Tag Archives: Dấu hiệu

Bệnh nấm Candida sinh dục

Dấu hiệu nhận biết
Nhiễm nấm sinh dục thường gặp nhất là nấm âm đạo. Bình thường, nấm Candida ký sinh trên cơ thể người và không có biểu hiện gì. Khi môi trường pH âm đạo thay đổi tạo điều kiện cho nấm phát triển, gây ra những biểu hiện bệnh.

Bệnh nấm Candida có thể lây truyền theo nhiều đường khác nhau như quan hệ tình dục không an toàn với người mang bệnh qua âm đạo, hậu môn hay miệng. Bệnh có thể lây lan qua các công cụ dùng chung như khăn, quần lót, công cụ trợ dâm (sextoy) với người mang bệnh. Khi mắc bệnh, người phụ nữ thường có hai triệu chứng nổi bật là rất ngứa và ra khí hư. Các biểu hiện khác là đau, cảm giác bỏng rát trong âm đạo, âm hộ, đi tiểu khó và đau khi giao hợp. Trường hợp nặng có thể gây đỏ, phù nề âm hộ và môi nhỏ, môi lớn, đôi khi lan ra cả đùi, bẹn. Bệnh thường nặng lên trước kỳ kinh nguyệt.

benh-nam-candida-sinh-duc

Đàn ông khi quan hệ tình dục với phụ nữ bị bệnh cũng có thể bị viêm quy đầu với biểu hiện đỏ, ngứa, cảm giác bỏng, rát và có chất nhày trắng. Bệnh thường xảy ra vài phút hoặc vài giờ sau khi giao hợp và thường khỏi sau khi rửa sạch.

Thuốc điều trị và dự phòng
Khi nghi ngờ bị nhiễm bệnh, bạn hãy đến các trung tâm y tế xét nghiệm để bác sĩ chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Hiện nay, thường sử dụng thuốc bôi tại chỗ và thuốc uống toàn thân kết hợp nâng cao sức đề kháng của cơ thể, đồng thời vệ sinh cá nhân đúng cách.

Thông thường, khi xác định bệnh nhân bị nhiễm Candida âm đạo, bệnh nhân sẽ được chỉ định sử dụng thuốc fluconazole uống kết hợp với thuốc đặt âm đạo như miconazole.
Đặt thuốc trước khi đi ngủ.

Đối với nam, thường không cần điều trị vì bệnh có thể tự khỏi, tuy nhiên, nếu bị viêm quy đầu thì có thể bôi các kem chống nấm như ketoconazole, clotrimazole. Đối với những trường hợp hay tái phát, cần dùng thuốc dự phòng từng đợt để phòng sự nhiễm bệnh những đợt tiếp theo.

Các thuốc chống nấm sử dụng toàn thân và tại chỗ hiện nay chủ yếu là nhóm nystatin, ketoconazole, fluconazole hay itraconazol. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuốc này, đặc biệt ở các trường hợp tái diễn, dùng thuốc nhiều lần, cần chú ý theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc như: buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi, tiêu chảy, chảy máu tiêu hóa; thiểu năng tuyến thượng thận, gây chứng vú to ở nam giới và giảm tình dục; có thể gặp nhức đầu, chóng mặt, kích động hoặc ngủ gà, viêm da, phát ban, mày đay, tăng enzym gan.

Ketoconazol ức chế enzym gan, làm tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống đông máu, thuốc chống ung thư, kháng histamin H1 thế hệ 2, thuốc an thần và corticoid. Các thuốc kháng acid, kháng histamin H2 và isoniazid làm giảm hiệu quả trị nấm của ketoconazol.

Intraconazol làm giảm nồng độ trong huyết tương của rifampicin, phenytoin, carbamazepin. Tăng nồng độ trong huyết tương của digoxin, cyclosporin các kháng histamin như terfenadin, astemizol (gây độc với tim, xoắn đỉnh) và ảnh hưởng tới chuyển hóa của các thuốc chống tiểu đường.

Để dự phòng, chị em cần lưu ý: không nên mặc đồ lót quá chật, nên dùng loại vải bông; không nên mặc quần tây, quần jean quá chật; Không nên tự tiện sử dụng xà bông, nước hoa, chất khử mùi mà nên tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng các loại này.

Đối với trường hợp bệnh tái phát nhiều lần, cần kiểm tra lại vì rất có thể do bị bệnh đái tháo đường hoặc dùng kháng sinh kéo dài, thuốc tránh thai có estrogen hoặc quan hệ tình dục khi bệnh chưa dứt hẳn… Đây là các nguyên nhân gây suy giảm sức đề kháng, tạo thuận lợi cho nấm phát triển, cần tìm nguyên nhân để điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

10 dấu hiệu phổ biến của bệnh ung thư bạch cầu

Người mắc bệnh bạch cầu (một loại bệnh ung thư liên quan tới máu và tủy xương) có thể không hay biết cho tới khi đi xét nghiệm máu. Dưới đây là 10 dấu hiệu phổ biến của bệnh này.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau

1. Những đốm đỏ dưới da: Những đốm xuất huyết màu đỏ hoặc đỏ tía thường xuất hiện thành đám trên ngực, lưng, mặt và cánh tay của người bệnh. Đó là triệu chứng cho thấy máu không đông. Dấu hiệu này có thể bị nhầm lẫn với chứng phát ban nhưng thực chất, chúng là những mạch máu bị vỡ do giảm tiểu cầu.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau1

2. Đau nhức xương, khớp: Đau sâu trong xương là một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh bạch cầu vì nó không trùng lặp với nhiều loại bệnh khác. Cơn đau xảy ra khi tủy xương nở do sự tích lũy bạch cầu bất thường. Người bệnh có thể thấy đau nhói hoặc âm ỉ, tùy thuộc vào chỗ đau. Xương dài nơi chân và cánh tay là những vị trí đau phổ biến nhất.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau2

3. Đau đầu: Một trong những dấu hiệu ít được nhắc tới ở bệnh bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu cấp là chứng đau đầu thường xuyên. Cơn đau thường kéo dài và dữ dội. Một số bệnh nhân kể rằng họ thức dậy với cơn đau đầu, mồ hôi đầm đìa và nhức nhối toàn thân. Nguyên do là máu chảy tới não bộ và tủy sống bị hạn chế. Khi cơn đau đầu diễn ra, mạch máu bị chèn ép. Trong một số trường hợp, bệnh nhân có thể bị tai biến.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau3

4. Xuất hiện hạch bất thường: Bệnh bạch cầu làm giảm khả năng sản sinh tế bào hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu khoẻ mạnh. Vì thế, chứng giảm bạch cầu sẽ làm cơ thể mất dần khả năng phản ứng với nhiễm trùng, thương tổn, dẫn tới sự xuất hiện của các hạch nhỏ. Chúng thường xuất hiện ở cổ, bụng hoặc vùng dưới cánh tay.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau4

5. Cảm thấy ốm yếu, mệt mỏi: Vì số lượng hồng cầu khoẻ mạnh giảm nên chúng không thể thực hiện nhiệm vụ đưa oxy tới khắp nơi trên cơ thể người. Kết quả là người bệnh sẽ bị thiếu máu và gặp các chứng như yếu cơ, ít sức vận động. Thường xuyên phải ngồi, nghỉ ngơi, không thể vận động như bình thường là những dấu hiệu bạn cần xem xét. Một số bệnh nhân còn cho biết họ gặp vấn đề với việc giữ thăng bằng.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau5

6. Dễ chảy máu, bầm tím: Tất cả các dạng chảy máu không lí giải được đều có thể là dấu hiệu của bệnh bạch cầu bởi khi đó, chứng giảm tiểu cầu sẽ ngăn máu đông. Những vết bầm có thể đột nhiên xuất hiện trong khi bạn nhớ rằng mình không va chạm vào bất cứ đâu. Hơn nữa, chúng còn có mặt ở những nơi lạ như ngón tay, bàn tay, bụng, lưng. Các vấn đề liên quan tới chảy máu gồm có: Đứt tay khó lành, thường xuyên chảy máu cam hay kinh nguyệt dài kì bất thường ở phụ nữ.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau6

7. Thường xuyên bị sốt, nhiễm trùng: Bệnh bạch cầu cấp hoặc mãn tính đều làm giảm sức đề kháng của cơ thể gây sốt kéo dài. Ngoài ra, bạn có thể hay bị nhiễm trùng hơn thông thường. Nguyên do của dấu hiệu này là vì các tế bào ung thư đã đẩy bạch cầu khoẻ mạnh ra ngoài, không để chúng thực hiện chức năng của mình.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau7

8. Thường xuyên bị sốt, nhiễm trùng: Bệnh bạch cầu cấp hoặc mãn tính đều làm giảm sức đề kháng của cơ thể gây sốt kéo dài. Ngoài ra, bạn có thể hay bị nhiễm trùng hơn thông thường. Nguyên do của dấu hiệu này là vì các tế bào ung thư đã đẩy bạch cầu khoẻ mạnh ra ngoài, không để chúng thực hiện chức năng của mình.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau9

9. Tình trạng thở bất thường: Khi không có đủ oxy tuần hoàn trong máu, bạn sẽ thấy hụt hơi giống như khi ở trên cao. Nhiều người nói họ không thể thở kịp trong khi số khác cho biết dù thở sâu thế nào họ vẫn cảm thấy không đủ.

10-dau-hieu-pho-bien-cua-benh-ung-thu-bach-cau10

10. Đau bụng: Khi bệnh bạch cầu cấp tiến triển, nó có thể gây sưng tấy ở gan hoặc lá lách làm bạn thấy đau bụng hoặc đầy bụng. Tuy nhiên, một số người lại bị đau thắt lưng. Buồn nôn hoặc mất khẩu vị thường liên quan tới dấu hiệu này.

Nguồn giáo dục

Triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi

Tuy ung thư lưỡi không nhiều như các thể ung thư khác, tuy nhiên bạn không nên đánh giá thấp những dấu hiệu ban đầu và mức độ nguy hiểm của chứng bệnh này.

