Tag Archives: đau lưng

Đề phòng bệnh lỵ trực khuẩn

Bệnh lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa, do vi khuẩn Shigella gây ra. Bệnh nhân bị tiêu chảy nhiều lần, phân có nhầy, máu. Hậu quả là bệnh nhân bị mất nước và muối, dẫn đến hôn mê và tử vong. Tính chất nguy hiểm của lỵ trực khuẩn là có thể lây thành dịch. Mùa hè ruồi nhặng phát triển nhiều nên nguy cơ lây nhiễm bệnh càng cao.

Lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa
Người là nguồn lưu giữ mầm bệnh duy nhất, gồm các đối tượng: bệnh nhân đang mắc bệnh thể cấp, thể mạn tính; người lành mang vi khuẩn. Trong đó bệnh nhân mắc bệnh lỵ cấp tính là nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất, vì họ thải một khối lượng lớn phân chứa vi khuẩn ra ngoài. Song chúng ta cũng thiếu cảnh giác với những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, nên không cách ly họ, không chẩn đoán và điều trị sớm, nên họ cũng là nguồn làm lây bệnh mà ít ai biết đến. Bệnh nhân mắc lỵ mạn tính, thường là trẻ em, cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ở thời kỳ bộc phát.

Bệnh lỵ trực khuẩn lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường tiêu hóa. Lây trực tiếp là lây từ bệnh nhân sang người lành, thông qua bàn tay nhiễm khuẩn. Lây gián tiếp là lây qua thức ăn, nước uống. Các loại côn trùng như ruồi, nhặng, gián, thạch sùng… làm lây bệnh từ bệnh phẩm sang thức ăn. Mọi người đều có thể lây bệnh, trong đó trẻ em và người già dễ mắc bệnh lỵ nặng, dễ tử vong.

Nhiều thể bệnh lỵ trực khuẩn

de-phong-benh-ly-truc-khuan
Một người bị nhiễm vi khuẩn lỵ, thì thời gian ủ bệnh từ 1 – 7 ngày, sẽ phát bệnh một cách đột ngột, với 2 hội chứng: nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ. Hội chứng nhiễm khuẩn gồm các triệu chứng: sốt cao 38 – 39oC, rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau lưng, đau khớp, ở trẻ em có thể có cơn co giật, chán ăn, khát nước, đắng miệng, buồn nôn hoặc nôn. Hội chứng lỵ. gồm các triệu chứng: đau bụng, ban đầu đau âm ỉ quanh rốn, sau đau lan ra khắp bụng, cuối cùng là những cơn đau quặn bụng ở hố chậu trái. Các cơn đau quặn bụng làm bệnh nhân mót rặn muốn đi đại tiện ngay. Mới đầu phân sệt, sau loãng, rất thối, lẫn với nhầy và máu. Hoặc phân nhầy nhiều, thường đục nhờ nhờ, có khi phân vàng đục như mủ, máu sẫm như máu cá, nhầy và máu hòa loãng với nhau không có độ bám dính. Hội chứng lỵ có thể diễn ra từ 5 – 10 ngày hoặc hơn.

Trên thực tế người ta phân chia bệnh lỵ thành các thể bệnh như sau:
Thể nhẹ : bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn nhẹ hoặc không rõ, thân nhiệt 37,5 – 38oC, hơi mệt, có hội chứng lỵ : đau quặn bụng, đi ngoài dưới 10 lần/ngày, bệnh nhân phục hồi trong vòng 1 tuần.

Thể vừa: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ điển hình. Sốt 38 – 40oC kéo dài từ 1 – 4 ngày, đau đầu, mệt mỏi, mạch nhanh, huyết áp hạ. Đi tiêu chảy từ 15 – 20 lần/ngày, kèm theo dấu hiệu mất nước, với biểu hiện khát nước, môi khô. Điều trị tốt, bệnh nhân sẽ phục hồi sau 7 – 14 ngày.

Thể nặng: hội chứng nhiễm khuẩn rõ rệt, kéo dài hơn 1 tuần. Hội chứng lỵ: đau quặn bụng dữ dội, mót rặn kèm mót đái không kìm được, đi tiêu chảy trên 30 lần/ngày, có khi không đếm được. Bệnh nhân bị mất nước, rối loạn điện giải, kiệt sức, nằm đại tiện tại chỗ, hậu môn mở rộng, phân tự chảy, mắt trũng, mặt hốc hác, mạch nhanh yếu, tiếng tim mờ, huyết áp hạ, thở gấp, li bì, ngủ gà, có thể tử vong sau 3 – 7 ngày. Nếu điều trị thì sự phục hồi chậm và dễ biến chứng.

Ở trẻ dưới 1 tuổi, ngoài những thể cấp như trên, còn gặp thể rất nhẹ, kín đáo, như rối loạn tiêu hóa: phân loãng, không sốt. Thể bệnh lỵ mạn tính: bệnh có những thời kỳ bột phát và thuyên giảm xen kẽ.

Thể dạ dày ruột cấp: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, nôn nhiều lần, phân loãng, không có nhầy máu, đau bụng lan tỏa, sau đó bệnh có thể diễn biến như thể lỵ điển hình.

Thể tối độc: bệnh nhân đi ngoài nhiều, phân có nhầy mủ, có khi toàn máu, có thể tử vong trong vài ngày đầu do hôn mê, trụy tim mạch.

Ở người cao tuổi, có thể bệnh lỵ kéo dài không còn giai đoạn thuyên giảm, bệnh càng ngày càng nặng, toàn thân suy sụp dần, rối loạn tiêu hóa nặng, thiếu vitamin, thiếu máu.

Phương pháp điều trị
Điều trị bệnh lỵ trực khuẩn cần phải cách ly bệnh nhân, dụng cụ đều phải dùng riêng. Bù nước và điện giải là biện pháp hàng đầu trong điều trị lỵ trực khuẩn. Thể vừa, bù dịch và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol. Thể nặng cần truyền dịch. Trợ lực dùng vitamin B1, C. Chống đau bụng bằng cách chườm nóng, ngâm mông trong nước ấm để chống đau rát hậu môn. Thuốc có thể dùng gồm: kháng sinh như loại cephalosporin thế hệ 3 (Ceftriaxon), Quinolone thế hệ 1 (Acid nalidixic) hoặc ciprofloxacine, ofloxacine rất hiệu quả. Về chế độ ăn: bệnh nhân chỉ hạn chế trong một vài ngày đầu, sau đó cần trở lại chế độ ăn bình thường từ ngày thứ ba, thứ tư trở đi. Bệnh nhi là trẻ còn bú, vẫn cho bú như thường lệ. Nếu trẻ đang bú sữa bình vẫn cho bú bình thường, không hạn chế số lần uống, số lượng sữa. Đối với trẻ lớn và người lớn, trong vài ngày đầu ăn cháo ninh nhừ, nấu với thịt. Sang ngày thứ ba, thứ tư nên ăn cháo đặc với thịt, trứng, khoai tây nghiền, sữa chua, sau đó ăn cơm nát, thịt nạc luộc, uống nước hoa quả. Nên tránh thức ăn nhiều bã, thảo mộc khô.

Phòng bệnh

de-phong-benh-ly-truc-khuan1
Biện pháp quan trọng nhất là phát hiện sớm, cách ly điều trị bệnh nhân lỵ cấp. Bảo vệ người lành: cần theo dõi 7 ngày đối với người tiếp xúc với bệnh nhân. Thực hiện ăn chín uống sôi. Không ăn rau sống, không uống nước lã. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn uống, sau khi đi vệ sinh và tiếp xúc với các đồ vật.

Xử lý các chất thải của bệnh nhân bằng vôi sống 20%, nước vôi 10%. Đồ dùng, quần áo bệnh nhân phải được sát trùng hoặc ngâm Cloramin 2%. Dùng lồng bàn đậy kín thức ăn. Tích cực diệt ruồi, nhặng, gián…

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh huyết tinh

Huyết tinh là hiện tượng tinh dịch có nhiều hồng cầu, thậm chí mang màu đỏ hoặc hồng và trong tinh dịch có thể có huyết dịch.

Nguyên nhân có thể do sinh hoạt tình dục quá độ, làm cho dương vật bị cọ xát mạnh gây thương tổn đến mao mạch của đường sinh dục, xuất hiện hiện tượng huyết tinh; do hậu quả của những chứng bệnh như: viêm tinh nang, viêm tuyến tiền liệt bị lao hoặc đóng sỏi, tạo u… gây ra hiện tượng huyết tinh.

benh-huyet-tinh

Theo Đông y, bệnh huyết tinh có 2 loại hư chứng và thực chứng. Thực chứng thường do hạ tiêu thấp nhiệt hay do những tác động của vết thương nơi hạ bộ gây ra.

Dưới đây là bài thuốc chữa huyết tinh theo từng thể bệnh.
Thể âm hư hỏa vượng: tinh dịch màu hồng tươi, bộ phận dương vật có cảm giác nhẽo chảy hoặc đau đớn. Người bệnh gầy gò, đau lưng, nhũn gối, cảm giác mệt mỏi, tinh thần rệu rã, miệng khô khan, lưỡi ít tưa, màu đỏ, mạch chậm và yếu. Dùng bài: thục địa 16g, sơn thù 12g, hoài sơn 16g, trạch tả 12g, phục linh 12g, đan bì 12g, tri mẫu 10g, hoàng bá 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể hạ tiêu thấp nhiệt: tinh dịch có màu đỏ hoặc thẫm, đau eo lưng, ngứa hoặc đau dương vật, hạ bộ đau âm ỉ, nước tiểu đỏ, đái dắt, lưỡi vàng, mạch nhanh, không rõ nhịp. Dùng bài: long đởm 18g, chi tử 12g, mộc thông 12g, đương quy 10g, sài hồ 18g, hoàng cầm 12g, trạch tả 12g, xa tiền 6g, sinh địa 12g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể tụ huyết nội trở: tinh dịch có màu hồng hoặc có huyết đông, bụng dưới đau nhói, bên lưỡi có các điểm tụ máu màu tím thẫm, mạch tắc không rõ ràng. Dùng bài: đào nhân 15g, hồng hoa 10g, xuyên khung 15g, xích thược 15g, đương quy 15g, thục địa 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nguồn sức khỏe đời sống

Điều trị viêm mũi

Bạc hà, gừng tươi, vỏ quýt, tía tô, quế chi… là những vị thuốc mà Đông y dùng chữa viêm mũi. Liều lượng và cách phối hợp phải tùy thuộc vào thể bệnh.

Viêm mũi cấp tính thông thường

Nguyên nhân: Do ngoại cảm, phong hàn.

Triệu chứng: Ngứa mũi, hắt hơi, nặng đầu, mỏi tay chân và đau lưng, chảy nước mũi trong, loãng, sau dần trở nên đặc, nghẹt mũi, nặng đầu, sốt nhẹ, người mệt mỏi.

Hoắc hương, hậu phác, bạc hà, vỏ quít mỗi thứ 10 g, bạch chỉ 8 g, gừng tươi, mạn kinh tử, tô diệp mỗi thứ 12 g. Sắc với 600 ml nước còn lại 300 ml. Uống ấm, trùm chăn cho ra mồ hôi. Ngày 3 lần, mỗi lần 100 ml (nửa chén). Ngày thứ 2 không trùm chăn nữa. Uống liền 3 ngày.

dieu-tri-viem-mui

Viêm mũi dị ứng

Nguyên nhân:

Viêm mũi dị ứng cũng là viêm mũi cấp nhưng nguyên nhân có liên quan đến yếu tố dị ứng gây viêm như: khí hậu lạnh, nóng, bụi bặm, khói thuốc, phấn hoa, lông thú, thức ăn, thuốc…

Triệu chứng:

– Viêm mũi chu kỳ: Bệnh xảy ra đột ngột vào đầu mùa lạnh hoặc đầu mùa nóng. Thường vào buổi sáng, đột nhiên bệnh nhân hắt hơi liên tục, cay mắt, đỏ và chảy nước mắt. Nước mũi trong như nước lã, chảy đầm đìa. Bệnh nhân thấy mệt mỏi, nặng đầu. Bệnh kéo dài 3 đến 5 ngày thì hết. Bệnh giảm dù không điều trị hoặc khi thay đổi chỗ ở đến nơi không khí trong lành (nhưng khi về nơi ở cũ thì bệnh lại tái phát). Đó là viêm mũi ngắn hạn. Nếu để bệnh kéo dài và tái phát nhiều lần thì diễn biến sẽ nặng hơn, niêm mạc mũi dần bị thoái hóa và bị nhiễm trùng, bệnh nhân xì mũi vàng, thỉnh thoảng bị sốt nhẹ và nhức đầu, mũi bị nghẹt thường xuyên.

– Viêm mũi dị ứng không có chu kỳ: Có 2 đặc điểm thêm vào các triệu chứng trên là bệnh xuất hiện không theo thời tiết và mỗi lần hắt hơi chỉ vài cái nhưng cơn nghẹt mũi kéo dài. Niêm mạc mũi luôn bị phù nề nên dễ bị thoái hóa dẫn đến viêm mũi mạn tính.

– Bài thuốc: Hoàng kỳ 16 g, phòng phong 10 g, bạch truật 12 g, quế chi 8 g, đẳng sâm 16 g, bạch thược 12 g, ma hoàng 4 g, tế tân 8 g, gừng tươi 3 lát, đại táo 3 quả. Sắc với 600 ml nước còn lại 300 ml thuốc. Uống ấm ngày 3 lần, mỗi lần 100 ml.

– Viêm mũi dị ứng mạn tính: Hoắc hương, kinh giới, phòng phong, bản lam căn mỗi thứ 12 g; ké đầu ngựa 16 g, bạc hà 8 g, tân di hoa 8 g, bạch chỉ, cát cánh, cam thảo mỗi thứ 6 g, hạ khô thảo 10 g. Sắc với 600 ml nước còn lại 300 ml thuốc. Uống ấm ngày 3 lần, mỗi lần 100 ml. Nếu nước mũi trong, thêm khương hoạt 12 g. Nếu nước mũi vàng đục, thêm hoàng cầm 12 g, tang bạch bì 12 g.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Chấn thương xương khớp ở tuổi dậy thì

Trong giai đoạn xương phát triển nhanh của tuổi dậy thì, trẻ sẽ gặp những rối loạn về cơ xương khớp đáng lo ngại. Cha mẹ thường chủ quan cho rằng trẻ đang trong giai đoạn phát triển nên những biểu hiện đó là bình thường. Nhưng thực tế đó có thể là dấu hiệu bệnh lý.

