Tag Archives: đau nhức

Trị chân đau nhức, tê mỏi với dâm bụt

Dâm bụt (miền Nam gọi là bông bụp), xuyên can bì, là loại cây nhỡ, cao từ 1 – 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to, màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, màu vàng, hoa thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây mọc hoang ở nhiều nơi và được trồng làm cây cảnh, hàng rào và làm thuốc.

Theo y học cổ truyền, dâm bụt có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, an thần,… Thường dùng chữa kiết lỵ, mụn nhọt, rong kinh, kinh nguyệt không đều, bạch đới, khó ngủ, hồi hộp…

Một số đơn thuốc thường dùng
Khó ngủ, hồi hộp, nước tiểu đỏ: Hoa dâm bụt phơi khô, mỗi lần dùng một nhúm 15 – 20g, hãm uống thay trà hàng ngày. Hoặc lá dâm bụt 15g, hoa nhài 12g. Sắc uống vào buổi chiều, dùng trong 7 – 10 ngày.

tri-chan-dau-nhuc-te-moi-voi-dam-but

Chữa mụn nhọt đang mưng mủ: Hoa dâm bụt, lá trầu không, lá thồm lồm mỗi thứ 50g, giã nát, đắp lên chỗ mụn nhọt. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Hoặc dùng lá và hoa một nắm, rửa sạch, giã với một ít muối hạt, đắp lên chỗ nhọt đang sưng mưng mủ sẽ đỡ đau nhức, đỡ sưng nóng và chóng vỡ mủ.
Chân đau nhức, tê mỏi: Lá dâm bụt, lá si, lá đào, lá mận, lá thài lài tía, mỗi thứ 30g phơi khô, thái nhỏ, sao qua, ngâm với ít rượu, dùng xoa bóp hằng ngày.

Chữa rong kinh: Rễ dâm bụt 40g, lá huyết dụ 30g, sắc uống ngày 1 thang. 7 ngày là một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị di tinh: Hoa dâm bụt 10g, hạt sen 30g. Sắc uống ngày 1 thang. 10 ngày là một liệu trình.

Chữa kiết lỵ (biểu hiện bụng đau quặn, mót đại tiện nhiều lần, phân lầy nhầy như nước mũi, hoặc màu máu cá): Hái 10 bông hoa dâm bụt bỏ cuống hoa, cho vào bát ăn cơm, thêm 1 thìa cà phê đường, đem hấp cơm. Khi cơm chín lấy bát thuốc ra ăn.

Hoặc: Hoa dâm bụt 10g, lá mơ lông 8g, trứng gà một quả. Thái nhỏ hoa dâm bụt và lá mơ lông cho vào bát, đập trứng vào hấp cách thủy hoặc hấp cơm cũng được, ăn hết một lần, dùng 3 – 5 ngày có hiệu quả tốt.

Trị khí hư (bạch đới): Vỏ dâm bụt 40 – 50g thái nhỏ, sao vàng, sắc uống liên tục trong 1 tuần, nghỉ 10 ngày, nếu bệnh chưa hết thì lại uống tiếp.

Chữa kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ dâm bụt 30g, lá huyết dụ 25g, ngải cứu 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần/ngày. Uống 3 – 5 ngày kỳ kinh 7 ngày.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng và điều trị bệnh viêm xoang cho trẻ

Tăng cường miễn dịch

Cha mẹ cần bổ sung cho con một số chất quen thuộc như sắt, kẽm, DHA, omega 3,… trong bánh mì, một số loại nấm, hạt ngũ cốc… Nên cho bé ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi để giúp hệ miễn dịch của bé được tăng cường.

Trong tiết trời lạnh, cha mẹ nên mặc ấm cho bé. Cho bé tiêm chủng đầy đủ theo lịch tiêm phòng của Quốc gia.

Thường xuyên vệ sinh chân tay cho bé. Không nên cho bé ăn đồ ăn lưu cũ từ lâu vì khả năng có vi khuẩn trong đó là rất cao.

Khi trẻ có dấu hiệu bị viêm xoang cha mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở chuyên khoa để khám. Tuyệt đối cha mẹ không tự bắt bệnh, tự kê đơn cho trẻ, không cho trẻ dùng thuốc dành cho người lớn. Việc sử dụng thuốc cần có sự tư vấn của chuyên gia.

phong-va-dieu-tri-benh-viem-xoang-cho-tre

Theo Tiến sĩ Dược Nguyễn Hoàng Phong tư vấn: Cơ thể trẻ non yếu, sức đề kháng kém hơn người lớn và dễ bị tác động bởi các loại thuốc gây phản ứng phụ, vì vậy cần sử dụng cho trẻ loại thuốc tiêu chuẩn cao, được kiểm nghiệm lâm sàng lâu năm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các loại thuốc nhỏ mũi, xịt mũi dành cho trẻ em, tuy nhiên hầu hết các sản phẩm này đều gây ra những phản ứng phụ không mong muốn. Các bậc cha mẹ có thể tin tưởng sử dụng sản phẩm XyloBalan cho con em mình, vì XyloBalan là một thương hiệu nổi tiếng của Ba Lan về chăm sóc điều trị viêm mũi, và hỗ trợ điều trị viêm xoang đã được tin dùng trên toàn thế giới hơn 50 năm nay, đặc biệt an toàn với trẻ, chưa nhận được phản hồi tiêu cực nào. Với thành phần Xylometazoline hydrochloride thuốc có công dụng đặc trị viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp do virut hoặc vi khuẩn, hỗ trợ điều trị viêm xoang cấp hoặc mãn tính, viêm mũi do dị ứng, viêm tai giữa cấp, giảm tắc vòi nhĩ. Đặc biệt sản phẩm có loại 0.05% dành riêng cho trẻ em từ 3 tháng tuổi trở lên.

Thời tiết thay đổi

Thời tiết trở lạnh hoặc buổi trưa hanh khô… Đây là điều kiện tốt cho vi khuẩn phát triển. Những lúc giao mùa như thế này, đối tượng trẻ em thường bị viêm mũi với các triệu chứng: hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi… và nếu không chữa kịp thời, dứt điểm bệnh sẽ tiến triển thành viêm xoang.

Bệnh viêm xoang đối với người lớn đã khổ, nhưng đối với trẻ em còn đáng quan tâm hơn nhiều. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên giám đốc Viện Tai Mũi Họng TƯ chia sẻ, đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm xoang. Tùy thuộc vị trí xoang bị viêm mà vị trí đau thay đổi: đau vùng trán, đau vùng má hay hàm trên, đau sau hốc mắt, đau ở đỉnh đầu. Cơn đau tăng khi bệnh nhân nghiêng người về phía trước. Bệnh nhân cũng thường bị nghẹt mũi, chất tiết mũi trở nên đặc và đục, ho vì nước mũi chảy xuống họng gây ngứa. Tùy theo tình trạng viêm mà bị nghẹt một hay cả hai bên mũi, nghẹt từng lúc hay liên tục, có khi mất khứu giác. Người bệnh có thể sốt, đau nhức, mệt mỏi, đau răng, ngủ không yên giấc…

Làm bậc cha mẹ ai cũng lo lắng cho sức khỏe của con cái. Tuy nhiên không ít bà mẹ đã tự ý mua thuốc kháng sinh điều trị viêm xoang cho trẻ. Song, các bác sĩ khuyến cáo, tự ý điều trị như vậy, không những không thuyên giảm bệnh, mà còn nặng hơn, bởi lẽ có thể gây kháng kháng sinh và một số thuốc không thể dành cho trẻ em. Mặt khác, với các thuốc giúp thông mũi, chống nghẹt mũi khi dùng cần cẩn trọng vì có thể ảnh hưởng đến huyết áp, tim mạch hay gây chảy mũi bù trừ hoặc khô mũi quá mức. Không tự ý sử dụng các thuốc này kéo dài mà không có ý kiến bác sĩ.

Chế độ dinh dưỡng

Nên uống nhiều nước (2 lít nước/ ngày) và ăn nhiều các loại hoa quả chứa vitamin A, C. Giai đoạn đầu có thể bị “công thuốc”, các triệu chứng có thể nặng lên ở một vài người. Nhưng qua giai đoạn này, các triệu chứng sẽ giảm dần và hết hẳn…

Ngoài ra, theo PGS Dinh việc giữ gìn vệ sinh là khá cần thiết trong điều trị. Cha mẹ cần dạy cho trẻ cách giữ sạch môi trường xung quanh, không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá, bụi và các chất ô nhiễm. Đeo khẩu trang khi ra đường, vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên….

