Tag Archives: dầu cá

Dầu , gan cá mập rất có ích cho sức khỏe

Từ lâu, con người đã biết cách sử dụng dầu gan cá mập để nâng cao sức khỏe. Hiện nay, khoa học ngày càng làm sáng tỏ thêm vai trò và những đặc tính quý giá của dầu gan cá mập có tác dụng tốt với sức khỏe như: tăng cường hệ miễn dịch, phòng chống ung thư…

Từ nhiều thế kỷ trước, những người đánh cá Bắc Âu đã sử dụng dầu gan cá mập làm thuốc tăng lực, chữa vết thương và bệnh cúm. Còn ở phương Đông, những thủy thủ Nhật Bản từ lâu cũng biết đến lợi ích của chất này, mà họ gọi là “samedawa”, có nghĩa là “thuốc vạn năng chữa tất cả các bệnh”.

Tuy nhiên, phải đến những năm 1950, một thầy thuốc người Thụy Điển mới phân lập được hoạt chất của những yếu tố kích thích miễn dịch trong dầu gan cá mập: đó là những alkylglyceron (AKG), một họ của các hợp chất lipid với những nồng độ đặc biệt cao.

dau-gan-ca

Trong nhiều thế kỷ, các bộ tộc Viking và thủy thủ Nhật Bản đã sử dụng dầu gan cá mập làm chất tăng lực. Họ đã nhận thấy cá mập có một hệ thống miễn dịch cực mạnh làm chúng có khả năng đề kháng đặc biệt chống lại bệnh tật. Một số loài cá mập có thể sống tới hàng trăm năm mà không hề mắc bệnh.

Lúc đầu người ta cho là hiệu quả của hệ miễn dịch của cá mập hoàn toàn dựa trên thành phần của vây cá. Nhưng trên thực tế, chính tại gan cá mập người ta mới thấy nguồn chủ yếu của sự đề kháng miễn dịch đặc biệt này có mối liên quan với tỷ lệ nồng độ cao của các AKG.

Chính các chất AKG được các nhà nghiên cứu Nhật Bản phát hiện từ năm 1922 nhưng những tính chất của chúng chỉ được xác định vào những năm 1950 bởi một nhóm các nhà nghiên cứu Thụy Điển dưới sự chỉ đạo của BS. Astrid Brohult.

Những nghiên cứu khác cũng cho thấy sự có mặt của AKG trong một số bộ phận cơ thể của người liên quan nhiều đến quy trình đề kháng tự nhiên là lách, gan và tủy sống. Sự có mặt của AGK trong sữa mẹ bảo vệ trẻ sơ sinh chống lại nhiễm khuẩn trước khi hệ miễn dịch của trẻ phát triển.

Người ta cũng nhận thấy trong trường hợp nhiễm khuẩn, stress hay dị ứng, tỷ lệ AKG trong cơ thể giảm một cách có ý nghĩa. Đưa một lượng AKG vào cơ thể có khả năng giúp tăng thêm sự miễn dịch đã suy yếu.

Từ thời kỳ đó, những nghiên cứu được thực hiện ở Nhật hoặc châu Âu đều đã chứng minh là dùng các loại dầu cá giàu AKG có nhiều lợi ích để bảo vệ sức khỏe. Đến nay, những nghiên cứu khoa học vẫn đang tiếp tục nhằm làm rõ thêm những cơ chế tác động của AKG đối với con người.
Dầu gan cá mập tăng cường hệ miễn dịch

Dầu gan cá mập lúc đầu được sử dụng rất hiệu quả để chống viêm và chống nhiễm khuẩn. Những người sử dụng chia sẻ những kết quả rất thuyết phục khi dùng để kích thích sức đề kháng miễn dịch để phòng và nhanh khỏi các bệnh như viêm phế quản, cảm cúm và một số bệnh nhiễm khuẩn nhẹ ngoài da.

Việc này rất phổ biến trong cộng đồng những người đánh cá. Những AKG có vai trò hàng đầu trong miễn dịch bằng cách bình thường hóa chức năng của tủy xương thông qua kích thích sự sản xuất bạch cầu gọi là đại thực bào để tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. Theo nhiều môn đồ, một liều điều trị dầu cá mập trong vài tuần lễ rất tốt chống sự mệt mỏi trường diễn và người đau cơ. Kết quả này do khả năng của AKG kích thích sự sinh trưởng của Lactobacillus acidophilus, một trong những loài vi khuẩn có ích nhất trong việc bảo vệ miễn dịch của ruột.

Một trong những lợi ích phổ biến của dầu gan cá mập, do tác dụng kích thích miễn dịch là làm tăng hiệu quả các trị liệu chống ung thư và giảm thiểu các tác dụng phụ.

Năm 1954, GS. A.Brohult, người Thụy Điển trình bày những kết quả của một nghiên cứu lâm sàng trên người, chứng minh những lợi ích của AKG như một bổ trợ trong điều trị một số bệnh ung thư. Từ những công bố khoa học đầu tiên, có những công trình khác nhằm chứng minh việc dùng AKG trước, trong và sau hóa trị hay xạ trị đã làm giảm sự hủy hoại bạch cầu do các liệu pháp chống ung bướu cổ điển gây ra.

Tính chất kháng ung bướu này được giải thích bởi tác dụng ức chế của AKG trên các protein kinase C liên quan đến sự tăng sinh của tế bào ung thư. Hơn nữa, các AKG, nhờ tính chất ôxy hóa, cũng tham gia vào việc tiêu hủy các gốc tự do nội bào liên quan đến quy trình gây ung thư.
Vì tất cả những lý do trên, dầu gan cá mập ngày càng được bệnh nhân ung thư sử dụng nhiều hơn để hỗ trợ trong các liệu pháp quy ước.

AKG và vấn đề bảo vệ nguồn sinh thái biển
Nhiều công ty dược phẩm đã gia tăng sản xuất những sản phẩm dược phẩm có nguồn gốc từ dầu gan cá mập. Tuy nhiên, việc các công ty này cần chấp hành những quy định về những quy chế bảo vệ động vật và đánh cá là rất quan trọng. Vì hiện nay một số loài cá mập đang có nguy cơ tuyệt chủng và đang được công ước quốc tế bảo vệ (Công ước Washington). Những quốc gia trong cộng đồng châu Âu bắt buộc phải tuân thủ những quy ước này. Sản phẩm của họ phải bảo đảm không được chế biến từ những loài nằm trong danh mục bị đe dọa.

Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng gan cá mập được chế biến thường là những sản phẩm phụ của ngành cá, nghĩa là loài cá mập không bị đánh bắt vì mục đích buôn bán dầu lấy từ gan của chúng. Bởi vậy, các quốc gia thuộc cộng đồng châu Âu đã ý thức đến việc đánh bắt có hạn mức (quota) nhất định để bảo vệ hệ sinh thái biển và sự đánh bắt lâu dài.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những cách chữa bỏng phản tác dụng

Khi bị bỏng, mọi người thường truyền tai nhau mẹo dân gian để chữa, nhưng không phải lúc nào các mẹo ấy cũng đúng, nếu không cẩn thận có thể lãnh những hậu quả khôn lường…

Kem đánh răng

nhung-cach-chua-bong-phan-tac-dung

Nhiều người khi bị bỏng bôi kem đánh răng lên vết thương. Họ quan niệm kem đánh răng sẽ làm dịu vết thương. Song, thực chất kem đánh răng có chất kiềm nhẹ, khi bôi lên vết bỏng sẽ làm tăng đau đớn.

Trong trường hợp bỏng axít, người ta dùng kem đánh răng để rửa và trung hoà axít còn dư lại. Khi bị bỏng axít, bạn phải hoà loãng nồng độ axít còn lại trên da bằng cách ngâm ngay vào nước lạnh. Sau đó, trung hoà axít còn dư trên da bằng xà phòng hoặc kem đánh răng, bằng cách xoa nhẹ xà phòng hoặc kem đánh răng cho sủi bọt và ngấm sâu vào da rồi rửa sạch.

Đối với bỏng nước sôi, lửa, không được dùng những chất này vì nó chỉ làm tăng thêm sự đau đớn. Không nên dùng xà phòng, kem đánh răng như một thứ thuốc.

Dùng mỡ trăn hoặc dầu cá:

nhung-cach-chua-bong-phan-tac-dung1

Nhiều lọ mỡ trăn không được tiệt trùng nên hầu hết bị ôi thiu do nhiễm vi sinh vật. Do đó, vết bỏng bị nhiễm khuẩn rất nhanh. Còn dầu cá có mùi tanh, khi bôi lên sẽ bị hôi tanh và gọi ruồi đến.

Thực ra mỡ trăn và dầu cá đều có thể chữa bỏng nhưng phải dùng đúng lúc. Chất Vitamin A trong dầu cá và mỡ trăn có tác dụng kích thích sự tái tạo tế bào biểu mô. Vì vậy, người ta thường sử dụng kết hợp với các thuốc khác tạo thành hợp chất có tác dụng như mỡ, kem.

Thuốc chỉ định cho những trường hợp bị bỏng sâu, dùng vào tuần lễ thứ ba sau khi bỏng. Không dùng mỡ trăn và dầu cá vào việc sơ cứu.

Nước mắm: Có rất nhiều người sau khi bị bỏng đã ngâm ngay vết bỏng vào nước mắm để giữ nhiệt theo cách dân gian, đến khi vào viện vết loét sâu ngấm nước mắm nên thịt thối ra, mùi kinh khủng. Các bác sĩ phải nạo vét lớp thịt hoại tử để cấy ghép da mới. Nhiều người đã phải cắt bỏ tay, chân vì hoại tử sau bỏng. (Trong ảnh: Bàn tay bị hoại tử và phải cắt đi vì bị bỏng rồi ngâm nước mắm).

Chữa bỏng bằng thuốc của thầy lang… Điều này đã cảnh báo sự thiếu kiến thức trầm trọng của không ít người trong việc điểu trị vết bỏng, qua trường hợp đau lòng trên có thể thấy nhiều người vẫn áp dụng những cách trị bỏng phản khoa học khiến vết bỏng từ nhẹ thành nặng và khó qua khỏi.

Nên xử lý vết bỏng thế nào? Cần phải phân loại vết bỏng: Vết bỏng thường gây ra do nhiều tác nhân nhưng nguyên nhân chung là do da bị tiếp xúc với những thứ có nhiệt độ cao như dầu mỡ, nước đang sôi, lửa cháy, bô xe máy nóng… Tùy vào nhiệt độ và điều kiện tiếp nhiệt mà các vết bỏng có mức độ nghiêm trọng khác nhau. Thường người ta sẽ chia vết bỏng ra làm 3 cấp độ.

nhung-cach-chua-bong-phan-tac-dung2

Vết bỏng độ 1 : là vết bỏng ít nghiêm trọng nhất và các ấy hoàn toàn có thể tự xử lí ở nhà mà không cần đến sự giúp đỡ của các bác sĩ. Chỗ da bỏng loại này có màu đỏ và đau rát nhưng da vẫn tương đối nguyên vẹn, không có bọng nước rộp lên.

Vết bỏng độ 2: Nơi da bị bỏng sẽ có màu đỏ và rát. Đồng thời, những vết phồng rộp nổi lên trên da và có nước bên trong. Tùy vào vị trí bị bỏng mà có thể cẩn thận chăm sóc cho vết bỏng. Ở mức độ này với một chút thuốc men thích hợp và có thể cần đến sự trợ giúp của bác sĩ nếu có dấu hiệu báo động đỏ.

Vết bỏng độ 3: Đây là vết bỏng nghiêm trọng nhất rồi đây. Phần da bỏng có thể bị đen hoặc lại trắng bệch ra rất đáng sợ. Với vết bỏng độ này thì cần tức tốc đến bệnh viên ngay để xử lý vì nếu chậm trễ sẽ có thể dẫn đến tình trạng nhiễm trùng hết sức nguy hiểm.

