Tag Archives: điều trị bệnh mắt

Bệnh mất ngũ đối với người cao tuổi

“Ăn được ngủ được là tiên”. Nhưng với những người cao tuổi, việc có được cảm giác mình là “tiên” quả thật là khó bởi vì người cao tuổi thường hay gặp những rối loạn về giấc ngủ, đặc biệt là mất ngủ.

Vì sao người cao tuổi lại hay mất ngủ?

Mất ngủ có thể do nguyên nhân sinh lý hoặc nguyên nhân bệnh lý.

Nguyên nhân sinh lý: mất ngủ ở người cao tuổi là do quá trình lão hóa tự nhiên của con người; làm giảm hiệu quả hoạt động hệ thống kiểm soát nhịp sinh học của cơ thể bao gồm nhịp thức ngủ và làm giảm đi sự thích nghi của người cao tuổi với những thay đổi tác động vào cơ thể con người; làm giảm khả năng duy trì những hoạt động bình thường trước những thay đổi của môi trường, gây rối loạn hoạt động của cơ thể trong đó có giấc ngủ. Melatonin là một loại hormon do thùy sau tuyến yên bài tiết ra và hormon này được gọi là hormon bóng đêm, được bài tiết nhiều về đêm với người cao tuổi; sự bài tiết hormon này bị giảm đi rõ rệt làm tăng nhiệt độ cơ thể, làm giảm đi chất lượng cũng như số lượng của giấc ngủ.

benh-mat-ngu-o-nguoi-cao-tuoi-1

Nguyên nhân bệnh lý:

Đối với người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh kèm theo, sử dụng nhiều loại thuốc điều trị các bệnh lý này, người cao tuổi cũng là đối tượng có nhiều yếu tố tâm lý gây ra các bệnh trầm cảm lo âu, vì vậy tỉ lệ gặp mất ngủ càng cao.

Một trong những nguyên nhân gây mất ngủ ở người cao tuổi là chứng ngừng thở khi ngủ và chứng rối loạn vận động chân có chu kỳ khi ngủ, chứng bệnh này tăng lên khi tuổi càng cao. Ngừng thở khi ngủ là sự gián đoạn về thở trong giấc ngủ, chứng này gây ra do sự tắc nghẽn đường thở, đặc biệt phổ biến ở những người cao tuổi mắc chứng béo phì. Những người gặp phải chứng ngừng thở khi ngủ thường dậy về đêm trong tình trạng thở hổn hển, gục đầu xuống giường hoặc đi lang thang trong nhà trong tình trạng ý thức rối loạn. Tình trạng ngừng thở khi ngủ dẫn đến trong ngày người bệnh có cảm giác buồn ngủ, tăng huyết áp và rối loạn nhịp tim, phì đại tim, có thể dẫn đến đột tử, ngoài ra suy tim, rối loạn nhịp tim gây rối loạn thở dẫn đến mất ngủ.

Đau: đặc biệt là đau cơ khớp là lý do phổ biến nhất dẫn đến mất ngủ.

Tiểu đêm: Người cao tuổi thường chức năng thận kém, hay đi tiểu đêm gây mất ngủ. Những bệnh lý thần kinh như là bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer dẫn đến mất ngủ.

Bệnh lý tâm thần: bệnh lý trầm cảm, rối loạn lo âu, đặc biệt người cao tuổi có những yếu tố sang chấn tâm lý như là tang tóc, mất đi người bạn đời, bạn thân, nghỉ hưu, sự cô đơn…

Ảnh hưởng của thuốc dùng điều trị bệnh: Người cao tuổi dùng nhiều loại thuốc để điều trị bệnh có thể gây mất ngủ. Thường gặp các loại thuốc ảnh hưởng đến giấc ngủ là theophyline và caffein làm tăng sự thức tỉnh trong đêm và giảm tổng thời gian ngủ, những thuốc bán không cần kê đơn như thuốc ho, thuốc dị ứng, thuốc gây chán ăn có thể chứa caffein. Những người hút thuốc lá bị mất ngủ nhiều hơn những người không hút thuốc vì trong thuốc lá chứa chất nicotin, ảnh hưởng đến giấc ngủ. Một số thói quen không tốt có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ như uống rượu, hay ngủ ngày hoặc hay nằm trên giường đọc sách hoặc xem tivi làm giảm chất lượng giấc ngủ về đêm.

