Tag Archives: đau khớp

Bí quyết giúp con tránh xa béo phì và các nguy cơ

Vô hình trung, chúng ta đang lấy sự tròn trịa, mập mạp của bé để làm thước đo trình độ nuôi con của mẹ cũng như sức khỏe của bé. Và để phấn đấu nuôi con giỏi, khỏe mạnh, nhiều bà mẹ đã chăm chút, thúc ép con ăn và tìm mọi cách cho bé tăng cân nhanh. Tuy nhiên, mẹ có biết, việc tăng cân nhanh và thừa cân về lâu về dài sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bé.

Từ mũm mĩm đến béo phì

Rất nhiều người mẹ có con bị thừa cân mà không biết và có những mẹ vẫn mong muốn con mình tăng cân dù bé đã thừa cân như trường hợp của chị Nhi kể trên. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng số lượng trẻ em thừa cân, béo phì tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM gia tăng đáng báo động. Trong khi đó, các chuyên gia dinh dưỡng luôn cảnh báo rằng, tình trạng tăng cân nhanh dễ dẫn đến béo phì – một căn bệnh rất khó điều trị ở trẻ nhỏ (khó hơn cả điều trị cho những trẻ bị suy dinh dưỡng), đồng thời béo phì còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho sức khỏe hiện tại và cả khi trưởng thành.

bi-quyet-giup-con-tranh-xa-beo-phi-va-cac-nguy-co1

Đến dậy thì sớm và những nguy cơ sức khỏe khác

Các nhà nghiên cứu dinh dưỡng tại Châu Âu và Mỹ đã chỉ ra rằng, trẻ thừa cân ngay từ những năm mẫu giáo thì khi bước vào độ tuổi dậy thì sẽ dễ mắc bệnh béo phì với nguy cơ cao gấp 4 lần. Và mới đây, Trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh tật Mỹ cũng cảnh báo thêm về những tác hại âm thầm như:

– Dậy thì sớm ở các bé gái do sự gia tăng của hóc-môn leptin là nội tiết tố được sản xuất bởi các tế bào chất béo của cơ thể. Những nghiên cứu tại các nước phát triển cho thấy trẻ thừa cân béo phì sẽ dậy thì sớm vào năm 7-8 tuổi với biểu hiện như ngực phát triển, xuất hiện kinh nguyệt sớm.

– Tăng áp lực quá nhanh đối với hệ xương khớp còn non nớt của bé, dẫn đến nguy cơ biến dạng khớp, đau khớp, cong chân (chân vòng kiềng).

– Mắc bệnh sỏi thận do trẻ thừa cân, béo phì dẫn đến ít vận động, uống ít nước và gây ra sỏi.

– Nguy cơ tiểu đường tuýp 1 và 2 vì cơ thể tích trữ nhiều chất béo và gây cản trở việc điều tiết lượng insulin (loại hóc-môn điều hòa lượng đường huyết) trong cơ thể.

bi-quyet-giup-con-tranh-xa-beo-phi-va-cac-nguy-co

Vì vậy, từ nay, mẹ nên có cách nhìn khoa học, đúng đắn hơn về cân nặng của bé. Hãy luôn duy trì cho conmức cân nặng hợp lý với chiều cao và độ tuổi, thậm chí khi bé roi roi nhưng vẫn năng động, khỏe mạnh thì mẹ cũng không nên quá lo lắng. Lời khuyên sau đây của Tiến sĩ Eneli tại Đại học Emory, Mỹ và cũng là người chuyên nghiên cứu về các vấn đề béo phì ở trẻ em sẽ rất có ích cho bạn: “Điều mà tôi muốn nhắn nhủ các bậc phụ huynh rằng bạn hãy nuôi con theo lối sống lành mạnh, hướng dẫn con có thói quen tốt đối với thức ăn và điều quan trọng mà bạn cần ý thức là không bao giờ là quá sớm để hướng dẫn con bạn ăn uống hợp lý, cân bằng và khỏe mạnh”.

Bí quyết giúp con tránh xa béo phì và các nguy cơ

Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp bạn đánh giá cân nặng của con mình, kịp thời nhận biết, sớm can thiệp việc tăng cân quá nhanh và giúp con tránh thừa cân:

– Theo dõi sức khỏe về mức độ tăng cân qua từng tháng của bé.

– Tập cho con thói quen tốt trong ăn uống, ttôn trọng cảm giác no của bé và không nên cố ép con ăn thêm.

– Không chiều theo sở thích ăn uống lệch của bé – chỉ thích ăn những món nhất định – như váng sữa, phô-mai, các món rán (chiên), nước ngọt…

-Với trẻ đến tuổi ăn dặm, việc lưu ý tỷ lệ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày ¼ trái cây, ¼ rau củ quả, ¼ ngũ cốc, ¼ thực phẩm giàu đạm (thịt, cá, trứng…) là rất quan trọng vì hiện nay có nhiều mẹ chú trọng cho con ăn nhiều thức ăn giàu năng lượng (chất béo hoặc đường bột) nhưng thiếu rau, trái cây.

– Khuyến khích và cùng con tham gia các hoạt động thể chất vì đây phương pháp hiệu quả nhất giúp bé chống thừa cân, béo phì.

Thấu hiểu và nắm được căn bản vấn đề của con, mẹ từ nay sẽ không còn lo những bữa ăn thiếu cân bằng về dưỡng chất cũng như hạn chế được nguy cơ thừa cân, béo phì đang rình rập.

Nguồn afamily

Đề phòng bệnh lỵ trực khuẩn

Bệnh lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa, do vi khuẩn Shigella gây ra. Bệnh nhân bị tiêu chảy nhiều lần, phân có nhầy, máu. Hậu quả là bệnh nhân bị mất nước và muối, dẫn đến hôn mê và tử vong. Tính chất nguy hiểm của lỵ trực khuẩn là có thể lây thành dịch. Mùa hè ruồi nhặng phát triển nhiều nên nguy cơ lây nhiễm bệnh càng cao.

Lỵ trực khuẩn lây qua đường tiêu hóa
Người là nguồn lưu giữ mầm bệnh duy nhất, gồm các đối tượng: bệnh nhân đang mắc bệnh thể cấp, thể mạn tính; người lành mang vi khuẩn. Trong đó bệnh nhân mắc bệnh lỵ cấp tính là nguồn lây bệnh nguy hiểm nhất, vì họ thải một khối lượng lớn phân chứa vi khuẩn ra ngoài. Song chúng ta cũng thiếu cảnh giác với những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, nên không cách ly họ, không chẩn đoán và điều trị sớm, nên họ cũng là nguồn làm lây bệnh mà ít ai biết đến. Bệnh nhân mắc lỵ mạn tính, thường là trẻ em, cũng là nguồn gieo rắc mầm bệnh ở thời kỳ bộc phát.

Bệnh lỵ trực khuẩn lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua đường tiêu hóa. Lây trực tiếp là lây từ bệnh nhân sang người lành, thông qua bàn tay nhiễm khuẩn. Lây gián tiếp là lây qua thức ăn, nước uống. Các loại côn trùng như ruồi, nhặng, gián, thạch sùng… làm lây bệnh từ bệnh phẩm sang thức ăn. Mọi người đều có thể lây bệnh, trong đó trẻ em và người già dễ mắc bệnh lỵ nặng, dễ tử vong.

Nhiều thể bệnh lỵ trực khuẩn

de-phong-benh-ly-truc-khuan
Một người bị nhiễm vi khuẩn lỵ, thì thời gian ủ bệnh từ 1 – 7 ngày, sẽ phát bệnh một cách đột ngột, với 2 hội chứng: nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ. Hội chứng nhiễm khuẩn gồm các triệu chứng: sốt cao 38 – 39oC, rét run, nhức đầu, mệt mỏi, đau lưng, đau khớp, ở trẻ em có thể có cơn co giật, chán ăn, khát nước, đắng miệng, buồn nôn hoặc nôn. Hội chứng lỵ. gồm các triệu chứng: đau bụng, ban đầu đau âm ỉ quanh rốn, sau đau lan ra khắp bụng, cuối cùng là những cơn đau quặn bụng ở hố chậu trái. Các cơn đau quặn bụng làm bệnh nhân mót rặn muốn đi đại tiện ngay. Mới đầu phân sệt, sau loãng, rất thối, lẫn với nhầy và máu. Hoặc phân nhầy nhiều, thường đục nhờ nhờ, có khi phân vàng đục như mủ, máu sẫm như máu cá, nhầy và máu hòa loãng với nhau không có độ bám dính. Hội chứng lỵ có thể diễn ra từ 5 – 10 ngày hoặc hơn.

Trên thực tế người ta phân chia bệnh lỵ thành các thể bệnh như sau:
Thể nhẹ : bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn nhẹ hoặc không rõ, thân nhiệt 37,5 – 38oC, hơi mệt, có hội chứng lỵ : đau quặn bụng, đi ngoài dưới 10 lần/ngày, bệnh nhân phục hồi trong vòng 1 tuần.

Thể vừa: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn và hội chứng lỵ điển hình. Sốt 38 – 40oC kéo dài từ 1 – 4 ngày, đau đầu, mệt mỏi, mạch nhanh, huyết áp hạ. Đi tiêu chảy từ 15 – 20 lần/ngày, kèm theo dấu hiệu mất nước, với biểu hiện khát nước, môi khô. Điều trị tốt, bệnh nhân sẽ phục hồi sau 7 – 14 ngày.

Thể nặng: hội chứng nhiễm khuẩn rõ rệt, kéo dài hơn 1 tuần. Hội chứng lỵ: đau quặn bụng dữ dội, mót rặn kèm mót đái không kìm được, đi tiêu chảy trên 30 lần/ngày, có khi không đếm được. Bệnh nhân bị mất nước, rối loạn điện giải, kiệt sức, nằm đại tiện tại chỗ, hậu môn mở rộng, phân tự chảy, mắt trũng, mặt hốc hác, mạch nhanh yếu, tiếng tim mờ, huyết áp hạ, thở gấp, li bì, ngủ gà, có thể tử vong sau 3 – 7 ngày. Nếu điều trị thì sự phục hồi chậm và dễ biến chứng.

Ở trẻ dưới 1 tuổi, ngoài những thể cấp như trên, còn gặp thể rất nhẹ, kín đáo, như rối loạn tiêu hóa: phân loãng, không sốt. Thể bệnh lỵ mạn tính: bệnh có những thời kỳ bột phát và thuyên giảm xen kẽ.

Thể dạ dày ruột cấp: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, nôn nhiều lần, phân loãng, không có nhầy máu, đau bụng lan tỏa, sau đó bệnh có thể diễn biến như thể lỵ điển hình.

Thể tối độc: bệnh nhân đi ngoài nhiều, phân có nhầy mủ, có khi toàn máu, có thể tử vong trong vài ngày đầu do hôn mê, trụy tim mạch.

Ở người cao tuổi, có thể bệnh lỵ kéo dài không còn giai đoạn thuyên giảm, bệnh càng ngày càng nặng, toàn thân suy sụp dần, rối loạn tiêu hóa nặng, thiếu vitamin, thiếu máu.

Phương pháp điều trị
Điều trị bệnh lỵ trực khuẩn cần phải cách ly bệnh nhân, dụng cụ đều phải dùng riêng. Bù nước và điện giải là biện pháp hàng đầu trong điều trị lỵ trực khuẩn. Thể vừa, bù dịch và điện giải bằng cách uống dung dịch oresol. Thể nặng cần truyền dịch. Trợ lực dùng vitamin B1, C. Chống đau bụng bằng cách chườm nóng, ngâm mông trong nước ấm để chống đau rát hậu môn. Thuốc có thể dùng gồm: kháng sinh như loại cephalosporin thế hệ 3 (Ceftriaxon), Quinolone thế hệ 1 (Acid nalidixic) hoặc ciprofloxacine, ofloxacine rất hiệu quả. Về chế độ ăn: bệnh nhân chỉ hạn chế trong một vài ngày đầu, sau đó cần trở lại chế độ ăn bình thường từ ngày thứ ba, thứ tư trở đi. Bệnh nhi là trẻ còn bú, vẫn cho bú như thường lệ. Nếu trẻ đang bú sữa bình vẫn cho bú bình thường, không hạn chế số lần uống, số lượng sữa. Đối với trẻ lớn và người lớn, trong vài ngày đầu ăn cháo ninh nhừ, nấu với thịt. Sang ngày thứ ba, thứ tư nên ăn cháo đặc với thịt, trứng, khoai tây nghiền, sữa chua, sau đó ăn cơm nát, thịt nạc luộc, uống nước hoa quả. Nên tránh thức ăn nhiều bã, thảo mộc khô.

