Tag Archives: di truyền

Kỹ thuật di truyền con người: Vì sao bị lên án?

Lâu nay, dư luận thường nói nhiều đến kỹ thuật di truyền, đặc biệt là di truyền con người, nhân bản vô tính, tế bào gốc và cả các sản phẩm chuyển gen… Bên cạnh nhưng ưu điểm, dư luận đang lo ngại mặt trái của các kỹ thuật này, đặc biệt là khi nó bị lợi dụng, vượt quá tầm kiểm soát của con người.

Kỹ thuật di truyền con người là gì?

Kỹ thuật di truyền con người (Genetic Engineering of Humans) hay kỹ thuật nhân bản bắt đầu trở nên sôi động từ khi các nhà khoa học giải mã xong hệ gen người và ra đời các tế bào gốc. Với tốc độ phát triển của ngành công nghiệp di truyền, người ta sợ rằng trong tương lai nó sẽ bị lợi dụng, làm thay đổi các vật liệu di truyền hay ADN trong cơ thể người, tạo ra những sản phẩm không đúng quy luật tự nhiên. Ví dụ như siêu nhân hay những đứa trẻ được “thiết kế trước”. Nghĩa là mục đích nghiên cứu này bị lợi dụng, ngược lại với mục tiêu chữa bệnh hay làm việc thiện, tạo ra những công cụ chống lại loài người.

ky-thuat-di-truyen-con-nguoi-vi-sao-bi-len-an

Kỹ thuật di truyền con người hay kỹ thuật nhân bản đã từng được đề cập trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, gọi tắt là kỹ thuật GEH. Sử dụng một cơ cấu sinh vật dạng virut đưa vào trong một gen mới và sau đó đưa vào cơ thể người. Gen mới này thâm nhập các tế bào người và tự nó sao chép tạo ra một gen mới hoàn toàn ngay bên trong hệ gen con người. Các tác phẩm khoa học viễn tưởng thường mô tả kỹ thuật nói trên đã tạo ra những đột biến ác mộng. Có 2 sự lựa chọn về ứng dụng kỹ thuật nhân bản di truyền: Ứng dụng mang tính thể xác (Somatic application), nhắm vào các bộ phận hay các gen, không làm thay đổi trứng hoặc tinh trùng. Ứng dụng này mang tính tích cực, được dùng để điều trị những căn bệnh rối loạn mang tính di truyền, các gen khuyết tật được sửa chữa khuyết tật mà không ảnh hưởng đến hệ gen chung của người bệnh. Điều này có thể hiểu, nó không làm thay đổi hoặc truyền lại cho các thế hệ tương lai, thay đổi di truyền chỉ dừng lại ở mức chữa bệnh cho từng cá thể.

Ngược lại với ứng dụng mang tính thể xác, ứng dụng nhắm vào trứng và tinh trùng, gọi là ứng dụng dòng tinh trùng (Germline application), gọi tắt GA. Trong ứng dụng này, dòng tinh trùng cũng có thể được sử dụng để tạo ra các phôi giai đoạn đầu, hậu quả làm thay đổi gen ở mức tế bào và gây biến đổi hệ gen của cơ thể. Quá trình thay đổi này sẽ truyền lại mang tính kế thừa cho thế hệ tương lai. Nhiều người cho rằng nhân bản di truyền hệ gen người có thể dẫn đến sự chia rẽ loài, mất hoặc giảm khả năng giao phối với người không qua kỹ thuật HGE, hay người truyền thống và nguy hiểm hơn, giống người mới này sẽ tấn công lại người sinh học, không tự xếp mình ngang hàng với giống người hiện nay.

Tuy xếp chung với kỹ thuật nhân bản nhưng kỹ thuật nhân bản vô tính ADN người (Human DNA Cloning) lại có tới 3 dạng khác nhau, nhân bản ADN, nhân bản liệu pháp và nhân bản vô tính sinh sản. Sản phẩm cừu Dolly được các nhà khoa học Anh tạo ra là nhân bản vô tính. Có hai dòng bổ sung cho nhân bản vô tính: một là nhân bản ADN tức là nhân bản ADN để chuyển ADN thành sản phẩm tự sao chép bên trong các tế bào chủ ngoại lai và dạng kia là nhân bản phôi thai hay nhân bản liệu pháp. Nhân bản phôi thai cũng đang bị tranh cãi vì nó tạo ra duy nhất phôi thai người cho dù chỉ để nghiên cứu khoa học.

Những sản phẩm người đã bị thay đổi về mặt di truyền

Theo BBC, tháng 5/2001 các chuyên gia ở Viện Y học sinh sản St. Barnabas ở New Jersey Mỹ cho biết đã tạo được 30 bào thai bằng kỹ thuật GEH (15 ca sinh được thực hiện tại Mỹ) cho những phụ nữ vô sinh bằng cách sử dụng gen hiến tặng của nhóm phụ nữ khỏe mạnh. Hai đứa trẻ đã được thử nghiệm dương tính với một lượng nhỏ gen bổ sung mà không được kế thừa từ cha mẹ. Khi được 1 tuổi, qua thử nghiệm vật liệu di truyền cho thấy, chúng mang 2 ADN ty thể (Mitochondria DNA), các ty thể ADN được kế thừa từ người mẹ. Ngoài ra, qua thử nghiệm ADN của hai đứa trẻ này còn cho thấy chúng có hai mẹ, điều này xảy ra giống như chuyển giao ty thể có trong tự nhiên. Mặc dù thành công nhưng nghiên cứu nói trên đã bị cộng đồng khoa học phản đối, đặc biệt là việc bổ sung gen có thể làm thay đổi dòng tinh trùng của đứa trẻ trong tương lai. Điều này có nghĩa, thế hệ tương lai sẽ bị ảnh hưởng do pha trộn ADN ty thể, làm tăng gấp đôi vật liệu ADN và dẫn đến làm tăng bệnh tật. Hiện tượng trên được chuyên môn gọi là mitochondrial heteroplasmy, hay hiện tượng đồng giới ty thể, căn bệnh có thể phát sinh bất cứ lúc nào trong cuộc đời con người. ky-thuat-di-truyen-con-nguoi-vi-sao-bi-len-an-1

Ngoài sản phẩm trên, năm 2000, các nhà khoa học Nhật Bản còn gieo trồng thành công tinh trùng trong phòng thí nghiệm dùng cho mục đích nhân bản liệu pháp, chữa bệnh vô sinh cho con người. Tháng 9/2001, nhóm chuyên gia ở ĐH Y khoa Sun Yat-Sen, Quảng Châu, Trung Quốc đã đưa ADN của một đứa trẻ vào trong một trứng thỏ rỗng sau đó cho phát triển thành phôi người. Mục đích là tạo ra các mô cấy ghép dùng cho liệu pháp chữa bệnh, các tế bào nhân bản sau đó được dùng để tạo các tế bào gốc.

Mối nguy hiểm của kỹ thuật GEH

Sở dĩ kỹ thuật này bị dư luận lên án là do mục đích ứng dụng không mang tính nhân đạo. Trong thực tế, kỹ thuật di truyền con người được xem là mang tính kỳ thị, nó đã từng được Đức quốc xã trước đây thí nghiệm trên những người Do Thái tại các trại tập trung hồi Chiến tranh thế giới thứ II. Đến đầu năm 90 thế kỷ trước, nhiều quốc gia đã lên tiếng phản đối dự án này, kể cả Đức – nơi tiên phong cho ra đời đạo luật có tên Đạo luật bảo vệ phôi thai (EPA). Nhiều quốc gia châu Âu cũng đã ban hành các đạo luật cấm nhân bản tương tự, đặc biệt là dùng kỹ thuật di truyền bằng mầm và nhân bản vô tính.

(Theo TSW, 1/2014)

Khắc Nam

Theo SKDS

Khó chịu với mồ hôi tay

Mồ hôi ra nhiều ở tay, nách hay chân… khiến quý ông cảm thấy mất tự tin khi giao tiếp. Nhất là vào dịp lễ tết phải đi lại, gặp gỡ nhiều người điều này càng dễ gây trở ngai hơn. Để khắc phục, bạn hãy chọn giải pháp phù hợp nhé!

Khi tập thể thao nhiều, làm việc nặng, nhiệt độ môi trường cao thì việc tiết mồ hôi rất cần thiết, giúp điều hòa thân nhiệt. Hệ thần kinh giao cảm giữ vai trò điều tiết mồ hôi ra ngoài. Với một số người có hệ thần kinh này hoạt động quá mức sẽ gây nên tình trạng đổ mồ hôi ngay cả khi không hoạt động nhiều và thường xuất hiện khu trú ở vùng đặc biệt như đầu, bàn tay, nách, lòng bàn chân…

mohoitay

Có thể do di truyền

Theo Bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Ngọc Bình, Trưởng phòng chỉ đạo tuyến – Nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bình Dân, TP. HCM cho biết, gần 3% dân số, phần lớn là người từ 25 đến 64 tuổi bị tăng tiết mồ hôi. Khoảng 30-50% là do di truyền. Tuy nhiên, bệnh nhân lại ít khi đi khám. Chỉ đến khi việc tăng tiết mồ hôi gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, giao tiếp xã hội và nghề nghiệp thì họ mới nhờ bác sĩ can thiệp.

Cũng theo bác sĩ Bình, tình trạng tăng tiết mồ hôi không có triệu chứng báo trước, khi hoạt động nhiều, chơi thể thao mồ hôi cũng không tiết nhiều hơn. Người bệnh có thể đổ mồ hôi từng đợt hoặc liên tục.

Phân loại

Đổ mồ hôi tiên phát: Thường không rõ nguyên nhân. Mồ hôi chủ yếu khu trú ở lòng bàn tay, nách, đầu, mặt và lòng bàn chân. Bệnh có thể khởi phát từ lúc nhỏ hay tiền dậy thì, triệu chứng nặng nề hơn trong giai đoạn dậy thì và kéo dài suốt cuộc đời.

Đổ mồ hôi thứ phát: Thường gây đổ mồ hôi toàn cơ thể. Nguyên nhân có thể do bị bệnh cường giáp, đang điều trị bằng nội tiết, tuổi mãn kinh, bị béo phì, rối loạn tâm thần…

Chọn phương pháp phù hợp

Đổ mồ hôi thứ phát được chữa bằng cách điều trị các nguyên nhân gây đổ mồ hôi. Khi bị đổ mồ hôi tiên phát hay thứ phát có thể được điều trị bằng các phương pháp sau:

Thuốc chống tiết mồ hôi: Phù hợp cho người đổ mồ hôi ít, vừa. Dùng Chloride hexahydrate nhôm (20-25%), cồn 90% bôi vào những vị trí ra mồ hồi 2-3 lần/tuần vào buổi tối.

