Tag Archives: đau bụng

Ngộ độc hải sản thường gặp

Hải sản là món ăn ngon, giầu chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, có một số loài hải sản mang nhièu độc tố gây ngộ độc cho người ăn thậm chí có thể tử vong.

Viện Hải dương học Nha Trang vừa nghiên cứu và công bố 39 loài sinh vật có chứa chất độc có khả năng gây chết người tại vùng biển Việt Nam. Đáng sợ nhất là Cá nóc chuột vằn tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người.

Trong số 39 loài sinh vật có chứa chất độc này, có 22 loài cá, một loài mực tuộc, hai loài ốc, ba loài cua, một loài sam và 10 loài rắn biển. Ngoài ra còn có hai loài cá nóc nước ngọt mới được phát hiện ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, tổng cộng là 41 loài sinh vật độc.

Đa số những loài sinh vật độc hại nói trên đều có ở vùng biển nước ta , từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, như các loài cá nóc, cá bống vân mây, loài so và rắn biển, nhưng cũng có một số loài như ốc biển, cua, mực đốm xanh… chỉ mới gặp ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ.

ca-noc

Phần lớn những loài này sống cả ở ngoài khơi và vùng ven bờ, các vùng vịnh, đầm phá, các cửa sông lớn… Riêng hai loài cá nóc nước ngọt được xác định là cá nóc chấm xanh (Chelonodon nigroviridis) và cá nóc mắt đỏ (Carinotetraodon lorteti) mới chỉ phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long.

Những loài hải sản độc này có thể gây hại cho con người theo hai cách chính: qua đường tiêu hoá do các món ăn chế biến từ cá và hải sản và qua phản ứng tự vệ của con vật khi ta vô tình chạm vào chúng, bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc.

Các loại hải sản cực độc
Trong 41 loài sinh vật độc trên có 5 loại cực độc là: Cá nóc răng mỏ chim, cá nóc tro, cá nóc vằn mặt, cá nóc chấm cam, cá nóc chuột vằn mang, trong đó cá nóc chấm cam và cá nóc chuột vằn mang là hai loài độc nhất.

Cá nóc chuột vằn mang (Aronthron immaculatus) thân có dạng hình trứng, vây lưng viền đen, bụng màu trắng… nom không có vẻ gì đáng sợ nhưng trong trứng loài cá này tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người; hàm lượng độc chất cao xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10.

Sau cá nóc chuột vằn mang, cá nóc chấm cam (Torquigener gallimaculatus) cũng rất đáng sợ, cứ 100g trứng hoặc gan loài cá này có thể giết chết 60 – 70 người.

Tác hại chết người của nọc độc hải sản
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bản chất các độc tố của phần đông các hải sản trên thuộc nhóm chất độc thần kinh, nên khi con người bị nhiễm chất độc này sẽ tác động trực tiếp đến hệ thần kinh và hệ tim mạch gây ra những triệu chứng ngộ độc rất trầm trọng.

Hầu hết chúng là những chất độc nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao trong thời gian rất nhanh, với liều độc thấp. Cụ thể, chất độc chứa trong cá nóc và nhiều loại hải sản khác như mực đốm xạnh, so biển, cá bống vân mây, v.v.. là tetrodotoxin, có tác động trên thần kinh trung ương rất mạnh làm liệt các trung khu thần kinh, gây tê liệt cơ thể, ngừng tuần hoàn, hô hấp dẫn đến tử vong nhanh chóng.

Triệu chứng của ngộ độc như sau
Trường hợp bị nhiễm ít chất độc, bệnh nhẹ: Sau khi ăn phải hải sản độc từ 10 phút đến vài giờ, người bệnh thấy tê môi, lưỡi, miệng, mặt, tê các ngón tay, bàn tay, ngón chân và bàn chân. Đồng thời thấy đau đầu, vã mồ hôi, đau bụng, buồn nôn và nôn, tăng tiết nước bọt…

Trường hợp nặng: Người bệnh mệt lả, yếu cơ, liệt cơ tiến triển nên đi đứng loạng choạng không vững. Tình trạng liệt cơ nặng lên nhanh chóng dẫn đến liệt toàn thân, kể cả hô hấp, khiến người bệnh không thở được, suy hô hấp, ngừng thở, mạch chậm, huyết áp hạ và hôn mê, dẫn đến tử vong,

Trong cơ thể cá và hải sản độc, thường trứng và gan là hai nơi tập trung độc chất cao nhất. Nhưng cũng có những hải sản độc, thịt và da lại là những nơi tập trung độc tố cao hơn cả, như loài cá bống vân mây.

Chất độc của cá này tuy có ở tất cả các bộ phận cơ thể, nhưng tập trung nhiều nhất ở da, cứ 100g da có thể giết chết 9 – 10 người.

Còn đối với ba loài hải sản độc khác là cua hạt, mực đốm xanh và so biển thì tất cả các bộ phận khác nhau của cơ thể chúng đều chứa chất độc. Cũng vì vậy, các nhà khoa học khuyên người tiêu dùng tuyệt đối không dùng các loài hải sản độc chế biến thức ăn dưới bất cứ hình thức nào và với bất cứ bộ phận nào của cơ thể chúng.

Trong thực tế hầu hết các trường hợp ngộ độc hải sản nặng đều do ăn phải những loài cá biển và hải sản chứa độc tố mạnh. Ngoài ra cũng có một số người bị trúng độc do sờ mó hoặc vô tình chạm vào những loài rắn biển, cá mặt quỉ, mực đốm xanh, ốc cối… nên bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc. Các độc tố của con vật sẽ theo răng hoặc tên độc của chúng phóng ra xâm nhập cơ thẻ người qua vết thương gây ngộ độc

Nguồn sức khỏe đời sống

Những loại thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng

Nếu bạn đang gặp những vấn đề liên quan đến đường tiêu hóa hoặc muốn tránh các bệnh dạ dày, hãy hạn chế sử dụng các loại thực phẩm sau

1. Đường tinh luyện

Những món ăn ngọt chứa nhiều đường tinh luyện sẽ làm tăng lượng insulin và dẫn đến sự biến động trong lượng đường huyết. Robynne Chutkan, phó giáo sư khoa tiêu hóa của Bệnh viện ĐH Georgetowwn, Washington D.C cho biết: “Tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến dạ dày, nhưng sự thay đổi lượng đường huyết có thể làm bạn bị run và cảm thấy lạnh. Điều đó không tốt cho tình trạng đau bụng của bạn”.

2. Các sản phẩm làm từ sữa

nhung-loai-thuc-pham-can-tranh-khi-bi-dau-bung-1

Các sản phẩm như sữa và phô mai là thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng. Hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Cho dù cơ thể bạn có sẵn lactase thì sự nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến loại enzyme này. Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn.

3. Chocolate và thức ăn chứa caffeine

Lý do khiến những người đau bụng nhạy cảm hơn với chocolate và cà phê là chúng ảnh hưởng đến các cơ thực quản và gây ra chứng trào ngược. Hơn nữa caffeine sẽ làm bạn bị tiêu chảy. Và như đã giải thích ở trên, chocolate chứa sữa cũng có thể khiến bạn khó tiêu.

4. Thức ăn nhiều chất béo

Kem tươi hay các loại thịt đều là thức ăn nhiều chất béo. Chất béo trong thức ăn kích thích một số cơ quan thụ cảm trong dạ dày, làm chậm quá trình tiêu hóa và khiến bạn cảm thấy trướng bụng.

5. Thức ăn nhiều axit nhung-loai-thuc-pham-can-tranh-khi-bi-dau-bung-2

Các loại trái cây thuộc họ cam chanh và sản phẩm làm từ cà chua có khả năng làm axit trào ngược. Vì thực chất cà chua cũng là loại quả chứa rất nhiều axit. Nguyên tắc này cũng áp dụng với nước trái cây chiết xuất từ cam, chanh. Tuy nhiên, thay vào đó bạn vẫn có thể uống nước táo.

6. Đồ uống có cồn

Như nhiều loại thực phẩm khác trong danh sách này, đồ uống có cồn như rượu, bia có thể lầm tăng nồng độ axit trong dạ dày. Chúng có chứa các chất hóa học khó chuyển hóa, gây kích ứng niêm mạc dạ dày. Và đặc biệt không tốt cho những người đã có tiền sử bệnh gan.

7. Thực phẩm chế biến nhung-loai-thuc-pham-can-tranh-khi-bi-dau-bung-3Thực phẩm chế biến với hạn sử dụng lâu thường chứa nhiều chất phụ gia ví dụ hất bảo quản. Vì thế, khi bị đau bụng, bạn không nên sử dụng các loại đồ ăn đóng hộp.

Theo SKDS

Bệnh nhiễm khuẩn Helicobacter pylori

Nguyên nhân

Helicobacter pylori lây chủ yếu qua đường ăn uống. Helicobacter pylori có thể lây qua nước bọt, phân, dịch tiêu hóa, trong những gia đình có thói quen ăn uống chung…Sự lây nhiễm có thể xảy ra khi dùng thức ăn, nước uống không sạch có chứa vi khuẩn Helicobacter pylori, đặc biệt là khi nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh như nước sông, hồ v..v và điều này cũng lý giải tại sao ở các quốc gia đang phát triển, khi mà điều kiện vệ sinh môi trường còn thấp, thì tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori rất cao. Cụ thể ở Việt Nam tỷ lệ nhiễm Helicobacter pylori không dưới 70%.

Sau khi xâm nhập cơ thể, Helicobacter pylori sẽ chui vào lớp nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, tại đây chúng tiết ra những chất làm kích thích dạ dày tiết nhiều acid hơn. Không những thế chúng còn làm suy yếu lớp nhầy bảo vệ và tiết ra một số độc tố làm tổn thương các tế bào nằm bên dưới lớp nhầy. Do đó niêm mạc dễ dàng bị ăn mòn bởi chất acid có trong dịch tiêu hóa của dạ dày, gây ra viêm loét dạ dày hay tá tràng. Tất cả điều này gây ra những triệu chứng đau, ợ chua, cồn cào, nóng rát sau xương ức… và các biến chứng khác. Ở một số bệnh nhân, nhiễm Helicobacter pylori có thể gây ra sự thay đổi cấu trúc bất thường của tế bào, dẫn đến ung thư.

Heli

Triệu chứng
– Cồn cào, nóng rát, đau quặn vùng trên rốn xuất hiện vài giờ sau khi ăn
hay vào nửa đêm
– Đau, khó chịu vùng trên rốn và đau nhiều hơn sau khi ăn
– Buồn ói hay ói
– Ợ hơi, ợ chua, ợ nóng, cảm giác đầy bụng dù ăn ít
– Chậm tiêu, khó tiêu, không đói
– Rối loạn tiêu hóa không rõ nguyên nhân
Những triệu chứng trên có thể là do bạn đã nhiễm một loại vi khuẩn có tên là: Helicobacter pylori

Điều trị

Điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng có nhiễm Helicobacter pylori rất khó khăn, rất dễ đề kháng hay tái phát do vậy cần phải được bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn. Thông thường bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng phác đồ có ít nhất 3 thứ thuốc điều trị phối hợp trong thời gian từ 7 đến 14 ngày tùy từng trường hợp. Gồm:
– Kháng sinh chủ lực : Clarithromycin
– Kháng sinh hỗ trợ Amoxicillin hay Metronidazol
– Thuốc có tác dụng ức chế tiết acid mạnh để làm tăng hiệu quả diệt khuẩn
của kháng sinh: Omeprazole, Esomeprazol

Ngoài ra, một số phác đồ còn phối hợp thêm Bismusth Citrat.
Nếu bạn uống đúng và đủ liều thuốc thì phác đồ trên có khả năng diệt sạch vi khuẩn Helicobacter pylori đến hơn 90%

Bạn không được tự sửa đổi liều thuốc, thay thuốc hay tự ý ngưng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ điều trị. Bởi vì nếu sử dụng thuốc không đúng và không đủ liều thì vi khuẩn Helicobacter pylori vẫn chưa được tiêu diệt sạch và khả năng tái phát bệnh cao, có nghĩa là bạn sẽ không khỏi bệnh. Hơn nữa, những lần tái phát sau vi khuẩn sẽ rất dễ lờn thuốc, làm cho điều trị sẽ trở nên khó khăn và tốn kém hơn.

Tuy nhiên, khi sử dụng phác đồ điều trị Helicobacter pylori bạn cũng có thể gặp một số những khó chịu như cảm giác đắng miệng, đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi… song những triệu chứng này sẽ hết sau khi ngưng thuốc.

Phòng tái phát

Vì vi khuẩn lây qua đường tiêu hóa. Vì vậy để hạn chế tái nhiễm nên sử dụng nguồn nước sạch, tuân thủ những nguyên tắc vệ sinh trong ăn uống như ăn chín, uống sôi, rửa tay trước khi ăn, không dùng chung ly, chén… đối với trẻ em, không nên dùng miệng thổi thức ăn còn nóng, nhai mớm… vì nước bọt sẽ văng vào thức ăn làm lây bệnh cho bé.