Phòng bệnh

de-phong-benh-ly-truc-khuan1
Biện pháp quan trọng nhất là phát hiện sớm, cách ly điều trị bệnh nhân lỵ cấp. Bảo vệ người lành: cần theo dõi 7 ngày đối với người tiếp xúc với bệnh nhân. Thực hiện ăn chín uống sôi. Không ăn rau sống, không uống nước lã. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn uống, sau khi đi vệ sinh và tiếp xúc với các đồ vật.

Xử lý các chất thải của bệnh nhân bằng vôi sống 20%, nước vôi 10%. Đồ dùng, quần áo bệnh nhân phải được sát trùng hoặc ngâm Cloramin 2%. Dùng lồng bàn đậy kín thức ăn. Tích cực diệt ruồi, nhặng, gián…

Nguồn sức khỏe đời sống

Bong gân, dấu hiệu và cách xử trí

Khi chơi thể thao, lao động, sinh hoạt bình thường nếu không đúng tư thế rất dễ bị bong gân. Dây chằng là những dải băng dai và đàn hồi bám vào xương và giữ cho các khớp ở đúng vị trí. Bong gân là tổn thương dây chằng do sự kéo giãn quá mức gây ra. Dây chằng có thể bị rách hoặc có thể đứt lìa hoàn toàn.

Bong gân hay xảy ra nhất ở mắt cá chân, đầu gối hoặc cung bàn chân. Dây chằng bị bong sưng lên nhanh chóng và rất đau. Nói chung càng đau nhiều thì tổn thương càng nặng. Với phần lớn trường hợp bong gân nhẹ, bạn có thể tự điều trị.

bong-gan-dau-hieu-va-cach-xu-tri

Làm theo những hướng dẫn dưới đây:
– Bảo vệ để chi bị thương không bị tổn thương nặng hơn bằng cách không sử dụng khớp. Bạn có thể làm được điều này bằng cách sử dụng bất kì thứ gì từ nẹp cho đến nạng.

– Để chi bị tổn thương nghỉ ngơi. Tuy nhiên, không dừng hoàn toàn các hoạt động. Ngay cả với bong gân cổ chân, thì bạn vẫn có thể luyện tập các cơ khác thông thường để tránh mất điều hòa. Ví dụ, bạn có thể tập bằng xe đạp, hoạt động cả hai tay và chân không bị thương trong khi để bên cổ chân bị thương nghỉ ngơi trên một bên bàn đạp. Bằng cách này bạn vẫn có thể tập được 3 chi để giữ cho tim mạch điều hòa.

– Chườm đá vùng bị thương. Dùng khăn lạnh, khăn ướt hoặc túi chườm đổ đầy nước lạnh sẽ hạn chế sưng sau khi bị thương. Cố gắng chườm đá càng sớm càng tốt sau khi bị thương. Nếu bạn dùng đá, hãy cẩn thận không dùng quá lâu vì có thể gây tổn thương mô.

– Băng ép vùng bị thương bằng băng chun. Băng cuốn hoặc băng ống làm từ sợi chun hoặc neopren là tốt nhất.

– Nâng cao chi bị thương mỗi khi có thể để ngăn ngừa hoặc hạn chế sưng.

Hãy gọi cấp cứu nếu:
– Bạn nghe thấy tiếng khục khi khớp bị thương, hoặc bạn không thể cử động được khớp. Điều này có thể có nghĩa là dây chằng đã bị đứt hoàn toàn. Trên đường tới bác sỹ, hãy chườm lạnh.
– Bạn bị sốt, và vùng bị bong gân đỏ và nóng. Có thể bạn bị nhiễm trùng.
– Bạn bị bong gân nặng. Điều trị không thích hợp hoặc chậm trễ có thể làm khớp mất ổn định lâu dài hoặc đau mạn tính.
– Bạn không đỡ sau 2-3 ngày đầu.

Hãy cẩn thận hơn trong công việc hàng ngày hay lúc hoạt động thể lực sẽ giúp bạn giảm nguy cơ bị bong gân

Điều trị bệnh khớp gối bằng phẫu thuật nội soi

Khi bạn bị viêm khớp gối, bị dị vật vùng khớp gối, đau khớp do thoái hóa giai đoạn sớm… phẫu thuật nội soi là phương pháp có thể can thiệp những triệu chứng này.

Cấu tạo của khớp gối

Khớp gối bao gồm hai mặt khớp đó là mặt khớp lồi cầu đùi và mâm chày và mặt khớp giữa lồi cầu đùi và bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi và mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày nhằm mục đích giảm sốc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc trong quá trình vận động.

Mặt khác sụn chêm còn có tác dụng giữ cho khớp gối được vững vàng khi vận động. Có hai sụn chêm gồm sụn chêm trong và ngoài nằm trong khoang khớp gối trong hay ngoài.

dieu-tri-benh-khop-goi-bang-phau-thuat-noi-soi

Khớp gối được giữ vững nhờ hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nằm bên trong khớp gối. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài.

Toàn bộ khớp gối được bao phủ bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp với lượng vừa đủ để bôi trơn quá trình vận động của khớp gối giống như nhớt xe vậy. Tuy nhiên, màng hoạt dịch còn có tác dụng chống viêm nhiễm. một khi bị chấn thương hay do viêm nhiễm, bao hoạt dịch có thể bị dày lên, tiết nhiều dịch khớp làm khớp gối sưng lên. Bao hoạt dịch dày lên cũng làm cản trở thuốc ngấm vào khớp, làm giảm tác dụng điều trị.

Vai trò của phẫu thuật nội soi

Trong những thập niên gần đây, với sự phát triển của các ngành kỹ thuật, các dụng cụ phẫu thuật nhỏ và chính xác ra đời, trong đó phải kể đến ngành nội soi. Nội soi khớp gối là dùng một nguồn sáng lạnh đưa vào trong gối, thông qua 1 máy quay nhỏ (camera) toàn bộ hình ảnh trong khớp gối sẽ được trình chiếu trên 1 màn hình ti vi với một độ phóng đại nào đó. Phẫu thuật viên nhờ đó sẽ nhìn thấy rõ mọi cấu trúc nằm trong khớp gối.

Hình mổ nội soi khớp gối, một lỗ dùng cho camera, một lỗ khác dùng để cho dụng cụ vào thực hiện các thao tác phẫu thuật. nước muối sinh lí được dùng để bơm phồng khớp gối.

Một hoặc nhiều đường mổ nhỏ khác sẽ được tạo ra nhằm đưa các dụng cụ vào trong khớp gối để thực hiện các thủ thuật. Thuận lợi của loại phẫu thuật này là gây ra ít đau hơn do đường mổ nhỏ, thời gian hồi phục sớm hơn, và trong một số trường hợp chính xác hơn so với mổ hở. Càng ngày phẫu thuật nội soi khớp nói chung và khớp gối nói riêng càng có nhiều chỉ định. Đối với khớp gối, nội soi có thể dùng để hỗ trợ trong các trường hợp sau :

1. Dùng để chẩn đoán khi mà với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học không cho ra quyết định chính xác. Nội soi cho phép phẫu thuật viên nhìn thấy và “sờ” được các cấu trúc bên trong khớp gối do đó cho chẩn đoán chính xác. Nội soi dùng để kiểm chứng mức độ tin cậy của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh học khác.

dieu-tri-benh-khop-goi-bang-phau-thuat-noi-soi1

2. Phẫu thuật cắt sụn chêm hoặc khâu sụn chêm bị rách khi có chỉ định phẫu thuật. Cho đến nay người ta đã chứng minh rằng phẫu thuật cắt sụn chêm bằng nội soi có kết quả tốt hơn mổ hở.

Triệu chứng điển hình của rách sụn chêm trong khớp gối là đau khi đi đứng hoặc bị “kẹt” khớp gối nghĩa là bệnh nhân có thể gập gối nhưng không thể duỗi gối ra được và phải lựa thế để duỗi gối ra, đôi khi không thể duỗi gối ra và phải nội soi cấp cứu để cắt sụn chêm.

3. Phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước trong tổn thương đứt dây chằng chéo trước của gối. Đây là kỹ thuật dùng sợi gân bánh chè hoặc gân chân ngỗng để thay thế dây chằng chéo trước bị đứt (dây chằng chéo trước không có khả năng lành khi được khâu lại).

Triệu chứng của đứt dây chằng chéo trước trong khớp gối là đau hoặc mất vững khi đi. Khởi đầu là một chấn thương vùng gối đôi khi không nặng nhưng ở tư thế xoay, gối sưng lên, không thể gập gối hoặc rất đau khi gập gối. phim X- quang thường không phát hiện được gì và hay được chẩn đoán bong gân gối. thời gian sau, gối có thể được gập duỗi tốt nhưng bắt đầu xuất hiện triệu chứng đau hoặc mất vững, bệnh nhân hay bị “sụm” gối khi đi, lên xuống bậc thang khó khăn.

Khám lâm sàng thường phát hiện được với test Lachman hoặc jerk test. Chụp MRI thường cho phép khẳng định chẩn đoán nhưng không bắt buộc khi thăm khám đã thấy rõ triệu chứng. Đứt dây chằng chéo trước nếu không điều trị sẽ làm khớp gối mau bị hư và gây đau.

4. Nội soi hỗ trợ việc lấy các dị vật trong khớp gối như các mảnh sụn trong bệnh lí viêm sụn tách rời.

5. Trong các bệnh lí viêm khớp gối như viêm khớp dạng thấp làm cho các bao hoạt mạc dầy lên, khớp gối sưng to do tràn dịch, làm giảm tác dụng của thuốc kháng viêm, người ta dùng dụng cụ và với sự hỗ trợ của nội soi cắt bao hoạt mạc, cải thiện việc điều trị bằng thuốc kháng viêm.

6. Trong các gãy xương đơn giản vùng mâm chày hay bánh chè, với sự trợ giúp của nội soi, phẫu thuật viên có thể mổ nắn và kết hợp xương với độ chính xác cao do nhìn thấy trực tiếp mặt khớp.

7. Các trường hợp đau khớp gối do thoái hóa ở giai đoạn sớm, việc cắt các mảnh sụn, bao khớp bị rách do thoái hóa, bơm rửa khớp gối làm kéo dài thời gian không đau của khớp gối. có thể cấy ghép các tế bào sụn nuôi để phục hồi mặt khớp. Đây là phẫu thuật hứa hẹn mang nhiều cải thiện trong cuộc chiến chống lại sự thoái hóa mặt sụn khớp do tuổi già hoặc vì lí do nào đó như chấn thương… trước khi đi đến chỉ định thay khớp gối nhân tạo.