Đau chân: Trẻ có triệu chứng đau ở chân không rõ vị trí; đau về đêm, ban ngày hoàn toàn bình thường, triệu chứng xảy ra trong vài ngày rồi hết hẳn, sau đó tái diễn. Những biểu hiện trên là triệu chứng của quá trình tăng trưởng mà y học gọi là đau tăng trưởng. Đau tăng trưởng có thể từ đau nhẹ gây cảm giác khó chịu thoáng qua đến đau dữ dội. Đau tăng trưởng thường bắt đầu sau ba tuổi và có thể kéo dài đến tuổi dậy thì. Tuy nhiên, để loại trừ những trường hợp đau do bệnh lý, cần đưa trẻ đi khám nếu thấy trẻ đi khập khiễng hoặc kèm theo sốt.

chan-thuong-xuong-khop-o-tuoi-day-thi

Đau lưng: Khi bị đau lưng, trẻ rất có thể bị đau lưng cơ năng hoặc bị bệnh về cột sống. Những bệnh lý liên quan đến cột sống có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào và bệnh lý thường gặp là vẹo cột sống vô căn

Đau khớp gối: Trẻ hay kêu đau đầu gối, thường gặp ở trẻ vận động thể thao cường độ cao. Rất có thể trẻ bị bệnh Osgood – Schlatter (viêm xương sụn vô khuẩn lồi củ chày ở gối): Trẻ ở tuổi dậy thì, sụn tăng trưởng vùng lồi củ xương chày vẫn còn hoạt động nên bị kích thích khi trẻ vận động gập duỗi gối, dẫn đến cốt hóa xương sụn quá mức, gây phì đại lồi củ trước xương chày và gây đau.

Đau gót chân: Thường gặp ở bé trai hiếu động, vận động nhiều. Y học gọi là bệnh Sever (viêm xương sụn vô khuẩn gót chân). Tuổi dậy thì, trẻ lớn nhanh, xương vì thế cũng tăng trưởng nhanh hơn, trong khi gân cơ – dây chằng thì lại chậm hơn. Vì thế, khi trẻ vận động, hệ thống gân cơ – dây chằng vùng xương gót chân sẽ tạo một áp lực đè lên xương sụn gót chân và làm cho xương sụn này bị tổn thương.

Đau cứng khớp, đau ửng đỏ kèm sưng: Rất có thể trẻ đã bị viêm khớp dạng thấp thiếu niên. Phần lớn bệnh diễn tiến trong vòng vài năm, cần điều trị tích cực bằng thuốc kháng viêm mạnh, thuốc ức chế miễn dịch và vật lý trị liệu. Một số trường hợp kéo dài qua tuổi trưởng thành và để lại di chứng nặng nề gây thoái hóa cứng khớp, đặc biệt là các khớp ngón tay, bàn tay.

Ngoài ra, còn một số rối loạn cũng thường gặp ở tuổi dậy thì như bàn chân bẹt, hoại tử vô mạch chỏm xương đùi, trượt chỏm xương đùi, bán trật khớp chè đùi, lõm ngực…

Để phát triển tốt về thể chất và chiều cao, trẻ cần phải có chế độ ăn uống hợp lý, đầy đủ các chất dinh dưỡng và các yếu tố vi lượng, cụ thể là ăn nhiều rau quả, thịt cá, uống nhiều sữa tươi. Việc bổ sung canxi và vitamin D rất cần thiết cho trẻ, nhất là khi trẻ vừa trải qua một căn bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc mắc bệnh kháng vitamin D. Cần chọn môn thể thao phù hợp với tố chất và sở thích của trẻ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chế biến chân gà thành bài thuốc quý

Chân gà là món ăn quen thuộc, khoái khẩu của rất nhiều người nhưng không mấy ai biết cách biến chúng thành những bài thuốc quý…

Trong các loại chân gà thì chân gà rừng, gà chọi, gà chân đen là quý nhất, sau đó đến các loại gà nuôi thả tự kiếm mồi, vì nó được tôi luyện, tích trữ năng lượng thường xuyên ở gân (gân gà có nhiều nhất ở cẳng chân sau đó đến xương quay 2 cánh).

Những công dụng và cách chế biến
Chân gà có tác dụng chữa: trẻ chậm biết đi, chậm mọc răng; người chân tay run, đi không vững, yếu sinh lý, kém ăn, mệt mỏi; phụ nữ ngực lép, da khô.

chan-ga

Cẳng chân gà nuôi thả có 1 xương cẳng chân và 7 – 10 xương tăm (nhỏ dài bẹt như tăm tre để xỉa răng) ôm lấy xương cẳng chân, phía trước xương cẳng chân có 1 – 2 xương tăm; phía sau xương cẳng chân có 6 – 8 xương tăm. Các gân bám vào mỏm đầu xương cẳng chân, khi nấu chín có màu nâu nhạt, số gân tương ứng với số xương tăm. Đó là chỗ quý nhất trong chân gà.

Da chân gà chứa collagen là một loại protein dính như keo; các acid amin: prolin, glycin, hydrosiprolin, argynin, glycin.

Gân gà có các bó sợi collagen chiếm 80%, elastin, tế bào và chất nền gồm chondroitin, proteoglycan và glucoprotein

Xương chân gà (cũng như xương các động vật khác khi được hầm nhừ) có hydroxyapatite ở phần xương bên trong có tác dụng làm chắc khỏe cho lớp xương bên ngoài, canxi và nhiều khoáng chất hữu ích.

Cẳng chân gà công nghiệp xương mềm, nhiều mỡ không dùng làm thuốc nhưng lại được các nhà hàng, quán nhậu thích mua để chế biến các món nhắm mồi cho bia rượu như: chân gà nướng mật ong, chân gà nướng ngũ vị, chân gà hấp hành…

Chiết xuất collagen chân gà có tác dụng như thuốc hạ huyết áp loại ức chế men chuyển: đó là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản tại Đại học Hirosima và Trung tâm nghiên cứu phát triển Nippon Meat Packers đã tìm thấy 4 loại protein từ collagen trong chân gà có khả năng kiểm soát huyết áp khi thử nghiệm trên chuột (đã gây bệnh cao huyết áp) sau 4 giờ bắt đầu có hiệu lực, sau 8 giờ huyết áp giảm nhiều nhất.

Cách chế biến chân gà làm thuốc: cẳng chân gà làm sạch (bỏ hết da cứng, móng chân) dùng dao sắc khía sâu: dọc cẳng chân 3 – 4 đường, bàn chân 3 – 4 đường. Giã nát gừng tươi bóp kỹ với từng cái chân gà (10g gừng tươi cho 100g chân gà) ướp trong 30 phút để tạo điều kiện cho men Zingibain phân giải protein được tốt, rồi thêm muối, bột canh cho vừa miệng. Lạc nhân (chọn bỏ hạt thối, mốc) rửa sạch, ngâm nước 14 giờ, vớt ra, cho lên trên cẳng chân gà (30g lạc nhân/100g chân gà). Cho chân gà và các thứ đã ướp vào nồi áp suất, đổ nước cho ngập chân gà. Đun sôi (nồi bắt đầu xì hơi) hạ lửa, giữ nhiệt độ sôi trong 45 phút là đủ nhừ da gà. Tắt lửa để 15 phút rồi mới xả van hơi (các thử nghiệm đun sôi ở áp suất cao trên 45 phút đến 90 phút xương gà nuôi thả vẫn rắn, còn xương gà công nghiệp thì mềm có thể nhai nát được. Nếu dưới 45 phút thì da gà chưa nhừ).

Kinh nghiệm: mỗi lần nên hầm 1.000g chân gà với 300g lạc nhân (tiết kiệm 9 lần nhiên liệu so với hầm mỗi lần 100g chân gà). Khi cho ra thì gạn hết nước hầm chân gà ra bát, cho vào tủ lạnh để mỡ gà nổi lên trên, loại bỏ mỡ gà (collagen đông đặc, rất ngon). Chân gà đã chế biến bảo quản trong ngăn mát (8 – 10oC) để dùng dần.

– Khi dùng: cho chân gà và collagen vào bát rồi hâm nóng (hấp trong nồi cơm) ăn nóng (nếu để nguội da gà sẽ dính dẻo như keo rất khó nhằn xương).

Liều dùng: ngày ăn 2 lần, ngay trước bữa ăn, mỗi lần 1 đôi chân gà cùng lạc nhân và collagen (nước hầm chân gà đã loại mỡ) để bồi bổ cơ thể cho người mới ốm dậy, nhất là người bệnh đau xương khớp, yếu chân tay. Riêng các trường hợp: phụ nữ gầy còm, da khô; người già gầy còm, chân tay yếu, có thể dùng chân gà công nghiệp cũng được.

Có thể phối hợp uống thuốc bổ thận trước khi ăn chân gà (tùy thực trạng mỗi người dùng bổ thận âm hay bổ thận dương).

Bài thuốc dùng chân gà
Chữa chứng chân tay run rẩy đi không vững:
Chân gà hầm như trên 3 đôi, sắc với các vị thuốc thạch xương bồ 8g, ngũ gia bì 8g (các vị thuốc đã làm thành mảnh vụn ngâm trong 300ml nước nóng 80oC giữ ấm trong 4 – 5 giờ, sau đó đun sôi nhỏ lửa 15 phút; gạn lấy nước, bỏ bã, sau đó cho chân gà đã hầm và collagen vào sắc tiếp 15 phút là được). Chia làm 2 lần ăn trong ngày. Liệu trình 60 ngày nếu chuyển biến tốt thì dùng tiếp đến khi khỏi.

Chữa chứng đau lưng, đau cổ, đau quanh khớp vai, thoát vị đĩa đệm, đau thần kinh tọa do thoái hóa cột sống:

Chân gà hầm như trên 3 đôi, sắc với các vị thuốc đỗ trọng bắc 10g, ngưu tất 10g, táo tàu 10g (ngâm ngưu tất, đỗ trọng đã làm thành mảnh vụn trong 500ml nước nóng 80oC giữ ấm trong 5 giờ, sau đó đun sôi nhỏ lửa 30 phút; gạn lấy nước, bỏ bã, cho chân gà đã hầm và collagen cùng với táo tàu đã cắt nhỏ vào sắc tiếp 30 phút là được) chia làm 2 lần ăn trong ngày. Liệu trình 30 ngày, nếu chuyển biến tốt thì dùng tiếp đến khi khỏi.

Thận trọng: người có bệnh mỡ máu cao không nên ăn nhiều chân gà công nghiệp. Người đang bị tiêu chảy không dùng thuốc chân gà.

Điều trị đau lưng bằng cách tiêm nước muối

Tiêm trực tiếp nước muối vào cột sống có thể là phương pháp điều trị chứng đau lưng vùng dưới hiệu quả hơn so với phương pháp tiêm thuốc steroid, nghiên cứu mới của Đại học Johns Hopkins (Mỹ) khẳng định. Có hơn 740 người mắc bệnh viêm màng não do nấm và 55 người đã chết sau khi tiêm phải thuốc steroid bị nhiễm bẩn vào năm ngoái.

Các chuyên gia đã phân tích hồ sơ y tế của 3.641 bệnh nhân từ 43 nghiên cứu, sau đó so sánh phương pháp tiêm gây tê ngoài màng cứng bằng steroid với các phương pháp tiêm gây tê ngoài màng cứng khác và tiêm trong cơ.

tiem-nuoc-muoi-dau-lung

Giáo sư chuyên khoa gây tê Steven Cohen nhận xét: “Chỉ có phương pháp tiêm chất lỏng vào khoảng trống nhằm gây tê ngoài màng cứng là có hiệu quả. Điều đó cho thấy rằng hầu hết tác động giảm đau có thể không nhờ vào thuốc dạng steroid – vốn khiến nhiều người lo lắng”.

Bên cạnh đó, nghiên cứu còn phát hiện steroid có các tác dụng phụ như làm tăng chỉ số đường huyết ở những bệnh nhân bị tiểu đường, làm chậm tốc độ lành vết thương và gây ra các bệnh về xương ở phụ nữ cao tuổi.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Mark Bicket – thành viên nhóm nghiên cứu – khuyến cáo cần có thêm các nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định xem tiêm các chất thay thế steroid (như nước muối) có thể được chọn là phương pháp hữu ích cho bệnh nhân đau lưng hay không.

Theo Báo Cần Thơ

Ngồi nhiều có thể mắc một số bệnh nguy hiểm

Theo các nhà nghiên cứu, ngồi suốt 8 tiếng một ngày bạn sẽ bị các vấn đề liên quan đến bệnh béo phì, tim mạch, cao huyết áp và mức cholesterol không bình thường.

Vì vậy, nếu bạn là một trong hàng triệu người đang ngồi nhiều giờ mỗi ngày tại công sở, bạn sẽ gặp một số vấn đề sức khỏe sau:

Bệnh tiểu đường

Những người ngồi hàng giờ trên ghế văn phòng có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn. Bạn có thể làm việc cả ngày, tuy nhiên, cứ sau mỗi nửa giờ bạn nên vận động 5 phút để giữ cho cơ thể vận động.

ngoi-qua-nhieu

Bệnh tim

Khi ngồi lâu, cơ bắp đốt cháy ít chất béo và chảy máu chậm chạp hơn, axit béo dễ dàng làm tắc nghẽn tim, dẫn đến bệnh tim mạch. Để tránh vấn đề này, hãy chắc chắn để cơ thể nghỉ ngơi sau mỗi 30 phút làm việc.

Tăng cân

Tăng cân là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất được thấy ở những người ngồi liên tục tại nơi làm việc. Bạn nên nghỉ ngơi 20 phút sau giờ ăn trưa để cơ thể có thời gian tiêu hóa thức ăn. Mặt khác, khi bạn cảm thấy đói, nhai kẹo cao su hoặc uống nước để không cảm thấy đói nữa.

Giãn tĩnh mạch

Giãn tĩnh mạch là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến, và vấn đề này càng trầm trọng hơn với những người ngồi hàng giờ tại bàn làm việc. Ngồi nhiều tạo nhiều áp lực ở chân, dẫn đến việc bạn ngồi sai tư thế.

Đau hông

Đau hông là vấn đề thường gặp ở phụ nữ. Đau hông làm tăng áp lực lên đầu gối và cột sống dẫn đến viêm gân. Những phụ nữ có hông rộng dễ gặp vấn đề sức khỏe này khi ngồi hàng giờ trên ghế.

Tổn thương các cơ quan trong cơ thể

Tuyến tụy sản xuất insulin, mang glucose cho các tế bào để cung cấp cho bạn năng lượng. Nhưng khi chúng ta ngồi quá lâu, cơ bắp không hoạt động, dẫn đến tuyến tụy sản xuất thừa insulin, dẫn đến tổn thương nội tạng này.

Đau cổ

Các vấn đề sức khỏe phổ biến nhất được thấy ở những người ngồi hàng giờ kéo dài tại nơi làm việc là đau cổ. Ngồi quá lâu dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ và sai tư thế vĩnh viễn.

