Tag Archives: điều trị ung thư

Ung thư vú âm tính cấp độ 3

Theo kết quả nghiên cứu vừa được đăng tải ngày 5/4 trên tạp chí khoa học danh tiếng Nature, một nhóm các nhà khoa học đến từ trường Đại học Simon Fraser có trụ sở tại Vancouver (Canada) đã phát hiện ra căn bệnh ung thư vú âm tính cấp độ ba, một dạng ung thư vú hiếm gặp có tính đa dạng di truyền trong khối u của nó.

Điều này có thể là đầu mối giúp các nhà khoa học tìm ra những liệu pháp mới trong điều trị căn bệnh chết người này.

Qua phát hiện mới các nhà khoa học đã lý giải được tại sao căn bệnh ung thư vú cấp độ ba chỉ chiếm 16% trong tất cả các dạng ung thư vú khác lại khó chữa đến thế.

ung-thu-vu-cap-3

Một nhóm gồm 59 nhà khoa học trên toàn thế giới, trong đó có 4 người đến từ Đại học Simon Fraser (SFU),Vancouver đã phát hiện ra điều này khi họ tiến hành phân tích mẫu gene lớn nhất lấy từ một khối ung thư vú âm tính cấp độ ba.

Khi phân tích mẫu gene trên họ mong rằng, sẽ thấy một mô hình gene tương tự với các bộ gene của một trăm khối u khác khi được phân lập và phác họa biểu đồ trên máy tính. Thế nhưng những gì họ phát hiện ra lại hoàn toàn gây bất ngờ. Gene lấy từ tế bào ung thư vú âm tính cấp độ ba có khả năng biến đổi và đa dạng hóa.

Steven Jones, giáo sư ngành hóa sinh đến từ Học viện sinh học phân tử, đồng tác giả của nghiên cứu trên, cho biết: “khi nghiên cứu những khối u ở cấp độ phân tử đã chỉ cho chúng tôi thấy rằng phụ nữ đang phải đối mặt với nhiều dạng khác nhau của căn bệnh ung thư vú, vì chúng không chỉ có một”.

Phát hiện đã mở ra hy vọng cho các chuyên gia y tế trên con đường tìm ra những phương pháp mới điều trị căn bệnh nguy hiểm này trong thời gian sớm nhất.

Các nhà khoa học xem ung thư vú âm tính cấp độ ba là nguy hiểm nhất trong các dạng ung thư vú vì các liệu pháp thuốc hiện đại dường như bị nó “đánh bại”. Thông thường, bệnh nhân mắc dạng ung thư vú này cần phải thử nhiều cách điều trị như hóa trị, xạ trị và phẫu thuật để có thể có được bất kỳ hy vọng sống sót nào.

Theo Vietnam+

Hóa trị – Xạ trị không còn là nỗi lo với bệnh nhân ung thư

 Ung thư hiện nay vẫn đang là một gánh nặng cho toàn cầu. Một căn bệnh nguy hiểm mà khoa học vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị.
Theo thống kê của cơ quan Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Tế (IARC), năm 2008, trên thế giới có 12,7 triệu người mắc bệnh ung thư, 7,6 triệu người đã chết vì căn bệnh này. Chỉ tính riêng ở Việt Nam, trong năm 2008, cứ 100.000 người dân thì có 138,7 người mắc bệnh ung thư, trong đó có 101 người tử vong. Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới chủ yếu phẫu thuật cắt bỏ khối u, kết hợp với truyền hoá chất trị liệu và xạ trị.

Tuy vậy ngoài tác dụng tích cực của hoá trị và xạ trị là tiêu diệt tế bào ung thư song vẫn còn nhiều tác dụng phụ gây tổn hại cho những tế bào lành, tế bào vùng lân cận, nhất là tế bào máu được tạo ra từ tuỷ xương, tế bào chân tóc, tế bào trong miệng, đường tiêu hoá, trong tim, phổi, và hệ thống sinh sản, ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ người bệnh.

hoa-tri-xa-tri-khong-con-la-noi-lo-voi-benh-nhan-ung-thu

Tác dụng phụ thường gặp sau hoá trị và xạ trị của bệnh nhân ung thư là:

– Giảm sức đề kháng

– Thiếu máu (giảm số lượng hồng cầu)

– Buồn nôn và nôn, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân

– Rụng tóc: thường khởi phát từ 3-4 tuần sau chu kỳ điều trị đầu tiên

– Đặc biệt lưu ý, Ung thư tăng nguy cơ hình thành huyết khối và việc hoá trị càng khiến nguy cơ này tăng cao hơn, gây nguy hiểm đến tính mạng.