Sơ cứu bước đầu: Thực ra, việc xử lý khi bị bỏng khá đơn giản. Chỉ cần ngâm nước lạnh 15-20 phút vừa giúp vết bỏng hạ nhiệt, vừa giảm đau, giảm phù nề cho vết thương. Sau đó, đắp gạc ướt lên rồi băng ép và đến cơ sở y tế chuyên môn để được các bác sĩ tư vấn và điều trị thích hợp. Nếu bị bỏng ở những vùng cơ thể khó ngâm nước như mặt, cổ… thì có thể dùng khăn sạch, ướt đắp lên.

nhung-cach-chua-bong-phan-tac-dung3

Theo bác sĩ, khi bị bỏng cần được xử lý ngay lập tức, tốt nhất là trong 15 phút đầu. Nếu để muộn, tổn thương càng sâu thì việc điều trị càng mất nhiều thời gian, phức tạp và để lại di chứng, sẹo xấu.

Vô sinh có thể do mất dinh dưỡng

Cơ thể thiếu vitamin và khoáng chất gây ra những tổn thương không nhỏ, nếu kéo dài có thể để lại hậu quả khó lường.

Thiếu vitamin trong cơ thể thường xảy ra do quá trình hấp thu và đồng hóa vitamin bị rối loạn. Đây có thể là do các bệnh mãn tính ở hệ tiêu hóa hoặc do ảnh hưởng của một số loại thuốc gây ra. Trong một vài trường hợp, nhu cầu vitamin tăng, cơ thể sẽ có nguy cơ bị thiếu nếu không được tăng thêm nguồn cung cấp. Những trường hợp đó là: phụ nữ có thai, cho con bú, những vận động viên thể thao, tình trạng stress, khí hậu khắc nghiệt, nghiện rượu, môi trường ô nhiễm…

vo-sinh-do-dinh-duong

Cơ quan sinh sản của phụ nữ có liên quan đến các vấn đề như: thai nghén, sinh nở. Chế độ dinh dưỡng của bạn không phù hợp có thể gây rắc rối trong việc thụ thai, chu kì kinh nguyệt hàng tháng… do đó, nó có thể cản trở khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Vô sinh là rắc rối thường gặp ở một số chị em, nguyên nhân chủ yếu là trứng không rụng. Điều này chịu ảnh hưởng của hormone. Vài trường hợp chung thường thấy như bất thường ở ống dẫn trứng, u xơ tử cung hoặc lạc nội mạc tử cung. Tăng cường dùng nhiều thực phẩm giàu vitamin và khoáng chất sẽ giúp trứng khỏe, phôi phát triển tốt. Vitamin E giúp sản xuất ra chất nhầy tử cung, tránh hiên tượng khô âm đạo. Ngoài ra, dùng nhiều dầu cá, dầu gan cá, quả hạch có thể kích thích sự sản xuất hormone giới tính.

Rối loạn kinh nguyệt có thể do sụt cân, căng thẳng, thiếu dinh dưỡng hoặc hormone mất cân bằng. Để phòng ngừa tình trạng này, mỗi ngày 2 lần, bạn nên bổ sung vitamin B6. Bạn cũng nên bổ sung thêm 200mg magnesium/ ngày, dùng thêm sắt 5mg/ ngày và 15mg kẽm/ ngày trong những trường hợp lượng máu kinh mất quá nhiều. Nếu thiếu kẽm và vitamin B6, chu kỳ kinh nguyệt có thể mất hẳn.

Nguồn đọc báo

Omega-3 không có tác dụng với bệnh tim mạch

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg (Đức) đã công bố một kết quả nghiên cứu hoàn toàn trái ngược với các nghiên cứu trước đây về Omega-3, rằng loại axit béo có trong cá này không hề có tác dụng bổ trợ gì trong điều trị các bệnh nhân tim mạch.

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg đã công bố kết quả này ngày 30/3 tại một hội nghị của trường Đại học Tim mạch Mỹ ở Florida.

Omega-3a

Các nhà khoa học Đức cho biết đã tiến hành nghiên cứu trên gần 4.000 bệnh nhân thuộc 104 bệnh viện và trung tâm tim mạch ở nước này. Các bệnh nhân sau khi bị đau tim từ 3-14 ngày sẽ được điều trị ngẫu nhiên bằng axit béo Omega-3 với liều lượng cao hoặc thuốc an thần trong một năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy không sự khác biệt đáng kể nào giữa các bệnh nhân được điều trị theo phương pháp chăm sóc sức khỏe thông thường và các bệnh nhân được bổ sung thêm axit béo Omega-3. Như vậy, Omega-3 không có tác dụng cải thiện cuộc sống cho bệnh nhân bị tim mạch.

Từ lâu, Omega-3 được coi là phương thuốc giúp các bệnh nhân tim mạch giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim, tỷ lệ hình thành các mảng xơ vữa gây tắc động mạch.

Theo vietnam+

Có thể phòng ngừa ung thư tuyến tiền liệt bằng dầu cá

Dầu cá có thể bảo vệ nam giới khỏi nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt, một nghiên cứu chỉ rõ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng uống 1 liều axit béo omega-3, hoặc dầu cá trong cá trích, cá hồi, cá thu, có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư khoảng 60%. Nó cũng có tác dụng đối với những người mang gien làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt (Những người mang gien COX-2 có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao gấp 5 lần so với người không mang gien).

dau-ca-giam-ung-thu

Nghiên cứu đã so sánh chế độ dinh dưỡng của 466 nam giới có bệnh với 478 nam giới khỏe mạnh. Họ phát hiện ra rằng những người thường xuyên ăn cá béo giàu omega – 3, từ 1 – 3 lần mỗi tháng sẽ giảm 36% nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến so với những người không bao giờ ăn các loại cá này. Bổ sung dầu cá 1 lần mỗi tuần sẽ có hiệu quả cao hơn nữa, giảm tới 57% nguy cơ.

Ngoài cá béo, có thể ăn các loại ngao sò. Loài động vật có vỏ thân mềm này cũng rất giàu axit béo omega-3.

Trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Witte, ĐH California (San Francisco, Mỹ) cho biết: “Người mang gien COX-2 có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nếu uống nửa gam dầu cá mỗi ngày”.

Theo giải thích của các nhà khoa học, axit béo omega-3 giúp ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt nhờ khả năng chống viêm. Có nhiều bằng chứng cho thấy sự viêm nhiễm tác động tới nguy cơ ung thư. Những viêm nhiễm không được hệ miễn dịch “hưởng ứng”, có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng, sự nhiễm khuẩn và gien.