Điện phân: Được áp dụng khi điều trị với các thuốc kháng mồ hôi không hiệu quả. Điện phân được dùng để điều trị đổ mồ hôi lòng bàn tay, lòng bàn chân, khó dùng trong trường hợp đổ mồ hôi ở nách, thân, đùi. Sử dụng dòng điện cường độ thấp (15-18 mA) áp vào lòng bàn tay hoặc bàn chân nhúng trong dung dịch điện giải. Lặp lại nhiều lần trong tuần, mỗi lần 20 phút, dần dần cách khoảng 1-2 tuần.

Phẫu thuật nội soi cắt hạch thần kinh giao cảm: Áp dụng khi đổ mồ hôi nặng ở lòng bàn tay và nách.

Các hạch giao cảm là những chỗ nối thần kinh đến các tuyến mồ hôi ở lòng bàn tay, nách và vùng đầu cổ nằm dọc theo 2 bên cột sống trong lồng ngực. Phẫu thuật nội soi lồng ngực để cắt hạch giao cảm 2-3 ở hai bên giúp hạn chế ra mồ hôi. Tuy nhiên, hạn chế là phần lớn bệnh nhân có hiện tượng tăng tiết mồ hôi bù trừ ở những vùng khác như: ngực, lưng và 2 lòng bàn chân.

Liệu pháp tâm lý: Các vấn đề về tâm lí thường là hậu quả của chứng đổ mồ hôi chứ không phải là nguyên nhân. Nên điều trị về tâm thần hay tâm lý có thể cải thiện được tình trạng đổ mồ hôi tay nhưng sẽ không giúp điều trị hết tình trạng đổ mồ hôi khú trú.

Béo phì là nguyên nhân ung thư vú phát triển

 Đó là cảnh báo của ĐH Y khoa New Orleans Mỹ (TSM) vừa công bố trên tạp chí Breast Cancer Research ra đầu tháng 11/2013. Đặc biệt, nó làm cho tốc độ phát triển của tế bào ung thư, kích thước khối u nhanh hơn so với những người có trọng lượng bình thường. Từ lâu, các nhà khoa học đã hiểu được điều này, song ở nghiên cứu nói trên lại đặt trọng tâm vào mối liên quan giữa béo bụng với bệnh ung thư vú mà lâu nay ít được quan tâm. Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích hàng loạt mẫu tế bào mầm có chứa mỡ được lấy từ cơ thể 26 phụ nữ, những người đã qua thủ thuật hút mỡ và các tế bào mỡ được lấy từ những vị trí khác trong cơ thể. Các tế bào này được nuôi trong phòng thí nghiệm cùng với các tế bào ung thư vú. Sau đó đưa vào tuyến vú của chuột cùng với viên estrogen thì khả năng sản xuất hormon leptin rất nhanh. Làm tăng số lượng tế bào ung thư và hậu quả khối u phát triển mạnh.

 Béo phì làm khối ung thư vú phát triển nhanh

Béo phì làm khối ung thư vú phát triển nhanh

Béo phì ở phụ nữ là một trong những lý do làm cho khối ung thư phát triển nhanh. Đặc biệt, tế bào đệm tủy xương (Stromal) ở phụ nữ béo phì tăng nhanh hơn nhóm phụ nữ có trọng lượng bình thường. Stromal cell là tế bào mầm dạng phôi có thể tạo ra những tín hiệu di truyền, giúp tế bào ung thư vú phát triển mạnh. Điều này cho thấy béo phì đã làm thay đổi cấu trúc tế bào Stromal cell và dẫn đến làm tăng viêm nhiễm, hậu thuẫn cho tế bào ung thư phát triển.

Khắc Nam

Theo sức khỏe đời sống

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

Hội chứng Peutz-Jeghers dễ gây ra ung thư

Hội chứng Peutz-Jeghers (PJS) là một bệnh di truyền làm phát triển các khối u hamartomatous trong đường tiêu hóa, ở vú và các loại ung thư khác. Hamartoma là một sự tăng trưởng của mô bình thường thành một khối u lành tính hoặc ung thư.

Đột biến gen gây bệnh

PJS là một bệnh di truyền do gen STK11 đột biến làm cho bệnh nhân gia tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư đại trực tràng và các ung thư khác. PJS do gen trội gây ra, cho nên con cái của một cặp vợ chồng trong đó cha hoặc mẹ bị đột biến gen thì có 50% khả năng kế thừa sự đột biến đó. Ngoài ra, người ta còn thấy có một loại PJS không liên quan đến đột biến gen STK11.

hoi-chung Peutz-Jeghers-nguyen-nhan-dan-den-ung-thu

Các dấu hiệu phát hiện PJS

Bệnh nhân bị hội chứng PJS thường có các triệu chứng sau đây: có những đốm sắc tố màu hơi nâu hoặc hơi xanh xám trên môi, nướu răng, niêm mạc miệng hoặc trên da, hay gặp ở ngón tay hoặc ngón chân; Đau thắt ở vùng bụng; Thường có máu trong phân nhìn thấy bằng mắt thường; Hay nôn mửa; Bệnh nhân thường có nhiều khối u phát triển chủ yếu ở ruột non hay trong ruột kết. Nội soi sẽ thấy các polyp đại tràng. Chụp Xquang ruột non sử dụng thuốc cản quang hoặc nội soi sẽ thấy nhiều khối u trong ruột non.

Bệnh nhân có thể bị lồng ruột với các triệu chứng: đau bụng đột ngột, dữ dội, trẻ ưỡn người, xoắn vặn, ban đêm cơn đau đánh thức trẻ dậy, bỏ chơi, bỏ bú, mỗi cơn đau kéo dài 5-15 phút, cơn đau mất đi đột ngột. Sau cơn đau, trẻ có thể lại tiếp tục bú hoặc chơi nhưng các triệu chứng lại tái diễn sau giây lát. Nôn ra thức ăn, nôn ra dịch xanh hoặc vàng. Đại tiện ra máu: là dấu hiệu muộn, máu lẫn chất nhầy, có thể đỏ hoặc nâu và cũng có thể có vài giọt máu tươi chảy ra hậu môn. Bí trung – đại tiện vì khối lồng gây tắc ruột hoàn toàn hoặc khi ruột không tắc hoàn toàn, bệnh nhân vẫn tiếp tục đại tiện được. Sờ thấy khối lồng: lúc bệnh nhân dịu cơn đau, sờ thấy khối lồng là một khối dài, di động, chắc mặt nhẵn, đau khi ấn. Bệnh nhân thường mệt lả, ít hoạt động. Nhiệt độ có thể tăng cao. Chụp Xquang cho thấy hình ảnh khối lồng ruột. Siêu âm thấy hình ảnh khối lồng.

Chẩn đoán xác định PJS dựa vào các triệu chứng: phát hiện một hoặc nhiều polyp hamartomatous trong đường tiêu hóa; kết hợp với hai trong những dấu hiệu sau đây: polyp trong ruột non; điểm tàn nhang ở miệng, môi, ngón tay, ngón chân. Có người thân trong gia đình có tiền sử bị PJS và có tàn nhang đặc trưng. Xét nghiệm máu để tìm một đột biến trong STK11 gen.

Điều trị và phòng bệnh

Điều trị hội chứng PJS chủ yếu là dùng phẫu thuật để cắt bỏ các polyp và phòng tránh ung thư hóa của các polyp này. Bệnh nhân mắc hội chứng Peutz-Jeghers thường phải thực hiện nhiều lần phẫu thuật trong đời. Có thể phẫu thuật mổ hở hoặc mổ nội soi để giải quyết những vấn đề của đường tiêu hóa và ngoài đường tiêu hóa. Nội soi cắt polyp nhỏ và mổ hở cắt polýp lớn, nếu cần có thể phải cắt một đoạn ruột. Mở bụng và cắt một đoạn ruột do biến chứng của lồng ruột, tắc ruột hay xuất huyết tiêu hóa liên tục. Phẫu thuật để thám sát chẩn đoán và điều trị ung thư ngoài ống tiêu hóa.

Tuy nhiên, sau phẫu thuật có thể gặp một số biến chứng như: dính và tắc ruột hoặc hội chứng ruột ngắn do phẫu thuật bụng nhiều lần.

Phòng bệnh: sàng lọc ung thư liên quan đến PJS như nội soi tiêu hóa để tìm kiếm khối u hoặc những bất thường khác từ lúc 10 tuổi và định kỳ 2 năm/lần đối với người trưởng thành. Nội soi, siêu âm bụng để phát hiện ung thư tuyến tụy, bắt đầu ở tuổi 30 và định kỳ 1-2 năm/lần. Sàng lọc ung thư cho phụ nữ có PJS: tự kiểm tra vú hàng tháng, kiểm tra vú hàng năm ở bệnh viện, bắt đầu ở tuổi 20. Chụp nhũ ảnh mỗi 2-3 năm, bắt đầu ở tuổi 20, sau đó chụp hàng năm, bắt đầu ở tuổi 40. Khám phụ khoa hàng năm, làm xét nghiệm Pap, siêu âm qua đường âm đạo, sinh thiết tử cung, bắt đầu ở tuổi 20. Sàng lọc ung thư cho người đàn ông với PJS: hàng năm kiểm tra và siêu âm tinh hoàn, bắt đầu từ tuổi 20, sau định kỳ mỗi năm 1 lần.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Theo SKDS

Thấp khớp: bệnh nặng nhất trong 100 loại bệnh cơ xương khớp

Hiện nay người ta đã biết tới hơn 100 loại bệnh cơ khớp xương gây đau nhức và tàn tật cho hàng chục triệu người, trong đó bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương nặng và dần dần làm biến dạng các khớp xương. Bệnh nhân bị hạn chế vận động, cử động, đi lại khó khăn do tổn thương và biến dạng các khớp. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 20 – 50 tuổi.

Thấp khớp do di truyền?

Bệnh thấp khớp xảy ra do màng lót các khớp xương bị viêm sưng lên và tiết ra một chất đạm (protein) làm màng này ngày càng dày lên. Chất đạm này còn hủy hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Sau một thời gian bị bệnh, dần dần các khớp xương của bệnh nhân bị biến dạng, méo mó và có thể bị phá hủy. Câu hỏi đặt ra là tại sao các màng lót trong khớp xương lại bị sưng lên? Nhiều nghiên cứu cho rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân gây sưng các màng lót trong khớp. Bên cạnh đó, một số người có gen di truyền khiến họ dễ bị nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Một số nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh thấp khớp. Những yếu tố nguy cơ có thể làm một người dễ mắc bệnh thấp khớp là: tuổi già, phái nữ, người hút thuốc lá, thuốc lào.

thap_khop_benh_nang_nhat_trong_100_loai_benh_co_xuong_khop

Tổn thương khớp bàn tay trong bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis

Dấu hiệu của bệnh thấp khớp

Thông thường, một bệnh nhân bị bệnh thấp khớp có biểu hiện các triệu chứng sau đây trong một thời gian rồi tự khỏi, sau đó lại tái phát:  đau nhức và sưng các khớp, nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy vào mỗi buổi sáng hay sau một thời gian nghỉ ngơi. Các khớp khó hoặc không cử động được. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng. Sau một thời gian bị bệnh, các khớp xương bị biến dạng. Bệnh thấp khớp thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Đầu tiên là các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối bị viêm sưng. Tiếp theo là các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ cũng bị tổn thương. Ở những điểm dễ va chạm nhất của khớp xương như khuỷu tay, bàn tay và bàn chân, dây gân gót chân có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục thấp khớp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác hay ở trong phổi. Kích thước các cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu, nhưng cũng có thể to bằng quả táo nhỏ, với đặc điểm là  không gây đau đớn gì cả. Bệnh thấp khớp đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và màng phổi, phổi và các mạch máu. Đây là một bệnh mạn tính, có thời gian thuyên giảm, có lúc lại nặng lên. Hiện nay chưa có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương pháp bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.

