Tag Archives: điều trị

Bệnh nấm Candida sinh dục

Dấu hiệu nhận biết
Nhiễm nấm sinh dục thường gặp nhất là nấm âm đạo. Bình thường, nấm Candida ký sinh trên cơ thể người và không có biểu hiện gì. Khi môi trường pH âm đạo thay đổi tạo điều kiện cho nấm phát triển, gây ra những biểu hiện bệnh.

Bệnh nấm Candida có thể lây truyền theo nhiều đường khác nhau như quan hệ tình dục không an toàn với người mang bệnh qua âm đạo, hậu môn hay miệng. Bệnh có thể lây lan qua các công cụ dùng chung như khăn, quần lót, công cụ trợ dâm (sextoy) với người mang bệnh. Khi mắc bệnh, người phụ nữ thường có hai triệu chứng nổi bật là rất ngứa và ra khí hư. Các biểu hiện khác là đau, cảm giác bỏng rát trong âm đạo, âm hộ, đi tiểu khó và đau khi giao hợp. Trường hợp nặng có thể gây đỏ, phù nề âm hộ và môi nhỏ, môi lớn, đôi khi lan ra cả đùi, bẹn. Bệnh thường nặng lên trước kỳ kinh nguyệt.

benh-nam-candida-sinh-duc

Đàn ông khi quan hệ tình dục với phụ nữ bị bệnh cũng có thể bị viêm quy đầu với biểu hiện đỏ, ngứa, cảm giác bỏng, rát và có chất nhày trắng. Bệnh thường xảy ra vài phút hoặc vài giờ sau khi giao hợp và thường khỏi sau khi rửa sạch.

Thuốc điều trị và dự phòng
Khi nghi ngờ bị nhiễm bệnh, bạn hãy đến các trung tâm y tế xét nghiệm để bác sĩ chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Hiện nay, thường sử dụng thuốc bôi tại chỗ và thuốc uống toàn thân kết hợp nâng cao sức đề kháng của cơ thể, đồng thời vệ sinh cá nhân đúng cách.

Thông thường, khi xác định bệnh nhân bị nhiễm Candida âm đạo, bệnh nhân sẽ được chỉ định sử dụng thuốc fluconazole uống kết hợp với thuốc đặt âm đạo như miconazole.
Đặt thuốc trước khi đi ngủ.

Đối với nam, thường không cần điều trị vì bệnh có thể tự khỏi, tuy nhiên, nếu bị viêm quy đầu thì có thể bôi các kem chống nấm như ketoconazole, clotrimazole. Đối với những trường hợp hay tái phát, cần dùng thuốc dự phòng từng đợt để phòng sự nhiễm bệnh những đợt tiếp theo.

Các thuốc chống nấm sử dụng toàn thân và tại chỗ hiện nay chủ yếu là nhóm nystatin, ketoconazole, fluconazole hay itraconazol. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuốc này, đặc biệt ở các trường hợp tái diễn, dùng thuốc nhiều lần, cần chú ý theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc như: buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi, tiêu chảy, chảy máu tiêu hóa; thiểu năng tuyến thượng thận, gây chứng vú to ở nam giới và giảm tình dục; có thể gặp nhức đầu, chóng mặt, kích động hoặc ngủ gà, viêm da, phát ban, mày đay, tăng enzym gan.

Ketoconazol ức chế enzym gan, làm tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống đông máu, thuốc chống ung thư, kháng histamin H1 thế hệ 2, thuốc an thần và corticoid. Các thuốc kháng acid, kháng histamin H2 và isoniazid làm giảm hiệu quả trị nấm của ketoconazol.

Intraconazol làm giảm nồng độ trong huyết tương của rifampicin, phenytoin, carbamazepin. Tăng nồng độ trong huyết tương của digoxin, cyclosporin các kháng histamin như terfenadin, astemizol (gây độc với tim, xoắn đỉnh) và ảnh hưởng tới chuyển hóa của các thuốc chống tiểu đường.

Để dự phòng, chị em cần lưu ý: không nên mặc đồ lót quá chật, nên dùng loại vải bông; không nên mặc quần tây, quần jean quá chật; Không nên tự tiện sử dụng xà bông, nước hoa, chất khử mùi mà nên tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng các loại này.

Đối với trường hợp bệnh tái phát nhiều lần, cần kiểm tra lại vì rất có thể do bị bệnh đái tháo đường hoặc dùng kháng sinh kéo dài, thuốc tránh thai có estrogen hoặc quan hệ tình dục khi bệnh chưa dứt hẳn… Đây là các nguyên nhân gây suy giảm sức đề kháng, tạo thuận lợi cho nấm phát triển, cần tìm nguyên nhân để điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cách khác phục dị ứng ở mắt

Dị ứng mắt thường xảy ra trên người có cơ địa dị ứng kèm theo các loại bệnh dị ứng khác của cơ thể. Khi bị dị ứng, mắt của bạn trở nên nhạy cảm quá mức với một số chất, mặc dù có thể những chất đó không phải là tác nhân độc hại. Lúc đó mắt trở nên ngứa đỏ, sợ sáng hoặc có cảm giác có vật lạ ở trong… Đây là triệu chứng thường gặp ở nhiều người, bệnh không chỉ gây khó chịu mà còn ảnh hưởng đến thị lực sau này của người bệnh.

Những năm gần đây sự ô nhiễm môi trường, mất cân bằng dinh dưỡng, tình trạng dùng thuốc, hóa chất, mỹ phẩm bừa bãi… đã khiến các ca dị ứng mắt ngày càng tăng. Kết mạc (dân gian gọi là lòng trắng) có hệ mạch phong phú, là cửa ngõ của mắt, tập trung nhiều tế bào có khả năng miễn dịch cao nên hay bị dị ứng nhất. Tháng 4, 5, 6 là những tháng đỉnh điểm của bệnh bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh khiến bệnh càng có cơ hội tái phát.

cach-khac-phuc-di-ung-o-mat

Các tổn thương dị ứng mắt thường gặp
Viêm kết mạc dị ứng: Là bệnh thường gặp nhất. Các triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt, chảy nước mắt, tăng tiết dử mắt với các đặc điểm: màu trong, dai dính, lỏng như nước cháo, đôi khi đặc quánh; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Các thể bệnh đặc biệt trong nhóm này đã được y văn nhắc tới nhiều như viêm kết mạc có nhú khổng lồ ở người mang kính tiếp xúc. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm song hành.

Viêm giác mạc: Do là một tổ chức vô mạch, được nuôi dưỡng nhờ ôxy và thẩm thấu nên các biểu hiện dị ứng có vẻ âm thầm và hiếm gặp hơn. Các viêm nhiễm của giác mạc thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn lao – xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virut herpes, thủy đậu, zona… Hiếm gặp hơn là viêm nhiễm tại củng mạc và thượng củng mạc, trong đó viêm thượng củng mạc dạng nốt cũng được nhiều người cho là do dị ứng.

Viêm bên trong nhãn cầu: Tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Điển hình là trong một số bệnh cảnh, chất nhân của thể thủy tinh đã lọt ra ngoài bao của nó và lần đầu tiên tiếp xúc với môi trường bên trong nhãn cầu. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glôcôm do thể thủy tinh.

Các viêm nhiễm tại mắt có thể là một phần hoặc đi kèm với các bệnh dị ứng của các hệ cơ quan khác như dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm…

Xử trí thế nào?
Khi bị dị ứng mắt, việc đầu tiên cần làm là rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý hoặc nước mắt nhân tạo. Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch. Bệnh nhân cần tránh day, dụi, xoa, ấn tại mắt. Bác sĩ nhãn khoa có thể cho dùng các thuốc nhỏ mắt thuộc nhóm co mạch, kháng histamin… Các thuốc này sẽ đẩy lui và giúp giảm nhanh các khó chịu tại mắt. Tuy nhiên, cần lưu ý tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng như bệnh khô mắt, viêm do bội nhiễm nấm – herpes – vi khuẩn. Thuốc kháng histamin đường uống, vitamin C cũng có khi được khuyên dùng tùy theo bệnh cảnh. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng như: glôcôm, đục thể thuỷ tinh

Bên cạnh việc điều trị bằng thuốc, người bệnh cần phát hiện dị nguyên gây dị ứng để tránh tiếp xúc. Kính đeo các dạng tuy không ngăn cản triệt để được dị nguyên xâm nhập vào mắt, nhưng cũng giúp giảm đáng kể nguy cơ bị dị ứng và làm dịu các khó chịu tại mắt do dị ứng. Hãn hữu cũng gặp một số người bị dị ứng với chính gọng kính mà mình đang dùng, biểu hiện là đỏ da, mẩn ngứa, nổi mụn nước trên da mặt, da mi trùng với diện tiếp xúc của gọng kính và da.

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ. Khi bác sĩ kê đơn thuốc, cần báo cho bác sĩ biết về tiền sử dị ứng của bạn. Ngay cả khi các bác sĩ đã cân nhắc kỹ trước khi kê đơn thì khả năng dị ứng thuốc tra hoặc nhỏ mắt vẫn có thể xảy ra. Trong trường hợp này, nên đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán điều trị.

Lời khuyên của thầy thuốc
Không dụi mắt khi mắt bị ngứa hoặc bất cứ khó chịu nào vì điều này chỉ làm vùng da quanh mắt bị tổn thương và sớm để lại vết nhăn. Thay vào đó, bạn có thể dùng thuốc nhỏ mắt có tính kháng dị ứng, sát khuẩn hoặc có thành phần tương đương với nước mắt. Không nên tự mua các loại thuốc có cortisone để nhỏ mắt vì có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm cho mắt. Sau khi đã dùng các loại thuốc trên mà triệu chứng không giảm thì phải đi khám bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra còn có các loại viêm kết mạc do dị ứng khác như viêm kết mạc mùa xuân, dị ứng mắt do bệnh ngoài da… có khi rất nặng, chỉ có bác sĩ mới quyết định phương pháp và thời gian điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Các loại u da lành tính

U da lành tính là bệnh hay gặp ở độ tuổi thanh niên trở lên với nhiều dạng. Phát hiện sớm với những triệu chứng cơ bản dưới đây giúp người bệnh điều trị hiệu quả.

U nang dạng da: U nang dạng da là u bẩm sinh thường xuất hiện ở vùng mắt, ở mũi và ở cổ. U màu nâu sáng, lâm sàng nhiều khi giống u xơ (fibroma). Trong u chứa lông tơ, nang lông thoái hoá và tuyến bã. Điều trị: Phẫu thuật cắt bỏ u.

U xơ thần kinh: Trên da có các u mềm, kích thước khác nhau, không đối xứng, tròn, có khuynh hướng lủng lẳng treo trên da. Nắm vào u có cảm giác u nhẽo, rỗng ở giữa, là bệnh do di truyền trội. Có các đám mảng màu cà phê sữa, thâm đen màu nâu. Có thể trên người có thiểu năng trí tuệ. Điều trị: Cắt bỏ một số u do yêu cầu thẩm mỹ.

U nang bã: Là những u mềm hoặc cứng chắc, hình tròn hoặc oval nằm ở dưới da. Thay đổi về kích thước, xuất hiện ở đầu, cổ, mặt, da bìu và lưng, trong chứa chất bã. Điều trị: Gây tê, chích rạch tháo bỏ chất bã.

cac-loai-u-da-lanh-tinh

U nang tuyến bã người già: Loại u này thường xuất hiện ở người già. Vị trí thường ở vùng trán, xuất hiện các sẩn nhỏ, phẳng rải rác không đều trên vùng mặt; có thể kèm trạng thái da dầu. Điều trị tốt nhất là đốt điện.