Theo trích dẫn của tạp chí điện tử Tongue Cancer Symptoms, những mảng hoặc đốm màu trắng gây đau và loét xuất hiện trên lưỡi, giống như vết loét trên miệng, thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư lưỡi. Tuy nhiên, đôi khi các mảng hoặc đốm này không phải là màu trắng mà là màu đỏ.

dau-hieu-nhan-biet-ung-thu-luoi

Theo các chuyên gia, dưới đây là một số triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi:

1. Xuất hiện những mảng hoặc đốm màu trắng hay màu đỏ trên bất kỳ phần nào của lưỡi. Theo thời gian, những đốm này không lành mà ngày càng phát triển lớn hơn.

2. Phần trung tâm của các mảng hoặc đốm này thường mềm và dễ chảy máu, gây loét. Nguyên nhân gây chảy máu thường là do sự chà xát trong khi nhai hoặc nuốt thức ăn. Triệu chứng loét này là dấu hiệu phổ biến nhất, cảnh báo sớm bệnh ung thư lưỡi.

3. Đôi khi triệu chứng ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng đau cổ họng khi nuốt nước miếng hoặc thức ăn.

4. Lưỡi và miệng có cảm giác tê, thay đổi giọng nói, lưỡi trở nên khó khăn khi di chuyển và gặp trở ngại khi há miệng.

5 . Một số bệnh nhân ung thư lưỡi đôi khi cũng bị đau ở tai và có một vết sưng trên phần mặt sau của cổ họng.

Lưu ý: Một số trường hợp ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng sụt cân. Vì thế, trong trường hợp nhận thấy những dấu hiệu trên, đặc biệt là vết loét trên lưỡi không lành và tiếp tục phát triển sau hai tuần, bạn phải đến bệnh viện kiểm tra ngay lập tức để được điều trị kịp thời.

Theo afamily

Dấu hiệu của ung thư dạ dày giai đoạn đầu

Khi bệnh đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất.

dau-hieu-cua-ung-thu-da-day-giai-doan-dau

Theo sina, 4 dấu hiệu dưới đây được cho là điển hình của ung thư dạ dày giai đoạn đầu.

1. Trên 80% số người bị ung thư đều có biểu hiện đau bụng trên.

2. Khoảng 1/3 số người bị ung thư có hiện tượng căng dạ dày, bụng trên khó chịu, ăn không ngon, tiêu hóa không tốt…

3. Khoảng 1/3 số người mặc dù không có dấu hiệu rõ ràng về hệ thống tiêu hóa, nhưng vẫn bị giảm cân không rõ nguyên nhân, cơ thể gầy đi và lao lực.

4. Một bộ phận người ung thư có biểu hiện ợ nóng, buồn nôn, nôn, ợ hơi và đi ra phân đen.

Ngoài ra, nam giới từ 40 trở lên (những người nghiện rượu và thuốc lá từ 35 tuổi trở lên) nếu có hiện tượng chướng bụng, không thoải mái thì nên đi khám để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Khi bệnh tình đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất và khuếch tán ung thư dẫn đến các triệu chứng tương ứng như trên.

Theo VnExpress

Những dấu hiệu bệnh tiểu đường bạn cần quan tâm

Nếu có các dấu hiệu dưới đây, bạn hãy đề nghị bác sĩ cho thực hiện test chuyên sâu, từ đó biết cơ thể mình có trục trặc hay không, và lúc nào cần thay đổi chế độ ăn và luyện tập để tránh xa bệnh tiểu đường thật sự.

Tỷ lệ người mắc tiền tiểu đường đang tăng nhanh, và hầu hết họ không biết mình có bệnh. Bị tiền tiểu đường nghĩa là lượng glucose trong máu bạn cao hơn bình thường, nhưng chưa đến mức bị xếp vào tiểu đường. Các nghiên cứu cho thấy hầu hết những người bị tiền tiểu đường sẽ phát triển thành bệnh tiểu đường tuýp 2 trong vòng 10 năm, trừ phi họ giảm cân và thay đổi chế độ ăn, tập thể dục.

Vì tiền tiểu đường phát triển dần dần qua nhiều năm, nên người ta thường cho rằng chúng không có triệu chứng rõ ràng. Tuy nhiên, bạn vẫn có thể nhận ra những dấu hiệu cảnh báo chắc chắn về sự gia tăng kháng insulin – mất khả năng chuyển hóa đường một cách hợp lý – yếu tố chủ chốt trong giai đoạn tiền tiểu đường, theo Beth Reardon, giám đốc dinh dưỡng cho trung tâm Duke Integrative Medicine tại Đại học Duke.

Để ý tới những dấu hiệu cảnh báo sẽ cho bạn thời gian để thực hiện các thay đổi trước khi quá muộn:

1. Cảm thấy mệt mỏi và uể oải sau khi ăn
nhung-dau-hieu-benh-tieu-duong-ban-can-quan-tam
Bạn buồn ngủ ngay sau khi bữa ăn? Đây là phản ứng bình thường, nhưng nếu chuyện này xảy ra thường xuyên, cơ thể bạn có thể đang gửi thông điệp rằng chế độ ăn này quá gần gũi với “anh bạn” tiểu đường.

Giải pháp: Làm chậm quá trình chuyển hóa đường. Chọn các loại carbonhydrate dạng thô hơn, như ngũ cốc nguyên hạt, rau củ, hoa quả tươi (không phải là nước ép hoa quả), những thứ mà cơ thể phải tiêu hóa lâu hơn. Điều đó sẽ giúp lượng đường máu ổn định trong quá trình dài hơn.

Đi bộ nhẹ nhàng sau ăn – đi bộ 15 phút – thay vì ngồi trước màn hình. Các hoạt động này sẽ giúp cơ thể xử lý lượng glucose ăn vào một cách hiệu quả hơn.

2. Giảm ăn mà không thấy giảm cân

Hầu hết người bị tiền tiểu đường có cân nặng thừa. Chỉ riêng yếu tố này đã là nguy cơ lớn gây tiểu đường. Tuy nhiên, cần đặc biệt lo lắng khi bạn cắt giảm calo mà vẫn không thấy giảm cân. Sự giữ cân ương ngạnh này có thể là kết quả của những thông điệp nhầm lẫn rằng các tế bào cơ thể đang nhận năng lượng.

Các tế bào cơ thể đang đói dần vì năng lượng mà chúng cần (dưới dạng glucose) không được hấp thụ tại các điểm tiếp nhận insulin trên bề mặt tế bào. Để đối phó với tình trạng thiếu năng lượng hiển hiện, cơ thể sẽ giữ chặt kho dự trữ hiện có – là mỡ. Vì thế, số thức ăn ít ỏi được đưa vào sẽ được chuyển ngay vào kho năng lượng – để có nhiều mỡ hơn.

Để cải thiện tình trạng này, hãy thay đổi mục tiêu giảm cân. Đừng nghĩ rằng “tôi phải giảm 25 cân ngay, tôi không thể làm điều đó”. Thay vì thế, hãy chọn mục tiêu nhỏ thôi. Chỉ cần giảm 5-7% cân nặng, bạn đã ngăn cản hoặc trì hoãn được tiểu đường đến 60%. Kết hợp thay đổi lối sống (nhất là chế độ ăn) và dùng các loại thuốc là bạn có thể đạt được mục tiêu này.

3. Tăng cân ở giữa cơ thể

Tăng cân ở vùng giữa (eo và bụng) được xem là nguy cơ nguy hiểm hơn so với khi tăng cân ở đùi hay mông. Loại mỡ bụng này có liên quan tới sự gia tăng huyết áp cao, tim mạch, đột quỵ và lượng cholesterol nguy hiểm. Với đàn ông, điểm nguy hiểm là khi vòng eo từ 100 cm trở lên, và phụ nữ, mức nguy hiểm là 89 cm trở lên.
nhung-dau-hieu-benh-tieu-duong-ban-can-quan-tam1
Giải pháp: Chế độ ăn, giảm cân và tập thể dục. Không nhất thiết phải là các bài tập đứng lên ngồi xuống hay bài tập chỉ nhăm nhăm vào vùng bụng. Hãy cử động toàn thân, từ 30 đến 60 phút mỗi ngày (như đi nhanh chẳng hạn).

4. Huyết áp cao theo sau tăng cân

Huyết áp cao có liên hệ với nhiều loại bệnh khác nhau. Nhưng tiền tiểu đường có thể là nguyên nhân, khi huyết áp cao dường như đến sau sự tăng cân (đặc biệt là tăng cân giữa cơ thể), mệt mỏi và một số yếu tố tiêu cực khác (lượng cholesterol bất thường, triglycerides cao).

Các con số cần cảnh giác: huyết áp bằng hoặc lớn hơn 130/85; lượng cholesterol tốt HDL dưới 40 mg/Dl đối với nam và dưới 50 mg/Dl với nữ, và triglycerides là 150 mg/Dl.

(Theo vnexpress.net)

Tìm hiểu và điều trị bệnh thấp tim

Bệnh thấp tim hay còn gọi thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (Rheumatic Fever) được coi là một trong những bệnh của hệ miễn dịch mô liên kết hay thuộc hệ thống tạo keo. Cho tới nay, bệnh vẫn khá thường gặp ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) và là nguyên nhân hàng đầu của bệnh van tim ở người trẻ tuổi. Bệnh thường gặp từ 6-15 tuổi, nhưng không ít trường hợp xảy ra ở lứa tuổi 20.

Tại sao lại bị thấp tim?

Ngày nay, người ta đã tìm ra nguyên nhân gây bệnh là do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A đường hô hấp trên (streptocuccus A). Vì vậy mà hiện nay bệnh thấp tim đã được đẩy lùi và khá hiếm gặp ở các nước phát triển. Ở nước ta cũng có thể hoàn toàn khống chế tốt bệnh nếu chúng ta có những biện pháp giáo dục sức khoẻ tốt, sự phát triển đồng bộ về vệ sinh dinh dưỡng cũng như phát hiện kịp thời để tiêm phòng thấp sẽ hạn chế được tiến triển nguy hại đến các van tim.

Thấp tim có thể tiến triển khá âm thầm mà đến khi bị biến chứng vào tim mới phát hiện ra bệnh. Có tới gần 50% số bệnh nhân bị bệnh van tim do thấp tim mà không rõ tiền sử đau khớp.

Mối liên hệ chặt chẽ giữa dịch viêm họng và thấp tim được biết rõ từ năm 1930. Bằng chứng là sự tăng rõ rệt kháng thể kháng liên cầu streptolysin O ở trong huyết thanh bệnh nhân bị thấp tim. Bên cạnh đó, người ta thấy hiệu quả rõ rệt của kháng sinh trong phòng bệnh thấp tim là một trong những bằng chứng hỗ trợ cho cơ chế trên.