Biểu hiện của ngộ độc thức ăn

Dấu hiệu ngộ độc thức ăn – Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn, xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh…

dau-hieu-ngo-doc-thuc-an

Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn. Nhưng xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng cách hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh. Ký sinh trùng, vi rút, chất độc và hóa chất cũng có thể làm ô nhiễm thực phẩm và gây ra bệnh tật.

Biểu hiện thông thường bao gồm

Tiêu chảy.
Buồn nôn.
Đau bụng.
Nôn (đôi khi).
Mất nước (đôi khi).
Với mất nước đáng kể, có thể cảm thấy
Choáng hoặc ngất xỉu, đặc biệt là tư thế đứng.
Nhịp tim nhanh.
Cho dù bị bệnh sau khi ăn thực phẩm bị ô nhiễm, tình trạng bệnh phụ thuộc vào cơ thể, lượng ăn vào, độ tuổi và sức khỏe.

Nhóm nguy cơ cao bao gồm
Người cao tuổi. Khi có tuổi, hệ miễn dịch không thể đáp ứng một cách nhanh chóng và một cách hiệu quả với các sinh vật truyền nhiễm như người trẻ hơn.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Hệ thống miễn dịch chưa phát triển đầy đủ.
Người có bệnh mãn tính. Có một tình trạng mãn tính như bệnh tiểu đường hoặc AIDS, hoặc điều trị hóa trị hoặc xạ trị liệu ung thư làm giảm phản ứng miễn dịch.
Nếu bị ngộ độc thức ăn

Nghỉ ngơi và uống nhiều chất lỏng.
Không sử dụng thuốc chống tiêu chảy, vì có thể làm chậm việc loại bỏ vi khuẩn khỏi hệ thống tiêu hóa.
Ngộ độc thực phẩm sẽ cải thiện trong vòng 48 giờ. Gọi bác sĩ nếu cảm thấy ốm dài hơn hai hoặc ba ngày hoặc nếu máu xuất hiện trong phân.
Gọi trợ giúp khẩn cấp y tế nếu
Có triệu chứng trầm trọng, chẳng hạn như tiêu chảy lỏng mà lẫn máu trong vòng 24 giờ.

Nhóm nguy cơ cao.
Ngộ độc thực phẩm có khả năng gây tử vong là kết quả từ một độc tố hình thành bởi các bào tử nhất định trong thực phẩm. Ngộ độc độc tố thường được tìm thấy trong thực phẩm đóng lon, đặc biệt là đậu xanh và cà chua. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ngộ độc thường bắt đầu 12 – 36 giờ sau khi ăn thức ăn bị ô nhiễm và có thể bao gồm đau đầu, mờ mắt, yếu cơ và cuối cùng là liệt. Một số người cũng có buồn nôn và nôn, táo bón, bí tiểu, khó thở và khô miệng.

Những khó chịu ở đường tiêu hóa

Trào ngược axit, viêm dạ dày hay ăn không tiêu đều khiến bạn mệt mỏi. Dưới đây là những biện pháp khắc phục nhanh các triệu chứng khó chịu ở đường tiêu hóa mà bạn thường gặp.

Táo bón

Chế độ ăn nhiều thịt và tinh bột nhưng thiếu các loại chất xơ từ rau củ quả sẽ gây ra hiện tượng táo bón. Tuy không gây đau bụng quá nhiều như các loại bệnh về dạ dày và ruột khác nhưng về lâu dài, người bệnh có thể gặp nhiều hậu quả nghiêm trọng như bệnh trĩ, nhiễm trùng,… Trong trường hợp này, sinh tố hoa quả hoặc ăn các thực phẩm có tính mát, nhuận tràng như khoai lang, chuối tiêu… có thể giúp bạn đẩy lùi chứng táo bón.

nhung-kho-chiu-o-duong-tieu-hoa

Đầy hơi

Khi bạn bị đầy hơi, bụng sẽ chứa đầy khí gas, gây đau, tức bụng và ợ nóng. Để phòng bệnh bạn nên tránh thức ăn nhiều dầu mỡ, các món ngọt. Cách chữa nhanh trong trường hợp khẩn cấp là uống thật nhiều nước để nhanh chóng giải phóng gas tích tụ trong dạ dày và ruột, đồng thời kết hợp động tác yoga ngồi ép bụng vào gối. Đây là động tác rất hữu hiệu, giúp bạn nhanh chóng loại bỏ khí gas dư thừa.

Đau bụng tiêu chảy

Cơ thể mệt mỏi kết hợp với việc ăn phải thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn là nguyên nhân chính của chứng tiêu chảy. Người bệnh thường đau bụng dưới dữ dội, đi ngoài nhiều, dễ bị kiệt sức.

Trong trường hợp không may bị đau bụng đi ngoài, bạn nên bổ sung chất lỏng để bù nước và dùng trà gừng để hạn chế tiêu chảy nếu không có sẵn thuốc.

Khó tiêu

Những nguyên nhân gây khó tiêu bao gồm việc dị ứng men lactose của sữa, ăn thức ăn quá cay hoặc quá nóng, nếu từng có tiền sử bị chứng khó tiêu bạn nên hạn chế các thực phẩm cay nóng.

Bạn nên dùng các thực phẩm mềm, ăn nhiều rau, nhai kỹ và tham khảo bác sĩ về việc dùng thuốc phù hợp để cải thiện chứng bệnh này.

Trào ngược dạ dày

Bạn  bị trào ngược dạ dày khi lượng axit trong dạ dày tăng cao, triệu chứng thường thấy là ợ chua, nóng rát vùng cổ, ngực, thỉnh thoảng sẽ đi kèm cảm giác khó thở và đau vùng thượng vị. Nguyên nhân chính là do bạn bỏ bữa nên khi bạn ăn lượng axit thừa sẽ phản ứng và trào ngược gây khó chịu.

Cách khắc phục là thay đổi tư thế nằm (gối đầu cao khoảng 15cm hoặc kê vai cao 25cm); tránh tư thế cúi lâu, tránh nằm ngửa ngay sau bữa ăn và trong khoảng 3 giờ.

Theo afamily.vn

Triệu chứng và giai đoạn hội chứng Churg – Strauss

Hội chứng Churg – Strauss! Còn được gọi là viêm mạch u hạt dưới da, gây: Dị ứng ở giai đoạn đầu tiên, sốt, giảm cân nặng, đổ mồ hôi đêm, ho, đau bụng, chảy máu đường tiêu hóa, viêm mạch máu, phát ban hay vết loét da, đau sưng khớp, tê ngứa tay và chân, đau bụng dữ dội, tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa, khó thở, ho máu, nhịp tim bất thường…

Định nghĩa

Hội chứng Churg – Strauss, còn được gọi là viêm mạch u hạt dị ứng, là một rối loạn đánh dấu bởi tình trạng viêm mạch máu. Viêm này có thể hạn chế lưu lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô, đôi khi gây tổn hại vĩnh viễn chúng.

Suyễn là dấu hiệu phổ biến nhất của hội chứng Churg – Strauss, nhưng hội chứng Churg – Strauss có thể gây ra một loạt các vấn đề, từ bệnh sốt cỏ khô, phát ban và xuất huyết tiêu hóa, đau nặng và tê ở tay và chân. Loạt các triệu chứng và tương đồng với các triệu chứng của rối loạn khác, làm cho chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là một thách thức.

trieu-chung-va-giai-doan-hoi-chung-churg-strauss

Hội chứng Churg – Strauss rất hiếm và không chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, bác sĩ thường có thể giúp kiểm soát các triệu chứng với steroid và thuốc ức chế miễn dịch mạnh khác.

I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss là một căn bệnh biến đổi cao. Một số người chỉ có triệu chứng nhẹ, trong khi những người khác trải nghiệm nghiêm trọng hoặc đe dọa biến chứng. Có ba giai đoạn của hội chứng Churg – Strauss, mỗi dấu hiệu và triệu chứng của riêng mình, nhưng không phải tất cả mọi người phát triển cả ba giai đoạn hoặc theo thứ tự. Điều này đặc biệt đúng khi bệnh đang được chẩn đoán và xử lý trước khi thiệt hại nghiêm trọng nhất xảy ra.

Giai đoạn Churg – Strauss có thể bao gồm:

Dị ứng. Điều này thường là giai đoạn đầu tiên của hội chứng Churg – Strauss. Nó đánh dấu bằng một số phản ứng dị ứng, bao gồm:

– Suyễn. Dấu hiệu chính của hội chứng Churg – Strauss, hen suyễn có thể phát triển miễn là một thập kỷ trước khi các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện hoặc bệnh được chẩn đoán. Ở những người bị hội chứng Churg – Strauss đã có bệnh suyễn, các triệu chứng thường trở nên tồi tệ hơn và có thể yêu cầu steroids để điều trị. Những người khác phát triển bệnh suyễn khởi phát muộn. Phát triển bệnh hen suyễn, thậm chí sau này trong đời, tuy nhiên không nhất thiết có nghĩa rằng có hội chứng Churg – Strauss.

– Viêm mũi dị ứng. Điều này ảnh hưởng đến các màng nhầy của mũi, gây chảy nước mũi, hắt hơi và ngứa.

– Đau và viêm xoang. Có thể trải nghiệm đau đớn trên khuôn mặt và phát triển polyp mũi, u lành tính phát triển như là kết quả của tình trạng viêm mãn tính.

– Tăng bạch cầu eosi (hypereosinophilia). Eosinophil là một loại tế bào máu trắng giúp hệ miễn dịch chống lại nhiễm trùng nhất định. Thông thường, eosinophils chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhỏ của các tế bào máu trắng, nhưng trong hội chứng Churg – Strauss, con số cao bất thường của các tế bào này được tìm thấy trong máu hoặc mô, nơi nó có thể gây thiệt hại nghiêm trọng.

Các dấu hiệu và triệu chứng của hypereosinophilia phụ thuộc vào một phần của cơ thể bị ảnh hưởng. Phổi và đường tiêu hóa – bao gồm dạ dày và thực quản – có liên quan đến thường xuyên nhất .

Nói chung, dấu hiệu và triệu chứng của giai đoạn hypereosinophilia có thể bao gồm:

– Sốt.

– Trọng lượng mất.

– Mệt mỏi.

– Đổ mồ hôi đêm.

– Ho.

– Đau bụng.

– Chảy máu đường tiêu hóa.

Giai đoạn này có thể vài tháng hoặc cuối năm, và các triệu chứng có thể biến mất vào những thời điểm. Cũng có thể gặp các triệu chứng của hypereosinophilia và viêm mạch hệ thống – giai đoạn thứ ba của hội chứng Churg – Strauss cùng một lúc.

Viêm ạch hệ thống. Các dấu hiệu của giai đoạn này của hội chứng Churg – Strauss là viêm mạch máu. Bằng cách thu hẹp các mạch máu, viêm làm giảm lượng máu đến cơ quan quan trọng và các mô trong cơ thể, bao gồm da, tim, hệ thần kinh ngoại vi, cơ bắp, xương và đường tiêu hóa. Đôi khi, thận cũng có thể bị ảnh hưởng.

Trong giai đoạn này, có thể cảm thấy nói chung không khỏe và đã giảm cân ngoài ý muốn, sưng hạch bạch huyết, suy nhược và mệt mỏi.

Tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng, cũng có thể gặp:

– Phát ban hay vết loét da.

– Đau nhức và sưng khớp.

– Đau nặng, tê và ngứa ran ở tay và chân (đau thần kinh ngoại vi).

– Đau bụng dữ dội.

– Tiêu chảy, buồn nôn và ói mửa.

– Khó thở.

– Ho ra máu.

– Đau ngực.

– Nhịp tim bất thường.

– Máu trong nước tiểu.

Đi khám bác sĩ bất cứ lúc nào phát triển thở khó khăn, chảy nước mũi mà không hết, đặc biệt là nếu nó đi kèm với khuôn mặt đau dai dẳng. Ngoài ra khám bác sĩ nếu có bệnh suyễn hay sốt cỏ khô mà đột nhiên xấu đi. Churg -Strauss rất hiếm và nó càng có thể có những triệu chứng này trong một số nguyên nhân khác, nhưng điều quan trọng là bác sĩ đánh giá chúng.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Nguyên nhân của hội chứng Churg – Strauss có lẽ là một sự kết hợp của các yếu tố, mặc dù những yếu tố chưa được xác định. Được biết, những người có hội chứng Churg – Strauss có một hệ miễn dịch quá phức tạp. Thay vì chỉ đơn giản là bảo vệ chống lại xâm lược các sinh vật như vi khuẩn và vi rút, các chỉ tiêu hệ miễn dịch tế bào lành mạnh, gây viêm lan rộng. Các nhà nghiên cứu vẫn đang cố gắng để tìm hiểu những gì gây nên phản ứng này không thích hợp miễn dịch.

Vai trò của thuốc. Một số người đã phát triển hội chứng Churg – Strauss sau khi sử dụng thuốc hen suyễn và dị ứng được gọi là montelukast hoặc khi chuyển từ steroid liều thấp có hệ thống để hít thuốc steroid. Các nghiên cứu đã không được hiển thị một liên kết rõ ràng giữa các loại thuốc và hội chứng Churg – Strauss, tuy nhiên, và cho dù kết nối vẫn còn tồn tại một điểm tranh cãi giữa các chuyên gia.

III. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không biết chính xác bao nhiêu người có hội chứng Churg – Strauss, nhưng bệnh này hiếm, ảnh hưởng đến một nơi nào đó giữa 700 và 3.000 người ở Hoa Kỳ. Vì điều này, rõ ràng rằng mặc dù nhiều người có thể có yếu tố nguy cơ bệnh, rất ít người thực sự phát triển nó.

Các yếu tố rủi ro cho Churg – Strauss bao gồm:

Tuổi. Độ tuổi trung bình của người dân chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss là 50, nhưng người dân ở độ tuổi 30 của họ có thể có các dấu hiệu và triệu chứng viêm mạch hệ thống. Rối loạn này hiếm ở người lớn tuổi và trẻ em.

Lịch sử của bệnh suyễn hoặc các vấn đề mũi. Hầu hết mọi người chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss có tiền sử dị ứng mũi, viêm xoang mạn tính, hen suyễn thường nặng hoặc khó kiểm soát.

IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Churg – Strauss có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, bao gồm phổi, da, hệ tiêu hóa, thận, cơ, khớp và tim. Nếu không điều trị, bệnh có thể gây tử vong. Các biến chứng phụ thuộc vào các cơ quan liên quan và có thể bao gồm:

Thiệt hại thần kinh. Dây thần kinh ngoại vi mở rộng trên khắp cơ thể, kết nối các cơ quan, các tuyến, bắp thịt và da với não và tủy sống. Hội chứng Churg – Strauss có thể thiệt hại dây thần kinh ngoại biên (đau thần kinh ngoại vi), đặc biệt là ở bàn tay và bàn chân, dẫn đến tê liệt và mất chức năng. Ở một số người, thiệt hại này có thể vĩnh viễn.

Da sẹo. Các viêm nhiễm có thể gây ra vết loét phát triển mà có thể để lại sẹo.

Bệnh tim. Biến chứng liên quan đến tim của Churg – Strauss bao gồm viêm màng bao quanh tim, viêm cơ tim, cơn đau tim và suy tim.

Thận bị hư hại. Nếu Churg – Strauss ảnh hưởng đến thận, có thể phát triển viêm cầu thận, một loại bệnh thận mà cản trở khả năng lọc thận, dẫn đến tích tụ các chất thải trong máu nhiễm độc niệu. Mặc dù suy thận không phải là phổ biến với bệnh này, nó có thể gây tử vong khi nó xảy ra.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Không có xét nghiệm cụ thể để xác nhận hội chứng Churg – Strauss, và các dấu hiệu và triệu chứng tương tự như các bệnh khác, vì vậy nó có thể khó chẩn đoán. Để giúp làm cho chẩn đoán dễ dàng hơn, Bộ môn khớp học Mỹ đã thành lập các tiêu chí để xác định hội chứng Churg – Strauss.

Sáu tiêu chí

Căn bệnh này thường được coi là có mặt nếu một người có bốn trong sáu tiêu chí, nhưng bác sĩ có thể cảm thấy tự tin chẩn đoán Churg – Strauss ngay cả khi đáp ứng chỉ có hai hoặc ba trong các tiêu chuẩn, trong đó bao gồm:

Suyễn. Eosinophilia – eosinophils thường chiếm 1 – 3 phần trăm các tế bào máu trắng; đếm từ 11% trở lên được xem là cao bất thường và chỉ ra mạnh mẽ của hội chứng Churg – Strauss.

Bệnh một dây thần kinh hoặc nhiều dây thần kinh – thiệt hại cho một hoặc một nhóm thần kinh.

Phổi xâm nhập – điểm hoặc tổn thương trên X – quang ngực mà di chuyển từ nơi này sang nơi khác hoặc đến và đi.

Lịch sử đau xoang cấp tính hoặc mãn tính.

Tế bào bạch cầu ưu eosi ngoài mạch máu – tế bào trắng có mặt bên ngoài các mạch máu.

Để giúp xác định xem có đáp ứng bất cứ các tiêu chí này, bác sĩ có thể yêu cầu một số xét nghiệm, bao gồm:

Xét nghiệm máu. Khi miễn dịch tấn công chính cơ thể của các tế bào hệ thống, như xảy ra ở hội chứng Churg – Strauss, nó tạo thành các protein gọi là kháng thể. Một xét nghiệm máu có thể phát hiện kháng thể nhất định trong máu mà có thể đề nghị, nhưng không xác nhận một chẩn đoán hội chứng Churg – Strauss. Một xét nghiệm máu cũng có thể đo lường mức độ eosinophils, mặc dù một số lượng tăng lên của các tế bào này có thể do các bệnh khác, bao gồm bệnh suyễn.

Hình ảnh kiểm tra. X -quang, chụp cắt lớp vi tính (CT) quét và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) tìm những bất thường ở phổi và xoang.

Sinh thiết mô bị ảnh hưởng. Nếu các xét nghiệm khác cho thấy hội chứng Churg – Strauss, có thể có một mẫu nhỏ mô (sinh thiết) gỡ bỏ để kiểm tra dưới kính hiển vi. Bác sĩ có thể loại bỏ các mô từ phổi hoặc cơ quan khác, chẳng hạn như da hay cơ bắp để xác nhận hoặc loại trừ sự hiện diện của viêm mạch.

V. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CHURG – STRAUSS

Không có cách chữa hội chứng Churg – Strauss, nhưng một số thuốc có thể giúp ngay cả những người có triệu chứng nghiêm trọng đạt được thuyên giảm. Một kết quả tốt và giảm nguy cơ biến chứng từ bệnh và điều trị của nó cả hai có nhiều khả năng khi hội chứng Churg – Strauss được chẩn đoán và điều trị sớm.

Thuốc dùng để điều trị hội chứng Churg – Strauss bao gồm:

Corticosteroid. Prednisone là thuốc phổ biến nhất quy định đối với hội chứng Churg – Strauss. Bác sĩ có thể kê một liều cao 40 – 60 mg corticosteroid một ngày để có được các triệu chứng dưới sự kiểm soát càng sớm càng tốt. Nhưng bởi vì liều cao corticosteroid có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng, bao gồm mất xương, đường huyết cao, đục thủy tinh thể và khó điều trị nhiễm trùng, bác sĩ sẽ giảm liều dần dần cho đến khi dùng liều nhỏ nhất mà vẫn giữ cho căn bệnh dưới kiểm soát. Tuy nhiên, ngay cả liều thấp hơn trong thời gian dài có thể gây ra phản ứng phụ.

Các thuốc ức chế miễn dịch. Đối với những người có triệu chứng nhẹ, một mình corticosteroid có thể đủ. Những người khác có thể yêu cầu một thuốc ức chế miễn dịch như cyclophosphamide, azathioprine hoặc methotrexate để giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Bởi vì các thuốc này làm giảm khả năng của cơ thể chống lại nhiễm trùng và có thể gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng khác, bác sĩ phải theo dõi chặt chẽ tình trạng trong khi đang dùng chúng.

Immunoglobulin tĩnh mạch (IVIg). Do truyền hàng tháng, IVIg là lành tính hầu hết các phương pháp trị liệu sử dụng cho hội chứng Churg – Strauss. Các tác dụng phụ thường gặp nhất là các triệu chứng giống như cúm thường chỉ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn. Tuy nhiên IVIg có hai nhược điểm lớn: Nó rất tốn kém và nó không phải là phổ hiệu quả. IVIg không được xem là một điều trị dòng đầu tiên cho Churg – Strauss, nhưng các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có thể hữu ích cho những người không đáp ứng với thuốc khác.

Mặc dù thuốc điều trị có thể dập tắt các triệu chứng của hội chứng Churg – Strauss và bệnh thuyên giảm nhưng tái phát là phổ biến.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Điều trị lâu dài với prednisone có thể gây ra một số tác dụng phụ, nhưng có thể thực hiện các bước để giúp giảm thiểu chúng.

Bảo vệ xương. Nếu đang dùng cortisone, có được đầy đủ canxi là điều cần thiết để ngăn ngừa mất xương và gãy xương có thể. Đủ vitamin D chỉ là quan trọng. Không chỉ vitamin D cải thiện sức khoẻ xương bằng cách giúp hấp thu canxi, nó cũng có thể cải thiện sức mạnh cơ bắp. Các nhà khoa học đang tiếp tục nghiên cứu vitamin D có thể bảo vệ chống lại một số loại ung thư để xác định liều tối ưu hàng ngày, nhưng nó an toàn tới 2.000 đơn vị quốc tế ( IU) một ngày. Sức mạnh đào tạo nghề và các bài tập mang trọng lượng như đi bộ và chạy bộ cũng là rất cần thiết cho sức khỏe của xương.

Tập thể dục. Ngoài ra để giữ xương chắc khoẻ, tập thể dục có thể giúp duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Điều này là quan trọng bởi vì cortisone có xu hướng gây tăng cân, mà lần lượt có thể đóng góp cho bệnh tiểu đường, một tác dụng phụ của liệu pháp cortisone. Thường xuyên tập thể dục cũng rất quan trọng cho người dân đối phó với cơn đau của bệnh thần kinh.

Ngưng hút thuốc lá. Đây là một trong những điều quan trọng nhất có thể làm cho sức khỏe tổng thể. Chính nó, hút thuốc lá gây ra vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Nó cũng làm cho vấn đề tồi tệ hơn đã có và có thể làm trầm trọng thêm tác dụng phụ thuốc.

Áp dụng một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Steroid có thể gây ra mức đường huyết cao và cuối cùng phát triển bệnh tiểu đường. Nhấn mạnh các loại thực phẩm giúp giữ lượng đường trong máu trong sự kiểm soát, chẳng hạn như trái cây, rau và ngũ cốc nguyên chất là then chốt. Kiểm tra glucose và kiểm tra thường xuyên mức độ A1C.

Tái khám đúng hẹn. Trong thời gian điều trị cho hội chứng Churg – Strauss, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phản ứng phụ. Điều này có thể sẽ bao gồm chụp cắt lớp xương thường xuyên, khám mắt và huyết áp, glucose và kiểm tra cholesterol. Hãy chắc chắn để giữ cho các cuộc hẹn. Nếu bị kẹt thời gian có thể đảo ngược nhiều tác dụng phụ liên quan đến sử dụng steroid.

Đối phó và hỗ trợ

Churg – Strauss là một căn bệnh nghiêm trọng và đôi khi gây tàn phá. Ngay cả khi nó thuyên giảm có thể lo lắng về khả năng tái phát hay thiệt hại về lâu dài cho tim, phổi và thần kinh. Đây là một số đề xuất đối phó với căn bệnh này:

Giáo dục mình về hội chứng Churg – Strauss. Càng biết, chuẩn bị tốt hơn sẽ đạt được đối phó với các biến chứng hoặc tái phát. Bên cạnh đó có thể nói chuyện với bác sĩ, với một cố vấn hoặc nhân viên y tế. Hoặc có thể tìm thấy nó hữu ích để nói chuyện với người khác có hội chứng Churg – Strauss.

Duy trì một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mặc dù gia đình và bè có thể giúp đỡ rất nhiều, đôi khi có thể tìm thấy sự hiểu biết và tư vấn của những người khác với hội chứng Churg – Strauss đặc biệt hữu ích. Bác sĩ hoặc một nhân viên y tế có thể đặt liên lạc với một nhóm hỗ trợ. Hoặc có thể tìm một nhóm hỗ trợ thực hay ảo thông qua các hiệp hội Hội chứng Churg – Strauss

Nguồn internet

Ung thư buồng trứng thường bị nhầm lẫn

Có sự nhầm lẫn khá phổ biến trong giới bác sĩ và cả phụ nữ về bệnh ung thư buồng trứng, một tổ chức từ thiện vừa tuyên bố.

Triệu chứng của ung thư buồng trứng bao gồm: đau bụng hoặc khung xương chậu dai dẳng, vòng bụng ngày càng lớn và bụng căng lên dai dẳng, khó ăn hoặc nhanh no. Khoảng 6.800 phụ nữ bị chẩn đoán với bệnh này hàng năm. Tuy nhiên, chỉ có 30% còn sống được 5 năm sau khi phát hiện bệnh.

Tổ chức Target Ovarian Cancer đã khảo sát trên 400 bác sĩ và phát hiện thấy 80% trong số họ hiểu sai rằng phụ nữ ở giai đoạn đầu của ung thư buồng trứng không có dấu hiệu gì.

Khối ung thư buồng trứng màu xanh lục. (Ảnh: BBC)

Khối ung thư buồng trứng màu xanh lục. (Ảnh: BBC)

Khi được yêu cầu chỉ ra những triệu chứng tiềm năng của bệnh, 51% bác sĩ xác định đúng “tăng kích cỡ vòng bụng” là triệu chứng quan trọng nhất, nhưng chưa đầy 2% trong số họ biết rằng còn có triệu chứng “khó ăn” hoặc “nhanh no”.