Nang kê: Là các sẩn rất nhỏ, trắng lóng lánh như hạt trai xuất hiện trên của mặt phần nhiều quanh mắt. Nó được nghĩ là do các nang chứa chất bã và tế bào sừng. Điều trị: Chích bằng kim hoặc dao mổ sắc; các nang quá nhỏ có thể nạo bỏ.

Mắt cá và chai chân: Mắt cá là nút sừng hình nón, chủ yếu xuất hiện ở ngón chân có thể ở vùng lòng bàn chân, trung tâm màu trắng, vàng, có nút sừng ở trung tâm, đi lại tỳ ép vào thì đau chân. Chai chân là dày sừng khu trú thường ở bàn chân do áp lực liên tục (đi lại, lao động) nó thường không đau, biểu hiện là dày sừng màu trắng ngà vàng, cứng chắc. Cần phân biệt mắt cá, chai chân với mụn cóc ở bàn tay, bàn chân. Điều trị: Mắt cá cắt bỏ hoặc bôi bằng mỡ salicylic 40% 2 – 7 ngày. Chai chân: Bôi mỡ salicylic 20 – 40%, cắt gọt lạng bớt chỗ chai chân.

Đuôi da: Là một u nhú da (papiloma), u xơ mềm (soft fibroma), là u nhú có cuống (polyp), mềm, hình tròn hay oval, màu nâu hay như màu da. Bệnh này hay gặp ở nữ, bệnh nhân béo phì và cũng thường xuất hiện ở tuổi trung niên, người lớn tuổi. Vị trí thường gặp là vùng cổ, da quanh mắt, vùng nếp kẽ như nách, nếp dưới vú, bẹn cần chẩn đoán phân biệt với Nevi sắc tố, u xơ thần kinh, u mềm lây. Nó thường thắt lại thành cuống ở chỗ đáy nền da. Kích thước thay đổi từ dưới 1 – 10mm. Mô học thấy biểu bì mỏng và là một mô xơ nhão. Tổn thương không có triệu chứng chủ quan, đôi khi trở nên nhạy cảm đau sau chấn thương hoặc do bị xoắn lại. Điều trị: Cắt bỏ, áp lạnh.

Nguồn xã luận

Sự khác biệt về bệnh lậu giữa nam và nữ

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo nên mức độ phức tạp của bệnh lậu cũng khác nhau.

Bệnh lậu được biết từ lâu, nhưng mãi đến năm 1897 mới được Neisser tìm ra, có tên khoa học là Neisseria Gonorrhoeae. Đây là bệnh cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Vi khuẩn lậu có hình hạt cà phê xếp thành từng cặp nên còn gọi là song cầu, có chiều dài 1,6µm, rộng 0,8µm. Trên kính hiển vi, vi khuẩn bắt màu gram âm.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Ảnh minh họa. (Nguồn: Internet)

Lậu cầu rất yếu khi ra ngoài cơ thể, và chết nhanh ở nhiệt độ thường; ngược lại sống rất mãnh liệt ở môi trường ẩm của cơ thể, cho nên giao hợp vẫn là cách lây bệnh chủ yếu. Tuy nhiên, lậu cầu cũng có thể lây qua vật dụng dùng chung.

Ở điều kiện sinh lý bình thường, giữa nam và nữ có sự khác biệt về giải phẫu ở đường niệu đạo. Niệu đạo của nữ giới tương đối ngắn so với nam giới, khoảng 3cm, vì vậy bệnh lậu ít rầm rộ hơn, có nhiều tuyến quanh niệu đạo là nơi ẩn náu của vi khuẩn như tuyến Skène, tuyến Bartholine ở 1/3 trước của môi lớn và môi bé.

Niệu đạo của nam giới chia làm 2 phần gồm niệu đạo trước và niệu đạo sau, được ngăn cách bởi cơ thắt niệu đạo, có chiều dài từ 14 – 16cm; niệu đạo trước có nhiều hang, là nơi trú ẩn của lậu cầu; niệu đạo sau càng phức tạp hơn cũng có nhiều ngóc ngách, xuyên qua tuyến tiền liệt, thông với túi tinh, ống dẫn tinh, mào tinh và tinh hoàn. Ngoài ra, còn có tuyến Morgagni và tuyến Littr cũng thuận lợi cho lậu cầu sinh sôi và phát triển.

Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niêm mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhân đến để thực bào, từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm, được thoát ra ngoài theo nước tiểu, màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ, lậu cầu tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó.

Về triệu chứng, bệnh lậu ở nam và nữ có khác nhau, do niệu đạo của nam giới dài, giai đoạn cấp tính lậu ở nam giới có tính chất rầm rộ, còn ở nữ thì âm thầm dễ bỏ qua, vì thế là nguồn lây nhiễm rất đáng quan tâm. Thời gian ủ bệnh trung bình 3-5 ngày, nhưng có thể kéo dài 2-3 tuần.

Thời gian ủ bệnh càng ngắn thì bệnh càng nặng, triệu chứng thường âm thầm, không rõ. Theo thống kê, có khoảng 97% số ca bệnh không có triệu chứng, chỉ có 3% còn lại mới có triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, khó chịu, nếu không điều trị bệnh sẽ đi vào giai đoạn mãn tính không có biểu hiện gì đặc biệt, mà thường chỉ có huyết trắng, hoặc có những biểu hiện của biến chứng như viêm tuyến Bartholin, tuyến Skene, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm bàng quang, viêm vùng chậu, viêm trực tràng. Viêm ống dẫn trứng có thể dày dính, gây thai ngoài tử cung, hoặc tắc tai vòi gây vô sinh.

Về điều trị, lậu cầu cứ 15 phút phân chia một lần do đó lan nhanh.Vì vậy, cần điều trị càng sớm càng tốt, điều trị đúng thuốc – đủ liều; điều trị cả với người tiếp xúc sinh lý. Thuốc hiện nay được chọn ưu tiên là spectinomycine với tên biệt dược là Trobicin hay Kirin, 4g – tiêm bắp một liều duy nhất; trường hợp bệnh mãn tính, tiêm liên tiếp 2 ngày, với nữ giới thì dùng liều gấp đôi nam giới.

Nếu không tiện tiêm thuốc có thể chọn giải pháp uống nhưng thường tỉ lệ thành công sẽ thấp hơn, thuốc thường dùng azithromycin (Zithromax) 250mg x 4 viên uống liều duy nhất. Nếu điều trị đúng thuốc, đủ liều thì triệu chứng tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần sẽ giảm nhanh sau 24 – 48 giờ, riêng tiểu ra mủ sẽ hết chậm hơn sau 48 – 72 giờ. Các triệu chứng chung sẽ biến mất hoàn toàn sau 5 – 7 ngày.

Về phòng bệnh, cho đến hôm nay, dùng bao cao su được xem như là phương tiện duy nhất để phòng bệnh lậu, tuy nhiên đó chưa phải là phương pháp đảm bảo tuyệt đối.

Nguồn giáo dục

Điều trị hở hàm ếch bằng vật liệu mới

Theo Báo cáo của các nhà khoa học thuộc Đại học Oxford của Anh, họ vừa nghiên cứu một loại vật liệu hydrogen thế hệ mới có thể dùng để trợ giúp điều trị bệnh hở hàm ếch bẩm sinh ở những trẻ sơ sinh.

Để tiến hành điều trị hở hàm ếch, các nhà khoa học đã thực hiện biện pháp đưa vật liệu hydrogen thế hệ mới vào vùng niêm mạc xung quanh hàm ếch ở hàm trên của người bệnh.

Do vật liệu mới này có thể hấp thụ chất lỏng, vì thế khi nó phình ra thì niêm mạc cũng phát triển theo. Sau khi vật liệu hydrogen phình to và lấp đầy khe hở, các nhà khoa học sẽ tiến hành phẫu thuật để lấy vật liệu này ra, sau đó dùng niêm mạc để thay thế vào chỗ khe hở đó.

dieu-tri-ho-ham-ech-bang-vat-lieu-moi

Vật liệu hydrogen trông giống như vật liệu dùng cho kính sát tròng. Đặc điểm lớn nhất của nó là sau khi hấp thụ chất lỏng sẽ không phình ra một cách tự do mà có thể khống chế để phình ra theo hướng bao trùm hàm ếch, qua đó tránh cho niêm mạc phát triển ra hướng khác.

Giám đốc điều hành Hiệp hội điều trị hở hàm ếch của Anh cho biết vật liệu mới này sẽ mang lại hạnh phúc cho nhiều bệnh nhân. Các nhà khoa học rất hy vọng vào kết quả thí nghiệm lâm sàng trong thời gian sắp tới.

Hở hàm ếch là một sự thiếu hụt bẩm sinh tương đối phổ biến. Biện pháp điều trị thông thường là phẫu thuật điều chỉnh lại niêm mạc ở hàm trên để gắn liền khe hở. Tuy nhiên, nếu như hàm ếch quá rộng, lượng niêm mạc không đủ sẽ gây khó khăn cho phẫu thuật.

Theo Vietnam+

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

 Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Những tiến bộ trong điều trị bệnh tim mạch được thực hiện bởi các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Baptist Wake Forest ở Bắc Carolina, Mỹ cho thấy sự khác biệt trong cơ chế gây ra huyết áp cao và nguy hiểm hơn ở phụ nữ so với nam giới.

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

TS. Carlos Ferrario, tác giả chính của dự án cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 100 nam giới và nữ giới ở độ tuổi 53 trở lên mắc cao huyết áp nhưng chưa áp dụng biện pháp điều trị. Kết quả cho thấy, so với nam giới có cùng mức độ cao huyết áp, phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh mạch máu cao hơn 30-40%. Các nhà khoa học cũng quan sát thấy sự khác biệt sinh lý trong hệ thống tim mạch của nữ giới, trong đó bao gồm các cấp, các loại hormon có liên quan đến việc điều chỉnh huyết áp. Theo TS. Ferrario: Quan niệm y khoa trước đây cho rằng triệu chứng cao huyết áp là chung ở cả hai giới nên biện pháp chữa trị cũng áp dụng như nhau nhưng kết quả nghiên cứu này cho thấy cao huyết áp ở nữ giới cần được điều trị sớm và tích cực hơn ở nam giới. Đồng thời, người mắc cao huyết áp nên có lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống khoa học, tập thể dục thường xuyên, tránh hút thuốc, uống rượu để giảm nguy cơ huyết áp cao.

Q.Tuấn
Theo Medical,

Quan điểm mới trong chẩn đoán và điều trị đái tháo đường thai kỳ

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là bệnh đái tháo đường được phát hiện lúc mang thai, gồm cả bệnh có sẵn trước đó nhưng chưa được phát hiện. Đây là một tình trạng bệnh lý do bất dung nạp đường huyết.

Thống kê cho thấy tỉ lệ ĐTĐTK thay đổi tùy theo châu lục (châu Á cao hơn châu Âu, châu Mỹ), quốc gia, sắc tộc (da trắng ít hơn da màu). Tần suất mắc bệnh dao động từ 1 – 14% số thai phụ. Dưới góc độ khoa học, trong bốn nhóm thuốc điều trị đái tháo đường, insulin chính là thuốc tốt nhất, hợp sinh lý nhất. Gần đây, các nhà bào chế còn tiến thêm một bước sản xuất được insulin analog, với chức năng vượt trội hẳn insulin thông thường.

Trong khẩu phần ăn của thai phụ bị đái tháo đường nên giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ

anh-huong-tieu-duong-khi-mang-thai

Ảnh hưởng của ĐTĐTK bao gồm:

Ảnh hưởng lên mẹ: tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật, đa ối, tỉ lệ mổ lấy thai cao, dễ băng huyết sau sinh.