Biến chứng của bệnh

Bệnh thấp khớp gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó cử động, khó làm những việc đơn giản như cầm đũa ăn cơm, cầm bút viết, vặn nắm cửa…Bệnh nhân thấp khớp cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương, bệnh tim…tàn tật do khớp bị biến dạng.

 

Các phương pháp chữa trị

Điều trị nội khoa để giảm đau và ngăn sự tiến triển của bệnh có thể dùng một trong các thuốc sau: thuốc chống viêm không stenoid, COX 2 inhibitors, steroids, thuốc chống miễn nhiễm, thuốc chống trầm cảm… Lọc máu: loại bỏ bớt những kháng thể gây viêm và đau khớp. Phương pháp phẫu thuật để thay khớp đối với các khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau. Những phương cách chữa trị như châm cứu, thuốc đông y, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate… cũng có tác dụng nhất định.

Cách tự săn sóc: bệnh nhân cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình để giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần nhờ bác sĩ hay nhân viên vật lý trị liệu tư vấn về những môn hay động tác thể dục thích hợp và cần thiết để luyện tập. Hạn chế tăng cân vì khi thừa cân sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và bị phá hoại nhanh hơn. Ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc. Nên tắm nước nóng hay chườm nước nóng lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng cường tưới máu đến khớp. Tập thư giãn như thở sâu, thư giãn bắp thịt, thiền. Uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.

Xác định tinh thần lạc quan, phối hợp với bác sĩ trong phòng và chữa bệnh. Sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp và hỗ trợ vận động như: băng đầu gối, gậy chống… Tránh làm việc hay cử động quá sức, nghỉ ngơi hợp lý.

BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh
Theo SKĐS

Cách tự giúp mình giảm nguy cơ thoái hóa khớp

Nhiều người lầm tưởng rằng những bước chân nặng nề khó nhọc, sự mỏi nhức của các khớp chỉ diễn ra ở tuổi già nhưng thực tế quá trình thoái hóa khớp diễn ra ngay cả khi chúng ta đang còn trẻ. Mặc dù các yếu tố di truyền và lão hoá không thể điều chỉnh được nhưng chúng ta vẫn có thể giảm nguy cơ thoái hóa khớp nếu có tác động tích cực vào các yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống…

Chất lượng cuộc sống bị giảm sút khi khớp bị đau

Thoái hoá khớp là hậu quả của mất cân bằng giữa quá trình tổng hợp và thoái giáng tổ chức sụn khớp: quá trình thoái giáng sụn tăng lên trong khi quá trình tổng hợp sụn giảm sút; làm thay đổi hình thái, sinh hoá, phân tử và cơ sinh học của tế bào và chất cơ bản của sụn dẫn đến hiện tượng sụn khớp bị nhuyễn hoá, nứt, loét và mỏng dần, xơ hoá xương dưới sụn, tạo gai xương và hốc xương dưới sụn. Bệnh tiến triển thầm lặng, không có biểu hiện gì cho đến một mức độ tổn thương nhất định của sụn khớp mới gây nên các triệu chứng trên lâm sàng như đau khớp, cứng khớp, tràn dịch ổ khớp, biến dạng khớp, dính khớp, teo cơ quanh khớp, gây khó khăn trong lao động, sinh hoạt, giảm chất lượng cuộc sống, thậm chí là tàn tật. Các khớp hay bị thoái hoá là những khớp phải chịu sức nặng của cơ thể (các khớp tải trọng) như khớp gối, khớp háng, khớp cột sống…

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_01

Diễn viên múa balê dễ bị chấn thương khớp

Truy tìm nguyên nhân

Nguyên nhân thực sự của bệnh thoái hóa khớp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nguyên nhân của bệnh chưa biết rõ nhưng người ta đã biết được một số yếu tố nguy cơ cơ bản gây nên bệnh thoái hóa khớp, đó là:

– Yếu tố di truyền: thoái hoá khớp cũng như nhiều bệnh khác chịu chi phối rất lớn của di truyền, có những chủng tộc người có tỷ lệ thoái hoá khớp cao hơn các chủng tộc khác.

– Lão hoá: Các tế bào sụn với thời gian lâu dần sẽ giảm khả năng tổng hợp các chất tạo nên sợi colagen và chất cơ bản của sụn làm cho chất lượng của sụn, tính đàn hồi, tính chịu lực bị giảm sút. Nói cách khác thoái hóa khớp là hậu quả của quá trình lão hoá của sụn khớp, do đó tần số mắc bệnh tăng dần theo tuổi. Với tuổi thọ trung bình ngày càng cao đồng nghĩa với số bệnh nhân bị bệnh thoái khớp ngày càng nhiều.

– Yếu tố cơ học: các vi chấn thương tích tụ lại nhiều lần (hiện tượng quá tải) là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hoá tăng nhanh. Hiện tượng quá tải hay gặp trong trường hợp tư thế làm việc không hợp lý; tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp đặc biệt là các chấn thương thể thao như khớp bàn tay, khớp vai của các võ sĩ quyền anh; khớp khuỷu tay của công nhân vận hành búa máy, khoan cắt bê tông;  khớp gối của vận động viên bóng rổ hoặc cử tạ, khớp cổ chân của diễn viên balê, vận động viên bóng đá; đĩa đệm cột sống của vận động viên cử tạ; thợ mỏ than, người đội đá, cát, đất…

– Yếu tố dinh dưỡng: thừa cân, béo phì gây quá tải nên sụn khớp, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, thiếu chất khoáng (mangan, zinc), một số vitamin làm ảnh hưởng đến chất lượng của sụn khớp.

– Các dị dạng bẩm sinh và rối loạn phát triển như loạn sản sụn; trật khớp háng bẩm sinh, biến dạng kiểu chân chữ X, chữ O; gù vẹo cột sống gây ra do những rối loạn làm thay đổi đặc tính của sụn và làm hư hại bề mặt khớp.

cach_tu_giup_minh_giam_nguy_co_thoai_hoa_khop_02

Thoái hóa khớp

Có thể trì hoãn quá trình thoái hóa khớp?

Vì chưa biết rõ nguyên nhân của bệnh và bệnh diễn tiến âm thầm không triệu chứng một thời gian dài trước khi bộc lộ đầy đủ trên lâm sàng nên phòng bệnh là tác động vào các yếu tố nguy cơ đã phân tích ở trên càng sớm càng tốt. Mục đích là làm chậm quá trình hủy hoại khớp, nhất là ngăn sự thoái hóa sụn khớp, duy trì khả năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trong các yếu tố cần điều chỉnh thì yếu tố di truyền và yếu tố lão hoá là những yếu tố mà chúng ta không thể điều chỉnh được. Ngược lại các yếu tố còn lại (yếu tố cơ học, dinh dưỡng, lối sống) chúng ta có thể điều chỉnh được bằng các biện pháp sau:

Tránh cho khớp bị quá tải: tư thế làm việc hợp lý, không nên làm việc ở một tư thế kéo dài mà nên thay đổi tư thế thường xuyên, nên kết hợp những khoảng nghỉ ngắn 5-10 phút trong khi làm việc, giữ cân nặng ở mức hợp lý, giảm cân nếu béo phì. Tập thể dục thường xuyên và vừa sức, như bơi lội, đạp xe đạp, đi bộ khoảng 30- 60 phút/ngày, tập dưỡng sinh, tập các động tác tập tăng cường sức mạnh của các cơ quanh khớp, làm giảm lực tác động trên bề mặt sụn.

Phát hiện và điều trị kịp thời các chấn thương do thể thao, do nghề nghiệp, sau đó là sử dụng các biện pháp lý liệu pháp, phục hồi chức năng để đưa khớp trở về trạng thái sinh lý bình thường, tránh diễn biến xấu dẫn đến thoái hoá khớp. Với những người làm những nghề có nguy cơ thoái hoá khớp cao thì tìm kiếm các biện pháp thích nghi với điều kiện làm việc, với nguyên tắc là tránh cho khớp ít bị quá tải nhất có thể.

Dinh dưỡng hợp lý: ăn uống đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhất là các chất khoáng, các vitamin như rau quả tươi, giàu các chất chống ôxy hoá.

Phát hiện và sửa chữa các dị dạng bẩm sinh, tư thế xấu, lệch trục khớp như chỉnh lại trục khớp, gọt giũa xương chày trong lệch trục khớp gối, sửa chữa lại các thiểu sản khớp háng bẩm sinh.

Dự phòng bằng sử dụng thuốc có tác dụng trên cấu trúc sụn khớp. Hiện các thuốc này mới được khuyến cáo dùng để điều trị bệnh thoái hoá khớp, chưa có các nguyên cứu về chỉ định dự phòng thoái hoá khớp (ở giai đoạn tiền lâm sàng: khi mà các triệu chứng thoái hoá khớp chưa biểu hiện trên lâm sàng).

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ I)

Kỳ 1: Các biểu hiện lâm sàng

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Chỉ riêng ở Trung Quốc, đã có ít nhất 2,3 triệu người mắc bệnh này. Nam giới trẻ tuổi thường hay mắc bệnh VCSDK nhất, chiếm tới 95% tổng số người mắc bệnh. 80% người mắc bệnh có độ tuổi dưới 30. Bệnh có tính gia đình, liên quan chặt chẽ với yếu tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA B 27. Những yếu tố môi trường như nhiễm khuẩn, chấn thương có thể kích thích khởi phát bệnh.

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_1

Cột sống bình thường và viêm cột sống dính khớp.