Thấp tim không phải do trực tiếp liên cầu gây ra mà thông qua cơ chế miễn dịch. Thông thường, sau khoảng 3 tuần viêm đường hô hấp trên bệnh nhân mới có biểu hiện thấp tim. Một khía cạnh nữa là thấp tim rất ít khi xảy ra ở bệnh nhân dưới 5 tuổi, khi mà hệ miễn dịch chưa hoàn thiện đầy đủ nên phản ứng chéo của cơ thể chưa đủ hiệu lực gây ra thấp tim. Lớp kháng nguyên là các protein M,T và R ở lớp vỏ ngoài của liên cầu A là yếu tố quan trọng nhất gây phản ứng chéo với cơ thể. Bởi cơ thể đã sản sinh ra kháng thể chống lại các protein ở các tổ chức mô liên kết của cơ thể, loại mà có đặc tính trùng hợp rủi ro với protein của vi khuẩn. Trong số trên, protein M là yếu tố không những đặc hiệu miễn dịch mà còn là yếu tố gây thấp mạnh nhất. Có khoảng 3% số bệnh nhân bị viêm đường hô hấp trên do liên cầu nhóm A mà không được điều trị triệt để sẽ tiến triển thành thấp tim, và có khoảng 50% số bệnh nhân đã bị thấp tim bị tái phát. Nhiễm liên cầu ngoài da thường ít khi gây thấp tim.
Hình ảnh liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A.

Nhận biết thế nào?

Các dấu hiệu viêm tim
viem-tim
Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41-83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu ở mỏm tim, tim to, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim… Suy tim thường ít gặp ở giai đoạn cấp, nhưng nếu gặp thì là biểu hiện nặng và do viêm cơ tim. Một trong những biểu hiện rất phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá. Viêm màng ngoài tim có thể gây đau ngực, tiếng cọ màng tim, tiếng tim mờ.

Viêm khớp

Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp. Thường xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai..) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp đáp ứng rất tốt với thuốc aspirin trong vòng 48 giờ. Nếu trong trường hợp đã cho aspirin đầy đủ mà trong vòng 48 giờ viêm khớp không thuyên giảm thì phải nghĩ tới nguyên nhân khác ngoài thấp tim. Viêm khớp do thấp tim thường không để lại di chứng.

Múa giật Sydeham

Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi, giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ. Múa giật Sydeham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khoảng 3 tháng sau khi viêm đường hô hấp trên. Múa giật Sydeham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2-3 tháng. Cần phải chẩn đoán phân biệt với một số bệnh lý khác như, phản ứng co giật ở một số bệnh, động kinh, rối loạn hành vi tác phong.

Nốt dưới da

Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5-2 cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau khoảng vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.
Nốt dưới da
Hồng ban vòng (erythema marginatum): Đây là một loại ban trên da bệnh nhân có màu hồng và khoảng tái ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Các dấu hiệu phụ

Sốt thường xảy ra trong giai đoạn cấp; Đau khớp được định nghĩa là chỉ đau khớp chứ không có viêm (sưng, nóng, đỏ); Ngoài ra còn có thể gặp các biểu hiện như đau bụng, viêm cầu thận cấp, viêm phổi cấp do thấp tim, đái máu, hoặc viêm màng não.. Đây là những dấu hiệu không nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán thấp tim.

Ðiều trị

Loại bỏ ngay sự nhiễm liên cầu bằng thuốc kinh điển benzathine Nếu bệnh nhân bị dị ứng với penicillin thì dùng thay bằng erythromycine.

Chống viêm khớp: phải được bắt đầu càng sớm càng tốt ngay khi có chẩn đoán.

Aspirin là thuốc được chọn hàng đầu và hiệu quả nhất. Thường dùng kéo dài từ 4-6 tuần tuỳ thuộc vào diễn biến lâm sàng. Có thể giảm liều dần dần sau 2-3 tuần. Nếu sau khi dùng aspirin 24-36 giờ mà không hết viêm khớp thì cần thiết phải nghĩ đến nguyên nhân khác ngoài thấp tim.

Prednisolone được khuyến cáo dùng cho những trường hợp có kèm viêm tim nặng. Dùng kéo dài 2-6 tuần. Giảm liều dần trước khi dừng.

Một số thuốc giảm viêm chống đau không phải corticoid có thể được dùng thay thế trong một số hoàn cảnh nhất định.

Điều trị múa giật Sydenham: bao gồm các biện pháp nghỉ ngơi tại giường, tránh các xúc cảm, dùng các biện pháp bảo vệ và có thể dùng một số thuốc như: phenobarbital, diazepam, haloperidol, hoặc steroid. Việc phòng bệnh tiếp tục theo chế độ cũng là biện pháp tránh được tái phát múa giật Sydenham.

Chế độ nghỉ ngơi trong giai đoạn cấp là rất quan trọng, đầu tiên là nghỉ tại giường, sau là vận động nhẹ trong nhà rồi vận động nhẹ ngoài trời và trở về bình thường. Chế độ này tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh.

Điều trị suy tim (nếu có): nghỉ tại giường, thở ôxy, với suy tim trái cấp cho morphin, lợi tiểu. Hạn chế ăn mặn và hạn chế uống nước, có thể dùng lợi tiểu. Digixin có thể dùng nhưng phải thận trọng vì quả tim của bệnh nhân thấp tim rất nhạy cảm, nên dùng liều ban đầu bằng nửa liều quy ước.

Vấn đề cực kỳ quan trọng là nhắc nhở bệnh nhân và gia đình sự cần thiết và tôn trọng chế độ phòng thấp tim cấp hai khi bệnh nhân ra viện.

Phòng bệnh thấp tim như thế nào?

Vì thấp tim là do liên cầu gây ra và có thể lây nhiễm nên những biện pháp giáo dục sức khoẻ là rất quan trọng. Hãy giáo dục cho trẻ giữ vệ sinh, không để nhiễm lạnh. Nâng cao thể chất cũng là biện pháp quan trọng trong việc chống đỡ bệnh. Một khi trẻ có các dấu hiệu viêm đường hô hấp trên cần được điều trị triệt để và sớm. Nếu có những biểu hiện đau khớp thì cần đưa ngay trẻ đến khám tại các cơ sở y tế.

Phòng bệnh cấp I: Một bước cực kỳ quan trọng trong điều trị thấp tim là loại trừ ngay sự nhiễm liên cầu khuẩn, cũng gọi là chế độ phòng thấp cấp I.

Cần thiết phải điều trị thật sớm nếu có thể khi phát hiện ra nhiễm liên cầu. Penicillin là thuốc lựa chọn hàng đầu vì tính hiệu quả và giá rẻ. Với bệnh nhân dị ứng với penicillin, thay thế bằng erythromycin uống trong 10 ngày. Có thể dùng marcrolide mới như azithromycin để thay thế rất có tác dụng. Có thể thay thế bằng chế độ khác là dùng cephalosporin dạng uống thế hệ I (cephalexin, cephadroxil) uống trong 10 ngày.

Phòng bệnh cấp II: Phải bắt đầu ngay khi được chẩn đoán thấp tim. Thời gian dùng thuốc luôn là câu hỏi của bệnh nhân và nói chung phụ thuộc vào từng cá thể bệnh nhân. Nên dùng bằng đường tiêm. Chỉ nên dùng đường uống cho các trường hợp ít có nguy cơ tái phát thấp tim hoặc vì điều kiện không thể tiêm phòng được vì tỷ lệ tái phát thấp tim ở bệnh nhân dùng đường uống cao hơn đường tiêm nhiều. Hãy thật kiên trì và tuân thủ theo yêu cầu của bác sĩ vì chỉ một sự chủ quan cũng có thể dẫn tới hậu quả khôn lường sau này mà bạn không còn thời gian để mà hối hận.

ThS. Phan Ðình Phong

Theo sức khỏe đời sống

Những cảnh báo trước của bệnh tim

Trước khi xuất hiện những dấu hiệu dễ nhận biết của một cơn đau tim, hóa ra trái tim của chúng ta đã từng “lên tiếng” cảnh báo rằng nó đang gặp rắc rối thông qua những triệu chứng bất thường ở nhiều bộ phận khác của cơ thể. Lưu ý, nếu gặp từ 2 dấu hiệu trở lên như thống kê sau, đó là lý do nên kiểm tra bệnh tim mạch.

Đau thắt ngực hoặc vai
dau-nguc
Triệu chứng được coi là phổ biến nhất của bệnh động mạch vành là đau thắt ngực. Người bệnh cảm thấy cơn co thắt sâu bên trong ngực và càng tệ hơn khi hít thở. Nó cũng có thể bị nhầm lẫn với chứng khó tiêu hoặc ợ nóng khi cơn đau xảy ra ở vùng bụng. Cũng có khi cơn co thắt kéo đến vùng vai, cổ, cánh tay, quai hàm hay vùng lưng phía trên nên dễ bị hiểu nhầm là phần cơ bị kéo. Nhưng có thể phân biệt, chứng đau thắt ngực liên quan đến bệnh tim xảy ra thường xuyên hơn và mỗi lần đau sẽ rất ngắn. Nguyên do, khi mảng bám tích tụ trong động mạch vành, nó tước đi phần máu dành cho cơ tim khiến cơ tim bị ép lại. Hầu hết những người bị đau thắt ngực thường xuất hiện triệu chứng này khi tim chịu thêm áp lực, chẳng hạn như tập thể dục hoặc căng thẳng. Nếu được chẩn đoán chứng bệnh này, bạn nên nghỉ ngơi, dùng thuốc để giúp thư giãn các động mạch vành và mạch máu khác, tăng cung cấp máu cho tim và giảm bớt khối lượng công việc của nó.

Đau, sưng hoặc chảy máu lợi

Đó không chỉ là triệu chứng của bệnh nha chu mà còn là một dấu hiệu sớm của bệnh tim mạch. Các chuyên gia tin rằng, máu lưu thông kém do bệnh tim có thể là một nguyên nhân cơ bản của bệnh nha chu. Các nhà nghiên cứu cũng đang tìm hiểu liệu một loại vi khuẩn phổ biến trong bệnh về lợi có liên quan đến sự tích tụ mảng bám trong động mạch vành hay không. Bởi vậy, bệnh nướu răng có thể coi là “dấu hiệu đỏ” cho các vấn đề viêm và tuần hoàn.