Ảnh hưởng lên thai nhi: gia tăng tỉ lệ dị dạng thai, suy hô hấp, thai to nhưng khả năng đề kháng kém, dễ sang chấn trong lúc chuyển dạ sinh do kẹt vai, rối loạn chuyển hóa đường huyết, rối loạn chuyển hóa canxi huyết và tăng tỉ lệ bệnh suất và tử suất chu sinh.

Xảy ra như thế nào?

Người mẹ khi có thai thì nồng độ estrogen và progesterone cao, đặc biệt trong tam cá nguyệt đầu và ở giai đoạn đầu tam cá nguyệt giữa, do vậy kích thích làm tăng sinh tế bào beta tụy làm tăng tiết insulin, kéo theo tăng khả năng dự trữ glycogen ở mô, giảm tạo glycose ở gan, tăng sử dụng glucose ở ngoại vi, dẫn đến đường huyết trong cơ thể tương đối ổn định. Do đó ở thời điểm ban đầu, khi chúng ta tầm soát đường huyết cao trên phụ nữ không có bị đái tháo đường thì kết quả sẽ âm tính và dễ bỏ sót nếu chúng ta không tiếp tục tầm soát và theo dõi nữa ở giai đoạn sau của thai kỳ.

Tiếp theo giai đoạn sau của tam cá nguyệt giữa và tam cá nguyệt cuối, do có sự tăng tiết các nội tiết tố tăng trưởng từ nhau, theo các nhà nghiên cứu thì chính các nội tiết tố này có liên quan đến tình trạng đề kháng insulin. Nếu lượng insulin tiết ra không đủ sẽ dẫn đến rối loạn dung nạp đường. Tình trạng này diễn tiến càng nặng khi thai càng lớn, từ đó gây ra biến chứng cho mẹ và thai nhi. Đặc biệt là những bà mẹ có các yếu tố nguy cơ thì dễ bị ĐTĐTK. Những bà mẹ có yếu tố nguy cơ: tuổi trên 35, thể trạng béo phì, tiền căn cha mẹ có bị đái tháo đường, tăng huyết áp, bản thân bị đái tháo đường, tiền căn sinh non, con to, tiền căn sảy thai, thai chết lưu mà không tìm được nguyên nhân…

Chẩn đoán

Hiện nay trên thế giới, có xu hướng tiêu chuẩn hóa toàn cầu về chẩn đoán ĐTĐTK, bằng cách sử dụng test 75g đường để chẩn đoán ĐTĐTK cho tất cả các bà mẹ mang thai, có tuổi thai 24 – 32 tuần. Nhiều quốc gia đồng thuận sử dụng ngưỡng giá trị theo tiêu chuẩn này. Test dương tính khi các giá trị có một trong các chỉ số cao hơn bình thường: đường huyết lúc đói: 5,1mmol/l, đường huyết sau khi ăn 75g đường: 10,0mmol/l và sau 2 giờ 8,5mmol/l.

Bà mẹ mang thai, ở tuổi thai 32 tuần trở đi, ở thời điểm này thông thường tình trạng rối loạn dung nạp đường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, trên mẹ và thai nhi, nên việc sử dụng xét nghiệm dung nạp đường để chẩn đoán không còn ý nghĩa.

Riêng đối với nhóm bà mẹ mang thai có yếu tố nguy cơ cao, cần thiết thực hiện xét nghiệm tầm soát sớm ngay ở tuổi thai 16 – 18 tuần, nếu kết quả âm tính, lặp lại xét nghiệm, vào tuổi thai 24 – 32 tuần, lý tưởng nhất là tuổi thai 28 tuần. Một số tác giả đề nghị, ở tuổi thai trước 24 tuần nên làm xét HbA1C (Hemoglobin A1c; HbA1c; Glycohemoglobin; Glycated hemoglobin; Glycosylated hemoglobin).

Những bà mẹ có tiền căn đái tháo đường, hoặc có yếu tố nguy cơ cần thực hiện tốt và duy trì thường xuyên chế độ dinh dưỡng và luyện tập. Luôn luôn giữ cho đường huyết ổn định và thông tin cho bác sĩ sớm về tình trạng sức khỏe bản thân để có kế hoạch phòng ngừa tốt.

Điều trị

Chăm sóc ở bà mẹ bị ĐTĐTK cần nhiều chuyên khoa: phụ sản, nội tiết, dinh dưỡng và nhi khoa.

Trong lúc mang thai: nguyên tắc chung của điều trị là điều chỉnh chế độ ăn sao cho đường huyết ở mức 5,7 – 6,1mmol/l. Các bà mẹ cần có một chế độ dinh dưỡng, vận động, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Năng lượng nhu cầu hàng ngày trung bình 1.800 – 2.500 calo, trong khẩu phần ăn giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ. Các bữa ăn cần được chia làm nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ăn no quá hay để đói quá. Khi thực hiện đúng theo nguyên tắc trên mà đường huyết ổn định thì không cần phải dùng thuốc, chỉ cần thực hiện đúng chế độ và thử đường huyết mỗi tuần 1 lần. Trường hợp đường huyết vẫn cao, phải điều trị bằng insulin có tác dụng kéo dài và theo dõi đường huyết mỗi ngày vào buổi sang lúc nhịn đói.

Về phía thai: bà mẹ được chăm sóc khám thai mỗi 2 tuần một lần, cân nặng, đo huyết áp và xét nghiệm chức năng gan, chức năng thận, phát hiện những bất thường khác để điều trị kịp thời, đánh giá sức khỏe thai bằng siêu âm Doppler, siêu âm 4 chiều, đo monitoring sản khoa, khi tuổi thai từ 36 tuần trở đi.

Trong lúc chuyển dạ: nếu đường huyết mẹ ổn định, sẽ cho chuyển dạ tự nhiên theo ngả sinh âm đạo, trừ những trường hợp có chỉ định mổ lấy thai. Trong lúc chuyển dạ sinh, cần theo dõi đường huyết mỗi 2 giờ/lần. Điều trị bằng insulin khi đường huyết tăng trên 6,8mmol/l.

Sau sinh: mẹ và bé cần được theo dõi đường huyết, vì có thể có nguy cơ hạ đường huyết. Cần có chế độ dinh dưỡng theo đúng nguyên tắc. Tiếp tục tầm soát bệnh lý ĐTĐTK sau tuần lễ thứ 6 trở đi, bằng cách tương tự sử dụng trắc nghiệm dung nạp đường 75g đường trong 2 giờ. Để có hướng điều trị tiếp.

Phòng ngừa

Bệnh lý ĐTĐTK chiếm tỉ lệ lớn trong nhóm bệnh gây ảnh hưởng lớn đến mẹ và thai nhi, tác hại không chỉ ở bản thân người mẹ mà gây hậu quả không nhỏ đến sự phát triển tâm thần và thể chất cho trẻ sau này lớn lên. Vì vậy, các biện phòng ngừa hiện nay là một chương trình cấp thiết và có tầm quan trọng cho tất cả các phụ nữ có kế hoạch có em bé, đặc biệt là những phụ nữ ở nhóm nguy cơ. Sự cần thiết phòng ngừa nhằm không mắc bệnh đái tháo đường hoặc hạn chế tối đa bệnh lý ĐTĐTK nhằm không gây hậu quả cho mẹ và thai nhi: những chất dinh dưỡng có tác dụng chống lại cơ chế sinh bệnh hoặc các rối loạn đi kèm với đái tháo đường giúp kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bao gồm chất xơ, có tác dụng làm chậm hấp thu glucose từ ruột, nên chống lại sự tăng của đường huyết sau ăn, chất xơ có nhiều trong rau xanh, trái cây không ngọt và đậu khô. Chất acid béo, có trong các loài cá biển như cá thu, cá hồi, cá cơm và cá ngừ, có tác dụng bảo vệ hệ thống tuần hoàn, bởi chất Eicosapentaenoie acid. Ngoài ra acid béo khác như Alpha Lipoic Acid (ALA), có tác dụng tăng cường sử dụng glucose và cải thiện kiểm soát đường huyết, ALA có nhiều trong bông cải xanh, trong giá đậu và đậu Hà Lan. Các loại vitamin như: E, C, nhóm B và các loại muối khoáng như: kẽm, magie, có tác dụng rất tốt, cải thiện sức khỏe, tăng cường khả năng miễn dịch, tăng cường tiêu thụ glucose giúp cho đường huyết không tăng, kiểm soát tốt đường huyết.

Việc rèn luyện thân thể, thể dục thể thao giúp cho cơ thể săn chắc, tránh béo phì, tăng cường sức khỏe,  tăng sự tiêu thụ năng lượng, tạo nên đường huyết không tăng, giảm được yếu tố nguy cơ.

(Theo suckhoedoisong.vn)

Có thể bị ung thư gan nếu dùng gừng không đúng cách

Gừng vừa là gia vị vừa là thuốc. Ngoài việc tạo thêm hương vị cho một số món ăn, gừng có thể giúp ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh.

Chống viêm: Gừng còn có tác dụng chống viêm. Thực tế, nhiều loại thuốc chống viêm thường gây ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa. Trong khi đó, ăn gừng lại có tác dụng chống viêm, ngăn ngừa loét hiệu quả.

Vì gừng chống viêm rất tốt, nên rất nhiều loại thuốc viêm khớp có chứa thân rễ gừng khô. Một nghiên cứu cho thấy phần lớn người tham gia dùng gừng để trị viêm khớp đã giảm đau và sưng rõ rệt.

Giảm đau đầu: Nhai một miếng gừng tươi khoảng 30 phút được cho giúp giảm chứng đau đầu và đau nửa đầu.

Giảm cholesterol: Gừng có tác dụng giảm lượng cholesterol. Một nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân sử dụng gừng thường xuyên trong một thời gian có thể giảm rõ rệt nồng độ cholesterol.

Kiểm soát tiểu đường: Các chuyên gia y tế yêu cầu bệnh nhân tiểu đường uống trà gừng vào buổi sáng sớm vì nó giúp kiểm soát lượng đường trong máu.

Chống stress: Tinh dầu gừng giúp giải tỏa tinh thần, loại bỏ các trạng thái căng thẳng… chóng mặt, bồn chồn và lo lắng.

Chống say xe, ốm nghén: Ăn gừng tươi trước khi đi xe, máy bay… có thể giúp ngăn ngừa các triệu chứng say tàu xe.

Nghiên cứu đã chứng minh rằng rễ gừng và tinh dầu cũng có hiệu quả chống buồn nôn, say tàu xe và nôn mửa. Trong một số trường hợp còn có thể sử dụng để giảm tình trạng nôn mửa ở phụ nữ mang thai.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Gừng có thể giúp ngăn ngừa nhiều chứng bệnh.

Ngộ độc thực phẩm: Gừng có tính sát trùng nên có thể dùng trong điều trị ngộ độc thực phẩm. Ngoài ra còn có thể điều trị nhiễm trùng đường ruột và kiết lỵ do vi khuẩn.

Trị rối loạn dạ dày: Củ gừng và tinh dầu gừng thường được sử dụng trong các trường hợp rối loạn dạ dày. Đây là một trong các biện pháp khắc phục tốt nhất cho chứng khó tiêu, đau bụng, co giật, tiêu chảy, đầy hơi và các vấn đề khác liên quan đến đường ruột. Trà gừng cũng được sử dụng để giảm bớt một số triệu chứng dạ dày và tăng cảm giác thèm ăn.

Kiểm soát tim mạch: Nhiều bác sĩ đông y cho rằng gừng có thể giúp ngăn ngừa bệnh và giúp tim mạch khỏe hơn, giúp giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu và giảm tỷ lệ đột quỵ do tim.

Rối loạn hô hấp: Do củ gừng và tinh dầu gừng tốt cho tiêu đờm, nó cũng có hiệu quả trong các vấn đề khác nhau về đường hô hấp như ho, cảm cúm, viêm phế quản, hen suyễn và khó thở.

