nước mỗi ngày. Mỗi ngày trẻ em cần uống khoảng 50 – 60ml nước cho mỗi kilôgam trọng lượng cơ thể. Nhu cầu nước uống tăng lên trong một số trường hợp, như: trẻ ra mồ hôi quá nhiều sau khi hoạt động thể lực hoặc trong thời tiết nắng nóng của mùa hè.

Tiêu chí chọn nước giải khát cho trẻ mùa hè nắng nóng

– Bất kỳ loại nước giải khát nào cho trẻ uống cần đảm bảo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

– Nước giải khát cho trẻ uống không quá ngọt vì chứa nhiều đường, sẽ làm cho trẻ dễ đầy bụng hoặc “ngang dạ” gây ảnh hưởng đến các bữa ăn chính của trẻ.

– Nước giải khát cho trẻ không nên pha các loại phẩm màu hóa học vì có thể gây hại đến sức khỏe của trẻ. Nếu cần nước giải khát có màu sắc bắt mắt, phụ huynh có thể chọn những loại nước ép từ trái cây tươi tự nhiên, đảm bảo bổ dưỡng, vừa an toàn cho sức khỏe của trẻ.

– Thức uống dùng cho trẻ phải phù hợp theo lứa tuổi. Trẻ nhỏ 0 – 6 tháng tuổi nên cho bú mẹ hoàn toàn không cần uống thêm bất cứ loại nước gì khác vì sữa mẹ chứa một lượng nước rất dồi dào. Lứa tuổi ăn dặm từ 6 – 12 tháng tuổi ngoài các bữa ăn chính có thể cho trẻ uống thêm nước sôi nguội, nước suối, nước canh, nước cháo hoặc một ít nước ép trái cây tươi các loại mà trẻ yêu thích tùy theo tình trạng thiếu nước của trẻ. Trẻ từ 1 tuổi trở lên có thể uống bất cứ loại nước nào mà người lớn sử dụng.

Một số loại nước giải khát

Nước chanh: chứa nhiều vitamin C, vừa có công hiệu giải khát, giải nhiệt rất tốt, còn tác dụng làm đẹp da, sát khuẩn, trị ho…

Nước mía tươi: tác dụng giải khát, lại bổ dưỡng cho sức khoẻ nhờ mía có vị ngọt, tính hàn, giàu dinh dưỡng, nhưng phụ huynh không nên cho trẻ uống quá nhiều.

Dưa hấu hay dưa bở: gọt bỏ vỏ xay hay ép lấy nước cho một chút đường uống vừa giải nhiệt, giải khát và bổ dưỡng.

Rau má: xay lấy nước uống, thêm chút đường cho dễ uống, có tác dụng giải nhiệt tốt.

Xoài ép: một ly nước xoài tươi khoảng 160ml cung cấp 75kcal và hơn 50% nhu cầu trong ngày về vitamin C.

Sữa chua: rất tốt trong ngày hè vì có lợi cho tiêu hóa và còn có tác dụng làm đẹp da.

ThS.BS ĐINH THẠC/Theo SKDS

Tình trạng dinh dưỡng trẻ lứa tuổi tiểu học

 Quá trình hấp thu dưỡng chất vô cùng quan trọng, nhất là ở trẻ em, khi nhu cầu về phát triển, tăng trưởng cao hơn so với người lớn.  Lứa tuổi tiểu học (6-12 tuổi) là lúc trẻ tập trung phát triển khả năng tư duy, trí nhớ, các kỹ năng đọc, viết, tính toán…Do đó, trẻ cần có một chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng, học tập hợp lý nhằm tối ưu hóa sự phát triển.

dinh-duong-cho-tre-tieu-hoc

Mỗi năm trẻ 6-12 tuổi tăng từ 2-3kg và 5-8cm. Trẻ cần cung cấp 1600-2200 kcal, 36-50g đạm, 25-30g béo, 500-700mg canxi/ ngày (Bảng Nhu cầu Dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt nam). Việc cung cấp quá thiếu hay thừa chất dinh dưỡng đều gây hậu quả không tốt cho trẻ. Trẻ béo phì hoặc suy dinh dưỡng đều học kém, khó tập trung, trí nhớ giảm.

