Tag Archives: Dầu thực vật

Dinh dưỡng cho người tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và có xu hướng ngày một tăng ở nước ta. Stress do áp lực cuộc sống và công việc, chế độ ăn quá nhiều muối, thịt và mỡ động vật, ít rèn luyện thể lực, ít rau xanh… là những căn nguyên chính khiến số người mắc tăng huyết áp tăng cao ở Việt Nam.

Ăn nhiều mỡ và bệnh tăng huyết áp
Ảnh hưởng của dầu mỡ lên hệ tim mạch rất khác nhau. Hầu hết các loại mỡ động vật đều có chứa cholesterol và chứa từ 60-90% acid béo bão hoà (trừ mỡ cá hay mỡ một số loài chim có chứa ít hơn) nên mỡ động vật không có lợi cho phòng chống THA. Các loại dầu thực vật không có cholesterol và chứa ít (dưới 40%) acid béo bão hòa (trừ dầu dừa và dầu nhân hạt cọ) nên dầu thực vật là loại thực phẩm có lợi cho phòng chữa bệnh THA. Mỗi người một ngày ăn vào khoảng 300-500mg cholesterol. Thức ăn chứa nhiều cholesterol là thịt, gan, óc, lòng đỏ trứng, bầu dục, lòng non… Khi cholesterol tăng nhiều trong máu, nó sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc để dần hình thành mảng đông lipid và phát triển thành những mảng vữa xơ động mạch. Làm cho thành mạch kém đàn hồi, dẫn đến THA.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Muối ăn góp phần tích cực khiến huyết áp tăng cao
Nói muối ăn (NaCl) thực chất là nói đến vai trò của ion Na trong muối ăn vì nó ảnh hưởng tới việc giữ nước trong cơ thể. Trong điều kiện bình thường, các hormon và thận cùng phối hợp điều hoà việc đào thải Na ăn vào. Khi quá khả năng điều chỉnh của cơ thể, hệ thống động mạch có thể tăng nhạy cảm. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ Na sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của calci qua màng, làm tăng khả năng co thắt của tiểu động mạch gây tăng huyết áp. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo người có tuổi không nên dùng quá 6g muối/ngày (trong đó 40% từ các thực phẩm chế biến sẵn, 40% từ nấu nướng, 20% từ thức ăn tự nhiên). Các cuộc điều tra cho thấy: ở nơi ăn nhiều muối, tỉ lệ tăng huyết áp cao hơn những nơi khác. Muốn phòng và chữa bệnh tăng huyết áp cần giảm lượng muối ăn vào chỉ còn dưới 4g muối/ngày (1,5g Na) hoặc ít hơn nữa, có nghĩa là chỉ nên ăn rất nhạt, nấu nướng dùng ít mắm muối hoặc phải chọn thực phẩm chứa ít muối.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn
Ít natri, giàu kali: hạn chế muối xuống dưới 6g/ngày, ăn nhiều rau quả để tăng kali trừ khi có ít nước tiểu. Không ăn các món mặn như dưa, cà muối, mắm tôm, cá biển…
Hạn chế các thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh và tâm thần: rượu, cà phê, trà đặc.
Tăng sử dụng các thức ăn uống có tác dụng an thần, hạ áp, lợi tiểu như canh lá vông, hạt sen, ngó sen, chè sen vông, nước rau, nước luộc ngô…
Hạn chế chất béo, đường bột, bánh kẹo, ăn nhiều rau quả tươi.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chế độ ăn cần thiết cho tuổi dậy thì

Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì mỗi ngày cần 2.200 -2.400 calo, tương đương với lượng ăn của người trưởng thành. Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Dậy thì là lúc trẻ phát triển mạnh, nhanh về thể lực, sự thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên gây ra những biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Lúc này, ngoài sự phát triển và hoàn thiện cơ thể cũng là lúc trẻ hoạt động nhiều nhất, nên cần phải có một chế độ dinh dưỡng thật tốt cho trẻ ở giai đoạn này.

chedoanchotuoidaythi
Chất đạm: Trẻ dậy thì cơ bắp giai đoạn này phát triển nên lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành. Chất đạm chiếm 14-15% tổng số năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày. Lượng đạm lấy từ thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, trứng sữa… Trong đó đạm động vật là tốt nhất vì thức ăn có nguồn gốc động vật chứa nhiều sắt – chất sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu.