Và gần 2/3 số bác sĩ được hỏi không nhận thức được rằng nếu gia đình bên bố có tiền sử nhiều người bị ung thư buồng trứng thì nguy cơ mắc bệnh của người phụ nữ sẽ tăng lên.

Dấu hiệu sớm của bệnh cũng thường bị nhầm lẫn với hội chứng ruột kích thích. Các bệnh nhân thường được gửi đi kiểm tra đường tiêu hóa, và đến thời điểm bác sĩ nhận ra đó không phải là nguyên nhân thì ung thư đã tiến triển.

Cuộc khảo sát cho thấy 69% bác sĩ sản không biết rằng ung thư buồng trứng thường gây ra những triệu chứng ruột kích thích thường xuyên, đột ngột và dai dẳng.

Một phát ngôn viên của Hiệp hội bác sĩ sản khoa cho biết “rất khó” để chẩn đoán căn bệnh này ở giai đoạn sớm. Còn trong số 1000 phụ nữ được tổ chức Target Ovarian Cancer phỏng vấn, chỉ có 4% cho biết họ có thể “tự tin xác định” các triệu chứng của bệnh.

Hai phần ba số phụ nữ này nghĩ rằng bệnh không có liên quan đến tuổi tác (trong khi thực tế càng lớn tuổi, khả năng mắc bệnh càng lớn). 80% không biết rằng những phụ nữ không con có nguy cơ cao hơn.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho biết nếu được chẩn đoán sớm, 90% người bệnh có thể sống sót. Hiện tại, 3/4 số người mắc được chẩn đoán khi bệnh đã di căn. Trung bình, từ khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên cho đến khi được chẩn đoán là khoảng một năm.

Theo BBC

Các biện pháp xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm tại nhà

Ngộ độc thực phẩm là biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn, thức ăn bị biến chất ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. Đặc biệt, tỉnh ta là một tỉnh miền núi, vẫn còn một số bộ phận người dân vùng sâu xùng xa chưa đề cao ý thức trong việc sử dụng thực phẩm như: các loại rau rừng, quả rừng, nấm…chứa các độc tố tự nhiên. Hơn nữa, vào mùa mưa, sau khi nước lũ qua đi nguồn nước, thực phẩm bị ôi nhiễm…cũng là nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc. Vậy khi bị ngộ độc thực phẩm cần phải xử trí như thế nào?

cac-bien-phap-xu-tri-khi-bi-ngo-doc-thuc-pham-tai-nha

Người bị ngộ độc thường có biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng… gây hại tới sức khỏe, khiến cơ thể mệt mỏi, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Do đó, khi nhận thấy những biểu hiện ngộ độc như trên cần biết cách xử trí kịp thời: Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6h thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn vào, bằng cách: Dùng lông gà ngoáy họng, uống nước mùn thớt, uống nước muối (2 thìa canh muối pha với 1 cốc nước ấm) hoặc uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn. Tuy nhiên, khi sơ cứu bằng gây nôn cho trẻ, người lớn phải lưu ý móc họng trẻ cho khéo, tránh làm xây xát họng trẻ. Phải để trẻ nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang một bên rồi móc họng để trẻ nôn thức ăn ra. Không để trẻ nằm ngửa và nôn vì như vậy có thể gây sặc lên mũi, xuống phổi và rất dễ dẫn đến tử vong. Trong quá trình gây nôn, phải luôn phải khăn để lau chùi. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn mềm lau sạch miệng trẻ.

Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6h, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử trí bằng cách:

– Dùng chất trung hòa: nếu người bị ngộ độc do những chất acid có thể dùng những chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước magie oxyt 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15ml. Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành C­­O2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày. Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch acid nhẹ như: dấm, nước quả chua….

– Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng gà, nước cháo…để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc.

– Dùng chất kết tủa: nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân…) có thể dùng lòng trắng trứng, sữa hoặc 4 – 10g natri sunfat.

– Dùng chất giải độc: với người bị ngộ độc kim loại nặng, axit… có thể uống kết hợp với chất độc thành chất không độc như: uống hỗn hợp than bột, magie oxit.

Lưu ý: Đối với tất cả các trường hợp ngộ độc đều phải được đưa ngay tới cơ sở Y tế để được bác sỹ đưa ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời.

Nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm đại tràng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm đại tràng mãn tính nhưng chủ yếu là nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virus đường ruột do ăn uống kém vệ sinh, không điều độ…

Nguyên nhân:

+ Di chứng sau nhiễm khuẩn đường ruột cấp do thương hàn, lị trực khuẩn, lị amip và các nhiễm trùng khác.

+ Nguyên nhân dị ứng.

+ Nguyên nhân bệnh tự miễn (tự cơ thể tạo miễn dịch quá mức tấn công lại niêm mạc đại tràng của chính mình).

+ Rối loạn thần kinh thực vật (lúc đầu là rối loạn chức năng về sau thành tổn thương viêm loét…)

+ Sau các trường hợp nhiễm độc: thyroxin, asen, photpho, nhiễm toan máu, ure máu cao…

nguyen-nhan-chu-yeu-gay-ra-viem-dai-trang

Triệu chứng

Rối loạn đại tiện:

+ Chủ yếu là phân nát, lỏng một hoặc nhiều lần trong ngày, phân có thể có nhầy máu hoặc không.

+ Táo lỏng xen kẽ nhau (viêm đại tràng khu vực).

+ Mót rặn, sau “đi ngoài” đau trong hậu môn.

– Đau bụng:

+ Vị trí: xuất phát đau thường là ở vùng hố chậu hai bên hoặc vùng hạ sườn phải và trái (vùng đại tràng góc gan, góc lách). Đau lan dọc theo khung đại tràng.

+ Tính chất, cường độ đau: thường đau quặn từng cơn, có khi đau âm ỉ. Khi đau thường mót “đi ngoài” , “đi ngoài” hoặc đánh hơi được thì giảm đau.

+ Cơn đau dễ tái phát . Đau dễ xuất hiện khi căng thẳng, lo lắng hoặc ăn uống thất thường.

Để phòng bệnh viêm đại tràng:

– Ăn chín uống sôi.

– Ăn đa dạng rau, quả, trứng, sữa, cá, thịt…

– Một ngày dành ít nhất 30 phút để tập thể dục.

– Rửa tay trước khi ăn, không nên ăn tiết canh, rau sống chưa rửa kỹ và khử trùng.

– Nên tẩy giun sán 6 tháng 1 lần.

– Nên hỗ trợ thường xuyên cho hệ tiêu hóa bằng men tiêu hóa sống, nó giúp hệ tiêu hóa được khỏe mạnh.

Chế độ ăn cho người viêm đại tràng:

– Nếu bị táo bón: cần tăng cường chất xơ để cải thiện tình trạng đi tiêu, đồng thời phải tiết chế giảm chất mỡ, giảm chất béo, cần chia các bữa ăn chính thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày, có thể 2-3 giờ ăn một lần để giảm tải cho đại tràng.

– Nếu bị tiêu chảy: không nên ăn chất xơ, không ăn rau, củ, quả sống, các loại trái cây chế biến dạng khô, trái cây đóng hộp.

Trái cây xay thì có thể dùng được.

– Tuyệt đối tránh các sản phẩm từ sữa, tốt nhất là không dùng, vì trong sữa có đường lactose là một loại đường rất khó tiêu hóa. Trong sữa còn có chất đạm có thể gây phản ứng dị ứng ở đường ruột làm cho niêm mạc ruột sưng phù và gây nên tình trạng tiêu chảy nhiều hơn. Đối với sữa đậu nành thì có thể dùng được vì trong sữa đậu nành không có những chất gây hại trên đại tràng.

– Với người bệnh viêm đại tràng mãn tính, khi có các bệnh lý đau nhức đi kèm thì cần khai báo cẩn thận với bác sĩ, tuyệt đối không được tự ý mua thuốc ở các hiệu thuốc về điều trị đau nhức vì các thuốc giảm đau kháng viêm thuộc nhóm nonsteroides gây loét niêm mạc đường tiêu hóa, trong đó có niêm mạc đại tràng.

Nguồn báo sức khỏe

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Những biến chứng có thể gặp do uống nhiều thuốc kháng sinh

Khi uống thuốc kháng sinh, bạn hy vọng, sẽ chữa khỏi bệnh hoặc ngăn ngừa nó, song sử dụng thuốc kháng sinh cũng gắn liền với nguy cơ nhất định.

Trong thực tế đièu trị bằng kháng sinh có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh, nhất là khi khuẩn Clostridium difficile (viết tắt: C.diff.) sắm vai thủ phạm. Mặc dù các bác sĩ tích cực tìm cách hạn chế các bệnh đường ruột gây ra bởi C. diff., song tình trạng nhiễm bệnh vẫn ngày càng nhiều, ngày càng nghiêm trọng và khó chữa trị.

Những cư dân của ruột

Cơ thể con người tràn ngập vi khuẩn. Thân thể mỗi người bao gồm khoảng 10 ngàn tỷ tế bào, trái lại số lượng vi khuẩn ký sinh trong cơ thể lên tới 100 ngàn tỷ. Đa số vô hại, thậm chí những đặc tính hắc ám cũng cư xử “có tình”, nhất là khi chúng cộng sinh với những mô đã “thích nghi” với chúng.

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-uong-nhieu-thuoc-khang-sinh

Đường tiêu hóa là thí dụ mẫu mực của sự cộng sinh của con người với những vi sinh vật ký sinh. Trung bình ở đó định cư từ 500 đến 1.000 loài vi sinh vật khác nhau. Đa số tuyệt đối sống ở bộ phận thấp của đường tiêu hóa, trong ruột già. Thành phần chủ yếu của phân và vi sinh vật.

Cư dân đông đảo nhất của đường tiêu hóa là khuẩn E. coli, Proteus, Klebsiella, Enterococcus và Bacteroides. Tất cả đều có thể gây bệnh nguy hiểm, nếu thâm nhập vào máu hoặc tấn công mô. Tuy nhiên sống trong ruột già chúng vô hại, thậm chí còn hữu ích. Bình thường vi khuẩn ruột già tạo ra vitamin K, kích thích hệ đề kháng và giúp xác lập trạng thái cân bằng giữa các thành phần của nó và vô hiệu hóa những hợp chất hóa học độc hại. Vai trò quan trọng khác của các loài vi sinh vật thông thường là chống lại và loại bỏ những nhân tố gây bệnh tiềm tàng, trong đó có khuẩn C. diff.

Số liệu thống kế trong vai chính

C.diff là nguyên nhân chính nhiẽm bệnh tiêu chảy, song nó chỉ đóng vai phụ trong các vi khuẩn đường ruột. Chỉ có từ 1 đến 3% người trường thành khỏe mạnh có C. diff. trà trộn trong các vi khuẩn đường ruột thông thường. Thậm chí khi ấy C. diff. cũng hiện diện với số lượng không nhiều và thường vô hại.

Chuyện gì xảy ra, khiến kẻ sắm vai phụ trở thành một trong những nhân tố gây bệnh chính? Thật phi lý, bởi tất cả vì lỗi của thuốc kháng sinh. Nhiệm vụ của thuốc kháng sinh là kìm hãm hoặc tiêu diệt vi trùng. Một khi sử dụng đúng, mục đích đánh phá của kháng sinh là những vi trùng hung hãn gây bệnh. Tuy nhiên thậm chí nếu như hoàn thành nhiệm vụ, cũng không tránh khỏi tình trạng thuốc kháng sinh gây tổn hại vi khuẩn vô tội sống trong cơ thể. Một khi thiếu hụt đội quân bình thường “vô tội”, khoảng trống này sẽ được C. diff. nhanh chóng tranh thủ thay thế. – Nhất là ở những bệnh nhân phải nằm viện, trong đó nhiều người đã suy nhược và khó sống với tình trạng tiêu chảy và sốt cao.

Nhận dạng C. diff.

Các nhà khoa học đã phát hiện chân tướng C.diff. từ năm 1935, song mãi đến năm 1978 người ta mới nhận ra nó là nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh. Sự gia tăng các ca mắc bệnh trong những năm 70 thế kỷ XX liên quan với việc sử dụng phổ biến thuốc kháng sinh: clindamycyn. Suốt 20 năm tiếp theo sự bành trướng của C. diff. càng được kích động bởi việc sử dụng tràn lan các thuốc kháng sinh có phạm vi tác dụng rộng thuộc gia đình penicylin và cefalosporyn, còn đầu thế kỷ này fluorochinolon là tác nhân gây ra sự xuất hiện biến thể C.diff. nguy hiểm mới.

Clostrodium difficile được xếp loại vi khuẩn yếm khí, bởi nó phát triển trong điều kiện thiếu oxy. Các bào tử (mầm bệnh) C. diff. bất động và không tích cực về mặt trao đổi chất, vậy nên không gây bệnh. Nhưng đồng thời chúng có khả năng đề kháng cao, rất khó tiêu diệt bằng các biện pháp khử trùng và thậm chí cả thuốc kháng sinh mạnh nhất.