Những phát hiện này được đăng tải trên tạp chí y học Cancer Research.

Theo Dân Trí (Dailymail)

Thiếu vitamin D – ảnh hưởng tới sức khỏe như thế nào

Vitamin D vẫn được coi là vitamin dành cho xương vì nó làm chắc và khỏe xương. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng chứng minh rằng những người đủ vitamin D thường xuyên sẽ ít bị bệnh tim mạch và biến chứng bàn chân do tắc mạch hơn những người thiếu vitamin D trong cơ thể.

Bạn có nghĩ rằng mình bị thiếu vitamin D hay không? Chắc chắn bạn cho rằng mình vẫn tiếp xúc với ánh mặt trời hàng ngày thì không thể thiếu vitamin D được. Tuy nhiên, thực tế là bạn không biết mình hấp thụ được bao nhiêu vitamin D cho cơ thể và kết quả là rất nhiều người trong chúng ta rơi vào tình trạng thiếu vitamin D ở các mức độ khác nhau.

Nếu nói rằng ánh mặt trời có tác dụng giúp cơ thể bạn hấp thụ vitamin D thì cũng có nghĩa là cơ thể thiếu vitamin D do ít tiếp xúc với ánh mặt trời. Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất khiến bạn thiếu vitamin D.

thieu-vitamin-d-anh-huong-toi-suc-khoe-nhu-the-nao

Một số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thiếu vitamin D bao gồm:

1. Hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời

Các nguồn chính của vitamin D là từ ánh nắng mặt trời tự nhiên vì vậy nếu hạn chế tiếp xúc với ánh mặt trời sẽ có tác động lớn đến lượng vitamin hấp thụ vào cơ thể. Chúng ta đã nghe về sự nguy hiểm của bệnh ung thư da và sự cần thiết của kem chống nắng để bảo vệ chúng ta khỏi bệnh này. Thật không may, mối nguy hiểm của việc không nhận đủ vitamin D từ ánh nắng mặt trời lại không được nhiều người quan tâm.

Sử dụng kem chống nắng có độ SPF 30 có thể làm giảm sự tổng hợp vitamin D trong da tới hơn 95%. Thậm chí nếu bạn có tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, tổng lượng vitamin D cũng còn phụ thuộc vào mùa và thời tiết. Nếu thời tiết u ám, lượng vitamin D từ thiên nhiên sẽ không cao. Tuy nhiên, nếu bạn thường xuyên tiếp xúc ánh mặt trời vào những lúc nắng nóng gay gắt thì lại có thể ảnh hưởng đến da, có thể là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư da.

Vì vậy, bạn chỉ nên tiếp xúc ánh mặt trời 10-15 phút mỗi ngày hoặc vài lần/tuần để hấp thụ những vitamin D từ tự nhiên một cách tốt nhất.

2. Màu sắc của làn da

Melanin là hợp chất quyết định màu sắc của da bạn, những người có hàm lượng melanin ít thì da sẽ sáng màu, nhiều thì da sẽ sẫm màu hơn. Melanin có thể hấp thụ bức xạ tia UVB từ mặt trời và làm giảm khả năngíaản xuất vitamin D3 của da. Những người có làn da tự nhiên sẫm màu sẽ có thể tự bảo vệ da tốt hơn nhưng lại hấp thụ được ít vitamin D từ ánh mặt trời hơn so với những người có làn da trắng từ 3-5 lần.

Vì vậy, nếu bạn có làn da tối màu và ít tiếp xúc với ánh mặt trời thì bạn càng có nguy cơ cao thiếu vitamin D.

3. Béo phì

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa chỉ số BMI và nguy cơ thiếu vitamin D ở con người, trong đó chỉ số BMI cao dẫn tới giảm nồng độ vitamin D trong cơ thể. Những đối tượng thừa cân và béo phì (có chỉ số BMI trên 40) sẽ có lượng vitamin D trong cơ thể ít hơn 18% so với những người có chỉ số BMI dưới 40.

Nhà nghiên cứu chính, tiến sĩ Elina Hypponen thuộc Viện Sức khỏe trẻ em Đại học London cho rằng những nỗ lực giải quyết tình trạng béo phì cũng có thể giúp giảm mức độ thiếu hụt vitamin D.

thieu-vitamin-d-anh-huong-toi-suc-khoe-nhu-the-nao1

4. Cơ thể kém hấp thu

Một số người bị coi là kém hấp thụ vitamin D do họ mắc các bệnh như Crohn, celiac… Những người đã từng phẫu thuật giảm béo cũng thường không thể hấp thụ đủ vitamin D do các chất béo hòa tan vitamin D trong cơ thể bị thiếu hụt.

5. Tuổi tác

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cùng với sự hấp thụ vitamin D có mối liên hệ mật thiết với tuổi tác. Khi càng về già, cơ thể bạn càng giảm khả năng tổng hợp vitamin D khi tiếp xúc với ánh mặt trời và từ thực phẩm, do đó nguy cơ thiếu vitamin D của bạn cũng cao hơn so với khi bạn còn trẻ.

6. Dùng một số loại thuốc trị bệnh

Một loạt các loại thuốc, kể cả thuốc kháng nấm, thuốc chống co giật, glucocorticoid và các loại thuốc điều trị HIV/AIDS… đều có thể tăng cường sự phân hủy của vitamin D khiến cho lượng vitamin D hấp thụ vào cơ thể không được nhiều. Ngoài ra, những người mắc các bệnh như bệnh thận mãn tính, cường giáp, rối loạn u hạt mãn tính và một số bệnh liên quan đến tế bào bạch huyết… cũng bị mất mát một số lượng vitamin trong quá trình chuyển hóa và hấp thụ từ ánh mặt trời hay các sản phẩm bổ sung vitamin D khác.