Kinh nguyệt: Gừng giúp hỗ trợ giảm đau, điều trị ra kinh nguyệt không đều.

Bệnh sốt rét: Củ gừng và tinh dầu gừng cũng có hiệu quả trong điều trị bệnh sốt rét và sốt vàng da.

Ung thư: Gừng còn được biết đến với công dụng chống ung thư. Do vậy bạn nên bổ sung gừng vào chế độ ăn hàng ngày của mình dưới dạng viên nang hay trà gừng hoặc sử dụng như một loại gia vị trong nấu nướng.

Lưu ý khi dùng gừng:

– Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).

– Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.

– Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.

– Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

– Không nên gọt vỏ: Nhiều người gọt vỏ khi ăn gừng mà không biết rằng vỏ gừng cũng có rất nhiều công dụng chữa bệnh. Vì vậy khi ăn gừng nên rửa sạch sau đó sử dụng theo mục đích.

– Không nên ăn gừng tươi đã bị dập: Chắc chắn nhiều người không biết rằng củ gừng tươi sau khi bị dập sẽ sinh ra một loại độc tố mạnh có thể gây hoại tử các tế bào gan, lâu dần sẽ biến thành ung thư gan, ung thư thực quản.

Gừng khó bảo quản, củ gừng làm thực phẩm thì thường thu hoạch non, nhưng nếu để làm thuốc thì phải thu hoạch củ gừng già (có xơ).
Theo VnMedia

Phương pháp mới trong việc điều trị trầm cảm

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại, các nhà sinh lý học thuộc Đại học Oxford cho biết.

Kết quả của một thí nghiệm trên quy mô nhỏ của phương pháp này, gọi là phương pháp trị liệu nhân thức dựa trên sự lưu tâm (MBCT), ở những bệnh nhân bị trầm cẩm, được công bố trên tạp chí Behaviour Research and Therapy.

dieu-tri-tram-cam

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

28 người hiện mắc chứng trầm cảm, đồng thời có những giai đoạn trầm cảm trước đó cùng ý định tự tử, được ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Một nhóm được trị liệu thêm bằng MBCT ngoài những phương pháp trị liệu thông thường, trong khi nhóm còn lại chỉ nhận điều trị thông thường. Việc chữa trị bằng MBCT giảm số lượng bệnh nhân trầm cảm nặng, trong khi nhóm còn lại tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng không thay đổi.

Giáo sư Mark Williams và các đồng nghiệp thuộc Khoa tâm thần học Đại học Oxford sẽ tiếp tục công việc nghiên cứu từ những bằng chứng đáng khích lệ này. Họ hy vọng sẽ thực hiện nghiên cứu với những bệnh nhân để chứng tỏ rằng MBCT có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu của Oxford hiện đang thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn hơn so sánh MBCT với một nhóm sử dụng trị liệu thần kinh để xác định yếu tố nào hoặc phương pháp trị liệu nào phù hợp với dạng bệnh nhân khác nhau.

Giáo sư Williams, người phát triển phương pháp trị liệu này đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước việc phát hiện những điều thực sự quan trọng về việc làm thế nào các bệnh nhân có thể duy trì sức khỏe sau trầm cảm. Mục đích của phương pháp trị liệu này là giúp các bệnh nhân có được sự giải thoát về lâu dài khỏi cuộc chiến hàng ngày với trạng thái tâm lý của bản thân”.

Nguồn khoa học

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

Nguyên nhân dẫn đến viêm cơ tự phát ở trẻ

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới đau khớp trẻ em như đau mỏi xương khớp tuổi phát triển, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương…, cho đến những bệnh khớp mạn tính do một số rối loạn miễn dịch hoặc giai đoạn đầu của bệnh bạch cầu cấp. Một trong những bệnh khớp mạn tính thường gặp ở trẻ em là bệnh viêm khớp tự phát.

Bệnh viêm khớp tự phát ở trẻ em thuộc nhóm bệnh tự miễn, là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, bệnh nhân bị bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn (Chlamydia mycoplasma, Streptococcus, Salmonella, Shigella).

Bệnh này không hiếm gặp nhưng rất ít cha mẹ hiểu biết rõ nên đa số trẻ thường được đưa đến chuyên khoa khám muộn. Một số trẻ em trước khi đến Bệnh viện Nhi đã đi khám, chữa hàng năm trời ở nhiều nơi nhưng không phát hiện bệnh dẫn tới bệnh tiến triển nặng, biến dạng khớp và nhiều biến chứng khác.

nguyen-nhan-dan-den-viem-co-tu-phat-o-tre

Các triệu chứng của viêm khớp tự phát

Sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường. Trẻ có thể bị nổi ban đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, trẻ có thể bị sưng đau một vài hoặc nhiều khớp như khớp cổ tay, khớp gối, khớp háng, mắt cá chân…

Điều trị viêm khớp tự phát thế nào?

Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp, tối ưu hóa các vận động khớp nhằm đạt tới chức năng khớp bình thường cho bệnh nhân. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và dùng thuốc…

Biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu)

Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp… Tuy nhiên, trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm thuốc giảm đau thông thường, thuốc chống viêm giảm đau và các thuốc điều trị cơ bản tức thuốc tác động vào hệ thống miễn dịch của cơ thể nhằm làm giảm, khống chế quá trình viêm khớp.

Do đặc thù bệnh khởi phát ở tuổi trẻ em, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình.

Lời khuyên của thầy thuốc

Bệnh khớp tự phát ở trẻ em có khả năng gây tàn phế. Vì vậy khi thấy trẻ có những biểu hiện viêm khớp trên 6 tuần, sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng thuốc giảm đau liều thông thường cần phải đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tránh biến chứng teo cơ thậm chí tàn phế.

Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, khớp háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ nóng nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo. Ngoài các triệu chứng ở khớp ra, trẻ có thể sốt cao, phát ban, hạch to, viêm thanh mạc, viêm màng phổi…

Theo sức khỏe

Béo phì khi mang thai và giải pháp điều trị

Béo phì ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của các bà mẹ mạng thai, thậm chí nó có khả năng gây ra những biến chứng nghiêm trọng cho thai nhi. Vậy nên, cần có những phương pháp chăm sóc đặc biệt khi mang thai để đảm bảo sức khỏe của mẹ và bé.

Tại các nước đang phát triển, béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng, gặp nhiều ở thành phố hơn ở nông thôn. Ở Việt Nam, tỉ lệ thừa cân và béo phì trung bình 6 – 10%.

Những ảnh hưởng xấu ở phụ nữ có béo phì cho thai nhi

Phụ nữ có béo phì thì khả năng thụ thai rất khó khăn do kinh nguyệt không đều, chu kỳ  phóng noãn không xảy ra có tỉ lệ cao, sự hòa hợp giữa noãn và tinh trùng có nhiều bất lợi. Trường hợp, khi đã thụ thai rồi thì nguy cơ sảy thai là khá phổ biến. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng, tỉ lệ sảy có thể là do bản thân chất lượng phôi kém cộng với những thay đổi bất lơi của lớp nội mạc tử cung do béo phì.

Ngoài ra, dị tật bẩm sinh xuất hiện ở thai nhi rất cao.

Bằng chứng khoa học cho thấy trẻ được sinh ra từ những bà mẹ béo phì sẽ dễ bị mắc bệnh đái tháo đường týp 2, bệnh tim mạch và cả béo phì. Điều này có  thể do những biến đổi bên  ngoài bộ gen của phôi thai vì những thay đổi của môi trường tử cung ở bà mẹ thừa cân. Khi đến giai đoạn chuyển dạ sinh, ngôi thai bất thường, sinh khó do phần mềm quá nhiều. Bé sinh ra khả năng đề kháng kém, dễ bị nhiễm trùng sơ sinh.

Nguy cơ ảnh hưởng của thai cho bà mẹ bị béo phì

Tất cả phụ nữ khi mang thai đều có thể bị các biến chứng do thai nghén nhưng người bị béo phì sẽ phải đối mặt với nhiều biến chứng hơn. Trong thai kỳ: gặp khó khăn khi mang thai bởi sự phát triển của thai và sự phát triển của cơ thể mình làm cho họ cảm thấy nặng nề và mệt nhọc. Hệ thống cơ xương phải chịu một lúc cả trọng lượng thai và trong lượng dư thừa của cơ thể mẹ. Người mẹ có thể mắc bệnh đái tháo đường, tiền sản giật, viêm tắc tĩnh mạch, thuyên tắc mỡ do sự vận động kém do thường ở trong một trạng thái lâu không thể vận động được, gặp hiện tượng ngưng thở tạm thời lúc đang ngủ. Trong giai đoạn chuyển dạ khả năng sinh mổ nhiều hơn là sinh thường, ở giai đoạn hậu phẫu tình trạng liền sẹo chậm, dễ bị ứ dịch lòng tử cung.

Những giải pháp điều trị ở những phụ nữ béo phì muốn sinh con

Điều đầu tiên phải đi khám phụ khoa, kiểm tra hệ sinh dục và tính chất chu kỳ kinh của người béo phì. Một khi kiểm tra phụ khoa bình thường, bác sĩ chuyên khoa có những lời khuyên về khả năng thụ thai tại thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt.

benh-beo-phi-thai-phu-va-bien-phap

Bản thân có những bệnh lý có săn tư  trươc , chun g ta nên đi điêu trị tích cực và tình trạng sức khỏe ổn định rồi mới có thai. Cụ thể: bệnh đái tháo đường, nên điều trị đường huyết luôn luôn ổn định ở mức chỉ số 5,5 – 6,3mmol/l. Bệnh lý tăng huyết áp, cần điều trị khi huyết ổn định ở mức 120 – 130/ 70 – 80mmHg.

Bước kế tiếp cực kỳ quan trọng làm sao cho trọng lượng cơ thể giảm dần bằng cách chế độ luyện tập cơ thể và chế độ ăn uống ở người béo phì.

Hãy ăn ít năng lượng hơn trước bằng cách trước mỗi bữa ăn uống một ly nước khoáng, ăn một chén canh rau, hoặc ăn một đĩa rau luộc… để tạo cảm giác no, làm giảm bớt lượng thức ăn khác. Tăng cường rau xanh trong mỗi bữa ăn, ăn trái cây chín ở mức vừa phải không quá 500g/ngày, chọn loại trái cây ít ngọt, vì chúng cung cấp nhiều chất xơ có tác dụng kéo chất mỡ dư thừa ra ngoài qua phân, chống táo bón. Nên ăn thịt nạc, cá, tôm, cua, đậu, không ăn: óc heo, thận, tim, gan, lòng đỏ trứng vì những thức ăn này chứa nhiều cholesterol và chất béo khác. Khi chế biến thức ăn nên chế biến dưới dạng luộc, hấp, hạn chế chiên xào, để giảm lượng dầu mỡ vì ăn nhiều dầu thực vật cũng vẫn bị béo. Nên ăn nhiều vào bữa sáng, giảm về trưa, ăn hạn chế về buổi tối, nên ăn đều đặn không nên bỏ bữa. Cung cấp đủ vitamin và muối khoáng: những khẩu phần ăn dưới 1.200kcal thường thiếu hụt vitamin và khoáng chất cần thiết như canxi, sắt, vitamin E… Nên uống thêm viên polyvitamin và khoáng chất hàng ngày.

Nhất thiết phải có chế độ rèn luyện thể dục  thể thao hàng ngày, không nên biện lý do này, lý do kia để lẩn tránh việc luyện tập. Mỗi ngày trung bình phải có 1 – 2 tiếng đồng hồ dành cho sự luyện tập cơ thể. Cụ thể chúng ta đi bộ, chạy bộ, thể dụng nhịp điệu, bơi lặn, đạp xe… rèn luyện như thế nào để ra mồ hôi nhiều là đạt hiệu quả.