Theo tổng hợp

Những loại trà không nên dùng sau bữa ăn trưa

Có nhiều loại trà quảng cáo trị đủ thứ bệnh từ viêm gan, huyết áp, tim mạch, béo phì… với giá rẻ đã được nhiều người dùng uống hàng ngày. Tuy nhiên, đã có những vụ tai biến về trà thảo dược xảy ra.

Nhân trần không nên kết hợp với cam thảo

Nhân trần – cam thảo là 2 vị thuốc tốt, nhưng kết hợp với nhau sẽ không tốt vì cam thảo giữ nước, nhân trần lại giúp đào thải. Uống nước nhân trần pha cam thảo thay trà không đúng cách còn bị tương tác thuốc, nhất là người tăng huyết áp.

Trà đắng giúp giảm cân, an thần, ngủ ngon, hạ cholesterol máu, trị tiểu đường, bệnh tim mạch, chữa cảm lạnh, đau nhức… Nhưng các chuyên gia dược xếp vào nhóm dược thảo có chứa chất gây hại cho gan, uống nhiều sẽ rối loạn cung cấp máu cho gan, dẫn đến sưng gan, vàng da, bụng có nước, chân phù, chậm nhịp tim, hạ huyết áp đột ngột… Thậm chí mất thăng bằng, tự ngã, tử vong vì suy gan cấp tính, suy giảm chức năng tình dục.

nhung-loai-tra-khong-nen-dung-sau-bua-an-trua

Để trà thảo dược phát huy tác dụng, cần dùng điều độ, tránh uống thường xuyên một loại trà. Ảnh minh họa

Các lương y, bác sĩ khuyến cáo: Không phải bất cứ loại trà thảo dược nào cũng an toàn. Nếu có bệnh dùng trà thảo dược sai, bệnh sẽ nặng hơn. Người không có bệnh, uống nhiều trà thảo dược có thể bị ngộ độc dược chất.

Mua trà cần có nguồn gốc rõ ràng, dùng đúng hướng dẫn sử dụng, xem kỹ xuất xứ, hạn sử dụng. Không nên mua nguyên cây về nấu uống vì rất khó xác định nguồn gốc, độ an toàn (do khi trồng dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, nguồn nước ô nhiễm…) hoặc sơ chế không đảm bảo vệ sinh, sẽ hại cho sức khỏe.

Ai không nên uống trà thảo dược?

Theo ông Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, người có sức khỏe bình thường có thể sử dụng trà có nguồn gốc thực phẩm từ rau quả như bí đao, rau má, rau đắng, mướp đắng (khổ qua)… Nhưng có những loại trà thảo dược như: Hoa sơn trà, hoa tam thất, hoàn ngọc, nha đam, lược vàng… có tính chất chữa bệnh, dùng thường xuyên thì tính vị (nóng, lạnh, đắng, cay…) của thuốc sẽ làm cơ thể bị mất cân bằng.

Công dụng của các dược liệu có khác nhau, bào chế, liều dùng, cách dùng cũng tạo đặc trưng (như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kích thích tiêu hóa, giảm mỡ máu, cải thiện trí nhớ, chống viêm loét tiêu hóa, kháng khuẩn tiêu viêm…). Có loại trà thảo dược hợp với người này, nhưng không hợp với người kia.

Người vừa phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc, người bị rối loạn chức năng thận, bệnh tim, viêm loét dạ dày và các vấn đề tâm lý, trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt không nên uống trà thảo dược.

Người có bệnh tăng nhãn áp, thiếu máu, bệnh gan các bác sĩ khuyên nên tránh uống trà. Người yếu nếu uống trà thảo dược với tính hàn và vị đắng sẽ làm tổn hại đến dương khí và tì vị, dẫn đến nhiều căn bệnh khác.

Đặc biệt, các bà bầu muốn uống trà phải có ý kiến của bác sĩ, bởi các loại thảo mộc khi pha thành trà, cô đặc và uống quá nhiều sẽ không tốt tới sức khỏe mẹ và thai nhi. Một số loại trà có thể vô tình gây kích thích tử cung, co thắt dạ con (như với trà hoa cúc, thìa là, trà sả, ma hoàng, rễ cam thảo, lá mâm xôi, hoa hồi, cây ngải đắng, cây hương thảo…).

Nếu không có bệnh lý về gan, không có y lệnh thì bà bầu tuyệt đối không dùng nhân trần, cam thảo (kẻo cơ thể thải nhiều nước và dinh dưỡng sẽ khiến thai bị suy dinh dưỡng, sinh non hoặc thiếu cân, chết lưu…).

Phụ nữ mới sinh con không uống nhiều trà thảo dược vì dễ có nguy cơ hậu sản. Người mẹ uống nhiều có thể dẫn đến bị mất sữa hoặc ít sữa.

Phụ nữ kỳ kinh nguyệt mất rất nhiều máu, thiếu chất sắt, nếu uống trà thảo dược tính hàn vào càng hại cho dạ dày, còn gây chóng mặt, đau bụng.

Trà thảo dược là dược liệu, vì vậy không thể uống nhiều một lúc, càng không thể dùng lâu. Hầu hết trà thảo dược lợi tiểu, do đó không nên uống trước khi đi ngủ, khi đói (nhất là khi vừa ngủ dậy vì sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa). Không nên uống trà thảo dược ngay sau bữa ăn vì chất tanin sẽ làm protein trong thức ăn trở nên cứng, khó tiêu… Không nên uống trà để qua đêm. Cũng không ngâm trà thảo dược trong ấm trước lúc đi ngủ để sáng hôm sau dậy uống, vì không khoa học và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Phương Thuận – Trà Giang
Theo gia đình

Trầm cảm có thể gây ra nhiều nguy hiểm

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.

1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Nguồn afamily

Điều trị đau cách hồi

Đau cách hồi là hiện tượng đau cố định một nhóm cơ, thường là cơ cẳng chân, cơ đùi, cơ mông. Cơn đau được mô tả với cảm giác co rút, thắt chặt, đau nhức, rất khó chịu xảy ra sau khi gắng sức hay khi đi lại một quãng đường nhất định. Cơn đau thường chỉ giảm, nhẹ bớt khi người bệnh ngồi nghỉ, để thõng chân. Nhưng nếu tiếp tục đi thì sau một quãng đường cố định như cũ, cơn đau sẽ xuất hiện trở lại. Đau cách hồi sẽ làm người bệnh không thể đi liên tục trong một quãng đường dài, mà phải khập khiễng và ngắt quãng với từng quãng đường ngắn, vừa đi vừa nghỉ từng đoạn một. Người bệnh cũng có thể khai rằng nếu hoạt động nặng hoặc chạy nhanh, hoặc đi lên dốc, hoặc lội nước, cơn đau sẽ xuất hiện sớm hơn so với đi trên đường bằng phẳng.

dieu-tri-dau-cach-hoi

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do xơ vữa động mạch và viêm nội mạc động mạch. Từ đó dẫn đến tình trạng thiếu máu, rối loạn dinh dưỡng và gây đau, dần dần xuất hiện hoại tử ở ngón và bàn chân, kể cả cổ và cẳng chân.

Chứng đau cách hồi là biểu hiện của bệnh lý viêm tắc động mạch ngoại biên, tiến triển có tính chất chu kỳ. Đau giảm khi được điều trị tích cực nhưng tăng lên khi gặp yếu tố thuận lợi: lạnh, chấn thương, stress…Nếu không được theo dõi và điều trị kịp thời có thể dẫn đến nguy cơ phải đoạn chi.

Hiện nay, điều trị chứng đau cách hồi dựa trên nguyên tắc: Ngăn ngừa các biến cố do thuyên tắc, làm chậm tiến triển và cải thiện triệu chứng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Các biện pháp điều trị bằng thuốc, can thiệp qua da (làm thông động mạch bị hẹp bằng bóng, có thể kèm đặt stent) hay phẫu thuật ( phẫu thuật bóc tách mảng xơ vữa hay bắc cầu nối động mạch) ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm.

Thuốc điều trị nội khoa có tác dụng cải thiện tình trạng bệnh, giúp kéo dài quãng đường đi được và ngăn ngừa tình trạng bệnh tiến triển xấu đi. Tuy nhiên, các thuốc tác dụng hạn chế trên các trường hợp nặng và có khá nhiều tác dụng phụ khiến người bệnh phải ngưng sử dụng thuốc. Ví dụ như tác hại trên đường tiêu hóa, gây xuất huyết của Aspirin, hay gây đau đầu, chóng mặt, buồn nôn của Cilostazol… Cùng với đó, các cuộc phẫu thuật ngoại khoa yêu cầu trình độ chuyên môn cao, chi phí tốn kém, tỷ lệ tái phát cao… đôi khi xảy ra biến chứng khó lường.