Chất béo: Dầu, mỡ không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn là nguồn cung cấp năng lượng tốt và giúp cơ thể hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Ở giai đoạn này cần cả chất béo no có trong thức ăn chứa nhiều đạm động vật và chất béo không no trong dầu ăn và cá, nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40 – 50gr mỗi ngày.

Chất bột: Là chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm60 – 70% năng lượng có trong gạo, bột mì, và sản phẩm chế biến, khoai, củ… Nên chọn lựa những loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

Canxi: Canxi rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, nếu được cung cấp đủ sẽ giúp xương chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa giúp trẻ phát triển tốt về chiều cao và phòng được bệnh loãng xương sau này. Mỗi ngày trẻ cần 1.000 – 1.200mg can xi. Can xi có nhiều trong sữa, cả sữa bò và sữa đậu nành, các loại thủy sản, xương cá (nên kho nhừ cá để có thể ăn cả xương). Nên uống 400 -500ml sữa/ ngày.

Chất sắt: Bé gái khi bước vào tuổi dậy thì cần lượng sắt nhiều hơn bé trai do mất máu trong chu kỳ kinh nguyệt. Nên bé trai chỉ cần 12 – 18 mg sắt/ngày trong đó bé gái cần tới 20 mg sắt/ngày. Chất sắt có nhiều trong thịt, phủ tạng động vật:gan, tim, bầu dục…, lòng đỏ trứng, đậu đỗ, rau xanh có nhiều vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn… Nếu thiếu sắt trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…
Các vitamin: Đây là những vi chất dinh dưỡng cần thiết chocơ thể. Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp vàđường tiêu hóa; chậm phát triển chiều cao. Khi thiếu vitamin C, quá trình tổnghợp collagen gặp trở ngại, làm giảm quá trình hình thành tế bào ở các thành mạch, mô liên kết, xương, răng, giảm sức đề kháng.

Theo SKĐS

Điều cần làm khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ

Cuộc sống bận rộn, thói quen ăn uống bừa bãi và ít vận động không chỉ làm cho nhiều người thừa cân mà còn gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, trong đó có bệnh gan nhiễm mỡ.

Gan nhiễm mỡ thực chất là một biểu hiện của việc tích lũy quá nhiều lượng mỡ ở gan. Gọi gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan khi sự tích lũy chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ diễn tiến âm thầm, đôi khi không có triệu chứng và bệnh thường được phát hiện rất tình cờ. Người bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ xơ cứng gan, ung thư gan cao gấp 150 lần bình thường.

Thực tế, gan nhiễm mỡ là bệnh mà nhiều người mắc phải đặc biệt là những người béo phì, uống rượu nhiều,…tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng
dieu-can-lam-khi-mac-benh-gan-nhiem-mo
Trước đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra bệnh gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu bia, người thừa cân béo phì và xếp những người này vào nhóm nguy cơ cao. Chính vì thế, rất nhiều người lầm tưởng rằng cơ thể gầy thì không mắc các loại bệnh nhiễm mỡ như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.

Nhiều người nghĩ rằng người béo thì thừa nhiều mỡ nên mỡ lan vào gan gây ra bệnh. Thực chất mỡ thừa ở người béo chỉ tích tụ vào xung quanh lá gan, bám vào bề mặt gan. Gần đây những trường hợp mắc bệnh ở người gầy càng nhiều. Bệnh gan nhiễm mỡ chủ yếu do rối loạn chuyển hóa tế bào gan gây ra.