Những biểu hiện của mất ngủ

Biểu hiện của mất ngủ ở người cao tuổi thường là cảm giác mệt mỏi, khó khăn trong việc tập trung vào công việc, không có cảm giác thoải mái, không thể ngủ được, phải mất nhiều thời gian mới có thể đi vào giấc ngủ, thường xuyên thức dậy vào buổi đêm, không thể ngủ trở lại sau khi thức giấc, buồn ngủ vào ban ngày nhưng không ngủ được, đau đầu vào buổi sáng.

benh-mat-ngu-o-nguoi-cao-tuoi-2

Phòng và điều trị như thế nào?

Việc thay đổi thói quen và cách sống giúp cải thiện những vấn đề về giấc ngủ. Chúng ta cần phải vệ sinh giấc ngủ bằng cách: có thời gian đi ngủ và thức dậy đều đặn, kể cả thứ bảy chủ nhật đều phải thức dậy đúng giờ; Tránh ngủ ngày quá nhiều; Tập thể thao hằng ngày nhưng không nên tập trước giờ đi ngủ; Chỉ nằm trên giường khi ngủ, tránh nằm trên giường đọc sách, xem tivi; Không nên có những vấn đề lo lắng vào giờ đi ngủ; Tránh ăn no trước khi đi ngủ; Tránh hoặc hạn chế rượu, cafe, thuốc lá trước khi đi ngủ; Có thói quen chuẩn bị cho giấc ngủ hằng ngày, ví dụ tắm, đánh răng trước khi đi ngủ; Phòng ngủ cần phải có nhiệt độ phù hợp, yên tĩnh, tối; Mặc quần áo phải thoải mái, rộng rãi khi đi ngủ.

Nếu bạn nằm trên giường 30 phút mà chưa ngủ được thì hãy ra khỏi giường và có những hoạt động nhẹ nhàng ví dụ như nghe nhạc, đọc sách nhưng tránh tiếp xúc với ánh sáng chói. Chỉ sử dụng những thuốc cho bệnh của mình theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, tránh tự ý mua thuốc về dùng. Hãy trao đổi với bác sĩ khi gặp tác dụng gây mất ngủ của thuốc. Việc sử dụng thuốc điều trị mất ngủ cần phải được đi khám và có sự kê đơn của bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

BS. Trịnh Thị Bích Huyền

Theo SKDS

Thảo dược điều trị bệnh về gan và mật

Bệnh về gan, mật là bệnh thường gặp, trong y học cổ truyền, các thảo dược dùng phòng trị bệnh gan mật rất phong phú. Chúng có tác dụng tăng sơ tiết mật, men ở gan, giải độc tế bào gan, chống xơ gan, tăng tái tạo tế bào gan khi bị hủy hoại… Xin giới thiệu một số thảo dược hay được sử dụng để phòng và trị bệnh gan mật.

Nhân trần:là phần trên mặt đất của cây nhân trần (Adenosma caeruleum R.Br.). Cây có vị hơi đắng, mùi thơm dễ chịu do chứa tinh dầu. Theo Đông y, nhân trần có tác dụng thanh lợi thấp nhiệt, thoái hoàng, lợi mật, giải độc. Dùng trị viêm gan hoàng đản, viêm gan vàng da, vàng mắt thể dương hoàng, tức thể viêm gan cấp tính, hoặc âm hoàng tức thể viêm gan mạn tính kể cả viêm gan do virut B. Liều dùng, ngày 12 – 16g, sắc uống hoặc hãm. Để tăng hiệu quả trị liệu, có thể phối hợp nhân trần 20g, chi tử 12g, đại hoàng 4g, sắc uống, ngày một thang, uống liền 3 – 4 tuần.

thao-duoc-phong-tri-benh-gan-va-mat-1 - Copy

Nhân trần tía:

còn gọi là nhân trần Tây Ninh, nhân trần tía cũng có vị đắng,  mùi thơm do chứa tinh dầu, song hàm lượng thấp hơn, có công năng lợi gan, mật, cũng dùng để trị các bệnh về gan, mật như nhân trần.