Các biểu hiện lâm sàng của bệnh VCSDK

Trong thời kỳ đầu phát bệnh, các triệu chứng thường nhẹ nên không được bệnh nhân chú ý. Khi triệu chứng đã rõ thì bệnh đã tiến triển được nhiều tháng, cho đến vài năm. Dấu hiệu sớm thường gặp là đau cột sống thắt lưng và viêm các khớp chi dưới. Biểu hiện ở cột sống thường bắt đầu từ khớp cùng chậu nằm phía sau khung chậu, sau đó tổn thương tiếp tục lan theo chiều từ dưới lên trên cho đến tận cột sống cổ. Những triệu chứng cột sống đầu tiên là đau vùng mông, thắt lưng hay đau thần kinh tọa. Đau tăng lên về đêm và cứng cột sống thấy rõ nhất là lúc sáng sớm mới ngủ dậy. Ở giai đoạn muộn, người bệnh VCSDK có các biến dạng cột sống rõ rệt như eo lưng dẹt do teo cơ cạnh cột sống, lưng gù, cổ vươn về phía trước. Khớp háng bị viêm trong khoảng 70% trường hợp, thường xuất hiện trong 5 năm đầu bị bệnh. Viêm khớp háng có biểu hiện đau vùng bẹn, sau mông, hạn chế vận động phần hông thường ở trạng thái co gấp. Các cơ mông và đùi teo nhanh chóng. Viêm khớp gối, chủ yếu sưng đau, ít nóng đỏ, có thể kèm theo tràn dịch khớp, làm hạn chế các động tác gấp duỗi chân, đi lại khó khăn. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai. Đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Ngoài ra bệnh còn có một số biểu hiện toàn thân và ngoài khớp như sốt, gầy sút, viêm mống mắt, hở van tim. Một số khớp khác cũng có thể bị tổn thương như khớp cổ chân, khớp vai, đau gót chân và đau hay sưng tấy ở những điểm gân cơ khác là những hiện tượng thường gặp, gọi là viêm gân bám tận. Viêm mống mắt thể mi của màng bồ đào mắt xảy ra trong 25% trường hợp VCSDK, có biểu hiện đau mắt, sung huyết kết mạc, sợ ánh sáng. Người bị VCSDK có thể bị hoại tử tầng giữa vùng gốc động mạch chủ, làm cho vòng động mạch chủ bị giãn rộng ra, làm cho van động mạch chủ không đóng kín được hoàn toàn, dẫn đến hở van động mạch chủ. Các tổn thương viêm có thể làm tổn thương đường dẫn truyền của tim, gây nên loạn nhịp tim. Những bất thường đó có thể chẩn đoán khi chụp Xquang tim phổi, làm siêu âm tim. Tóm lại, nếu bệnh nhân nam giới trẻ tuổi (tuổi từ 15-30) đau cột sống thắt lưng, có đau khớp háng hay sưng đau khớp gối, khớp cổ chân cần phải nghĩ đến bệnh VCSDK và cần đến khám ngay ở chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời.

Chẩn đoán VCSDK bằng cách nào?

Bệnh nhân có các biểu hiện nói trên sẽ được làm các xét nghiệm máu, dịch khớp, chụp Xquang cột sống, đặc biệt là khớp cùng chậu. Trên phim Xquang có thể phát hiện thấy các triệu chứng điển hình của bệnh như viêm khớp cùng chậu hai bên, hình ảnh cầu xương nối liền hai thân đốt sống do xơ hóa bao khớp, cột sống có hình ảnh thân cây tre do cầu xương nối liền nhiều thân đốt sống, dải xơ dây chằng cạnh cột sống trông như những đường ray tàu hỏa, đốt sống biến dạng thành hình vuông. Ngày nay để chẩn đoán sớm bệnh người ta có thể áp dụng phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân hay tìm yếu tố HLA B27, dương tính trong 90% bệnh nhân VCSDK trong khi đó chỉ có 4% dân số mang yếu tố này. Xét nghiệm tìm yếu tố dạng thấp trong VCSDK thường âm tính, do vậy bệnh còn được xếp vào nhóm bệnh lý cột sống có huyết thanh âm tính. Yếu tố dạng thấp do vậy thường chỉ dùng để chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm khớp dạng thấp. Người ta còn làm xác định tốc độ máu lắng và protein C phản ứng để xác định xem bệnh có đang hoạt động hay không. 80% người bệnh VCSDK có tốc độ máu lắng cao và protein C phản ứng cao. Thông thường sau khi khống chế được bệnh thì tốc độ máu lắng và protein C phản ứng có thể trở lại bình thường.

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Bệnh của nam giới trẻ tuổi – Viêm cột sống dính khớp (Kỳ II)

Kỳ II: Biến chứng của bệnh viêm cột sống dính khớp

Viêm cột sống dính khớp (VCSDK) là một bệnh viêm khớp mạn tính khá phổ biến ở nước ta. Bệnh xuất hiện trên trái đất từ rất lâu. Người ta phát hiện được các dấu hiệu của bệnh trên các xác ướp Ai Cập tồn tại từ 3.000 năm trước Công nguyên. VCSDK như tên gọi của nó là viêm cột sống và khớp cùng chậu mạn tính gây cứng và dính cột sống. Tuy nhiên các khớp lớn ở chi dưới như khớp háng và khớp gối cũng vị viêm, do vậy bệnh còn có tên là viêm đốt sống gốc chi. Bệnh có tính gia đình (con hay cháu của bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh gấp tới 40 lần so với các gia đình khỏe mạnh). Hai nguyên nhân chính gây bệnh là yếu tố di truyền và yếu tố môi trường, tương tác với nhau một cách chặt chẽ để gây nên bệnh.

Các biến chứng của bệnh VCSDK

benh_cua_nam_gioi_tre_tuoi_viem_cot_song_dinh_khop_ky_2

Các giai đoạn viêm cột sống dính khớp.

Do các biểu hiện bệnh VCSDK rất đa dạng nên có thể chẩn đoán nhầm với khoảng 20 bệnh khác cũng có triệu chứng tương tự như lao khớp, bệnh ưa chảy máu, viêm khớp dạng thấp, gút, viêm đốt sống đĩa đệm do vi khuẩn. Do vậy bệnh nhân nhất thiết phải đến khám các bác sĩ chuyên khoa xương khớp ngay từ khi mới có các triệu chứng đầu tiên. Hiện nay bệnh nhân thường có tâm lý lo ngại mất thời gian đi khám do bận việc làm ăn, chủ quan tự điều trị hay để đến khi bệnh tiến triển nặng rồi mới vội vàng đi khám. Hậu quả là bệnh nhân bị các biến chứng nặng nề của bệnh, mất nhiều tiền của mà cũng không có kết quả vì bệnh đã tiến triển quá dài và quá nặng. Bệnh nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ tiến triển nặng dần, dẫn đến dính và biến dạng toàn bộ cột sống và hai khớp háng, khiến người bệnh bị tàn phế, không đi lại được, phải bò hoặc lết, cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình và xã hội. Bệnh nhân thường có tư thế giảm đau xấu là nằm nghiêng co lưng tôm, hay nằm ngửa kê gối cao đầu. Hậu quả là bị gù lưng, khiến đi đứng lom khom, đầu cúi về phía trước. Gù lưng nhiều có thể khiến các xương sườn chạm vào xương cánh chậu, hạn chế giãn nở lồng ngực, gây suy hô hấp, suy tim. Các biến chứng nặng nề khác của bệnh là lao phổi, liệt hai chân do chèn ép tủy và rễ thần kinh.

Chế độ sinh hoạt, vận động thế nào khi bị VCSDK?

Bản thân bệnh nhân VCSDK muốn giảm nhẹ đau đớn nên thường để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong một thời gian dài, hậu quả là bị teo cơ bắp và co rút khớp xương, gây tàn phế. Do vậy phương pháp tốt nhất là tích cực điều trị bằng các thuốc chống viêm để kiểm soát đau khớp, rồi từ từ hoạt động các khớp xương. Trong giai đoạn tiến triển của bệnh, bệnh nhân phải nghỉ ngơi. Khi không vận động phải đặt khớp xương viêm cấp tính ở vị trí thích hợp hoặc dùng nẹp để hạn chế cử động, tránh phát sinh co rút khớp. Trong thời kỳ cấp tính phải kiên trì vận động duỗi thẳng chi và cột sống để giảm nhẹ các cơn đau do co rút cơ gây ra. Khi nằm nghỉ, bệnh nhân phải nằm ngửa trên nền cứng, đầu gối thấp, chân duỗi thẳng hơi dạng để tránh các khớp bị co rút nặng thêm. Với tư thế này nếu có dính khớp thì bệnh nhân vẫn có thể đi lại được. Tuy nhiên khi bệnh đã đỡ thì cần phải tích cực vận động càng sớm càng tốt để chống dính khớp. Bệnh nhân cần phải hiểu rằng tập vận động khớp và điều trị bằng thuốc đều có tầm quan trọng như nhau. Bệnh nhân phải học cách tự chăm sóc bản thân và thường xuyên tập thể dục, với sự hướng dẫn của bác sĩ để duy trì được tư thế tốt nhất của cột sống, tăng cường cơ lực của các cơ cạnh cột sống và tăng hoạt động của các cơ hô hấp. Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần hoạt động xương khớp nhẹ nhàng 1-2 lần để giúp giảm bớt co cứng khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Bệnh nhân có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Người bệnh nghiện thuốc lá phải dừng ngay hút thuốc lá để phòng tránh suy hô hấp. Bệnh VCSDK cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh dục của người bệnh. Ở giai đoạn muộn khi cột sống và các khớp đã biến dạng nhiều, khiến cho bệnh nhân thậm chí không thể tự mình sinh hoạt bình thường được. Một số thuốc điều trị cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh dục. Bệnh cũng ảnh hưởng cả đến thế hệ con cái của bệnh nhân. Nguy cơ những đứa trẻ của những bệnh nhân có HLA B 27 dương tính bị mắc bệnh VCSDK lên tới 50%. Do vậy bệnh nhân VCSDK nên cân nhắc kỹ khi lập gia đình và có con. Nên lập gia đình và có con sớm, ở giai đoạn đầu của bệnh khi chưa có biến dạng cột sống và các khớp. Những người VCSDK nếu thấy khớp háng không thoải mái thì nên đi kiểm tra sớm và khám định kỳ. Đối với người khớp háng đã bị cứng đờ, không thể sinh hoạt và làm việc bình thường thì phải phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo.

Tuân thủ điều trị lâu dài nâng cao chất lượng điều trị

Cần phát hiện và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm thì kết quả mới khả quan. Mục đích của điều trị là giảm đau, chống viêm, duy trì chức năng vận động của các khớp cột sống và ngoại vi. Bệnh nhân cần xác định thái độ kiên trì điều trị lâu dài, tuân thủ đúng chế độ thuốc men do thầy thuốc chỉ định.

TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Những yếu tố gây bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương xảy ra khi cơ thể không thể bù đắp lượng canxi xương tương xứng với lượng canxi đã mất. Bệnh thường diễn ra cùng với sự lão hóa của cơ thể, đặc biệt ở phụ nữ.

nhung_yeu_to_gay_benh_loang_xuong

Theo các chuyên gia, ước tính mỗi năm có hơn 1,5 triệu người Mỹ bị gãy xương liên quan tới bệnh loãng xương.

Hội phẫu thuật chỉnh hình Mỹ đã đưa ra một số yếu tố thường gặp có thể gây bệnh loãng xương, bao gồm: tuổi cao; chưa thực hiện đủ các bài tập giảm cân; thiếu hụt nồng độ estrogen sau mãn kinh; không bổ sung đủ canxi hoặc vitamin D trong chế độ ăn; mất sự cân bằng một số hormon; do yếu tố di truyền, trong đó có yếu tố chủng người da trắng hoặc người châu Á; thói quen uống rượu hoặc hút thuốc lá.