Trên thực tế đa số bệnh nhân Ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến việc hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng phụ (có hại) của Hoá trị và Xạ trị. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy kiệt, sức khoẻ ngày càng giám sút trầm trọng. Nhiều bệnh nhân Ung thư chết do suy kiệt trước khi chết vì khối ung thư. Điều này cho thấy cần phải lưu tâm tới tác dụng phụ của Hoá trị và Xạ trị.
Bệnh nhân Ung thư phải đối mặt với rất nhiều hậu quả từ chính căn bệnh này gây ra, thêm vào đó những tác dụng phụ từ việc sử dụng hoá chất trị liệu đã ảnh hưởng một phần không nhỏ vào tâm lý và thể chất của người bệnh. Vì thế, sự cần thiết là phải lưu ý đến những tác dụng không mong muốn của hoá chất gây ra là hết sức quan trọng để từ đó có những biện pháp tích cực trong việc giảm thiểu những tác dụng phụ cho bệnh nhân, nhằm nâng cao chất lượng điều trị và mang lại những lợi ích thiết thực hơn cho người bệnh.

Theo dân trí

Tiến bộ mới trong điều trị ung thư dương vật

Trên thế giới ung thư dương vật ít gặp ở các nước phát triển, nhưng thường gặp ở các nước chậm phát triển hoặc đang phát triển. Ở Mỹ và các nước phương Tây tỷ lệ ung thư dương vật từ 0,4-0,6% các bệnh ác tính. Ở các vùng khác như châu Á, châu Phi, và Nam Mỹ tỷ lệ ung thư dương vật từ 20%-30%. Ung thư dương vật vẫn thường gặp ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư dương vật ở Hà Nội là 2,1/100.000 dân, ở thành phố Hồ Chí Minh là 3,4% các loại ung thư.
Ung thư dương vật ít xảy ra ở những người đàn ông cắt bao quy đầu từ khi mới sinh. 52,2% ung thư dương vật gặp ở độ tuổi trung niên, thanh niên chỉ gặp 3,6%.

Nguyên nhân và các biểu hiện của bệnh

Các thương tổn tiền ung thư gồm: bệnh bowen, hồng sản queyrat, sẩn dạng bowen, bạch sản, nhiễm human Papillomavirus, lichen xơ hóa dương vật,  viêm quy đầu mica, sừng dương vật…

Nguyên nhân gây ung thư dương vật không rõ, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ ra rằng ung thư dương vật gặp nhiều ở người hẹp bao quy đầu, viêm quy đầu mạn tính, người điều trị bệnh lý da bằng tia cực tím…

tien-bo-trong-viec-dieu-tri-ung-thu-duong-vat

Biểu hiện lâm sàng là một tổ chức nổi cao trên mặt da hoặc loét sâu, bề mặt sần sùi, màu đỏ, có vảy, phát triển và xâm lấn gây cụt dương vật. Nhiều trường hợp ung thư phát triển trong bao quy đầu bị hẹp làm cho đầu dương vật như một cái dùi trống với da bao quy đầu tím tái, có khi thương tổn phá ra ngoài tạo thành những lỗ dò chảy dịch, nước tiểu. Hạch bẹn sờ thấy trong khoảng 50% các trường hợp ung thư dương vật. Người ta cũng thấy rằng có 50% các trường hợp có di căn hạch bẹn ở những bệnh nhân sờ thấy hạch trên lâm sàng.

Chẩn đoán quyết định ung thư dương vật phải dựa vào kết quả xét nghiệm tế bào khối u. Để chẩn đoán di căn có thể dựa vào PET scan, MRI và sinh thiết tổn thương ở nơi nghi ngờ.

Tạo hình dương vật

Hiện nay phẫu thuật vẫn là phương pháp chủ yếu điều trị ung thư dương vật. Xạ trị, hóa chất chỉ là điều trị phụ trợ mà thôi. Phẫu thuật bao gồm cắt bỏ khối u cách bờ 2 cm đồng thời vét hạch bẹn hai bên để ngăn ngừa và loại bỏ di căn. Vét hạch bẹn hai bên là tối quan trọng vì các nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ sống 5 năm của những bệnh nhân vét hạch bẹn cao hơn nhiều so với không vét hạch bẹn.