Vì vậy, xu hướng điều trị hiện nay mà các chuyên gia chọn lựa là điều trị dự phòng, kiểm soát các yếu tố nguy cơ và dùng kèm nhóm thuốc hỗ trợ điều trị. Bệnh nhân đau cách hồi được tập luyện có giám sát, điều chỉnh chế độ ăn phù hợp, bỏ thói quen xấu và sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên. Nhiều bệnh nhân hạn chế đi lại hàng ngày vì sợ đau và sợ bị tổn thương thêm là một quan điểm sai lầm.

Thực hiện chương trình đi bộ đều đặn sẽ cải thiện đáng kể triệu chứng ở hầu hết bệnh nhân có đau cách hồi từ 80 – 234% so với các nghiên cứu đối chứng. Hãy đi bộ với tốc độ tương đối nhanh đến khi nào bạn cảm thấy bắt đầu nhức nơi bắp chân. Đừng ngừng ở đó mà hãy tiếp tục đi thêm một lúc nữa, cho đến khi bạn cảm thấy cần phải nghỉ. Hãy nghỉ một vài phút cho sự đau nhức dịu xuống, rồi lại tiếp tục đi bộ. Làm như vậy mỗi ngày chừng vài tiếng đồng hồ. Nếu thời tiết không cho phép đi bộ bên ngoài, bạn nên mua một máy tập thể dục loại đạp xe hay đi bộ tại chỗ. Nhớ thực tập mỗi ngày, bạn sẽ thấy sự đau nhức giảm đi rất rõ.

Bên cạnh đó, người bệnh cần bỏ những thói quen xấu. Ngưng hút thuốc lá là điều đầu tiên và tối quan trọng. Bệnh nhân thường được khuyên thực hiện chế độ ăn hợp lý, không ăn mặn hay ăn quá nhiều bột, đường, mỡ. Theo tìm hiểu ở những bệnh nhân có kết quả điều trị tốt nhất, ngoài thực hiện chế độ ăn uống và tập luyện, các bệnh nhân còn được sử dụng sản phẩm Varicause. Varicause giúp tuần hoàn máu đến các chi tốt hơn bằng cách làm thông các điểm gây tắc nghẽn trong lòng mạch máu và ngăn ngừa hình thành các điểm tắc nghẽn mới. Do đó triệu chứng đau nhức và hạn chế vận động sẽ được cải thiện rõ rệt.

Theo sức khỏe

Những căn bệnh âm thầm dễ bị bỏ qua

Với một số bệnh có triệu chứng không rõ ràng, bạn sẽ hiếm khi để tâm đến. Hãy cảnh giác, chúng có thể gây nguy hiểm như suy tuyến giáp, cao huyết áp hay hội chứng buồng trứng đa nang.

Đó là lý do tại sao bạn nên đi khám định kỳ và lắng nghe ý kiến của bác sĩ với những triệu chứng nhỏ nhất. Sau đây là những lời lý giải của bác sĩ về 10 căn bệnh có triệu chứng không rõ ràng.

Hàm lượng vitamin D thấp

Mặc dù bạn có thể vẫn cảm thấy rất ổn, nhưng hàm lượng vitamin D dưới 30 ng/ml có thể gây nên bệnh tim, bệnh tiểu đường, bệnh ung thư hay bệnh tự miễn như đa xơ cứng. Vitamin D giúp bạn hấp thụ canxi, vì vậy, thiếu vitamin D gây ảnh hưởng đến xương của bạn. Nếu lượng vitamin D thấp hơn 20 ng/ml, bác sĩ sẽ kết luận bạn bị thiếu vitamin D, tiềm ẩn những nguy cơ biến chứng cao. May mắn thay, khám và chữa bệnh rất đơn giản. “Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thử máu”, Melina Jampolis – bác sĩ nội khoa và chuyên gia dinh dưỡng, tác giả của cuốn “Calendar Diet nói. “Nếu bạn thiếu vitamin D, việc bổ sung loại này không hề tốn kém và hãy tái khám sau một vài tháng”.

Loãng xương
benh-it-biet
Loãng xương được gọi là căn bệnh thầm lặng vì không có triệu chứng rõ ràng, Dahlia Carr, bác sĩ chuyên trị bệnh xương – cơ – khớp cho biết. Điều gì khiến bạn mắc bệnh loãng xương? Một phụ nữ sẽ ngừng phát triển xương vào độ tuổi 30, và mật độ xương bắt đầu giảm ở thời kỳ tiền mãn kinh. Nếu không có đủ vitamin và chất dinh dưỡng như canxi, bệnh loãng xương sẽ xảy đến nhanh hơn. Bạn sẽ không cảm thấy đau và khó chịu cho đến khi bị gãy xương, mà nguyên nhân là nội tiết tố thay đổi làm xương mỏng và yếu đi. Xương hông và cột sống của bạn có nguy cơ bị ảnh hưởng nặng nhất.

Để làm giảm những nguy cơ này hãy tìm đến sản phẩm sữa và thực phẩm chứa nhiều canxi, đặc biệt nếu bạn chưa đến kỳ mãn kinh. Bạn cần 1.000 mg canxi nếu dưới 50 tuổi, và 1.200 nếu trên 50 tuổi. Tư vấn bác sĩ để có thể bổ sung canxi hợp lý. Ngoài ra, hãy tìm hiểu tiền sử gia đình, và kiểm tra mật độ xương khi bước vào tuổi 50.

Suy tuyến giáp

Cùng với nhiều hệ tuyến khác trong cơ thể, tuyến giáp giúp điều chỉnh sự trao đổi chất của bạn. Khi tuyến giáp bị suy, cơ thể không sản xuất đủ hoóc môn kích thích tuyến giáp để nó hoạt động hợp lý, và là tình trạng đáng báo động. Nhưng các triệu chứng suy giảm tuyến giáp như mệt mỏi hoặc không chịu được lạnh, đều rất dễ bị bỏ qua.

Suy giảm tuyến giáp có thể dẫn đến tăng cân, bệnh tim, hàm lượng cholesterol cao, vô sinh, trầm cảm, tổn thương thần kinh cao và di tật bẩm sinh, tiến sĩ Jampolis nói. Nếu gia đình bạn có người mắc phải bất kỳ vấn đề gì liên quan đến tuyến giáp, hãy đi khám để kiểm tra lượng hoóc môn kích thích tuyến giáp bằng xét nghiệm máu. Sau tuổi 35, bạn nên kiểm tra lượng hoóc môn này 5 năm một lần.

Tiểu đường tuýp 2

Nếu cơ thể bạn không sản xuất đủ insulin để phân giải glucose, một loại đường kích thích trao đổi chất, cơ thể bạn sẽ phát triển những rối loạn. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn biến, tuyến tụy sẽ sản xuất insulin chậm lại. Bạn có thể bị tiểu đường trong nhiều năm mà không hề hay biết. Căn bệnh này có thể gây hại cho mắt, tim, thận, và dây thần kinh, tiến sĩ Jampolis cho biết thêm. Hãy kiểm tra lượng đường trong cơ thể từ lúc bạn bước sang tuổi 45, nên chú ý hơn nếu bạn đang thừa cân hoặc tiền sử gia đình mắc bệnh tiểu đường.

Cao huyết áp

Theo thời gian và cùng các yếu tố như tiền sử gia đình, thừa cân, áp lực máu đẩy vào thành động mạch của bạn có thể tăng lên nhiều, dẫn đến cao huyết áp. Bạn không thể cảm nhận được những triệu chứng của bệnh cho đến khi bị các biến chứng bao gồm đau tim, đột quỵ và bệnh thận hành hạ, bác sĩ tim mạch Melissa Kong nói. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của những buổi kiểm tra sức khỏe định kỳ, ngay cả khi bạn vẫn cảm thấy bản thân rất khỏe mạnh. Hãy tự đo huyết áp tại nhà, viết số đo huyết áp của bạn ra để nắm được huyết áp trung bình của mình. Huyết áp ở mức độ bình thường vào khoảng 120/80 mmHg.

Cholesterol cao

Cho dù đó là chế độ ăn uống hay do di truyền, việc tăng nồng độ cholesterol trong máu có thể làm tắc nghẽn động mạch, dẫn đến lưu lượng máu thấp trong các cơ quan quan trọng như tim và não, có thể gây ra cơn đau tim hay đột quỵ. Thêm vào đó, cholesterol cao và cao huyết áp là yếu tố dẫn đến bệnh tim. Vì vậy, hãy xét nghiệm máu 5 năm một lần để kiểm tra nồng độ cholesterol trong máu của bạn. Nếu phát hiện ra nồng độ cholesterol cao, bác sĩ khuyên bạn nên tập thể dục, và thay đổi chế độ ăn uống như thế nào và sau đó sẽ xét nghiệm máu lại một lần nữa. Bác sĩ cũng sẽ gợi ý một số loại thuộc như Lipitor, giúp ngăn chặn các enzyme hình thành nên cholesterol nếu thay đổi lối sống không mang lại hiệu quả.