Làm gì khi người béo phì đã có thai?

Ở người béo phì sau khi xác định có thai: cần thiết đi khám bác sĩ sản khoa và bác sĩ dinh dưỡng, để lên kế hoạch chăm sóc đặc biệt. Giám sát kỹ chỉ số đường huyết, chỉ số huyết áp cũng như các thông số sinh hóa về chức năng gan, chức năng thận trong suốt thai kỳ làm sao duy trì các chỉ số luôn luôn trong giới hạn bình thường. Cụ thể làm các xét nghiệm trong 3 tháng đầu thai kỳ, để có những kết quả chính xác và hướng điều trị hợp lý. Mỗi giai đoạn của thai kỳ có những mối nguy cơ cần phải dự phòng trước để tránh xảy ra những biến chứng đó.

Ba tháng đầu khả năng sảy thai cao, cần cho thuốc dưỡng thai như Utrogestan hoặc Duphaston và thuốc chống co thắt spasmaverin hoặc spassles. Ba tháng giữa nguy cơ sảy thai to, tiền sản giật xuất hiện đái tháo đường thai kỳ… Việc theo dõi và xử trí kịp thời là khâu rất quan trọng.

Ba tháng cuối của thai kỳ nguy cơ thai kỳ đối với người béo phì vẫn luôn rình rập. Tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ, hội chứng ống cổ tay khi mang thai, giãn khớp cùng chậu và sinh non là những bệnh lý có thể xảy ra ở đối tượng trên. Điều quan trọng tuân thủ tốt theo sự chỉ dẫn và điều trị của bác sĩ.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Theo SKDS

Biến dạng khớp do viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) có thể ảnh hưởng tới hơn 20 khớp lớn nhỏ trong cơ thể và gây biến dạng khớp. Vì vậy, sau 10 năm khởi phát bệnh, có tới 10-15% bệnh nhân VKDT bị tàn phế, phải cần sự trợ giúp của người khác. Vậy những kiểu biến dạng khớp thường gặp do VKDT là gì?

Biểu hiện đầu tiên và rõ nhất của bệnh VKDT là tại các khớp. Người bệnh thường bị sưng, nóng, đỏ, đau đối xứng tại các khớp và bắt đầu từ khớp nhỏ ở ngoại biên như khớp ngón tay, khớp bàn tay, cổ tay, bàn – ngón tay, bàn – ngón chân,…

khop-bien-dang

Trong giai đoạn khởi phát, khi chưa có dấu hiệu tổn thương “bào mòn” sụn khớp và đầu xương, nếu VKDT được phát hiện sớm, điều trị đúng cách thì sẽ làm chậm được sự tiến triển của bệnh. Bước sang giai đoạn toàn phát, khớp bị tổn thương, biến dạng và khó phục hồi. Cụ thể, khớp cổ tay có thể bị sưng nề ở phía mu bàn tay, khó gấp hay duỗi bàn tay, biến dạng giống “thìa úp” hoặc như “lưng con lạc đà”. Khớp ngón tay có thể bị dính, biến dạng tạo thành ngón tay hình “cổ cò”, các ngón lệch trục về phía xương trụ tạo nên bàn tay gió thổi. Khớp gối sưng đau, hạn chế gấp duỗi, có thể có tràn dịch ổ khớp hoặc bị dính ở tư thế nửa co,… Hậu quả là người bệnh có thể mất khả năng vận động khớp, tàn phế suốt đời.

Hiện nay, bên cạnh các biện pháp điều trị thông thường, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ. Tiêu biểu cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Sản phẩm có thành phần chính là hy thiêm với tác dụng chống viêm, giảm đau khớp, kết hợp cùng nhiều dược liệu khác như: sói rừng, bạch thược,… giúp tăng cường hồi phục vận động khớp, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị VKDT, cải thiện triệu chứng và ngăn chặn nguy cơ biến dạng khớp, tàn phế do bệnh.
Để ngăn ngừa nguy cơ biến dạng khớp do VKDT, người bệnh cần phát hiện bệnh sớm, tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ kết hợp uống Hoàng Thấp Linh hàng ngày và thường xuyên xoa bóp khớp.

Theo gia đình

Nỗi thống khổ bởi bệnh vẩy nến

Những dát màu hồng sần sùi, bong tróc trên da rất ngứa, có xu hướng lan rộng ra toàn thân, dễ tái phát không chỉ làm bệnh nhân vẩy nến khó chịu mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ, giao tiếp, chất lượng cuộc sống.

Vẩy nến có chữa khỏi được không?

Vẩy nến thường xuất hiện trước tiên ở da đầu, sau đó là vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông,… Trường hợp nặng, bệnh lan ra khắp cơ thể. Những tổn thương vẩy nến xuất hiện trên da có cạnh rõ rệt, hình bầu dục hoặc tròn với màu hồng, được phủ các vẩy màu bạc, dày và đục. Bệnh nhân vẩy nến thường cảm giác xấu hổ, tự ti và che giấu làn da của mình với những người xung quanh.
Về điều trị, nếu lạm dụng thuốc bôi ngoài da, rất dễ gây tác dụng phụ như: teo da, rạn da, viêm da, độc với thận… và bệnh dễ tái phát.

noi-thong-kho-boi-benh-vay-nen

Cách tiếp cận mới giúp kiểm soát vẩy nến

Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ để hỗ trợ điều trị vẩy nến. Dẫn đầu cho xu hướng này với dòng sản phẩm đường uống là thực phẩm chức năng Kim Miễn Khang.

Bên cạnh các sản phẩm dùng đường uống, để có thể tác động trực tiếp vào vùng da bị tổn thương, bị vẩy, giúp tăng cường hiệu quả điều trị, các sản phẩm kem bôi ngoài da cũng thường được dùng phối hợp với thuốc uống, đặc biệt là các kem có nguồn gốc dược liệu như Explaq. Với đặc tính dùng ngoài da và thành phần hoàn toàn từ thiên nhiên nên kem dược liệu Explaq giúp làm sạch vẩy, mịn da, sử dụng đơn giản và không gây kích ứng da cũng như tác dụng phụ trên các cơ quan nội tạng.

Thành phần chính của kem dược liệu Explaq là chitosan được tinh chế từ vỏ các loài giáp xác như tôm, cua,… đóng vai trò là tín hiệu chuyển đến các tế bào để kích thích quá trình hình thành mô mới, giúp chống oxy hóa, kháng khuẩn, ức chế sự chết tế bào. Chitosan giúp điều chỉnh sự phân bố của dược chất, ổn định PH, tăng cường tính thấm qua da, làm trơn mịn da, bảo vệ da tránh tác động có hại từ môi trường.

Trong kem Explaq, tác dụng của chitosan càng được tăng cường khi phối hợp với cao phá cố chỉ (tác dụng làm bạt sừng); cao lá sòi, MSM- hợp chất sulfat tự nhiên (giữ ẩm cho da, nhanh liền vết thương), cao ba chạc (chống viêm, kháng khuẩn). Do vậy, sản phẩm này là công thức toàn diện, chuyên biệt giúp loại bỏ vẩy da, giảm viêm ngứa ở bệnh vẩy nến nói riêng và các bệnh vẩy da khác nói chung, giúp làn da mịn màng, trở về trạng thái tự nhiên, ngăn chặn vẩy da tái phát.

Theo gia đình

Cần sớm điều trị chứng mắt lác ở trẻ

 Lác là tình trạng lệch trục của nhãn cầu do sự mất cân bằng của các cơ vận nhãn. Lác vừa ảnh hưởng đến thẩm mỹ vừa ảnh hưởng lớn đến chức năng của mắt bị lác và chức năng phối hợp giữa hai mắt. Lác có thể có tính di truyền vì vậy trong gia đình bố hoặc mẹ cũng có thể bị lác. Lác thường kèm theo nhược thị, tật khúc xạ và bệnh toàn thân.

Trường hợp độ lác rất ít, còn gọi là vi lác rất khó phát hiện cả khi bác sĩ mắt có kinh nghiệm khám, mà chỉ phát hiện được khi kiểm tra thị lực.

mat-lac-o-tre

Điều trị lác rất phức tạp, gồm một phức hợp chỉnh quang, chỉnh thị và chỉnh lệch trục nhãn cầu. Chỉnh thị là các phương pháp tập luyện như bịt mắt lành để thị lực của mắt bị bệnh được cải thiện. Chỉnh quang là quá trình điều chỉnh tật khúc xạ, thường là đeo kính để điều chỉnh. Điều trị chỉnh thị chỉnh quang có thể trước và cả sau khi phẫu thuật và mất rất nhiều thời gian và công sức. Một số người lác không cần đến phẫu thuật mà chỉ cần điều chỉnh bằng kính và tập luyện. Còn hầu hết các trường hợp lác cần đến phẫu thuật để điều chỉnh lệch trục nhãn cầu.

Vì vậy, muốn đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị lác cần tuân thủ quy trình khám, điều trị và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa. Bạn nên cho con khám và điều trị ở bệnh viện chuyên khoa mắt.

Theo giáo dục

Báo động bệnh khô mắt ở những người làm công sở

ThS Hoàng Cương, Bệnh viện Mắt Trung ương cho biết, 60% nhân viên văn phòng mắc các bệnh lý về mắt, trong đó chủ yếu là bệnh khô mắt. Bởi người làm văn phòng thường xuyên ngồi trong phòng điều hòa và sử dụng máy vi tính nhiều. Khô mắt không phải là bệnh cấp tính nhưng được xem là một rối loạn nghiêm trọng, có thể khiến giác mạc, kết mạc bị tổn thương vĩnh viễn và dẫn tới mù lòa.

Trong vòng 1 phút mắt người sẽ chớp từ 12-18 lần, mỗi lần chớp là mắt tiết ra nước phủ lên toàn bộ mắt. Những người làm văn phòng, sử dụng máy vi tính nhiều do phải tập trung cao độ nên ít có thói quen chớp mắt khiến lượng nước mắt tiết ra rất hạn chế. Bên cạnh đó, việc ngồi cả ngày trong phòng điều hòa, độ ẩm thấp khiến nước mắt bị bay hơi nhiều dẫn tới hiện tượng khô mắt.

Khô mắt không phải là bệnh cấp tính nhưng nếu kéo dài, không được điều trị đúng cách có thể gây loét giác mạc và dẫn đến mù lòa. Thực tế, hầu hết người bệnh khô mắt chỉ đi khám khi bệnh đã nặng, giác mạc loét, kết mạc sừng hóa. Một số người có thói quen tự ý mua thuốc về nhà điều trị, điều này làm gia tăng biến chứng như đỏ mắt mãn tính, đục thủy tinh thể… gây mù lòa vĩnh viễn. Thậm chí, có bệnh nhân tự điều trị bằng các phương pháp phản khoa học làm loét, thủng giác mạc, viêm mủ nhãn cầu dẫn tới phải khoét bỏ mắt.

kho-mat

Biểu hiện khô mắt

– Cảm giác kích thích bất ổn hoặc như có dị vật trong mắt, ngứa mắt.
– Thường xuyên thấy mắt cộm, đỏ mắt, cay mắt, nóng mắt đôi khi thấy đau rát mắt.
– Hiện tượng mờ mắt xảy ra sau khi chớp mắt.
– Hiện tượng chảy nước mắt.
– Ra dử mắt dính hoặc nhiều bọt trắng ở 2 góc mắt, thỉnh thoảng mắt mờ nhòe phải chớp mắt liên tục mới hết, khó mở mắt buổi sáng nặng mi, cảm giác buồn ngủ…

Phòng ngừa khô mắt

Để phòng tránh bệnh khô mắt, những người làm việc nhiều trên máy tính nên uống nhiều nước, tránh ngồi ngay luồng gió bay ra của máy điều hòa và quạt gió, nhắm mắt lại vài giây khoảng 30 phút một lần để nước mắt tráng đều qua giác mạc. Khi thấy mắt có dấu hiệu nhức, mỏi, khô, rát người bệnh nên đến khám sớm.