Nguồn khoa học

Điều trị viêm khớp bằng công nghệ mới

Viêm khớp là một trong những căn bệnh phổ biến ở người trung niên và lớn tuổi, triệu chứng là những cơn đau dai dẳng ở các khớp nối và tùy mức độ nặng nhẹ có thể dẫn đến tàn tật, thậm chí tử vong. Một số loại thuốc điều trị hiện nay phần lớn chưa thể giải quyết tận gốc căn bệnh, ngược lại thường gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, chẳng hạn như xuất huyết nội.

uy vậy, mối quan tâm này có thể được giải quyết với giải pháp điều trị mới bằng loại “mỡ nano” mang tên Flexiseq. Đây là dược phẩm không cần ghi toa đầu tiên áp dụng công nghệ nano với thành phần gồm những phân tử hình cầu có kích thước nano cấu tạo từ chất béo phospholipid tự nhiên có tính năng bôi trơn khớp nối. Khi áp dụng điều trị, bệnh nhân chỉ cần bôi nhẹ một lớp gel trên da là phân tử phospholipid có thể dễ dàng theo lỗ chân lông thấm đến khớp xương và bắt đầu nhiệm vụ bôi trơn thay thế cho loại dầu tự nhiên đã bị mất.

dieu-tri-viem-khop-bang-cong-nghe-moi

Khám viêm khớp

Theo kết quả thử nghiệm trên 4.000 người của Giáo sư Philip Conaghan thuộc Viện Thấp khớp và Y học cơ xương của Đại học Leeds (Anh), Flexiseq có tác dụng giảm đau và cải thiện cử động hiệu quả như các thuốc kháng viêm không steroid là aspirin và Celebrex. Phản ứng phụ duy nhất của Flexiseq là nó có thể khiến vùng da bôi gel ở một số bệnh nhân bị viêm nhẹ.

Với thành công như trên, giới y học tin tưởng cơ chế hoạt động của Flexiseq không chỉ giúp chữa đau khớp hiệu quả hay điều chế thuốc đặc trị viêm hay nhiễm trùng da, mà còn mở ra phương pháp mới đưa thuốc vào cơ thể không cần tiêm trong điều trị các bệnh khác, như tiểu đường hay ung thư.

Nguồn thanh niên

Đau khớp: càng kéo dài càng nguy hiểm

Sử dụng ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp không chỉ giảm các chứng đau nhức xương khớp mà còn khai thông tắc nghẽn, kích thích làm tăng các chức năng sinh lý của xương khớp một cách tự nhiên.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý về xương khớp thường gặp. Phát hiện sớm và chữa trị tích cực, đúng các bệnh sẽ có diễn biến tốt.
Trong số các bệnh lý về xương khớp thì viêm khớp dạng thấp là bệnh thường gặp. Bệnh làm biến dạng các khớp và gây khó khăn đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

Diễn tiến của bệnh bắt đầu từ biểu hiện đau, sưng một số khớp nhỏ ở cổ tay, bàn, ngón tay có tính đối xứng và di chuyển từ khớp này qua khớp khác. Ở người trẻ tuổi cũng có thể gặp viêm khớp dạng thấp nhưng chưa biến dạng, về già bị biến dạng thấy rõ ở các khớp bàn tay, ngón tay, cổ tay và thường có tính di truyền. Khi bệnh khởi phát lâu dài, nặng sẽ khó chữa trị, làm giảm khả năng vận động, có nguy cơ bị tàn phế.

Tay bình thường và tay bị viêm khớp

Tay bình thường và tay bị viêm khớp

Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính khó chữa dứt hẳn, việc điều trị dùng thuốc về lâu dài gây khó khăn cho bệnh nhân vì các loại thuốc điều trị viêm khớp tác dụng giảm đau, kháng viêm đi kèm là các tác dụng không mong muốn (phản ứng phụ) như càng uống càng đau, ảnh hưởng xấu đến tim mạch, huyết áp, tiêu hóa, dạ dày… Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, bệnh nhân cần có sự hiểu biết nhất định về loại thuốc thường dùng và cần sự tư vấn theo dõi của bác sĩ.

Bên cạnh đó, người bệnh phải có lòng kiên trì, kết hợp ứng dụng chế tiết dinh dưỡng và chế độ ăn uống hợp lý, thể dục, hoạt động khớp xương nhẹ nhàng nhất là vào buổi sáng để các khớp xương hoạt động trơn tru, giảm bớt co cứng cơ, tránh hiện tượng dính khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp để phục hồi nhanh hơn.

Đẩy lùi đau khớp không dùng thuốc

Phương pháp chữa bệnh bằng ánh sáng theo cơ chế ánh sáng đỏ có bước sóng thấp và hẹp 940nm (nanometre) của dòng quang phổ có tác dụng điều trị giảm đau các bệnh về khớp như: viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, giảm đau gout (thống phong), cứng cơ khớp của người già, vận động viên tập thể thao nặng, phục hồi khớp bị cứng…

Máy trị viêm khớp Biobeam 940 sử dụng ánh sáng đỏ có tác dụng đẩy lùi các chứng đau nhức xương khớp. Khi chiếu vào vùng đau, các tia sáng đỏ phân tán nhanh chóng tác động đến vùng đau làm giảm cơn đau nhức, khai thông tắc nghẽn, kích thích làm tăng các chức năng sinh lý của xương khớp một cách tự nhiên mà không hề gây ra nguồn nhiệt nào.

Ưu điểm của BioBeam 940 là không đau, kháng viêm và kích thích sinh học làm giảm sự can thiệp của y khoa, không sử dụng thuốc, không tương tác thuốc và không gây phản ứng phụ. BioBeam 940 sử dụng an toàn tuyệt đối khi điều trị tại nhà.

Máy trị viêm khớp BioBeam 940 đã được Cục Quản lý Dược và Thực Phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận, đạt tiêu chuẩn châu Âu CE 0473. Đăng ký  Bộ Y Tế Việt Nam theo giấy phép ĐKQC số 05/09/BYT-TB-TC.

Theo vietnamnet

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Phòng đau nhức khớp mùa lạnh ở người cao tuổi

Thời tiết chuyển mùa, nhất là khi trời lạnh là điều kiện thuận lợi cho các bệnh xương khớp xuất hiện, đặc biệt là ở người cao tuổi. Thời tiết lạnh thì hầu hết các khớp đã và đang bị bệnh đều đau nhức, tê, mỏi, khó chịu nhưng khớp gối, các khớp ngón tay, ngón chân thể hiện rõ nhất.

Nguyên nhân gây đau nhức khớp ở NCT

Thông thường, NCT bị đau nhức khớp là do khớp bị viêm mà họ không để ý hoặc biết nhưng chủ quan, xem thường, vì vậy không biết để chăm sóc khớp. Viêm khớp là hiện tượng đau nhức khủng khiếp ở các khớp, sưng nề, bầm, đi lại, cử động hoặc mỗi khi đụng vào rất đau. Các triệu chứng này thường xuất hiện và có thể đưa đến thoái hóa khớp. Hơn nữa, những người bị đau nhức khớp thường ngày đã bị các bệnh về khớp mạn tính (thoái hóa cột sống, thoái hóa sụn khớp, thoát vị đĩa đệm, viêm dây chằng, lao cột sống hoặc ung thư cột sống) hoặc đã, đang bị viêm khớp. Vì vậy, mỗi khi thời tiết thay đổi, gió mùa, áp thấp nhiệt đới bất thường, nhất là lạnh thì NCT có cảm giác khó chịu ở các khớp xương nhiều hơn. Nguyên nhân đau nhức khớp vào mùa lạnh là do không khí lạnh thâm nhập vào cơ thể qua đường da bởi các lỗ chân lông làm cho mạch máu tại các vùng da đó co lại, máu đến các khớp xương bị hạn chế hoặc rất ít nên thiếu máu nuôi dưỡng khớp, các màng hoạt dịch và sụn khớp bị kích thích, gây nên đau nhức. Ngoài ra, ở những NCT bị loãng xương cũng gây nên đau nhức xương khớp hoặc ở người thừa cân, béo phì cũng tác động xấu đến các khớp chịu lực. Các hiện tượng đó nếu không được khắc phục thì sẽ dần dần dẫn đến thoái hóa khớp, nhất là khớp chịu lực nhiều như khớp cột sống thắt lưng, khớp gối, khớp cổ chân. Đau nhức khớp chủ yếu do các màng hoạt dịch và sụn khớp thiếu máu đến nuôi dưỡng, bị kích thích cho nên các triệu chứng của các bệnh khớp càng ngày càng biểu hiện rõ ràng hơn.

phong-dau-nhuc-khop-ngay-lanh-cho-nguoi-cao-tuoi

Đau nhức khớp dẫn đến hậu quả gì?

Thông thường, khi vào mùa lạnh, NCT thường có cảm giác khó chịu, đau nhức, tê buốt ở các khớp xương, dai dẳng ám ảnh, “hành hạ” nhất là về đêm. Ở những NCT hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu quần áo ấm, thiếu chăn, nhà ở không kín gió thì bệnh đau nhức xương khớp càng hành hạ nhiều hơn, khổ cực hơn. Do cảm giác chân, tay tê buốt, đau nhức lưng, đầu gối, bàn tay, ngón tay khiến cho NCT gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống và luôn cảm thấy buồn phiền. Một số trường hợp đau dây thần kinh liên sườn do thoái hóa cột sống lưng làm nhầm tưởng là bệnh về tim mạch hoặc bệnh phổi nên càng hoang mang lo lắng. Điều đáng nói là càng bị đau, nhức xương, khớp thì người bệnh càng sợ cử động dẫn đến các khớp trở nên tê cứng, khó cử động và càng ngày bệnh càng nặng thêm. Thêm vào đó, nếu không phát hiện sớm để điều trị và dự phòng thì hậu quả khó lường trước.

Phòng và chữa thế nào?

Khi bị đau nhức khớp, NCT nên đi khám bệnh, tốt nhất là khám chuyên khoa khớp để xác định nguyên nhân (tổn thương thực thể, thoái hóa khớp hay chỉ là do viêm khớp phản ứng) và có chỉ định điều trị sớm.

Về phòng bệnh, dù có bệnh lý khớp từ trước hay không, trong mùa lạnh, NCT cũng cần giữ ấm cơ thể mình, trong đó đặc biệt lưu ý các khớp. Khi có dấu hiệu nhức khớp, tê, mỏi xảy ra (nhất là khi ngủ dậy) ở vị trí nào thì hãy làm nóng vùng xung quanh vị trí đó bằng cách thoa dầu. Mục đích là làm nóng vùng xung quanh đó để cho các mạch máu giãn ra, vận chuyển máu được dễ dàng để nuôi các khớp. Tốt nhất cần mặc đủ ấm, cổ quàng khăn ấm, tay đi găng, chân đi tất. Về chế độ dinh dưỡng, cần có chế độ hợp lý để duy trì cân nặng ở mức độ vừa phải, tránh béo phì, thừa cân và đầy đủ các vi chất cần thiết. Hàng ngày, nên vận động nhẹ nhàng các khớp gối, cổ chân, bàn tay, ngón tay theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa khớp. Cần bổ sung canxi và vitamin D theo đơn của bác sĩ khám bệnh.

ThS. Mai Hương

Theo SKDS

Thực phẩm giảm đau khớp hiệu quả

Lựa chọn những thực phẩm khoa học, đảm bảo dinh dưỡng không những có tác dụng bổ sung năng lượng cho sức khỏe mà còn là cách hữu hiệu để góp phần hạn chế những cơn đau do viêm khớp.

Thực phẩm giảm đau khớp

thuc-pham-giam-dau-khop-hieu-qua
1. Dầu ô liu

Những người bị viêm khớp nên kết thân với dầu ô liu. Lý do, dầu ô liu chứa nhiều axit oleic và omega-9 có tác dụng giảm viêm rất công hiệu.

2. Cá

Đây là lựa chọn thông minh cho những người thường xuyên bị những khớp xương hành hạ. Cá hồi, cá hồng, cá ngừ, cá tuyết, cá bơn có nhiều axit béo omega-3 có tác dụng không chỉ phá hủy các loại hóa chất gây viêm sưng mà còn loại bỏ protein được cho là bào mòn sụn.

3. Các loại hạt và trái cây

Giữa các bữa ăn, hãy nhấm nháp các loại hạt và trái cây: quả óc chó, hạnh nhân, hạt hướng dương, hạt dẻ hoặc táo, quả việt quất, anh đào, dứa, quả mâm xôi, dâu tây, kiwi, xoài. Một cuộc nghiên cứu ở 293 người Úc cho kết quả, ăn nhiều trái cây giúp giảm nguy cơ bị thương tổn ở tủy xương, vốn là dấu hiệu của bệnh viêm khớp xương đầu gối.