Đau lưng

Thoát vị đĩa đệm và gai cột sống là hai trong số nhiều vấn đề sức khỏe có thể ảnh hưởng đến bạn khi ngồi hàng giờ trong văn phòng.

Ảnh hưởng đến lưu thông máu

Nếu bạn ngồi liên tục trong 4 tiếng, tuần hoàn máu trong cơ thể bạn sẽ bị ảnh hưởng. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng chậu và vùng chi dưới.

Nguồn vnexpress

Những nguyên nhân gây đau lưng mà bạn không nghĩ đến

Căng thẳng quá độ

Khi bạn căng thẳng, các cơ trên khắp cơ thể, nhất là cơ ở cổ và lưng sẽ bị co lại. Những cơ này cần có thời gian để được thả lỏng. Bởi vậy, nếu bạn căng thẳng suốt cả ngày, khiến chúng luôn bị căng, những cơn đau sẽ là không tránh khỏi.

Cho nên khi đã xác định được nguyên nhân đau lưng là do căng thẳng, bạn có thể tìm cách thư giãn như tập luyện, đi chơi với bạn bè, đọc sách hoặc nghe nhạc. Nghiên cứu của Áo tiến hành trên 65 người bị thoát vị đĩa đệm cho thấy, sự kết hợp giữa âm nhạc và nghỉ ngơi giúp giảm rõ rệt cảm giác đau ở vùng thắt lưng.

nhung-nguyen-nhan-gay-dau-lung-ma-ban-khong-nghi-den

Nệm trải giường quá cũ

Theo Hiệp hội chăm sóc giấc ngủ Hoa Kỳ, tuổi thọ của một chiếc nệm trải giường là từ 9 – 10 năm, tuy nhiên, bạn nên thay nệm trải giường sau 5 – 7 năm nếu thấy mình ngủ không ngon giấc. Nghiên cứu của Đại học Oklahoma (Mỹ) cho thấy, những người thay nệm trải giường sau 5 năm ngủ ngon hơn và ít bị đau lưng hơn.

Do đó, không nên chọn loại nệm quá mềm hoặc quá cứng. Nệm quá cứng làm tăng áp lực lên xương sống và tăng cảm giác đau. Để thoải mái hơn, bạn có thể đệm gối dưới đầu gối khi nằm ngửa, kẹp gối giữa 2 đầu gối khi nằm nghiêng hoặc kê gối dưới bụng và hông khi nằm sấp.

Xem ti vi quá nhiều

Xem ti vi nhiều sẽ cắt giảm thời gian dành cho việc tập luyện. Theo một nghiên cứu của Na Uy trên thanh thiếu niên, những em ngồi xem ti vi hoặc chơi máy tính 15 tiếng/tuần trở lên có tỷ lệ đau vùng thắt lưng cao gấp 3 lần các bạn cùng trang lứa nhưng năng vận động.

Vì vậy, nên hạn chế xem ti vi. Khi tới những đoạn quảng cáo, bạn hãy làm vài động tác duỗi người hoặc vận động để tránh các cơ không bị căng do ngồi quá lâu. Ở trẻ nhỏ, đi bộ 1,5km/ngày sẽ giúp giảm đau lưng và tạo điều kiện để xương sống có thể duỗi ra.

Đi giầy cao gót

Khi đi giầy cao gót, bạn phải ưỡn lưng, khiến các cơ ở xương sống làm việc nhiều hơn. Một số loại dép cao gót không có phần đỡ phía gót chân, khiến gót chân dễ bị lắc, làm trọng lượng cơ thể phân bổ lên vùng này không ổn định, từ đó dễ gây đau lưng.

Chính vì vây, thay vì chạy theo xu hướng thời trang, bạn hãy chọn cho mình những đôi giầy đế mềm và nên mang lót giầy khi không cảm thấy thoải mái. Nghiên cứu của Đại học Lehigh (Mỹ) cho thấy, những người bị đau lưng khi chuyển sang đi giầy nhẹ, thoải mái, có lót chân, 80% trong số họ đã giảm hẳn cảm giác đau trong vòng 1 năm.

Thù dai

Theo khảo sát của Trung tâm y tế tại học Duke (Mỹ) trên 58 bệnh nhân mắc chứng đau thắt lưng mạn tính, những người tập học cách tha thứ ít cảm thấy tức giận, trầm cảm và… ít xuất hiện cảm giác đau hơn những người khác. Theo S James W. Carson, thành viên nhóm nghiên cứu: “Cảm xúc, sự căng cơ và suy nghĩ của con người có thể ảnh hưởng trực tiếp tới độ mạnh của các tín hiệu gây đau”.

Vậy nên, tha thứ không phải là một việc dễ thực hiện, nó đòi hỏi phải đấu tranh tâm lý nhiều lần. Đầu tiên, bạn hãy tập nghĩ về người mình yêu quý, sau đó nghĩ về bản thân mình rồi một người mà bạn không quen biết. Cuối cùng, mới nghĩ tới người mà bạn không có cảm tình tốt với họ.

Chế độ ăn không lành mạnh

Nghiên cứu cho thấy, ở những người bị đau lưng, các động mạch dẫn tới xương sống bị nghẽn. Hệ tuần hoàn khoẻ mạnh giúp cung cấp dưỡng chất tới xương sống và loại bỏ các chất cặn bã trong cơ thể. Quá trình này khi bị gián đoạn dễ kích thích đáp ứng viêm. Các chất gây viêm khi được giải phóng vào lưng có thể kích thích các dây thần kinh truyền tín hiệu gây đau tới não bộ.

Vì thế, một chế độ ăn lành mạnh, tốt cho vùng lưng sẽ giúp giảm đáp ứng viêm. Nên tránh tiêu thụ nhiều caffeine và các loại thực phẩm chế biến sẵn, thay vào đó, cần năn nhiều các loại ngũ cốc nguyên hạt, đậu nành, các loại quả hạch, protein (thịt gà, cá, thịt nạc), rau và trái cây.

Ngừa đau lưng cho người làm việc văn phòng

Trong công việc và trong cuộc sống, để phòng ngừa đau lưng, cần lưu ý những điều sau:

– Khi muốn bê hoặc nâng một vật nặng, nên ngồi xuống hoặc khụy chân bên cạnh vật đó, giữ lưng thẳng, dùng sức của cơ bụng và chân giúp giảm bớt áp lực trên cột sống lưng.

– Thường xuyên tập luyện eo lưng, cơ lưng và các cơ bụng. Tập thể dục bằng cách đi bộ để giúp xương và cơ lưng được dẻo dai. Tập luyện nhẹ như thái cực quyền, dưỡng sinh.

ngua-dau-lung-cho-nguoi-lam-viec-van-phong
– Mang giày vừa chân và có đế thấp, chịu lực tốt, không nên thay đổi giày dép nhiều lần vì khó quen chân.

– Giữ dáng đi thẳng.

– Khi làm việc, nên chọn tư thế thích hợp, khi cần mang vác nên đeo loại thắt lưng đặc biệt giúp bảo vệ cột sống. Nếu phải ngồi lâu, nên chọn ghế chắc chắn, có dựa lưng, vừa tầm cao của cơ thể.

Khi đứng để làm việc, các đồ vật nên để ngang khuỷu tay, tránh tư thế phải với tay làm lệch người.

– Nếu thừa cân thì nên tích cực làm giảm cân.

– Ăn uống các loại thực phẩm có hàm lượng chất canxi cao, giảm chất béo.

– Ở nơi làm việc, nên ngồi ghế dựa, thẳng lưng mà bảo đảm giữ đường cong sinh lý của xương sống, không tựa hẳn vào lưng ghế, chỉ dựa từ thắt lưng trở xuống, chân đặt thẳng ngang với nền nhà, đầu gối vuông góc.

Nếu làm việc với máy vi tính thì phần cao nhất của màn hình phải đặt ngang mắt bạn. Không nên ngồi một chỗ quá lâu, thỉnh thoảng đứng dậy thư giãn bằng cách vươn vai hay đi lại tại chỗ.

– Ăn uống đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, uống nước đủ, mỗi ngày trung bình 1-2 lít, không ăn uống nhiều chất kích thích hoặc khó tiêu.

Theo VnExpress

Điểm danh các bệnh dân công sở hay mắc phải

Ngồi tại chỗ nhiều, ít vận động, thường bỏ ăn sáng hoặc ăn các món chế biến sẵn… là nguyên nhân nảy sinh một loại bệnh ở giới này: bệnh văn phòng.

Cùng với các cao ốc văn phòng mọc lên ngày càng nhiều, số nhân viên làm việc tại các cao ốc này cũng gia tăng nhanh. Ngồi tại chỗ phần lớn thời gian, ít vận động, thường bỏ ăn sáng hoặc ăn các món chế biến sẵn, thực đơn buổi trưa không đa dạng… là nguyên nhân nảy sinh một loại bệnh ở giới này: bệnh văn phòng.

Điểm danh bệnh văn phòng

Các nhóm bệnh về cơ xương khớp: mỏi cổ, đau lưng, đau khớp, hội chứng vai gáy hoặc hội chứng ống cổ tay. Nguyên nhân do tư thế ngồi, tư thế làm việc không phù hợp. Nhóm bệnh này ban đầu có mức độ nguy hiểm thấp, nhưng gây khó chịu và giảm khả năng vận động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc. Nếu để lâu có thể gây các biến chứng nặng nề hơn, thậm chí là tàn phế.

phong-benh-van-phong

Các nhóm bệnh về tiêu hoá: hội chứng dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hoá. Nguyên nhân chính là áp lực công việc, căng thẳng trong môi trường làm việc và thói quen ăn uống không hợp lý về giờ giấc, ít uống nước. Nhóm bệnh này, khi khởi phát, cần điều trị ngay, nếu không diễn tiến sau này có thể nặng nề: viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy mạn, suy dinh dưỡng…

Nhóm bệnh đường hô hấp: cảm cúm, viêm hô hấp trên, dưới. Nguyên nhân thường do sự phân phối mật độ nhân viên trong phòng làm việc chưa hợp lý (quá đông), không khí trong phòng bị ô nhiễm, chênh lệch nhiệt độ giữa phòng máy lạnh và bên ngoài quá lớn… Nhóm bệnh này thường diễn ra cấp tính, gây nhiều khó chịu, cần được điều trị sớm để cơ thể phục hồi và giảm khả năng lây lan trong môi trường làm việc.

Nhóm bệnh mạn tính không lây liên quan đến lối sống: thừa cân – béo phì, đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đột quỵ… Nguyên nhân chính là lối sống tĩnh tại (ngồi tại chỗ, ít vận động, đi lại), chế độ dinh dưỡng không hợp lý (chế độ ăn không đa dạng, hoặc dư năng lượng, nhiều béo ít rau, bỏ bữa ăn bù…) gây mất cân bằng về năng lượng ăn vào và năng lượng sử dụng, dẫn đến ứ đọng mỡ trong cơ thể gây rối loạn chuyển hoá. Thêm vào đó, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoặc áp lực công việc gây nên sự căng thẳng thường xuyên, lâu ngày dẫn đến các rối loạn chuyển hoá. Nhóm bệnh này diễn tiến âm thầm nên khi phát hiện thường có biến chứng đi kèm. Hậu quả của nhóm bệnh lý này khá nặng nề: suy tim, thận, mù loà, tàn phế thậm chí tử vong!

Phòng được không?

Để khắc phục và phòng ngừa các chứng bệnh văn phòng, chúng ta cần có những hành động sau:

Xây dựng môi trường làm việc trong lành (trong khả năng của mình), sắp xếp lịch làm việc hợp lý, tránh để dồn làm tăng áp lực công việc lên mình.

Xây dựng lối sống năng động trong môi trường công việc: năng vận động tại chỗ hoặc đi lại (đi lấy đồ, photo tài liệu, lấy giấy in, nước… trong khu làm việc, đi cầu thang bộ thay cho thang máy khi phải lên xuống vài tầng lầu). Hạn chế ngồi liên tục hai giờ; ít nhất sau mỗi hai giờ nên tranh thủ đứng lên, đi lại, vận động tay chân 10 – 15 phút. Tranh thủ thời gian ăn trưa để ra ngoài tản bộ…

Lên lịch tập thể dục định kỳ, lựa chọn hình thức thể dục phù hợp với điều kiện sức khoẻ, thời gian và tính khả thi. Duy trì lịch tập luyện, tránh bỏ tập.

Hạn chế dần rồi từ bỏ những thói quen có hại: hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn vặt, xem phim, chơi game…

Thiết lập chế độ ăn uống lành mạnh, khoa học: lựa chọn bữa ăn đa dạng nhưng cân đối và hợp lý với nhu cầu năng lượng của cơ thể. Hạn chế ăn các loại thực phẩm nhiều chất béo (dầu mỡ): thức ăn nhanh (fast–food), thức ăn dạng chiên xào; nên chọn ăn thức ăn dạng hấp, luộc. Thay đổi thói quen ăn mặn, không dùng thêm nước chấm (nước mắm, nước tương) khi ăn. Tăng cường ăn thêm rau, củ, quả để tăng cường chất xơ cho cơ thể. Nếu bữa ăn trưa tại văn phòng ít rau, thì bữa chiều nên tranh thủ “ăn bù”. Ăn nhiều rau rất có lợi cho sức khoẻ vì ngoài tác dụng nhuận trường phòng chống táo bón (bệnh lý hay gặp ở giới văn phòng), cũng góp phần giúp giảm cân, phòng tránh được các bệnh mạn tính không lây.

Nếu có thói quen ăn bữa phụ, thì nên chọn những loại thực phẩm như sữa tươi tách béo, trái cây ít ngọt, yaourt. Ăn đủ bữa, thu xếp thời gian cho bữa ăn sáng vì đây là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày, nó giúp cung cấp và tăng cường năng lượng cho cả một ngày làm việc và hoạt động dài. Tránh tình trạng bỏ bữa rồi ăn bù. Tránh tự ép mình vào một chế độ ăn kiêng không hợp lý để giảm cân mà không tham vấn chuyên gia dinh dưỡng vì dễ gây tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng cho cơ thể như vitamin và muối khoáng.

Uống đủ nước để cơ thể duy trì được các hoạt động và giúp thanh lọc cơ thể. Mỗi ngày nên uống 1,5 – 2 lít, tuỳ thuộc thời tiết và mức độ vận động, công việc. Tập thói quen uống nước thường xuyên, tránh đợi đến khi có cảm giác khát hay khô miệng mới uống vì lúc đó cơ thể đã bị thiếu nước rồi.