Theo 1 nghiên cứu gần đây của Viện Dinh dưỡng về khẩu phần ăn ở trẻ 6-11 tuổi, một số chất dinh dưỡng cung cấp vượt quá cao so với nhu cầu đề nghị như đạm, canxi, vitamin A, C, trong khi sắt đáp ứng  khoảng 75% và vitamin B1, B2, PP chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu.  Với khẩu phần ăn trên, tỷ lệ học sinh thừa cân là 9,4%, béo phì là 2,8%  và tỷ lệ học sinh có cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi thấp dưới – 2SD (suy dinh dưỡng) khoảng 2%. Nếu ăn quá nhiều đạm cũng làm mất canxi, như vậy chiều cao sẽ không tốt. Trẻ thiếu máu thiếu sắt sẽ thường xuyên buồn ngủ, uể oải, hay quên và chán học. Việc lựa chọn những thực phẩm dễ hấp thu cũng cần được xem xét khi xây dựng thực đơn cho trẻ. Đạm động vật, nhất là đạm từ cá, trứng, sữa sẽ dễ hấp thu (tỉ lệ hấp thu >95% so với đạm thực vật là 70-80%), cũng như có nhiều sắt, kẽm, vitamin B2, PP, B12…phù hợp với trẻ, do đó nên giữ ở mức 50-60% tổng lượng đạm theo nhu cầu. Hấp thu đạm và bột đường đều tốt hơn khi thức ăn được nấu chín. Các lọai chất béo không no có lợi cho sức khỏe hơn, có trong mỡ cá và dầu thực vật (trừ dầu dừa và dầu cọ) cũng được hấp thu tốt hơn mỡ động vật giàu chất béo no.

Kết quả 1 nghiên cứu năm 2007 được TS Nguyễn Quang Dũng, Viện Dinh dưỡng  báo cáo cho thấy học sinh từ 9-11 tuổi tại 4 trường của Hà Nội và TPHCM có tỷ lệ béo phì là 1,1%, 7,1%, 10,8%, có trường cá biệt lên tới 41,1%. Đó là hậu quả của việc sử dụng quá dư thừa năng lượng, nhiều thức ăn giàu béo, đường và ít vận động. Theo Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa kỳ, các nghiên cứu cho thấy trẻ đi học thường ăn thiếu rau và trái cây so với khuyến cáo trong khi quá dư thừa các loại fast food và sản phẩm chứa đường đơn. Bên cạnh đó, tỉ lệ thấp còi của trẻ em Việt nam vẫn vào khoảng 30%, chứng tỏ vẫn còn suy dinh dưỡng trong quá khứ ảnh hưởng nhiều đến chiều cao của trẻ. Cần xây dựng một chế độ dinh dưỡng đủ chất, dễ hấp thu, giàu rau, trái cây và các sản phẩm từ sữa, hạn chế lượng chất béo và đường trong chế độ ăn của trẻ tiểu học. Ngoài ra, phải cho trẻ có thời gian vận động 1-2h/ngày, vừa hạn chế thừa cân béo phì, vừa giúp hấp thu tốt các chất, hạn chế táo bón, vừa giúp tăng cường sức khỏe và phòng chống các bệnh mạn tính về sau.

Ở trẻ tiểu học, ngoài những bệnh lý của đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm dạ dày, viêm tụy, rối loạn khuẩn ruột…,nhiễm ký sinh trùng đường ruột vẫn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây kém hấp thu. Một nghiên cứu năm 2008 tại New Delhi, Ấn độ cho thấy 82% trẻ bị hội chứng kém hấp thu có nhiễm ký sinh trùng đường ruột (tỉ lệ nhiễm ký sinh trùng ở nhóm chứng là 16%). Loại ký sinh trùng thường gặp là Giardia intestinalis, Cryptosporidium parvum, Isospora belli, Cyclospora cayetanensis và microsporidia. Một nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng cũng cho thấy việc số giun giúp trẻ tăng cân và chiều cao tốt hơn nhóm không được sổ ( Lê Nguyễn Bảo Khanh). Do đó, cần chú ý giữ vệ sinh ăn uống và sổ giun định kỳ cho trẻ.

Giữ răng khỏe mạnh cũng giúp quá trình hấp thu thức ăn tốt hơn. Trẻ tiểu học bắt đầu thay dần răng sữa bằng răng vĩnh viễn. Ngày 10/12/2008, tại hội nghị Nha học đường toàn quốc, TS.Trịnh Đình Hải – Viện trưởng Viện Răng Hàm Mặt Quốc gia cho biết 83,9 %  trẻ em Việt Nam từ 6-8 tuổi bị sâu răng sữa với trung bình mỗi trẻ có 6 răng sữa bị sâu và hầu hết không được điều trị. Đặc biệt có tới gần 90% trẻ em bị lệch lạc về răng. Đây cũng là tình trạng thường gặp, gây nên biếng ăn, khó tiêu, kém hấp thu và suy dinh dưỡng ở những trẻ đến khám tư vấn dinh dưỡng tại bệnh viện.

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thu Hậu
Nguồn: benhviennhi