Rõ ràng việc phẫu thuật loại bỏ tổ chức ung thư sẽ làm mất một phần hoặc toàn phần dương vật. Mất dương vật sẽ ảnh hưởng tới tâm lý, sinh lý và hạnh phúc của bệnh nhân. Vì vậy việc tạo hình một dương vật mới cho bệnh nhân là rất quan trọng. Tuy nhiên từ trước tới nay các cơ sở điều trị ung thư dương vật của Việt Nam chưa làm được việc này, trên thế giới cũng rất ít tài liệu đề cập tới tạo hình dương vật sau ung thư. Điều đó có nghĩa là bệnh nhân bị ung thư dương vật phải cam chịu khó khăn về tiểu tiện, tình dục, mặc cảm xã hội và rạn nứt hạnh phúc gia đình. Để khắc phục vấn đề này các bác sĩ của Bệnh viện Da liễu Trung ương đã thành công trong phẫu thuật tạo hình dương vật cho nhiều bệnh nhân bị ung thư dương vật. Kết quả khả quan về thẩm mỹ và chức năng. Dương vật mới không những giúp bệnh nhân tiểu tiện mà còn có thể tiếp tục quan hệ tình dục.

Kỹ thuật tạo hình dương vật được các bác sĩ sử dụng là một vạt da được lấy ở vùng đùi trước có cuống mạch nuôi, cuộn lại để tạo dương vật mới. Hình thể của dương vật mới gồm quy đầu và thân. Để làm cứng dương vật mới bác sĩ đặt vào dương vật một mảnh sụn sườn hoặc một thanh silicon. Tạo hình dương vật bằng vạt đùi trước ngoài cuống mạch liền là bước đột phá không những trong lĩnh vực điều trị ung thư dương vật mà còn cả trong lĩnh vực phẫu thuật tạo hình vì nó rút ngắn thời gian phẫu thuật, vùng cho vạt được dấu kín ở đùi, bệnh nhân hết sợ mất dương vật vĩnh viễn.

ThS. Phạm Cao Kiêm

Theo báo công an

Phương pháp điều trị mới cho người ung thư gan

Hóa học trị liệu là phương pháp giúp nhanh chóng tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh như tế bào ung thư, nhưng phương pháp này cũng gây ảnh hưởng xấu tới những bộ phận khỏe mạnh khác trong cơ thể.

Nguyên nhân là do thuốc hóa học trị liệu thường được tiêm thẳng vào ven, vì thế nó không chỉ tác động lên khối u mà còn có tác động lên toàn cơ thể. Hậu quả là bệnh nhân sẽ thấy mệt mỏi, ốm yếu, rụng tóc và mất khả năng sinh sản. Tuy nhiên, các bác sỹ ở bệnh viện đa khoa Southampton(Anh) cho biết nếu chỉ dùng phương pháp này tác động vào một cơ quan trên cơ thể sẽ thể hạn chế được tác động phụ của thuốc.
ung-thu-gan
Hiện có 2 bệnh nhân ung thư tại Anh đang thử nghiệm phương thức điều trị mới này. Cả 2 đều bị một chứng bệnh ung thư mắt hiếm gặp, sau đó tế bào ung thư lan xuống gan.

Sau 3 tháng điều trị bằng phương pháp trên, sức khỏe của hai bệnh nhân này đều tiến triển tốt, đặc biệt, khối u ác tính trong gan của họ dường như đã bị thu nhỏ lại.

Tiến sỹ Stedman, một bác sỹ X-quang nói: “Những cơ quan có thể tách khỏi các mạch máu một cách dễ dàng, như thận, phổi, tụy đều có thể dùng phương pháp điều trị này”.

Tuy nhiên ông cho biết đây mới chỉ là giai đoạn đầu của phương pháp điều trị này và ông không đảm bảo rằng phương pháp này sẽ giúp điều trị khỏi hẳn bệnh ung thư.

Theo Báo Đất Việt

Tin vui cho bệnh nhân ung thư buồng trứng

Các nhà nghiên cứu Mỹ tại Bệnh viện Mayo ở Rochester, Minnesota tuyên bố metformin – một loại thuốc được dùng để điều trị bệnh tiểu đường với giá 1.3 bảng Anh cho liều dùng một ngày – có thể làm tăng cơ hội sống lên gấp hai lần đối với bệnh nhân ung thư buồng trứng.