Bồ bồ: là thân lá của cây bồ bồ hay còn gọi là nhân trần bồ bồ. Có tác dụng gây tăng tiết mật rõ rệt, nhất là dạng cao cồn; trị viêm gan, vàng da. Ngoài ra còn dùng trị cảm mạo phong nhiệt, hoặc viêm ruột với liều 8 – 12g, sắc uống hoặc hãm.

Diệp hạ châu: là thân lá của cây chó đẻ răng cưa. Diệp hạ châu mọc hoang hoặc được trồng ở nhiều nơi trong nước ta. Theo Đông y, diệp hạ châu có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, quy vào kinh can, phế, có công năng tiêu độc, lợi mật, hoạt huyết, dùng trị viêm gan hoàng đản, viêm họng, mụn nhọt, viêm da thần kinh, viêm thận, phù thũng, sỏi tiết niệu. Liều lượng, ngày 8 – 20g, sắc uống.

Diệp hạ châu đắng: còn gọi là chó đẻ răng cưa thân xanh. Theo Đông y, diệp hạ châu đắng vị đắng, tính mát, quy kinh phế thận, có công năng tiêu độc, sát khuẩn, tán ứ, thông huyết, lợi tiểu, lợi mật, ức chế virut gây viêm gan B, điều hòa huyết áp, được dùng trị viêm gan, mật, bí tiểu, tắc tia sữa, mụn nhọt, bế kinh… Liều dùng 8 – 16g, sắc uống. Dùng ngoài, cây tươi giã nát đắp vào vết thương lở loét hoặc vết cắn của côn trùng. Lưu ý: Diệp hạ châu không dùng cho phụ nữ có thai.

Actiso: là lá của cây actiso, ngoài lá, hoa và rễ cũng dược dùng làm thuốc. Lá actisô chứa các acid hữu cơ, các hợp chất flavonoid… Hoa actisô chứa nhiều  taraxasterol và faradiol, là những chất có tác dụng ức chế viêm khá mạnh. Cao actiso có tác dụng bảo vệ gan, tác dụng lợi mật tốt, hoạt tính chống ôxy hóa cao; còn có tác dụng hạ cholesterol và urê huyết. Được dùng  trị viêm gan, viêm túi mật hoặc chức năng của gan mật kém, sỏi mật.
thao-duoc-phong-tri-benh-gan-va-mat-2 - Copy

Nghệ:

là thân rễ của cây nghệ chứa tinh dầu, chủ yếu là phellandren, borneol…, curcumin (1,5 – 2%). Gây co bóp túi mật và tác dụng giảm cholesterol trong máu, chống viêm, giảm đau. Dùng nghệ, đặc biệt là curcumin để trị viêm gan vàng da hoặc trường hợp dịch mật bài tiết khó khăn. Ngoài ra còn nhiều vị thuốc khác có tác dụng tốt cho gan, mật, như chi tử (Fructus Gardeniae) có tác dụng tăng bài tiết dịch mật; ngũ vị tử tăng tác dụng chống ôxy hóa, bảo vệ và tái tạo tế bào gan, khi gan bị viêm nhiễm; cà gai leo trị các trường hợp gan đã bị xơ hóa; cúc gai hay còn gọi là kế sữa, với thành phần silymarin có tác dụng ức chế virut viêm gan C, chống ôxy hóa, giúp tế bào gan tránh khỏi bị hủy hoại do viêm gan.