Nguồn giáo dục

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Đẩy lùi chứng đau lưng

Ngủ đúng tư thế: Một đêm ngủ ngon giấc có thể giảm đau lưng. Giấc ngủ yên bình sẽ giúp phục hồi tất cả các cơ bắp rã rời và chữa các khớp bị viêm. Bạn cần một cái giường êm ái, cố gắng ngủ với nhiều tư thế khác nhau hoặc nằm theo tư thế bạn thấy thoải mái nhất. Đừng ngủ với một cột sống cong veo.

Bổ sung đủ vitamin: Các chuyên gia cho biết nạp đủ vitamin giúp chữa bệnh đau lưng. Bạn nên bổ sung nhiều vitamin B, có tác dụng hỗ trợ hệ thần kinh trung ương và cải thiện khả năng miễn dịch trong cơ thể. Những người bị đau lưng cũng có thể bổ sung thêm a xít béo omega 3 vào chế độ ăn.

day-lui-chung-dau-lung

Tập thể dục: Các cơ bụng và lưng bị yếu là nguyên nhân gây đau lưng. Bạn cần siêng tập thể dục hằng ngày, giúp căng duỗi cũng như thư giãn cơ bắp. Cũng có thể giảm đau lưng bằng vài mươi phút dạo bộ quanh khu bạn ở hoặc tập thể dục nhịp điệu. Cách này còn giúp thư giãn tâm trí vì căng thẳng là một trong những nguyên nhân chính gây đau lưng.

Bỏ thuốc lá: Từ bỏ thói quen phì phèo có thể chữa chứng đau lưng,  Một số nghiên cứu cho thấy những người hút thuốc dễ bị đau lưng hơn so với người không hút thuốc. Chất nicotine trong thuốc lá được cho góp phần gây đau.

Mát xa lưng: Bạn có thể dùng quả bóng quần vợt (tennis) để xoa bóp chỗ đau.

Nguồn thanh niên

Phòng tránh đau lưng các quý ông khi lâm trận

Ngoài việc cởi mở với đối tác để họ thấu hiểu hơn, bạn cũng có thể áp dụng những cách thức phù hợp với tình trạng thể chất để mang lại niềm vui cho đối tác. Dưới đây là một vài mẹo nhỏ để giúp bạn cải thiện tình hình.

Chuẩn bị kỹ

Với nhiều người, ân ái là một hành vi mang tính bộc phát, vì vậy họ tin rằng sex ngẫu hứng sẽ thú vị hơn là lên kế hoạch cho một đêm mặn nông. Nhưng điều đó không đúng chút nào. Tuy nhiên khi bạn đau lưng kinh niên thì chuẩn bị kỹ để “hành động” là cách duy nhất để tận hưởng niềm vui. Không có gì giết chết đam mê nhanh hơn một cơn đau đột ngột hoặc nỗi sợ hãi khi áp dụng một cử động không chuẩn sẽ khiến bạn nằm bẹp trên giường.

Bạn hãy để các cơ được thư giãn bằng cách khởi động cơ bắp hoặc uống thuốc giảm đau. Bạn nên cùng người ấy tắm nước nóng rồi cùng massage cho nhau trong phần dạo đầu.
phuong-phap-chua-benh-dau-lung-o-nam-gioi
Thử những tư thế khác

Bạn hãy vạch sẵn sẽ làm chuyện đó ở đâu, tư thế nào thì sẽ tránh được đau đớn. Ban đầu bạn cần thử những tư thế khác nhau cho đến khi chọn được tư thế mà cả hai đều cảm thấy thoải mái.

Nam giới bị đau lưng nên thử nằm trên bề mặt cứng, dùng gối để nâng đầu gối và đầu. Bạn nên chèn thêm ít khăn dưới hông để thoải mái hơn. Bạn cũng có thể ngồi trên ghế, dựa ra sau và để đối phương “cưỡi ngựa”.

Nữ giới bị đau lưng nên chọn tư thế hai chân đưa lên ngực. Bạn nên để đối tác ngồi lên ghế, bạn ngồi lên lòng anh ấy, đối diện với anh ấy.

Dù là người nam hay người nữ bị đau lưng thì tư thế side-by-side là phù hợp nhất. Cả hai cùng nghiêng người, chàng đi vào từ phía sau, đây là tư thế cả hai đều cảm thấy thoải mái.

Cởi quần áo trước

Trong lúc lửa tình dâng trào, chúng ta sẽ không chú ý gì nhiều đến những thứ mình đang mặc trên người, chúng ta chỉ muốn cởi quần áo ra càng nhanh càng tốt. Nhưng hành động này cũng sẽ khiến bạn gặp nhiều khó khăn khi phải cởi đồ trong tư thế bất thường và làm cơn đau xuất hiện.

Tự kích thích

Nếu việc giao hợp thực sự khiến một trong hai bạn quá đau đớn thì còn rất nhiều cách khác để giúp đối phương có được niềm vui xác thịt. Yêu bằng đường miệng, tay hay bằng máy rung đều là những cách để mang đến sự thỏa mãn và thêm gia vị cho đời sống tình dục của bạn.

Điều quan trọng nhất là bạn phải hoàn toàn cởi mở với đối tác để trao đổi về những gì bạn thích và không thích, để khám phá và trải nghiệm những cách thức mới lạ khi ân ái.

Nguyễn Trang
Theo Care2

Mẹo giảm đau lưng tại công sở

Hơn 1 triệu người Mỹ bị đau lưng và hầu hết đều có liên quan đến việc chấn thương tại nơi làm việc.

Dù chỉ là cơn đau lưng cấp tính hay tái đi tái lại nhiều lần, bạn cũng nên tham khảo một vài mẹo nhỏ sau để nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khó chịu này.

Sự linh hoạt của cơ thể có thể giúp cải thiện được chứng đau lưng. Hãy thường xuyên áp dụng các bài tập thể dục nâng hoặc uống cong người ít nhất từ 2-3 lần trong 1 tuần. Ngoài tập thể dục, để giảm đau lưng bạn cần tránh những nơi ngả lưng gồ ghề.
dau-lung-cong-so
Luôn di chuyển là lời khuyên tốt nhất cho những người làm việc trong văn phòng. Cho phép mình nghỉ ngơi vài phút sau mỗi giờ làm việc; nghỉ ngơi bằng cách thả lỏng cơ thể hoặc rời khỏi ghế đi ra ngoài để cơ bắp có dịp thư giãn.

Tư thế và sự chuyển động của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến phần lưng. Vì thế, khi chuẩn bị thực hiện thao tác nâng gập người phải hết sức thận trọng. Nếu ngồi tại bàn làm việc, hãy đảm bảo cột sống luôn ở vị trí thẳng, tránh gập người hoặc vẹo người khi nhìn vào tài liệu hay màn hình vi tính.

Theo Dailyhealthpost, một trong những nguyên nhân gây đau lưng là tập trung quá mức vào công việc. Nếu có thể, bạn cố gắng kết hợp các hoạt động nhẹ nhàng khác tại công sở.

Nguồn thanh niên

Bệnh phụ nữ văn phòng dễ gặp

Do tính chất và đặc thù công việc là ngồi nhiều một chỗ mà chị em văn phòng có thể phải đối mặt khá nhiều bệnh liên quan đến vấn đề sinh lý của mình.

Suy giảm buồng trứng sớm

Áp lực tâm lý quá lớn, ăn uống không đúng giờ và ô nhiễm môi trường làm việc (do thiếu cây xanh, hút thuốc lá bao gồm cả hút thuốc thụ động…) lại thiếu tập thể dục khiến phụ nữ hiện đại phải đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe sinh lý. Tác động của các yếu tố bất lợi này sẽ làm cho phụ nữ sớm bị suy giảm buồng trứng hơn so với bình thường.

Thêm nữa, một số chị em sau khi sinh con đã đi làm trở lại sớm khiến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ quá ngắn dẫn đến làm giảm một số chức năng tự miễn đặc trưng của cơ thể nữ giới. Từ đó có thể ảnh hưởng đến chức năng buồng trứng. Đáng buồn là tỷ lệ mắc chứng suy giảm buồng trứng trẻ tuổi gia tăng qua các năm. Phụ nữ bị suy giảm buồng trứng sớm càng dẫn đến mãn kinh sớm.

benh-nghe-nnghiep

Rối loạn nội tiết

Làm tăng ca, thêm giờ, làm việc quên ăn uống (ăn uống không khoa học), ít vận động… là những nguyên nhân góp phần dẫn đến rối loạn chuyển hóa ở chị em. Những chị em chỉ ngủ trong khoảng 4 giờ hoặc ít hơn mỗi ngày dễ gặp các vấn đề về trao đổi chất của cơ thể. Trong khi đó, não bộ – tuyến yên – buồng trứng khi bị rối loạn chức năng sẽ gây ra sự rối loạn nội tiết (chẳng hạn như rối loạn kinh nguyệt, mụn nhọt…)

Làm việc quá nhiều, áp lực công việc lớn khiến chị em văn phòng dễ căng thẳng, stress, tâm lý bất ổn… có thể là tiền nguyên nhân gây nên chứng bệnh trầm cảm… Đây cũng được coi là những nguyên nhân gây ra rối loạn nội tiết. Ngoài ra, vấn đề trao đổi chất, tuần hoàn máu kém còn có thể ảnh hưởng đến quá trình bài tiết chất độc cũng như tốc độ chuyển hóa các chất khác trong cơ thể.

Viêm phụ khoa

Ngoài những căn bệnh văn phòng quen thuộc như đau lưng, mỏi cổ, mỏi mắt, khô da, béo phì… chị em công sở còn có thể “lãnh” thêm nguy cơ bị viêm nhiễm phụ khoa do chính thói quen làm việc của mình.

Phụ nữ văn phòng thường ngồi nhiều lại ít vận động dễ dẫn đến sự suy giảm thể lực, lưu thông máu kém. Chẳng hạn như cản trở lưu thông máu ở chân làm giảm lưu thông máu trong các khoang xương chậu khiến chị em dễ mắc bệnh phụ khoa. Những người đã có vấn đề về phụ khoa thì lại càng làm cho các vấn đề này trầm trọng thêm.

Bên cạnh đó, ngồi nhiều cũng có thể gây viêm nhiễm mãn tính phần phụ và sự lây lan của các mầm bệnh qua đường âm đạo, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ vùng chậu.

Điều ngạc nhiên chính là môi trường làm việc trong phòng điều hòa, chế độ làm việc ngồi trên ghế kéo dài, kèm theo đó là sự thay đổi đột ngột nhiệt độ và độ ẩm không khí khi rời phòng làm việc sang môi trường sống có không khí tự do – cũng là nhân tố gây viêm nhiễm. Sự thay đổi đột ngột này đã tạo điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập, tấn công mạnh vào những phụ nữ văn phòng, đặc biệt là “vùng kín”.

Đặc biệt là phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, ít vận động dễ làm cho máu trào ngược, gây tắc nghẽn vùng chậu mãn tính, kích thích dây thần kinh ngoại biên làm tăng triệu chứng sưng, đau… rất khó chịu.

Vô sinh

Cũng do ít vận động nên chị em văn phòng dễ bị đau trước và trong kỳ kinh nguyệt. Nguyên nhân cơ bản là bởi ít vận động dẫn đến rối loạn lưu thông máu, một lượng máu trào ngược xâm nhập vào các ống dẫn trứng, gây ra đau bụng dưới, đau lưng, đau bụng kinh…

Nghiêm trọng hơn máu ứ cũng dễ dẫn đến bạch huyết hoặc tắc mạch đường máu, tắc nghẽn ống dẫn trứng. Mô tăng sản nội mạc tử cung do máu ứ và ít vận động có mối quan hệ vật lý với sự hình thành của lạc nội mạc tử cung có thể gây ra vô sinh.

Theo afamily

‘Bí kíp’ giảm đau lưng cho người dùng máy vi tính

 Đau lưng là chứng bệnh phổ biến của dân văn phòng do ít vận động và ngồi máy vi tính quá nhiều. Vậy làm thế nào để hạn chế được căn bệnh này?

Dưới đây là những ‘bí kíp’ giúp chúng  ta chống chọi lại tình hình bệnh tật nếu công việc thường xuyên ngồi trước máy vi tính:

1. Chọn đúng tư thế

Bạn phải đảm bảo rằng chiếc ghế ngồi phù hợp và có chất lượng tốt nhất. Dân văn phòng nên chọn những loại ghế có thể điều chỉnh và xoay tròn được. Tư thế ngồi tốt nhất là nên kéo ghế vào gần bàn làm việc và điều chỉnh độ cao vừa chuẩn với khuỷu tay, hông. Đầu gối nên để so với lưng một góc 90 độ.

Cẳng tay của bạn nên để song song hoặc thấp hơn mặt bàn (nếu dùng máy tính bàn). Bàn chân nên để chạm đất hoặc để một vật gì đó kê bên dưới và đặt chân lên đó.

Businessman With Backache
2. Điều chỉnh lưng

Khi ngồi, cần điều chỉnh lưng sát vào ghế và có thể dựa được vào ghế khi quá mỏi. Tuy nhiên, khi đánh máy bạn không nên lạm dụng dựa lưng vào ghế quá nhiều mà cần ngồi thẳng để đánh máy.

3. Vị trí ngồi so với máy tính

Hãy ngồi thẳng và trực diện với máy vi tính. Đảm bảo tầm nhìn của bạn cách xa màn hình ít nhất một cánh tay. Phần trên của màn hình nhất định phải nằm trên tầm nhìn của bạn.

4. Không đặt đồ đạc trước màn hình máy tính

Khi sử dụng máy tính, bạn nhất định không được đặt văn bản hoặc bất cứ vật gì trước màn hình để làm việc. Việc làm này sẽ ảnh hưởng lớn đến tầm nhìn của bạn.

5. Đảm bảo màn hình có độ sáng tốt nhất

Bạn cần điều chỉnh độ sáng tối của màn hình phù hợp với tầm nhìn và loại bỏ độ phản xạ ánh sáng. Máy vi tính cũng nên được đặt ở những nơi không có ánh sáng quá mạnh phía sau.

6. Không ngồi quá lâu trước màn hình máy tính

Sau 30 phút ngồi liên tục trước màn hình, chị em nên thư giãn bằng cách đứng lên đi lại hoặc tập vài động tác thể dục nhẹ nhàng để giảm đau lưng cũng như tạo cảm giác thoải mái hơn.

7. Học cách sử dụng phím tắt trên bàn phím

Bạn nên học cách sử dụng được nhiều phím tắt trên bàn phím để làm việc nhanh và hiệu quả hơn khi suốt ngày cần đến chuột. Việc sử dụng phím tắt cũng giúp bạn giảm bớt các thao tác gõ máy, làm bạn đỡ đau lưng hơn.

Theo sức khỏe

Công dụng của lạc trong mất tiếng hay phù chân

 Khi bị mất tiếng hay phù chân, thiếu sữa, táo bón…, bạn có thể dùng lạc để chữa.