Nghiên cứu của họ, được công bố trên tạp chí Ung thư, theo dõi 251 phụ nữ bị ung thư buồng trứng. Trong số này bao gồm 73 bệnh nhân bị bệnh tiểu đường đang uống metformin hằng ngày, 178 phụ nữ còn lại thì không uống thuốc. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng thuốc có thể làm chậm sự tăng trưởng của các khối u và ngăn chặn chúng lây lan. 67% phụ nữ uống thuốc vẫn còn sống sau 5 năm kể từ ngày được phát hiện ra bệnh, so với 44% của nhóm không uống thuốc.
ung-thu-buong-trung
Ung thư buồng trứng là một trong những loại ung thư nguy hiểm nhất và một nửa số phụ nữ được chẩn đoán không thể sống sót vượt quá năm năm. Thông thường bệnh chỉ được phát hiện khi khối u đã di căn đến các cơ quan khác và tại thời điểm đó có rất ít phương pháp điều trị hiệu quả.

Tiến sĩ Viji Shridhar, trưởng nhóm nghiên cứu, nói rằng trong tương lai thuốc có thể được sử dụng thường xuyên cho bệnh ung thư buồng trứng. Nghiên cứu này mở ra cánh cửa cho việc sử dụng metformin trong các thử nghiệm có quy mô lớn và sau đó là mang lại tia hy vọng mới cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư buồng trứng.

Tham khảo: Daily Mail/khoa học

Điều trị Ung thư không cần hóa trị liệu

 Sau nhiều năm nói với mọi người hóa trị liệu là cách duy nhất để điều trị và loại bỏ ung thư, Bệnh viện Johns Hopkins đã bắt đầu nói với mọi người rằng có những lựa chọn thay thế khác với hóa trị liệu: Một cách hiệu quả để chống lại ung thư là không nuôi các tế bào ung thư với các chất dinh dưỡng cần thiết cho nó để nó không phát triển được.

Thức ăn của tế bào ung thư

Đường: Là một loại thực phẩm của bệnh ung thư. Không ăn đường là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào ung thư. Có sản phẩm thay thế đường như saccharin, nhưng chúng được làm từ aspartame và rất có hại. Tốt hơn nên thay thế đường bằng mật ong hay mật đường nhưng với số lượng nhỏ. Muối có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho muối trắng là muối biển hoặc các loại muối thực vật.

Sữa: Làm cho cơ thể sản xuất chất nhầy, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào ung thư ăn chất nhầy. Loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành, các tế bào ung thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.

Các tế bào ung thư trưởng thành trong môi trường axit. Một chế độ ăn uống là thịt đỏ có tính axit, tốt nhất là ăn cá, và một chút thịt gà thay vì thịt bò hay thịt heo. Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh ung thư. Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều enzym. Thịt không tiêu hóa ở lại và hư hỏng trong cơ thể dẫn tới tạo ra các độc tố nhiều hơn.

Chế độ ăn uống hỗ trợ

Một chế độ ăn uống gồm 80% rau quả tươi và nước ép, ngũ cốc, hạt, các loại hạt quả, quả hạnh nhân và một ít loại trái cây đặt cơ thể trong môi trường kiềm. Chúng ta chỉ nên tiêu thụ 20% thực phẩm nấu chín, bao gồm cả đậu.

Nước ép rau tươi cung cấp cho cơ thể co-enzyme có thể dễ dàng hấp thu và ngấm vào các tế bào 15 phút sau khi được tiêu thụ để nuôi dưỡng và giúp định hình các tế bào khỏe mạnh. Để có được các enzyme sống, giúp xây dựng các tế bào khỏe mạnh, chúng ta phải cố gắng uống nước ép rau (tất cả, bao gồm cỏ linh thảo) và ăn nhiều rau quả tươi 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.

Không nên dùng cafe, trà hay sô cô la, đây là những đồ ăn thức uống chứa nhiều caffeine. Trà xanh là một lựa chọn tốt hơn vì có chất chống ung thư. Tốt nhất là uống nước tinh khiết hoặc nước lọc để tránh các chất độc và kim loại nặng trong nước thường. Không uống nước cất vì nước này có chứa axit.

Các thành các tế bào ung thư được bao phủ bởi một loại protein rất cứng. Khi không ăn thịt, những thành tế bào phóng thích nhiều enzim hơn, tấn công các protein của các tế bào ung thư và cho phép hệ thống miễn dịch tiêu diệt các tế bào ung thư.