Nạn nhân C. diff. đào thải mầm bệnh trong phân ra khỏi cơ thể. Nếu không chú ý, mầm bệnh có thể dính vào tay, dụng cụ gia đình và thực phẩm, và tiếp theo có thể thâm nhập vào người khác. Mầm bệnh hồi sinh trong đường tiêu hóa người xa lạ, tuy nhiên trong những tình huống cơ thể khỏe mạnh những vi khuẩn thông thường khác kiểm soát sự bành trướng của chúng và bệnh không phát triển. Tuy nhiên C. diff sẽ giành ưu thế – nếu vi khuẩn hữu ích bị thuốc kháng sinh tiêu diệt. Chúng sinh sôi và phát triển, sản xuất độc tố gây tổn thương niêm mạc ruột già, dẫn đến tiêu chảy, viêm ruột và thậm chí tử vong. Các chủng C.diff. thông thường sản xuất hai độc tố gây tổn thương ruột có tên là độc tố A và B; những chủng C.diff. biến thể tạo ra tới 16 lần lớn hơn độc tố A và 23 lần lớn hơn độc tố B.

Ai mắc bệnh?

Đa số nạn nhân là bệnh nhân trong các bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão – chủ yếu điều trị bằng thuốc kháng sinh. Thực tế tất cả thuốc kháng sinh đều có thể mở đường cho C. diff. phát triển, song nhiều nhất là các kháng sinh mạnh sử dụng trong điều trị bệnh đường tiêu hóa. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm bệnh ngoài việc sử dụng clindamycyn, còn có penicylin phổ rộng, cefalosporyn và fluorochinolon. Đối tượng đặc biệt bị đe dọa là bệnh nhân những bệnh nghiêm trọng và nằm viện dài ngày, người cao tuổi (trên 65). Bởi lẽ axit dạ dày trợ giúp vi khuẩn hữu ích tiêu diệt C.diff., những thuốc đau dạ dày mạnh thuộc gia đình ức chế nhu động của cơ quan này cũng có thể làm gia tăng khả năng nhiễm bệnh.

Triệu chứng

Người khỏe mạnh có thể là vật mang C. diff. song không hề biết. Trong một số trường hợp vì lý do biến thể C. diff. không tạo ra độc tố, trong những trường hợp khác – số lượng cá thể C. diff. chưa đủ để gây bệnh và có thể vì trong máu vật chủ có sẵn kháng thể vô hiệu hóa độc tố A và B.

Một khi C. diff đã gây rắc rối, triệu chứng xuất hiện từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Người ta gọi tắt chứng bệnh nguy hiểm là CDAD (viêm màng nhầy ruột già).

Nhẹ nhất CDAD tiến triển dưới dạng tiểu chảy nước, tối thiểu ba lần/ngày kèm với tình trạng đau thắt bụng dưới. Không ra máu, không sốt, bệnh nhân có số lượng bạch cầu bình thường.

Nặng hơn, nạn nhân bị tiểu chảy nhiều hơn, đau bụng và sốt. Thường xuyên buồn nôn. Cho dù mắt thường không nhìn thấy máu trong phân, song qua xét nghiệm có thể phát hiện dấu tích ruột chảy máu. Xét nghiệm máu cho kết quả số lượng bạch cầu vượt chuẩn.

Trường hợp CDAD nghiêm trọng, thân nhiệt và số lượng bạch cầu của nạn nhân rất cao, áp huyết tụt (có thể nguy hiểm), bởi tiêu chảy cấp dẫn đến tình trạng cơ thể mất nước. Tình trạng ruột mất máu có thể nguy kịch. Ở dạng bi đát nhất, CDAD gây ra biến chứng có tên nhiễm độc ruột già mở rộng, hậu quả có thể dẫn đến ruột thủng nhiều chỗ.

Kìm hãm và kiểm soát

Có thể ngăn ngừa lây nhiễm C. diff., nếu chẩn đoán nhanh CDAD. Nếu có thể, nên lập tức chuyển bệnh nhân vào phòng cách ly có toa-lét. Các bác sĩ, hộ lý và nhân viên hỗ trợ cần rửa tay, đeo găng tay và sử dụng áo choàng trước khi tiếp xúc với người bệnh. Cần cởi găng tay, áo choàng và vứt bỏ trong thiết bị an toàn thích hợp – sau khi ra khỏi phòng bệnh.

Hầu hết các cơ sở y tế sử dụng cồn để rửa tay, tuy nhiên bào tử C.diff. đề kháng với cồn. Vì thế sau khi tiếp xúc với vi trùng này, sau khi rửa tay bằng cồn nên dùng thêm xà phòng. Cho dù không giết được bào tử C. diff., song xà phòng có thể làm sạch tay.

Bởi lẽ bào tử C. diff. có thể tồn tại trên bề mặt khô nhiều tháng, để khử trùng phòng ở bệnh nhân tốt nhất nên dùng podchloryn.

Một khi CDAD tấn công gia đình, việc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng là việc làm cần thiết cả với người bệnh và những ai tiếp xúc với họ. Những bệnh nhân tiêu chảy không nên chuẩn bị món ăn cho người khác, nếu có điều kiện – nên sử dụng dụng cụ và toa-lét riêng.

Cẩn thận với thuốc kháng sinh

C.diff. là vi trùng cũ, song dịch bệnh CDAD vẫn còn mới mẻ. Chính thuốc kháng sinh đã biến chi tiết y học thú vị thành mối đe dọa nghiêm trọng.

Kháng sinh là tân duợc kỳ diệu, song các bác sĩ nên hướng dẫn người bệnh sử dụng hợp lý. Vấn đề là chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết, cần lựa chọn loại thuốc đơn giản nhất, phạm vi tác dụng hẹp và ngừng ngay – khi đã khỏi bệnh.

Khuê Minh
Tri Thức Trẻ

9 bài thuốc trị đau bụng do lạnh

 Vào những ngày trời lạnh, mưa rét khiến cơ thể giảm sức đề kháng, dễ nhiễm lạnh, thường gây ra một số bệnh như cảm lạnh, đau bụng do lạnh,… nhất là người mới ốm dậy, người bị suy nhược cơ thể, phụ nữ sau sinh.

Đau bụng do lạnh thường có một số triệu chứng như bụng lạnh đau kèm theo đầy bụng, ăn uống không tiêu, tiêu chảy,  tay chân lạnh,…nhiều trường hợp buồn nôn hoặc nôn.

Đông y cho rằng nguyên nhân do  người mệt yếu, sức đề kháng kém nên  âm thịnh, dương suy khi đó lượng máu trong cơ thể tuần hoàn không tốt. Sự yếu kém của hệ tuần hoàn làm suy yếu các cơ quan khác như hệ tiêu hóa, thận, hệ thống miễn dịch dẫn đến luôn cảm thấy lạnh.

Có thể áp dụng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục 2 – 3 ngày

Bài 2: Củ riềng 200g, hậu phác 80g, quế 120g, sấy khô. Sắc uống mỗi lần 12g với 200ml nước, còn 50ml uống trong ngày. Dùng trong 3 ngày. Hoặc: Củ riềng 8g, đại táo 5g. Sắc với 300ml còn 100ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày. Uống 3 – 4 ngày.

9-bai-thuoc-dau-bung-do-lanh 9-bai-thuoc-dau-bung-do-lanh-1

 Bài 3: Củ sả, lá tía tô, hoắc hương, mỗi thứ 12g; gừng khô 8g (hoặc gừng tươi 12g), nấu với 500ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống ấm trước bữa ăn.

Bài 4: Gừng tươi 50g – 80g rửa sạch, cắt mỏng, sao chín vàng, giã nát, hòa với một cốc nhỏ nước sôi, uống ấm từng ngụm nhỏ. Có thể hòa với một ít mật ong hoặc đường để uống.

Bài 5: Thịt chó 250g, gạo lức 100g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Thịt chó rửa sạch cắt nhỏ, gạo vo sạch, nấu cùng thịt chó. Khi cháo chín cho gia vị vào muối, đun sôi một lúc là được. Ngày ăn 1 lần.

Bài 6: Cá diếc 250g, đậu đỏ 50g, gạo lức 100g, gừng, hành, rượu, muối vừa đủ. Cá rửa sạch cắt miếng, cho vào nồi, cho nước và các gia vị, nấu nhừ lọc lấy nước, bỏ xương. Cho đậu đỏ (đã ngâm nước 4 giờ) và gạo vào, nước vừa đủ, đun nhỏ lửa đến khi gạo nở cho bột ngọt vào là được. Ăn trong ngày.

Bài 7: Hạt tiêu 2g, gừng khô tán bột 3g. Đem hòa với nước cơm nóng để uống vào lúc đói bụng.

Bài 8: Ngải cứu tươi 100g, thịt thăn lợn 100g. Cách làm: Ngải cứu rửa sạch, thịt nạc lợn băm nhỏ, xào qua, cho gia vị vừa đủ, cho khoảng 1 bát nước, đun sôi cho rau ngải cứu vào. Canh sôi khoảng 5 phút bắc ra ăn ngay hoặc có thể dùng làm canh ăn với cơm. Dùng liên tục trong 2 – 3 ngày.

Bài 9: Dùng 3 lá trầu không nhai nuốt nước. Đồng thời lấy 3 – 4 lá trầu hơ nóng cho héo mềm đắp lên rốn, băng giữ lại. Ngày làm 2 – 3 lần.

Người bệnh cần lưu ý, luôn giữ ấm vùng bụng, nhất là khi đi ra ngoài trời, tránh ăn các thức ăn sống, lạnh như nghêu, sò, ốc, hến, rau sống, thức ăn để nguội qua đêm…

Lương y  Hữu Đức

Theo báo công an

Phát hiện sớm tiền đái tháo đường

 Tiền đái tháo đường có nghĩa là lượng đường trong máu cao hơn bình thường, nhưng nó chưa tăng đủ để được phân loại như đái tháo đường typ 2 (đường huyết lúc đói 5,6 – 7 mmol/l). Tuy nhiên, nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tiền đái tháo đường có thể mang lại lượng đường trong máu trở lại bình thường.

Cách phát hiện

Thông thường, tiền đái tháo đường không có dấu hiệu hay triệu chứng. Tuy nhiên, có một số trường hợp người bệnh sẽ có biểu hiện da sẫm màu nhất là ở những vùng da bị gấp nhiều, ví dụ như ở nách và cổ, đầu gối và khớp ngón tay. Tình trạng này, được gọi là acanthosis nigricans, có thể là một dấu hiệu của kháng insulin. Hoặc người bệnh liên tục cảm thấy đói vì sự thiếu hụt insulin (nếu không có đủ insulin để chuyển đường vào các tế bào, cơ bắp và các cơ quan nên cạn kiệt năng lượng, dẫn đói liên tục).

phat-hien-som-tien-dai-thao-duong

Các yếu tố nguy cơ đối với tiền đái tháo đường: Đang thừa cân, béo phì, người ít hoạt động (lười vận động), ở độ tuổi 45 trở lên. Có một lịch sử gia đình của bệnh đái tháo đường typ 2. Là phụ nữ khi sinh con mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ khi đang mang thai hoặc đã sinh ra một em bé nặng hơn (4,1 kg). Phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang; Người tăng huyết áp, mỡ trong máu bất thường và cholesterol, thường xuyên ngủ ít hơn 5,5 giờ một đêm… Thì cần đến cơ sở chuyên khoa nội tiết để được khám định kỳ và làm các xét nghiệm để phát hiện sớm bệnh.

Bệnh có thể phòng?

Là bệnh rối loạn chuyển chất bột đường gây tăng đường huyết mạn tính, hậu quả của sự thiếu hụt hoặc giảm insulin hoặc kết hợp cả hai. Vì vậy, để giảm các nguy cơ mắc bệnh đối với những người có nguy cơ cao cần tránh béo phì duy trì cân nặng nên có, đây là điểm mấu chốt để dự phòng bệnh đái tháo đường typ 2. Cân nặng nên có BMI (được tính bằng cách lấy trọng lượng cơ thể chia cho bình phương chiều cao) ở ngưỡng 20 – 22 là tốt nhất. Cũng có thể tìm cân nặng hợp lý bằng cách lấy số lẻ chiều cao nhân 0,9. Chẳng hạn nếu bạn cao 160cm thì cân nặng lý tưởng là 60×0,9 = 54kg. Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch. Vì thế người có nguy cơ mắc đái tháo đường muốn phòng bệnh thì nên bỏ thuốc.

Bên cạnh đó, việc luyện tập cũng giúp làm tăng tính nhạy cảm của insulin tốt hơn, giúp kiểm soát chỉ số đường huyết trong máu và giúp cơ rắn chắc, cải thiện chức năng tim mạch… Các chuyên gia khuyến cáo nên tập khoảng 30 phút mỗi ngày cho một bài tập trung bình, tập ít nhất 3 – 5 lần một tuần, cho dù bất kỳ bài tập nào cũng có tác dụng tốt cho sức khỏe, cũng có tác dụng dự phòng bệnh. Tránh căng thẳng về tinh thần (tránh stress).

Nếu đang ở giai đoạn cửa sổ hay tiền đái tháo đường thì người bệnh cần có kế hoạch kiểm soát tốt để không tiến triển thành bệnh. Ngoài ra, duy trì chế độ ăn uống lành mạnh vô cùng quan trọng. Trong đó, bữa ăn cần cân đối 4 nhóm thực phẩm (đạm, đường, tinh bột, vitamin và khoáng chất); phối hợp nhiều loại thực phẩm.