Dưới đây là một điều cần thực hiện:

– Ăn trưa ngoài trời.
– Không nên nhìn quá lâu vào màn hình máy tính.
– Tắt điện thoại khi nghỉ ngơi.
– Hạn chế đeo kính áp tròng.
– Tạo độ ẩm trong văn phòng.
– Thuốc nhỏ mắt có thể làm giảm tình trạng khô mắt một cách tạm thời. Nhưng nếu bạn thường nhỏ thuốc 4 lần/ngày mà tình trạng khó chịu ở mắt vẫn không giảm thì bạn nên gặp bác sĩ.

Thực phẩm chống khô mắt

– Vậy các bà nội trợ tìm “thuốc bổ mắt” ở đâu?
– Vitamin A: có trong gan gà, vịt, heo, cá, trứng gà, trứng vịt lộn, cá chép, sữa…
– Các loại chứa -carotene: các loại trái và củ có màu vàng hay đỏ: gấc, cà rốt, đu đủ, bí đỏ, cà chua… Nó còn có trong rau có màu xanh đậm như: rau bồ ngót, dền, bông cải xanh, cải bẹ xanh, mồng tơi, rau muống.
– Vitamin C: có trong cam, chanh, quýt, bưởi, dâu tây, ổi, nho, thơm, mãng cầu xiêm, măng cụt. Nó còn có trong rau như: mồng tơi, cải bẹ trắng, ớt, hành, cà chua.
– Vitamin E: gồm các loại dầu đậu nành, hướng dương, mè, đậu phộng, mầm các loại đậu (giá đậu xanh). Nó có trong các loại hạt, măng tây, sữa, gan động vật và đặc biệt là mỡ cá.
– Thực phẩm giầu lutein: gồm bắp (ngô), cải bó xôi, cải xoăn, trứng các loại.
– Thực phẩm giàu selen: gồm các hải sản như: cá, tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hến. Nó cũng có một ít trong trứng, dầu hướng dương, dầu mè.

Theo các chuyên gia, việc điều trị triệu chứng khô mắt là rất quan trọng không chỉ trong việc lập kế hoạch để điều trị đạt hiệu quả tốt đẹp mà còn duy trì khả năng làm việc lâu dài của giác mạc mắt.

Theo giáo dục

Nghiên cứu mới điều trị ung thư vú bằng cách cắt bỏ buồng trứng

Dự án nghiên cứu điều trị bổ trợ cho bệnh nhân ung thư vú còn kinh nguyệt có thụ thể nội tiết dương tính bằng phẫu thuật cắt buồng trứng theo các pha của chu kỳ kinh nguyệt là một thử nghiệm lâm sàng  quốc tế được GS Richard Love và các cộng sự tại châu Á tiến hành từ cuối năm 2003.

Thử nghiệm lâm sàng này sau khi được các cấp có thẩm quyền của Hoa Kỳ chấp thuận, cũng đã được Bộ Y tế Việt Nam thông  qua với 3 cơ sở tham gia là Bệnh viện K, Bệnh viện đa khoa TW Huế và Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng, trong đó Bệnh viện K là cơ sở chính.
nghien-cuu-moi-dieu-tri-ung-thu-vu-bang-cach-cat-bo-buong-trung

GS Richard Love tại buổi gặp gỡ với người bệnh tại bệnh viện K

Sau 10 năm, đã có 262 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu, thực hiện được trên 5.000 lượt khám lại cho các bệnh nhân trong chương trình nghiên cứu, cấp hơn 450.000 viên tamoxifen cho người bệnh.

Trong buổi chiều ngày 10/12, GS Love và các thầy thuốc tại Bệnh viện K có gặp gỡ trao đổi với các bệnh nhân ung thư vú đã và đang được điều trị tại Bệnh viện K. Nội dung cuộc gặp mặt xoay quanh những thành tựu về điều trị nội tiết ung thư vú đã và đang được áp dụng trên thế giới và Bệnh viện K. Theo đó việc áp dụng điều trị nội tiết bằng cắt buồng trứng và tamoxifen cho BN tại Bệnh viện K đã nâng tỷ lệ sống thêm không bệnh từ 58% lên 75%.

Điều trị nội tiết là một phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân ung thư vú. Bên cạnh đó, điều hết sức có ý nghĩa là chi phí cho điều trị nội tiết lại tương đối rẻ hơn so với các phương pháp khác, điều rất quan trọng cho bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế còn hạn chế.

Đánh giá về các hoạt động và đóng góp của GS Love, PGS.TS Bùi Diệu, Giám đốc Bệnh viện K cho rằng GS Love đã có những cống hiến quan trọng giúp nâng cao trình độ năng lực chuyên môn tại Bệnh viện K, góp phần đưa việc chẩn đoán và điều trị ung thư vú tại đây ngang tầm với các nước tiên tiến, đồng thời giúp cứu sống hàng nghìn bệnh nhân ung thư vú.

Nguồn dân trí

Điều trị dứt điểm ung thư hạch

Cơ thể chúng ta được hình thành bởi rất nhiều các bộ phận nhỏ, phân bố rộng nhất là các tế bào hạch, vai trò của hạch là tiêu diệt các tế bào già yếu hoặc bị hỏng cho cơ thể, bảo vệ một cơ thể khoẻ mạnh và sạch. Vai trò của hạch không thể coi nhẹ, cho đến những phút cuối cùng của sự sống thì các tế bào hạch vẫn luôn hoạt động, vì thế khi hạch có biến chứng thành tế bào ác tình và trở thành ung thư hạch, như vậy chúng ta cần điều trị sớm, dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những phương pháp điều trị ung thư hạch.

Về việc điều trị thì hiện nay áp dụng cách điều trị tổng hợp, đó là dựa vào các khối u khác nhau, loại bệnh lý khác nhau và thời kì bệnh khác nhau mà ứng dụng một cách có kế hoạch, hợp lý các phương pháp điều trị hiện có, bảo vệ cơ thể tốt nhất, tiêu diệt tế bào ung thư một cách tốt nhât, đạt hiệu quả điều trị cao, cải thiện chất lượng cuộc sống. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng trong việc điều trị u hạch ác tính bao gồm phẫu thuật ngoại khoa, xạ trị, hoá trị, đông y… phẫu thuật kếp hợp với hoá xạ trị có hiệu quả điều trị tốt đối với u hạch ác tính, thuốc đông y có tác dụng tăng cường và hồi phục chức năng miễn dịch của cơ thể, điều chỉnh khả năng kháng bệnh, tăng hiệu quả điều trị và giảm các tác dụng phụ do hoá xạ trị đem lại.

1 Phẫu thuật

Thông thường sẽ làm phẫu thuật cắt bỏ khối u hạch ác tính đới với các hạch ở não, tuỷ, khoang mắt, tuyến lệ, tuyến giáp, phổi, gan, rồi kết hợp với xạ trị, hoá trị. Đối với hạch ác tính ở thận, bang quang, tinh hoàn, buồng trứng, tử cung, da, vú thì sẽ phẫu thuật trước, sau đó kết hợp với hoá trị, xạ trị.

dieu-tri-dut-diem-ung-thu-hach

2 Xạ trị

– Hodgkin: phương pháp chiếu xạ chủ yếu ứng dụng nhiều dạng nón hoặc chữ “Y” ngược , trong khi điều trị cần bảo vệ các cơ quan quan trọng.

– Ung thư hạch non Hodgkin: ung thư hạch non Hodgkin cũng nhạy cảm với xạ trị, nhưng tỷ lệ tái phát cao. Những ổ bệnh nguyên phát của ung thư hạch non Hodgkin như ở amidan, khoang mũi hay tế bào tổ chức xương nguyên phát, sai khi xạ trị cục bộ có thể có được sự thuyên giảm trong một thời gian dài khá lý tưởng.

3 Hoá trị

– Có thể làm giảm số lượng tế bào hạch, và khống chế hạch phát triển trong một thời gian nhất định.
– Làm giảm các triệu chứng của ung thư hạch, làm bớt đau đớn cho bệnh nhân.
– Hoá trị có thể kìm chế tế bào ung thư sinh sản và tiêu diệt tế bào ung thư hạch ở một mức độ nhất định
– Bổ trợ cho phẫu thuật hoặc xạ trị, nâng cao hiệu quả điều trị.

4 Miễn dịch sinh học

Phương pháp điều trị miễn dịch sinh học là lợi dụng tác dụng tương hỗ giữa hệ miễn dịch của cơ thể với các tế bào ung thư, thông qua quá trình làm tăng sức đề kháng của hệ miễn dịch đối với tế bào ung thư để kìm chế hoặc tiêu diệt sự phát triển của khối u.

5 Đông y

Trong quá trình điều trị tổng hợp, đông y chủ yếu có tác dụng tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ, tăng khả năng miễn dịch cho bệnh nhân ung thư hạch. Khi chỉ áp dụng đông y để điều trị ung thư hạch, chủ yếu là khống chế tế bào ung thư, làm giảm các triệu chứng lâm sàng, cải thiện sức khoẻ, nâng cao chất lượng sống và kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư hạch.

Việc sử dụng đông y cần phải dựa vào đặt điểm trên cơ thể của bệnh nhân ung thư hạch, mà không phải chỉ dựa vào bản thân ổ bệnh ung thư. Điều tiết của Đông y có thể điều chính sự mất cân bằng trong cơ thể, xoá bỏ yếu tố gây tái phát, giảm cơ hội di căn; tiếp theo, đông y làm tổn thương ít đến các tế bào khoẻ mạnh, thông thường sẽ không có những tổn hại mới do việc điều trị gây nên, trong khi có thể có những chuyển biến tốt thì thể lực cũng sẽ dần dần được hồi phục, dần dần tăng khả năng miễn dịch.

Ung thư hạch nếu không được điều trị thì có thể sống được 6 tháng đến 1 năm, nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực thì có thể nâng cao hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng sống.

Nguồn sức khỏe đời sống

Mẹo chữa viêm xoang hiệu quả

Xông các xoang, chườm ấm, đun sôi lá chanh để súc miệng… là những biện pháp tốt cho bệnh nhân viêm xoang.

Viêm xoang là bệnh khá phổ biến, do vi khuẩn hoặc virus gây nên. Một số triệu chứng thường gặp của bệnh là nghẹt mũi, nhức đầu dữ dội, đau mặt, chảy nước mũi… Bệnh gây ra nhiều phiền toái rất lớn vì thường kéo dài, phải điều trị phức tạp. Theo Medic Magic, bạn có thể thử một vài biện pháp điều trị bệnh tự nhiên, đơn giản, dễ dàng mà không có tác dụng phụ như dưới đây.

Xông xoang bằng tinh dầu bạch đàn
meo-chua-viem-xoang-hieu-qua
Nhỏ một vài giọt tinh dầu bạch đàn trong một bát nước nóng. Trùm một chiếc khăn phủ đầu bạn và cái bát, sau đó hít hơi nước bằng mũi. Điều này giúp bạn làm sạch chất nhầy và cảm thấy dễ chịu ngay lập tức.

Nghỉ ngơi, ngủ đủ giấc

Biện pháp khắc phục đơn giản nhất của bệnh viêm xoang là nghỉ ngơi. Ngủ nhiều như bạn có thể. Điều này giúp cơ thể chống lại các viêm nhiễm và phục hồi nhanh chóng.

Uống nhiều nước
meo-chua-viem-xoang-hieu-qua1
Uống nhiều nước như nước ép trái cây và nước. Nước là biện pháp khắc phục tốt nhất để rửa sạch các chất nhầy. Chính những chất nhầy này khiến ta khó thở, khó chịu. Tuy nhiên, bạn cần tránh uống rượu, nếu không bệnh của bạn sẽ trầm trọng hơn.