Một số chất bổ sung giúp xây dựng lại hệ thống miễn dịch: Floressence, Essiac, chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất, EPA, dầu cá … giúp các tế bào để chiến đấu và tiêu diệt các tế bào ung thư. Các chất bổ sung khác như vitamin E được biết đến bởi vì nó gây ra apoptose, cách bình thường của cơ thể để loại bỏ các tế bào vô dụng hoặc bị lỗi.

Ung thư là một căn bệnh của cơ thể, tâm trí và tinh thần. Một thái độ hoạt động và tích cực hơn sẽ giúp các bệnh nhân ung thư chiến đấu và sống còn. “Giận dữ và không hiểu biết, không tha thứ sẽ đặt cơ thể vào tình trạng căng thẳng và một môi trường axit”. Học để có tâm hồn khả ái và yêu thương với một thái độ sống tích cực là rất có lợi cho sức khỏe. Học thư giãn và tận hưởng cuộc sống.

Các tế bào ung thư không thể sống trong một môi trường dưỡng khí (oxygénée). Luyện tập thể dục hàng ngày, hít thở sâu giúp lấy thêm nhiều oxy vào các tế bào. Liệu pháp oxy là một yếu tố giúp tiêu diệt các tế bào ung thư.
ung-thu
1. Không để hộp nhựa trong lò vi sóng.
2. Không để chai nước trong tủ lạnh.
3. Không để tấm nhựa trong lò vi sóng.

Các hoá chất như dioxin gây ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Dioxin rất có hại, đặc biệt là đối với các tế bào cơ thể. Đừng để trong tủ lạnh chai nước nhựa bởi vì nhựa sẽ “đổ mồ hôi” dioxin và làm nhiễm độc nước uống.

Gần đây, tiến sĩ Edward Fujimoto, giám đốc chương trình Wellness ở bệnh viện Castle, xuất hiện trong một chương trình truyền hình giải thích sự nguy hiểm của dioxin.

Ông nói rằng chúng ta không nên đặt hộp nhựa trong lò vi sóng, đặc biệt là các loại thực phẩm có chứa chất béo. Ông nói rằng do sự kết hợp của chất béo và nhiệt lượng cao, nhựa sẽ truyền dioxin vào thực phẩm và do đó vào cơ thể chúng ta. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng thủy tinh như Pyrex hoặc gốm sứ để đun nấu.

Nguồn tiền phong

Ung thư vú và thai nghén: Những điều cần biết

Tôi đang chuẩn bị điều trị ung thư vú thì lại phát hiện có thai, có nên giữ thai khi tôi đã 36 tuổi và đang mong có con đầu?  Đó là một trong số nhiều câu hỏi bạn đọc gửi về tòa soạn báo SK&ĐS. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, chúng tôi giới thiệu bài viết của BS. Hồng Ánh.

Ung thư vú khi đang có thai không quá hiếm nhưng ngày càng gặp nhiều hơn ở phụ nữ có tuổi mới mang thai và sinh đẻ. Về phương diện y học, các liệu pháp điều trị đã được chuẩn hóa nhưng chưa đủ các nghiên cứu và đánh giá về mặt cảm xúc đối với những trường hợp còn khá phức tạp này. \

ung-thu-va-thai-nghen-va-nhung-dieu-can-biet

Chiến lược đặt ra với ung thư vú ở phụ nữ có thai phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn nào của thai nghén: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hay 3 tháng cuối?

Chữa ung thư vú khi mang thai như thế nào? Tỷ lệ chẩn đoán ung thư vú khi mang thai ở Pháp khoảng 200 – 300 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngày nay tuổi phụ nữ sinh con lần đầu đã cao hơn và việc quản lý ung thư khi đang mang thai cũng đã có chất lượng hơn.

Thai nghén không làm khó cho việc điều trị, với ung thư vú, ngày nay tiên lượng không có gì khác giữa phụ nữ có thai và không có thai. Điều này liên quan đến biểu hiện ban đầu: đó là loại ung thư của phụ nữ trẻ, nói chung xâm lấn hơn và chẩn đoán thường hơi chậm vì không ở trong môi trường phát hiện mà trong lúc sinh đẻ. Việc điều trị do thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc phụ khoa cùng xây dựng và dựa trên giai đoạn mang thai, thể ung thư và kích thước khối u. Rất nhiều khi phải chỉ định hóa liệu pháp nhưng không phải thực hiện giống nhau mà theo từng giai đoạn. Thầy thuốc phải chấp nhận liệu pháp này với điều kiện phải theo dõi sát thai nghén.