Khi bị mất tiếng hay phù chân, thiếu sữa, táo bón…, bạn có thể dùng lạc để chữa. Người tạng nóng, già yếu, kém tiêu hóa không nên ăn nhiều.

Theo Đông y, lạc có tác dụng bổ tỳ vị, nhuận phế, tiêu đờm, điều hòa huyết khí, tiêu sưng, cầm máu, lợi tiểu, tăng tiết sữa, mát họng, giảm cholesterol, chống lão hóa. Dưới đây là một số bài thuốc từ lạc:
lac-chua-benh
Viêm thận mạn tính: Dùng nhân lạc, đậu tằm rang với đường đỏ để ăn, hoặc nhân lạc sắc với hồng táo để uống.

Thiếu máu, giảm hồng cầu, suy nhược cơ thể: Lấy nhân lạc (để cả màng vỏ), đại táo, quế viên, nấu chín ăn.

Cao huyết áp: Lấy nhân lạc trộn giấm để ăn.

Phù chân: Lấy nhân lạc (để cả màng vỏ), trần bì, tỏi nấu chín thành canh ăn rất tốt.

Những người bị bệnh tắc nghẽn mạch máu, bị độc dính máu cao không được ăn lạc.

Thận hư, tiểu tiện ít, nước tiểu có màu đỏ, mệt mỏi ở người già: Lấy nhân lạc (để cả màng vỏ) luộc chín ăn hoặc sắc vỏ lạc với hồng táo uống thay trà.

Chân tay mềm yếu, vô lực: Lấy nhân lạc hầm với chân gà làm canh ăn.

Suy dinh dưỡng gây phù nề: Lấy nhân lạc hầm với cá trắm và rượu để ăn.

Cúi người khó khăn, đau buốt lưng: Lấy nhân lạc hầm với đuôi lợn hoặc đuôi bò để dùng.

Mất tiếng: Sắc nhân lạc với mật ong để uống.

Thiếu sữa, sản phụ táo bón: Lấy nhân lạc hầm với chân giò lợn ăn.

Lưu ý: Mỗi ngày mỗi người chỉ nên dùng 80 – 100 gr lạc nhân là đủ; Những người cơ thể nóng không nên lạm dụng. Những người già yếu, tiêu hóa kém nên ăn ít. Những người có bệnh về mật không nên ăn. Những người bị bệnh tắc nghẽn mạch máu, bị độc dính máu cao không được ăn lạc.

Lạc mốc có chứa nhiều chất gây ung thư, gây ngộ độc nên khi sử dụng phải loại bỏ các hạt mốc, hỏng.

Theo Đất Việt

Đau khi bị thoái hóa cột sống: Cách khống chế

Nguyên nhân chính thoái hóa cột sống (THCS) là do tuổi tác nhưng cũng có các trường hợp THCS do các nguyên nhân khác, còn gọi là thoái hóa cột sống thứ phát. Nguyên nhân phổ biến nhất là sau chấn thương như sau ngã, tai nạn, do nghề nghiệp phải sử dụng nhiều cột sống như mang vác, bưng bê, nhấc, xách các đồ vật, trong lao động hay trong công việc hằng ngày tại gia đình. Một số bệnh cột sống mắc phải như viêm đốt sống đĩa đệm, đau thần kinh tọa, dị dạng phát triển cột sống (gai đôi cột sống, quá phát mỏm ngang đốt sống), khuyết tật di truyền, béo phì, đái tháo đường, suy giáp, cường cận giáp, gút… cũng để lại biến chứng THCS. Ngoài ra, thiếu dinh dưỡng có thể gây nên THCS. Đặc điểm của THCS là gây những cơn đau lưng. Vậy làm thế nào để khống chế và phòng ngừa?

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_01

Đau cột sống thắt lưng

Khống chế những cơn đau lưng khi bị THCS

Mục tiêu của điều trị THCS là sớm loại bỏ các yếu tố nguy cơ, chẩn đoán sớm, điều trị giảm đau thích hợp. Giúp bệnh nhân phục hồi khả năng vận động cũng rất quan trọng. Điều trị THCS kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc, đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả can thiệp ngoại khoa, do các bác sĩ chuyên khoa đảm nhiệm. Khi bị đau lưng, bệnh nhân cần đến khám bác sĩ để chẩn đoán chắc chắn và có biện pháp điều trị thích hợp. Tránh trường hợp tự chữa hay chữa mò, chỉ làm mất triệu chứng bệnh, chuốc vào nhiều tai biến hay biến chứng của bệnh khi bệnh tiến triển vào giai đoạn muộn, nói tóm lại là tiền mất tật mang. Khi đau thắt lưng cấp thì bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường trong vài ngày. Điều trị dùng thuốc bao gồm: dùng các thuốc giảm đau như paracetamol, thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, celebrex, thuốc tăng cường sụn khớp như glucosamin sulfat chondroitin, artrodar… Chú ý nên uống thuốc khớp sau khi ăn, uống thuốc với nhiều nước để tránh tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Có thể  xoa bóp, bấm huyệt nhẹ nhàng vùng cột sống bị tổn thương hay tác động cột sống. Một số biện pháp vật lý trị liệu có ích như  đắp paraffin, hồng ngoại, dùng túi chườm, điện di thuốc giảm đau, dùng sóng siêu âm. Khi đi lại, bệnh nhân cần sử dụng dụng cụ hỗ trợ như gậy, khung chống, đai lưng. Khi đau nhiều mà chưa có điều kiện đi khám bác sĩ thì nên nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động nặng, dùng kem bôi thuốc kháng viêm non-steroid hoặc uống thuốc giảm đau như paracetamol. Khi cơn đau đã giảm, có thể tập thể dục nhẹ nhàng. Khi đi khám bác sĩ và đã có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Người bệnh cần xác định đây là dạng bệnh mạn tính và phải điều trị lâu dài.

Phòng bệnh và hạn chế các hậu quả của bệnh THCS

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_02

Xoa ấn vùng cột sống

Cần phòng bệnh THCS ngay từ khi còn nhỏ. Đầu tiên là có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Cần ăn nhiều thức ăn giàu các chất chống oxy hóa như vitamin C và E (có nhiều trong các loại rau, quả). Vitamin D và canxi cần thiết cho sức khỏe khung xương, cần dùng 1.000 – 1.200mg canxi và 400 UI vitamin D mỗi ngày. Cần giảm cân nếu béo phì. Trong sinh hoạt hằng ngày, cần luôn giữ tư thế đúng ngay cả khi nằm ngủ, ngồi, đứng. Người làm việc ở văn phòng không nên ngồi quá lâu. Khi ngồi làm việc 1 giờ, phải đứng dậy, vươn vai, làm động tác thể dục thư giãn hay đi lại trong khoảng 5 -10 phút. Tập thể dục thường xuyên giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, giúp cho sụn khớp phát triển.

Để dự phòng THCS thắt lưng, có thể tập một số động tác làm mạnh các cơ vùng thắt lưng như tập nghiêng xương chậu, tập cơ bụng, tập khối cơ cạnh sống. Có thể đi bộ, bơi lội, thái cực quyền, tập thể dục nhịp điệu. Cần tránh các môn thể thao đối kháng mạnh. Đối với người phải mang vác, lao động nặng thì không nên mang vác quá sức hay ở tư thế xấu.

Khi đã bị THCS cổ thì cách điều trị tốt nhất là tuân thủ các chế độ điều trị do bác sĩ chuyên khoa đưa ra, đồng thời giảm tải các tác động có hại lên cột sống cổ. Cần có tư thế ngồi, làm việc thẳng. Không mang vác, xách đồ nặng. Khi ngủ không nên kê gối quá cao. Cần nghỉ ngơi giữa giờ làm việc. Có thể xoa bóp, bấm huyệt vùng cổ để giảm co thắt cơ.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm có phải là bệnh?

Thoát vị đĩa đệm tiếng Pháp gọi là Hernie dícale. Từ thoát vị – Hernie dùng để mô tả rất nhiều biểu hiện đặc trưng bởi sự nhô ra hay lồi ra một cơ quan hay một phần cơ quan ngoài vị trí bình thường của nó, ta vẫn thường nói thoát vị bẹn, thoát vị rốn… Đĩa đệm – Discale nằm giữa liên đốt sống, như vậy thoát vị đĩa đệm là sự nhô ra một phần của đĩa liên đốt sống.

Thoát vị đĩa đệm xảy ra như thế nào?

Đĩa đệm nằm giữa liên đốt sống, xung quanh cấu tạo bởi các cung xơ, ở giữa là nhân cứng gelatine, đĩa đệm có vai trò như chống xóc và tạo tính mềm dẻo cho cột sống. Cung xơ có vai trò giữ cho nhân gelatine nằm trong đĩa đốt sống. Tránh rách, đứt chui ra khỏi vòng cung xơ. Bình thường, nhân gelatine nằm chính giữa đĩa đệm xung quanh có các cung xơ. Nhân gelatine nhô ra và băng qua khỏi cung xơ gọi là thoát vị đĩa đệm, thoát vị di chuyển và thoát vị xuyên qua ngoài dây chằng, ép rễ gây đau thần kinh vùng tổn thương, nhân gelatine chui ra khỏi cung xơ gây ép tuỷ. Một số người có thoát vị đĩa đệm nhưng không nhận thấy triệu chứng vì thoát vị không liên quan đến thần kinh, như vậy tỷ lệ thoát vị đĩa đệm khó đánh giá. Thoát vị đĩa đệm có thể ép tuỷ nhưng hiếm gặp.

Cột sống có ba đoạn: đoạn cổ, đoạn ngực và đoạn thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra bất kỳ đoạn nào của cột sống. Khoảng 95% thoát vị đĩa đệm ở đoạn cột sống thắt lưng. Trong trường hợp này thoát vị có thể gây đau vùng thắt lưng gọi là đau thắt lưng – Lombalgie. Nếu thoát vị ép vào rễ của thần kinh toạ có thể gây đau dọc mặt sau của chân, ta gọi là đau thần kinh toạ.Thoát vị đĩa đệm hay gặp những người tuổi từ 35 – 55 tuổi, nam hay gặp hơn nữ liên quan thể lực khoẻ, liên quan nghề nghiệp hoặc chơi thể thao.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm: Người ta nhận thấy thoát vị có liên quan đến tuổi, do thoái hoá đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể. Những người quá béo hoặc phụ nữ thời kỳ mang thai ép lên cột sống thường xuất hiện đau vùng lưng. Một số người đau lưng do ảnh hưởng yếu tố di truyền nên có thể thấy thoát vị đĩa đệm từ lúc còn rất trẻ.

thoat_vi_dia_dem_co_phai_la_benh

Các động tác đột ngột như nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể rất dễ gây thoát vị đĩa đệm

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Ngày nay, nhờ các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cột sống mà hình ảnh thoát vị đĩa đệm sẽ được phát hiện, mặc dù hình ảnh thoát vị đĩa đệm có giống nhau giữa người này và người khác, song biểu hiện triệu chứng khác nhau. Một số người có thể có thoát vị đĩa đệm nhưng không có triệu chứng đau lưng, đối với người khác đau khủng khiếp. Đôi khi thoát vị đĩa đệm ép vào rễ thần kinh. Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng gây đau thắt lưng, nếu đau dọc chân gọi là đau thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cổ, gây cứng cổ và đau vùng cổ, đôi khi lan ra hai vai và cánh tay. Thoát vị đĩa đệm cổ có thể thấy cảm giác như dị cảm đầu chi hoặc cảm giác yếu mỏi vùng cẳng tay và cánh tay.

Điều trị thoát vị đĩa đệm

Thái độ trước tiên để giảm sức căng cho cột sống nằm nghỉ trên giường và dùng thuốc làm dịu đau và giảm viêm. Phần lớn, các trường hợp thực hiện như trên là đủ để giảm triệu chứng và chữa khỏi thoát vị đĩa đệm. Ngoại khoa rất ít khi phải can thiệp, tuy nhiên khi có thoát vị phối hợp với yếu tay chân hoặc liệt tay chân hay có biểu hiện rối loạn đại tiểu tiện thì cần can thiệp ngoại khoa sớm. Trường hợp đau cấp và đau nhiều nằm nghỉ trên giường từ một hoặc hai ngày và lấy lại các hoạt động nếu có thể để tránh teo cơ và yếu cơ lưng.

TS. Mai Thị Minh Tâm
(Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện E)
Theo SKĐS

Giải pháp mới cho người bị tổn thương cột sống

Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, đã ứng dụng thành công phương pháp mới điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cột sống như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống thắt lưng, đau thần kinh tọa… cho nhiều trường hợp bằng thiết bị silicon (DIAM) giúp cột sống vững chắc, tránh cho bệnh nhân khỏi bị liệt, gù, hết đau và cử động bình thường. Đây là một phương pháp tiên tiến, hiện đang áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới như: Mỹ, châu Âu và một số nước châu Á… Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật này.

Trả lại sự mềm mại cho cột sống lưng người bệnh

Sau nhiều năm sống chung với chứng đau lưng và đau bại một bên chân, bệnh nhân Ngô Thanh V., 54 tuổi (thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) chạy chữa nhiều phương pháp nhưng chẳng đỡ được là bao. Gần đây, bệnh nhân đau nhiều và khó khăn trong việc đi lại. Kết quả chiếu chụp cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống L4-L5 và hẹp thân đốt sống L3 bị phù nề. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật cột sống – Bệnh viện Việt Đức quyết định dùng phương pháp cố định động cột sống liên gai sau bằng thiết bị silicon (còn gọi là DIAM) để xử trí những đau đớn cho bệnh nhân V. Chỉ sau vài ngày đặt DIAM, bệnh nhân đã giảm đau rất nhiều và đi lại được.

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa Phẫu thuật cột sống cho biết, trước đây đối với các trường hợp này thường được mổ mở giải hẹp, rồi nẹp vít để cố định cột sống. Tuy bệnh nhân cũng hết đau nhưng nẹp vít lại khiến bệnh nhân rất khó cử động, chỉ có ưỡn mà không thể gập được người. Hơn nữa, qua thời gian có thể mòn và gãy dễ gây tai biến, còn các trường hợp bị xẹp do loãng xương hoặc vừa loãng xương vừa chấn thương do thoát vị đĩa đệm… thì phải sống chung với đau đớn suốt phần đời còn lại do xương của bệnh nhân giòn, dễ vỡ. Còn DIAM là loại dụng cụ được đưa vào khe giữa hai mỏm gai sau đốt sống thắt lưng nhằm làm giãn và cố định động 2 đốt sống. Ưu điểm của phương pháp này không những cố định được cột sống và giải ép các nguyên nhân chèn ép thần kinh mà còn đảm bảo độ mềm dẻo của cột sống, giúp bệnh nhân cúi và ưỡn thoải mái. Đặc biệt, DIAM còn có tác dụng hữu hiệu khi phối hợp với vít cố định cột sống hoặc trên các bệnh nhân bị lấy nhân đĩa đệm… giúp bệnh nhân khỏi bị xẹp đĩa đệm, làm chậm quá trình thoái hoá diện khớp và đĩa đệm liền kề chỗ cố định. Với phương pháp này, bệnh nhân hầu như không còn cảm thấy đau, rất ít biến chứng, có thể đi lại sau 1 – 2 ngày phẫu thuật.

