Tag Archives: đau mắt hột

Đau mắt hột: bạn đã biết gì?

Hiện nay, mắt hột là một trong những bệnh gây mù lòa trên thế giới. Bệnh rất dễ phát triển, nhất là ở những nơi thiếu nước sạch, lây lan do tình hình vệ sinh phòng bệnh kém.

Bệnh mắt hột là biểu hiện của viêm kết, giác mạc mạn tính, do Clamydia trachomatis gây ra với đặc điểm là hình thành những hột, những tổn thương sẹo đặc trưng ở mắt; bệnh có thể lây lan thành dịch.

dau_mat_hot_ban_da_biet_gi

Bệnh mắt hột lây lan như thế nào?

Mắt hột có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở những nước nghèo, chậm phát triển. Tình trạng vệ sinh càng kém thì sự sinh bệnh, lây truyền càng nặng; bệnh có thể lây lan do các yếu tố sau đây: nguồn nước bị ô nhiễm; dùng nước ao hồ trong sinh hoạt như tắm rửa, ăn uống; trong gia đình hay nhóm bạn, nhà trẻ dùng chung khăn mặt, thau rửa mặt, bồn tắm…

Biểu hiện của bệnh mắt hột

Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những  biểu hiện: không có triệu chứng gì; có dấu hiệu nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù lòa. Bệnh biểu hiện rất đa dạng với các triệu chứng như sau: ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt; xem báo, đọc sách hay sử dụng máy vi tính nhanh mỏi mắt nhất là buổi chiều. Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần,  tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm,  không để lại di chứng và không gây mù. Đối với thể nặng tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như lông quặm, lông siêu, sẹo giác mạc, nguy hiểm nhất là dẫn đến mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi đỏ mà dân gian gọi là mắt toét.

Các biến chứng do mắt hột

Bệnh nhân bị mắt hột có thể dẫn tới các biến chứng: viêm kết mạc mạn tính bị đỏ mắt, ngứa, cộm, xốn quanh năm; lông quặm, lông xiêu là tình trạng tổn thương kết mạc bờ mi gây cho lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào cọ xát liên tục vào giác mạc, gây tổn thương, trầy sướt, loét giác mạc, làm mờ đục giác mạc. Do vệ sinh kém bị nhiễm khuẩn gây viêm mủ nhãn cầu có thể phải khoét bỏ mắt hoặc viêm teo mắt dẫn đến mù lòa; Viêm sụn mi  là tổn thương làm bờ mi dày lên, xơ hóa, biến dạng sụn mi; Loét giác mạc làm bệnh nhân bị đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng, hậu quả là biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa; Bội nhiễm là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virut và cả nhiễm vi nấm, dẫn đến viêm loét giác mạc, có thể gây mù lòa;  U hột ở rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi lan cả toàn bộ giác mạc;  Loạn thị vì sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc ghồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng, gây loạn thị, giảm thị lực; Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ dẫn đến mờ mắt, chảy nước mắt sống. Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch, mắt trắng khô, mờ hẳn, có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

Kiên trì chữa trị

Bệnh mắt hột có các thể từ nhẹ đến nặng, những trường hợp nhẹ không cần điều trị cũng tự khỏi, các trường hợp nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm cho mắt và đưa đến mù lòa nên phải điều trị tích cực. Phương pháp điều trị mắt hột phổ biến là dùng thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc mỡ vào mắt. Có thể dùng một trong các thuốc sau để điều trị: mỡ tetracyclin 1%, tra mắt buổi tối mỗi tháng 10 ngày liên tục trong khoảng  6 tháng – 1 năm;  đồng thời uống một trong các thuốc tetracyclin, erythromycin hay doxycyclin x 3-4 tuần; Phẫu thuật xử lý các trường hợp biến chứng như lông quặm, sẹo giác mạc.

Làm gì để phòng bệnh đau mắt hột?