Bệnh đau nhức toàn thân

Bệnh đau nhức toàn thân là tất cả triệu chứng đau mãn tính từ đầu đến chân. Não bộ khuếch đại cảm giác của cơ thể và tạo ra cảm giác đau. Nhưng bệnh đau nhức toàn thân rất khó chẩn đoán. Bác sĩ chỉ có thể chẩn đoán bằng cách loại trừ từ các loại bệnh khác, vì vậy có thể mất nhiều năm để chỉ ra chính xác xem bệnh trong cơ thể bạn là gì. May mắn thay, bệnh đau nhức toàn thân không đe dọa đến tính mạng, nhưng cũng gây khá nhiều ảnh hưởng đến công việc và tinh thần của người phụ nữ và người thân của họ nữa. Các yếu tố gây nên bệnh này bao gồm, tiền sử gia đình bị bệnh đau nhức toàn thân, chứng rối loạn thấp khớp, hoặc các bệnh truyền nhiễm, hay một sự kiện đau buồn trong quá khứ như tai nạn xe hơi. Nếu những cơn đau của bạn tiếp tục lan rộng, và đã xem xét lại các yếu tố mà không thấy vấn đề gì, thì hãy đến gặp bác sĩ ngay nếu có thể.

Bệnh thiếu máu

Sự cạn kiệt dần dần lượng máu dồi dào oxy này thường diễn ra ở phụ nữ có kinh nguyệt nhiều hoặc quá thường xuyên. Khi số lượng tế bào máu đỏ từ từ giảm, các triệu chứng phức tạp như mệt mỏi có thể xuất hiện, những triệu chứng này rất mơ hồ và dễ dàng biến mất. Thiếu oxy có thể gây hại đến các cơ quan trong cơ thể, tăng cao nguy cơ bị đau tim. Hãy nói với bác sĩ nếu bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, bạn có nhiều kinh nguyệt hơn bình thường, hoặc rối loạn đường ruột như bệnh Crohn (một bệnh bị viêm tại đường ruột) hoặc bệnh loét bao tử, thường liên quan đến thiếu máu. Nếu bạn cảm thấy sức khỏe yếu đi, mệt mỏi mà không rõ nguyên nhân là gì, hãy đến gặp bác sĩ và làm xét nghiệm máu kịp thời.

Hội chứng buồng trứng đa nang

Mất cân bằng nội tiết tố khiến ngăn cản sự rụng trứng và kéo dài khoảng thời gian giữa các chu kỳ kinh nguyệt là thủ phạm gây hội chứng buồng trứng đa nang. Những phụ nữ trẻ thường không để ý đến các triệu chứng này, vì kinh nguyệt của họ không đều. Trong thực tế, nhiều phụ nữ không nhận ra vấn đề gì cho đến khi họ đã cố gắng nhưng không thể mang thai, tiến sĩ Gilberg nói. Bên cạnh vấn đề về khả năng sinh sản, hội chứng buồng trứng đa nang còn có thể dẫn đến lượng cholesterol cao, tiểu đường, bệnh tim và ung thư nội mạc tử cung.

Nếu chu kỳ kinh nguyệt của bạn ngắn hơn hoặc dài hơn 28 ngày một cách đáng kể, thì hãy đến gặp bác sĩ. Các triệu chứng như mụn trứng cá và lông mọc bất thường trên ngực cũng như trên mặt của bạn, đó cũng là dấu hiệu biến động nội tiết tố.

Chứng ngưng thở khi ngủ

Nguyên nhân của chứng ngưng thở khi ngủ là do các cơ trong cổ họng co lại dẫn đến nghẹt thở. Thật khó khăn để có thể nắm bắt được bản chất của chứng ngưng thở, nhiều người tin rằng bạn bị thừa cân, hoặc bị mất ngủ vào ban ngày. Điều đó cũng có thể đúng, bởi mệt mỏi vào ban ngày cũng là một triệu chứng, đặc biệt là ở phụ nữ đã trải qua thời kỳ mãn kinh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy 83% phụ nữ sau mãn kinh gặp phải chứng ngưng thở trong khi ngủ. Những tình trạng này có thể dẫn đến tổn thương tim mạch, tăng huyết áp và bệnh tiểu đường. Hãy hỏi ý kiến bác sĩ để có một giấc ngủ ngon hơn khi bạn cảm thấy chán nản, tỉnh giấc vào ban đêm, gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ hay không hiểu sao lại thấy mệt mỏi trong ngày.

Theo VnExpress

Chứng viêm loét miệng, lưỡi rất dễ gặp

Viêm lở môi, miệng, lưỡi khiến việc ăn uống không ngon miệng, khó chịu…

Vì đâu?

Theo lương y Nguyễn Công Đức (giảng viên trường Đại học Y Dược, TP.HCM): viêm loét lưỡi, miệng xảy ra, theo y học cổ truyền, thường là do một số nguyên nhân như: dùng nhiều thức ăn cay, béo, ngọt, uống nhiều rượu tạo ra nhiệt tổn làm hại tâm tỳ, sinh chứng lở loét ở khoang miệng; do thấp nhiệt (nhiễm trùng) khiến trong miệng có nhiều vết loét màu trắng làm đau đớn, không ăn uống được; do lúc cơ thể đang suy yếu gây ra chứng loét miệng; tinh thần suy nhược, tâm tình uất ức ảnh hưởng đến vị tâm, thận lâu ngày tích nhiệt cũng sinh ra chứng lở loét ở miệng, lưỡi…
loet-mieng
Trị theo y học cổ truyền

Theo lương y Nguyễn Công Đức, tình trạng miệng, lưỡi bị lở, viêm loét thường được chia ra các thể như sau:

Thể thực hỏa – do tâm tỳ bị hỏa độc mà sinh ra. Triệu chứng biểu hiện, vết loét sưng đỏ, có mủ, nóng rát, đau nhức, miệng khô, hôi, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, nước tiểu đỏ, cầu táo. Trong trường hợp này, phép trị sẽ là “thanh nhiệt tả hỏa tâm tỳ”, với bài thuốc Nam gồm những vị thuốc: cỏ mực, cát căn, mè đen, rau đắng đất (mỗi loại 20gr), cam thảo Nam, lá tre (mỗi loại 16gr). Tất cả đem sắc (nấu) với 4 chén nước (độ 800ml), nấu còn lại 1 chén rưỡi thuốc.

Chia làm 3 lần dùng trong ngày, mỗi lần nửa chén. Ngoài ra, thể bệnh này còn có thể trị bằng cách  dùng bài thuốc cổ phương là “Đạo xích tán gia giảm”, với các vị thuốc: sinh địa, thạch cao, lô căn (mỗi vị 20gr), huyền sâm, tri mẫu (mỗi vị 16gr), mộc thông, trúc diệp, ngọc trúc (mỗi vị 12gr), cam thảo, thăng ma (mỗi vị 8gr). Đem tất cả nấu với 5 chén nước (1 lít) còn lại 1 chén rưỡi thuốc, dùng lúc còn ấm, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần nửa chén.

Thể hư hỏa – do vị âm hư, thận âm hư, tân dịch bị hao tổn mà sinh ra. Triệu chứng biểu hiện thường là nổi các vết loét, sưng đau, chảy máu, lưỡi đỏ… Ở thể này, tình trạng lở miệng rất dễ tái phát những khi sức khỏe suy giảm, người mệt mỏi. Phép trị dùng cho thể này là “dưỡng âm, thanh nhiệt”, với bài thuốc Nam gồm: mè đen, mắc cỡ, cỏ mực, rễ đinh lăng (mỗi loại 20gr) cùng 16gr rễ nhàu, 12gr sài đất và 40gr đậu đen. Đem nấu với 5 chén nước, nấu còn lại 1,5 chén thuốc, chia 3 lần dùng  trong ngày, lúc thuốc ấm. Nước thứ hai có thể nấu để uống cả ngày. Còn bài thuốc cổ phương ở thể này là bài “Lục vị tri bá gia giảm”, gồm các vị: trạch tả, đơn bì, bạch linh, tri mẫu (mỗi vị 8gr), huyền sâm, bạch thược, táo nhân (sao đen), sơn thù, hoàng bá (mỗi thứ 12gr), cùng 16gr hoài sơn và 20gr sinh địa. Đem nấu với 4 chén nước, nấu còn lại 1,5 chén thuốc, chia làm 3 lần dùng trong ngày, lúc thuốc còn ấm.