Theo TS. Thạch, phương pháp này ít gây tai biến cho bệnh nhân vì silicon tương thích với cơ thể con người, có độ đàn hồi tốt nên hiếm khi gây ra các biến chứng như tuột hoặc đứt…. Hơn nữa, đây là dạng phẫu thuật can thiệp tối thiểu không đụng chạm trực tiếp đến cấu trúc thần kinh vào rễ thần kinh tủy sống nên không gây ảnh hưởng đến chức năng quan trọng của vùng cột sống và phần mềm ít bị phá huỷ. Tuy nhiên, theo TS. Thạch, không phải ai cũng thực hiện được kỹ thuật này. Để tiến hành, cần phải có phẫu thuật viên chuyên khoa, được đào tạo bài bản. Kỹ thuật này không áp dụng được đối với các bệnh nhân bị trượt đốt sống mất vững, gãy đốt sống, khuyết hở eo đốt sống, vẹo cột sống bẩm sinh, khối u vùng cột sống. Trong 1 – 2 tháng đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân cần làm việc nhẹ nhàng, không mang vác nặng.

giai_phap_moi_cho_nguoi_bi_ton_thuong_cot_song

Phẫu thuật cố định cột sống ở BV Việt Đức

TS. Thạch cho biết các bệnh lý cột sống nếu được phát hiện sớm bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kết hợp các bài tập phục hồi chức năng, điều chỉnh những thói quen trong sinh hoạt ảnh hưởng đến bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh thường cố gắng chịu đựng, chỉ khi không thể chịu nổi họ mới tìm đến bệnh viện, khi đó bệnh đã nặng, có thể đã xuất hiện nhiều biến chứng. Việc điều trị nội khoa lúc này không đạt hiệu quả mà phải tính đến giải pháp can thiệp bằng phẫu thuật. Thành công của phương pháp điều trị mới này hy vọng sẽ là một giải pháp tốt cho nhiều người bệnh.

Các bệnh lý cột sống đang ngày càng trở nên phổ biến

Các chuyên gia về cột sống cho hay, các bệnh lý liên quan đến cột sống rất phổ biến, đặc biệt là người luống tuổi, bị loãng xương gây hẹp ống sống. Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn… Trong khi đó, có rất nhiều nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá… Ngoài ra, hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Khi bị hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường đau lưng, đau dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính lan sang 2 bên đùi, xuống chân, gây liệt. Hơn nữa, trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù… Các tổn thương này không chỉ ảnh hưởng đến sự vận động của các bệnh nhân mà liệt và gù còn là gánh năng cho gia đình và xã hội.

Bài và ảnh: Hà Anh
Theo SKĐS

Điều trị khớp bằng nhiệt

Từ lâu, nhân dân ta đã biết sử dụng các biện pháp chườm nóng hoặc chườm lạnh để chữa đau lưng, đau khớp, sưng nề sau chấn thương, hoặc điều trị các vùng viêm tấy.

Trong y học, người ta sử dụng nhiệt nóng và nhiệt lạnh để điều trị.

Trong các khoa vật lý trị liệu người ta sử dụng paraffin, túi silicagen, khay nhiệt điện, túi chườm nhiệt sử dụng điện. Trong dân gian thường dùng cám rang, muối rang, lá cây sao nóng, túi nước nóng, ngâm trong nước nóng để làm các chất trung gian truyền nhiệt. Sử dụng nhiệt để điều trị đã mang lại hiệu quả rất tốt, nhưng nếu dùng không đúng có thể gây thêm tác dụng có hại. Vì vậy, hiểu biết về tác dụng của nhiệt trong chữa bệnh là kiến thức cần thiết đối với mỗi người.

dieu_tri_khop_bang_nhiet

Chườm lạnh điều trị thoái hóa khớp đợt cấp

Nhiệt nóng: Gây ra giãn mạch, làm tăng lượng máu đến vùng điều trị. Nhờ việc tăng tuần hoàn và dinh dưỡng cho vùng điều trị sẽ kích thích quá trình tái tạo tế bào, hàn gắn tổn thương. Làm tăng các phản ứng sinh học, tăng quá trình chuyển hóa của mô, làm tăng tái tạo mô. Làm tăng tính thấm của mô, tăng trao đổi dịch giữa khoang máu và khoang kẽ tế bào, do đó làm tăng quá trình hấp thu dịch nề, làm giảm nề, giảm đau. Làm tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, làm phân tán nhanh các chất trung gian gây viêm, do đó làm giảm viêm cả viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn. Nhiệt nóng được dùng rộng rãi để điều trị các vùng viêm do nhiễm khuẩn giai đoạn viêm tấy chưa hóa mủ (như viêm cơ, viêm tắc tia sữa, viêm tổ chức liên kết do răng, mụn nhọt, chắp lẹo); điều trị các trường hợp viêm không do nhiễm khuẩn (như viêm khớp dạng thấp, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống dính khớp); điều trị các vùng thiếu nuôi dưỡng do tổn thương thần kinh, mạch máu (như những vùng đe dọa loét hoặc do đè ép ở người phải nằm bất động lâu, các vùng thiếu nuôi dưỡng ở bàn chân, cẳng chân do bệnh đái tháo đường); điều trị các vùng đau do thoái hóa (như đau cột sống cổ, đau thắt lưng, đau khớp do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp); làm giảm nề, tan khối máu tụ sau chấn thương; làm nhanh liền sẹo vết thương, làm sẹo mềm mại, chống dính và co kéo do sẹo; điều trị dị ứng do lạnh. Thời gian đắp nóng khoảng 20-30 phút, ngày 1-4 lần. Cách dùng: Mỗi lần nóng lên duy trì khoảng 20-30 phút, một ngày có thể đắp nóng 1-4 lần. Mỗi lần đắp nóng không quá 1/6 diện tích cơ thể để tránh gây rối loạn thân nhiệt. Khi đắp nóng cần chú ý tránh để nhiệt độ quá cao > 40o vì có thể gây bỏng.

Chống chỉ định các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, các ổ viêm đã hóa mủ, các vùng có khối u cả u lành và u ác tính, các vùng lao đang tiến triển như lao khớp, lao cột sống, các chấn thương mới trong một hai ngày đầu, những người đang sốt.

Nhiệt lạnh

Nhiệt lạnh gây ra các tác dụng ngược lại so với nhiệt nóng, như làm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm dinh dưỡng, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm của mô. Nếu bị lạnh quá lâu có thể gây ra thiếu dinh dưỡng và hoại tử mô do lạnh. Nhiệt lạnh được dùng để làm giảm sưng nề sau các chấn thương mới, làm giảm chảy máu ở những vùng đang chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu, như chườm lạnh vùng thượng vị trong chảy máu dạ dày, giảm tụ máu, giảm nề trong chấn thương mới (một hai ngày đầu), chườm lạnh để hạ nhiệt độ khi sốt cao, bảo quản mô ghép giúp mô ghép chịu đựng được tình trạng thiếu ôxy kéo dài mà không bị hủy hoại. Người ta thường dùng túi nước lạnh, túi nước đá hoặc ngâm chi trong nước lạnh. Cần chú ý thời gian chườm lạnh cần ngắn vài phút, không kéo dài để tránh gây tổn thương mô do thiếu dinh dưỡng.

BS.CKII. Phan Kim Toàn
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm: Nguyên nhân gây đau lưng

Trong các nguyên nhân gây đau lưng do căng cơ thắt lưng, hẹp ống sống, viêm khớp cột sống thắt lưng, trượt đốt sống, loãng xương thì thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân thường gặp nhất.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm có tác dụng như một miếng đệm giữa hai đốt sống. Khi bị chấn thương hoặc do tiến trình thoái hóa tự nhiên, đĩa đệm bị trượt ra ngoài chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống và gây đau.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm rất đa dạng. Thứ nhất là do các chấn thương cột sống. Thứ hai là do tư thế xấu trong lao động. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung

Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cột sống. Hơn 90% thoát vị đĩa đệm xảy ra ở cột sống thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm nếu không điều trị có thể khiến người bệnh bị tàn phế suốt đời do bị liệt, có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ…

Dấu hiệu nhận biết

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Phần lớn thoát vị đĩa đệm là ở vùng thắt lưng. Triệu chứng điển hình gồm đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân đến mặt lòng bàn chân đến ngón út mặt lưng bàn chân đến ngón cái. Hoặc đôi khi triệu chứng không điển hình như chỉ tê hoặc mỏi ở cẳng chân, đùi hay đau ở vùng bẹn. Trong một số trường hợp nặng có thể bị yếu liệt chân, teo cơ hoặc rối loạn tiêu tiểu.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung2

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm

Điều trị thoát vị đĩa đệm thế nào?

Hiện nay, điều trị thoát vị đĩa đệm bao gồm điều trị bảo tồn và các phẫu thuật can thiệp. Điều trị bảo tồn bao gồm: nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau, kháng viêm không steroide (NSAIDS), vật lý trị liệu… Khi điều trị bảo tồn không đáp ứng – từ 6 tuần đến 6 tháng – có thể thực hiện các phẫu thuật can thiệp.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cũng như xu hướng can thiệp tối thiểu bảo tồn cấu trúc giải phẫu học bình thường, hiện nay phương pháp phẫu thuật nội soi cột sống lấy nhân thoát vị là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn. Ưu điểm của phương pháp này là không có sự can thiệp nhiều đến cơ, xương khớp hoặc lôi kéo thần kinh ở cổ, những nguy cơ của hàm xương, không có nguy cơ để lại sẹo sau mổ của thần kinh. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân vẫn còn khoảng 98% chiều cao của đĩa đệm. Quá trình diễn biến sau phẫu thuật bệnh nhân cảm thấy giảm đau ngay tức thì, có thể đi lại được trong ngày và có thể tập vật lý trị liệu ở nhà. Hầu hết bệnh nhân được vận động bình thường có thể bắt đầu lại trong vòng 1 đến 6 tuần sau phẫu thuật.

Bác sĩ   Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Bí quyết loại trừ chứng đau lưng

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng ngay cả tuổi còn rất trẻ, bởi vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân xảy ra ngay tại cột sống nhưng có nhiều trường hợp đau lưng do nguyên nhân ở một vị trí khác, cơ quan khác trong cơ thể gây nên. Vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên không có sự phân biệt giàu nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý.

Nguyên nhân gây đau lưng

Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản sau đây: đau lưng do tác động cơ học và đau lưng do hiện tượng viêm.

– Đau lưng do tác động cơ học: Đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hằng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà buộc người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng…).

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_01

Đau lưng cấp tính do thay đổi tư thế đột ngột

– Đau lưng do hiện tượng viêm: Trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… và cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh kiểu như thế này thường gây đau lưng một cách âm ỉ.

Làm thế nào để tìm căn nguyên gây đau lưng

Như trên đã trình bày đau lưng chỉ là một triệu chứng. Trước hết người bị đau lưng nên tự xem xét bản thân mình đau lưng có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? Ví dụ hay đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ, ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với đau lưng như tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế; đau lưng có liên quan đến đau dạ dày hay không; đau lưng ở đoạn nào (phía trên hay vùng thắt lưng); đau có lan ra các vùng xung quanh hay không? Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng khả nghi  nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y. Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây đau lưng là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây đau lưng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì đau lưng cũng dần dần khỏi, ví dụ như ngồi sai tư thế; bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp đau lưng do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may… Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm khuẩn cũng gây đau lưng, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết.

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_02

Thoái vị đĩa đệm gây đau lưng

Loại trừ chứng đau lưng bằng cách nào?

Khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng, thầy thuốc sẽ có chỉ định điều trị thích hợp và khi loại trừ được nguyên nhân thì triệu chứng đau lưng cũng biến mất. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản trong ngày một, ngày hai hay trong vài ba tuần, ví dụ như thoái hóa cột sống, lồi đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó, bởi để tái phát thì đau lưng còn tăng hơn nhiều lần so với trước.

Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tùy theo sức mình và bệnh của mình ví dụ như thoát vị đĩa đệm nên đi bộ trên nền phẳng; không đi xe đạp, xe máy, ôtô những nơi gây xóc, mấp mô, nhiều ổ gà… Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hóa cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khỏe cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tùy tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y cả thuốc Đông y. Trong điều kiện cho phép có thể đều trị Đông, Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc lý liệu pháp. Người bệnh cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh đau lưng tái phát.

PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Đau lưng là một triệu chứng hay gặp, triệu chứng này không trừ một ai, từ trẻ đến già, người làm việc văn phòng cũng như người khuân vác. Chứng đau lưng gồm các nguyên nhân tại cột sống và ngoài cột sống. Tại cột sống có thoái hoá đĩa đệm, viêm đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), vôi hóa đĩa đệm, viêm cột sống dính khớp, thoái hoá cột sống thắt lưng, viêm cột sống… Bài viết này xin đề cập một nguyên nhân gây đau lưng hay gặp là TVĐĐ cột sống thắt lưng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_thoat_vi_dia_dem_cot_song_that_lung

Nguyên nhân gây đau lưng hay gặp là TVĐĐ cột sống thắt lưng. Ảnh minh họa.

Ai dễ bị TVĐĐ thắt lưng?

Theo thống kê cho thấy, TVĐĐ phụ thuộc các yếu tố như: nam giới bị nhiều hơn nữ. Thường gặp ở độ tuổi lao động từ 20 – 50 tuổi. Dưới 18 và trên 60 tuổi rất hiếm gặp. Những người làm việc nặng nhọc, tư thế làm việc buộc cột sống vận động quá giới hạn như quá ưỡn, quá khom người, vẹo cột sống; đặc biệt sự thoái hoá đĩa đệm. Nói chung theo thời gian đĩa đệm sẽ thoái hoá nhưng nhanh hay chậm tùy thuộc từng người, nếu chấn thương thì đĩa đệm thoái hoá nhanh hơn. Do đó có người thoát vị rất sớm dù không phải lao động nặng.

Điều trị bằng cách nào?

Phần lớn bệnh nhân được điều trị bằng nội khoa, chỉ khoảng 10% là cần can thiệp bằng phẫu thuật.