4. Tỏi

Tuy gặp trở ngại là gây hôi miệng sau khi ăn, nhưng tỏi rất có công hiệu trong việc giảm viêm. Theo Fitday, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tỏi chứa những hợp chất tương tự các loại thuốc chống viêm, nên có khả năng giảm đau rất tốt.

5. Trà xanh

Ngoài giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về bệnh tim và ung thư, trà xanh còn phát huy vai trò tích cực trong cuộc chiến chống lại sự viêm nhiễm trong cơ thể.

Các nhà khoa học thuộc ĐH Sheffield ở Anh đã phát hiện được hai hợp chất có trong trà xanh có thể ngăn chặn bệnh viêm khớp xương mãn tính, đó là EGCG (epigallocatchin gallate) và ECG (epicatechin gallate). Chúng giúp phong tỏa các enzyme phá hủy sụn trong khớp.

Thực phẩm tốt cho khớp

thuc-pham-giam-dau-khop-hieu-qua1

1. Súp lơ xanh

Súp lơ xanh có nhiều vitamin như A, C, B, K, E, giúp khớp chắc, khỏe. Đặc biệt nó giúp giảm đau khớp do lão hóa.

2. Quả hạch

Vitamin E giúp duy trì và bảo vệ khớp. Quả hạch có chứa nhiều vitamin E. Do vậy ăn quả hạch thường xuyên giúp bảo vệ khớp. Hạt hướng dương và hạt lạc cũng chứa nhiều vitamin E.

3. Đu đủ

Các thực phẩm chứa nhiều vitamin C giúp tránh được các vấn đề như viêm khớp. Đu đủ chứa nhiều vitamin C và các chất chống oxy hóa khác giúp duy trì độ dẻo dai cho khớp.

4. Táo

Táo chứa nhiều chất chống oxy hóa giúp sản sinh collagen. Vỏ táo cũng chứa chất chống oxy hóa vì vậy khi ăn táo bạn đừng gọt mà hãy để cả vỏ.

5. Đậu

Đậu đen thúc đẩy quá trình sản sinh các acid amin. Nó giúp hình thành các mô và giữ cho khớp được khỏe mạnh.

Theo giáo dục

Tìm hiểu bệnh Lupus ban đỏ

Nằm chờ chết vì tìm mãi không xác định được nguyên nhân gây bụng to và khó thở, bà Hà ở Bình Phước cuối cùng lại vô tình được các bác sĩ Bệnh viện Nguyễn Tri Phương phát hiện mắc chứng Lupus.Thai phụ bị lupus dễ gặp tiền sản giật

Theo các bác sĩ, Lupus ban đỏ thường gây nhiều biến chứng nhưng gây trướng bụng như bà Hà hiếm thấy trong Y văn thế giới.

Bệnh nhân cho biết bà bắt đầu có triệu chứng bụng to, khó thở từ 6 tháng trước. Tại Bình Phước và TP HCM, bà đến nhiều bệnh viện với nhiều chẩn đoán khác nhau nhưng vẫn không tìm được nguyên nhân.

“Bụng ngày càng to và ngày càng khó thở, tôi phải nằm một chỗ chờ chết. Trong lúc tuyệt vọng, tôi vô tình đọc một bài báo viết về bệnh bụng to do giun chó được điều trị thành công ở Bệnh viện Nguyễn Tri Phương nên tìm tới. Tại đây tôi may mắn tìm được bệnh”, bà Hà nói.

Thạc sĩ Trần Ngọc Lưu Phương, Phó khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn Tri Phương cho biết, khi tiếp nhận, sức khỏe của bà Hà đã rất kém.

tim-hieu-benh-lupus-ban-do

“Nghi ngờ bệnh nhân bị bụng to do tràn dịch, thực hiện nhiều xét nghiệm, chúng tôi xác định bệnh nhân không mắc bệnh tiêu hóa mà do chứng Lupus đỏ gây nên”, ông Phương nói.

Cũng theo bác sĩ Phương, Lupus đã gây nên tình trạng viêm màng bụng khiến trướng bụng. Ngoài ra, còn làm tăng áp lực động mạch phổi khiến bệnh nhân khó thở và nếu không phát hiện điều trị kịp thời, bà Hà sẽ tử vong.

Đến nay, sau hơn một tháng phát hiện bệnh và điều trị đặc trị, sức khỏe của bệnh nhân đã dần cải thiện, bụng của bà Hà nhỏ lại, bớt khó thở. Siêu âm bụng không còn thấy dịch.

Lupus ban đỏ là một bệnh hay gặp ở nữ giới, với các biểu hiện thường gặp là các mảng đỏ da, kèm đau khớp, viêm cầu thận làm tiểu đạm và phù, viêm màng tim, viêm cơ tim hoặc tràn dịch màng phổi.

“Riêng viêm màng bụng gây tràn dịch ổ bụng kèm theo tăng áp lực động mạch phổi là trường hợp rất hiếm gặp. Trên thế giới cũng chỉ có vài ca”, bác sĩ Phương nói.

Nguồn afamily

Sử dụng dầu gió sai cách có thể gây nguy hiểm

Nhiều người nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có thói quen sử dụng dầu gió để chữa một số bệnh thông thường. Hễ trong gia đình có người hắt hơi, ngạt mũi, đau bụng,… đều sử dụng dầu gió, kể cả là cho trẻ nhỏ. Vậy, dầu gió dùng như nào cho đúng?

Biểu hiện khi ngộ độc

Theo các chuyên gia, lượng camphor cho phép trong các chế phẩm dầu gió chỉ khoảng 3 – 11%. Khi bị ngộ độc, camphor có thể gây tác hại với những triệu chứng xuất hiện chỉ trong vòng 5 – 90 phút sau tiếp xúc, tùy vào lượng dầu nhiều hay ít. Các biểu hiện sớm là bỏng miệng, hầu họng, buồn nôn, nôn mửa, lừ đừ, sau đó là co giật, hôn mê, say hô hấp nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Sau khi sử dụng hoặc phát hiện bé uống phải có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ngộ độc, người nhà cần đưa bé đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi gần nhất càng sớm càng tốt.

dau-gio

Có thể gây ngộ độc…

Khoa Cấp cứu – Hồi sức Bệnh viện Nhi đồng 1 cách đây không lâu đã cấp cứu một bé gái 14 tháng tuổi trong tình trạng hôn mê, kích thích đau không đáp ứng, có biểu hiện gồng giật các ngón tay, nhịp thở không đều và có những cơn ngưng thở khoảng 15 giây. Theo lời kể của gia đình, sau khi tắm cho bé, thấy bé có biểu hiện hắt hơi, mẹ bé lấy chai dầu gió để thoa cho bé, nhưng không chú ý nắp chai dầu đã bị lỏng. Do sơ ý, một lúc sau phát hiện bé đang cho chai dầu vào miệng, nắp chai dầu đã nằm trong miệng bé. Lúc đó mẹ không thấy dầu trong miệng bé nhưng trong hơi thở bé đã có nhiều mùi dầu gió. Lúc này bé còn tỉnh táo, đi lại chơi bình thường. Khoảng 15 phút sau, bé có dấu hiệu mệt mỏi, đứng loạng choạng mặc dù vẫn trả lời và làm theo lời của mẹ. Sau 30 phút, bé nôn 2 lần ra cháo trước đó đã ăn, không thấy màu xanh của dầu nhưng mùi dầu trong dịch nôn rất nhiều. Lúc này bé không còn đứng vững, có biểu hiện hôn mê dần, gia đình lập tức đưa bé cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1.

Tại bệnh viện, bé được đặt nội khí quản, bóp bóng duy trì hô hấp, sử dụng thuốc chống co giật và hút dịch dạ dày, cho than hoạt loại bỏ độc chất. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng suy hô hấp của bé cải thiện nhiều, được rút nội khí quản và bé tỉnh táo và được xuất viện.

Tại sao dầu gió có thể gây ngộ độc?

Dầu gió được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như: khuynh diệp, hồi, quế, long não. Dầu gió có vị cay, tính mát, có tác dụng hạ sốt, ra mồ hôi, giảm đau, giảm ho, sát trùng,… Đặc biệt, hầu hết các chế phẩm dầu xoa và cao xoa đều có metyl salicylat (dầu nóng) và menthol (chiết từ tinh dầu bạc hà). Menthol bốc hơi rất nhanh, gây tê tại chỗ và cảm giác mát lạnh (do kích thích bài tiết mồ hôi, làm hạ thân nhiệt) khi xoa vào da. Tuy nhiên, trong thành phần của dầu gió chứa eukalyptol và camphor, đặc biệt camphor là một chất độc đối với trẻ em nếu quá trình sử dụng không đúng hấp thu nhiều vào cơ thể qua phần da trầy xước hay vô tình nuốt phải với lượng nhiều (khoảng 1g) gây tổn thương hệ hô hấp, thậm chí ngừng thở.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi

Theo khuyến cáo, dầu gió có tác dụng phụ làm tăng bài tiết mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp. Vì vậy không được dùng cho người bị lở ngứa, ra mồ hôi, sốt cao, vừa ốm dậy, người suy nhược, táo bón, tăng huyết áp. Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có nguy cơ gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở, vì vậy không dùng dầu gió cho trẻ em dưới 2 tuổi, và phụ nữ có thai, đang cho con bú.

Đối với người bình thường, cũng không nên lạm dụng, dùng quá thường xuyên sẽ dễ gây “nhờn thuốc” giảm tác dụng. Chỉ dùng trong trường hợp thực sự cần thiết như: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau khớp, đau gân, đau cơ bắp, tụ máu, thâm tím, đầy hơi, chậm tiêu, khó tiêu, chống lạnh đường hô hấp, …

Dùng sao cho đúng?

Đối với trẻ lớn trên 2 tuổi, khi dùng nhất thiết phải có sự theo dõi của người lớn. Trước khi bôi dầu cần rửa sạch tay và rửa sạch, lau khô vùng da bị đau, bôi hoặc xoa bóp một lượng vừa đủ bằng cách lấy đầu ngón tay trỏ lấy một lượng thích hợp, bôi lên chỗ đau nhức hay vết côn trùng cắn đốt. Nếu đau bụng do lạnh, khó tiêu, bôi vào vùng quanh rốn; nếu nhức đầu bôi vào thái dương. Sau đó miết nhẹ nhàng, day tròn, ấn bằng ngón tay trỏ. Chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống.

Không dùng nhiều hơn 3 – 4 lần trong ngày; không dùng cho người có tiền sử dị ứng với salicylat, menthol; không dùng thường xuyên mà phải ngừng ngay khi cơn đau đã chấm dứt; không bôi lên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi ở điểm đau, vùng đau. Đối với một số bệnh mạn tính cần có sự tư vấn của các bác sĩ.

Theo suckhoedoisong.vn

Điều trị bệnh sán lá gan lớn

Bệnh sán lá gan lớn khó nhận biết và khó chẩn đoán. Vì vậy, người bệnh cần khám để xác định rõ bệnh và dùng đúng thuốc đặc trị…

Ấu trùng sán lá gan lớn có trong cá nước lợ, chủ yếu hơn trong các loại rau sống trong nước (cải xoong, ngổ, rau om, rau cần, ngó sen). Ăn gỏi cá, rau sống, rau trộn (chưa chín đủ độ) làm cho dạng nang ấu trùng xâm nhập vào dạ dày ruột, rồi tự lột lớp vỏ, xuyên qua màng ruột, theo máu, vào gan rồi phát triển, sau đó định hình ở ống mật. Sau 2-3 tháng sẽ phát sinh triệu chứng: sốt, run lạnh, đau vùng bụng, vùng gan (hạ sườn phải).

san-la-gan

Nếu không điều trị sẽ chuyển sang mạn với biểu hiện mệt, chán ăn buồn nôn, xuất huyết đường tiêu hóa, thiếu máu, đau khớp, đau cơ, ho, cũng có thể tràn dịch màng phổi… Hiện nay, thuốc được dùng đặc trị bệnh sán lá gan lớn là triclabendazol. Hiện thuốc này không có bán ở các hiệu thuốc mà Viện Sốt rét ký sinh trùng cấp miễn phí. Thuốc dùng cho người có tên là egaten, còn dùng cho thú y có tên là fasinex, cần tránh nhầm lẫn.