7. Không thường xuyên ăn các thực phẩm chứa vitamin D

Ngoài ánh mặt trời, vitamin D còn có nhiều trong các loại thực phẩm bạn ăn hàng ngày. Vì vậy, việc bổ sung vitamin D từ thực phẩm cũng là hết sức quan trọng và cần thiết. Nếu bạn tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngăt, bỏ qua nhiều loại thịt, sữa động vật thì sẽ có nguy cơ thiếu hụt một lượng vitamin D lớn.
Nguồn thực phẩm giàu vitamin D bao gồm: cá, dầu cá, gan bò, pho mát và lòng đỏ trứng…

Theo Trí thức trẻ

Những thực phẩm dành cho bệnh nhân ung thư vú

Sau hai thập kỷ chứng kiến sự gia tăng số người bị ung thư vú, số người bị bệnh đang giảm đi trong những năm gần đây. Tuy nhiên, chuyên gia đang ra sức kiếm tìm những con đường mới để cứu sống tính mạng của bệnh nhân.

“Chúng ta phải có cái nhìn toàn diện về khả năng sống của người bệnh,” BS. Alison Estabrook, trưởng nhóm phẫu thuật vú tại St. Luke’s-Roosevelt và là giám đốc Trung tâm Ung thư vú nói. “Rõ ràng là thói quen ăn uống tốt sẽ làm tăng khả năng không bị ung thư vú hoặc không bị tái phát.”

Không phải bác sĩ ung thư nào cũng nắm rõ mối liên quan giữa dinh dưỡng và tuổi thọ, nhưng các bác sĩ chuyên về dinh dưỡng cho biết có một số loại thực phẩm mà phụ nữ nên đưa vào chế độ ăn của mình để làm tăng khả năng sống.

Đậu nành
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu
BS Barry Boyd, sáng lập viên của chương trình y học tích hợp tại Bệnh viện Greenwich-Hệ thống Y tế Yale, cho rằng phụ nữ không còn phải sợ  ăn đậu nành.

“Đã từng có mối lo ngại rằng các thành phần của đậu nành có những đặc tính giống estrogen có thể tác động đến sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú,” Boyd nói. “Khoa học đã chứng mình đậu nành không chỉ không gây nguy cơ mà còn mang lại lợi ích.”

Một nghiên cứu trên tờ American Journal of Clinical Nutrition đã tìm hiểu về khẩu phần đậu nành ở 9.500 phụ nữ có chẩn đoán ung thư vú tại Mỹ và Trung Quốc. Theo các nhà nghiên cứu, việc tiêu thụ các isoflavon, chủ yếu có trong đậu nành, đã “làm giảm đáng kể nguy cơ tái phát” ở những bệnh nhân ung thư vú có chẩn đoán là ung thư xâm lấn.

Nghiên cứu mới được công bố năm nay trên tờ Asian Pacific Journal of Cancer Prevention cũng cho kết quả tương tự. Phân tích hơn 11.000 bệnh nhân ung thư vú đã cho kết luận là ăn đậu nành có liên quan với giảm nguy cơ tử vong và giảm số ca tái phát do bệnh.

Hội Ung thư Mỹ, vốn thận trọng hơn trong các khuyến nghị, cũng lưu ý rằng đậu nành là một nguồn protein thay thế tốt, “phụ nữ bị ung thư vú chỉ nên ăn với lượng vừa phải” và không nên dùng những loại thuốc viên, bột hoặc chế phẩm bổ sung chứa nhiều isoflavon.

Cải xoăn, khoai lang và bí ngồi
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu1
Ăn những thực phẩm giàu carotenoid đã được biết là có liên quan với giảm nguy cơ tái phát ung thư vú. Carotenoid là sắc tố tự nhiên có trong các loại thực phẩm có màu vàng cam (như cà rốt, khoai lang và bí ngồi) và những loại rau lá xanh thẫm như cải xoăn, cải bó xôi và cải Thụy Sĩ.

Một nghiên cứu năm 2009 đăng trên tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention đã cho thấy tăng lượng carotenoid có liên quan với “khả năng sống sau khi bị ung thư vú cao hơn.” Kết quả nghiên cứu dựa trên một phần của Nghiên cứu Lối sống và ăn uống lành mạnh của phụ nữ, được sự tài trợ của Các Viện y tế quốc gia Mỹ.

Để tăng luợng carotenoid, BS Mitchell Gaynor, sáng lập viên tổ chức Gaynor Integrative Oncology, khuyên bệnh nhân ăn nhiều các loại rau thuộc họ cải. : “Ngày nay chúng ta hiểu ung thư tương đối khác với những năm 1970. Chúng ta đã biết rằng một số loại thực phẩm khiến cho cơ thể trở nên không thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Mục tiêu là kiềm chế tế bào ung thư, và những gì chúng ta ăn vào có thể tạo nên sự khác biệt.”

Ví dụ về những loại rau thuộc họ Cải gồm súp lơ xanh, cải xoăn, bắp cải và súp lơ.

Cá hồi, cá ê-phin và cá tuyết

Ăn các loại cá giàu axít béo omega-3 cũng cải thiện tiên lượng của ung thư vú. Những loại cá này gồm cá hồi, cá ê-phin, cá tuyết, cá bơn halibut và cá mòi.

Nghiên cứu năm 2011 trên tờ Journal of Nutrition cho thấy các a xít béo EPA và DHA từ cá  “ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư vú” và làm giảm “tiến triển của khối u vú.” Những người đã chẩn đoán và điều trị ung thư vú giai đoạn đầu và có lượng EPA vào DHA cao hơn giảm được xấp xỉ 25% nguy cơ tái phát.

Điều quan trọng cần lưu ý là lợi ích chỉ gắn liền với việc ăn cá, chứ không phải với uống bổ sung dầu cá.

Gaynor cho rằng ăn cá giàu omega-3 cũng tốt cho sức khỏe vì nó hỗ trợ cho hệ miễn dịch và làm giảm nguy cơ bệnh tim và tiểu đường của phụ nữ.

Tuy nhiên Hội Ung thư Mỹ cảnh báo không nên ăn quá nhiều những thực phẩm giàu chất béo này: “Chế độ ăn giàu chất béo thường cũng chứa nhiều calo và có thể gây béo phì, mà béo phì lại làm tăng nguy cơ của nhiều loại ung thư.”