Điều trị nội khoa:

– Nghỉ ngơi: Trong giai đoạn cấp của bệnh thì nằm nghỉ là chính. Nằm ngửa trên giường có mặt phẳng cứng (tuyệt đối không nằm nệm); co nhẹ hai khớp gối và háng nhằm làm giảm áp lực nội đĩa đệm và làm chùng khối cơ thắt lưng. Có thể nằm 2 – 3 tuần nếu nặng, bình thường phải 1 tuần. Sau đó có thể vận động nhẹ nhàng bằng các bài tập thể dục, nhưng tuyệt đối không được cúi người nâng vật nặng, tránh mang xách không cân đối làm lệch người, hoặc lao động nặng. Sau 6 tháng có thể sinh hoạt và vận động bình thường.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_thoat_vi_dia_dem_cot_song_that_lung_02

Đĩa đệm thoát vị chèn ép dây thần kinh

Vật lý trị liệu: Giảm đau bằng chườm nóng (Đông y thường chườm bằng lá ngải sao nóng rất hiệu quả) hoặc dùng điện châm, châm cứu, laser…

– Các thuốc thường dùng giảm đau, chống viêm như aspirin, anagin, paracetamol kết hợp các thuốc chống viêm, giãn cơ, an thần nhẹ, vitamin nhóm B.

– Kéo giãn cột sống thắt lưng và nắn chỉnh cột sống, tiêm thuốc vào đĩa đệm được chỉ định và thực hiện ở các đơn vị chuyên khoa về xương khớp.

Phẫu thuật: mổ thoát vị khi các biện pháp điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc thoát vị gây chèn ép các rễ thần kinh chi phối vận động các vùng tương ứng gây biến chứng như bí đại tiểu tiện, liệt chi dưới…

Phòng bệnh

Các tư thế sinh hoạt, lao động, nghỉ ngơi không đúng đều là nguyên nhân dẫn tới bệnh và làm bệnh nặng thêm, do vậy để phòng ngừa chúng ta cần chú ý sửa những thói quen đi đứng không đúng cũng như chú ý thực hiện tốt những vấn đề sau:

– Điều trị các chứng bệnh gây ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm như các bệnh vẹo cột sống, chân ngắn chân dài, bụng phệ, thừa cân béo phì, ưỡn cột sống quá mức, gù vẹo cột sống do chấn thương.

– Ngồi: Tránh ngồi một cách gò ép vì đó là cơ chế chung gây tổn thương đĩa đệm, nhất là khi ngồi cúi ra trước thì áp lực nội đĩa đệm tăng cao dễ tổn thương.

Biểu hiện khi bị thoát vị đĩa đệm

Đau lưng là triệu chứng khiến người ta không chịu nổi phải đi khám bệnh. Đau có khi đột ngột, có khi sau một chấn thương hoặc vận động sai lệch cột sống. Đau tăng lên khi ho, hắt hơi, rặn, ngồi hoặc đứng lâu, nằm nghỉ thì bớt đau nhiều. Do đau quá nên bệnh nhân tự tìm tư thế giảm đau như đi nghiêng người về một bên, nằm cong vẹo người.

Quan trọng là triệu chứng đau lưng kèm theo dấu hiệu tổn thương rễ thần kinh: giảm hoặc mất cảm giác, giảm sức cơ và trương lực cơ chi dưới, có thể teo cơ ở chân, giảm hoặc mất phản xạ theo rễ thần kinh  bị tổn thương.

Để chẩn đoán xác định: ngoài các dấu hiệu trên cần đo điện cơ, xét nghiệm dịch não tủy, chụp Xquang cột sống, CT scanner, cộng hưởng từ, chụp tủy chụp đĩa đệm…

– Đứng: Đứng khom lưng lâu (cuốc đất, cấy lúa, làm cố) sẽ tác động xấu tới đĩa đệm, do vậy khi làm các công việc này nên dùng dụng cụ có cán dài. Không nên đứng nghiêng làm biến dạng cột sống, làm các đĩa đệm chịu một lực không đều và bị tổn thương. Không nên đứng lâu một vị trí mà nên đi lại, đánh tay, nhún người… làm dao động áp lực đĩa đệm, thúc đẩy trao đổi dịch thể trong khoang này phòng thoái hoá đĩa đệm.

– Tránh tư thế ưỡn quá mức khi đứng (như đi guốc, giày cao gót, làm việc với cao hơn tầm đầu, đi xuống dốc…). Tư thế đứng đúng là chân thẳng, đầu và thân thẳng, hai vai hơi mở ra sau, ngực ưỡn căng ra trước.

– Nằm: Tránh nằm sấp vì ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm. Nằm nệm mềm làm cột sống bị biến dạng nên dễ bị tổn thương đĩa đệm.

– Tập thể dục thể thao: Mục đích là làm chắc hơn các cơ và dây chằng nhằm ổn định tốt các đốt sống và đĩa đệm, hạn chế đi lệch. Tuy nhiên tuỳ theo cơ thể, năng khiếu, sở thích và các bệnh khác có hay không mà tập những môn thể thao khác nhau và nhất thiết phải có huấn luyện viên hướng dẫn nhằm tránh tập sai dẫn đến tác dụng ngược, những tác động làm ảnh hưởng xấu tư thế cột sống, chẳng hạn chơi tạ không đúng cách có thể gây hư đốt sống, môn bóng chuyền nếu tập quá mức, sai phương pháp sẽ gây các vi chấn thương lên đĩa đệm.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Phòng ngừa bệnh đau lưng như thế nào?

Đau lưng là bệnh thường gặp ở những người trung niên và người lớn tuổi. Nguyên nhân dẫn đến bệnh đau lưng là do sự suy yếu của xương sống lưng và tổn thương cơ bắp mạn tính… Thông thường, những nguyên nhân này thường tác động qua lại lẫn nhau. Ngoại trừ những trường hợp đau lưng có nguyên nhân bệnh lý rõ ràng còn có những trường hợp đau lưng không rõ nguyên nhân. Đau lưng không rõ nguyên nhân thường có liên quan đến tư thế làm việc, sinh hoạt, trong đó thường gặp nhất là những người lao động phải làm việc ở tư thế khom lưng.

Ngoài ra, tư thế sinh hoạt không đúng như ngồi cúi người về phía trước, tư thế ngủ không ngay ngắn, hoặc những người gắng sức khiêng vác các đồ vật nặng… đều có thể gây đau lưng mạn tính.

Để phòng ngừa đau lưng, hàng ngày, mọi người cần kiểm soát tư thế làm việc, sinh hoạt và tư thế nằm ngủ sao cho khoa học, hợp lý. Thường xuyên thay đổi tư thế làm việc, làm những động tác vươn vai giữa giờ có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa đau lưng do tư thế gây nên.

phong_ngua_benh_dau_lung_nhu_the_nao

Khi ngủ, giường phải rộng rãi để có thể trở người một cách thoải mái. Những người luôn ngủ trong một tư thế, không trở mình khiến một phần cơ thể máu huyết lưu thông kém, cơ bắp bị chèn ép, có nguy cơ dẫn đến đau lưng. Tư thế ngủ tốt nhất là nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, tuy nhiên, cần phải thay đổi tư thế thường xuyên.

Trong sinh hoạt và lao động hàng ngày, một số người thường có thói quen rụt cổ, khom lưng hoặc co hông… Những tư thế này tuy có lợi cho những công việc cụ thể nhưng do tư thế đơn điệu, một số cơ bắp nằm trong tình trạng co rút lâu, dễ dẫn đến mệt mỏi, thậm chí bị tổn thương.

Mỗi người ngay từ khi còn trẻ nên chú ý uốn nắn, sửa chữa tư thế làm việc sinh hoạt cho đúng. Đối với những người không thể thay đổi tư thế do tính chất công việc, giữa giờ làm việc nên nghỉ ngơi, thư giãn, làm một số động tác ngược với tư thế làm việc.

Chẳng hạn, với người làm việc thường xuyên khom lưng thì nên duỗi thẳng lưng, đối với người làm việc xoay hướng bên phải thì trong lúc nghỉ nên làm động tác xoay hướng về bên trái.

Khi thay đổi tư thế nên thực hiện từ từ, không được thay đổi đột ngột. Khi bị trẹo lưng cần phải làm động tác xoay lưng nhẹ nhàng trong phạm vi có thể. Nếu cần thiết có thể đến bác sĩ để khám và điều trị, không nên xoa nắn lưng một cách tùy tiện.

Uống thuốc không phải là phương pháp tốt nhất trong việc phòng ngừa đau lưng. Một phương pháp khác có thể phòng ngừa đau lưng là tập luyện đi lùi.

Tuy nhiên, khi tập luyện phải chọn nơi địa hình bằng phẳng, rộng rãi, tốt nhất là có hai người cùng tập luyện và cần phải kiên trì tập trong một thời gian dài. Thời gian và cường độ luyện tập phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe của bản thân, nên tiến hành tuần tự từ thấp lên cao, từ ít đến nhiều.

BS. Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Đau lưng: Đề phòng thoát vị đĩa đệm

Trong các nguyên nhân gây đau lưng do căng cơ thắt lưng, hẹp ống sống, viêm khớp cột sống thắt lưng, trượt đốt sống, loãng xương thì thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân thường gặp nhất.

dau_lung_de_phong_thoat_vi_dia_dem

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm có tác dụng như một miếng đệm giữa hai đốt sống. Khi bị chấn thương hoặc do tiến trình thoái hóa tự nhiên, đĩa đệm bị trượt ra ngoài chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống và gây đau.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm rất đa dạng. Thứ nhất là do các chấn thương cột sống. Thứ hai là do tư thế xấu trong lao động. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh.

Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cột sống. Hơn 90% thoát vị đĩa đệm xảy ra ở cột sống thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm nếu không điều trị có thể khiến người bệnh bị tàn phế suốt đời do bị liệt, có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ…

dau_lung_de_phong_thoat_vi_dia_dem_02

Dấu hiệu nhận biết

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Phần lớn thoát vị đĩa đệm là ở vùng thắt lưng. Triệu chứng điển hình gồm đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân đến mặt lòng bàn chân đến ngón út mặt lưng bàn chân đến ngón cái. Hoặc đôi khi triệu chứng không điển hình như chỉ tê hoặc mỏi ở cẳng chân, đùi hay đau ở vùng bẹn. Trong một số trường hợp nặng có thể bị yếu liệt chân, teo cơ hoặc rối loạn tiêu tiểu.

Điều trị thoát vị đĩa đệm thế nào?

Hiện nay, điều trị thoát vị đĩa đệm bao gồm điều trị bảo tồn và các phẫu thuật can thiệp. Điều trị bảo tồn bao gồm: nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau, kháng viêm không steroide (NSAIDS), vật lý trị liệu… Khi điều trị bảo tồn không đáp ứng – từ 6 tuần đến 6 tháng – có thể thực hiện các phẫu thuật can thiệp.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cũng như xu hướng can thiệp tối thiểu bảo tồn cấu trúc giải phẫu học bình thường, hiện nay phương pháp phẫu thuật nội soi cột sống lấy nhân thoát vị là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn. Ưu điểm của phương pháp này là không có sự can thiệp nhiều đến cơ, xương khớp hoặc lôi kéo thần kinh ở cổ, những nguy cơ của hàm xương, không có nguy cơ để lại sẹo sau mổ của thần kinh. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân vẫn còn khoảng 98% chiều cao của đĩa đệm. Quá trình diễn biến sau phẫu thuật bệnh nhân cảm thấy giảm đau ngay tức thì, có thể đi lại được trong ngày và có thể tập vật lý trị liệu ở nhà. Hầu hết bệnh nhân được vận động bình thường có thể bắt đầu lại trong vòng 1 đến 6 tuần sau phẫu thuật.

Bác sĩ   Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Những cái đau cần được chú ý

Trong cuộc sống chúng ta sẽ phải gặp những cơn đau. Điều đáng nói là có 7 loại đau không nên bỏ qua mà phải đến gặp bác sĩ ngay.

1. Đau đầu nhiều nhất từ trước đến nay

Hãy đi khám bệnh ngay. “Nếu bạn bị cảm lạnh, có thể là cơn đau đầu do xoang”, bác sĩ Sandra Fryhofer, của trường đào tạo bác sĩ của Hoa Kỳ nói: “Bạn có thể bị xuất huyết não hoặc u não. Với bất kỳ cơn đau nào, nếu bạn không biết chắc nguyên nhân, hãy đi kiểm tra”.

Theo bác sĩ Sharon Brangman, Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ, nếu ai đó nói họ bị đau đầu nhiều nhất từ trước đến nay, đó là dấu hiệu  kinh điển của  chứng phình động mạch não.  Hãy đi đến bệnh viện ngay”.

2. Đau hoặc khó chịu ở ngực, họng, hàm, vai, tay  hoặc bụng

Đau ở ngực có thể bị viêm phổi hoặc một cơn đau tim. Nhưng nên lưu ý các bệnh tim thường biểu hiện điển hình là khó chịu chứ không phải đau. Bác sĩ chuyên về tim mạch Jerome Cohen nói: “Bệnh nhân tim nói về áp lực. Họ nắm  chặt tay và đặt nó lên ngực  hoặc nói giống như có con voi ngồi trên ngực họ”.

dau_can_duoc_chu_y_01

Đau ở ngực có thể bị viêm phổi hoặc một cơn đau tim.

Sự khó chịu liên quan đến bệnh tim có thể xảy ra  ở vùng ngực trên, họng, hàm, vai hoặc tay bên trái, hoặc bụng và có thể kèm theo ói. “Tôi không lo lắng quá nhiều với người 18 tuổi, nhưng nếu một người có cảm giác khó chịu, dai dẳng không giải thích được và biết rằng họ có nguy cơ cao, họ không nên chờ đợi”, Cohen cho biết. “Thông thường mọi người  hay trì hoãn bởi vì họ hiểu sai nó như chứng ợ nóng hoặc đau đường ruột. Hãy gọi cấp cứu hoặc đến phòng cấp cứu hoặc văn phòng của bác sĩ. Nếu nó được chẩn đoán không phải cơn đau tim, đó là tuyệt vời”.

Khó chịu liên tục cần được quan tâm và thực hiện  đúng. Có thể có khó chịu, như khó chịu liên quan đến sự phấn khích, rối loạn xúc cảm, hoặc gắng sức. Ví dụ. Nếu bạn khó chịu khi bạn đang làm vườn, nhưng nó hết khi bạn ngồi xuống, đó là đau thắt ngực. Nó là thường nặng hơn trong lạnh hoặc thời tiết nóng.