Nói một cách giản lược, điều trị ung thư vú ở 3 tháng đầu của thai nghén khác hẳn với 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Trong trường hợp phát hiện ung thư vú khi mới có thai thì vấn đề đình chỉ thai nghén được đặt ra. Việc này có thể trở nên cần thiết nếu như cần phải chỉ định khẩn cấp hóa liệu pháp, chỉ định này có thể làm cho phôi thai bị nhiễm độc vì đang ở giai đoạn tạo thành các cơ quan và tỷ lệ dị dạng bẩm sinh cao. Nếu người mẹ vẫn muốn giữ thai thì có 2 lựa chọn: 1) Chờ đến khi thai đã ở 3 tháng giữa (ngoài 12 tuần thai nghén) mới bắt đầu dùng hóa liệu pháp.  2) Tạm thời bằng lòng với can thiệp ngoại khoa và chờ khi đẻ xong thì bắt đầu điều trị bổ sung. Khi đã ở giai đoạn giữa của thai nghén (ít nhất đã 4 tháng) thì thầy thuốc có thể yên tâm hơn vì đã có thể chỉ định hóa liệu pháp truyền thống. Ở 3 tháng cuối cũng vậy. Điều đáng ngạc nhiên là phụ nữ mang thai bị ung thư vú dung nạp liệu pháp hormon tốt hơn nhiều, không bị nôn, trạng thái sức khỏe tổng thể vẫn ít thay đổi. Hóa liệu pháp nên ngừng trước khi sinh 2-3 tuần và sau khi sinh 2-3 tuần mới lại tiếp tục. Ngày nay, gần như không cần phải làm cho cuộc đẻ diễn ra sớm, chỉ cần thai nghén đã vượt qua tuần 37 hay 38 kể từ khi mất kinh.

Phát hiện ung thư vú khi có thai? Khối u vú thường có thể phát hiện trên lâm sàng. Ngay từ lần khám thai đầu tiên đã có thể phát hiện thấy một u nhỏ và được xác định bằng chẩn đoán hình ảnh và chọc thăm dò. Không có kỹ thuật phát hiện có giá trị nào ở hoàn cảnh này. Nên thực hiện khám vú có hệ thống ngay từ khởi đầu của thai nghén, nếu cần thiết thì thêm cả siêu âm chẩn đoán.

Ung thư vú và thai nghén: Những điều cần biết 2
Kiểm tra, chẩn đoán ung thư vú

Thuốc điều trị ung thư vú có độc hại cho thai? Bao giờ cũng cần lo ngại về mọi thứ thuốc dùng trong khi đang mang thai, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của hóa liệu pháp đến thai và trẻ sơ sinh. Vì vậy, các thầy thuốc đã sử dụng phương pháp hồi cứu để tiếp cận với những nguy cơ và lợi ích. Kết quả bước đầu cho thấy: Không có những vấn đề nghiêm trọng xét trong thời gian ngắn, chỉ có những tác dụng tạm thời đến tình trạng máu ở trẻ sơ sinh, chưa có nghiên cứu dài hạn ở những trẻ này và cần có nghiên cứu dài hơi hơn với những trẻ bị tác động của thuốc khi còn trong tử cung. Tất nhiên sẽ tốn kém, khó khăn nhưng khả thi. Hiện cũng chưa có nhiều thông tin về taxane như là hóa liệu pháp khi có thai và cơ chế tác dụng, chưa rõ thuốc có vô hại với thai không cho nên không dùng cho phụ nữ mang thai. Với nhiều liệu pháp khác cũng vậy (herceptin, dùng kháng thể). Số lượng bệnh nhân ít cũng gây khó khăn cho nghiên cứu.

Trạng thái tâm lý khi ung thư vú kết hợp với thai nghén: Lo lắng làm cho cuộc sống bản thân nhưng mong muốn đem lại cuộc sống cho con là sức mạnh lớn với người bệnh, có ý nghĩa như một sự nâng đỡ tâm lý. Người bệnh quan tâm đến sự phát triển của con hơn cả bệnh của mình. Đôi khi cần phải đình chỉ thai nghén vì lý do liên quan đến ung thư thì đó là một khó khăn lớn về mặt tâm lý với cặp vợ chồng. Ngược lại cũng có một số người bệnh không lựa chọn giữ thai trong khi chính thầy thuốc lại không thấy có vấn đề gì. Sau đẻ cũng là một thách thức vì mẹ phải tiếp tục điều trị nên không thể cho con bú và một số bà mẹ có cảm tưởng như đã tước đoạt tuổi thơ đầu tiên của con họ.