Nguồn thanh niên

Nữ giới nhịn tiểu gây ra vô sinh

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

Cơ quan sinh dục của phụ nữ sống cùng nhà với bàng quang ở trong xương chậu, về độ “gần gũi” thì tử cung ở phía sau bàng quang. Nhịn tiểu làm cho bàng quang tích trữ quá nhiều, bàng quang phình to ra sẽ chèn ép tử cung, làm cho tử cung đổ về sau.

nhin-tieu

Nếu thường xuyên nhịn tiểu, tử cung đổ về phía sau rất khó trở lại vị trí cũ. Khi bàng quang chèn ép tử cung nhiều, ép vào dây thần kinh ở trước xương cùng, làm cho phần xương cùng đau nhức, nặng sẽ gây ra vô sinh.

Nhịn tiểu gây ra tiểu dắt

Không có 2 vòng cơ thắt bằng cơ vân như nam giới, phụ nữ chỉ có 1 vòng cơ thắt do đó nếu thời gian dài nhịn tiểu, cơ vòng sẽ mệt mỏi, nhão, từ đó dẫn đến tiểu dắt; lâu dài gây lão hóa, dễ viêm nhiễm hệ tiết niệu.

Ngoài ra, do kết cấu các bộ phận trong bàng quang của nữ khá phức tạp, hệ thống tiết niệu dễ bị vi khuẩn xâm hại hơn nam giới. Nhịn tiểu không chỉ ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gây viêm nhiễm đường niệu đạo mà còn gây tiểu nhiều, tiểu ra máu, tiểu khó, tiểu buốt và cả bụng dưới khó chịu vv.

Thường ngày chú ý uống nhiều nước, đi tiểu nhiều

Chuyên gia đặc biệt khuyến cáo phụ nữ không nên chờ khát mới uống nước, đặc biệt là những người vận động nhiều.

Nên chú ý ăn nhạt, thanh đạm, ít dầu mỡ. Nếu ăn quá nhiều thức ăn dầu mỡ hoặc ăn mặn, nên uống nhiều nước hơn thường ngày. Trời lạnh nên uống nước ấm, trước khi ngủ và sau khi thức dậy nên uống 2 cốc nước lọc, trời lạnh cũng nên uống để giúp cho nước tiểu kịp thời đẩy ra ngoài, tránh vi khuẩn ở trong đường tiết niệu phát triển.

Theo Dân trí

Những nguy hiểm cho sức khỏe do bệnh trầm cảm gây ra

Bệnh trầm cảm hoàn toàn có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống của bạn và khiến bạn rơi vào trạng thái rối loạn cảm xúc.

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.
nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra
1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Theo afamily

Thấp khớp: bệnh nặng nhất trong 100 loại bệnh cơ xương khớp

Hiện nay người ta đã biết tới hơn 100 loại bệnh cơ khớp xương gây đau nhức và tàn tật cho hàng chục triệu người, trong đó bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis là bệnh nặng nhất, gây ra đau nhức khớp xương nặng và dần dần làm biến dạng các khớp xương. Bệnh nhân bị hạn chế vận động, cử động, đi lại khó khăn do tổn thương và biến dạng các khớp. Bệnh gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ 20 – 50 tuổi.

Thấp khớp do di truyền?

Bệnh thấp khớp xảy ra do màng lót các khớp xương bị viêm sưng lên và tiết ra một chất đạm (protein) làm màng này ngày càng dày lên. Chất đạm này còn hủy hoại lớp sụn, xương, gân và dây chằng của khớp. Sau một thời gian bị bệnh, dần dần các khớp xương của bệnh nhân bị biến dạng, méo mó và có thể bị phá hủy. Câu hỏi đặt ra là tại sao các màng lót trong khớp xương lại bị sưng lên? Nhiều nghiên cứu cho rằng nhiễm khuẩn là nguyên nhân gây sưng các màng lót trong khớp. Bên cạnh đó, một số người có gen di truyền khiến họ dễ bị nhiễm khuẩn là yếu tố nguy cơ gây bệnh. Một số nghiên cứu khác cho rằng kích thích tố có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra bệnh thấp khớp. Những yếu tố nguy cơ có thể làm một người dễ mắc bệnh thấp khớp là: tuổi già, phái nữ, người hút thuốc lá, thuốc lào.

thap_khop_benh_nang_nhat_trong_100_loai_benh_co_xuong_khop

Tổn thương khớp bàn tay trong bệnh thấp khớp Rheumatoid Arthritis

Dấu hiệu của bệnh thấp khớp

Thông thường, một bệnh nhân bị bệnh thấp khớp có biểu hiện các triệu chứng sau đây trong một thời gian rồi tự khỏi, sau đó lại tái phát:  đau nhức và sưng các khớp, nhất là những khớp xương nhỏ của bàn tay và bàn chân. Đau nhức hoặc cứng toàn thể các khớp xương và bắp thịt, nhất là sau khi ngủ dậy vào mỗi buổi sáng hay sau một thời gian nghỉ ngơi. Các khớp khó hoặc không cử động được. Bắp thịt nơi chỗ khớp đau bị yếu đi. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhất là khi bệnh trở nặng. Sau một thời gian bị bệnh, các khớp xương bị biến dạng. Bệnh thấp khớp thường xảy ra ở nhiều khớp xương cùng lúc. Đầu tiên là các khớp xương ở cổ tay, bàn tay, bàn chân và đầu gối bị viêm sưng. Tiếp theo là các khớp vai, khuỷu tay, háng, cằm và cổ cũng bị tổn thương. Ở những điểm dễ va chạm nhất của khớp xương như khuỷu tay, bàn tay và bàn chân, dây gân gót chân có thể nổi lên những cục u nhỏ gọi là cục thấp khớp. Các cục u này cũng có thể mọc ở các khớp xương khác hay ở trong phổi. Kích thước các cục u này có thể nhỏ bằng hạt đậu, nhưng cũng có thể to bằng quả táo nhỏ, với đặc điểm là  không gây đau đớn gì cả. Bệnh thấp khớp đặc biệt có thể gây viêm các tuyến nước mắt, tuyến nước bọt, màng tim và màng phổi, phổi và các mạch máu. Đây là một bệnh mạn tính, có thời gian thuyên giảm, có lúc lại nặng lên. Hiện nay chưa có cách chữa cho hết hẳn bệnh này nhưng nếu biết cách dùng thuốc và những phương pháp bảo vệ các khớp, bệnh nhân vẫn có thể sống cuộc đời hạnh phúc và lâu dài.

Biến chứng của bệnh

Bệnh thấp khớp gây ra cứng, đau khớp xương và mệt mỏi. Dần dần, bệnh nhân khó cử động, khó làm những việc đơn giản như cầm đũa ăn cơm, cầm bút viết, vặn nắm cửa…Bệnh nhân thấp khớp cũng dễ mắc bệnh sưng khớp và xương, bệnh tim…tàn tật do khớp bị biến dạng.

 

Các phương pháp chữa trị

Điều trị nội khoa để giảm đau và ngăn sự tiến triển của bệnh có thể dùng một trong các thuốc sau: thuốc chống viêm không stenoid, COX 2 inhibitors, steroids, thuốc chống miễn nhiễm, thuốc chống trầm cảm… Lọc máu: loại bỏ bớt những kháng thể gây viêm và đau khớp. Phương pháp phẫu thuật để thay khớp đối với các khớp xương đã bị phá hủy quá nhiều, giải phẫu thay khớp có thể tái tạo chức năng của khớp và làm giảm đau. Những phương cách chữa trị như châm cứu, thuốc đông y, thuốc dùng thêm như glucosamine, chondroitin sulfate… cũng có tác dụng nhất định.

Cách tự săn sóc: bệnh nhân cần biết cách tự săn sóc bệnh của mình để giúp cho cuộc sống bớt khó khăn cũng như ngăn chặn sự tiến triển của bệnh. Tập thể dục thường xuyên: bệnh nhân cần nhờ bác sĩ hay nhân viên vật lý trị liệu tư vấn về những môn hay động tác thể dục thích hợp và cần thiết để luyện tập. Hạn chế tăng cân vì khi thừa cân sẽ làm cho các khớp xương phải chịu sức ép nhiều hơn và bị phá hoại nhanh hơn. Ăn nhiều rau, trái cây và ngũ cốc. Nên tắm nước nóng hay chườm nước nóng lên các khớp để giảm đau, thư giãn các bắp thịt và tăng cường tưới máu đến khớp. Tập thư giãn như thở sâu, thư giãn bắp thịt, thiền. Uống thuốc đầy đủ theo chỉ định của bác sĩ.