Sưng phù chân
phu-chan
Hiện tượng giữ nước biểu hiện chân sưng lên làm giày dép chật hơn, sưng vùng mắt cá chân, bắp chân, cổ tay hoặc ngón tay… có thể là dấu hiệu của bệnh động mạch vành (CAD), suy tim, và các hình thức khác của bệnh tim mạch. Tình trạng giữ nước hay phù nề xảy ra khi tim không bơm được máu đầy đủ cho khắp cơ thể và máu không mang được chất thải từ các mô. Phù thường bắt đầu ở bàn chân, mắt cá chân, ngón tay, bàn tay bởi đó là khu vực xa tim, việc lưu thông máu kém hơn.

Ngáy và các vấn đề hô hấp trong khi ngủ

Nếu bạn ngáy to, đủ để đánh thức người bên cạnh hoặc buộc họ phải dùng nút tai thì trái tim của bạn nguy cơ “có vấn đề”. Hạn chế đường thở khi ngủ, nguyên nhân cơ bản của chứng ngáy có liên quan đến tất cả các loại bệnh tim mạch. Một chỉ số đáng sợ là những người có chứng ngưng thở đối mặt với nguy cơ bị đau tim trong vòng 5 năm gấp 3 lần những người bình thường. Lý do là rối loạn hô hấp trong khi ngủ làm giảm oxy máu nuôi tim. Trong khi đó, chứng ngưng thở khi ngủ khiến tim phải nỗ lực nhiều hơn để hỗ trợ phổi và khắc phục tình trạng tắc nghẽn đường thở.

Loạn nhịp tim

Dấu hiệu sớm của hệ thống tim mạch có vấn đề là nhịp tim không đều hoặc loạn nhịp. Người ta có thể cảm thấy như trái tim bị bỏ qua nhịp đập, đập quá nhanh, hoặc đập quá mạnh. Nguyên nhân phổ biến nhất của nhịp tim không đều là bệnh động mạch vành – nguyên nhân hàng đầu gây tử vong đột ngột cho cả nam giới và phụ nữ bởi vì nó có thể dẫn đến cơn đau tim và đột quỵ. Suy tim cũng có thể gây ra chứng loạn nhịp tim vì tim bị suy yếu, càng nỗ lực lại càng thấy khó khăn hơn khiến nhịp tim nhanh hơn và đập mạnh hơn.

Trục trặc về tình dục

Nhiều người không biết rằng, ở nam giới, rối loạn cương dương (ED) là một trong những dấu hiệu hàng đầu của bệnh tim. Một nghiên cứu của bệnh viện Mayo, Hoa Kỳ phát hiện 2 trong 3 số người đàn ông đang được điều trị bệnh tim mạch từng bị rối loạn chức năng cương dương nhiều năm về trước. Ở phụ nữ, dấu hiệu đó là ít khi đạt được cực khoái, hoặc kém thỏa mãn trong đời sống tình dục. Nguyên nhân là, khi động mạnh bị thu hẹp hoặc xơ cứng, lưu lượng máu đến dương vật bị hạn chế dẫn đến khó duy trì sự cương cứng. Thiếu oxy cũng có thể dẫn đến mệt mỏi, thiếu “lửa” hay “tắt” ham muốn tình dục.

Yến Chi-báo sức khỏe

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Cách phát hiện sớm ung thư tinh hoàn

Giai đoạn đầu của ung thư tinh hoàn thường không có dấu hiệu gì đặc biệt. Tuy nhiên nếu chú ý người bệnh có thể tự phát hiện những dấu hiệu bất thường. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, hiệu quả điều trị sẽ tốt, vẫn đảm bảo khả năng sinh sản.

Triệu chứng của ung thư tinh hoàn thường có các biểu hiện: Có u nhỏ không đau ở vùng tinh hoàn, tinh hoàn to hơn bình thường, đau bên trong tinh hoàn, ngực và núm vú nam giới to hơn bình thường, có cảm giác nằng nặng ở bìu, gai sốt và hơi đau ở vú,… Nếu được phát hiện sớm thì đối với thể ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là ung thư tuyến tinh và tỷ lệ chữa khỏi có thể gần 100%. Tuy nhiên nếu không được điều trị sớm, các tế bào ung thư có thể lan rộng ra các cơ quan gần đó vì thế việc phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường rất quan trọng.

ung-thu-tinh-hoan

Để có thể phát hiện sớm ung thư tinh hoàn, cách tốt nhất là nên chú ý tự kiểm tra tinh hoàn thường xuyên như sau:

– Kiểm tra vùng tinh hoàn ngay sau khi tắm bằng nước ấm, nước ấm làm giãn bìu, da vùng bìu đang mềm giúp dễ phát hiện bất thường ở tinh hoàn. Đặc biệt chú ý đến kích cỡ, độ lớn của tinh hoàn. Tinh hoàn bình thường của người trưởng thành chỉ to bằng ngón tay cái của người đó, không đau, mặt nhẵn.

– Dùng 2 tay nhẹ nhàng đưa đi đưa lại các viên tinh hoàn. Kiểm tra xem có u bướu gì bất thường không. Sờ nắn nhẹ tinh hoàn xem có thấy đau, có u nhỏ hay không nhẵn thì nên đi khám. Nên cảnh giác với những cục nhỏ dưới da như mụn cơm trước hoặc dọc theo tinh hoàn.

– Nếu tinh hoàn bị sưng, có u cục cứng dù nhỏ cũng cần được thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và sinh dục khám. Nếu chẩn đoán xác định ung thư tinh hoàn, tùy mức độ bệnh các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Cách điều trị thông thường là phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn bị bệnh, hóa trị để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại, để lại tinh hoàn lành, do đó vẫn đảm bảo khả năng tình dục và sinh sản.
Đối với những người có nguy cơ cao như: Những người ở trong gia đình có tiền sử ung thư tinh hoàn; Tinh hoàn ẩn không di chuyển xuống bìu trong tuổi thiếu niên; Bị chấn thương tinh hoàn; Viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì; Những người làm việc trong điều kiện nhiệt độ quá nóng như thợ mỏ, lái xe đường dài,… cần thường xuyên kiểm tra tinh hoàn và khám nam khoa định kỳ để phát hiện sớm ung thư tinh hoàn.

Bác sĩ Vũ Minh

Bổ sung nước hợp lý cho cơ thể

Nếu bạn cảm thấy khô miệng thì đó chính là dấu hiệu cho thấy bạn nên uống nhiều nước.

Khô miệng

Nếu bạn cảm thấy khô miệng thì đó chính là dấu hiệu cho thấy bạn nên uống nhiều nước.

Nước tiểu sậm màu

Nước tiểu sậm màu và nặng mùi cũng được xem là một dấu hiệu cảnh báo bạn nên bổ sung nước cho cơ thể.

ec8fbcnuoc2281384730

Mệt mỏi

Cơ thể bị mất nước sẽ dẫn đến tình trạng mệt mỏi, vì vậy hãy đảm bảo uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày.

Đói

Cảm giác khát có thể bị nhầm với cảm giác đói. Bạn nghĩ rằng mình đang đói nhưng thực tế là cơ thể báo hiệu bạn cần uống nước.

Khô da

Da cần nhiều nước để duy trì độ ẩm. Hiện tượng da khô hoặc bong tróc là dấu hiệu cảnh báo bạn cần uống đủ nước.

Chóng mặt

Mất nước có thể khiến bạn có cảm giác hoa mắt, chóng mặt. Một trong những dấu hiệu chính của chóng mặt do mất nước là bạn đột ngột bị hoa mắt, choáng váng khi đứng dậy quá nhanh.

Co cơ

Mất cân bằng điện giải kéo dài có thể dẫn tới tình trạng chuột rút hoặc co cơ trong và sau khi tập luyện do mất nước.

Giảm đàn hồi da

Khả năng đàn hồi của da sẽ giảm do mất nước. Nếu da chậm trở lại bình thường sau khi bị vấu thì đó là một dấu hiệu cho thấy bạn cần uống nhiều nước.

Táo bón

Mất nước khiến đại tràng cố giữ nước, làm phân trở nên cứng và khô.

Say nóng

Mồ hôi chủ yếu được tạo ra từ nước. Điều này có nghĩa là khi cơ thể bị mất nước, nó sẽ ngăn chặn đổ mồ hôi và nhanh bị nóng, khiến chúng ta dễ gặp phải tình trạng say nóng.

Đau nửa đầu
Cơ thể bị mất nước có thể dẫn tới tình trạng đau nửa đầu. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy bạn cần uống nhiều nước hơn.

Theo Dân trí

Bắt bệnh từ bàn chân

Bàn chân còn được biết đên là”bộ não thứ hai” của con người. Do đó, bảo vệ đôi bàn chân cũng chính là bảo vệ sức khỏe tổng thể của bạn.
1. Chân thường xuyên bị chuột rút

Chân bị chuột rút xảy ra khi căng cơ đột ngột hoặc cơ thể bị mất nước. Nếu bạn thường xuyên bị chuột rút, hãy bổ sung nhiều thực phẩm chứa magie, canxi, kali cho cơ thể.

Giải pháp: Cách giảm đau cho bạn là uốn cong bàn chân, xoa bóp vùng chân bị đau. Ngoài ra bạn cũng có thể chườm khăn lạnh vào vùng bị chuột rút hoặc uống một cốc sữa nóng trước khi ngủ.
2. Chân và các ngón chân nhợt nhạt
bat-benh-tu-chan
Đây là biểu hiện của bệnh tuần hoàn máu kém gây ra. Lượng máu cung cấp cho chân không đủ khiến chân dễ bị tê. Biểu hiện như khi bạn đang ngồi rồi đứng dậy, chân sẽ chuyển sang màu nhợt nhạt, hoặc đột nhiên đứng bật dậy, bạn sẽ thấy đầu ngón chân chuyển sang màu trắng nhợt, tê buốt.

Giải pháp: Cải thiện tuần hoàn máu bằng cách tập luyện hoặc chế độ ăn uống.
3. Ngón chân hơi lõm, có vết lõm hình thìa

Đây là biểu hiện của bệnh thiếu máu. Do không đủ huyết sắc tố (một loại protein giàu chất sắt tồn tại trong tế bào máu để vận chuyển oxy) gây ra. Xuất huyết trong cơ thể (như loét) hoặc kinh nguyệt bất thường nghiêm trọng cũng dẫn tới tình trạng thiếu máu.