Đậu đỗ và ngũ cốc nguyên cám
nhung-thuc-pham-danh-cho-benh-nhan-ung-thu-vu2
“Một chế độ ăn giàu chất xơ làm giảm tử vong nói chung ở bệnh nhân ung thư vú,” đó là ý kiến của BS. Keith Block, giám đốc y tại tại Trung tâm điều trị ung thư tích hợp ở Skokie, bang Illinois (Mỹ).

Theo BS. Block thì chất xơ cớ lợi là vì nó có thể giúp kiểm soát sự thèm ăn và làm giảm lượng calo hấp thu. Việc đạt và duy trì cân nặng bình thường, nhất là sau khi mãn kinh, được xem là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sống.

“Khi xét đến bệnh ung thư, thì phần là do tăng cân,” bà nói. “Bạn càng béo, lượng estrogen lưu hành trong cơ thể sẽ càng nhiều và càng có nhiều estrogen thì nguy cơ ung thư vú càng tăng.

“Nhưng khả năng sống sau khi bị ung thư không chỉ phụ thuộc vào việc ăn một loại quả hay rau nào đó, mà nó liên quan đến việc lựa chọn lối sống lành mạnh, bao gồm cả tập thể dục. Chế độ ăn chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh.”

Nguồn dân trí

Dầu cá giúp giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến

Dầu cá có thể bảo vệ nam giới khỏi nguy cơ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt, một nghiên cứu chỉ rõ.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng uống 1 liều axit béo omega-3, hoặc dầu cá Xem ảnh lớntrong cá trích, cá hồi, cá thu, có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư khoảng 60%. Nó cũng có tác dụng đối với những người mang gien làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt (Những người mang gien COX-2 có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao gấp 5 lần so với người không mang gien).

Nghiên cứu đã so sánh chế độ dinh dưỡng của 466 nam giới có bệnh với 478 nam giới khỏe mạnh. Họ phát hiện ra rằng những người thường xuyên ăn cá béo giàu omega – 3, từ 1 – 3 lần mỗi tháng sẽ giảm 36% nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến so với những người không bao giờ ăn các loại cá này. Bổ sung dầu cá 1 lần mỗi tuần sẽ có hiệu quả cao hơn nữa, giảm tới 57% nguy cơ.

dau-ca

Ngoài cá béo, có thể ăn các loại ngao sò. Loài động vật có vỏ thân mềm này cũng rất giàu axit béo omega-3.

Trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Witte, ĐH California (San Francisco, Mỹ) cho biết: “Người mang gien COX-2 có thể giảm nguy cơ mắc bệnh nếu uống nửa gam dầu cá mỗi ngày”.

Theo giải thích của các nhà khoa học, axit béo omega-3 giúp ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt nhờ khả năng chống viêm. Có nhiều bằng chứng cho thấy sự viêm nhiễm tác động tới nguy cơ ung thư. Những viêm nhiễm không được hệ miễn dịch “hưởng ứng”, có thể bị ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng, sự nhiễm khuẩn và gien.

Những phát hiện này được đăng tải trên tạp chí y học Cancer Research.
Theo Minh Thu
Dân trí/Dailymail

Dầu cá dùng sai sẽ gây nhiều tác hại

Dầu cá là loại thuốc hoặc thực phẩm chức năng (TPCN) có dạng viên nang mềm chứa vitamin tan trong dầu hoặc chất bổ dưỡng gọi là dầu gan cá được dùng nhằm bồi dưỡng sức khỏe. Dầu cá thông dụng hiện nay chia là 2 loại: “dầu cá chứa vitamin tan trong dầu là vitamin A, D” và “dầu cá chứa acid béo omega-3, omega-6”. Hai loại dầu cá này hiện nay được nhiều người mua, đặc biệt mua dùng cho trẻ, nhưng sự hiểu biết về chúng có nhiều hạn chế.

Dầu cá chứa vitamin A, D

Đây là loại dầu cá bổ sung vitamin tan trong dầu. Có 4 vitamin tan trong dầu phải được bổ sung cho cơ thể hằng ngày là vitamin A, D, E, K. Riêng loại dầu cá bổ sung vitamin A, D đáng nói nhất vì đây liên quan đến hai vitamin trẻ con thường bị thiếu hụt và vitamin A và D dùng không đúng dễ bị quá liều gây ngộ độc.

Trong thiên nhiên, vitamin A có nhiều trong trứng, sữa, bơ, gan, thịt động vật. Vitamin A còn được tìm trong thực vật, dưới dạng tiền sinh tố A (còn gọi là bêta-caroten) có nhiều trong các loại rau có màu đỏ, vàng hoặc xanh lục đậm. Đây có thể được xem là các nguồn thiên nhiên bổ sung vitamin A rất tốt cho trẻ và sử dụng các nguồn này thì không bao giờ sợ quá liều. Vitamin A tham gia vào sự tạo ra các mô, da, võng mạc ở mắt giúp thị giác hoạt động tốt, tăng cường sức đề kháng của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm trùng. Nếu thiếu vitamin A, trẻ sẽ bị quáng gà, khô mắt đưa đến mù mắt, dễ bị bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt nhiễm khuẩn đường hô hấp, chậm lớn…

dau-ca-dung-sai-loi-bat-cap-hai

Còn Vitamin D có tên khoa học là calciferol, được cung cấp từ thực phẩm có hai dạng: vitamin D2 hay ergocalciferol hiện diện trong thực vật (trong nấm men và một số loại nấm) và vitamin D3 hay cholecalciferol có trong động vật (nhiều nhất là dầu gan cá biển sâu). Đặc biệt, ở vùng thượng bì của da chúng ta có chứa hợp chất 7-dehydrocholesterol cũng được xem là tiền vitamin D. Khi có tia cực tím của ánh nắng (đặc biệt là UVB có bước sóng 290 – 325nm) chiếu vào da sẽ biến tiền vitamin D thành cholecalciferol tức vitamin D3. Các nhà khoa học ghi nhận, chỉ cần 10 phút để cho hai tay và khuôn mặt lộ ra dưới nắng mặt trời không cần gắt lắm là đủ cho việc tổng hợp vitamin D với lượng cần thiết cho cả một ngày. Vai trò chính của vitamin D là tạo xương bằng cách duy trì lượng canxi và phospho có sẵn trong cơ thể để hóa xương. Nếu thiếu vitamin D, sẽ thiếu chất khoáng cho xương và răng đưa đến còi xương ở trẻ con và nhuyễn xương, loãng xương ở người lớn.