Minh Quang (Theo HealthDay News, 17/7/2008)
Theo SKĐS

Tìm thấy gen TSPAN12 gây bệnh mù bẩm sinh

Nhóm đề tài ở Đại học Lead, Anh vừa kết thúc một nghiên cứu và tìm thấy một gen mới mở ra triển vọng sáng sủa trong việc ngăn ngừa bệnh mù lòa bẩm sinh. Gen vừa phát hiện có tên là TSPAN12, thủ phạm gây bệnh FEVR (Familial Exudative Vitreoretinopathy).

tim_thay_gen_tspan12_gay_benh_mu_bam_sinh

Đây là căn bệnh mang tính di truyền, gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của mắt, dẫn đến mù lòa. Phần lớn những người mắc bệnh FEVR không có dấu hiệu nhận biết nên khi phát hiện thường là muộn. Nhờ biết được gen này trong tương lai bác sĩ sẽ dựa vào tiền sử, sàng lọc để nhận biết các biến thể TSPAN12 và can thiệp kịp thời nhằm hạn chế thấp nhất nguy cơ phát bệnh, đồng thời tìm ra những phương án điều trị mang tính khả thi nhất. Qua nghiên cứu sơ bộ các nhà khoa học cho rằng gen TSPAN12 gây bệnh FEVR bằng cách làm gián đoạn các tín hiệu tế bào để giúp mạch máu phát triển bình thường trong võng mạc ở phía sau mắt. Việc tìm thấy gen TSPAN12 nói trên là kết quả của nghiên cứu ở 70 bệnh nhân mắc bệnh FEVR, những người nay có ít nhất từ 3 gen khuyết tật mà khoa học đã từng biết đến. Quá trình đột biến trong gen TSPAN12 nằm ở vị trí nhiễm sắc thể thứ 7 có trong 10% số bệnh nhân nói trên.

Duy Hùng (Theo DS, 2/2010)
Theo SKĐS

Nguyên nhân gây lác mắt ở trẻ nhỏ

Con tôi 1 tuổi, cả nhà tôi không ai bị lác mắt nhưng cháu lại bị. Vậy nguyên nhân nào, thưa bác sĩ?

Bùi Thị Hương(Nghệ An)

nguyen_nhan_gay_lac_mat_o_tre_nho

Lác mắt là do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt. Bình thường, các cơ của mắt hoạt động rất cân bằng dưới sự điều khiển của các dây thần kinh để hai tròng mắt nhìn đúng hướng. Khi sự cân bằng này mất đi, mắt không nhìn được đúng hướng và sinh ra lác. Nguyên nhân gây lác có thể  có tật về mắt như cận thị, loạn thị, viễn thị, gặp bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu, bị chấn thương mắt, sụp mí, lác mắt cũng do di truyền… Khi phát hiện trẻ có dấu hiệu nhìn lệch, nhìn phải nghiêng đầu, không tập trung vào một đồ chơi, không có phản ứng với ánh sáng thì các bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi khám để điều trị càng sớm càng tốt. Như thế, mắt bé có cơ hội trở lại bình thường. Bác sĩ nhãn khoa sẽ có phương pháp luyện tập mắt, cho trẻ đeo kính hoặc phẫu thuật…

ThS. Lê Hưng
Theo SKĐS

Chứng lác mắt ở trẻ sơ sinh

Trong mấy tháng đầu kể từ khi mới chào đời, bạn có thể phát hiện ra mắt bé giống như hơi bị lác, nguyên nhân là do việc phối hợp giữa 2 mắt còn kém. Phần lớn trường hợp này, mắt bé sẽ trở lại bình thường sau đó. Tuy nhiên, nếu tình trạng bé bị lác mắt kéo dài, bạn nên đưa bé đi khám sớm.

chung_lac_mat_o_tre_so_sinh

Nguyên nhân

Bé có thể xuất hiện tình trạng lác một bên mắt từ lúc mới sinh hoặc trong giai đoạn 1-2 tuổi (hay muộn hơn).

Do hiện tượng mất cân bằng giữa 2 mắt: 2 mắt của bé hoạt động nhịp nhàng, thông qua sự chi phối của các dây thần kinh và các cơ chéo bám vào nhãn cầu. Vì một lý do nào đó, sự phối hợp này bị trục trặc. Khi ấy, mắt bé không cùng nhìn về một hướng nên xuất hiện dấu hiệu bị lác (lé).

Bé mắc các tật về mắt như: cận thị, viễn thị, loạn thị. Cận thị thường gây ra lác ngoài, viễn thị gây lác vào trong.

Do bất thường ở các cơ vùng nhãn cầu.

Bé bị tổn thương thần kinh hoặc tổn thương não.

Mắt bé bị nhiễm khuẩn, chấn thương, đục thủy tinh thể, sụp mí…

Lác cũng liên quan đến yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ của bé bị lác thì cũng có khả năng bé mắc phải chứng bệnh này.

Điều trị

Cha mẹ nên phát hiện dấu hiệu lác mắt và đưa bé đi khám sớm. Chữa trị càng sớm thì bé càng có cơ hội khỏi bệnh. Nếu chữa lác trước 3 tuổi, tỷ lệ thành công lên tới 92%, 6-8 tuổi là 62%. Nếu để lâu, mắt bé sẽ thành tật nên khả năng phục hồi sẽ kém.

Bác sĩ có thể băng kín một bên mắt không bị tật, để giúp bé luyện tập hướng nhìn cho bên mắt còn lại. Hoặc, bác sĩ chỉ định cho bé đeo một loại kính đặc biệt để chỉnh hướng nhìn cho mắt của bé. Sau đó, bác sĩ sẽ tiến hành thêm một cuộc phẫu thuật nhỏ.

Lưu ý: phương pháp bịt mắt khi chữa lác cho bé phải được sự chỉ định của bác sĩ. Bởi tùy tình trạng bệnh, bé có thể được bác sĩ chỉ định việc bịt mắt bằng thuốc, bằng kính hay bằng miếng vải; bịt thường xuyên hay cách quãng…

Bé có thể được bác sĩ chỉ định điều trị lác mắt bằng các trò chơi như xếp hình, xâu hạt vòng để giúp bé tăng sự phối hợp tập trung của cả 2 mắt.

Dấu hiệu nên đưa bé đi khám sớm

Bé thường nhìn lệch, nhìn nghiêng hoặc quay đầu mới nhìn thấy đồ vật ở bên cạnh.

Mắt bé không có phản ứng với ánh sáng hoặc không tập trung vào một món đồ chơi.

BS. NGỌC LAN
Theo SKĐS

Tư vấn: biểu hiện của bệnh cận thị

Con tôi năm nay vào lớp 1, thời gian gần đây tôi thấy cháu hay nháy mắt, ngồi sát màn hình khi xem tivi, đọc sách phải nhìn gần. Nhà tôi không có người bị cận thị. Vậy có phải con tôi có dấu hiệu bị cận thị không?

Lê Thị Tú (Hà Tĩnh)

tu_van_bieu_hien_cua_benh_can_thi

Cận thị là một dạng của tật khúc xạ. Để điều chỉnh tật cận thị, người ta đã chế tạo ra thấu kính điều chỉnh hình ảnh cho hình ảnh rơi vào đúng võng mạc và người mắc tật cận thị sẽ nhìn rõ hơn đó là thấu kính phân kỳ (hay còn gọi là kính cận thị). Có hai nguyên nhân chủ yếu gây cận thị là do di truyền và môi trường, ngoài ra, nếu trẻ sinh non, sinh thiếu tháng cũng có khả năng bị tật khúc xạ. Những biểu hiện của tật cận thị: nheo mắt, nhìn nghiêng, mỗi khi nhìn những vật ở xa hoặc khi xem ti vi, nhìn gần khi đọc sách. Theo thư bạn kể thì con bạn mắc tật khúc xạ cận thị do môi trường. Môi trường ở đây có thể là tư thế ngồi học, xem tivi quá nhiều, ánh sáng không đủ… Chỉ có đeo kính mới điều chỉnh được tật cận thị và khi con bạn đủ tuổi có thể phẫu thuật để chữa cận. Tốt nhất, bạn nên đưa con tới bác sĩ chuyên khoa mắt để được khám và tư vấn. Để phòng tránh cận thị,  bạn nên cho cháu ngồi học đúng tư thế, đủ ánh sáng, không nên xem tivi quá nhiều. Ngoài ra, bổ sung các thực phẩm như rau xanh, cá, gan động vật, các vitamin B1,B2.

BS.Nguyễn Thu Hiền
Theo SKĐS

10 thắc mắc thường gặp về cận thị học đường

Theo số liệu thống kê cả nước có 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị cận thị, được thống nhất với tên gọi “cận thị tuổi học đường” vì mắc ở lứa tuổi đang đi học. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về cận thị, yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, làm thế nào để phát hiện sớm bệnh cũng như vấn đề sử dụng kính cho trẻ…

1. Cận thị là một bệnh lý như thế nào? Cận thị trẻ em khác gì cận thị ở người lớn?

Cận thị là sự suy giảm khả năng nhìn xa, trong đó ảnh của sự vật không rơi đúng vào võng mạc mà rơi ra phía trước võng mạc, phải dùng một thấu kính phân kỳ để nhìn được nét. Cận thị học đường hay cận thị trên người trẻ (từ 8 – 22 tuổi) tăng số dần theo năm tháng đi học, mỗi năm 0,5 – 1đi-ốp (D), dừng lại khoảng 6D. Cá biệt cũng có những trường hợp cận bệnh lý (cận thị thoái hóa): có yếu tố di truyền, số kính tiếp tục gia tăng sau tuổi trưởng thành, cận đến 10D hoặc hơn, không thể đeo đúng số, nhiều biến chứng, thị lực khó đạt mức tối đa mặc dù đã cố gắng chỉnh kính.

Một thực tế ở nước ta là nhiều người không hề cận thị khi còn đi học, là sinh viên nhưng khi ra trường, đi làm lại bị cận thị. Họ đều ở môi trường làm việc bằng mắt nhiều ở cự ly gần, với máy tính chẳng hạn.

10_thac_mac_thuong_gap_ve_can_thi_hoc_duong

Tư thế ngồi học không đúng, trẻ dễ bị cận thị.

2. Khi bị cận thị, trẻ thường có những biểu hiện như thế nào?

Đa phần sẽ bắt đầu biểu hiện vào cấp II, nhưng hiện nay nhiều trẻ cận từ lớp 3, trẻ thường có biểu hiện nheo mắt, nghiêng đầu, có xu hướng thích tiến gần đến nguồn tài liệu. Học tập kém tập trung, kết quả giảm sút do chép đầu bài không kịp, hỏi han bạn bè… Thời lượng học tập cũng như trẻ bình thường thì trẻ cận thấy nhanh mỏi mắt, có thể dẫn tới đau nhức mắt và đau đầu.