Khi thiếu máu, móng chân cũng sẽ có tình trạng tương tự; Màu sắc móng trở nên nhạt đi. Hơn nữa móng còn dễ gãy, chân luôn cảm thấy lạnh. Mệt mỏi là triệu chứng đầu tiên của bệnh thiếu máu, các triệu chứng khác bao gồm khó thở khi đứng lên, chóng mặt hoặc đau đầu.

Giải pháp: Có thể chẩn đoán bệnh thiếu máu bằng cách xét nghiệm máu.
4. Chân đau lâu không khỏi

Đây là biểu hiện chủ yếu của bệnh tiểu đường. Nồng độ đường trong máu tăng cao có thể gây tổn thương thần kinh cho đôi chân, biểu hiện là các vết trầy xước. vết cắt hoặc bị dị ứng do áp lực hoặc do mát xoa không cẩn thận gây ra.

Biểu hiện khác của bệnh tiểu đường thường là hay khát nước, đi tiểu nhiều lần, dễ mệt mỏi, mờ mắt, dễ đói hặc sút cân.

Giải pháp: Lập tức điều trị những chỗ viêm loét và kiểm tra bệnh tiểu đường.
5. Bàn chân lạnh

Chân lạnh toát có thể do thiếu máu, chức năng tuyến giáp hoạt động thiếu hiệu quả, bởi tuyến giáp có thể điều tiết nhiệt độ cơ thể và sự trao đổi chất. Ngoài ra, tuần hoàn máu trong cơ thể kém cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này.

Giải pháp: Thường xuyên ngâm chân nước ấm, giữ ấm cho chân về mùa đông.
6. Móng chân dày và vàng ố

Móng chân vàng cảnh báo sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống miễn dịch trong cơ thể hoặc do bạn sử dụng quá nhiều sơn móng chân khiến móng chân bị tổn thương.

Giải pháp: Khi gặp hiện tượng này bạn nên dừng sơn móng chân (nếu bạn đang làm như vậy) hoặc đi khám bác sĩ để được thăm khám cụ thể.
7. Ngón chân cái to bất thường

Có thể là bệnh gút, đây là một kiểu viêm khớp, thường do thừa axit uric gây ra. Axit uric thường được tìm thấy ở một số bộ phận trong cơ thể khi nhiệt độ cơ thể khá thấp.

Giải pháp: Hãy chú ý hơn về khẩu phần ăn của mình và hỏi ý kiến bác sĩ khi thấy ngón chân quá đau.

8. Tê chân

Mất cảm giác hay thấy như bị châm chích nơi bàn chân là cách cơ thể báo động cho bạn biết đó là triệu chứng của bệnh thần kinh ngoại vi hay hệ thần kinh ngoại vi đã bị tổn thương. Có nhiều nguyên nhân, nhưng bệnh tiểu đường, lạm dụng rượu hoặc liệu pháp xạ trị (chữa ung thư) là thủ phạm chính dẫn đến căn bệnh này.

Giải pháp: Khuyến cáo tốt nhất dành cho mọi người là nên nhanh chóng tìm gặp bác sĩ để xác định rõ nguyên nhân…
9. Đau khớp chân

Viêm khớp dạng thấp là một kiểu tổn thương khớp mà các khớp nhỏ như khớp ngón chân và khớp ngón tay cảm thấy đau, khi đau thường kèm sưng và cứng, hơn nữa cơn đau là đối xứng. Viêm khớp dạng thấp thường gặp ở phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao gấp 4 lần so với nam giới.

Giải pháp: Cần kiểm tra toàn diện để xác định nguyên nhân đau khớp. Có rất nhiều thuốc và cách điều tri bệnh viêm khớp.
10. Chân đau khó đi bộ

Nguyên nhân phổ biến nhất của hiện tượng này là xương thiếu dưỡng chất, vitamin D và canxi.

Giải pháp: Tập luyện thường xuyên và ăn uống đủ chất.

Tự khám bệnh ở nhà với các chị em

Đôi lúc, chị em cũng nên “cởi” khi một mình để tự khám bệnh cho cơ thể. Ngoài việc tự kiểm tra ngực để tầm soát nguy cơ ung thư, tự khám cũng cho bạn biết được một số bệnh khác dưới đây.

Buồng trứng đa nang

Theo giáo sư Helena Teede thuộc tổ chức sức khỏe phụ nữ The Jean Hailes Foundation, thông thường, lông mu sẽ phát triển thành hình tam giác nhưng nếu của bạn có hình vuông, phần trên rốn và đùi rậm rạp thì đó có thể là dấu hiệu của buồng chứng đa nang.

tu-kham-benh

Dấu hiệu tiểu đường

Sự gia tăng lượng glucose trong máu khiến tuyến tụy phải thường xuyên tiết ra insulin. Theo thời gian, tình trạng này sẽ đưa đến hiện tượng kháng insulin. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh tiểu đường túyp 2, tim mạch và béo phì.

Trong cuốn sách The Skinny, tiến sĩ Louis Aronne cho biết một triệu chứng luôn là dấu hiệu kháng insulin là những nốt xuất hiện trên vùng da mặt, cổ, nách và những vùng da có nếp gấp, vùng da nhăn. Các dấu hiệu khác gồm mảng đen và dày bất thường xuất hiiện thường ở quanh cổ, dưới cánh tay, hố nách, trên khuỷu tay, đầu gối và các khớp ngón tay. Nếu có những dấu hiệu trên, tốt nhất bạn nên chuyển sang chế độ ăn giàu protein để có chỉ số đường huyết (GI ) thấp.

Cholesterol cao

Thường những đốm vàng hoặc trắng trên mi mắt gọi là xanthomata có thể là dấu hiệu nhận biết. Nhưng Giáo sư James Tatoulis – cố vấn y tế của quỹ Heart Foundation – cho biết sự tích tụ chất béo tương tự có thể xảy ra ở vùng khác trên cơ thể như lưng, mông, đùi hoặc trên cả dây chằng khu vực khuỷu tay, khớp ngón tay, đầu gối…

Nguy cơ ung thư hắc tố
Tiến sĩ David Duffy thuộc viện Nghiên cứu Y học Queensland nói “Những người có trên 100 nốt ruồi trên cơ thể thì có nguy cơ hình thành khối u ác tính cao hơn rất nhiều so với người bình thường.

Theo NLĐ

Phình đại tràng bẩm sinh ở trẻ em

Phình đại tràng bẩm sinh còn có các tên gọi khác như bệnh Hirschsprung, bệnh vô hạch đại tràng bẩm sinh. Có ảnh hướng nguy hiểm đến sức khoẻ trẻ em.

Ðây là một bệnh bẩm sinh gặp ở tỷ lệ khoảng từ 1/4.000 – 1/5.000 trẻ sơ sinh. Trẻ trai mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái, với tỷ lệ nam/nữ từ 4/1 – 9/1. Bệnh cần được phát hiện sớm để săn sóc, theo dõi và điều trị đúng lúc.

Khi bị phình đại tràng bẩm sinh, trẻ có thể bị thêm các dị tật phối hợp như hội chứng down, hội chứng tim mạch, dị tật thần kinh, dị tật đường tiêu hóa, hậu môn… Tùy theo mức độ nặng nhẹ mà bệnh có biểu hiện ở các lứa tuổi khác nhau.

Dấu hiệu sớm phình đại tràng bẩm sinh

Tất cả những trường hợp trẻ được xác định mắc bệnh đều có chỉ định phẫu thuật. Những năm gần đây, nhờ chẩn đoán sớm được bệnh và theo dõi điều trị tốt bằng thụt tháo phân hằng ngày nên có thể mổ một lần để điều trị hiệu quả.

Bệnh phình đại tràng bẩm sinh là một dị tật bẩm sinh cần phải mổ càng sớm càng tốt, nếu không sẽ gây nên các di chứng như trẻ chậm lớn, chậm phát triển tâm thần và cả những biến chứng nguy hiểm như viêm ruột nặng và tắc ruột. Sau khi phẫu thuật, bệnh sẽ khỏi hoàn toàn.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra bệnh phình đại tràng bẩm sinh và bệnh có tính chất di truyền. Biểu hiện của bệnh rất dễ nhận biết: Trẻ mới sinh bụng trướng căng, không đi phân su sau hơn 24 giờ, hoặc chỉ đại tiện khi dùng ống thông đưa vào hậu môn kích thích.

Khi được kích thích hậu môn, trẻ ra rất nhiều phân, dạng như tháo nút tắc ở cống nước và được gọi là dấu hiệu “tháo cống”. Ngoài ra, do bụng trướng căng nên trẻ nôn nhiều.

Ở trẻ lớn, bệnh thường được biểu hiện bởi tình trạng táo bón kéo dài nhiều năm xen kẽ những đợt tiêu chảy với tính chất đặc trưng là phân rất thối và có màu đen (do phân ứ đọng lâu ngày) và bụng trướng. Kèm theo, trẻ luôn trong tình trạng suy dinh dưỡng, chậm phát triển thể chất và tâm thần.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý, không phải bất cứ trẻ nào sau khi sinh 24 giờ không đại tiện được đều là bị phình đại tràng bẩm sinh, vì trẻ đó bị dị dạng hậu môn bẩm sinh cũng không đại tiện được. Nhưng dù là trường hợp nào thì trẻ đều cần phải được phẫu thuật và điều trị sớm.

Đây là một bệnh cần điều trị càng sớm càng tốt. Điều đáng báo động là rất ít trẻ được phát hiện bệnh và điều trị sớm, bởi người lớn thường chỉ nghĩ tình trạng khó đại tiện và đại tiện bất thường ở trẻ là do táo bón, do chế độ ăn không khoa học…

Hơn nữa, bệnh phình đại tràng bẩm sinh nếu không điều trị sớm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tâm thần của trẻ, vì thế, khi thấy con mình có các dấu hiệu bất thường khi đại tiện, phụ huynh nên đưa con đi khám tiêu hóa càng sớm càng tốt.

Khi đi khám, nếu nghi ngờ trẻ bị bệnh phình đại tràng bẩm sinh, bác sĩ sẽ cho làm các xét nghiệm và chụp Xquang, việc chụp Xquang đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán. Tuy nhiên, do chụp đại tràng cản quang là một phương pháp chụp và đọc không dễ nên cần được thực hiện tại bệnh viện có đủ điều kiện trang thiết bị.