Chườm ấm

Đắp khăn ướt ấm xung quanh mũi, đầu, mặt và mắt để giảm đau, giúp chất nhầy dễ thoát hơn.

Dầu dưỡng lá chanh
meo-chua-viem-xoang-hieu-qua2
Bạn có thể đun sôi lá chanh khô khoảng 10 phút. Sau đó lọc hỗn hợp và sử dụng dung dịch này để súc miệng. Nó là sự cứu trợ tuyệt vời với những ai bị viêm xoang.

Ngoài các biện pháp nói trên, bạn cũng cần thực hiện chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng để tăng sức đề kháng.

Theo VnExpress

Biện pháp giảm đau lưng ở dân văn phòng

Ngồi lâu ở một vị trí trong thời gian dài, sai tư thế, ít vận động,… là những yếu tố góp phần gây nên tình trạng đau lưng ở nhân viên văn phòng. Nghiêm trọng hơn, tình trạng này kéo dài có thể gây một số bệnh xương khớp, trong đó có thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ).

Là nhân viên văn phòng tại một công ty du lịch ở Hà Nội, anh Nam thường xuyên phải ngồi trong một tư thế liên tục 8 tiếng làm việc. Ban đầu, anh có cảm giác đau mỏi ở thắt lưng nhưng sau một thời gian, cơn đau trở nên dữ dội hơn và thường xuyên tái phát khiến anh khó tập trung, ảnh hưởng tới công việc. Khi đi khám tại bệnh viện, bác sĩ cho biết anh đã bị TVĐĐ và nếu không điều trị sớm thì có thể phải phẫu thuật.
daulung
Theo các chuyên gia, TVĐĐ cột sống thắt lưng là nguyên nhân phổ biến gây nên hiện tượng đau lưng ở những người làm công việc văn phòng với các triệu chứng điển hình như: đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân, bàn chân,…

Để tránh bị đau lưng do TVĐĐ, nhân viên văn phòng cần ngồi đúng tư thế, điều chỉnh chiều cao của ghế ngồi phù hợp, thường xuyên thay đổi tư thế, vận động đi lại,… Khi tình trạng đau lưng kéo dài, ảnh hưởng tới sức khoẻ thì người bệnh cần đi khám và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ như dùng thuốc, vật lý trị liệu hay phẫu thuật.

Hiện nay, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học để phòng ngừa và giảm triệu chứng đau lưng do TVĐĐ, điển hình là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương. Với thành phần chính là dầu vẹm xanh có tác dụng tăng cường sức đề kháng và độ chắc khỏe của xương, kết hợp cùng nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Cốt Thoái Vương có tác dụng giảm đau lưng, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, ngăn chặn tái phát các cơn đau do TVĐĐ.

Bên cạnh việc duy trì sử dụng Cốt Thoái Vương, người bệnh nên có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, vận động nhẹ nhàng và áp dụng một số biện pháp vật lý trị liệu,… nhằm giúp cột sống chắc khỏe, đẩy lùi tình trạng đau lưng do TVĐĐ.

Nguồn gia đình

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Bên cạnh các phương pháp điều trị thông thường, hiện nay, những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Điển hình cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương.

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Theo thông tin đăng trên tạp chí Y dược lâm sàng tập 5 – số 6/2010 (bệnh viện TƯ Quân đội 108) về nghiên cứu “Tác dụng hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Cốt Thoái Vương” do GS.TS Nguyễn Văn Thông – Chủ nhiệm khoa Thần kinh, bệnh viện TƯ Quân đội 108 cùng các cộng sự thực hiện trên 141 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được chia thành 2 nhóm: nhóm I gồm 85 bệnh nhân điều trị theo phác đồ thông thường (vật lý trị liệu, dùng thuốc giảm đau chống viêm; tiêm hydrocortisone ngoài màng cứng) kết hợp với Cốt Thoái Vương 4 viên/ ngày; nhóm II có 56 bệnh nhân chỉ điều trị phác đồ thông thường. Kết quả cho thấy: Nhóm không dùng Cốt Thoái Vương: kết quả rất tốt và tốt 23,2%, khá 21,4%. Nhóm có sử dụng Cốt Thoái Vương đạt kết quả giảm đau, cải thiện vận động cột sống thắt lưng rất tốt và tốt chiếm 23,53%, khá 40,0% cao hơn nhóm đối chứng. Sản phẩm Cốt Thoái Vương không gây tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Tác dụng của Cốt Thoái Vương có được là nhờ sự phối hợp từ các thành phần thiên nhiên, đặc biệt là thành phần chính dầu vẹm xanh giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương và nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Do đó, sản phẩm giúp giảm đau, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nói riêng và các bệnh lý về cột sống nói chung.

Kết quả nghiên cứu trên đã phản ánh tín hiệu tích cực khi dùng Cốt Thoái Vương để hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời có thêm lựa chọn khả quan cho các bác sĩ cũng như người bệnh.

Minh Trí

Theo sức khỏe đời sống

Xử lý bé bị chảy máu cam

Khoang trong của mũi chứa nhiều mạch máu nhỏ, khi khu vực này bị khô (hoặc bị kích thích) sẽ dẫn tới hiện tượng chảy máu. Các yếu tố gây nên chứng chảy máu cam ở bé là dị ứng, bé bị cảm lạnh, bé bị nhiễm trùng xoang, mũi của bé thiếu độ ẩm và những kích thích khác (ngoáy mũi, có vật lạ trong mũi, bị chấn thương mũi). Thỉnh thoảng, nguyên nhân gây chảy máu có thể do trục trặc ở kết cấu mũi; ví dụ, cấu trúc dị thường hoặc sự phát triển không bình thường ở mũi.

Dùng khăn sạch, mềm dịt mũi bé khi bé bị chảy máu cam

Gợi ý cách cầm máu

chay-mau-cam

Trước tiên, bạn nên bình tĩnh, dỗ dành bé. Chảy máu cam là dấu hiệu dễ gặp nhưng hiếm khi để lại hậu quả nghiêm trọng. Bạn nên ôm bé trong lòng và khẽ nghiêng người bé, ngả về phía sau. Tiếp đến, bạn dùng một chiếc khăn sạch, mềm thấm và dịt nhẹ vào lỗ mũi của bé. Bạn có thể giữ động tác này trong vài phút, cho đến khi máu ở mũi bé ngừng chảy. Cùng thời gian này, bạn có thể “gây nhiễu” sự chú ý bằng cách hát cho bé nghe, cho bé xem một cuốn sách hoặc phim hoạt hình (tùy vào độ tuổi của bé). Sau vài phút, bạn thử kiểm tra xem bé còn chảy máu nữa không. Nếu máu còn chảy, bạn có thể dùng một chiếc khăn sạch, mềm khác, tiếp tục dịt vào lỗ mũi bị chảy máu cho bé.

Dùng khăn sạch, mềm dịt mũi bé lại.

Lưu ý: Không nên nghiêng người bé quá mức, không đặt bé nằm ngửa vì máu từ lỗ mũi của bé có thể chảy xuống cổ họng, gây nên vị khó chịu và làm bé bị nôn (trớ). Cũng không nên dùng bông để cầm máu cam, vì khi máu thấm vào bông sẽ làm cục bông tăng thể tích, có thể gây nghẽn ở mũi bé.

Ngăn ngừa

Nếu không khí trong phòng trở nên khô, bạn có thể dùng máy tạo độ ẩm cho bé. Không nên cho bé nhét bất kỳ vật gì vào lỗ mũi. Nếu bé có thói quen ngoáy mũi, bạn nên tìm cách giữ cho đôi tay của bé được bận rộn. Trao đổi với bác sĩ nếu bạn cho rằng bé mắc dị ứng – yếu tố có thể gây nên chứng chảy máu cam. Bạn cũng có thể hỏi ý kiến bác sĩ về dung dịch muối, để nhỏ mũi và vệ sinh mũi cho bé.

Dấu hiệu phải lo lắng

Thông thường, hiện tượng chảy máu cam ít nguy hiểm. Các bé dễ bị chảy máu cam trong thời tiết mùa đông, khi không khí trở nên khô và cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn hơn. Bạn cũng có thể nhận thấy những vệt máu khô, chảy ra từ mũi của bé vào buổi sáng (do bé chảy máu cam khi ngủ).

Tuy nhiên, nếu bé xuất hiện những dấu hiệu sau, bạn nên đưa bé đi khám:

– Chảy máu cam sau khi bé bị ngã hoặc do bị va đập vào vùng đầu hoặc vùng mũi.

– Bé bị mất khá nhiều máu do chảy máu cam. Ngay khi bạn nhận thấy việc cầm máu cho bé không thành công, bạn nên nhanh chóng đưa bé đi khám.

– Bé dùng một loại thuốc mới, sau đó bé bị chảy máu cam không ngừng.

– Bé chảy máu cam thường xuyên.

– Vừa chảy máu cam, bé vừa bị chảy máu ở bộ phận khác trên cơ thể (chẳng hạn ở lợi).

Điều trị

Đầu tiên, bác sĩ sẽ tiến hành kiểm tra mũi của bé bằng một loại đèn chiếu sáng đặc biệt. Bé có thể được chỉ định nhỏ dung dịch muối, giúp co khít các mạch máu; hoặc bác sĩ sẽ dùng những miếng bông có tẩm thuốc dịt vào mũi, giúp cầm máu.

Nếu bé xuất hiện chấn thương ở đầu hoặc ở mũi, bác sĩ sẽ kiểm tra vết thương có bị sưng phù hay không. Đồng thời, bác sĩ cũng sẽ kết luận về tình trạng xương mũi và xương sọ của bé. Dùng một miếng gạc mát, chườm sống mũi cho bé cũng có tác dụng giúp cầm máu. Nếu các phương pháp trên không hiệu quả, bạn nên đưa bé đi khám.

BS. NGỌC HUÊ, Sức khỏe đời sống

Những bệnh ung thư chị em hay mắc phải

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

Theo Giáo sư Jeff Sisler tại Đại học Manitoba: “Tầm soát ung thư cần thiết cho bất kỳ ai, kể cả những người khỏe mạnh và không có dấu hiệu bị bệnh”. Ông đặc biệt nhấn mạnh việc tầm soát ung thư cần thiết cho cả những người khỏe mạnh, chứ không phải cho những người đã nổi hạch hay ho ra máu, bởi theo ông “đó đã là dấu hiệu chung của người bị bệnh, không cần phải kiểm tra nữa.”

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

1. Ung thư vú

Theo Giáo sư Sisler, phụ nữ nên thực hiện tầm soát ung thư vú từ độ tuổi 50 và nên tiếp tục thực hiện 2 năm một lần. Tuy nhiên cũng có một số khuyến cáo cho rằng, bạn nên thực hiện việc tầm soát ung thư khi bạn bước vào độ tuổi 40.

Bạn có nên làm xét nghiệm kiểm tra? “Nhìn chung, với mọi loại ung thư, yếu tố nguy cơ lớn nhất là tuổi tác”, theo quan điểm của giáo sư Sisler, “yếu tố thứ hai là lịch sử gia đình. Bạn sẽ có nguy cơ mặc bệnh cao hơn nếu trong gia đình bạn có người đã bị ung thư”.  Vì vậy, nếu gia đình bạn đã có người bị ung thư vú, thì bạn nên thực hiện xét nghiệm sàng lọc ung thư vú sớm hơn.