Cụ thể:  Ăn nhiều rau, quả hoặc sử dụng thường xuyên các loại hạt họ đậu, vừng, lạc. Ăn ít hoa quả có độ đường cao như: Xoài, nhãn, vải… Cần tăng cường ăn thực phẩm tươi và các món luộc, ăn nhiều rau, củ, trái cây ít ngọt (bưởi, ổi, chuối,…), đảm bảo ăn ít nhất 400g mỗi người mỗi ngày. Chọn sữa ít béo như: sữa đậu nành, đậu tương hoặc các loại phô mai ít béo.

Chú ý không ăn thừa muối, không nên ăn quá 5g/người/ngày. Hạn chế cho muối và gia vị chứa nhiều muối vào thực phẩm khi nấu ăn, hạn chế chấm thức ăn vào muối và gia vị chứa nhiều muối.

Cần giảm bớt ăn thịt, tăng cường ăn cá, tuần 2 – 3 lần. Thịt thì nên chọn loại không có mỡ, thịt gia cầm thì nên loại bỏ da vì trong da có nhiều cholesterol.

Uống nước chè, nụ vối…, không nên uống các loại nước ngọt. Dùng dầu thực vật để chế biến. Hạn chế ăn quá nhiều các thức ăn có năng lượng cao, thức ăn có hàm lượng đường nhiều (bánh, kẹo, mứt…).

Nếu có một trong các biểu hiện như thường xuyên khát, uống nước liên tục, đi tiểu thường xuyên, nhanh đói dù ăn nhiều, sụt cân, người mệt mỏi, thị lực giảm, đau bụng… thì nên nghĩ đến bệnh đái tháo đường, cần đến cơ sở y tế chuyên khoa nội tiết để  khám và chẩn đoán, điều trị kịp thời.

Theo sức khỏe đời sống

Dấu hiệu của ung thư dạ dày giai đoạn đầu

Khi bệnh đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất.

dau-hieu-cua-ung-thu-da-day-giai-doan-dau

Theo sina, 4 dấu hiệu dưới đây được cho là điển hình của ung thư dạ dày giai đoạn đầu.

1. Trên 80% số người bị ung thư đều có biểu hiện đau bụng trên.

2. Khoảng 1/3 số người bị ung thư có hiện tượng căng dạ dày, bụng trên khó chịu, ăn không ngon, tiêu hóa không tốt…

3. Khoảng 1/3 số người mặc dù không có dấu hiệu rõ ràng về hệ thống tiêu hóa, nhưng vẫn bị giảm cân không rõ nguyên nhân, cơ thể gầy đi và lao lực.

4. Một bộ phận người ung thư có biểu hiện ợ nóng, buồn nôn, nôn, ợ hơi và đi ra phân đen.

Ngoài ra, nam giới từ 40 trở lên (những người nghiện rượu và thuốc lá từ 35 tuổi trở lên) nếu có hiện tượng chướng bụng, không thoải mái thì nên đi khám để được phát hiện và điều trị kịp thời.

Khi bệnh tình đã phát triển sang giai đoạn cuối, người bệnh sẽ có biểu hiện như đau bụng, xuất huyết tiêu hóa, thủng/tắc môn vị, thiếu sức sống, gầy, rối loạn trao đổi chất và khuếch tán ung thư dẫn đến các triệu chứng tương ứng như trên.

Theo VnExpress

Sử dụng dầu gió sai cách có thể gây nguy hiểm

Nhiều người nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có thói quen sử dụng dầu gió để chữa một số bệnh thông thường. Hễ trong gia đình có người hắt hơi, ngạt mũi, đau bụng,… đều sử dụng dầu gió, kể cả là cho trẻ nhỏ. Vậy, dầu gió dùng như nào cho đúng?

Biểu hiện khi ngộ độc

Theo các chuyên gia, lượng camphor cho phép trong các chế phẩm dầu gió chỉ khoảng 3 – 11%. Khi bị ngộ độc, camphor có thể gây tác hại với những triệu chứng xuất hiện chỉ trong vòng 5 – 90 phút sau tiếp xúc, tùy vào lượng dầu nhiều hay ít. Các biểu hiện sớm là bỏng miệng, hầu họng, buồn nôn, nôn mửa, lừ đừ, sau đó là co giật, hôn mê, say hô hấp nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Sau khi sử dụng hoặc phát hiện bé uống phải có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ngộ độc, người nhà cần đưa bé đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi gần nhất càng sớm càng tốt.

dau-gio

Có thể gây ngộ độc…

Khoa Cấp cứu – Hồi sức Bệnh viện Nhi đồng 1 cách đây không lâu đã cấp cứu một bé gái 14 tháng tuổi trong tình trạng hôn mê, kích thích đau không đáp ứng, có biểu hiện gồng giật các ngón tay, nhịp thở không đều và có những cơn ngưng thở khoảng 15 giây. Theo lời kể của gia đình, sau khi tắm cho bé, thấy bé có biểu hiện hắt hơi, mẹ bé lấy chai dầu gió để thoa cho bé, nhưng không chú ý nắp chai dầu đã bị lỏng. Do sơ ý, một lúc sau phát hiện bé đang cho chai dầu vào miệng, nắp chai dầu đã nằm trong miệng bé. Lúc đó mẹ không thấy dầu trong miệng bé nhưng trong hơi thở bé đã có nhiều mùi dầu gió. Lúc này bé còn tỉnh táo, đi lại chơi bình thường. Khoảng 15 phút sau, bé có dấu hiệu mệt mỏi, đứng loạng choạng mặc dù vẫn trả lời và làm theo lời của mẹ. Sau 30 phút, bé nôn 2 lần ra cháo trước đó đã ăn, không thấy màu xanh của dầu nhưng mùi dầu trong dịch nôn rất nhiều. Lúc này bé không còn đứng vững, có biểu hiện hôn mê dần, gia đình lập tức đưa bé cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1.

Tại bệnh viện, bé được đặt nội khí quản, bóp bóng duy trì hô hấp, sử dụng thuốc chống co giật và hút dịch dạ dày, cho than hoạt loại bỏ độc chất. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng suy hô hấp của bé cải thiện nhiều, được rút nội khí quản và bé tỉnh táo và được xuất viện.

Tại sao dầu gió có thể gây ngộ độc?

Dầu gió được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như: khuynh diệp, hồi, quế, long não. Dầu gió có vị cay, tính mát, có tác dụng hạ sốt, ra mồ hôi, giảm đau, giảm ho, sát trùng,… Đặc biệt, hầu hết các chế phẩm dầu xoa và cao xoa đều có metyl salicylat (dầu nóng) và menthol (chiết từ tinh dầu bạc hà). Menthol bốc hơi rất nhanh, gây tê tại chỗ và cảm giác mát lạnh (do kích thích bài tiết mồ hôi, làm hạ thân nhiệt) khi xoa vào da. Tuy nhiên, trong thành phần của dầu gió chứa eukalyptol và camphor, đặc biệt camphor là một chất độc đối với trẻ em nếu quá trình sử dụng không đúng hấp thu nhiều vào cơ thể qua phần da trầy xước hay vô tình nuốt phải với lượng nhiều (khoảng 1g) gây tổn thương hệ hô hấp, thậm chí ngừng thở.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi

Theo khuyến cáo, dầu gió có tác dụng phụ làm tăng bài tiết mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp. Vì vậy không được dùng cho người bị lở ngứa, ra mồ hôi, sốt cao, vừa ốm dậy, người suy nhược, táo bón, tăng huyết áp. Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có nguy cơ gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở, vì vậy không dùng dầu gió cho trẻ em dưới 2 tuổi, và phụ nữ có thai, đang cho con bú.

Đối với người bình thường, cũng không nên lạm dụng, dùng quá thường xuyên sẽ dễ gây “nhờn thuốc” giảm tác dụng. Chỉ dùng trong trường hợp thực sự cần thiết như: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau khớp, đau gân, đau cơ bắp, tụ máu, thâm tím, đầy hơi, chậm tiêu, khó tiêu, chống lạnh đường hô hấp, …

Dùng sao cho đúng?

Đối với trẻ lớn trên 2 tuổi, khi dùng nhất thiết phải có sự theo dõi của người lớn. Trước khi bôi dầu cần rửa sạch tay và rửa sạch, lau khô vùng da bị đau, bôi hoặc xoa bóp một lượng vừa đủ bằng cách lấy đầu ngón tay trỏ lấy một lượng thích hợp, bôi lên chỗ đau nhức hay vết côn trùng cắn đốt. Nếu đau bụng do lạnh, khó tiêu, bôi vào vùng quanh rốn; nếu nhức đầu bôi vào thái dương. Sau đó miết nhẹ nhàng, day tròn, ấn bằng ngón tay trỏ. Chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống.

Không dùng nhiều hơn 3 – 4 lần trong ngày; không dùng cho người có tiền sử dị ứng với salicylat, menthol; không dùng thường xuyên mà phải ngừng ngay khi cơn đau đã chấm dứt; không bôi lên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi ở điểm đau, vùng đau. Đối với một số bệnh mạn tính cần có sự tư vấn của các bác sĩ.

Theo suckhoedoisong.vn

Dị ứng thuốc biểu hiện như thế nào?

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ nhất là sự kích ứng, các tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như: buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng, chẳng hạn shock phản vệ… Sau đây là các biểu hiện thường gặp nhất.

Mày đay: Là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5 – 10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

di-ung

Phù Quincke: Là tình trạng phù cục bộ, phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

Viêm da dị ứng: Thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo ban đỏ, ngứa, phù da và tiến triển theo nhiều giai đoạn. Viêm da dị ứng có thể xuất hiện nhanh sau một vài giờ, trung bình sau vài ba ngày, có khi hàng tuần sau khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

Đỏ da toàn thân: Bệnh xuất hiện từ 2 – 3 ngày, trung bình 6 – 7 ngày, đôi khi 2 – 3 tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh thấy bừng nóng, ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hóa, nổi ban đỏ toàn thân, trên da có vảy trắng, các kẽ chân tay có thể nứt và chảy nước vàng, đôi khi bị bội nhiễm có mủ.

Bệnh huyết thanh: Thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38 – 390C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

Dấu hiệu của bệnh loét dạ dày ở trẻ

Loét dạ dày tá tràng là bệnh ít gặp ở trẻ, tuy nhiên bệnh đang có xu hướng tăng lên trong thời gian gần đây.

Bệnh được chia làm 2 loại: tiên phát và thứ phát. Trong đó, hay gặp nhất là loét dạ dày thứ phát, do các tác nhân gây ảnh hưởng cấp tính đến niêm mạc dạ dày.

Theo TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai (Hà Nội), nguyên nhân hay gặp nhất ở trẻ là do stress. Ở trẻ lớn hay gặp sau chấn thương hoặc các tình trạng đe dọa cuộc sống, các chấn thương tinh thần. Học hành quá tải, sự lo lắng quá nhiều, thậm chí cả những trường hợp do cha mẹ ép ăn quá nhiều cũng là một trong các nguyên nhân gây loét dạ dày tá tràng ở trẻ, đặc biệt là ở các thành phố lớn. Ngoài ra cũng có trường hợp loét do thuốc, thường gây tổn thương ở dạ dày nhiều hơn.
dau-hieu-cua-benh-loet-da-day-o-tre
Dưới đây là một số biểu hiện của bệnh loét dạ dày ở trẻ:

1. Đau bụng

Đây là triệu chứng hay gặp nhất ở trẻ. Đau ở trẻ cũng thường không giống người lớn. Một số kêu đau ở thượng vị nhưng một số lại đau ở quanh rốn. Nhiều trường hợp gia đình cho là đau bụng giun nên đã tẩy giun nhiều lần nhưng vẫn không đỡ.

Đau có thể liên quan đến bữa ăn như đau sau ăn hay thường vào một số thời điểm trong ngày như gần trưa, hoặc chiều. Tuy nhiên nhiều trường hợp đau không liên quan gì đến bữa ăn hoặc thời điểm nhất định trong ngày.

Ở trẻ lớn, đau bụng vùng thượng vị thường giống như người lớn, đau lâm râm, âm ỉ, đôi khi có cảm giác bỏng rát ở thượng vị. Một số ít có cả cơn đau về đêm. Mỗi cơn đau có thể kéo dài vài chục phút đến hàng giờ. Mỗi đợt đau có thể kéo dài hàng tuần đến hàng tháng.

2. Nôn

Nôn và buồn nôn hoặc chán ăn là những triệu chứng rất ít gặp ở trẻ lớn nhưng ở trẻ dưới 2 tuổi có thể gặp nôn tái đi tái lại, kèm theo chậm lớn và có thể xuất huyết tiêu hóa.

3. Thiếu máu

Nguyên nhân thường do xuất huyết đường tiêu hóa kéo dài nhiều ngày hoặc xuất huyết ồ ạt do vết loét ăn mòn vào trong niêm mạc và dưới niêm mạc. Điều này làm tổn thương mạch máu dẫn tới thiếu máu cấp tính và nặng. Đây cũng có thể là những lý do đầu tiên khiến trẻ nhập viện.