Khi đã xác định chính xác trẻ bị phình đại tràng bẩm sinh, các bác sĩ sẽ phẫu thuật bệnh phình đại tràng bẩm sinh qua hậu môn.

Điều trị bệnh bao gồm cắt bỏ đoạn ruột teo nhỏ rồi đưa đoạn ruột bình thường bên trên xuống thay thế. Hiện nay có nhiều cách mổ khác nhau, có thể mổ một lần hay nhiều lần, có thể phải mổ bụng nhưng trong phần lớn trường hợp, chỉ mổ từ dưới hậu môn lên mà không cần mổ bụng. Hiện nay, trong các bệnh viện lớn, phẫu thuật bệnh phình đại tràng bẩm sinh qua ngả hậu môn là an toàn. Trẻ sơ sinh có thể được cho bú trở lại sau mổ 1-2 ngày và ra viện sau khoảng 1 tuần.

Sức khỏe đời sống

Triệu chứng của bệnh ung thư âm đạo

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng rõ rệt, nhưng nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm.

Ung thư âm đạo là nó là một bệnh ung thư tương đối hiếm gặp ở người phụ nữ, chiếm từ 3-5% các ung thư sinh dục nữ. Bệnh phát triển khi các tế bào ung thư hình thành trong các mô của âm đạo. Tuy nhiên có rất nhiều phụ nữ quan tâm đến các triệu chứng ung thư âm đạo bởi bệnh này không có những triệu chứng rõ rệt ở giai đoạn đầu.

Nguyên nhân gây bệnh cũng chưa được xác định rõ ràng, nhưng cũng theo nhiều chuyên gia sức khỏe thì nhiễm virus gây nhú ở người (HPV) chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới nguy cơ bị ung thư âm đạo. Nhiều trường hợp bệnh xuất hiện sau khi bị sùi mào gà (condyloma).

Mặc dù đa số các trường hợp bị ung thư âm đạo thường không có nhiều triệu chứng đáng chú ý, nhưng theo lời khuyên của các chuyên gia sức khỏe thì nếu chị em thấy mình có những triệu chứng sau đây, hãy đi khám sớm. Vì các triệu chứng này hoàn toàn có thể là dấu hiệu báo trước của bệnh ung thư âm đạo.
chi-em-cho-bo-qua-trieu-chung-cua-benh-ung-thu-am-dao
Chảy máu âm đạo bất thường

Chảy máu âm đạo khi không phải là chu kì kinh, chảy máu sau khi quan hệ tình dục… là những triệu chứng của nhiều bệnh liên quan đến phụ khoa, trong đó có cả bệnh ung thư âm đạo. Mặc dù triệu chứng này còn mơ hồ nhưng chị em cũng không nên bỏ qua, đặc biệt khi thấy liên tục bị chảy máu không rõ nguyên nhân thì càng nên đi khám sớm.

Dịch âm đạo bất thường

Bình thường, âm đạo có thể tiết ra một lượng nhỏ dịch âm đạo nhằm đẩy các chất bẩn ra ngoài. Tuy nhiên, nếu dịch âm đạo tiết ra liên tục các ngày trong chu kì (không chỉ trong thời gian rụng trứng), có thể có hoặc không có mùi hôi thì đó cũng có thể là dấu hiệu cảnh báo của bệnh ung thư âm đạo.

Đây cũng có thể là triệu chứng của bệnh viêm nhiễm “vùng kín” hoặc bệnh nào khác chứ không phải ung thư âm đạo. Tuy nhiên, nếu không điều trị kịp thời, tình trạng viêm nhiễm có thể lan rộng và hoàn toàn dễ dẫn đến ung thư âm đạo.

Thay đổi thói quen đi tiểu

Thay đổi thói quen đi tiểu có thể là bạn sẽ đi tiểu liên tục hoặc ít hơn. Sự thay đổi này có thể liên quan đến lượng nước bạn uống hàng ngày hoặc bạn uống nhiều đồ uống chứa caffeine. Nó cũng có thể có nguyên nhân từ việc nhiễm trùng đường tiểu.

Nhưng trong trường hợp nghiêm trọng, bạn vừa thay đổi thói quen đi tiểu, lại có máu trong nước tiểu, kèm theo cảm giác đau buốt khi tiểu tiện thì bạn phải đi khám luôn. Nó có thể là biểu hiện của tình trạng nhiễm trùng nặng hoặc là triệu chứng của ung thư âm đạo.

Đau ở vùng xương chậu

Đau vùng xương chậu là một trong những triệu chứng thường gặp nhất của ung thư âm đạo. Khi chị em có triệu chứng này thì tức là bệnh cũng đã phát triển nặng hơn và đang lây lan đến các mô khác. Thông thường, chị em sẽ cảm thấy có cơn đau dưới rốn, liên tục hoặc không liên tục.

Có cảm giác áp lực đè lên âm đạo

Bạn khó định dạng cảm giác này nhưng chắc chắn bạn sẽ thấy âm đạo như trở nên nặng hơn và dường như có một áp lực rất nặng đang đè lên âm đạo. Bệnh u nang buồng trứng cũng có thể tạo ra cảm giác này, vì vậy, nó có thể gây nhầm lẫn trong việc chẩn đoán bệnh.

Để xác định chính xác bệnh, chị em nên đi làm sinh thiết tế bào để biết mình đang bị bệnh gì và điều trị kịp thời.

Thay đổi trong việc đi tiêu

Một số thay đổi trong việc đi tiêu như: liên tục có cảm giác muốn đi tiêu nhưng lại không thể đi, bị táo bón trong nhiều ngày, phân có màu đen hoặc liên tục cảm giác như ruột trống rỗng… có thể là dấu hiệu cảnh báo bênh ung thư âm đạo. Nếu bạn gặp các triệu chứng trên trong nhiều ngày, hãy đi khám ngay nhé.

Trong trường hợp bạn được chẩn đoán bị ung thư âm đạo, các bác sĩ sẽ tùy vào giai đoạn phát triển của bệnh mà có phương pháp chữa trị thích hợp, có thể là dùng phương pháp tế bào miễn dịch, phương pháp xạ trị hoặc phẫu thuật…

Để phòng ngừa bệnh ung thư âm đạo, bạn nên thực hành tình dục an toàn (sử dụng bao cao su trong những lần quan hệ để tránh lây bệnh tình dục), tiêm vắc-xin phòng ngừa ung thư cổ tử cung  và đi khám phụ khoa theo định kì.

Theo afamily

Những dấu hiệu cảnh báo bạn bị bệnh tim

Một mảng hói ở đỉnh đầu hoặc một nếp nhăn nhỏ theo chiều dọc ở dái tai có thể chỉ đơn giản là dấu hiệu cho thấy bạn có nguy cơ bị bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch nhận thấy, nếu bạn có ít nhất 3 trong 4 dấu hiệu gồm: hói ở đỉnh đầu, đường chân tóc hớt ra sau trán, nếp nhăn ở dái tai và u vàng quanh mắt thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch là 39% và nguy cơ lên cơn đau tim là 57%.

Kết quả này đã tính đến cả yếu tố tuổi tác. Vì thế, “khi bạn trông già hơn so với tuổi thì điều đó cho thấy bạn có vấn đề về sức khoẻ tim mạch”, tiến Anne Tybjaerg-Hansen, một bác sĩ và giảng viên thuộc Bệnh viện Đại học Copenhagen nói.

dau-hieu-benh-tim

Theo Foxnews, các nhà nghiên cứu đã sử dụng những dữ liệu từ nghiên cứu về bệnh tim của Đại học Copenhagen, với sự tham gia của gần 10.900 người trên 40 tuổi. Trong nghiên cứu kéo dài 35 năm thì hơn 3.400 người đã bị bệnh tim và hơn 1.700 người từng lên cơn đau tim. Các chuyên gia đã kiểm tra 6 dấu hiệu của tuổi tác, trong đó loại trừ 2 yếu tố là tóc màu xám và nếp nhăn dường như không có mối liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim.

Bên cạnh đó, khi xem xét riêng yếu tố giới tính thì họ nhận thấy rụng tóc ở nữ giới cũng không liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim. Tuy nhiên, trong số 737 nam giới có đường chân tóc hớt ra sau trán thì 82 người từng bị đau tim. Điều này có nghĩa những nam giới bị rụng tóc có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã xem xét việc rụng tóc có thể là một dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch, nhưng đưa ra những kết luận trái ngược nhau. Một vài nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng và phân loại hói đầu với nguy cơ bị bệnh tim ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác thì lại không thấy sự liên hệ này. Rõ ràng nguy cơ mắc tim mạch và hói đầu gia tăng theo tuổi tác nên rất khó để các nhà khoa học có thể tách biệt hai yếu tố này trong các nghiên cứu.

Thực tế thì mối liên hệ giữa những dấu hiệu này và nguy cơ mắc bệnh tim vẫn chưa rõ ràng. Vì thế cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa.

Theo tiến sĩ Tybjaerg-Hansen, nghiên cứu xác nhận một thực tế lâm sàng phổ biến tại các phòng mạch khi các bác sĩ khám và nhìn xem người bệnh trông già hay trẻ hơn so với tuổi. Vì thế 4 dấu hiệu này cung cấp thêm chỉ dẫn cho các bác sĩ trong điều trị bệnh. “Lời khuyên đưa ra là người bệnh hãy thay đổi lối sống và áp dụng các biện pháp giảm lipid máu vì nguy cơ mắc tim mạch của họ cao hơn”, bà nói.

Chẳng hạn, u vàng quanh mắt là một dấu hiệu cho thấy cholesterol trong máu cao, một yếu tố nguy cơ phổ biến dẫn đến bệnh tim mạch.
Kết quả nghiên cứu trên được trình bày tại hội nghị của hội tim mạch Mỹ tổ chức vào ngày 6/11.

Theo afamily

Dấu hiệu cho thấy con bạn bị tự kỷ

2 tuổi, bé Trung (Long Biên, Hà Nội) vẫn chưa biết nói, cũng không tỏ ra tình cảm với bố mẹ, người thân. Ai gọi, hỏi, bé cũng lờ đi không thèm quay lại nhìn. Bé cũng hiếu động một cách thái quá, hay đập phá đồ đạc, đánh, cắn người khác.