Xác định tinh thần lạc quan, phối hợp với bác sĩ trong phòng và chữa bệnh. Sử dụng các dụng cụ bảo vệ khớp và hỗ trợ vận động như: băng đầu gối, gậy chống… Tránh làm việc hay cử động quá sức, nghỉ ngơi hợp lý.

BS. Nguyễn Bùi Kiều Linh
Theo SKĐS

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh đau vai gáy: chớ xem thường

Bệnh đau vai gáy xuất hiện một cách thất thường, nhiều trường hợp bỗng dưng sau khi ngồi dậy, sau một đêm ngủ dậy thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau vùng vai, gáy nhiều khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay rất khó chịu. Triệu chứng đau nhức vai, gáy kéo dài trong nhiều ngày thậm chí trong nhiều tháng, cá biệt có trường hợp đau lan xuống hông, sườn hoặc thiếu máu cơ tim do chèn ép các mạch máu rất nguy hiểm.

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên đau vai, gáy như thoái hoá, thoát vị đĩa đệm các đốt sống cổ với nhiều lý do khác nhau; do vẹo cổ bởi gối đầu cao, nằm sai tư thế hoặc vẹo cổ bẩm sinh; do dị tật; do viêm, chấn thương hoặc do các tác nhân cơ học như ngồi lâu, cúi lâu (đánh máy vi tính, công tác văn phòng, một số nhà khoa học, nhà văn, nhà thơ, bình luận, bàn luận văn học… chuyên đọc sách, tham khảo tài liệu với nhiều thời gian phải cúi xuống…) hoặc do mang vác nặng sai tư thế, nhất là công nhân đội than, cát từ tàu thuyền lên bến. Ngoài ra người ta cũng nhận thấy có một số yếu tố thuận lợi gây thiếu máu cục bộ vùng vai, gáy như thói quen ngồi lâu trước quạt, trước máy điều hoà nhiệt đô (máy lạnh), ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy…

benh_dau_vai_gay_cho_xem_thuong

Tổn thương đốt sống cổ gây đau vai gáy

Phát hiện bệnh sớm nhất có thể

Biểu hiện rõ nét nhất của hiện tượng tổn thương đốt sống cổ hoặc bị chèn ép dây thần kinh hoặc bị thiếu máu cục bộ đều có thể gây nên triệu chứng đau vai gáy. Đau vai gáy thường xuất hiện vào lúc sáng sớm vừa ngủ dậy hoặc ngồi làm việc ở bàn giấy nhiều thời gian như đánh máy,cúi xuống  đọc văn bản hoặc sửa chữa văn bản, soạn giáo án (các thầy cô giáo) trong một thời gian dài trong một buổi  hoặc trong một ngày và có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng… Nhiều trường hợp ngoài đau vai gáy còn gây mỏi ở tay, tê tay, nặng tay cho nên khi làm các động tác dùng một hoặc hai tay nâng đỡ  hoặc khi lái xe (xe máy, xe ô tô) phải làm động tác đổi tay cầm lái vì tay kia bị mỏi, nặng rất khó chịu. Cũng có tác giả cho rằng có một tỷ lệ  nhất định nào đó do đau vai gáy  có thể gây nên liệt nửa người thậm chí gây nhồi máu cơ tim do mạch máu nuôi dưỡng tim bị chèn ép. Nói chung bệnh đau vai gáy là một loại bệnh gặp tỷ lệ khá cao, chủ yếu ở người trưởng thành hoặc gặp ở những đối tượng mang tính chất nghề nghiệp và nhất là người cao tuổi.

Một số trường hợp có thể tự chẩn đoán cho mình bị đau vai gáy với nguyên nhân gì, ví dụ nằm ngủ gối đầu cao sáng dậy bị vẹo cổ, đau vai, mỏi tay  hoặc do nằm sai tư thế kéo dài nhiều giờ như nằm co quắp,  gối đầu cao  hoặc tư thế nằm  nghiêng sang một bên. Đa số các trường hợp không rõ nguyên nhân hoặc có nhiều nguyên nhân làm lẫn lộn không biết nguyên nhân nào là nguyên nhân chính gây nên đau vai, gáy thì cần đi khám bệnh. Tại cơ sở y tế có điều kiện, ngoài thăm khám  người ta có thể hỏi bệnh, chụp Xquang đốt sống cổ, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi tính (CT) và cũng có thể đo điện não đồ, đo mật độ xương, xét nghiệm sinh hoá máu nếu có bệnh về bệnh liên quan đến tim mạch…

Phòng đau vai gáy như thế nào?

Các nhà chuyên môn khuyên nhiều người nên bỏ dần thói quen ngồi trước máy điều hoà nhiệt độ (máy lạnh) nhiều giờ; khi ra khỏi nhà cần đội mũ, nón để che nắng mỗi khi có ánh nắng mặt trời. Nên bỏ thuốc lá, thuốc lào ở những người nghiện thuốc lá, thuốc lào vì chất độc trong thuốc lào, thuốc lá cũng đóng góp đáng kể trong bệnh gây thoái hoá khớp. Muốn không để xảy ra bệnh đau vai gáy nên tập thể dục nhẹ nhàng, đều đặn, đúng bài, sinh hoạt điều độ và luôn coi sức khoẻ là vốn quý giá nhất.

Cách “đối phó” với chứng đau vai gáy

Cần khắc phục nguyên nhân gây ra đau vai gáy mà chính bản thân người bệnh biết được lý do gây ra đau vai gáy là điều quan trọng, ví dụ như không đọc sách, văn bản, soạn giáo án, giáo trình, đọc truyện kéo dài nhiều thời gian trong một buổi, trong một ngày; không nằm kê đầu bằng gối cao cả tư thế nằm ngửa, cả tư thế nằm nghiêng. Một số nghề nghiệp không thể không ngồi lâu trong một thời gian dài như đánh máy, lái xe đường dài, công tác văn phòng thì cố gắng nghỉ giải lao giữa giờ làm việc và tập cúi xuống, đứng lên hoặc quay đầu, xoay cổ nhẹ nhàng trong vòng 10-15 phút sau vài giờ đã làm việc liên tục. Tuy nhiên trong những trường hợp đã được bác sĩ khám và xác định thoái hoá đốt sống cổ gây xơ cứng đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ thì không nên xoay cổ, vặn cổ hoặc xoay lưng mạnh, nếu làm như vậy thì sẽ “lợi bất cập hại”. Xoa bóp, bấm huyệt đúng cách, đúng chuyên môn và thực hiện đều đặn hàng ngày cũng có thể đem lại hiệu quả nhất định kết hợp với điều trị thuốc. Điều trị thuốc gì cần có ý kiến của bác sĩ khám bệnh cho mình, không nên tự mua thuốc điều trị và cũng không nên điều trị ở những cơ sở không đáng tin cậy. Hiện nay khoa học ngày càng phát triển cho nên về Tây y có những loại thuốc dùng điều trị về bệnh khớp nói chung và bệnh thoái hoá khớp nói riêng khá hiệu nghiệm. Thuốc vừa điều trị giảm đau vừa điều trị phục hồi dần các tổn thương của khớp mà ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng xấu đến đường tiêu hoá của người bệnh.

PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương: Những quan niệm sai lầm

“Lớn tuổi rồi, đương nhiên là xương phải yếu, ăn nhiều tôm cua hoặc uống sữa sẽ không bị loãng (LX)…” là những quan niệm thường thấy của mọi người khi nói về LX. Thậm chí, rất nhiều người không nghĩ rằng, LX là bệnh mà chỉ là những triệu chứng chung chung của tuổi già mà thôi.

Những sai lầm phổ biến

BS. Trần Thanh Mỹ, Giám đốc Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.HCM cho biết, thực tế có rất nhiều quan niệm chưa đúng trong việc nhận thức về bệnh LX cũng như trong việc phòng ngừa, phát hiện và điều trị bệnh. Trong đó, có những quan niệm sai lầm nhiều đến mức phổ biến.

benh_loang_xuong_nhung_quan_niem_sai_lam

Thường xuyên vận động, tập thể dục để duy trì hệ xương chắc khỏe.

Sai lầm nghiêm trọng nhất, theo BS. Mỹ là việc cho rằng: “Tôi không thể bị LX được vì tôi còn trẻ” hay “LX là căn bệnh của phụ nữ”. Thậm chí khi người có tuổi bị đau nhức, hoặc té gãy xương thì chỉ chặc lưỡi: “Già rồi còn gì!”… Nhưng, chúng ta cần hiểu rằng, LX là một loại bệnh không chừa một ai và mọi lứa tuổi đều có thể mắc phải, nhất là đối tượng trung niên và người cao tuổi. Ở phụ nữ, canxi bị thất thoát nhiều hơn trong giai đoạn tiền mãn kinh và sau mãn kinh, khi lượng hócmôn sinh dục nữ estrogen giảm, làm cho canxi không được giữ lại ở xương nên xương trở nên xốp, giòn hơn.