Thuốc đặc trị này có tác dụng ngăn cản quá trình phosphoryl- oxy hóa ở ty lạp thể, làm cho sán không kiểm soát được hô hấp, đồng thời gắn kết với các phân tử tubulin ngăn cản quá trình hình thành vi ống ở sán. Từ đó sán bị tê liệt và chết. Thuốc được dùng đường uống, sau khi ăn no, nuốt cả viên với một ít nước, không nhai.

Khi dùng người bệnh có thể thấy mệt, đau ngực, sốt, buồn nôn, đau thượng vị, đau hạ sườn phải… Những hiện tượng này là phổ biến, có thể do sán tê liệt phóng thích ra kháng nguyên hơn là do bản thân thuốc. Một vài nghiên cứu mới đây của nhà sản xuất thấy thuốc gây quái thai trên súc vật nhưng chưa ghi nhận được ở người. Không dùng cho người có thai, người cho con bú, trẻ dưới 6 tuổi.

Bệnh viện Nhiệt đới TP.Hồ Chí Minh còn nghiên cứu dùng artesunat để điều trị. So sánh hiệu quả điều trị với triclabendazol thấy có hiệu quả tương đương và có ưu điểm là dung nạp tốt. Theo đó thì có thể dùng atesunat khi không có triclabenzadol. Tuy nhiên, nghiên cứu còn nhỏ, hiện chưa có hướng dẫn chi tiết.

Không nên dùng các thuốc giun sán thông thường như albendazol, menbendazol. Praziquantel cũng là thuốc tẩy giun nhưng chỉ hiệu quả với sán lá gan nhỏ. Với sán lá gan lớn hiệu quả rất ít, chỉ khoảng 30% trường hợp hầu như không hiệu quả.

Trước đây, khi chưa có thuốc đặc hiệu, một số thầy thuốc trong và ngoài nước có thử dùng các thuốc trên nhưng do tác dụng độc của thuốc hoặc thuốc không có hiệu quả nên hiện nay không dùng nữa.

DS. Bùi Văn Uy

Nguy cơ ung thư từ bệnh viêm khớp

Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải một số loại ung thư, tùy thuộc vào các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng.
Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi.

Do vậy, nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch.

benh-ung-thu-nguy-hiem-de-gap-o-nguoi-bi-viem-khop

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố. Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được.

Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường. Điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng.

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể.

Mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Ung thư vú và ung thư đại trực tràng: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này. Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư đại trực tràng. Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.

Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.

Theo Afamily

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Các chuyên gia giới thiệu rằng bệnh nhân viêm gan mãn tính C không được điều trị kịp thời hoặc không điều trị đầy đủ chính xác sẽ dẫn dến xơ gan hay ung thư gan.

Biểu hiện của bệnh viêm gan c mãn tính

Trên 50% bệnh nhân viêm gan do virus C sẽ chuyển thành mãn tính, ngoài ra nếu nguyên nhân gây viem gan man tinh là do truyền máu thì sau 10 năm có tới 20% số bệnh nhân chuyển thành xơ gan, ngay cả với những thể nhẹ và vừa không có triệu chứng và chỉ tăng nhẹ men transaminase. Diễn tiến của viêm gan c thường chậm và âm thầm. Mức độ tiến triển phụ thuộc vào nồng độ HCV- ARN và thời gian nhiễm bệnh.

viem-gan-c

Biểu hiện lâm sàng của viêm gan C mãn tính

Cũng tương tự như viêm gan mãn do virus viêm gan B, thường gặp nhất là mệt mỏi, vàng da ít gặp. Các biểu hiện ngoài gan cũng ít gặp hơn. Triệu chứng khởi đầu có thể biểu hiện những đợt rầm rộ như trong viêm gan cấp (l/3 trường hợp), phần còn lại thường âm thầm làm phần lớn bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ biểu hiện bởi triệu chứng cơ năng chung là mỏi mệt, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da, vàng mắt, nước tiểu vàng hoặc sẫm màu, đau cơ, đau khớp và nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan to vừa, căng chắc ấn đau tức, vàng da vàng mắt, hồng ban và giãn mạch hình sao.

Giai đoạn sau khi đã có biến chứng bệnh xơ gan, các biểu hiện viêm thường giảm dần, thay vào đó là các triệu chứng của xơ gan cổ trướng và suy gan là nổi bật; hoặc các triệu chứng của ung thư gan với gan rất lớn, gan cứng và có nhiều khối u lổn nhổn.

Nguồn sức khỏe

Dị ứng thuốc biểu hiện như thế nào?

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ nhất là sự kích ứng, các tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như: buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng, chẳng hạn shock phản vệ… Sau đây là các biểu hiện thường gặp nhất.

Mày đay: Là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5 – 10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

di-ung

Phù Quincke: Là tình trạng phù cục bộ, phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

Viêm da dị ứng: Thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo ban đỏ, ngứa, phù da và tiến triển theo nhiều giai đoạn. Viêm da dị ứng có thể xuất hiện nhanh sau một vài giờ, trung bình sau vài ba ngày, có khi hàng tuần sau khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

Đỏ da toàn thân: Bệnh xuất hiện từ 2 – 3 ngày, trung bình 6 – 7 ngày, đôi khi 2 – 3 tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh thấy bừng nóng, ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hóa, nổi ban đỏ toàn thân, trên da có vảy trắng, các kẽ chân tay có thể nứt và chảy nước vàng, đôi khi bị bội nhiễm có mủ.

Bệnh huyết thanh: Thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38 – 390C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

Nhiều biến chứng nguy hiểm khi tự trị đau khớp

Các nguy hiểm là lo lắng, mệt mỏi, trầm cảm, giảm trí nhớ, kém tập trung. Về lâu dài, người bệnh còn bị loãng xương, giảm sức đề kháng, khó điều trị hơn.

Mỗi tháng, chỉ tính riêng Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện (BV) Nhân Dân 115 TPHCM đã phải điều trị khoảng 30 ca bị biến chứng do tự ý sử dụng thuốc có chứa corticoid như: loãng xương, tăng huyết áp, mỡ trong máu, tiểu đường…, trong đó đã có một số trường hợp tử vong do nhiễm trùng huyết nặng, suy thượng thận cấp.

Chữa bệnh này, mắc nhiều bệnh khác

Ngày 3-11, Khoa Cơ xương khớp, BV Nhân Dân 115 đã tiếp nhận năm bệnh nhân (BN) bị biến chứng do tự uống thuốc chứa corticoid. Ngồi bên cạnh giường bệnh của anh H.M., 43 tuổi, chị P. – vợ anh rầu rĩ: “Anh M. từng bị sưng đau khớp bàn chân. Anh uống đủ loại: từ thuốc Bắc, thuốc Nam cho đến các loại thuốc Tây tự mua. Sau hai năm uống thuốc, dù chỉ khi nào đau mới uống, nhưng khuôn mặt anh dần mập ra, bụng to lên, tay trái trở nên yếu hẳn, hai chân bị teo lại, không thể đi đứng được nữa, khớp mỗi ngày đau nặng hơn”.

dau-khop

Phòng cạnh bên, bà Đ.T.Th (ngụ Ninh Bình) cũng bị liệt giường khi mới nhập viện, vì yếu cơ và sưng đau khớp gối nên mọi sinh hoạt cá nhân đều phải có người phụ giúp. Bà kể, trước đây khi còn là y tá, bà thấy bác sĩ (BS) hay chích thuốc chứa corticoid để điều trị cho BN đau khớp.

Đến khi mắc bệnh thoái hóa khớp gối, bà đã tự chích thuốc cho mình. Thấy cơn đau mau giảm, cứ mỗi tuần bà lại tự chích một mũi, đến lúc không thể bỏ được thuốc. Sau ba năm sử dụng, bà đã cân nặng đến 68kg, tăng 15kg so với lúc chưa dùng thuốc. BS Hồ Phạm Thục Lan – Trưởng khoa Cơ xương khớp BV Nhân Dân 115 cho biết, do sử dụng quá lâu loại thuốc chứa corticoid, bà đã mắc thêm một số bệnh mới như: hội chứng Cushing (rối loạn chuyển hóa toàn thân), tăng huyếp áp, tiểu đường, tăng mỡ máu, viêm dạ dày, viêm phổi, loãng xương.

Mỗi ngày một viên cũng đủ liệt giường

BS Lê Anh Thư – Trưởng khoa Nội cơ xương khớp, BV Chợ Rẫy TPHCM bức xúc: “Hầu như ngày nào cũng gặp BN đến khám cơ xương khớp có triệu chứng bệnh do sử dụng thuốc corticoid như: mập mặt nhưng teo cơ. Đây là loại thuốc phải có sự chỉ định của BS, nhưng hiện nay người bệnh quá lạm dụng. Các cơ sở bán thuốc chứa corticoid cũng tràn lan, hiện không thể quản lý nổi”.

Đến các tiệm thuốc Tây, người bệnh dễ dàng mua được các loại thuốc chữa đau nhức khớp như thuốc Dexamethasone, có chứa chất corticoid. Gần đây, Thanh tra Sở Y tế TPHCM cũng phát hiện một số loại thuốc Đông dược có trộn tân dược, trong đó có chứa corticoid.

Thuốc chứa corticoid có công dụng hạ sốt, kích thích ăn ngon miệng, giảm nhanh triệu chứng đau nhức nên người bệnh thường tự ý sử dụng. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian, bệnh sẽ tái phát nặng hơn khiến người bệnh phải sử dụng lại thuốc cũ có chứa corticoid, dần dần đưa đến “ghiền” thuốc. Nếu không uống đúng loại thuốc này, người bệnh sẽ đau nhức, mệt mỏi không chịu nổi.

Chỉ cần mỗi ngày uống một viên Dexa 0,5mg (chứa chất corticoid) trong hai tuần cũng đủ gây ra hàng loạt các tác dụng phụ như: viêm loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, tăng huyết áp, tăng đường huyết, tăng mỡ máu, rối loạn nước – điện giải, nứt da, rậm lông, phân bố mỡ bất thường trong cơ thể ở vùng mặt – cổ – vai – bụng, nhưng phần cơ ở tứ chi bị teo, yếu cơ. Ngoài ra, BN còn có thể bị những biến chứng nguy hiểm khác như: nhiễm trùng nặng, suy thượng thận cấp, nếu điều trị không kịp thời và đúng mức, có thể đưa đến tử vong.

Theo BS Thục Lan, bên cạnh các biến chứng trên, BN thường có tình trạng lo lắng, mệt mỏi, trầm cảm, giảm trí nhớ, kém tập trung. Về lâu dài, người bệnh còn bị loãng xương, giảm sức đề kháng, khó điều trị hơn.

Nguyên nhân trực tiếp của tình trạng trên là sự thiếu hiểu biết của BN về bệnh, cũng như việc lạm dụng thuốc chứa corticoid. Bên cạnh đó, sự quản lý không đúng mức việc sản xuất, buôn bán các loại thuốc Đông y, Tây y đã tạo điều kiện cho BN mua và sử dụng thuốc tùy tiện, bừa bãi, dẫn đến BN bị biến chứng bởi thuốc corticoid ngày càng tăng.
Theo NLĐ

Thực phẩm dành cho người bệnh gout

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng khi một người đã mắc bệnh gút thì rất khó chữa trị khỏi hẳn mà nên xác định là “sống chung với bệnh gút”. Ngoài việc điều trị giảm sưng, đau khớp khi lên cơn cấp tính thì những thuốc và thực phẩm giúp cơ thể đào thải acid uric cũng có tác dụng tốt với người bệnh.