Nguồn st

‘Bắt bệnh’ đau bụng ở trẻ em

Nhóc tì nhà bạn thường xuyên ôm bụng nhăn nhó và kêu đau. 1 lần, 2 lần… 5 lần, bạn bắt đầu thấy lo lắng và nghĩ rất có thể con gặp rối loạn về hệ tiêu hóa và dạ dày con ‘có vấn đề’?
Sự thật, đau bụng là chứng bệnh xảy ra ‘như cơm bữa’. Do đó, khi thấy trẻ đau bụng, cha mẹ cần tỉnh táo để phân biệt các dấu hiệu nặng – nhẹ để kịp thời có biện pháp ‘ứng cứu’.

Cô Laura Jana, phát ngôn viên của Viện Hàn Lâm Nhi Khoa Mỹ sẽ ‘mách’ bạn một số triệu chứng thường gặp và giải pháp cho căn bệnh đau bụng ở trẻ.

tredaubung

1. Đau bụng có sưng ở bụng

Nguyên nhân: Ăn quá nhiều hoặc đầy hơi

Giải pháp: Dùng một miếng gạc (hoặc khăn) thấm nước ấm, vắt khô, đắp lên bụng trẻ hoặc xoa nhẹ vùng bụng đang đau. Trẻ trên 2 tuổi có thể uống thuốc tiêu hóa để bớt ợ nóng. Bạn cần nhớ phải chọn đúng loại thuốc dành cho trẻ em theo hướng dẫn của bác sĩ.

2. Đau và đại tiện khó

Nguyên nhân: Táo bón.

Giải pháp: Nước mận hoặc nước lê ép pha loãng có tác dụng làm mềm phân. Bổ sung thêm chất xơ trong khẩu phần của bé.

3. Buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, sốt, ớn lạnh

Nguyên nhân: Viêm dạ dày

Giải pháp: Cho trẻ uống thật nhiều nước và ăn những thực phẩm lỏng, có nước như súp.

4. Nôn, đau bụng sau khi ăn một sản phẩm từ sữa

Nguyên nhân: Có thể do bất dung nạp lactose.

Giải pháp: Đưa bé đi khám. Sữa và phômai không chứa lactose (lactose-free) có thể được bác sĩ chuyên khoa chỉ định cho bé. Hoặc bác sĩ có thể cho bé dùng viên Lactaid trước khi ăn bất kỳ một sản phẩm nào từ sữa.

5.  Đầy bụng, mửa, tiêu chảy và thường xuyên sốt.

Nguyên nhân: Ngộ độc thực phẩm

Giải pháp: Cũng cho trẻ uống nhiều nước để tránh mất nước và nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện nếu các triệu chứng không đỡ.

6. Những cơn đau bụng không giải thích được mặc dù trẻ vẫn khỏe mạnh bình thường

Nguyên nhân: Do sttress

Giải pháp: Hãy tìm hiểu và giải quyết vấn đề khiến con bạn bị căng thẳng như: thời khóa biểu học tập quá nặng nề. Bạn cũng có thể tham khảo thêm sự tư vấn của bác sĩ tâm lý.

7. Đau dữ dội xung quanh rốn hay vùng bụng bên phải

Nguyên nhân: Có thể là viêm ruột thừa

Giải pháp: Đưa trẻ ngay đến trung tâm y tế hoặc phòng khám nhi khoa có uy tín để được khám chữa kịp thời.

8. Đau bụng kèm theo viêm họng và sốt

Nguyên nhân: Nhiễm trùng họng (gây ra bởi vi khuẩn liên cầu)

Giải pháp: Đưa trẻ đi khám bác sĩ Nhi khoa, bởi trong nhiều trường hợp cần dùng đến thuốc kháng sinh.

Lưu ý: Chẩn đoán đau bụng ở trẻ là một việc khó ngay cả với bác sĩ. Bài viết này mong rằng sẽ giúp các bậc phụ huynh biết đưa con em mình đi khám một cách kịp thời, có được thái độ bình tĩnh nhờ biết đúng tính chất nặng – nhẹ của chứng đau bụng…

Nguồn eva

Những cái đau cần được chú ý

Trong cuộc sống chúng ta sẽ phải gặp những cơn đau. Điều đáng nói là có 7 loại đau không nên bỏ qua mà phải đến gặp bác sĩ ngay.

1. Đau đầu nhiều nhất từ trước đến nay

Hãy đi khám bệnh ngay. “Nếu bạn bị cảm lạnh, có thể là cơn đau đầu do xoang”, bác sĩ Sandra Fryhofer, của trường đào tạo bác sĩ của Hoa Kỳ nói: “Bạn có thể bị xuất huyết não hoặc u não. Với bất kỳ cơn đau nào, nếu bạn không biết chắc nguyên nhân, hãy đi kiểm tra”.

Theo bác sĩ Sharon Brangman, Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ, nếu ai đó nói họ bị đau đầu nhiều nhất từ trước đến nay, đó là dấu hiệu  kinh điển của  chứng phình động mạch não.  Hãy đi đến bệnh viện ngay”.

2. Đau hoặc khó chịu ở ngực, họng, hàm, vai, tay  hoặc bụng

Đau ở ngực có thể bị viêm phổi hoặc một cơn đau tim. Nhưng nên lưu ý các bệnh tim thường biểu hiện điển hình là khó chịu chứ không phải đau. Bác sĩ chuyên về tim mạch Jerome Cohen nói: “Bệnh nhân tim nói về áp lực. Họ nắm  chặt tay và đặt nó lên ngực  hoặc nói giống như có con voi ngồi trên ngực họ”.

dau_can_duoc_chu_y_01

Đau ở ngực có thể bị viêm phổi hoặc một cơn đau tim.

Sự khó chịu liên quan đến bệnh tim có thể xảy ra  ở vùng ngực trên, họng, hàm, vai hoặc tay bên trái, hoặc bụng và có thể kèm theo ói. “Tôi không lo lắng quá nhiều với người 18 tuổi, nhưng nếu một người có cảm giác khó chịu, dai dẳng không giải thích được và biết rằng họ có nguy cơ cao, họ không nên chờ đợi”, Cohen cho biết. “Thông thường mọi người  hay trì hoãn bởi vì họ hiểu sai nó như chứng ợ nóng hoặc đau đường ruột. Hãy gọi cấp cứu hoặc đến phòng cấp cứu hoặc văn phòng của bác sĩ. Nếu nó được chẩn đoán không phải cơn đau tim, đó là tuyệt vời”.

Khó chịu liên tục cần được quan tâm và thực hiện  đúng. Có thể có khó chịu, như khó chịu liên quan đến sự phấn khích, rối loạn xúc cảm, hoặc gắng sức. Ví dụ. Nếu bạn khó chịu khi bạn đang làm vườn, nhưng nó hết khi bạn ngồi xuống, đó là đau thắt ngực. Nó là thường nặng hơn trong lạnh hoặc thời tiết nóng.

“Các dấu hiệu khó chịu của người phụ nữ có thể tinh tế hơn”, ông Cohen, Trường Y Đại học Tổng hợp Saint Louis, nói: “Bệnh tim có thể giả do các triệu chứng tiêu hóa, như đầy hơi,  đau đường ruột, hoặc các khó chịu ở bụng.  Những bệnh này cũng làm cho cảm thấy mệt mỏi. Nguy cơ mắc bệnh tim gia tăng đáng kể sau khi mãn kinh. Nó giết chết phụ nữ nhiều hơn nam giới mặc dù người đàn ông được cho là có nguy cơ cao hơn phụ nữ ở bất cứ độ tuổi nào. Phụ nữ và bác sĩ của họ cần phải  luôn luôn  cảnh giác”.

3. Đau ở vùng lưng dưới hoặc ở giữa 2 bả vai

“Hầu hết thường là do viêm khớp”, Brangman, giáo sư và là Trưởng khoa Lão tại Đại học Y SUNY Upstate ở Syracuse New York, nói.  Những khả năng khác bao gồm cơn đau tim hoặc các vấn đề bụng. Ngoài ra, những người có nguy cơ là những người mắc các bệnh: huyết áp cao, bệnh sử của các vấn đề tuần hoàn máu, hút thuốc lá và đái tháo đường”.

dau_can_duoc_chu_y_02

Đau ở vùng lưng dưới hoặc ở giữa 2 bả vai có nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp

4. Rất đau vùng bụng

Bạn vẫn còn ruột thừa? Không nên đùa cợt với khả năng bị bể ruột thừa. Các vấn đề về túi mật và tuyến tụy, loét dạ dày và tắc nghẽn đường ruột là một số nguyên nhân có thể khác có đau bụng cần được quan tâm.

5. Đau bắp chân

Một trong những mối nguy hiểm ít được biết đến là huyết khối tĩnh mạch sâu một cục máu đông có thể xảy ra ở các tĩnh mạch sâu của chân. Nó ảnh hưởng đến 2 triệu người Mỹ một năm, và nó có thể đe dọa tính mạng.

Mối nguy hiểm là một mảnh của cục đông máu có thể bể ra và gây ra thuyên tắc phổi và có thể gây tử vong”, ông Fryhofer nói. Ung thư, béo phì, ít vận động, do thời gian dài nghỉ ngơi trên giường hoặc đi du lịch đường dài, mang thai và tuổi cao là các  yếu tố nguy cơ.

Nếu bạn bị sưng và đau ở  các cơ bắp chân của bạn,  hãy đi khám bác sĩ ngay lập tức.

6. Bị nóng bàn chân hoặc cẳng chân

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ, gần một phần tư của 27 triệu người  Mỹ mắc bệnh đái tháo đường chưa được chẩn đoán. Một số người không biết họ bị bệnh đái tháo đường, bệnh lý thần kinh ngoại biên có thể là dấu hiệu đầu tiên”, ông Brangman nói. “Đó là cảm giác nóng bỏng hoặc châm kim ở bàn chân hoặc cẳng  chân. Dấu hiệu này cho biết có tổn thương thần kinh”.

7. Đau mơ hồ, kết hợp hoặc đau không thể giải thích  theo y khoa

“Các triệu chứng đau  thực thể  khác nhau, thường gặp trong trầm cảm”, bác sĩ tâm thần Thomas Wise nói. “Bệnh nhân sẽ có than phiền mơ hồ đau đầu, đau bụng, hoặc đau chân tay, đôi khi  đau phối hợp.

Bởi vì các cơn đau có thể là mãn tính và không làm suy nhược kinh khủng khiến gia đình của họ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể bỏ qua những triệu chứng. “Hơn nữa, bạn càng bị trầm cảm, bạn càng khó khăn để mô tả cảm xúc của mình”, ông Wise, Chủ tịch khoa Tâm thần tại Bệnh viện Inova Fairfax ở Fairfax, bang Virginia  nói.

Các triệu chứng khác cần phải đưa ra  trước khi  có thể chẩn đoán trầm cảm.

Ông cho biết thêm có nhiều tác hại trầm cảm hơn là sự suy giảm chất lượng cuộc sống: “Trầm cảm phải được điều trị tích cực trước khi nó gây ra những thay đổi cấu trúc trong não”.

Theo 24h

Làm gì khi trẻ nôn ói

Những ngày gần tết, các bé có triệu chứng nôn ói đến khám tại phòng khám “Bệnh viện Nhi đồng 2” tăng. Có nhiều nguyên nhân gây nôn ói ở trẻ, những ngày gần tết do các phụ huynh muốn tăng cường thêm năng lượng cho trẻ bằng cách cố ép trẻ ăn nhiều hơn, hoặc do bố mẹ nhiều việc nên không kiểm soát việc ăn uống của trẻ, trẻ dễ dẫn đến các rối loạn tiêu hóa.

Các cháu mới sinh thường hay ói. Có nhiều nguyên nhân. Người lớn coi sóc các cháu nên chú ý xem cháu bị nôn ói trong trường hợp nào, có kèm theo các triệu chứng gì không thì mới xác định được là hiện tượng này không quan trọng hoặc đáng lo ngại. Hiện tượng nôn ói có thể như sau :

lam_gi_khi_tre_non_oi

* Ðang khỏe mạnh bỗng nôn ói kèm sốt, tiêu chảy: có thể do bị bệnh thuộc loại tai-mũi-họng, hoặc vì các chất tiêu hóa di chuyển ngược chiều đoạn dạ dày – ruột Nôn ói sẽ dẫn tới hiện tượng cơ thể thiếu nước.

* Bỗng nhiên bị nôn ói, không sốt nhưng không muốn uống, bị đau bụng không đi tiêu được: có thể bị rối loạn tiêu hóa hoặc lồng ruột, tắc ruột. Cần tới bác sĩ ngay.

* Bị nôn nhiều lần, bị đi bị lại, ngưng tăng cân: viêm tai hay viêm niệu đạo.

Phần lớn các cháu bé nôn ói vì thức ăn chuyển động ngược lại đoạn thực quản – dạ dày

Các cháu nhỏ thường nôn ói vì động cơ tâm lý, làm nũng mẹ.