Bệnh mắt hột rất dễ mắc và lây lan thành dịch, có nguy cơ dẫn đến mù lòa nhưng có thể phòng tránh bằng các biện pháp đơn giản, dễ thực hiện như sau: luôn luôn rửa sạch tay mỗi khi lao động hay tiếp xúc với môi trường đất, nước bẩn; mọi người chú ý tập thói quen  không dụi tay bẩn lên mắt. Sử dụng kính khi đi đường tránh gió bụi vào mắt; rửa mặt bằng khăn mặt riêng; không sử dụng nước ao hồ để tắm rửa, tránh để nước bẩn bắn vào mắt; thường xuyên làm vệ sinh môi trường, diệt ruồi nhặng, gián, chuột; khi mắc bệnh phải điều trị bảo đảm thời gian theo hướng dẫn của bác sĩ…

Theo SKĐS

Bệnh đau mắt hột dễ gây nguy cơ mù lòa

Mắt hột là viêm nhiễm mạn tính kết giác mạc do Chlamydia trachomatis gây ra, nhưng bội nhiễm các vi khuẩn khác cũng làm cho bệnh nặng thêm. Tổn thương đặc hiệu là những hột kèm tình trạng thẩm lậu lan toả dày đặc và quá sản gai nhú trên kết mạc, đồng thời xuất hiện màng máu trên giác mạc. Mắt hột có thể dẫn tới cụp mi, lông quặm, lông xiêu, loét, sẹo đục giác mạc và mù loà.
Tổn thương hột trên mi mắt trên.
hiem-hoa-mu-loa-do-mat-hot-gay-ra-1

Khi bị bệnh mắt hột bệnh nhân sẽ thấy ngứa, cộm, có nhiều dử mắt, song các triệu chứng này không đặc hiệu. Mi mắt nề nhẹ, khe mi hẹp, mắt lim dim như buồn ngủ. Kết mạc sung huyết ở lớp nông, tạo màu đỏ hồng đều trên diện rộng ở vị trí đặc hiệu là kết mạc sụn mi trên và ở khắp kết mạc. Hột là sự tập hợp các tế bào lympho thành nang, ở giữa sáng gồm các tế bào lympho non, xung quanh là các tế bào lympho đã biệt hoá có màu  sẫm. Hột làm cho kết mạc trở nên sần sùi. Kích thước hột từ 0,5-1mm, có thể đứng riêng rẽ giữa những chỗ phân nhánh mạch máu trông giống như tổ chim gác trên cành cây. Cũng có khi hột nằm tập trung áp sát vào nhau hoặc chồng đống lên nhau nên gọi là hột đúc nhập. Hột non có màu trong, hột già có màu trắng đục trông như hột rôm sảy và rất dễ vỡ. Hột là sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với vi khuẩn Chlamydia. Vị trí đặc hiệu của hột là ở kết mạc sụn mi trên và ở giác mạc, nhưng nó có thể có ở bất cứ vị trí nào trên mắt. Đây là điểm phân biệt với hột của các viêm kết mạc khác. Thẩm lậu do thâm nhiễm những tế bào viêm thoát mạch làm cho kết mạc dày lên che mờ mạch máu ở phía dưới. Nhú gai (phân biệt với hột): nhô lên trên bề mặt kết mạc. Nhú gai là khối tổ chức liên kết tăng sinh mà trung tâm là một trụ mạch đi thẳng góc với bề mặt kết mạc tạo nên hình ảnh chấm máu li ti. Nhú gai không phải là hình ảnh đặc hiệu của mắt hột mà còn có thể gặp trong nhiều bệnh viêm khác của kết mạc. Sẹo là tổ chức xơ tạo nên những vệt trắng óng ánh như xà cừ, có khi kết thành mạng lưới. Sau khi hột bị vỡ đi, quá trình xơ hoá tạo thành sẹo. Sẹo gây co rúm kết mạc gây cạn túi cùng kết mạc, cụp mi và quặm, tắc đường dẫn lệ. Chỉ có hột do Chlamydia trachomatis mới tạo thành sẹo. Hột và lõm hột trên giác mạc: hột có màu hơi xam xám, hình bầu dục, nằm dọc theo vùng rìa phía cực trên giác mạc. Lõm hột là di chứng của hột, thấy rất rõ vì xung quanh là nền trắng, ở giữa trong. Màng máu mắt hột (pannus) đi từ vùng rìa phía 12h hướng về phía trung tâm giác mạc. Giới hạn dưới của nó là một vòng cung mà đỉnh của vòng cung này hướng về phía 6h. Thành phần của pannus gồm: tân mạch, thẩm lậu giác mạc, hột. Các yếu tố này tạo thành một lớp màng dày che mờ mống mắt ở phía sau. Cùng với kết mạc sụn mi trên, hột giác mạc cũng là vị trí đặc hiệu trong bệnh mắt hột.