Bệnh gút thường gây đau và viêm tấy ở khớp xương, đặc biệt là khớp ngón cái, khớp gối và đau nhiều nhất về ban đêm. Đau kèm theo rát bỏng rất khó chịu. Lý do đau khớp là vì khi acid uric vượt quá 8 mg/dl trong máu mà khả năng bài xuất theo nước tiểu lại giảm đi thì tinh thể urát lắng đọng lại trong khớp xương. Nguyên nhân của bệnh gút là do rối loạn chuyển hóa chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Người bình thường thì lượng acid uric sản xuất ra và lượng thải trừ chúng luôn luôn cân bằng. Khi các loại thực phẩm có chứa nhân purin đưa vào cơ thể được phân hủy thành acid uric thì lượng acid uric trong máu sẽ tăng cao. Acid uric là loại trung tính mà cơ thể con người không cần thiết loại này cho nên sẽ bị thận lọc ra khỏi dòng máu, bài tiết ra ngoài cơ thể theo đường niệu. Khi lượng purin quá nhiều thì lượng acid uric được tạo ra cũng tăng theo nên cơ thể không thể đào thải ra hết được. Thực phẩm có nhiều chất purin (trừ các loại rau xanh nhiều prurin lại không làm gia tăng bệnh gút) là phủ tạng động vật như óc, thận, gan, tim; thịt đỏ như các loại thịt: chó, bò, trâu, cừu, ngan, vịt, ngỗng và hải sản như tôm, mực. Người ta cũng cho biết, ăn thịt chứa nhiều mỡ, sữa có nhiều chất béo, bia, thực phẩm sấy khô (cá khô, mực khô, thịt hun khói) và các chất ngọt nhân tạo có nguy cơ cao gây mắc bệnh gút.

thuc_pham_danh_cho_nguoi_benh_gout

Ngô và rau mùng tơi tốt cho người bệnh gút

Nên ăn thực phẩm gì và nên kiêng thực phẩm gì đối với người bị bệnh gút?

Nói chung, người bị gút nên sử dụng thức ăn ít chứa nhân purin như ngũ cốc (gạo, ngô, bánh mì), các loại hạt, bơ, dầu, mỡ,  đường, trứng, sữa, phomat tươi, rau, quả. Hạn chế sử dụng thịt, cá, hải sản, gia cầm, đậu đỗ. Nên kiêng ăn óc, gan, tim, thận, nấm. Tuyệt đối không uống rượu, bia, cà phê, chè nhưng cần uống nước lọc đủ lượng hằng ngày. Khi đang lên cơn đau gút cấp thì tạm thời chỉ ăn thức ăn: cơm, bánh mì, bột ngũ cốc, trái cây, rau các loại và không nên sử dụng chất đạm (nước mắm). Khi hết cơn đau, có thể ăn một số thức ăn có hàm lượng purin vừa như các loại họ đậu, rau dền, thịt gà, cá nhưng lượng ít. Đối với người béo, thừa cân mà bị bệnh gút thì nên có kế hoạch giảm cân từ từ, nếu giảm nhanh quá hoặc nhịn ăn thì nồng độ acid uric có thể tăng lên do sự phân hóa chính các tế bào của cơ thể dẫn đến cơn đau do gút.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Điều trị khớp bằng nhiệt

Từ lâu, nhân dân ta đã biết sử dụng các biện pháp chườm nóng hoặc chườm lạnh để chữa đau lưng, đau khớp, sưng nề sau chấn thương, hoặc điều trị các vùng viêm tấy.

Trong y học, người ta sử dụng nhiệt nóng và nhiệt lạnh để điều trị.

Trong các khoa vật lý trị liệu người ta sử dụng paraffin, túi silicagen, khay nhiệt điện, túi chườm nhiệt sử dụng điện. Trong dân gian thường dùng cám rang, muối rang, lá cây sao nóng, túi nước nóng, ngâm trong nước nóng để làm các chất trung gian truyền nhiệt. Sử dụng nhiệt để điều trị đã mang lại hiệu quả rất tốt, nhưng nếu dùng không đúng có thể gây thêm tác dụng có hại. Vì vậy, hiểu biết về tác dụng của nhiệt trong chữa bệnh là kiến thức cần thiết đối với mỗi người.

dieu_tri_khop_bang_nhiet

Chườm lạnh điều trị thoái hóa khớp đợt cấp

Nhiệt nóng: Gây ra giãn mạch, làm tăng lượng máu đến vùng điều trị. Nhờ việc tăng tuần hoàn và dinh dưỡng cho vùng điều trị sẽ kích thích quá trình tái tạo tế bào, hàn gắn tổn thương. Làm tăng các phản ứng sinh học, tăng quá trình chuyển hóa của mô, làm tăng tái tạo mô. Làm tăng tính thấm của mô, tăng trao đổi dịch giữa khoang máu và khoang kẽ tế bào, do đó làm tăng quá trình hấp thu dịch nề, làm giảm nề, giảm đau. Làm tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, làm phân tán nhanh các chất trung gian gây viêm, do đó làm giảm viêm cả viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn. Nhiệt nóng được dùng rộng rãi để điều trị các vùng viêm do nhiễm khuẩn giai đoạn viêm tấy chưa hóa mủ (như viêm cơ, viêm tắc tia sữa, viêm tổ chức liên kết do răng, mụn nhọt, chắp lẹo); điều trị các trường hợp viêm không do nhiễm khuẩn (như viêm khớp dạng thấp, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống dính khớp); điều trị các vùng thiếu nuôi dưỡng do tổn thương thần kinh, mạch máu (như những vùng đe dọa loét hoặc do đè ép ở người phải nằm bất động lâu, các vùng thiếu nuôi dưỡng ở bàn chân, cẳng chân do bệnh đái tháo đường); điều trị các vùng đau do thoái hóa (như đau cột sống cổ, đau thắt lưng, đau khớp do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp); làm giảm nề, tan khối máu tụ sau chấn thương; làm nhanh liền sẹo vết thương, làm sẹo mềm mại, chống dính và co kéo do sẹo; điều trị dị ứng do lạnh. Thời gian đắp nóng khoảng 20-30 phút, ngày 1-4 lần. Cách dùng: Mỗi lần nóng lên duy trì khoảng 20-30 phút, một ngày có thể đắp nóng 1-4 lần. Mỗi lần đắp nóng không quá 1/6 diện tích cơ thể để tránh gây rối loạn thân nhiệt. Khi đắp nóng cần chú ý tránh để nhiệt độ quá cao > 40o vì có thể gây bỏng.

Chống chỉ định các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, các ổ viêm đã hóa mủ, các vùng có khối u cả u lành và u ác tính, các vùng lao đang tiến triển như lao khớp, lao cột sống, các chấn thương mới trong một hai ngày đầu, những người đang sốt.

Nhiệt lạnh

Nhiệt lạnh gây ra các tác dụng ngược lại so với nhiệt nóng, như làm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm dinh dưỡng, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm của mô. Nếu bị lạnh quá lâu có thể gây ra thiếu dinh dưỡng và hoại tử mô do lạnh. Nhiệt lạnh được dùng để làm giảm sưng nề sau các chấn thương mới, làm giảm chảy máu ở những vùng đang chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu, như chườm lạnh vùng thượng vị trong chảy máu dạ dày, giảm tụ máu, giảm nề trong chấn thương mới (một hai ngày đầu), chườm lạnh để hạ nhiệt độ khi sốt cao, bảo quản mô ghép giúp mô ghép chịu đựng được tình trạng thiếu ôxy kéo dài mà không bị hủy hoại. Người ta thường dùng túi nước lạnh, túi nước đá hoặc ngâm chi trong nước lạnh. Cần chú ý thời gian chườm lạnh cần ngắn vài phút, không kéo dài để tránh gây tổn thương mô do thiếu dinh dưỡng.

BS.CKII. Phan Kim Toàn
Theo SKĐS

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Hàng trăm viên sỏi trong khớp vai người bệnh được phát hiện

Các bác sĩ Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa phát hiện và xử trí thành công ca bệnh hiếm gặp. Đó là một trường hợp có hàng trăm viên sỏi trong khớp vai. Điều đáng nói là quan điểm điều trị mới đã mang lại kết quả khả quan cho người bệnh.

Người bệnh bất ngờ

Đang ở tuổi thanh niên nhưng đã 5 năm nay bệnh nhân Nguyễn Văn Cường, 24 tuổi (Hà Tĩnh) luôn phải rón rén trong mọi sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là khi cần phải sử dụng đến vận động của cánh tay trái, khiến cuộc sống của anh gặp nhiều trở ngại. Ban đầu chỉ là mỏi, nhức, sau đó các cơn đau tăng dần và người bệnh cảm giác như khớp vai bị cứng lại. Khi mới có những dấu hiệu bệnh, anh Cường cho rằng có lẽ do mình vận động quá sức. Sau một thời gian, những cơn đau đến nhiều hơn và khó cử động hơn thì anh tìm đến những biện pháp điều trị dân gian và đông y như xoa bóp, bấm huyệt, chườm nóng… nhưng vẫn không có dấu hiệu thuyên giảm. Anh Cường đi khám bệnh nhưng được chẩn đoán là đau khớp và dùng thuốc nhưng cũng không có kết quả tốt. Thời gian gần đây, các biểu hiện bệnh càng nặng nề, thậm chí anh còn cảm thấy khớp vai lạo xạo như xương bị vỡ ra.

hang_tram_vien_soi_trong_khop_vai_nguoi_benh_duoc_phat_hien

Hình ảnh chụp cắt lớp vi tính ca bệnh sỏi trong khớp vai

Kết quả chẩn đoán tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội khiến người bệnh rất bất ngờ, trong khớp vai của bệnh nhân có rất nhiều sỏi, ước tính đến hàng trăm viên. Bệnh nhân Cường cho hay, trước đây anh chỉ nghe nói đến sỏi trong gan, mật, thận, bàng quang… chứ chưa từng biết có sỏi trong vai bao giờ. Theo các bác sĩ, trong trường hợp này, dùng thuốc hầu như không có tác dụng, mà cần phải được xử trí bằng phẫu thuật để lấy hết hết sỏi ra mới trả lại sự vận động bình thường cho khớp vai.

Truy tìm nguồn gốc của các viên sỏi trong vai

ThS. Trần Trung Dũng, người phẫu thuật cho bệnh nhân Cường cho biết, những viên sỏi trong khớp vai người bệnh có đường kính từ 0,5 – 1,5cm, các bác sĩ cũng khá bất ngờ vì số sỏi nhiều quá, phải mất 1 giờ 30 phút mới lấy hết số sỏi ra, ước tính đến gần 200 viên. Những viên sỏi này là do u xương sụn màng hoạt dịch sinh ra. Màng hoạt dịch là màng trong cùng của bao khớp, có vai trò tiết dịch làm trơn bề mặt hoạt động của khớp. U xương sụn màng hoạt dịch xuất hiện là do sự phát triển bất thường của cấu trúc sụn trong màng hoạt dịch và lắng đọng canxi. Một số cấu trúc này phát triển lên chỉ dính vào màng hoạt dịch bằng một cái cuống giống như chùm nho, các quả nho là những hạt canxi lắng đọng. Trong quá trình phát triển, các hạt canxi này một phần vẫn nằm trong bao hoạt dịch, một phần khác rơi vào trong khớp. Bệnh lý này chỉ biểu hiện ở một khớp, như khớp háng, gối, vai. Khi các hạt canxi lắng đọng này rơi vào khớp sẽ cọ sát, chèn ép vào sụn, gây tổn thương bề mặt sụn khớp, thoái hóa khớp làm người bệnh đau, hạn chế vận động.