Cảm thấy có gì không ổn, chị Hoa mẹ cháu muốn đưa con đến bác sĩ, nhưng cả gia đình phản đối. Mẹ chồng chị bảo: “Bố nó cũng 4 tuổi mới biết nói, có sao đâu. Con trai phải cá tính nghịch ngợm như thằng này thì mới tốt”. Bé Trung ngoài 3 tuổi mới được đưa đến chuyên gia tâm lý và được xác định là tự kỷ.

Những trường hợp tự kỷ được phát hiện muộn như bé Trung rất phổ biến. Theo bà Trần Thị Thu Hà, Phó trưởng khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương, thời gian tốt nhất để điều trị tự kỷ là 18 đến 36 tháng tuổi. Quá thời gian này, các biện pháp can thiệp đem lại rất ít hiệu quả.
tuky1
Do vậy, các bà mẹ cần sớm lưu ý đến những biểu hiện không bình thường của con để đưa đến bác sĩ. Tiến sĩ Lã Thị Bưởi, Trưởng phòng khám Tuna (26, ngõ 259/5, phố Vọng, Hà Nội), cho biết, trẻ tự kỷ có những biểu hiện sau:

Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ: Chậm nói (trẻ 16-17 tháng phải nói được các từ đơn), hoặc biết nói sớm nhưng sau đó lại thôi. Trẻ không hiểu lời người khác và cũng không biểu đạt được ý nghĩ của mình nên hay nói những câu, từ vô nghĩa hoặc không ăn nhập với hoàn cảnh. Khi được hỏi, nhiều trẻ không trả lời được mà nhại lại câu hỏi một cách máy móc (chẳng hạn, hỏi “cháu tên gì” thì cũng đáp là “cháu tên gì”).

Khó giao tiếp và tương tác: Không nhìn vào mắt người khác là một triệu chứng điển hình của tự kỷ. Trẻ không giao tiếp, không biểu hiện tình cảm ngay cả với mẹ (không hề bám mẹ). Những em bé bình thường khi 9-10 tháng tuổi nếu ở cạnh trẻ khác thường có động thái làm quen như cười, chạm vào bạn, xin – cho đồ chơi hay thức ăn; nếu thấy thích thú điều gì thì muốn chia sẻ với người khác (như khoe áo đẹp)… nhưng trẻ tự kỷ không thế.

Khó khăn trong các trò chơi hoạt động, cần sự tưởng tượng: Việc hướng dẫn trẻ tự kỷ biết chơi một trò nào đó thường rất gian nan. Trẻ không biết dùng đồ chơi, chỉ cầm lên đập đập rồi ném, hoặc chơi không đúng chức năng.

Tác phong lặp đi lặp lại: Trẻ tự kỷ rất máy móc, chẳng hạn nếu mẹ dẫn đi nhà trẻ nếu vòng qua một cái cột điện thì lần sau nhất thiết cũng phải đi như vậy. Nếu phải thay đổi, trẻ sẽ phản ứng dữ dội như gào khóc, cắn cấu. Bệnh nhân tự kỷ cũng hay có các hành vi lặp đi lặp lại như vê tay, vặn tay, vặn người, nhón chân…

Ít có khả năng chăm sóc bản thân: Trẻ thường khó khăn trong việc tự phục vụ mình như đi tất, đội mũ, mặc áo, vệ sinh… Cử chỉ, thao tác luôn lóng ngóng, vụng về.

Phần lớn các em bé tự kỷ thường hiếu động thái quá, do không có khả năng hình dung ra sự nguy hiểm nên hay có những hành động “đáng sợ” như trèo lên đứng vắt vẻo trên lan can… Ngược lại, một số ít trẻ có xu hướng thu mình, ít vận động.

Với một số trẻ “thần đồng” như sớm biết làm toán, đọc chữ, nói tiếng Anh…, cha mẹ cũng nên nghĩ đến tự kỷ nếu có các biểu hiện vừa nêu trên. Ở trẻ tự kỷ, những khả năng đặc biệt đó thường tự biến mất sau một thời gian.

Các triệu chứng tự kỷ thường bộc lộ rõ từ 2 tuổi, nhưng thực ra nếu tinh ý, trong nhiều trường hợp, các bà mẹ có thể phát hiện những bất ổn của con mình sớm hơn nhiều, thậm chí trước 1 tuổi, nhất là biểu hiện thờ ơ với mọi người xung quanh, không giao tiếp bằng mắt, không phản ứng khi được gọi hay hỏi chuyện.

Một người mẹ mang con đến phòng khám Tuna cho biết: “Tôi đã thấy cháu không bình thường từ lúc 6-7 tháng, khi chơi với con mà nó không thèm nhìn mẹ, hỏi gì cũng lờ đi, nhưng hễ nghe tiếng quảng cáo trên TV là quay ngoắt lại nghe vô cùng chăm chú”. Nhưng vì không biết đến bệnh tự kỷ, lại hy vọng bé lớn lên sẽ khác nên chị đã không đưa con đi khám sớm.

Tuy nhiên, cũng có nhiều trẻ bị chẩn đoán và điều trị tự kỷ nhưng lại không mắc bệnh này. Trường hợp bé Bình, 4 tuổi, ở Hà Tây là một ví dụ. Thấy con không thích giao tiếp, hầu như không nhìn vào mắt người đối thoại, gia đình nghĩ bị tự kỷ nên đưa đi khám ở một bệnh viện trung ương. Do bệnh nhân quá đông, bác sĩ không xem xét kỹ và kết luận ngay là bị bệnh này.

Điều trị cùng nhóm trẻ tự kỷ một thời gian, thấy con không khá hơn, mẹ bé Bình đưa con đi khám ở chỗ khác. Các chuyên gia dành thời gian hỏi han, chơi cùng cháu và nhận thấy khi đã quen, Bình vẫn có giao tiếp bằng mắt, có nói chuyện và thể hiện sự thích thú. Cháu được chẩn đoán là rối loạn cảm xúc và điều trị theo hướng này, kết quả rất tốt.

Tương tự, nhiều trường hợp khác được chẩn đoán tự kỷ nhưng thực ra là chậm phát triển tâm thần hoặc tăng động, giảm chú ý. Việc điều trị cho các cháu theo hướng tự kỷ sẽ khiến tình hình tệ thêm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển tâm thần.

Thực ra, khó xác định chẩn đoán tự kỷ trước 18 tháng tuổi. Và để khẳng định bệnh này, cần làm một số trắc nghiệm với sự tham gia của các chuyên gia về tâm thần học. Tuy nhiên, nếu lưu ý sớm các biểu hiện không bình thường của con và nói với bác sĩ, trẻ sẽ có cơ hội được chẩn đoán và điều trị kịp thời không chỉ tự kỷ mà cả các vấn đề tâm thần khác.

Theo VnExpress

Lưỡi trắng, dấu hiệu của bệnh!

Lưỡi bạn đóng bợn trắng trong vài ngày gần đây. Hãy cẩn thận vì đó có thể là dấu hiệu cảnh báo sức khỏe có vấn đề. Lưỡi trắng cũng có thể là do bạn vệ sinh răng miệng kém và gây hôi miệng.

– Vệ sinh răng miệng tốt là vô cùng quan trọng khi nói đến sức khỏe răng miệng. Nhiều bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng nhập vào cơ thể của bạn thông qua miệng. Nếu bạn không rơ lưỡi trong một thời gian dài, nó có thể bị trắng hoặc đóng bợn trắng. Giải pháp duy nhất là dùng gạc rơ lưỡi mỗi ngày.

Lưỡi trắng, dấu hiệu của bệnh!

– Khi bị mất nước nghiêm trọng do nhiệt, nóng, lưỡi của bạn có thể bị trắng. Đó là phản ứng tự nhiên của các tế bào lưỡi do tình trạng khan hiếm nước trong cơ thể. Uống nhiều nước và các chất lỏng để bổ sung nước cho cơ thể.

– Khi bị sốt cao, bạn có thể nhận thấy rằng lưỡi của bạn trông trắng và hai mặt lưỡi nhăn nhúm. Điều này một phần là do mất nước. Thân nhiệt tăng làm cơ thể mất nước. Kết quả là lưỡi co lại và bị trắng.

– Gan có vấn đề. Nếu lưỡi đóng bợn trắng mặc dù bạn rơ lưỡi mỗi ngày và không có các vấn đề gì về sức khỏe như sốt hoặc mất nước, thì bạn hãy đi kiểm tra chức năng gan.

– Hút thuốc lá làm miệng khô. Đó là lý do tại sao những người hút thuốc thường có lưỡi khô và trắng.
– Chứng bạch sản (Leucoplakia) là một loại bệnh về da, có thể là ung thư. Nếu bạn cảm thấy lưỡi trắng không phải do đóng bợn trắng mà do thay đổi về màu sắc thì hãy đi gặp bác sĩ khám ngay lập tức.

Theo Thanh Niên

Dấu hiệu thiếu vitamin

Khi cơ thể đang cố gắng nói cho bạn biết một điều gì đó ví như bạn đang thiếu những vitamin quan trọng, nó có thể biểu hiện một số dấu hiệu kỳ lạ.

Tiến sĩ Susan Blum, người sáng lập Trung tâm Sức khỏe Blum và là tác giả của cuốn sách mới “Kế hoạch phục hồi hệ thống miễn dịch” cho biết: “Chế độ ăn uống với các thực phẩm chế biến sẵn ngày nay rất dễ khiến chúng ta trở nên thiếu hụt vitamin bằng việc không ăn đủ các loại thực phẩm thích hợp hay không hấp thụ chúng đúng cách do các vấn đề tiêu hóa. Bạn có thể không mắc bệnh nhưng các chức năng sẽ bị suy giảm bởi vì vitamin là yếu tố tham gia vào tất cả các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Chúng ta cần chúng để cơ thể hoạt động một cách chính xác”.
vitamin
Các chức năng bị suy giảm đôi khi có thể biểu hiện dưới những hình thức khó hiểu.

Dưới đây là 5 dấu hiệu cảnh báo bất thường cho thấy có thể bạn đang thiếu vitamin. Tin tốt là hầu hết những dấu hiệu này đều có thể khắc phục bằng những thay đổi trong chế độ ăn uống. Tuy nhiên, nếu phương pháp điều trị bằng thực phẩm không có hiệu quả, hãy tới gặp bác sĩ của bạn.