Biến chứng do mắt hột

Bệnh mắt hột nếu không được điều trị, diễn biến lâu ngày, viêm nhiễm nhiều đợt sẽ dẫn đến nhiều biến chứng. Viêm toét bờ mi: mắt đỏ, bờ mi đỏ, ướt và nhiều dử bám, lông mi bết dử. Điều trị lau rửa bằng dung dịch kháng sinh, tra thuốc kháng sinh tại mắt kết hợp điều trị tác nhân mắt hột. Quặm do sẹo kết mạc co kéo uốn sụn thành lòng máng, cụp cả hàng lông mi vào trong chà lên bề mặt kết, giác mạc. Trước đây các thầy thuốc hay dùng cách quyền mi tức là cặp gắp cho đến khi hoại tử một vạt da dọc theo bờ mi. Cách làm này  cũng khắc phục được ít nhiều hiện tượng lông mi chọc vào kết, giác mạc. Nhưng do diện tích vạt da loại bỏ không chủ động được diện tích theo yêu cầu ở từng vị trí cho nên hay gây biến dạng mi. Hiện nay quặm thường được mổ theo các phương pháp Panas, Cuenod-Nataff, Snellen… bảo đảm cho hàng lông mi lên đều và bờ mi vẫn có được độ cong sinh lý. Lông xiêu: từng chiếc hoặc một vài lông mi cụp vào trong và chà vào giác mạc, điều trị bằng cách đốt điện hoặc nhổ lông xiêu. Khô mắt do các tuyến lệ phụ ở kết mạc bị huỷ hoại, giác mạc bị mờ đục do bị khô và thiếu nguồn nuôi dưỡng.  Tắc lệ đạo do sẹo co kéo chít hẹp. Sẹo co rúm kết mạc gây cạn các túi cùng, dẫn tới hạn chế vận nhãn. Viêm kết mạc, mắt hột là viêm kết mạc mạn tính, bệnh gây giảm sức đề kháng làm cho dễ bội nhiễm vi khuẩn hoặc virut làm cho viêm kết mạc nặng thêm. Viêm kết mạc tăng tiết dử do làm cho bệnh nhân có cảm giác lèm nhèm liên tục. Viêm loét giác mạc do hột vỡ, do lông quặm, lông xiêu, do bội nhiễm. Sẹo giác mạc: sau pannus, sau loét để lại sẹo. Loạn thị do hột ở giác mạc thành sẹo gây cho giác mạc lồi lõm, loạn thị không đều, rất khó điều trị.

Chữa trị và phòng bệnh

Bệnh mắt hột điều trị chủ yếu là dùng thuốc tiêu diệt Chlamydia, không dùng các thuốc sát khuẩn và các phương pháp day, kẹp hột. Thuốc có tác dụng tốt là azithromycin; có thể dùng các thuốc tetracyclin, aureomicin, oxytetraxyclin trong 3-6 tháng liên tục.

Phòng bệnh phải dùng nước sạch, không bơi, rửa ở hồ ao, giếng làng. Dùng riêng khăn mặt, luôn giặt khăn bằng xà phòng và phơi nắng. Giữ sạch mắt, không dụi  tay bẩn lên mắt. Diệt ruồi, nhặng.

Nên dùng thuốc gì để chữa bệnh đau mắt hột

Bệnh mắt hột là một viêm nhiễm mạn tính của kết giác mạc. Nếu không điều trị, bệnh sẽ gây những biến chứng làm tổn thương giác mạc và sẽ dẫn đến mù loà.