Phương pháp xử trí mới làm thay đổi chất lượng điều trị

Các bác sĩ cho biết, khi các hạt canxi trông như những viên sỏi từ màng hoạt dịch rơi vào trong khớp thì biện pháp điều trị tốt nhất là phẫu thuật lấy chúng ra. Trước đây, để xử trí cho những trường hợp bệnh này phải phẫu thuật mở để gắp hết sỏi trong khớp ra và cắt toàn bộ màng hoạt dịch để tránh u xương sụn tái phát. Tuy nhiên kết quả không được như mong đợi. Bởi khi cắt toàn bộ màng hoạt dịch sẽ làm cho vận động càng khó hơn do khớp không còn bộ phận làm trơn láng bề mặt, hơn nữa khi phẫu thuật mở phải mở đường rạch lớn ở quanh khớp gây đau nhiều cho người bệnh. Chính vì hạn chế của phẫu thuật mở mà trước đây nếu có gặp những ca bệnh như vậy thì các bác sĩ rất cân nhắc khi quyết định mổ.

Giờ đây, quan điểm điều trị cho bệnh lý này đã thay đổi. Các bác sĩ thực hiện phẫu thuật nội soi để lấy hết sỏi trong khớp ra nhưng vẫn giữ nguyên màng hoạt dịch để đảm bảo sự vận hành dễ dàng của sụn khớp. Phẫu thuật nội soi sẽ không phải mở đường mổ lớn, người bệnh sẽ nhanh chóng xuất viện. Người ta cũng tính đến khả năng tái phát của bệnh nhưng sự lắng đọng các hạt canxi sẽ phải trải qua thời gian dài, nếu đến một lúc nào đó các hạt sỏi rơi vào khớp thì quá trình tái thực hiện lấy sỏi ra cũng dễ dàng vì chỉ cần nội soi, tránh được nguy cơ dính như thực hiện phẫu thuật mở trước đây.

Theo ThS. Dũng, đây là bệnh hiếm gặp, người bệnh đi khám thường đã có dấu hiệu khá điển hình. Các dấu hiệu đau, vận động khó dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác của khớp, nếu để quá lâu có thể làm tổn thương khớp nặng nề. Trên phim Xquang thấy được các viên sỏi nhưng không định lượng được mức độ các viên sỏi này trong khớp nhiều hay ít. Nhưng hình ảnh trên cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ thì đánh giá được cả mức độ u xương sụn trong màng hoạt dịch và những hạt đã rơi vào khớp.

Lê Hảo
Theo SKĐS

Nổi lo bệnh khớp với người béo

Không chỉ có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, hô hấp, rối loạn chuyển hóa và suy giảm chức năng tình dục mà thừa cân và béo phì còn tác động nghiêm trọng đến hệ vận động. Quá trình thoái hóa khớp, biến dạng khớp ở những đối tượng này thường diễn ra sớm và nghiêm trọng nếu không có các biện pháp giảm cân tích cực.

Tình trạng thừa cân và béo phì xảy ra do sự tác động qua lại của nhiều yếu tố: các yếu tố môi trường, chế độ ăn uống giàu calo và thói quen sinh hoạt ít hoạt động thể lực trên những gen di truyền nhất định. Béo phì còn do cán cân năng lượng bị mất cân bằng: năng lượng đưa vào lớn hơn nhiều so với năng lượng tiêu hao, hậu quả là năng lượng bị dư thừa và được tích trữ dưới dạng triglycerides trong các tổ chức mỡ.

noi_lo_benh_khop_voi_nguoi_beo

Bệnh gút là nỗi lo của người béo phì

Nỗi lo bệnh tật ở người béo phì

Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:

Hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.

Hệ hô hấp: giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm.

Hệ nội tiết, chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng acid uric gây bệnh gút.

Tác động về tâm sinh lý: tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng.

Một số bệnh ung thư như ung thư thực quản, trực tràng, vú…

Tác động trầm trọng đến hệ xương khớp

Ngay từ khi còn bé, những trẻ béo phì thường khó vận động nhanh nhẹn như các bạn cùng lứa, mặt khác chúng thường bị bạn bè chế giễu, làm cho chúng ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình. Mặt khác, với trọng lượng quá cao so với sức chịu đựng còn non yếu của hệ cơ xương khớp nên trẻ thường kêu đau mỏi xương khớp, nhất là khớp gối, vùng thắt lưng. Một số trường hợp khớp bị biến dạng như chân hình chữ X hay chữ O, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và gây khó khăn trong hoạt động.

Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis) gây nên tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong (coxa vara). Về lâu dài, đây là yếu tố nguy cơ gây thoái hóa khớp háng sớm và nặng.

Khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

Nghiên cứu cho thấy mật độ xương ở những người béo cao hơn so với người bình thường. Tuy nhiên người béo phì thường ít phơi nắng, ít hoạt động ngoài trời, ít vận động, tình trạng này kéo dài sẽ làm giảm chất lượng xương. Nếu tăng acid uric kéo dài có thể gây bệnh gút biểu hiện bằng viêm khớp cấp tính các khớp chủ yếu ở chi dưới, tái phát nhiều lần. Nếu có bệnh đái tháo đường đi kèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ xương khớp càng rầm rộ hơn do thoái khớp và do tổn thương thần kinh ngoại biên.

Thay đổi lối sống là biện pháp điều trị quan trọng

Mục đích của điều trị thừa cân và béo phì là giảm trọng lượng ở giai đoạn đầu rồi duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ hợp lý ở giai đoạn sau bằng các biện pháp:

– Chế độ ăn giảm calo: Lượng calo cung cấp giảm từ 20-25% so với tuổi và giới, loại trừ các loại đường hấp thu nhanh và mỡ bão hòa hoặc tương tương với 1600-1800 kcal/ngày. Mục đích là giảm cân từ từ, không quá nhanh, khoảng 2-3 kg/ tháng.

– Tăng cường hoạt động thể lực: Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, thuận lợi cho lưu thông mạch máu, giúp cho dinh dưỡng khớp và sụn khớp tốt hơn. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên các khớp xương trong khi vận động. Nên tập luyện tối thiểu 30 phút/ngày. Những hoạt động thể thao như bơi lội, đi bộ, thể dục nhịp điệu…, và các môn thể thao tập thể như bóng đá, bóng chuyền… nên được khuyến khích và động viên.

Thuốc giảm béo như xenical với tác dụng ức chế hấp thu mỡ được bác sĩ chỉ định trong những trường hợp nặng mà sử dụng các phương pháp trên không kết quả. Một số trường hợp nặng, không đáp ứng với các biện pháp kể trên, phẫu thuật làm hẹp dạ dày sẽ được đặt ra.

Phối hợp với điều trị các bệnh lý đi kèm với béo phì như thuốc chống thoái hóa khớp, thuốc giảm đau, thuốc hạ huyết áp, thuốc hạ mỡ máu…

BS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS

Thống phong: Căn bệnh của nhà giàu

Goutte còn gọi là thống phong, là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa acid uric. Bệnh được mô tả từ thời Hy Lạp cổ, ở thế kỷ 4 trước Công nguyên, Hippocrate đã mô tả và gọi đó là “bệnh của những ông vua”. Vì thời đó do ăn uống vô độ nên các bậc vua chúa hay bị mắc bệnh này và khi mắc bệnh thống phong thì cực kỳ đau đớn nên Hippocrate đã gọi như vậy.

Cùng với xu hướng phát triển của xã hội, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh goutte đang có chiều hướng tăng lên do nhiều nguyên nhân và không còn là “bệnh của riêng người giàu” nữa.

Bệnh có đặc điểm là viêm khớp (do lắng đọng acid uric), điển hình là viêm một khớp, 70% thường hay gặp ở khớp ngón chân cái.

thong_phong_can_benh_cua_nha_giau

Ngoài ra còn có các đặc điểm khác như các đợt viêm khớp cấp, cơn đau khớp thường sưng, nóng, đỏ, đau… Đau khớp đã trở thành nỗi kinh hoàng ở những người mắc bệnh goutte.

Đau khớp thường kéo dài 1-2 ngày, giảm dần sau 7-10 ngày.

Bệnh tái phát nhiều lần. Thường những lần sau, thời gian đau càng kéo dài, lâu khỏi hơn, nhiều khớp bị đau hơn…

Trong các đợt bệnh cấp, người bệnh thường mệt mỏi, sốt nhẹ, đi lại khó khăn, tính tình cáu gắt thất thường…

Tuổi mắc bệnh thường gặp ở lứa tuổi 35-45. 95% thường gặp ở nam giới khỏe mạnh.

Người ta thấy một số các yếu tố được coi là yếu tố thuận lợi của bệnh như stress: căng thẳng thần kinh, tức giận, lo lắng quá mức… có thể gặp sau một chấn thương vào khớp, sau phẫu thuật, uống rượu, nhiễm khuẩn… hoặc sau một bữa ăn nhiều thịt. Còn có thể gặp do nguyên nhân dùng một số thuốc như vitamin C, aspirin, lợi tiểu, thuốc chống lao pirazinamid…

Bệnh có nhiều biến chứng như biến dạng khớp, sỏi thận, suy thận…

Khi có dấu hiệu nghi ngờ, người bệnh nên đến bệnh viện hoặc các cơ sở y tế để khám bệnh.

Bệnh nhân đã mắc bệnh goutte thường có thể mắc một số bệnh kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, bệnh mạch não… Hoặc ngược lại, các bệnh nhân mắc bệnh trên cũng dễ mắc bệnh goutte.

Bệnh goutte có thể điều trị tốt bằng:

Có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý.

Sử dụng thuốc nhằm 2 mục đích, cắt cơn goutte cấp và phòng ngừa viêm khớp tái phát, sỏi thận, suy thận…

Điều trị cần liên tục, kéo dài để hạ và duy trì acid uric máu ở mức bình thường.

Người bệnh nên biết rằng: kết quả điều trị hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết và sự tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân.

Để dự phòng và hạn chế tiến triển của bệnh, người bệnh cần:

Định kỳ kiểm tra sức khỏe, sử dụng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc… Điều trị kịp thời các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường…

Thay đổi hành vi sinh hoạt:

Nên hạn chế các yếu tố thuận lợi gây cơn goutte cấp: tránh căng thẳng thần kinh, tránh gắng sức, lo lắng thái quá…

Nếu béo bệu thì nên tập thể dục thể thao để tránh dư cân. Duy trì chế độ luyện tập đều đặn, vừa sức.

Ngâm chân nước nóng hằng ngày là có ích, tuy nhiên không nên ngâm chân trong giai đoạn cấp, không dùng nước quá nóng.

Chế độ ăn uống:

Ăn vừa phải chất đạm, chỉ cần đủ cung cấp cho cơ thể. Nhu cầu người lớn chỉ cần 1g đạm/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Không nên ăn nhiều thịt, số lượng đạm ăn vào không nên quá nhu cầu của cơ thể.

Để giảm acid uric máu, nên hạn chế ăn tim gan, thận động vật, trứng cá, cá trích, cá đối, đậu nành, súp lơ, rau cần, đậu phụ, lạc… vì đây là những thực phẩm có nhiều chất purin có thể làm tăng acid uric máu. Không uống rượu, hạn chế uống bia. Nên tăng cường ăn rau xanh, hoa quả tươi. Nên uống nhiều nước, đặc biệt là các nước khoáng có ga. Bicarbonat có tác dụng kiềm hóa máu và nước tiểu, làm tăng đào thải acid uric.

Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn mạn tính, nên có chế độ tập luyện thích hợp kết hợp với vật lý trị liệu phục hồi chức năng để tránh teo cơ, cứng khớp, biến dạng khớp.

Theo y học cổ truyền, thống phong là do tà khí lưu trệ ở gân mạch. Khí huyết ứ trệ kinh lạc gây ra. Thống phong có nhiều thể bệnh, mỗi thể bệnh có bài thuốc chữa như sau:

Thể đàm thấp bế tắc kinh lạc:

Triệu chứng: Da thịt đau nhức, chóng mặt buồn nôn, xương khớp đau nhức tê cứng, nóng lạnh, rêu lưỡi bệu.