BS. Hồng Ánh

Theo BSDD

 

Ung thư có thể do thuốc và nội tiết

Người ta thấy các kiểu hóa trị ung thư khác nhau rõ ràng đã làm tăng nguy cơ bệnh bạch cầu ở những bệnh nhân còn sống hơn một năm sau khi được chẩn đoán.

Các thuốc chống ung thư quan trọng khác như adriamycin và cisplatin cũng có tính sinh ung thư ở động vật thực nghiệm, nhưng cho đến nay vẫn không thấy có tính sinh ung thư ở người. Mặc dù nguy cơ bệnh bạch cầu tăng cao sau khi điều trị một số ung thư chọn lọc nhưng người ta vẫn so sánh điều này với thuận lợi điều trị hóa chất các bệnh như bệnh bạch cầu limphô ở trẻ em, bệnh hodgkin và ung thư tinh hoàn loại tế bào mầm.

thuoc-va-noi-tiet-to-co-the-gay-ung-thu

Tuy nhiên, quan trọng là sự quan tâm nguy cơ mắc bệnh ác tính thứ hai khi đánh giá trong một thời gian dài các phác đồ hóa trị ung thư và tìm kiếm các cách điều trị xen kẽ làm giảm mối nguy cơ này.

Vấn đề áp dụng đặc biệt cho các bệnh như là hodgkin vì loại bệnh này có tiên lượng rất tốt với cách điều trị hiện nay.

Các ung thư phụ khác được báo cáo ở bệnh nhân sống sót lâu dài sau hóa trị ung thư như limphô không hodgkin sau bệnh hodgkin, ung thư phổi và bàng quang sau điều trị bằng cyclophosphamid bệnh limphô không hodgkin.

Các loại thuốc khác gây ung thư ở bệnh nhân được điều trị là các hỗn hợp giảm đau chứa phenacetin, chúng làm tăng nguy cơ ung thư thận và ung thư biểu mô đường niệu khác; thuốc ức chế miễn dịch azaathioprien gây các u da, limphô không hodgkin và các bệnh ác tính hiếm gặp khác; và sự phối hợp 8 – methoxypsoralen và tia cực tím loại A có thể gây ung thư da sau khi dùng để điều trị các rối loạn ở da như bệnh vẩy nến.

Sự ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép cơ quan cũng làm bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư. Tuy nhiên, vai trò sinh ung của các thuốc dùng để làm ức chế miễn dịch vẫn còn được bàn cãi.

Một số loại nội tiết tố được dùng trong các lĩnh vực thực hành y khoa khác nhau, thực tế một số nhóm nội tiết tố làm tăng nguy cơ ung thư sau khi dùng chúng. Người ta xác định rằng, thuốc diethylstillbestrol (DES) đã từng được dùng rộng rãi vào đầu thai kỳ để giảm cơn buồn nôn và ngừa dọa sẩy thai thì có thể gây ung thư âm đạo ở các con gái của bệnh nhân được điều trị và làm tăng nguy cơ bị ung thư tinh hoàn cho các con trai của họ.

Điều trị thay thế estrogen người ta dùng để giảm các triệu chứng mãn kinh, để giảm nguy cơ bệnh tim do mạch vành bằng cách làm tăng lipoprotein cholesterol tỷ trọng cao và để bảo tồn nồng độ muối khoáng trong xương ngừa chứng loãng xương và gãy xương. Liệu pháp này làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Việc sử dụng thuốc ngừa thai uống có gây ung thư vú hay không vẫn còn đang bàn cãi, mặc dù có vẻ nguy cơ ung thư vú tăng cao ở các phụ nữ trẻ và phụ nữ sớm sử dụng thuốc ngừa thai đường uống loại phối hợp trong đời sống sinh dục của họ.

Dự án Phòng chống ung thư Quốc gia – Bệnh viện K TW

Theo SKDS

Ung thư tuyến tiền liệt điều trị như thế nào ?

Ông cháu năm nay 76 tuổi, đi khám bệnh phát hiện bị ung thư tuyến tiền liệt. Cháu xin hỏi bác sĩ bây giờ ông cháu phải điều trị như thế nào, xạ trị có thể chữa khỏi bệnh được không?