3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ?

Muốn có thị lực hoàn hảo về yếu tố tiên thiên cần có: đôi mắt (nhãn cầu) hoàn chỉnh, các cơ điều khiển mắt hoạt động tốt, đường dẫn truyền ảnh lên não hoàn hảo, não bộ không có bệnh lý.

Về điều kiện ngoại cảnh: chiếu sáng tốt là điều tối quan trọng, bên cạnh đó là độ tương phản, màu sắc… cũng ảnh hưởng đến kết quả thị lực.

4. Các phương pháp thăm khám bệnh cận thị hiện nay?

Phát hiện cận thị không khó, trừ một số trường hợp giả cận thị hoặc cận thị gắn liền với các hội chứng bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hóa. Thông thường chỉ bằng việc thử thị lực, đo khúc xạ, thử kính thấy thị lực đạt tối đa là có thể kết luận trẻ có bị cận thị hay không. Các trường hợp khác cận thị kèm với loạn thị, cận thị giả, cận thị là một biểu hiện của hội chứng nào đó… sẽ phức tạp hơn, cần có bác sĩ chuyên khoa khám xét cẩn thận.

5. Cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị cận qua các dấu hiệu như thế nào?

Cha mẹ chủ yếu bằng quan sát có thể phát hiện ra trẻ bị cận thị: nheo mắt, nghiêng đầu, ngồi gần, ở lớp: ghi chép trên bảng khó khăn, hay phải nhờ bạn bè giúp đỡ…

6. Nhiều người cho rằng, khi mới phát hiện trẻ bị cận không nên cho đeo kính vì như vậy độ cận của trẻ sẽ bị tăng nhanh. Như vậy có đúng không?

Để trả lời câu hỏi trên người ta đã làm nghiên cứu hai nhóm đối chứng, nhóm có đeo và không đeo. Hằng năm có đánh giá lại tình trạng khúc xạ thì thấy đeo hay không đeo không ảnh hưởng đến độ gia tăng cận thị. Có một điều chắc chắn là: không đeo nhất định sẽ gặp khó khăn trong học tập và sinh hoạt, nhìn gần cường độ cao trong thời gian dài sẽ làm tăng số cận.

7. Trẻ em đôi khi hiếu động không tập trung nên việc đo thị lực có thể không chính xác. Vậy làm thế nào để có thể chọn đúng số kính cho trẻ?

Trẻ không tập trung, nói dối, không hợp tác có thể gây khó khăn cho việc thử thị lực, thử kính nhưng với các chuyên gia, môi trường chuyên khoa sâu thì những khó khăn trên không thành vấn đề gì. Do vậy thầy thuốc nhãn khoa luôn có cách để cấp được kính chính xác cho trẻ.

8. Trẻ đã bị cận thị thì cần kiểm tra lại mắt và số kính sau thời gian bao lâu?

Tùy số cận của trẻ, độ thỏa mãn khi dùng kính, tình trạng bệnh lý kèm theo mà bác sĩ sẽ đặt lịch khám lại cho trẻ. Cận thị nhỏ hơn 6D khoảng 1 năm khám 1 lần. Trên 6D khoảng 6 tháng khám mắt 1 lần.

9. Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng thế nào đối với mắt trẻ?

Cho trẻ học tập điều độ, kết hợp với vui  chơi, hoạt động thể lực tích cực sẽ làm hạn chế gia tăng cận thị. Tuy nhiên dinh dưỡng cũng có vai trò quan trọng, dùng đủ vitamin A, C, E kèm theo các khoáng chất kẽm, selen, đồng được cho là hạn chế tăng số cận cùng với những thoái hóa do cận thị. Các yếu tố dinh dưỡng trên có nhiều rau xanh đậm, hoa quả màu đỏ, cá biển và một số loài nhuyễn thể.

10. Lời khuyên của bác sĩ đối với các bậc phụ huynh để kiểm soát tốt độ cận cho trẻ?

Đây là một vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng. Vẫn  chưa thể có những khuyến cáo mạnh mẽ và chính xác với công chúng. Tuy nhiên giới chuyên môn đều thống nhất rằng chúng ta nên:

– Đảm bảo cho trẻ vệ sinh mắt tốt: chiếu sáng, cự ly, khoảng cách học tập, học kết hợp với vui chơi và hoạt động ngoại khóa…

– Cung cấp dinh dưỡng đúng và đủ: vitamin A, C, E, khoáng chất.

– Chăm sóc đặc biệt cho trẻ cận thị số cao: tránh chấn thương, khám mắt đều đặn, phát hiện và điều trị sớm biến chứng.

BS.Hoàng Cương
Theo SKĐS

Tè dầm ở trẻ em

Các bà mẹ thường hay lo lắng về chứng tiểu dầm của con mình. Vậy chứng bệnh này như thế nào?

Đái dầm là chứng đi tiểu không tự chủ lúc ngủ.

Với trẻ em, ở lứa tuổi nào thì đái dầm được coi là bình thường. Ở lứa tuổi nào sẽ bị coi là bất bình thường?

Ở trẻ em, từ 0 đến 3 tuổi là lúc các bé chưa tự chủ được ý muốn của bản thân nên tè dầm là chuyện bình thường, lớn lên thêm chút khi có “nhu cầu” các bé sẽ kêu “bô” hay “đi tè” để bố mẹ giải quyết giúp. Nhưng từ 5 tuổi trở lên, thường là trên 7 tuổi mà bé vẫn đi tè “tự nhiên” ban đêm thì là biểu hiện không bình thường. Cần đưa trẻ tới khám ở các bệnh viện để sớm có cách điều trị hiệu quả.

te_dam_o_tre_em

Nguyên nhân nào gây ra? Có phải do bố mẹ không hướng dẫn dạy bảo tốt?

Trước hết, nên hiểu đái dầm là hiện tượng trẻ đi tiểu không tự chủ lúc ngủ, vào ban đêm hoặc lúc trẻ ngủ trưa. Nếu trẻ vẫn đi tiểu không tự chủ lúc thức thì hiện tượng này thường là bệnh lý, không nên đánh đồng đái dầm lúc ngủ và lúc thức là giống nhau.

Nguyên nhân chủ yếu của chứng bệnh đái dầm lúc ngủ chưa được sáng tỏ hoàn toàn. Tuy nhiên bệnh có thể do tình trạng bàng quang chưa trưởng thành vì trẻ còn nhỏ, hoặc do giảm bài tiết vào ban đêm một chất nội tiết (còn gọi là hócmôn) chống bài niệu ở một số trẻ. Bệnh cũng có thể do nguyên nhân tâm lý: trẻ bị căng thẳng về tâm lý như bị cô giáo la mắng, bị bạn bè tách khỏi nhóm, bị ám ảnh lo sợ hay phải thường xuyên chứng kiến những cuộc cãi vã của bố mẹ, cha mẹ ly dị, hoặc mẹ cho ra đời thêm một đứa em… là những yếu tố tâm lý tác động gây tiểu dầm ở trẻ em.

Người ta cũng nói tới nguyên nhân do di truyền, cứ một trong cha hoặc mẹ mắc tiểu dầm lúc còn nhỏ thì 44% trẻ có khả năng bị bệnh hoặc khi cả cha lẫn mẹ mắc chứng này thì 77% trẻ sẽ tiểu dầm.

Ngoài ra, còn có những nguyên nhân thực thể chiếm tỉ lệ 1 – 2% như các dị dạng đường niệu, nhiễm trùng tiểu…hoặc chứng táo bón cũng gây tiểu dầm ở trẻ.

Khi trẻ tiểu dầm thường xuyên, thì có ảnh hưởng đến sức khỏe? Trẻ có thể phát triển bình thường như các trẻ khác hay không?

Việc trẻ mắc chứng đái dầm không ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như sự phát triển thể chất bình thường của trẻ. Nhưng nếu đái dầm vẫn tiếp tục tiếp diễn ở trẻ lớn, đặc biệt  trên 10 tuổi trở lên thì sẽ gây cho các bé nhiều vấn đề tâm lý phức tạp. Các bé sẽ là tâm điểm chú ý của bạn bè, bị chê cười, mất tự tin, căng thẳng, buồn rầu và có thể rơi vào mặc cảm. Lâu ngày, tâm tính các bé sẽ trở nên bất thường, khó chịu và khó hòa nhập. Tình trạng này kéo dài không tốt cho sự phát triển của bé về sau.

Bố mẹ cần phải làm gì khi con trẻ mắc chứng đái dầm?

Các bậc cha mẹ đừng tỏ ra quá lo lắng về hiện tượng này và đừng la mắng trẻ vì sẽ làm cho bé căng thẳng hơn và đái dầm có thể tăng thêm.

Tốt hơn hết, cha mẹ nên kiên trì và thông cảm, chú ý nhắc nhở bé đi tiểu trước khi đi ngủ và không nên uống nước 2 – 3 giờ trước khi đi ngủ. Có thể sử dùng loại đồng hồ báo thức có khả năng phát hiện sớm các giọt nước tiểu đầu tiên để đánh thức trẻ dậy.
Cách thức này hứa hẹn 70 đến 80% thành công.

Nên ghi lại những lần bé tè dâm vào 1 quyển sổ hoặc lịch để theo dõi, khi trẻ chiến thắng tè dầm một lần, đừng tiếc lời khen ngợi và hãy động viên khen thưởng bé. Việc làm này sẽ khiến các bé rất quyết tâm cố gắng.

Thay, giặt đồ cho bé cẩn thận trước khi đến lớp để gạt bỏ mặc cảm tự ti trước thầy cô, bạn bè.

Nên tránh cho trẻ chứng kiến những cuộc cãi vã của người lớn và nên quan tâm đến các yếu tố tác động tâm lý trên trẻ trong mọi quan hệ với thầy cô, bạn bè, anh chị em ruột…

Khi dùng các biện pháp kể trên mà trẻ vẫn tiểu dầm thì có thể dùng thuốc. Tuy nhiên không cần điều trị thuốc khi trẻ dưới 6 tuổi. Thuốc được dùng đầu tiên là Desmopressine dưới dạng bơm xịt vào mũi cho trẻ trước khi đi ngủ. Loại thuốc này có tác dụng làm giảm bài tiết nước tiểu tránh tè dầm ban đêm.

Ngoài ra có thể dùng thuốc Oxybutinine. Thuốc này tác động  lên cơ của bàng quang, giúp bàng quang giữ được nước tiểu trong bàng quang tốt hơn và như thế giúp trẻ tự chủ được việc đi tiểu của mình.

Thêm một chút quan tâm và thông cảm, thêm một chút kiên trì, bạn sẽ giúp con mình vượt qua được những khó khăn ban đầu của tuổi thơ.