PGS.TS. Phạm Xuân Sinh

Theo SKDS

Tìm hiểu về bệnh zona mắt

Bệnh thường gặp vào mùa xuân – thu và mọi lứa tuổi,  trừ trẻ sơ sinh,  nhưng xảy ra ở người lớn nhiều hơn (trên 45 tuổi), đặc biệt ở người suy giảm miễn dịch.

Bệnh zona (hay giời leo) gây nên bởi chủng virus thủy đậu Varicella Zoster hướng da thần kinh (VZV). Virus Varicella Zoster gây ra hai thể bệnh riêng biệt. Nhiễm khuẩn tiên phát gây bệnh thủy đậu, một bệnh rất hay lây nhưng thường lành tính, xảy ra thành dịch ở những trẻ cảm thụ. Sự tái hoạt sau này của virus Varicella Zoster tiềm ẩn trong các hạch rễ lưng tạo nên một phát ban ngoài da khu trú gọi là zona.

Các yếu tố nguy cơ để bệnh bùng phát như người già, người suy giảm miễn dịch, hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch, người bị nhiễm HIV/AIDS, ung thư, dùng các thuốc loại corticoid lâu ngày hoặc nếu từng bị nhiễm virus thủy đậu lúc nhỏ thường dễ bị zona sau này.

tim-hieu-benh-zona-mat

Nhận biết zona như thế nào?

Các yếu tố nguy cơ để bệnh bùng phát như người già, người suy giảm miễn dịch, hoặc dùng thuốc ức chế miễn dịch, người bị nhiễm HIV/AIDS, ung thư, dùng các thuốc loại corticoid lâu ngày hoặc nếu từng bị nhiễm virus thủy đậu lúc nhỏ thường dễ bị zona sau này.
Những bệnh nhân có tổn thương zona ở vùng thần kinh sinh ba, chủ yếu ở nhánh mắt (nhánh I) gọi là zona mắt, thường gặp nhiễm Varicella – Zoster ở mi mắt và bờ mi với những tổn thương mụn nước.

Các mụn này chỉ xuất hiện ở một bên cơ thể, phát triển thành từng nhóm nhỏ, trong có nước được gọi là những mụn nước, sau đó vỡ ra để lại sẹo vảy, kéo dài khoảng vài tuần. Trong những trường hợp nặng, mụn nước có thể để lại những vết sẹo vĩnh viễn, đau nhức hoặc có thể hơi tê và làm nhạt màu da.

Điển hình có các triệu chứng đau nửa bên mặt, và các tổn thương ở trán, vùng quanh nhãn cầu và mũi.  Có thể có biến chứng viêm giác mạc, viêm giác mạc nhu mô, thậm chí loét giác mạc, viêm mống mắt, teo mống mắt, viêm thượng củng mạc… Một số trong các biến chứng này có tiềm năng gây mù.

Ðiều trị và phòng bệnh?

Điều trị triệu chứng giảm bỏng rát và đau gồm: đắp gạc lạnh, dùng thuốc chống viêm, thuốc chống virus, thuốc nhỏ kháng sinh chống bội nhiễm, thuốc dinh dưỡng bề mặt (nước mắt nhân tạo). Liệu pháp kháng virus đường uống (acyclovir 800mg) làm giảm các biến chứng mắt muộn từ khoảng 50% xuống còn từ 20 – 30%.

Zona là một bệnh không lây, tuy nhiên người chưa từng bị thủy đậu hay chưa được chủng ngừa có thể bị thủy đậu khi tiếp xúc với bệnh nhân zona, đặc biệt người dễ nhiễm như trẻ em, phụ nữ mang thai và những người có hệ miễn nhiễm yếu. Có thể dùng  vaccin kháng Varicella – Zoster như zostavax. Khi bệnh, cần điều trị tích cực, kịp thời để giảm nguy cơ bị những biến chứng nặng có thể đe dọa đến thị lực. Những bệnh nhân bị zona mắt nên được bác sĩ nhãn khoa có kinh nghiệm về xử trí các bệnh lý giác mạc thăm khám và đánh giá.

BS. ThS. Nguyễn Văn Ðức

Theo SKDS