Phạm Thị Ngọc Dung  (Quảng Ninh)

ung-thu-tien-tuyen-liet-nen-dieu-tri-nhu-the-nao-1

Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) thường không biểu hiện các triệu chứng gì đặc biệt, nhất là ở giai đoạn sớm. Các triệu chứng thường có biểu hiện giống với các triệu chứng của u phì đại TTL, viêm, nhiễm khuẩn tiết niệu. Điều trị ung thư TTL phụ thuộc vào kích thước khối u, khối u có lan tràn tới các bộ phận khác của cơ thể và toàn trạng cơ thể. Có 3 loại lựa chọn điều trị được áp dụng cho ung thư TTL còn khu trú tại TTL, chưa lan đi xa: cắt TTL triệt căn, điều trị tia xạ và theo dõi bệnh.

Phẫu thuật cắt TTL triệt căn: là thủ thuật cắt toàn bộ TTL và tổ chức lân cận. Đôi khi hạch bạch huyết vùng tiểu khung (phần dưới của ổ bụng nằm trong khung chậu) cũng được lấy bỏ.

Điều trị tia xạ: là phương pháp điều trị chiếu chùm năng lượng phóng xạ vào vùng TTL có tác dụng diệt tế bào ung thư.

Một số trường hợp ung thư TTL ở giai đoạn muộn, khối u di căn xa, có thể điều trị nội tiết tạm thời nhằm ức chế hoặc làm chậm sự phát triển của khối u (cắt tinh hoàn, điều trị bằng các thuốc nội tiết kháng androgen).

Theo SKDS

Bệnh nhân ung thư da hy vọng về thuốc điều trị

Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chính thức chấp thuận đưa vào sử dụng thuốc zelboraf (vemurafenib) để điều trị bệnh nhân ung thư da giai đoạn cuối mà không thể tiến hành phẫu thuật.

Bình thường có một protein là BRAF tham gia vào các quy định về sự phát triển tế bào, nhưng với hơn 50% các bệnh nhân ung thư da giai đoạn cuối có sự đột biến của protein này. Zelboraf là một chất ức chế BRAF có thể chặn các chức năng của protein đột biến V600E BRAF.

hy-vong-doi-voi-benh-nhan-bi-ung-thu-da

Vì vậy, zelboraf chỉ định cụ thể để điều trị bệnh nhân với u ác tính khối u có thể hiện một đột biến gen được gọi là BRAF V600E. Các tác dụng phụ phổ biến nhất báo cáo ở bệnh nhân dùng zelboraf bao gồm đau khớp, phát ban, rụng tóc, mệt mỏi, buồn nôn và da nhạy cảm khi tiếp xúc với ánh mặt trời.

Khi sử dụng zelboraf, các chuyên gia y tế cần phải cung cấp cho các bệnh nhân những nguy cơ rủi ro có thể gặp phải.

Nguyễn Bạch Đằng  (Theo fda.gov, 8/2011)

Theo SKDS

Liệu pháp gen giúp chữa trị ung thư da

Các nhà khoa học Australia vừa kết thúc một nghiên cứu và phát hiện thấy những người mắc bệnh da có tên là ung thư biểu mô gai (SCC) thường thiếu một gen truyền “tín hiệu stop”, do thiếu gen này nên quá trình tái tạo tế bào không được kiểm soát và hậu quả làm tăng nguy cơ ung thư. Ung thư biểu mô gai là dạng ung thư da phổ biến thứ hai, riêng tại Mỹ, mỗi năm có trên 700.000 ca mới được phát hiện. Nguyên nhân gây bệnh rất bí ẩn và đa dạng nên con người chưa hiểu hết.

dieu-tri-ung-thu-da-bang-lieu-phap-gen

Với việc phát hiện ra gen nói trên trong các tế bào ung thư SCC sẽ giúp khoa học hiểu được phần nào nguyên nhân gây bệnh, bởi nó có vai trò rất quan trọng. Khám phá trên sẽ giúp con người tìm ra phương pháp điều trị mới để ngăn ngừa quá trình di căn. Hiện tại khoa học đang thử nghiệm lâm sàng một số loại thuốc chữa bệnh ung thư nên phát hiện trên sẽ đẩy nhanh quá trình này, trong đó có cả những loại thuốc trị bệnh ung thư da biểu mô gai bằng liệu pháp gen.

KHẮC NAM (Theo PS, 11/2011)

Theo SKDS