Liên quan đến tuổi, xương có 2 quá trình xảy ra song song là tiêu hủy xương và tái tạo xương. Ở người trẻ tuổi, phần xương bị mất đi sẽ được bù đắp dễ dàng. Ở tuổi 30, bộ xương đạt độ vững chắc nhất. Ở người lớn tuổi, mỗi ngày lượng xương được tạo ra ít hơn so với lượng xương mất đi, do đó dẫn đến tình trạng LX. Đặc biệt BS. Mỹ cho rằng, đối với người cao tuổi, không mấy người biết những dấu hiệu đặc trưng của bệnh LX. Có rất nhiều nguyên nhân gây gãy xương ở người cao tuổi nhưng nguyên nhân do LX chiếm tỉ lệ rất cao. Trong tổng kết mới đây tại TP.HCM và BV. Chấn Thương Chỉnh Hình cho thấy, có 85 – 95% người cao tuổi gãy xương là do LX, chỉ cần té nhẹ là có thể gãy xương rồi. Phổ biến nhất là: xẹp cột sống, gãy cổ xương đùi và đầu dưới xương quay.

Sai lầm thứ hai là nhiều người vẫn chỉ dựa vào nguồn canxi có trong thực phẩm để kiểm soát khả năng mắc bệnh LX. Thực ra, ăn uống đủ chất với thực phẩm bổ sung canxi chỉ là điều kiện cần để phòng ngừa LX, điều kiện đủ phải là vận động, vì qua vận động, canxi mới có thể được đưa vào xương. Ngoài ra, mật độ xương còn phụ thuộc vào một số thành phần khác như: phốt-pho, hormone, vitamin D… Và việc “ăn” canxi cũng có nguy cơ mắc bệnh LX, nếu điều này không được thực hiện đều đặn hàng ngày.

Bệnh diễn biến âm thầm và hậu quả nặng nề

Trên thực tế, LX có thể xảy ra với bất kỳ ai, lứa tuổi nào. Nhưng nhìn chung, bệnh thường tập trung vào người lớn tuổi, đặc biệt là phụ nữ. LX tiến triển âm thầm không gây đau đớn khiến người bệnh không hay biết để chữa trị, do đó, hậu quả để lại là rất nặng nề. Biến chứng của nó nguy hiểm không kém nhồi máu cơ tim và đột quị với tỷ lệ tử vong 20% và đến 50% bị thương tật vĩnh viễn. Và phần đông những bệnh nhân chưa có dấu hiệu lại khá chủ quan trong việc điều trị. “Vấn đề này thực sự khiến các bác sĩ chúng tôi phải lo lắng vì nếu không điều trị, bệnh sẽ nặng dần và gãy xương có thể xảy ra”, BS. Mỹ cho biết.

Biến chứng nặng nhất của LX là gãy xương mà điều trị gãy xương do LX là rất khó khăn và phức tạp. Tùy theo vị trí xương, loại xương bị gãy mà điều trị hoặc thay thế. Đặc biệt, các xương lớn như cổ xương đùi bị gãy thì việc điều trị trở nên vô cùng khó, mất nhiều thời gian và chi phí rất tốn kém. Do đó, có thể nói biến chứng của LX không chỉ nằm ở xương mà tác động tới toàn bộ cơ thể, làm giảm chất lượng cuộc sống và tăng nguy cơ tử vong ở giai đoạn “hậu gãy xương”.

NGUYỄN TUÂN (ghi)
Theo SKĐS

Y học cổ truyền trị loãng xương

Theo quan niệm của y học cổ truyền (YHCT), biểu hiện của loãng xương được mô tả trong phạm vi chứng hư lao. Là tên gọi chung của cả ngũ lao, thất thương và lục cực… mà cụ thể là Thận lao hay Cốt cực. Để điều trị bệnh này, YHCT chia làm 3 thể: Khí huyết hư, Thận âm hư và Thận dương hư.

Thể Khí huyết hư: Ngoài các triệu chứng đau nhức vùng cột sống thắt lưng, cột sống cổ, khớp gối…, người bệnh có các triệu chứng như: mệt mỏi, uể oải thường xuyên, ăn ngủ kém, ngại nói, thích nằm, chóng mặt, sắc mặt nhợt nhạt, rối loạn kinh nguyệt. Nếu nặng, người bệnh có thể bị sa trực tràng, sa tử cung… và thường có biểu hiện: Lưỡi nhợt, đóng rêu trắng, mạch trầm nhược (chìm và yếu). Cách trị chủ yếu là điều bổ khí huyết. Người bệnh có thể dùng một trong hai bài thuốc sau:

y_hoc_co_truyen_tri_loang_xuong

Bài 1: Bổ trung ích khí thang (có thể gia giảm tùy thể trạng từng người), gồm các vị: nhân sâm 15g; huỳnh kỳ 15g; bạch truật 10g; bạch linh 15g; đương quy 15g; thăng ma 15g; sài hồ 10g; trần bì 10g; hoài sơn 15g; đại táo 15g; cam thảo 10g

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, nên uống trước khi ăn 30 phút và khi thuốc còn ấm.

Bài 2: Thập toàn đại bổ. Gồm các vị: nhân sâm15g, đương quy 10g, bạch truật 5g, xuyên khung10g, bạch linh 5g, thục địa 15g, cam thảo 10g, bạch thược 10g, huỳnh kỳ 5g , nhục quế10g.

– Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày một thang, nên uống trước khi ăn 30 phút và khi thuốc còn ấm.

Thể Thận âm hư: Ngoài triệu chứng đau nhức như trên, bệnh nhân còn có các triệu chứng như sốt hâm hấp về chiều, đau mỏi lưng âm ỉ, cảm giác nóng trong người, thỉnh thoảng có cơn nóng phừng mặt, ngũ tâm phiền nhiệt (nóng ở lòng bàn tay, bàn chân và cảm giác nóng vùng trước ngực), đổ mồ hôi trộm. Người bệnh còn các biểu hiện như: lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm tế sác.

Cách trị: Dùng bài thuốc bổ thận, ích tinh, tư âm, dưỡng huyết. Dùng bài thuốc: lục vị địa hoàng hoàn gia vị: thục địa 32g, hoài sơn 16g, sơn thù 16g, đơn bì 8g, bạch linh 8g, trạch tả 8g, đơn sâm 12g, đương quy 12g, bạch thược 8g.

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, uống trước khi ăn 30 phút khi thuốc còn ấm.

Thể thận dương hư: Ngoài các triệu chứng đau nhức xương như trên, bệnh nhân cảm thấy luôn mệt mỏi, ớn lạnh, tay chân lạnh (thường có cảm giác lạnh từ đầu gối và hai khuỷu tay trở ra), tự đổ mồ hôi, ngũ canh tả (thường đi tiêu phân lỏng hoặc hơi sệt lúc sáng sớm). Lưỡi nhợt, rêu trắng, mạch trầm nhược. Cách trị: Bổ thận, trợ dương.

Bài thuốc: Hữu quy hoàn: thục địa 32g, hoài sơn 16g, sơn thù 16g, câu kỷ tử 16g, đỗ trọng 16g, thỏ ty tử 16g, lộc giác giao 16g, đương quy 16g, nhục quế 4g, phụ tử chế: 4g.

– Cách dùng: Sắc uống ngày một thang, uống trước khi ăn 30 phút, khi thuốc còn ấm.

Nếu bạn đang điều trị bằng thuốc tây có thể kết hợp với việc sử dụng thuốc Y học cổ truyền, nhưng nên đến khoa Y học cổ truyền tại các bệnh viện để được khám, tư vấn và chữa trị phù hợp.

Bác sĩ Vũ Đình Quỳnh
Theo SKĐS

Tình trạng loãng xương ở sản phụ sau sinh

Tình trạng giảm mật độ khoáng xương (có thể hiểu là loãng xương) lúc mang thai và sau khi sinh cho em bé bú là tình trạng thiếu canxi sinh lý.

Dấu hiệu cơ bản của chứng loãng xương là sau khi sinh con từ 1-2 tháng, sản phụ bắt đầu xuất hiện tình trạng đau nhức khắp người, nhất là khu vực vai, lưng, bàn chân. Một số người không thấy có triệu chứng gì khi bị loãng xương hoặc bỏ qua những triệu chứng nhẹ như đau lưng âm ỉ.

tinh_trang_loang_xuong_o_san_phu_sau_sinh

Nguyên nhân

– Do tình trạng mật độ xương trong khoảng thời gian mang thai và cho con bú.