Vitamin A và D là hai vitamin tan trong chất béo và cùng có mặt trong gan một số cá như gan cá thu, cá nhám… nên thông thường bổ sung 2 vitamin này có chế phẩm gọi là thuốc viên dầu gan cá (Cods Liver Oil) cung cấp cùng lúc vitamin A và vitamin D hay thuốc viên vitamin A-D. Người lớn và các bậc cha mẹ muốn cho trẻ uống bổ sung vitamin A, D xin lưu ý mấy điều sau đây để sử dụng thuốc cho hiệu quả tốt nhất:

– Nếu có điều kiện nên tham khảo thầy thuốc khi cho trẻ dùng thuốc, mặc dù là dùng chế phẩm chứa vitamin.

– Nếu dùng quá liều đưa đến thừa vitamin A, có thể gây quái thai ở phụ nữ có thai, còn trẻ sơ sinh thì bị tăng áp lực sọ não đưa đến lồi thóp, viêm teo dây thần kinh thị giác. Dùng quá liều vitamin D sẽ gây vôi hóa nhau (rau) thai ở phụ nữ có thai, còn trẻ thì bị chán ăn, mệt mỏi, nôn ói, xương hóa sụn sớm. Ở nước ta, đã có nhiều trường  hợp trẻ con do uống quá liều vitamin A, D bị tác dụng phụ có hại gây tăng áp lực sọ não, bị lồi thóp phải đưa đến bệnh viện cấp cứu.

– Hằng ngày, trẻ chỉ nên uống lượng dầu gan cá hoặc vitamin A-D tương ứng với 2.500 đơn vị quốc tế (IU) vitamin A và 400 IU vitamin D. Còn người lớn thì không được dùng quá 5.000 IU vitamin A/ngày và 400 IU vitamin D/ngày. Để không quá liều, nên uống theo từng đợt cách quãng, nghĩa là sau khi uống 3 tuần phải ngưng uống 1 – 2 tuần nếu muốn tiếp tục.

– Vẫn phải cho trẻ ăn đầy đủ chất béo (mỡ, dầu thực vật) và cho uống thuốc vitamin A, D ngay sau khi ăn để thuốc dễ hấp thu hơn.

– Không cho trẻ dùng chế phẩm vitamin A, D khi trẻ đã được cơ sở y tế cho uống vitamin A liều cao theo chương trình chống mù lòa ở trẻ do thiếu vitamin A.

Dầu cá chứa acid béo omega-3, omega-6

Omega-3 và omega-6 là 2 loại acid béo được cho là tốt cho tim mạch do người ta nhận thấy người Eskimo hiếm bị bệnh động mạch vành (động mạch vành bị hẹp bít do cặn mỡ) và dân tộc này ăn rất nhiều cá có chứa acid béo omega-3, omega-6. Nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ DHA (viết tắt của docosahexaenoic acid là chất mà acid omega-3 tạo thành trong cơ thể) được bổ sung có thể làm giảm lượng triglycerid máu, làm giảm tỉ lệ bệnh động mạch vành, giảm tỉ lệ bị nhồi máu cơ tim.

Nếu có chế độ dinh dưỡng không tốt, ăn quá thừa năng lượng như ăn nhiều dầu mỡ, uống nhiều bia rượu, hoặc người đó đã nhuốm bệnh gọi là rối loạn lipid huyết thì dù uống bao nhiêu dầu cá người đó vẫn bị tăng lipid huyết.

Dầu cá chứa omega-3, omega-6  hiện nay được lưu hành dưới dạng TPCN. Dùng dầu cá được ghi là TPCN, ta vẫn phải dùng đúng liều lượng theo hướng dẫn thì mới an toàn. Hiện nay có tình trạng nhờ quảng cáo, tiếp thị rầm rộ nên nhiều người cả tin, cứ tưởng TPCN là “thần dược” chữa bá bệnh. Như có người uống “dầu cá” trong suốt cả một năm với hy vọng là giúp “mỡ trong máu” tốt nhưng không ngờ khi khám sức khỏe thì bị rối loạn lipid huyết, tức mỡ trong máu, trong đó có cholesterol tăng cao. Ở đây, đương sự không biết “dầu cá” chỉ có tác dụng hỗ trợ, còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu có chế độ dinh dưỡng không tốt, ăn quá thừa năng lượng như ăn nhiều dầu mỡ, uống nhiều bia rượu, hoặc người đó đã nhuốm bệnh gọi là rối loạn lipid huyết thì dù uống bao nhiêu dầu cá người đó vẫn bị tăng lipid huyết.

Tóm lại, để phòng chống bệnh tật ta nên góp phần chống ô nhiễm môi trường, vệ sinh cá nhân thật tốt, dinh dưỡng đầy đủ và đúng cách (tránh ăn uống quá thừa năng lượng, ăn nhiều rau quả, trái cây…), vận động hợp lý và nghỉ ngơi đầy đủ, tránh nghiện rượu, thuốc lá, phòng các bệnh viêm nhiễm, có cuộc sống lành mạnh giúp thư thái, lạc quan, yêu đời. Nếu có điều kiện, có thể dùng các loại dầu cá nhưng phải dùng với ý thức thận trọng như dùng thuốc (dùng đúng cách, dùng đúng liều lượng) cũng như không nên gán tác dụng gọi là “thần kỳ” cho dầu cá hay bất cứ loại TPCN nào.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Theo SKDS

Lợi ích của dầu cá đối với sức khỏe

Dầu cá không chỉ cung cấp nhiều axit béo thiết yếu giúp trái tim khỏe mạnh mà còn cải thiện các rối loạn tâm thần như trầm cảm, rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt.

 Dưới đây là một số tác dụng kỳ diệu của dầu cá

loi_ich_cua_dau_ca_doi_voi_suc_khoe

1. Bệnh tim mạch

Dầu cá giúp phòng ngừa các bệnh tim mạch. Dầu cá không chỉ hỗ trợ giảm lượng triglycerid, cholesterol và xơ cứng động mạch mà còn ngăn ngừa loạn nhịp tim.