Bài thuốc: Đại táo 12 quả, quế chi 12g, thược dược 12g, hoàng kỳ 12g, sinh khương 2g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể huyết ứ tắc:

Triệu chứng: Tay chân da thịt đau như kim châm, đau một chỗ nhất định, ban đêm đau nhiều, co rút, miệng khô táo, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.

Bài thuốc: Hương phụ chế 12g, đương quy 12g, ngưu tất 12g, chích thảo 4g, hồng hoa 12g, ngũ hương 6g, chính địa long 6g, khương hoạt 12g, ngũ linh chi 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can thận âm hư:

Triệu chứng da thịt xương khớp đau nhức như bị đánh, chóng mặt hoa mắt, ù tai, lòng bàn chân bàn tay, mỏ ác nóng, họng khô, lưỡi đỏ.

Bài thuốc: Bạch thược 12g, tỏa dương 8g, can thương 4g, quy bản 24g, trần bì 6g, hoàng bá 16g, thục địa 16g, tri mẫu 8g. Sắc uống ngày một thang.

Lương y  Vũ Quốc Trung
Theo SKĐS

Uống nhiều nước cam: Gout ở nữ giới tăng nhanh

Nghiên cứu của ĐH Boston về thói quen dinh dưỡng của 80.000 phụ nữ từ 22 tuổi trở lên cho thấy: những người uống 1 ly nước cam/ngày sẽ tăng 41% nguy cơ gout. Những người uống từ 2 cốc trở lên sẽ tăng 2,4 lần nguy cơ. Những phụ nữ uống nước ngọt hằng ngày có nguy cơ bị gout lên tới 70%.

Kết quả này cho thấy mục tiêu quan trọng là giảm lượng đường fructose thu nạp vào cơ thể.

uong_nhieu_nuoc_cam_gout_o_nu_gioi_tang_nhanh

Gout, một dạng khớp, ảnh hưởng tới 1,5% dân số Anh, trong đó tỉ lệ nam giới bị bệnh cao gấp 4 lần so với nữ giới. Tuy nhiên, trong 20 năm qua, tỉ lệ nữ giới mắc bệnh đã tăng gấp đôi.

Các chuyên gia tin rằng đường hoa quả (fructose) cao trong nước quả sẽ khiến axit uric (một sản phẩm thừa của máu) lắng đọng ở khớp, gây ra sưng và đau khớp.

Lan Thu
(Theo Dailymail 11/2010)
Theo SKĐS

Vấn đề ăn uống ảnh hưởng lớn đến bệnh gout

Đón năm mới chắc chắn sẽ có tiệc, có nhiều rượu, có nhiều thức ăn ngon, có những cuộc vui, có những cố gắng, vất vả lo toan… và chắc chắn cũng sẽ có ai đó không may phải chịu đựng sự đau đớn của cơn viêm khớp gout cấp. Trong khi đó, bệnh gout liên quan chặt chẽ đến chế độ ăn uống. Ăn uống điều độ có thể làm giảm bệnh, có thể ngăn ngừa bệnh và ngăn ngừa bệnh tiến triển xấu.

Nguyên nhân và biểu hiện của bệnh gout

benh-gout-va-van-de-an-uong

Mặc dù nguyên nhân của rối loạn purine, gây bệnh Gout, hiện chưa rõ, nhiều khả năng là do những rối loạn tại gen, nhưng bệnh Gout đã được coi là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine ở người, làm tăng tổng hợp acid uric và/hoặc giảm thải acid uric ra ngoài, gây tăng acid uric trong máu, gây thêm một hoặc nhiều biểu hiện sau:

– Viêm một khớp cấp (thường ở ngón chân cái) được gọi là cơn Gout cấp.

– Có các khoảng hoàn toàn khỏi giữa các đợt viêm khớp cấp.

– Xuất hiện các tophy (u cục) ở khớp, quanh khớp, ở vành tai.

– Có sỏi thận (sỏi urate), suy thận mãn.

Ở giai đoạn đầu, bệnh Gout có những đặc điểm lâm sàng khá đặc trưng, đa số dễ nhận biết nếu được chú ý từ đầu:

– Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp.

– Thường bắt đầu vào cuối những năm 30 và đầu những năm 40 của cuộc đời, tuổi bắt đầu làm nên của những người đàn ông thành đạt.

– Khởi bệnh đột ngột bằng một cơn viêm khớp cấp với tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội, đột ngột ở một khớp làm người bệnh rất đau đớn, không thể đi lại được. Hiện tượng viêm thường không đối xứng và có thể tự khỏi sau 3-7 ngày. Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, nôn ói…).

– Bệnh diễn biến từng đợt, giữa các cơn viêm cấp có những giai đoạn các khớp hoàn toàn hết đau, người bệnh tưởng mình khỏi bệnh.

– Ở giai đoạn muộn, biểu hiện viêm ở nhiều khớp cả tay và chân, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, bệnh diễn biến liên miên không rõ từng đợt, giữa các đợt viêm cấp các khớp vẫn đau nhức, dần dâ gây biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ… hoàn toàn khỏi (những năm đầu).

Các yếu tố nguy cơ của bệnh gout

Tăng acid uric máu

Nếu chỉ có tăng acid uric máu đơn thuần, không phải là bệnh Gout, đây chỉ là một tình trạng rối loạn chuyển hóa purine, làm tăng acid uric trong máu (trên 7mg% hay trên 420mmol/L) nhưng chưa gây bệnh. Tăng acid uric máu đơn thuần có tỷ lệ khá cao: từ 4- 14% dân số (tùy từng dân tộc, từng quốc gia). Tình trạng này có thể xuất hiện rất sớm, ngay lúc dậy thì. Đa số trường hợp, tình trạng này hoàn toàn không gây triệu chứng gì, thường chỉ được tình cờ phát hiện khi làm xét nghiệm.

Tăng acid uric máu được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh Gout. Lượng acid uric máu càng cao, càng nhiều khả năng trở thành bệnh Gout.

Khoảng 5-10 % số người có tăng acid uric máu sẽ trở thành bệnh nhân Gout vào cuối thập niên thứ 3 trở đi (> 35 tuổi).

Ăn nhiều thức ăn chứa purine

Trên nhóm người có tăng acid uric máu, việc ăn nhiều thức ăn giàu purine sẽ làm tăng thêm tình trạng tăng acid uric máu sẵn có, thúc đẩy họ trở thành bệnh nhân Gout, làm nhanh tái phát các cơn Gout, khó kiểm soát bệnh và sớm trở thành Gout mạn.

Uống nhiều rượu

Việc uống nhiều rượu, rượu mạnh sẽ không những góp phần làm tăng thêm acid uric máu mà còn làm cho acid uric dễ dàng bị lắng đọng tại tổ chức, gây cơn Gout cấp, gây sỏi thận… Uống nhiều rượu còn ảnh hưởng tới gan, thận, dạ dày… tới các bệnh lý đi kèm như: tim mạch, huyết áp, rối loạn lipid máu.

Béo phì, cao huyết áp, rối loạn lipid máu

Các yếu tố này vừa là các yếu tố nguy cơ, vừa là các bệnh lý thường đi kèm với bệnh Gout. Nếu không được kiểm soát tốt, các yếu tố này gây ảnh hưởng xấu tới bệnh và ngược lại nếu các yếu tố này được điều chỉnh tốt sẽ góp phần làm bệnh Gout dễ điều trị hơn.

Tại sao bệnh gout lại gia tăng

Trong vài thập niên gần đây, số lượng bệnh nhân Gout gia tăng rất nhanh trên toàn thế giới. Cùng với sự thay đổi về kinh tế – xã hội, mô hình bệnh tật của nước ta đã có những thay đổi sâu sắc. Cũng như nhiều bệnh lý chuyển hóa khác (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì…) bệnh Gout đã trở nên rất thường gặp trong thực tế lâm sàng. Mới đây, tại Hội nghị Thấp khớp học châu Âu ở Paris tháng 6/2008, tác giả Roddy. E và cộng sự đã nêu ra những nguyên nhân chính làm bệnh Gout gia tăng trên toàn thế giới, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi đáng kể về lối sống và các điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay:

– Tăng tiêu thụ bia và rượu trong cộng đồng.

– Tăng sử dụng thiazide và liều nhỏ aspirin cho các bệnh lý tim mạch.

– Tăng sử dụng các thức ăn giàu purine.

– Gia tăng các bệnh lý chuyển hóa (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…) và béo phì.

– Gia tăng tuổi thọ, tăng tỷ lệ người trên 65 tuổi trong cộng đồng (người ta nhận thấy, có mối liên quan giữa sự lắng đọng các tinh thể urate và sụn khớp bị thoái hóa, vì vậy nguy cơ bị bệnh sẽ gia tăng theo tuổi).

– Gia tăng và kéo dài thời gian sống của các bệnh nhân suy thận mãn.

Chế độ ăn uống của người tăng acid uric máu và bệnh gout

benh-gout-va-van-de-an-uong-1

Không dùng

Không ăn phủ tạng động vật.
Không uống nhiều rượu mạnh. Không ăn các thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc…, hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi. Không ăn mỡ động vật, không ăn đường.

Dùng hạn chế

Hạn chế protid (<1g protein/kg/ ngày tương đương < 200g thịt nạc mỗi ngày).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) đồ biển (tôm, cua…).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) các loại đậu hạt, măng tây.

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) chocolate, cacao, trà, cà phê.

Dùng nhiều

Các loại rau xanh, trái cây tươi.

Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.

Các loại ngũ cốc.

Sữa, trứng.

Chế độ sinh hoạt

Chống béo phì.

Tăng cường vận động.

Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…

Chế độ ăn uống có thay thế được thuốc không?

Đối với bệnh Gout

Trong đa số trường hợp, chế độ ăn uống góp phần điều trị cho bệnh Gout và các bệnh kèm theo (cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu…) chứ không thể thay được thuốc. Thực hiện tốt chế độ ăn uống có thể giảm bớt số lượng thuốc, số loại thuốc cần dùng, giảm bớt các hậu quả xấu của bệnh.

Chế độ ăn uống được sử dụng để thay thế thuốc trong một số ít trường hợp, người bệnh không dùng được các thuốc làm hạ acid uric (dị ứng thuốc, suy thận, suy gan…).

Đối với tình trạng tăng acid uric máu

Chế độ ăn uống và chế độ sinh hoạt sẽ giúp phòng ngừa bệnh Gout, làm giảm số người trở thành bệnh nhân Gout.

Như vậy, chế độ ăn uống không thể thay thế được các thuốc điều trị bệnh Gout, nhưng có một vai trò quan trọng trong điều trị, góp phần làm bệnh Gout và các bệnh kèm theo dễ kiểm soát hơn, giảm bớt liều thuốc phải dùng, giảm bớt số thuốc phải dùng. Chế độ ăn uống càng quan trọng hơn khi người bệnh bị dị ứng với các thuốc làm giảm acid uric máu, hoặc vì một lý do nào đó không sử dụng được các thuốc này. Chế độ ăn uống còn là biện pháp chính, không thể thiếu được trong việc phòng ngừa bệnh Gout cho các đối tượng có tăng acid uric máu đơn thuần.

Các bệnh rối loạn chuyển hóa ở người thường đi kèm với nhau, ngày càng gia tăng và đang là một hiểm họa lớn cho loài người trong thế kỷ 21. Hội chứng chuyển hóa kinh điển gồm 4 biểu hiện: béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Nay thêm một biển hiện thứ 5 là tăng acid uric máu, nói cách khách, các bệnh nhân béo phì, cao huyết áp, bệnh mạch vành… rất dễ bị gout và ngược lại, bệnh nhân gout thường mắc bệnh các bệnh béo phì, xơ mỡ động mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh mạch vành

TS.BS. Lê Anh Thư
Theo SKDS