2. Ung thư ruột kết và ung thư trực tràng

Cũng như ung thư vú, các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư ruột kết và ung thư trực tràng là tuổi tác, lịch sử gia đình và béo phì. Vì vậy bạn nên làm tầm soát ung thư ruột kết và ung thư trực tràng khi bạn 50 tuổi và nên tiếp thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

5-benh-ung-thu-chi-em-can-het-suc-chu-y

Nhưng hãy nhớ rằng, nếu gia đình bạn đã có người bị hai loại ung thư này, thì bạn nên thực nghiệm xét nghiệm sàng lọc sớm hơn vì như vậy có nghĩa là bạn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người không có tiền sử bệnh trong gia đình.

3. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 10 đối với mọi phụ nữ và là ung thư phổ biến thứ 3 đối với phụ nữ từ 29- 40 tuổi. Ung thư cổ tử cung có thể dễ dàng được phát hiện qua việc xét nghiệm sàng lọc tế bào cổ tử cung (pap smear) thường xuyên.

Sàng lọc ung thư cổ tử cung nên thực hiện sớm hơn so với các loại ung thư khác. Bạn  nên bắt đầu thực hiện việc sàng lọc này từ 2-3 năm sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên và nên thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

4. Ung thư phổi

Chụp cộng hưởng từ là phương pháp chính để phát hiện ung thư phổi. Nhưng đến nay, do chi phí và có một số ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe nên phương pháp này đã bị cấm.

Theo Giáo sư Sisler, hiện chưa có phương pháp tầm soát nào đối với ung thư phổi, ngay cả đối với những người nghiện thuốc lá. Vì vậy, biện pháp tốt nhất để phòng ngừa ung thư phổi là không hút thuốc lá, hạn chế tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

Nếu bạn thấy có đồng thời có các dấu hiệu như ho, ho ra máu, viêm phế quản, viêm phổi tái diễn nhiều lần, khó thở, đau ngực, khàn giọng, khó nuốt… thì bạn nên đi khám ngay vì đó hoàn toàn có thể là những triệu chứng bất thường ở phổi, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ dẫn đến ung thư phổi.

Theo afamily

Bài thuốc dân gian trị đau răng

Có rất nhiều nguyên nhân gây đau nhức răng như sâu răng, viêm lợi, nướu răng,… Người bệnh cần khám tại cơ sở y tế chuyên khoa để xác định nguyên nhân và điều trị triệt để. Trong quá trình điều trị để răng đỡ đau và đạt kết quả nhanh có thể dùng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả vải phơi khô 20g, rễ lá lốt 20g, đổ một bát nướcsắc lấy nước đặc. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Bài 2: Lá trầu không, củ nghệ vàng, búp bàng, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, giã nhỏ, ngâm với rượu. Khi dùng đem đun cách thuỷ (đậy kín nút chai để rượu không bay hơi) cho sôi 30 phút rồi lấy ra để nguội. Ngậm (súc miệng) trong 5 – 10 phút hay dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ đau, sau nhổ nước thuốc đi. Hoặc lấy vài lá trầu không, rửa sạch, thêm ít muối, giã nhỏ, hoà vào một chén rượu. Gạn lấy nước trong để ngậm liên tục tới khi giảm đau nhức.

nghe-vang

Bài 3: Vỏ thân cây gạo 50g, thạch xương bồ 50g, sắc lấy nướcđặc để ngậm. Trước khi ngậm cho thêm vài hạt muối.

Bài 4: Vỏ trắng của cây ruối 100g, rượu 100ml. Cạo vỏ ngoài,thái nhỏ cho vào rượu ngâm, ngày ngậm 4 – 5 lần, dùng trong 2 – 3 ngày liềnhoặc sắc nước lá ruối hòa với một ít muối để súc miệng.

Bài 5: Hoa tươi của cây cúc áo 50g hoa ngâm với 300ml rượu trắng. Ngâm trong 10 – 15 ngày là được. Khi bị đau răng ngậm một ít rượu này trong vài phút, sau đó nhổ đi và súc miệng sạch. Ngày ngậm 5 – 10 lần.

Bài 6: Nhân hạt gấc nướng chín vàng, tán bột, trộn với một ít dấm thanh, chấm vào chỗ răng đau. Chỉ cần chấm vài lần vào buổi chiều là đêm hết đau và có thể ngủ được.

Bài 7: Vỏ thân cây trám trắng, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô, lấy 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước. Ngày làm nhiều lần.

Bài 8: Lấy rễ lá lốt, rửa thật sạch, giã nát với mấy hạt muối, vắt lấy nước cốt, dùng bông sạch chấm vào răng đau, ngậm 2 – 3 phút rồi súc miệng bằng nước muối. Ngày chấmthuốc 3 – 5 lần.

Bài 9: Vỏ thân cây sao đen 100g, cạo bỏ lớp bẩn thô bênngoài, rửa sạch, thái mỏng, sắc đặc, ngậm khi răng đau. Có thể phối hợp hai vịlá lốt và sao đen, 2 vị bằng nhau, sắc đặc, ngậm khi răng đau nhức, tác dụnggiảm đau nhanh hơn.

Theo Bác sĩ Thu Vân
SKĐS

Sỏi mật – nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật

Sỏi mật là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn gan mật, khi có biến chứng bệnh rất dễ gây tử vong.

Sự hình thành sỏi có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng chuyển hóa trong gan (nơi mật được tạo thành). Ngoài ra còn có một số yếu tố như: viêm nhiễm, ứ trệ dịch mật; nhiễm ký sinh trùng và chế độ ăn giàu chất béo… tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình tạo sỏi.

Sỏi gây cản trở sự lưu thông của dịch mật, khiến cho hệ tiêu hóa giảm khả năng hấp thu chất béo, dẫn đến tình trạng đầy trướng, chậm tiêu, khó tiêu. Mặt khác, sỏi di chuyển gây nên các cơn đau quặn mật, quặn gan, viêm đường mật, túi mật. Đây là nguyên nhân chính khiến người bệnh phải nhập viện.

soi-mat

Tái phát sỏi – vấn đề nan giải
Mục tiêu trong điều trị là loại bỏ sỏi nhằm khơi thông đường mật, làm giảm các triệu chứng do sỏi gây ra đồng thời tăng cường các biện pháp dự phòng tái phát sỏi.

Thực tế, để đạt được mục tiêu này không hề đơn giản. Thuốc làm tan sỏi phải sử dụng với thời gian dài (từ 6 tháng đến 2 năm), tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa làm quá trình điều trị bị gián đoạn hoặc kém hiệu quả. Các biện pháp can thiệp ngoại khoa (mổ hở, nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể) có thể giúp việc lấy sỏi một cách hữu hiệu hơn, nhưng khó khả thi nếu sỏi nằm ở vị trí hiểm hóc như ở đường dẫn mật trong gan. Đặc biệt, tỷ lệ tái phát sỏi cao (30-50% sau điều trị) khiến cho việc điều trị càng trở nên nan giải.

Giải pháp tháo gỡ  từ thiên nhiên
Quan điểm của đông y coi cơ thể là một khối thống nhất, mọi hoạt động của các cơ quan trong cơ thể luôn đồng bộ và tác động qua lại lẫn nhau. Hoạt động của hệ thống gan – mật cũng không nằm ngoài quy luật đó. Vì thế trong điều trị cần hướng tới sự cân bằng chức năng của toàn hệ thống, loại bỏ sỏi chỉ là giải pháp tình thế chứ chưa giải quyết được tận gốc vấn đề.

Kim Đởm Khang là sản phẩm được phát huy và kế thừa triết lý đó để mang lại giải pháp toàn diện giúp bài sỏi, làm giảm triệu chứng do sỏi mật gây ra. Đặc biệt với các thành phần tăng cường chức năng gan (Diệp hạ châu, nhân trần), tăng khả năng tiết mật & lưu thông dịch mật (Uất kim,chi tử, chỉ xác), chống viêm (Sài hồ, Hoàng bá) sẽ giúp hạn chế tái phát sỏi cũng như biến chứng nhiễm khuẩn gan mật do sỏi gây ra. Đây là hy vọng mới cho người bệnh trong cuộc chiến nhằm chống lại sỏi mật cũng như dự phòng tái phát sỏi.

Nghiên cứu Kim Đởm Khang kết luận: Tỷ lệ tái phát sỏi đường mật trong gan, sỏi ống mật chủ giảm; các triệu chứng lâm sàng (đau, sốt, vàng da) cải thiện rõ rệt sau 3 tháng sử dụng. Sản phẩm sử dụng an toàn, chưa thấy tác dụng phụ sau 6 tháng sử dụng.

Theo sức khỏe đời sống

Điều trị nhiễm nấm bằng chế độ ăn

Nấm da thường phát triển ở những vùng như gốc móng tay, quanh răng, vùng bụng dưới, âm đạo và khe kẽ giữa các nếp gấp da gây ngứa và rát. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào.

Nấm da thường phát triển ở những vùng như gốc móng tay, quanh răng, vùng bụng dưới, âm đạo và khe kẽ giữa các nếp gấp da gây ngứa và rát. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào.
Nhiễm nấm men, còn gọi là nấm Candida, hay xảy ra ở âm đạo và có thể lây sang nam giới khi quan hệ tình dục. Hiện có nhiều thuốc có thể điều trị hiệu quả bệnh nấm âm đạo, tuy nhiên người bệnh cần đi khám chứ không nên tự ý mua thuốc về dùng, vì việc sử dụng thuốc không đúng có thể làm cho nấm phát triển mạnh hơn.

Dưới đây là những thực phẩm góp phần giúp cho việc phòng và điều trị nhiễm nấm hiệu quả:

1. Giấm táo

Giấm táo rất tốt vì nó có thể tiêu diệt hoàn toàn nấm men và chứa cái dấm có lợi cho sức khỏe. Do đó bạn có thể pha 6 thìa cà phê giấm táo vào nước và uống hằng ngày hoặc trộn với rau, salát hoặc thức ăn. Bạn cũng có thể pha giấm táo với mật ong và uống hằng ngày.
nhiem-doc-da
2. Sữa chua

Sữa chua nguyên chất không đường cũng giúp điều trị nhiễm nấm. Bạn có thể ăn sữa chua sau bữa ăn chính vì nó giúp ích cho tiêu hóa.
Có thể dùng men sữa chua để tự làm sữa chua ở nhà. Thậm chí bạn có thể làm sữa chua từ các loại sữa khác như hạnh nhân và đậu nành.

Gừng

Gừng cũng rất có tác dụng trong điều trị nhiễm nấm. Bạn có thể nghiền nhỏ các lát gừng và uống cùng với nước, hoặc cho thêm vào thức ăn khi nấu nướng. Là một loại kháng sinh tự nhiên, bạn cũng có thể dùng nước ép gừng pha với ajoene 1% để bôi lên vùng bị nấm.

4. Nước

Nước cũng có tác dụng điều trị nấm men, vì vậy bác sĩ thường khuyên bạn uống 8 cốc nước mỗi ngày. Bạn càng uống nhiều nước thì nấm sẽ càng giảm nhanh. Lượng nước tiểu tăng lên sẽ giúp rửa sạch loại đường là môi trường cho nấm phát triển. Tốt nhất là dùng nước sạch tự nhiên để không có độc chất.

5. Chế độ ăn ít carbonhydrat (chế độ ăn low-carb)

Phụ nữ có thể khắc phục tình trạng nhiễm nấm nếu ăn nhiều những thực phẩm trong chế độ ăn low-carb như rau xanh, cá, trứng, đậu lăng, các loại hạt, thịt gia cầm và thịt bò. Đừng ăn lạc, hạt điều và những loại rau nhiều tinh bột. Không ăn phomát vì nó có chứa nhiều nấm men. Chọn những loại thực phẩm không có gluten để thay thế cho bột mì.

Cùng với những biện pháp trên, bạn cũng cần giữ gìn vệ sinh sạch sẽ để tránh lây nhiễm nấm cho người xung quanh.

Theo gia đình