2. Phòng ngừa ung thư

Dầu cá được chứng minh là có hiệu quả chống lại ba dạng ung thư phổ biến: ung thư vú, đại tràng và tuyến tiền liệt. Omega 3 giúp nuôi dưỡng các tế bào khỏe mạnh bình thường không bị đột biến thành các khối ung thư và ngăn chặn sự phát triển tế bào vô ích.

3. Cân bằng nồng độ cholesterol

Dầu cá có tác dụng vượt trội giúp cân bằng nồng độ cholesterol. Sự hiện diện của các axit EPA và DPA trong phần lớn chế phẩm dầu cá bổ sung chất lượng cao giúp cân bằng cholesterol.

4. Hỗ trợ giảm cân

Ăn cá có thể hỗ trợ điều trị cao huyết áp và béo phì. Một nghiên cứu tại Úc cho thấy chế độ ăn giảm cân sẽ rất hiệu quả nếu thường xuyên có cá.

5. Điều trị viêm khớp

Dầu cá có tác dụng điều trị viêm khớp. Sử dụng dầu cá dài ngày sẽ rất hiệu quả trong việc giảm và ngăn ngừa đau khớp.

6. Sức khỏe đôi mắt

Omega 3 giúp bảo vệ mắt không bị thoái hóa hoàng điểm và giảm nguy cơ mắc hội chứng khô mắt.

7. Rối loạn tâm thần

Dầu cá giúp giảm nguy cơ mắc bệnh Alzehimer, sa sút trí tuệ và tâm thần phân liệt.

8. Sức khỏe mái tóc và làn da

Omega 3 giúp giữ độ ẩm trong tế bào da, sản sinh collagen, hạn chế nếp nhăn và giữ cho bạn luôn tươi trẻ. Hàm lượng protein trong dầu cá giúp tóc phát triển và duy trì mái tóc khỏe mạnh, mượt mà.

9. Huyết áp cao

Omega 3 có các đặc tính chống viêm và chống đông máu, giúp hạ huyết áp. Do vậy, máu được bơm nhanh khắp cơ thể giúp giảm bớt áp lực lên tim.

10. Hen suyễn

Dầu cá giúp điều trị hiệu quả các bệnh đường hô hấp như hen suyễn. Dầu cá hỗ trợ giảm cơn hen suyễn và thở dễ hơn.

11. AIDS

Một nghiên cứu được tiến hành bởi Chương trình Khoa học dinh dưỡng tại Lexington chứng minh rằng dầu cá hỗ trợ điều trị AIDS và giảm nồng độ triglycerid.

12. Móng

Dầu cá được sử dụng trong quá trình làm đẹp vì hấp thu nhiều dầu cá giúp cải thiện bề mặt và chất lượng móng tay.

13. Xương chắc khỏe

Omega 3 trong dầu cá giúp duy trì sự cân bằng các khoáng chất trong xương và mô xung quanh.

14. Trầm cảm

Những người bị bệnh trầm cảm có nồng độ EPA thấp hơn, do vậy dầu cá rất tốt cho bệnh nhân trầm cảm.

15. Tốt cho thai kỳ

Dầu cá rất tốt cho phụ nữ mang thai vì DHA trong dầu cá hỗ trợ sự phát triển mắt và não thai nhi.

16. Chống viêm

Cá có hiệu quả ngăn ngừa viêm nhiễm trong máu và các mô. Dầu cá hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hóa, hội chứng ruột ngắn và các bệnh viêm nhiễm mạn tính.

17. Não bộ và hệ thần kinh

Dầu cá giúp tăng cường trí nhớ, tư duy và độ tập trung. Ngoài ra, dầu cá tăng cường lưu thông máu, tác động đến hóc-môn, hệ miễn dịch và thậm chí là chức năng não bộ.

18. Giảm nguy cơ tiểu đường týp 2

Một nghiên cứu phát hiện thấy dầu cá có thể phòng ngừa viêm nhiễm trong các tế bào chất béo – là quá trình có thể gây kháng insulin và cuối cùng dẫn tới bệnh tiểu đường týp 2.

19. Mụn trứng cá

Dầu cá cũng rất hữu hiệu trong việc điều trị mụn trứng cá nhờ các đặc tính EPA của nó – tác động tới sự hình thành bã nhờn trong nang lông.

20. Cải thiện tâm trạng

Bên cạnh tác dụng giảm trầm cảm, dầu cá được chứng minh là giúp cải thiện tâm trạng thất thường.

Theo SKĐS/ Theo Tiền phong/ HMU

Thực phẩm chống trầm cảm

Dưới đây là một số thực phẩm giúp giảm các triệu chứng trầm cảm:

1. Dầu cá

thuc_pham_chong_tram_cam_01

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Archives of Genaral Psychiatry cho thấy những người bị trầm cảm thường thiếu acid béo EPA.

Dầu cá được xem là sản phẩm giàu acid béo omega 3 có thể làm năng lượng EPA trong cơ thể. Omega 3 cũng có nhiều trong quả óc chó, hạt lanh, cá hồi và cá ngừ.

2. Gạo lức

Gạo lức chứa nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Bên cạnh đó gạo lức cũng có hàm lượng cao chất xơ giúp hỗ trợ tiêu hóa và hạ cholesterol.

3. Yến mạch

thuc_pham_chong_tram_cam_02

Yếu mạch chứa acid folic, acid pantothenic và vitamin B6, B1 giúp hạ cholesterol và kiểm soát tâm trạng.

4. Cải bắp

Cải bắp chứa vitamin C và acid folic. Ăn cải bắp có thể ngăn ngừa stress, nhiễm trùng , bệnh tim và một số dạng ung thư, hiệp hội nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ cho biết.

Bên cạnh thực phẩm thì việc hoạt động thể chất đều đặn ít nhất 3 lần/tuần, tiếp xúc với ánh nắng mặt trời vào buổi sáng sớm hoặc xem những bộ phim hài cũng giúp giảm triệu chứng trầm cảm.

Theo ANTĐ