Đăng bởi: TS.BS.Trần thị Mộng Hiệp
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh nhân lupus ban đỏ cần biết

Danh từ lupus ban đỏ (lupus erythematosus) được sử dụng từ lâu để mô tả một số bệnh ở mặt như đỏ da, loét, teo da… Trong những năm gần đây, dựa trên các nghiên cứu về căn sinh bệnh học, thương tổn cơ bản, tiến triển lâm sàng… người ta chia lupus ban đỏ thành 2 thể chính là: lupus ban đỏ dạng đĩa và lupus ban đỏ hệ thống. Đối với những người mắc bệnh này, hiện nay y học đã có những tiến bộ mới trong điều trị và phụ nữ khi mắc bệnh vẫn có thể sinh con nếu được theo dõi chặt chẽ suốt thai kỳ.

Lupus ban đỏ dạng đĩa

Đây là thể nhẹ của lupus ban đỏ. Bệnh chỉ có thương tổn ở da, không có thương tổn nội tạng. Cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu hoàn toàn căn sinh bệnh học của lupus thể này. Tuy nhiên, nhiều yếu tố có liên quan đến bệnh đó được đề cập như: di truyền, ánh nắng mặt trời, nhiễm khuẩn và đặc biệt là rối loạn miễn dịch tại chỗ. Tuy nhiên, vẫn không tìm thấy kháng thể kháng nhân trong huyết thanh, hơn nữa nồng độ bổ thể trong máu vẫn bình thường nên người ta cho rằng cơ chế bệnh sinh của lupus ban đỏ dạng đĩa và lupus ban đỏ hệ thống là khác nhau. Mặc dù vậy, theo một số nhà nghiên cứu, có khoảng 1 – 3% bệnh nhân bị lupus ban đỏ dạng đĩa trong quá trình tiến triển có thể chuyển thành lupus ban đỏ hệ thống.

Thương tổn da điển hình và hay gặp là các dát đỏ có vảy dính khu trú ở những vùng hở như mặt, cổ, bàn tay… Các thương tổn này rất nhạy cảm với ánh nắng, nếu tiến triển lâu dài gây teo ở giữa (trông giống như cái đĩa nên gọi là “dạng đĩa”). Một số thương tổn có thể quá sản phì đại.

Để điều trị bệnh: bằng các thuốc bôi tại chỗ có corticoid như eumovate, diprosalic hoặc dermovate. Toàn thân dùng: các thuốc chống sốt rét có tác dụng rất tốt, song phải điều trị lâu dài nên cần phải theo dõi thị lực ít nhất 3 tháng/lần.

Lupus ban đỏ hệ thống

Lupus ban đỏ hệ thống là một trong các bệnh tự miễn rất hay gặp ở phụ nữ trẻ tuổi. Bệnh gây thương tổn nhiều cơ quan nội tạng như: da, niêm mạc, gan, thận, khớp, tim, phổi, thần kinh… Căn sinh bệnh học của lupus ban đỏ hệ thống rất phức tạp, do nhiều yếu tố tham gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, 2 yếu tố chính, quan trọng nhất được cho là có liên quan trực tiếp đến bệnh là di truyền và rối loạn miễn dịch. Ngoài ra một số yếu tố khác có ảnh hưởng, làm xuất hiện hoặc làm bệnh nặng thêm, đó là: nội tiết, ánh nắng, nhiễm khuẩn. Một số thuốc như: hydralazine, procainamide, isoniazide, sulfonamide, phenitoin, penicillamine có thể gây bệnh giống như lupus nên dễ chẩn đoán nhầm với lupus thực sự. Các thuốc tránh thai cũng có vai trò trong việc khởi động hay làm bệnh nặng thêm.

benh_nhan_lupus_ban_do_can_biet

Lupus ban đỏ hệ thống có thể xuất hiện ở nhiều vị trí.

Dấu hiệu đa dạng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống

Trong giai đoạn tiến triển, bệnh nhân luôn có cảm giác mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, sốt vừa phải.

Lupus ban đỏ hệ thống và phụ nữ có thai

Phụ nữ bị lupus ban đỏ hệ thống cũng có thể có thai và sinh con. Tuy nhiên, vì đây là bệnh hệ thống, tiến triển lâu dài và có thể nguy hiểm cho tính mạng nên cần phải được cân nhắc, tư vấn rất cẩn thận trước khi quyết định có mang. Lý tưởng nhất là 6 tháng trước khi mang thai cần điều trị bệnh ổn định, không còn các triệu chứng ở các cơ quan nội tạng nữa. Trong thời kỳ mang thai, bệnh có thể tiến triển nặng lên, vì vậy bệnh nhân phải được theo dõi, điều trị nội trú trong các bệnh viện chuyên khoa để tránh các biến chứng cho cả mẹ và thai nhi.

Thương tổn da và niêm mạc: thường biểu hiện đầu tiên với các ban đỏ hình cánh bướm ở hai bên má. Các ban này rất nhạy cảm với ánh nắng. Sau một thời gian tiến triển, các thương tổn lan ra tay, chân, thân mình. Ngoài ra, các bọng nước, dát xuất huyết cũng có thể xuất hiện. Niêm mạc miệng, hầu, họng loét nhưng không đau.  Tóc vàng, dễ gẫy và rụng nhiều. Tuy nhiên, tóc có thể mọc lại khi khỏi bệnh.

Thương tổn nội tạng: rối loạn chức năng gan, thận, tiêu hoá. Có thể có viêm cơ tim, màng tim gây suy tim. Viêm phổi, màng phổi cũng hay gặp và có thể suy hô hấp.

Viêm khớp là một biểu hiện rất hay gặp, làm cho bệnh nhân khó vận động và đi lại. Ngoài ra, có thiếu máu, có thể giảm cả 3 dạng: hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

Một số bệnh nhân có biểu hiện rối loạn phương hướng, tri giác, trí nhớ. Đôi khi có đau đầu dữ dội. Các triệu chứng tâm thần kinh có thể nặng thêm trong trường hợp dùng corticoid liều cao kéo dài.

Điều trị và theo dõi khi bị lupus ban đỏ hệ thống

Cần có một phác đồ điều trị đúng đắn tuỳ theo từng giai đoạn bệnh, đặc biệt phải duy trì chế độ thuốc và chế độ sinh hoạt, làm việc hợp lý kể cả khi bệnh đã ổn định. Điều trị tại chỗ: Bôi các thuốc mỡ có corticoid như eumovate, beprosalic, dermovate… Những bệnh nhân có hội chứng Raynaud cần có chế độ điều trị đặc biệt. Điều trị toàn thân: Corticoid vẫn là thuốc hàng đầu để điều trị lupus ban đỏ hệ thống. Liều lượng phải tuỳ theo từng giai đoạn bệnh, nhưng thông thường liều tấn công là 2-3mg/kg/ngày.

Tùy theo sự cải thiện bệnh, có thể cứ 1 – 2 tuần giảm 10mg. Một số thuốc ức chế miễn dịch khác cũng được sử dụng và rất có hiệu quả như: azathioprin, cyclosporin, mycophenolate mofetil… Tuy nhiên khi sử dụng cần thận trọng với các tác dụng không mong muốn. Trong những năm gần đây, một số chất sinh học như: inlicimab, etanercept… cũng được sử dụng để điều trị lupus ban đỏ hệ thống và cho kết quả rất khả quan. Một điều quan trọng cần lưu ý là phải điều trị các biến chứng nếu có.

PGS.TS. Trần Hậu Khang (Giám đốc BV Da liễu TW)
Theo SKDS

Tổng quan về u xơ tử cung

 I. Đại cương

Có 5-10% u xơ tử cung dẫn đến vô sinh.

U xơ tử cung, hay còn gọi là nhân xơ tử cung, là một loại u lành tính gặp ở 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

U xơ tử cung có thể là một khối duy nhất hoặc nhiều khối khác nhau, kích thước có thể chỉ vài milimet, nhưng cũng có thể phát triển to gần đến xương ức, chiếm gần hết tử cung. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh.

Vị trí của u xơ có thể: dưới niêm mạc tử cung (nằm ở mặt trong tử cung), trong lớp cơ tử cung, dưới thanh mạc tử cung (nằm ở mặt ngoài tử cung), ở đáy, thân, eo hay cổ tử cung.

tong_quan_ve_u_xo_tu_cung

II. Nguyên nhân

Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này.

Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. Khi estrogen trong cơ thể tăng cao, u xơ tử cung thường to ra do sự tăng sinh các sơi cơ, mô cơ ở thành tử cung. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.

Nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì, phụ nữ độc thân, hay có ít con, có kinh sớm (trước 12 tuổi) có nguy cơ bị u xơ cao hơn, phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ

III. Triệu chứng

Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sanh.

Triệu chứng đầu tiên của u xơ tử cung là ra khí hư nhiều do niêm mạc tử cung bị kích thích. Khí hư thường trong, đôi khi loãng như nước và ngày một nhiều hơn.

Tiếp đó, bệnh nhân bị rối loạn kinh nguyệt, thời gian hành kinh kéo dài hơn bình thường hoặc lượng máu kinh nhiều hơn, có máu cục. Khi khối u xơ đã lớn, máu kinh không ra theo chu kỳ nữa mà có thể xuất hiện bất cứ lúc nào gọi là rong huyết. Tình trạng ra huyết kéo dài dẫn đến thiếu máu, khiến bệnh nhân xanh xao, choáng váng, hồi hộp, mệt mỏi, suy kiệt… Không ít trường hợp ra máu rất nhiều khi hành kinh do khối u xơ cản trở sự co bóp của tử cung, khiến tử cung bị đờ và máu chảy nhiều, gọi là băng kinh, nếu không được xử trí kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Kèm theo bệnh nhân có thể đau bụng dưới do tử cung co bóp mạnh để đẩy máu kinh ra ngoài hoặc đau lưng vùng thấp.

Khối u phát triển quá to (lớn hơn 5 cm) gây chèn ép các cơ quan bên cạnh, gây đau, bí tiểu, táo bón, rối loạn tiêu hóa…

Nhiều người có thể sờ thấy nhân xơ tử cung chắc ở vùng bụng dưới vào ban đêm khi các cơ bụng được thả lỏng.

Trường hợp nặng hơn là khi khối nhan xơ tạo thành polyp tụt xuống âm đạo có thể sờ thấy khiến bệnh nhân bị ra máu nhiều và có cảm giác đau vướng mỗi khi sinh hoạt tình dục. Nếu lâu ngày polyp bị nhiễm khuẩn, âm đạo sẽ tăng tiết dịch, lẫn máu và mủ nên rất hôi; tình trạng nhiễm khuẩn có khi lan ngược lên tử cung, gây biến chứng nguy hiểm.

IV. Biến chứng

Bệnh nhân khó có thai do u xơ gây chèn ép, làm gập vòi trứng hoặc làm bít lỗ cổ tử cung, ảnh hưởng đến sự di chuyển của tinh trùng, ngăn cản trứng thụ thai. Mặt khác khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng.