Mắt hột là một trong những bệnh nhiễm trùng thường gặp nhất, đặc biệt ở các vùng có khí hậu nóng ẩm, trường sống chật chội và mất vệ sinh. Bệnh lây truyền từ người này sang người khác và từ mắt này sang mắt khác do vệ sinh kém. Khi bệnh phát triển nặng và không được điều trị kịp thời, các hột sẽ vỡ ra và tạo sẹo làm kết mạc co lại. Ở mức độ nặng sẹo làm cho sụn mi ngắn lại và bờ mi lộn vào trong gây phát triển quặm. Nếu lông siêu /lông quặm không được điều trị sẽ gây loét giác mạc và biến chứng tới thủng giác mạc, viêm nội nhãn…

dau-mat-hot-dung-thuoc-gi-1

Điều trị bệnh mắt hột cần tuân theo phác đồ. Theo phác đồ của Tổ chức y tế thế giới (WHO), khi bệnh ở giai đoạn hoạt tính cần tra thuốc mỡ tetraxyclin 1% (hoặc erythromyxin) 8giờ/lần ít nhất trong 6 tuần phối hợp với rửa mặt bằng nước và xà phòng.

Điều trị tại mắt theo phác đồ cách quãng dựa vào gia đình hoặc cộng đồng có thể là cơ sở để phòng chống bệnh mắt hột ở những vùng có bệnh nặng : tra mỡ tetraxyclin 1%, cứ 12 giờ tra một lần, trong 5 ngày liền hoặc mỗi ngày 1lần trong 10 ngày liền ; mỗi năm dùng ít nhất 6 tháng liên tục. Bệnh mắt hột gây miễn dịch rất yếu hoặc hầu như không có miễn dịch. Sau khi được chữa khỏi, bệnh vẫn có thể bị tái nhiễm.

Điều quan trọng là phòng mắc bệnh tại cộng đồng. Chương trình phòng chống bệnh mắt hột chỉ có kết quả nếu cộng đồng có đủ nước sạch để tắm rửa và vệ sinh cá nhân. Chẩn đoán sớm bằng các chương trình khám bệnh hàng loạt sẽ cho phép phát hiện những bệnh nhân , cụm dân cư và cộng đồng và từ đó sẽ tiến hành điều trị kịp thời. Tuy nhiên, những chiến dịch điều trị để thanh toán bệnh mắt hột sẽ không có hiệu quả nếu không cải thiện mức sống và thói quen vệ sinh của cả cộng đồng .

BS. Phạm Khánh Vân

Theo SKDS

Bệnh đau mắt hột

Mỗi sáng khi ngủ dậy mắt tôi bị vương vướng như có hạt bụi trong mắt, hay bị ngứa mắt, buổi chiều thì mắt mỏi hơn. Có người nói tôi bị bệnh mắt hột, nhưng mắt không bị đỏ. Xin quý báo giải thích và cho biết triệu chứng của bệnh mắt hột.

Hà Linh (Thanh Hóa)

Bệnh mắt hột là biểu hiện của viêm kết, giác mạc mạn tính, do clamydia trachomatis gây ra với đặc điểm là hình thành những hột, những tổn thương sẹo đặc trưng ở mắt; bệnh có thể lây lan thành dịch.

Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những biểu hiện như:ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt; xem báo, đọc sách hay sử dụng máy vi tính nhanh mỏi mắt, nhất là buổi chiều.

benh_dau_mat_hot

Đau mắt hột có thể dẫn đến mù lòa.    Ảnh: TL

Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần, tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm,  không để lại di chứng và không gây mù. Đối với trường hợp bệnh nặng, tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như lông quặm, lông siêu, sẹo giác mạc, nguy hiểm nhất là dẫn đến mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị đúng.

Theo như bạn miêu tả, rất có thể bị mắc bệnh đau mắt hột, để biết chính xác bạn cần đến cơ sở y tế có chuyên khoa mắt để được khám và điều trị.

Bác sĩ Vũ Thị Thu
Theo SKDS