Một số người phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ bằng cách ăn chay. Tuy nhiên, thực tế thực phẩm chay sẽ làm cho cơ thể dung nạp quá ít chất béo, chất béo trong cơ thể phân giải quá nhiều không những không thể chữa trị gan nhiễm mỡ mà còn làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, người ăn chay dung nạp không đủ protein còn hợp thành protein chất béo chậm, chất béo vận chuyển trở ngại, gan nhiễm mỡ còn nặng thêm.

Một số người lại cho rằng, các loại hoa quả giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ, những chất này đều thúc đẩy chất béo trao đổi. Tuy nhiên, lượng đường trong hoa quả khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây rối loạn trao đổi của đường, gây ảnh hưởng không tốt cho đường huyết. Trong khi đó, nhiều loại đường trong cơ thể có thể chuyển hóa thành chất béo, làm nặng thêm gan nhiễm mỡ. Do vậy, người bị gan nhiễm mỡ có được ăn nhiều hoa quả hay không, ăn loại hoa quả nào, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào thì tùy thuộc vào tình trạng cơ thể.

Những người bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết sẽ làm hoạt động chuyển hóa mỡ không hiệu quả và gan bị nhiễm mỡ. Cụ thể là ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ dẫn đến lượng đường trong máu quá thấp làm tăng phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp trong cơ thể. Trong quá trình phân giải mỡ, lượng axit béo đi vào máu quá nhiều làm axit béo tự do trong máu tăng, dẫn đến tích trữ mỡ trong gan. Những người gầy, thiếu protein trong thời gian dài sẽ làm mỡ trong máu không thể chuyển hóa nên sinh ra gan nhiễm mỡ. Ngoài ra, những người gầy nhưng bị nhiêm virus viêm gan B, C hoặc dùng thuốc hại cho gan đều có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.

Làm gì khi gan nhiễm mỡ?

Khám sức khỏe định kỳ: Khi phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ, người bệnh cần được khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tiến triển của bệnh, kịp thời điều trị, đề phòng biến chứng. Đặc biệt là những người bị béo phì, người nghiện rượu, người bị tiểu đường tuýp 2 và những người bị suy dinh dưỡng thì việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, những người bị viêm gan C mãn tính, người bị tăng mỡ máu, người dùng liều cao một số thuốc như corticoides, tetracycline, estrogen cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ.

– Giảm ăn các thực phẩm giàu cholesterol như các loại phủ tạng động vật, da động vật, lòng đỏ trứng.

– Hạn chế chất béo, ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá). Nên ăn các món ăn luộc, hạn chế các món rán, chiên mỡ, chiên bơ.

– Cân đối bữa ăn, nên tăng cường ăn cá tôm, cua, đậu.

– Nên uống sữa, và chỉ nên sử dụng các loại sữa không đường ít béo và tốt nhất là nên ăn sữa chua.

– Ăn uống điều độ, ăn đúng bữa, đúng giờ. Không nên ăn bữa tối quá muộn và nên ăn ít trước khi đi ngủ.

– Hạn chế rượu bia

– Tập luyện thể thao hợp lý kiểm soát cân nặng. Các chuyên gia khuyến cáo, bạn nên dành khoảng 30 phút để tập aerobic mỗi ngày, đi bộ hoặc đi xe đạp.

– Khi dùng thuốc người bệnh cần hỏi bác sĩ về tác dụng gây độc gan của thuốc, và hạn chế tối đa sử dụng các thuốc gây độc cho gan.

Biểu hiện của bệnh gan nhiễm mỡ

Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu; Lá gan có thể bị sưng to; Một số ít người có thể bị vàng da.

Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.

Nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ

– Do dinh dưỡng: ăn nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, uống nhiều rượu bia, thói quenngồi nhiều, ít vận động, căng thẳng, di truyền nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì.

– Do chất hóa học như uống quá nhiều bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…

– Do nội tiết, do bệnh tiểu đường…

-Do miễn dịch.

– Do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…

– Do vi khuẩn, virus trong quá trình bị viêm gan siêu vi B, C thường có biến chứng gan nhiễm mỡ đặc biệt là viêm gan siêu vi C (nhiều khi còn gọi là hậu viêm gan siêu vi là gan nhiễm mỡ).

Theo afamily