“Các dấu hiệu khó chịu của người phụ nữ có thể tinh tế hơn”, ông Cohen, Trường Y Đại học Tổng hợp Saint Louis, nói: “Bệnh tim có thể giả do các triệu chứng tiêu hóa, như đầy hơi,  đau đường ruột, hoặc các khó chịu ở bụng.  Những bệnh này cũng làm cho cảm thấy mệt mỏi. Nguy cơ mắc bệnh tim gia tăng đáng kể sau khi mãn kinh. Nó giết chết phụ nữ nhiều hơn nam giới mặc dù người đàn ông được cho là có nguy cơ cao hơn phụ nữ ở bất cứ độ tuổi nào. Phụ nữ và bác sĩ của họ cần phải  luôn luôn  cảnh giác”.

3. Đau ở vùng lưng dưới hoặc ở giữa 2 bả vai

“Hầu hết thường là do viêm khớp”, Brangman, giáo sư và là Trưởng khoa Lão tại Đại học Y SUNY Upstate ở Syracuse New York, nói.  Những khả năng khác bao gồm cơn đau tim hoặc các vấn đề bụng. Ngoài ra, những người có nguy cơ là những người mắc các bệnh: huyết áp cao, bệnh sử của các vấn đề tuần hoàn máu, hút thuốc lá và đái tháo đường”.

dau_can_duoc_chu_y_02

Đau ở vùng lưng dưới hoặc ở giữa 2 bả vai có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp

4. Rất đau vùng bụng

Bạn vẫn còn ruột thừa? Không nên đùa cợt với khả năng bị bể ruột thừa. Các vấn đề về túi mật và tuyến tụy, loét dạ dày và tắc nghẽn đường ruột là một số nguyên nhân có thể khác có đau bụng cần được quan tâm.

5. Đau bắp chân

Một trong những mối nguy hiểm ít được biết đến là huyết khối tĩnh mạch sâu một cục máu đông có thể xảy ra ở các tĩnh mạch sâu của chân. Nó ảnh hưởng đến 2 triệu người Mỹ một năm, và nó có thể đe dọa tính mạng.

Mối nguy hiểm là một mảnh của cục đông máu có thể bể ra và gây ra thuyên tắc phổi và có thể gây tử vong”, ông Fryhofer nói. Ung thư, béo phì, ít vận động, do thời gian dài nghỉ ngơi trên giường hoặc đi du lịch đường dài, mang thai và tuổi cao là các  yếu tố nguy cơ.

Nếu bạn bị sưng và đau ở  các cơ bắp chân của bạn,  hãy đi khám bác sĩ ngay lập tức.

6. Bị nóng bàn chân hoặc cẳng chân

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, gần một phần tư của 27 triệu người  Mỹ mắc bệnh đái tháo đường chưa được chẩn đoán. Một số người không biết họ bị bệnh đái tháo đường, bệnh lý thần kinh ngoại biên có thể là dấu hiệu đầu tiên”, ông Brangman nói. “Đó là cảm giác nóng bỏng hoặc châm kim ở bàn chân hoặc cẳng  chân. Dấu hiệu này cho biết có tổn thương thần kinh”.

7. Đau mơ hồ, kết hợp hoặc đau không thể giải thích  theo y khoa

“Các triệu chứng đau  thực thể  khác nhau, thường gặp trong trầm cảm”, bác sĩ tâm thần Thomas Wise nói. “Bệnh nhân sẽ có than phiền mơ hồ đau đầu, đau bụng, hoặc đau chân tay, đôi khi  đau phối hợp.

Bởi vì các cơn đau có thể là mãn tính và không làm suy nhược kinh khủng khiến gia đình của họ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể bỏ qua những triệu chứng. “Hơn nữa, bạn càng bị trầm cảm, bạn càng khó khăn để mô tả cảm xúc của mình”, ông Wise, Chủ tịch khoa Tâm thần tại Bệnh viện Inova Fairfax ở Fairfax, bang Virginia  nói.

Các triệu chứng khác cần phải đưa ra  trước khi  có thể chẩn đoán trầm cảm.

Ông cho biết thêm có nhiều tác hại trầm cảm hơn là sự suy giảm chất lượng cuộc sống: “Trầm cảm phải được điều trị tích cực trước khi nó gây ra những thay đổi cấu trúc trong não”.

Theo 24h

Phòng tránh đau lưng ở người cao tuổi

Đau lưng là một căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, do thói quen xấu gây nên như: đi, đứng, nâng nhấc hoặc lôi kéo sự vật không đúng cách, đưa tới nguy cơ tổn thương cho các thành phần của lưng. Khoảng  80% các trường hợp đau lưng có thể phòng ngừa được nếu ta để ý một chút hoặc nếu nếu ý thức phòng bệnh.

phong_tranh_dau_lung_o_nguoi_cao_tuoi

Nguyên nhân gây đau lưng

Thường có ba nguyên nhân chính:

– Căng cơ bắp, dây chằng gặp ở một số người như:  béo phì,  người cao tuổi ít vận động, nâng mang vật nặng mà lại dùng sức mạnh của lưng, tư thế không ngay thẳng, xúc động mạnh…

– Thoái hoá đĩa đệm.

– Viêm mặt khớp xương.

Ngoài ra, bị chấn thương, u bướu, viêm nhiễm cột sống, nằm ngủ trong tư thế bất thường hoặc nệm quá mềm cũng là nguy cơ gây đau lưng.

Cách phòng tránh

Đối với người cao tuổi nên phòng ngừa bằng cách hỗ trợ hoặc giúp tránh các căng giãn không cần thiết cho cơ bắp và cũng để tăng cường sức mạnh cho các bắp thịt hỗ trợ cột sống.

Người cao tuổi cần ngủ trên nệm cứng; nằm nghiêng, đầu gối co hoặc khi nằm ngửa thì lót gối dưới khuỷu chân. Gối cao vừa phải để đầu và mình ngang bằng.

Đối với người cao tuổi cần chú ý khi mang vật nặng, không nên khom lưng xuống để nhấc vật đó lên, mà ngồi xuống, hai tay ôm cầm vật đó rồi từ từ đứng lên qua sức mạnh của đầu gối, như vậy tránh được sự tổn thương cho lưng. Khi vật nặng nằm ở trên bàn, ta có thể ôm vào bụng hay quay lưng ôm đồ vật vào lưng để mang đi.

Đặc biệt với người lớn tuổi cần tập thế khi đứng, bụng thót phẳng, hướng xương chậu về phía sau sẽ giúp phần dưới của cột sống vững hơn. Nếu cần đứng lâu thì đặt một chân lên vật cao khoảng hai tấc để ngả xương chậu về phía sau. Ngồi lâu gây nhiều khó chịu cho lưng, vì thế nên đứng dậy, đi qua đi lại, thư giãn xương lưng. Tránh ngồi trên nệm ghế quá mềm.

Tập thể dục với các cử động làm thư giãn khớp xương và bắp thịt, tăng cường sức mạnh cho bắp thịt, dây chằng ở lưng. Buổi sáng ngủ dậy, trước khi bước ra khỏi giường nên tập các cử động vẹo người qua lại để thư giãn lưng. Vì sau thời gian dài ngủ xương khớp, bắp thịt cứng lại, nếu đứng dậy ngay có thể té ngã, gây tổn thương cho lưng và các phần khác của cơ thể.

Không hút thuốc lá, giảm cân nếu béo, vì béo phì làm mô mềm ở lưng căng cương.

Theo SKDS

Chữa bệnh nghề nghiệp dành cho giáo viên

 Nghề giáo là nghề vinh dự và vô cùng quan trọng. Do vậy, các nhà giáo cần thường xuyên chăm lo đến sức khỏe mới có thể đảm đương được nhiệm vụ vẻ vang của mình. Tuy nhiên, trong cuộc đời dạy học, có nhiều chứng bệnh mang tính nghề nghiệp luôn bám đuổi các nhà giáo, trong đó phải kể đến các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, xương khớp và mắt. Sau đây là một số phương thuốc chữa trị để các thầy cô có thể áp dụng khi cần.

Khản tiếng, viêm họng, ho…

Vẫn là cái bệnh cố hữu mà thầy, cô giáo nào cũng thường mắc. Do phải nói, phải giảng bài, thậm chí phải nói to hàng giờ, hàng buổi và hàng ngày liền, các dây thanh âm bị căng ra, bị nóng lên… rồi dẫn đến đau họng, khản tiếng, nặng hơn sẽ bị ho, đờm… và viêm phế quản…

Hãy khắc phục tình trạng này ngay từ đầu bằng cách ngậm một số vị thuốc mang tính kinh điển, dễ kiếm, dễ dùng như ô mai, kha tử… Riêng kha tử nên thái lát mỏng, ngậm và nuốt nước dần dần. Đồng thời uống nước hãm của quả la hán hoặc lá cam thảo dây với lá húng chanh.

Nếu bệnh có chiều hướng tăng lên: ho nhiều, đờm nhiều, đôi khi khó thở… Dùng phương: mạch môn, huyền sâm, mỗi vị 12g, bối mẫu, mẫu đơn bì, bạch thược, mỗi vị 6g, bạc hà 4g, cam thảo 8g, sinh địa 16g. Sắc uống ngày một thang, uống 3 lần, trước bữa ăn 1 – 2 giờ. Có thể uống nhiều thang cho đến khi các triệu chứng thuyên giảm.

Nếu ho nhiều kèm theo sự suy giảm về thể lực, người háo khát, da dẻ xanh gầy, hay hoa mắt, chóng mặt, đau đầu… Dùng phương: bách hợp, mạch môn, mỗi vị 10g, thục địa 12g, đương quy, bạch thược, huyền sâm, cát cánh, mỗi vị  8g, cam thảo 6g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần, sau bữa ăn 1 – 2 giờ.

cac-phuong-thuoc-chua-benh-nghe-nghiep-nha-giao-1

Thị lực giảm, mắt mờ dần
Người xưa nói “giàu hai con mắt…” quả không sai! Thị lực giảm, mắt mờ dần cũng là cái chứng vô tình cứ đi theo các nhà giáo. Thật vậy, hằng ngày, nhiều khi cả ngày lẫn đêm, các thầy, cô phải soạn bài, chấm bài, giảng bài… đôi mắt phải thường xuyên tập trung cao độ vào các con chữ. Đôi mắt các thầy, cô cứ theo ngày tháng mà mờ đi. Để hạn chế nó, làm chậm lại quá trình giảm thị lực, có thể hằng ngày uống nước hãm 10 – 12g thảo quyết minh. Thảo quyết minh, tức hạt muồng ngủ, đem sao cho đen đi để có mùi thơm tựa cà phê, hãm uống.

Hoặc dùng phương: thục địa 16g, sơn thù du 8g, mẫu đơn bì, hoài sơn, bạch phục linh, trạch tả, mỗi vị 6g, câu kỷ tử, cúc hoa, mỗi vị 4g. Sắc uống, ngày một thang, trước bữa ăn; hoặc tăng mỗi vị lên 10 lần về khối lượng. Tán mịn, thêm mật ong làm hoàn, mỗi lần uống 10 – 12g, ngày 2 – 3 lần, sẽ tốt cho các trường hợp thị lực giảm dần, mắt sợ ánh sáng, ra gió chảy nước mắt, hoa mắt, chóng mặt. Trong trường hợp, mắt khô sáp, sợ ánh sáng, mắt mờ như có màng che, ra gió cũng chảy nước  mắt, thì gia thêm vào phương thuốc trên các vị: đương quy, bạch thược, bạch tật lê, thạch quyết minh, mỗi vị 6g. (Cách dùng như trên).

Đau lưng, đau xương cốt

Do phải đứng nhiều để giảng bài, ít vận động, chứng đau lưng, đau xương cốt, cơ thể thường xuyên mệt mỏi cũng rất phổ biến, nhất là đối với các cô giáo và các nhà giáo đứng tuổi. Dùng phương: cẩu tích, cốt toái bổ, tục đoạn, đau xương, đỗ trọng, trần bì, ngưu tất, độc hoạt, tần giao, phòng phong, mỗi vị 12g, đương quy, đảng sâm, hoàng kỳ, bạch thược, cam thảo,  mỗi vị  10g, cam thảo 6g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần, uống trước hoặc sau bữa ăn 1 – 2 giờ. Có thể uống liền 3 – 4 tuần.

Với những người uống được rượu, có thể gia thêm vào mỗi thang trên các vị huyết giác, hà thủ ô đỏ, ba kích, mỗi vị 12g, xuyên khung 8g. Tất cả cắt thành miếng nhỏ, hoặc tán thành bột thô. Ngâm với 1,5 lít rượu 30 – 350 khoảng 3 – 4 tuần là có thể uống được. Uống ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 30 – 50ml, trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.

Táo bón mạn tính
Trong YHCT, tạng phế và phủ đại tràng có quan hệ biểu lý, có nghĩa là bệnh của tạng phế ảnh hưởng trực tiếp đến phủ đại tràng và ngược lại. Ở đây, do điều kiện công việc của các nhà giáo, phải ngồi nhiều, làm nhu động ruột giảm, phải nói nhiều làm cho phế háo. Cả hai yếu tố này đều có cơ hội dẫn đến chứng táo bón mạn tính cho các nhà giáo. Để tránh được chứng bệnh này, nên có động tác xoa bụng theo chiều kim đồng hồ, ngày vài ba lần, mỗi lần 36 lượt; kết hợp với các động tác ngồi xổm, rồi đứng lên, ngày làm vài ba lần, mỗi lần 36 lượt; hoặc kết hợp động tác gập lưng, bụng cũng rất tốt cho việc cải thiện tình trạng táo bón.

Cần lưu ý, khi tiến hành các động tác nói trên, cần kết hợp với việc hít – thở sâu. Có như vậy mới phát huy được mối quan hệ của tạng phế với phủ đại tràng. Song song có thể dùng hạt thảo quyết minh sao vàng, hãm uống, ngày 10 – 12g. Nghĩa là chỉ đem hạt thảo quyết minh rang cho đến khi hạt vừa nổ hết tiếng lép bép, để bên ngoài hạt có màu vàng là được.

Nếu táo bón quá nặng, đại tiện khó khăn, thậm chí có thể đau đớn, phát sốt. Dùng phương: đại hoàng, chỉ thực, hậu phác, mỗi vị 12g, mang tiêu 16g. Đem 3 vị thảo dược trên sắc lấy nước rồi hòa tan mang tiêu vào, uống, ngày một thang, trước bữa ăn 1 – 2 giờ. Nếu đại tiện kèm theo chảy máu, thêm vào thang thuốc trên 2 vị hoa hòe và trắc bách diệp, mỗi vị 4g, đều sao cháy. Nếu táo bón nhẹ, có thể đem phương thuốc trên bỏ vị mang tiêu, sắc uống ngày một thang. Uống liền nhiều thang, tới khi hết các triệu chứng.

PGS. TS. PHẠM XUÂN SINH

Theo SKDS