– Do một lượng lớn vitamin D từ cơ thể mẹ đã bị tiêu hao vì phải nuôi dưỡng thai nhi.

– Khi mang thai, nồng độ estrogen trong cơ thể bạn tăng lên. Điều này có tác động đến sự hoạt động của các cơ, gân, dây chằng, đặc biệt là vùng khớp cùng của xương chậu (biểu hiện là tình trạng đau lưng, mỏi khớp khi mang thai và kéo dài đến khoảng thời gian sau sinh).

– Căng thẳng, bận rộn chăm con khiến cơ thể mệt mỏi và hay xuất hiện những cơn đau mỏi xương khớp.

Điều trị

Phần lớn các trường hợp loãng xương ở phụ nữ sau sinh là hội chứng loãng xương sinh lý. Tình trạng này sẽ được cải thiện đáng kể sau 6-12 tháng cho con bú và có thể khỏi sau 6-12 tháng ngừng cho con bú.

Với những trường hợp loãng xương nghiêm trọng, khi ấy bạn có thể phải sử dụng thuốc giảm đau hoặc dùng các loại thuốc uống, thuốc bổ sung vitamin D, theo điều trị và chỉ định của bác sĩ…

Phòng chứng loãng xương sau sinh

– Canxi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương. Vì vậy, bạn nên cung cấp đầy đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua ăn uống và vận động hợp lý mỗi ngày. Hàm lượng canxi trong thời gian cho con bú luôn cao hơn bình thường, khoảng 1.500mg/ngày. Các thực phẩm giàu canxi là sữa, đậu tương, lòng đỏ trứng, rau cải, cá tôm…

– Nên bổ sung thêm các nguồn thực phẩm giàu vitamin D như trứng, nấm tươi, lươn, trai, sò…

Sinh khi sinh con khoảng một tháng, sức khỏe của sản phụ đã phục hồi, có thể tham gia các hoạt động thể dục thể thao vừa sức, nhẹ nhàng. Không chỉ phòng được chứng loãng xương, vận động còn giúp bạn tăng cường sức khỏe và sớm lấy lại vóc dáng sau sinh.

BS. Huy An
Theo SKĐS

Cốt toái bổ: Vị thuốc dự phòng và điều trị loãng xương

Tỷ lệ trường hợp bị bệnh loãng xương ở người cao tuổi và ở phụ nữ đã mãn kinh ngày càng tăng. Một số công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh có nhiều loại thực phẩm và cây thuốc có tác dụng làm tăng sự hấp thụ chất khoáng vào xương, trong đó có cây cốt toái bổ. Như vậy, việc dùng các chất bổ sung dinh dưỡng thiên nhiên và các thảo dược có thể là một biện pháp quan trọng để giảm tỷ lệ người mắc bệnh loãng xương, hoặc ít nhất làm giảm mức độ mất chất khoáng ở xương, đặc biệt ở người cao tuổi.

Cốt toái bổ là một trong những cây thuốc có tác dụng dự phòng và điều trị loãng xương, điều trị gãy xương và các bệnh về xương khớp khác. Ở Việt Nam, cốt toái bổ phân bố ở một số tỉnh giáp biên giới Trung Quốc. Cây hiếm gặp hơn ở các tỉnh từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào. Cốt toái bổ sinh trưởng ở kiểu rừng kín thường xanh và rừng núi đá vôi ẩm, với độ cao phân bố đến 1.600m. Bộ phận dùng là thân rễ già phơi hay sấy khô. Có khi người ta đồ chín, rồi mới phơi, sấy khô. Muốn biết lông bao phủ bên ngoài, người ta đốt nhẹ cho cháy.

cot_toai_bo_vi_thuoc_du_phong_va_dieu_tri_loang_xuong

Tác dụng dược lý: Để nghiên cứu tác dụng chống loãng xương, người ta đã thử nghiệm tác dụng của cốt toái bổ trên hoạt tính của protease là men có vai trò gây khởi đầu sự mất xương ở chuột cống và chuột nhắt trắng. Trong nghiên cứu này, cả cao chiết cồn và cao chiết nước đều có tác dụng ức chế mạnh các cathepsin K và L, là các yếu tố làm biến tính chất tạo keo trong xương, trong đó cao chiết cồn có tác dụng mạnh hơn. Cũng đã chứng minh trong thử nghiệm nuôi cấy tế bào và trên cơ thể động vật sống hiệu quả tốt của thân rễ cốt toái bổ trên sự tăng sinh các tế bào xương của người và hoạt tính điều hòa miễn dịch.

Các tế bào tiền – xương được nuôi cấy với các nồng độ khác nhau của cốt toái bổ và đã nhận xét thấy các nồng độ thấp có tác dụng kích thích sự tăng sinh tế bào xương và các nồng độ cao lại có tác dụng ức chế. Ngoài tác dụng chống loãng xương, cốt toái bổ còn có các hoạt tính dược lý khác như tác dụng tăng cường chức năng nội tiết sinh dục nữ (và như vậy cũng là tác dụng gián tiếp chống loãng xương), chống viêm và viêm khớp.

Công dụng: Cốt toái bổ là một thành phần chính trong nhiều bài thuốc được dùng chữa gãy xương và làm mạnh xương khớp trong y học cổ truyền Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên. Thân rễ cốt toái bổ có tác dụng bổ thận, làm mạnh gân xương, hành huyết, phá huyết ứ, cầm máu, giảm đau. Được dùng để dự phòng và điều trị loãng xương, đau xương, đau lưng mỏi gối, khớp sưng đau, ngã chấn thương, bong gân, tụ máu, sai khớp, gãy xương, thận hư (suy giảm chức năng nội tiết), chảy máu chân răng. Ngày dùng 6-12g thân rễ khô dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống.

Các bài thuốc có cốt toái bổ

Bài thuốc bổ khí huyết, bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương, dùng cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, gãy xương: Cốt toái bổ 12g; đảng sâm, hoài sơn, ba kích, mỗi vị 16g; hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, cẩu tích, tục đoạn, mẫu lệ, mỗi vị 12g; thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang hoặc nấu cao lỏng uống.

– Bài thuốc bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương: Bột cốt toái bổ, bột sừng hươu nai, bột mẫu lệ, mỗi vị 2g. Làm thành viên uống, hay uống dạng bột trong một ngày. Uống liên tục trong thời gian dài. Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư, yếu: Cốt toái bổ 16g; cẩu tích, củ mài, mỗi vị 20g; tỳ giải, đỗ trọng, mỗi vị 16g; rễ gối hạc, rễ cỏ xước, dây đau xương, thỏ ty tử, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

– Chữa đau lưng, răng đau, ù tai do thận hư: Cốt toái bổ tán nhỏ 4-6g, cho vào bầu dục lợn, nướng chín ăn.

– Chữa phong thấp đau nhức thuộc huyết:

a. Phương thuốc ngâm rượu: Cốt toái bổ 40g, rễ gắm 120g, vỏ chân chim 100g, rễ rung rúc 80g; rễ bươm bướm (bạch hoa xà), rễ chiên chiến, mỗi vị 60g; xích đồng nam, bạch đồng nữ, tiền hồ, ô dược, cỏ xước, rễ bưởi bung, mỗi vị 40g. Nấu thành cao đặc rồi cho thêm rượu 40o thành 2 lít, ngâm trong 3 ngày. Lọc lấy dịch trong, mỗi lần uống 30ml, ngày 2 lần.

b. Phương thuốc viên: Cốt toái bổ 160g (nấu với mật, phơi khô), cẩu tích 240g (tẩm rượu nấu với nước muối, phơi khô), thạch hộc 160g (rửa với rượu, chưng kỹ, phơi khô), hy thiêm 160g (chưng với rượu và mật, phơi khô), rễ cỏ xước 160g (dùng tươi, rửa với rượu), vỏ chân chim 160g (sao), rễ gắm 160g (sao), quán chúng 100g (phơi chỗ râm), lá ké đầu ngựa 40g (phơi trong râm). Các vị tán bột, làm thành viên, uống mỗi lần 8-12g với nước gừng hay rượu.

– Chữa thấp khớp mạn tính (thể nhiệt): Cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đan sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, thiên hoa phấn, thổ phục linh, mỗi vị 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

– Thuốc đắp chữa bong gân, tụ máu: Cốt toái bổ tươi, bóc bỏ hết lông tơ và lá khô, rửa sạch, giã nhỏ, rấp nước, gói vào lá chuối đã nướng cho mềm, đắp lên các chỗ đau, bó lại. Thay thuốc bó nhiều lần trong ngày.

Theo SKĐS