Thai phụ có u xơ tử cung có thể sẩy thai liên tiếp do lớp nội mạc không phát triển đầy đủ, và do buồng tử cung bị chèn ép, không phát triẻn to ra được hoặc sinh non, ngôi thai bất thường, rau bám ở vị trí bất thường (rau tiền đạo, rau cài răng lược). Thậm chí, những khối u to, nằm ở vị trí như eo tử cung, có thể làm cản trở hoặc tắc nghẽn gây khó khăn cho cuộc sinh, kéo dài cơn chuyển dạ có khi sản phụ không sinh được, phải mổ và có nguy cơ bị băng huyết cao hơn (do u xơ cản trở tử cung co hồi, đờ tử cung).

Trong thời kỳ hậu sản, thường là u xơ sẽ nhỏ lại, không gây biến chứng gì. Tuy nhiên, cũng có khi nó gây nhiễm khuẩn, nhất là đối với các u xơ dưới niêm mạc.

Những u xơ có cuống sẽ gây biến chứng xoắn và phải phẫu thuật cấp cứu

V. Điều trị

Thuốc ngừa thai uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh, có thể làm teo u. Nhưng nội tiết tố chủ yếu là thuốc ngừa thai đường uống. Điều đó đồng nghĩa với việc không thể thụ thai.

Một số thuốc khác có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen nhưng gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương nên không thể dùng lâu dài. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc.

Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.

Phương pháp phẫu thuật thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u xơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Nếu chỉ cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.

Nếu phẫu thuật nội soi, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.

Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ có khả năng gây biến chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nhưng bệnh nhân vĩnh viễn không thể mang thai

Gây tắc động mạch nuôi khối u là phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập nhất có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng, dẫn đến hoại tử vô trùng. Từ đó chúng dần dần teo nhỏ trở thành sẹo không có mạch máu hoặc biến mất hoàn toàn. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.

Theo uxotucung.com.vn/ Theo Thầy thuốc của bạn

Sa tử cung có phải bệnh di truyền?

Em nghe nói sa tử cung ở những phụ nữ đã sinh đẻ là bệnh di truyền. Xin hỏi có đúng như vậy? Phòng ngừa bệnh này như thế nào?

Phạm Minh Thủy (Thái Nguyên)

Sa tử cung hay còn gọi là sa sinh dục nói chung là một bệnh mắc phải ở người phụ nữ do các bộ phận của bộ máy sinh dục tụt thấp khỏi vị trí ban đầu.

sa_tu_cung_co_phai_la_benh_di_truyen

Tử cung bình thường                                Tử cung sa xuống.

Bình thường tử cung được giữ  tại chỗ do tử cung ở tư thế gập trước, trục tử cung và âm đạo không song song với nhau, nên dưới áp lực của ổ bụng nó không bị sa xuống. Ngoài ra tử cung còn được giữ bởi các dây chằng và tổ chức xơ tạo thành một vành đai giữ cho tử cung và cổ tử cung không bị tụt xuống, các cơ tầng sinh môn giữ cho thành âm đạo không bị sa xuống.

Sa sinh dục có thể gặp cả ở phụ nữ chưa sinh đẻ do thể trạng yếu, dây chằng mỏng, yếu, tử cung ở tư thế trung gian nên khi có áp lực mạnh trong ổ bụng sẽ đẩy tử cung sa dần xuống. Còn ở những người đã sinh đẻ nhiều lần, các dây chằng yếu, tầng sinh môn rách hay giãn mỏng, dưới sự tăng áp lực ổ bụng, thành âm đạo bị sa và kéo tử cung sa theo.

Đây là một bệnh mắc phải chứ không phải do di truyền, có thể dự phòng bằng cách tránh sinh đẻ nhiều lần, không để cuộc chuyển dạ kéo dài quá lâu, khâu lại tầng sinh môn nếu rách, tránh lao động quá sức liên quan đến việc tăng áp lực ổ bụng đột ngột.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Bác sĩ Nguyễn Thị Phương

Cách giảm nguy cơ ung thư vú

Ung thư nói chung và ung thư vú (UTV) chỉ có 5-10% là do di truyền, còn lại, đó là hậu quả của chế độ ăn dư thừa chất béo, ít rau xanh và trái cây, tình trạng béo phì, ít vận động… Vì thế, nếu muốn giảm nguy cơ UTV, phụ nữ cần thay đổi lối sống bằng cách:

cach_giam_nguy_co_ung_thu_vu

– Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm một lần: từ tuổi 30, mỗi năm bạn nên đi kiểm tra sức khoẻ ít nhất 1 lần. Còn từ tuổi 40 trở lên, cần đi khám sức khoẻ mỗi năm 2 lần. Việc này rất cần thiết, vì nó sẽ giúp bạn phát hiện sớm bệnh tật, trong đó có UTV. Sau mỗi lần đi khám, phải lưu giữ cẩn thận các kết quả xét nghiệm để có đối chiếu với những lần khám sau.

– Tự khám vú (xem hình): Việc tự khám vú sẽ giúp phụ nữ phát hiện sớm UTV. Nếu thấy có những dấu hiệu khác lạ trong bầu vú như sờ thấy cục rắn, không di động, hoặc đầu vú tiết ra máu, sữa, dịch bất thường, bạn nên đến ngay các cơ sở y tế để được thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết. Việc tự kiểm tra vú và càng phát hiện sớm được khối u vú, tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư vú càng cao.

– Đi khám chuyên khoa ung bướu ngay khi phát hiện có dấu hiệu bất thường ở vú: điều này rất quan trọng, vì bác sĩ sẽ có phương pháp xử trí sớm nhất và đúng nhất với khối u khi nó mới xuất hiện. Bên cạnh đó, việc chẩn đoán sớm còn giúp bác sĩ xác định bản chất của tổn thương khi nó mới chỉ có một vài triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài.

– Chụp nhũ ảnh mỗi năm 1 lần:

Theo thống kê, có tới 90% khối u dưới 2cm đã được phát hiện thông qua việc chụp nhũ ảnh- một phương pháp chụp vú đặc biệt: dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Cho đến nay, đây vẫn là phương pháp tốt nhất để phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm. Từ tuổi 40 bạn nên chụp kiểm tra u ngực mỗi năm một lần.

– Ăn uống hợp lý và tập thể dục đều đặn: Hãy có một chế độ tập luyện và ăn uống khoa học để giữ cân nặng cơ thể ở mức trung bình. Ăn nhiều rau quả vì trong rau quả có chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ các cơ quan khỏi bị phá hủy. Mỗi ngày 500g rau xanh và trái cây có thể làm giảm 20% suất độ ung thư. Hạn chế ăn đồ nướng, hun khói, thức ăn chế biến sẵn… vì những thực phẩm này có chứa nhiều độc chất dẫn tới ung thư. Bên cạnh đó bạn nên tập thể dục thường xuyên mỗi tuần 3 lần. Tập thể dục có mối liên quan chặt chẽ với phòng ngừa ung thư và ngăn ung thư tái phát. Tập luyện đều đặn giúp cơ thể giảm lượng chất béo và cơ ngực thêm chắc khỏe.

– Không tự ý chữa bệnh hoặc chữa bệnh theo lời mách bảo: Rất nhiều người, khi thấy ngực mình có khối u, hoảng hốt tìm mọi cách chữa trị, trong đó không ít người tự chữa bệnh hoặc chữa bệnh theo mách bảo như đắp, dán thuốc lá, chích, lể… Hậu quả là không chỉ tiền mất, mà còn làm bệnh ung thư diễn tiến trầm trọng.

Giảm nguy cơ ung thư vú, cách nào?

Ung thư nói chung và ung thư vú (UTV) chỉ có 5-10% là do di truyền, còn lại, đó là hậu quả của chế độ ăn dư thừa chất béo, ít rau xanh và trái cây, tình trạng béo phì, ít vận động… Vì thế, nếu muốn giảm nguy cơ UTV, phụ nữ cần thay đổi lối sống bằng cách:

– Kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi năm một lần: từ tuổi 30, mỗi năm bạn nên đi kiểm tra sức khoẻ ít nhất 1 lần. Còn từ tuổi 40 trở lên, cần đi khám sức khoẻ mỗi năm 2 lần. Việc này rất cần thiết, vì nó sẽ giúp bạn phát hiện sớm bệnh tật, trong đó có UTV. Sau mỗi lần đi khám, phải lưu giữ cẩn thận các kết quả xét nghiệm để có đối chiếu với những lần khám sau.

– Tự khám vú (xem hình): Việc tự khám vú sẽ giúp phụ nữ phát hiện sớm UTV. Nếu thấy có những dấu hiệu khác lạ trong bầu vú như sờ thấy cục rắn, không di động, hoặc đầu vú tiết ra máu, sữa, dịch bất thường, bạn nên đến ngay các cơ sở y tế để được thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết. Việc tự kiểm tra vú và càng phát hiện sớm được khối u vú, tỷ lệ chữa khỏi bệnh ung thư vú càng cao.

– Đi khám chuyên khoa ung bướu ngay khi phát hiện có dấu hiệu bất thường ở vú: điều này rất quan trọng, vì bác sĩ sẽ có phương pháp xử trí sớm nhất và đúng nhất với khối u khi nó mới xuất hiện. Bên cạnh đó, việc chẩn đoán sớm còn giúp bác sĩ xác định bản chất của tổn thương khi nó mới chỉ có một vài triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài.

– Chụp nhũ ảnh mỗi năm 1 lần:

Theo thống kê, có tới 90% khối u dưới 2cm đã được phát hiện thông qua việc chụp nhũ ảnh- một phương pháp chụp vú đặc biệt: dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Cho đến nay, đây vẫn là phương pháp tốt nhất để phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm. Từ tuổi 40 bạn nên chụp kiểm tra u ngực mỗi năm một lần.

– Ăn uống hợp lý và tập thể dục đều đặn: Hãy có một chế độ tập luyện và ăn uống khoa học để giữ cân nặng cơ thể ở mức trung bình. Ăn nhiều rau quả vì trong rau quả có chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ các cơ quan khỏi bị phá hủy. Mỗi ngày 500g rau xanh và trái cây có thể làm giảm 20% suất độ ung thư. Hạn chế ăn đồ nướng, hun khói, thức ăn chế biến sẵn… vì những thực phẩm này có chứa nhiều độc chất dẫn tới ung thư. Bên cạnh đó bạn nên tập thể dục thường xuyên mỗi tuần 3 lần. Tập thể dục có mối liên quan chặt chẽ với phòng ngừa ung thư và ngăn ung thư tái phát. Tập luyện đều đặn giúp cơ thể giảm lượng chất béo và cơ ngực thêm chắc khỏe.

– Không tự ý chữa bệnh hoặc chữa bệnh theo lời mách bảo: Rất nhiều người, khi thấy ngực mình có khối u, hoảng hốt tìm mọi cách chữa trị, trong đó không ít người tự chữa bệnh hoặc chữa bệnh theo mách bảo như đắp, dán thuốc lá, chích, lể… Hậu quả là không chỉ tiền mất, mà còn làm bệnh ung thư diễn tiến trầm trọng.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Vũ Ngọc Tú