Dấu hiệu 1: Các vết nứt ở khóe miệng

Thiếu hụt: Sắt, kẽm, vitamin nhóm B như niacin (B3), riboflavin (B2), và B12. TS

Blum cho biết: “Điều này xảy ra phổ biến nếu bạn là một người ăn chay không bổ sung đủ sắt, kẽm, và B12”. Tình trạng trên cũng xảy ra nếu chế độ ăn uống bổ sung quá ít các protein cần thiết cho việc thiết lập khả năng miễn dịch.

Cách khắc phục: Ăn nhiều thịt gia cầm, cá hồi, cá ngừ, trứng, hàu, nghêu, cà chua phơi khô, củ cải Thụy Sĩ, bơ hạt vừng, đậu phộng và các loại đậu như đậu lăng.

Vitamin C giúp tăng cường việc hấp thụ sắt và chống nhiễm trùng. Do đó, chúng ta nên kết hợp các loại thực phẩm trên với các loại rau như bông cải xanh, ớt chuông đỏ, cải xoăn và súp lơ.

Dấu hiệu 2: Phát ban đỏ, có vảy trên mặt (đôi khi ở những nơi khác) và rụng tóc

Thiếu hụt: Biotin (B7) được biết đến như một loại vitamin dành cho tóc. Cơ thể của bạn lưu trữ các vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K) nhưng lại không lưu trữ hầu hết các loại vitamin B tan trong nước. Các lực sĩ lưu ý: Ăn trứng sống khiến bạn dễ gặp tình trạng trên, bởi vì một protein trong trứng sống được gọi là avidin ức chế khả năng hấp thụ biotin của cơ thể.

Cách khắc phục: Ăn trứng đã nấu chín (việc nấu chín làm vô hiệu hóa avidin), cá hồi, bơ, nấm, súp lơ, đậu nành, các loại hạt, quả mâm xôi và chuối.

Dấu hiệu 3: Những chỗ sưng trông như mụn trứng cá màu đỏ hoặc trắng, thường xuất hiện trên má, cánh tay, đùi và mông

Thiếu hụt: Các axit béo thiết yếu và các loại vitamin A, D.

Cách khắc phục: Hạn chế thực phẩm chứa chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa và tăng chất béo lành mạnh. Ăn thêm cá hồi và cá mòi, các loại hạt vỏ cứng như quả óc chó và quả hạnh, các loại hạt như hạt lanh, cây gai dầu, và hạt chia. Để bổ sung vitamin A, nên ăn các loại rau củ lá xanh và nhiều màu sắc như cà rốt, khoai lang và ớt chuông đỏ.

Tiến sĩ Blum cho biết: “Chúng cung cấp beta carotene, một tiền chất mà cơ thể của bạn sẽ sử dụng để tạo ra vitamin A. Tuy nhiên, với vitaminc

D, tôi khuyên bạn nên bổ sung một liều 2.000 IU/ngày chứa cả vitamin A và K, giúp hấp thu vitamin D”.

Dấu hiệu 4: Ngứa ran, nhói đau, và tê ở bàn tay, bàn chân, hoặc một số vị trí khác

Thiếu hụt: Các vitamin nhóm B như axit folic (B9), B6, và B12.

TS Blum nói rằng: “Đây là một vấn đề liên quan trực tiếp tới các dây thần kinh ngoại vi và điểm cuối của chúng dưới da”. Lưu ý rằng các triệu chứng này có thể kết hợp với lo âu, trầm cảm, thiếu máu, mệt mỏi và mất cân bằng hoóc-môn.

Cách khắc phục: Ăn rau bina, măng tây, củ cải đường, các loại đậu như đậu pinto, đậu đen, đậu ván trắng, đậu lima, trứng, bạch tuộc, trai, nghêu, hàu và gia cầm.

Dấu hiệu 5: Chuột rút dưới dạng đau nhói và đột ngột ở ngón chân, bắp chân, gan bàn chân và phía sau cẳng chân

Thiếu hụt: Magiê, canxi và kali. Tiến sĩ Blum cho biết: “Nếu điều này xảy ra thường xuyên thì đó là một tín hiệu cảnh báo rằng bạn đang thiếu những chất trên”.

Và nếu bạn đang rèn luyện thể chất một cách chăm chỉ thì bạn có thể mất nhiều khoáng chất (và các vitamin nhóm B tan trong nước) do đổ nhiều mồ hôi.

Cách khắc phục: Ăn nhiều chuối, quả hạnh, hạt dẻ, bí, anh đào, táo, bưởi, bông cải xanh, cải bắp, các loại rau có lá xanh thẫm như cải xoăn, rau bina và bồ công anh.

Theo Dân trí/ Foxnews

Dấu hiệu nhận biết 3 loại viêm tinh hoàn thường gặp

1. Viêm tinh hoàn cấp tính: Thường gây ra bởi nhiễm trùng đường tiết niệu và các bệnh tuyến tiền liệt. Triệu chứng bệnh: sốt cao, ớn lạnh, tinh hoàn cứng, đau, vùng háng cũng có cảm giác đau, da bìu đỏ, phù nề, mào tinh to, đi tiểu ra máu…Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thường xuất hiện trong 1 hoặc 2 ngày và có khuynh hướng ngày một trầm trọng hơn. Bệnh thường khỏi hẳn sau khi điều trị.
hep-bao-quy-dau
2. Viêm tinh hoàn mãn tính: Tinh hoàn dần sưng lên, sau đó có biểu hiện xơ cứng, thỉnh thoảng xuất hiện những cơn đau nhẹ… Thường sau 1 – 2 năm bệnh mới biểu hiện rõ rệt. Những triệu chứng của bệnh xuất hiện thường xuyên và các biện pháp chữa trị chỉ có thể cải thiện tình trạng bệnh chứ không thể khỏi hẳn. Thường không thể xác định được nguyên nhân gây viêm mào tinh hoàn mãn tính, nhưng phần lớn là do khi bị viêm mào tinh hoàn cấp tính, người bệnh không được chữa trị kịp thời và đúng cách.

3. Viêm mào tinh hoàn cấp tính do quai bị: Quai bị là một trong những bệnh thường gặp và nếu không chữa trị dứt điểm sẽ rất dễ gây ra các biến chứng bệnh trong đó có viêm mào tinh hoàn, theo thống kê có khoảng 20% người bị mắc quai bị sẽ có biến chứng gây viêm mào tinh hoàn, thường gặp ở những người sau tuổi dậy thì, mắt thường có thể nhìn thấy tinh hoàn sưng to và có thiên hướng chuyển sang mầu lam tím, khi giả phẫu sẽ thấy được tổ chức phù nề và mạch máu bị căng ra, kèm theo xuất hiện một lượng lớn tế bào mủ, tổ chức sinh tinh bị biến dạng tùy theo các mức độ khác nhau, bắt đầu xuất hiện tràn dịch mào tinh hoàn. Theo thống kê có 30% bệnh nhân sẽ xuất hiện các triệu chúng teo tinh hoàn sau phát viêm, chất lượng tinh trùng sụt giảm chóng mặt gây ra vô sinh ở nam.

Như trên đã phân tích, ca 3 loại viêm tinh hoàn kể trên đều có nguy cơ rất lớn gây ra vô sinh ở nam vì thế các bạn trẻ tuyệt đối không được chủ quan, nên sớm điều trị bệnh sẽ sớm khỏi và tiết kiệm được nhiều chi phí.

Nguồn st

Cách nhận biết triệu chứng stress nghiêm trọng

Nhiều dấu hiệu thể chất khác nhau, và cũng khác thường, cho thấy bạn đang căng thẳng quá mức. Dưới đây là vài cách nhỏ để biết bạn có rơi vào tình trạng đó hay không.

1. Ói mửa

Căng thẳng và lo lắng có thể kích hoạt cơn buồn nôn và gây ra triệu chứng ói mửa, thường bắt đầu vào cùng thời điểm trong mọi ngày. Giải pháp là hãy nghỉ ngơi thật nhiều và uống nước, tìm cách hạ căng thẳng và loại bỏ nguồn gốc gây stress, chẳng hạn đi bộ.

2. Rụng tóc

Có nhiều lý do gây rụng tóc, trong đó stress là một nguyên nhân. Thường thì người ta khó nhận ra mối liên hệ này, bởi hiện tượng rụng tóc xảy ra muộn vài tháng sau sự kiện căng thẳng, chẳng hạn cái chết của người thân trong gia đình hoặc việc sinh con. Tuy nhiên, đa số trục trặc này sẽ tự hết sau khi cơn stress chấm dứt.

trieu_chung_bi_stress

 3. Chảy máu mũi

Vẫn còn tranh cãi cho rằng liệu chảy máu mũi có phải do stress gây ra hay không, song các nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, trong vài trường hợp, những bệnh nhân bị chảy máu mũi về sau cũng thấy họ thường rơi vào các tình huống căng thẳng. Chỉ đơn giản là thoát khỏi sự huyên náo hàng ngày một chút cũng đủ để bạn hạ cơn “bốc hỏa”.

4. Mất trí nhớ

Căng thẳng kinh niên có thể khiến vùng não chân hải mã – kiểm soát trí nhớ ngắn hạn của bạn – tiếp xúc quá nhiều với hàm lượng hooc môn stress, và nó làm hạn chế khả năng ghi nhớ. Loại bỏ được gốc rễ stress là tốt nhất, nhưng trong khi chờ được thế, hãy viết ra các thông tin quan trọng và tìm cách khác để “nạp lại” trí nhớ của mình.

5. Hệ miễn dịch yếu đi

Có lẽ ảnh hưởng dễ thấy nhất mà stress gây ra là hệ miễn dịch của bạn yếu đi. Đồng nghĩa với việc bạn dễ mắc bệnh hơn, và mắc bệnh thông thường cũng lâu khỏi hơn. Một cách tốt để đối phó với stress và tăng miễn dịch là tập thể dục.

6. Ra mồ hôi quá nhiều

Bạn toát mồ hôi khi bị căng thẳng, nhưng cũng có một số người mắc bệnh ra mồ hôi quá mức, cần phân biệt tình trạng cụ thể. Nếu là do căng thẳng, hãy thử tập yoga. Nếu do bệnh, hãy gặp bác sĩ.

Theo vnexpress