Các cháu lớn hơn nếu bị nôn ói kèm theo đau bụng và sốt có thể do các bệnh đau ruột thừa,  viêm gan…

Làm gì khi trẻ hay nôn ói ?

1. Đưa trẻ đi khám bác sĩ để loại trừ nguyên nhân trẻ bị ói do bệnh (ví dụ: viêm họng, bệnh lý đường tiêu hóa)

2. Tạo không khí thoải mái khi cho trẻ ăn như kể chuyện, chơi đồ chơi, bố làm trò, xem tivi… Tuy nhiên nên giảm dần khi trẻ ăn khá hơn để tránh trở thành điều bắt buộc phải có cho mỗi bữa ăn.

3. Đừng cố ép trẻ ăn quá no. Thay vào đó, bạn nên chia làm nhiều bữa ăn. Quan trọng là lượng thức ăn cả ngày.

4. Sau bữa ăn nên cho trẻ vận động nhẹ nhàng. Tránh chọc trẻ khóc hay cười quá mức cũng có thể làm trẻ bị ói.

5. Nên sắp xếp cữ ăn gần cữ ngủ; giấc ngủ sẽ giúp cho cữ ăn của bé được an toàn.

6. Không nên la mắng khi trẻ bị ói. Một số trẻ giả vờ ói để dọa  hay phản đối khi không muốn ăn nữa, lúc đó bạn vờ như không chú ý đến điều đó. Sau một vài lần thực hiện không hiệu quả, trẻ sẽ không làm điều đó nữa.

7. Cuối cùng, tình thương của bạn sẽ giúp trẻ vượt qua tất cả

Đăng bởi: Bs Nguyễn Văn Tân Minh
Theo benhviennhi.org.vn

Chứng đau bụng ở trẻ sơ sinh

Chứng đau bụng sơ sinh là thuật ngữ y khoa sử dụng khi trẻ khóc nhiều hơn bình thường mà không có lý do rõ ràng trong 3 tháng đầu đời.

Bình thường trẻ sơ sinh khóc khoảng 2 tiếng/ngày. Trẻ bị chứng đau bụng thường khóc nhiều hơn 3 tiếng/ngày và hơn 3 ngày/tuần. Cơn đau bụng thường khởi phát đột ngột và xảy ra vào buổi tối.

Chứng đau bụng sơ sinh thường thì tự khỏi khi trẻ 3-4 tháng tuổi. Nhưng thỉnh thoảng kéo dài thêm một vài tháng nữa.

chung_dau_bung_o_tre_so_sinh

1. Có cái gì khác ngoài chứng đau bụng có thể làm cho trẻ khóc nhiều hơn bình thường?

Trẻ có thể khóc nhiều hơn bình thường khi mà trẻ bị tổn thương, bệnh tật, đói, nóng, lạnh hoặc quá mệt mỏi. Trẻ cũng có thể khóc nhiều hơn bình thường nếu bị dị ứng với sữa công thức hoặc thực phẩm có trong sữa mẹ. (thực phẩm mà mẹ ăn được truyền sang con qua sữa.)

2. Chứng đau bụng sơ sinh khác so với khóc bình thường như thế nào?

•  Khóc trong chứng đau bụng sơ sinh thì to hơn và là khóc thét (như thể đang la hét hoặc đau đớn).

• Cha mẹ thường không thể dỗ dành hoặc làm dịu trẻ trong cơn đau.

• Trẻ có thể có bụng cứng, nắm chặt tay hoặc cong lưng trong cơn đau.

3. Cha mẹ có thể làm gì để trẻ ngưng khóc?

• Sử dụng bình sữa mà giữ cho trẻ không nuốt không khí quá nhiều

• Cho trẻ ngồi khi bú

• Ẵm trẻ trên tay, địu trẻ hoặc mang trẻ ở phía trước

• Cho trẻ vào xe đẩy

• Cho trẻ tắm nước ấm

• Đặt trẻ vào trong nôi đung đưa

• Bọc khăn giữ ấm cho trẻ

• Massage bụng cho trẻ

4. Khi nào cha mẹ phải gọi bác sĩ?

• Trẻ nhỏ hơn 3 tháng tuổi và có sốt (để biết trẻ bị sốt cần phải đo nhiệt độ. Cách chính xác nhất để đo nhiệt độ cho trẻ. Nếu nhiệt độ trẻ 38°C hoặc cao hơn thì được gọi là sốt.

• Trẻ khóc liên tục hơn 2 giờ

• Cha mẹ sợ mình làm tổn thương hoặc quá mất bình tĩnh đối với trẻ

• Trẻ không chịu ăn uống, nôn ói hoặc đi tiêu ra máu

• Trẻ không đáp ứng với cha mẹ hay những hoạt động thông thường

• Trẻ ọc sữa nhiều sau khi bú, bị tiêu chảy hoặc có vấn đề khi đi tiêu (Những triệu chứng này có thể là trẻ bị dị ứng với sữa công thức hoặc vài thực phẩm).

• Trẻ lớn hơn 4 tháng và vẫn còn chứng đau bụng

• Trẻ không tăng cân

Đăng bởi: BS. Đặng Ngọc Thạch ( dịch từ nguồn Uptodate)
Theo benhviennhi.org.vn

Những điều cần biết về viêm ruột thừa

Bé gái N.T.D, 13 tuổi, đau bụng 1 ngày vùng bụng dưới kèm theo sốt nhẹ, tiêu lỏng. Vì gần ngày hành kinh nên bé tưởng mình bị đau bụng kinh, ráng chịu đựng và không nói với cha mẹ. Đến khi hết chịu nổi, bé mới nói và được gia đình đưa đi khám phát hiện ra bé bị viêm ruột thừa hóa mủ. Bé trai T.T.L, 5 tuổi, đau bụng vùng quanh rốn 2 ngày nay , có sốt, buồn nôn và tiêu chảy 2-3 lần/ngày, gia đình tưởng bé bị rối loạn tiêu hóa nên có tự dùng thuốc ở nhà. Sau uống thuốc 1 ngày mà bé vẫn còn đau bụng đồng thời sốt nhiều hơn, bụng gồng cứng, gia đình đưa bé vào khám mới hay bé bị viêm ruột thừa vỡ gây tình trạng nhiễm trùng khắp ổ bụng. Cả 2 bé đều được nhập viện và phẫu thuật cấp cứu kịp thời trong đêm.

Viêm ruột thừa ở trẻ em là 1 bệnh lý khá phổ biến, gần như ngày nào khoa ngoại cũng tiếp nhận và phẫu thuật cho 2-3 trường hợp viêm ruột thừa. Trong đó, có những trường hợp viêm ruột thừa chưa có biến chứng, mổ xong bé hồi phục rất nhanh; nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, abces ruột thừa, mủ lan tràn khắp ổ bụng, mổ xong hậu phẫu còn nhiều sóng gió, thời gian nằm viện lâu, gây nhiều thắc mắc cho thân nhân của bé.  Nhiều cha mẹ của bé thắc mắc tại sao không mổ sớm, tại sao để ruột thừa vỡ, tại sao phải mổ lại …Bài viết nhỏ sao nhằm trả lời 1 phần nào các thắc mắc hầu làm cho công tác điều trị giữa nhân viên y tế và thân nhân được tốt hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_01

Ruột thừa là gì và ở đâu?

Ruột thừa là một bộ phận nhỏ như ngón tay cái nằm ở phía dưới bên phải của bụng, có 1 đầu bịt kín, đầu kia thông với manh tràng(đoạn đầu tiên của ruột già).

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa?

Nếu vì 1 nguyên nhân nào đó làm cho lòng ruột thừa bị tắt nghẽn ( do sỏi phân, quá sản tổ chức limpho ở thành ruột thừa, dị vật..) sẽ khiến cho ruột thừa bị sưng lên và nhiễm trùng, tạo thành ruột thừa viêm.

Biến chứng của viêm ruột thừa?

Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, vi khẩn tăng sinh làm mủ lan tràn ổ bụng gọi là  viêm phúc mạc gây nhiễm khuẩn huyết (nhiễm trùng máu), suy đa cơ quan và cuối cùng là tử vong.

Viêm ruột thừa xảy ra ở lứa tuổi nào?

Viêm ruột thừa có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3-4 tuổi. Những trường hợp này rất khó chẩn đoán vì trẻ chưa có khả năng diễn đạt rõ ràng tình trạng đau của mình và không dễ phân biệt với các bệnh lý có triệu chứng đau bụng khác. Đặc biệt, viêm ruột thừa ở trẻ tiến triển rất nhanh và có thể vỡ dễ dàng . Do vậy việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra. Đồi với các trường hợp ruột thừa khó, đau không điển hình, khi không loại trừ được viêm ruột thừa, đôi khi bác sĩ phải quyết định mổ thám sát , tránh trường hợp xấu nhất là ruột thừa vỡ gây biến chứng viêm phúc mạc.

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa?

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa là đau vùng bụng dưới bên phải ( còn gọi là hố chậu phải). Kiểu đau của viêm ruột thừa thường bắt đầu ở vùng quanh rốn trước khi khu trú ở hố chậu phải.Tuy nhiên với trẻ em, điểm đau rất khó xác định vì trẻ đa phần gặp bác sĩ là sợ, kêu khóc, không miêu tả được là đau ở đâu, thậm chí khám bụng chỗ nào cũng kêu đau. Trẻ bị viêm ruột thừa  thường có môi khô, lưỡi dơ biểu hiện tình trạng nhiễm trùng. Phần lớn trẻ có sốt nhẹ, giao động 38-38,5 độ C nhưng có khi trẻ không có triệu chứng này, chỉ khi đoạn ruột thừa viêm bị vỡ thì mới sốt. Ngoài ra, bé sẽ có tình trạng mệt mỏi, chán ăn, bụng chướng do ruột bị kích thích kèm theo buồn nôn, nôn ói. Tiêu chảy có thể có hoặc không, nhưng nếu có sẽ làm tăng khả năng chẩn đoán. Biểu hiện nôn và tiêu chảy ở trẻ viêm ruột thừa cũng dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa.

Siêu âm có giúp chẩn đoán viêm ruột thừa?

Siêu âm là 1 cận lâm sàng tốt, không xâm lấn và không gây hại. Siêu âm với tay nghề tốt của người đọc có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, có khả năng là viêm, thấy được dịch trong ổ bụng, thấy được buồng trứng ở bé gái…giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là  đau bụng. Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là 1 công cụ hổ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa. Chẩn đoán viêm ruột thừa cần chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh ) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ.

Trường hợp nào nên nghi ngờ trẻ bị viêm ruột thừa

Đúc kết lại, bác sĩ lưu ý các dấu hiệu sau ở 1 trẻ có khả năng bị viêm ruột thừa:

– Đau bụng vùng quanh rốn, hố chậu phải.

– Sốt nhẹ.

– Buồn nôn và nôn.

– Tiêu lỏng.

– Bụng chướng.

Các triệu chứng này có thể xuất hiện không đầy đủ. Do đó các bậc phụ huynh cần đưa con  khám nếu trẻ đau bụng nhiều, không giảm sau 1-2 giờ, kèm theo nôn, đi lỏng hoặc sốt để được theo dõi tại bệnh viện vì việc theo dõi ở nhà rất nguy hiểm. Ngoài ra, các bậc phụ huynh không nên tự ý dùng thuốc giảm đau cho trẻ nếu trẻ đau bụng mà chưa xác định được nguyên nhân vì thuốc có thể làm mất các triệu chứng bệnh và gây khó khăn cho việc chẩn đoán của bác sĩ.

Mổ viêm ruột thừa xong là ổn?

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có còn các biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp ( mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì do mủ lan tràn khắp ổ bụng nên biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa?

Rất khó có 1 thời gian biểu chung cho thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa vì đôi khi còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của trẻ trước đó và các bệnh lý đi kèm của trẻ. Nhưng tựu chung thì các viêm ruột thừa cấp và hóa mủ thì thời gian nằm viện khoảng 1 tuần, còn viêm phúc mạc ruột thừa thì khoảng 2 tuần.

Mổ ruột thừa nội soi hay mổ mở tốt?

Nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa mổ nội soi và mổ mở về mặt biến chứng. Nhưng mổ ruột thừa nội soi là 1 bước tiến mới trong tiếp cận mổ viêm ruột thừa, nhất là đối với các trẻ có thể trạng mập. Trẻ sau mổ sẽ bớt đau hơn mổ thông thường do ít phải cắt cơ, quan sát được toàn thể ổ bụng, thời gian hồi phục nhanh hơn và sẹo mổ thẩm mỹ hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_02

Hình ảnh ruôt thừa viêm qua ống kính nội soi.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại
Theo benhviennhi.org.vn

U nang buồng trứng đe dọa tính mạng bệnh nhân

U nang buồng trứng là tên thường gọi để chỉ một khối phát triển bất thường trên buồng trứng. U nang buồng trứng có thể phát triển từ các mô của buồng trứng hay từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể. U nang buồng trứng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau với nhiều biến chứng khác nhau, trong đó xoắn u nang buồng trứng là dạng biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là phụ nữ lứa tuổi 30 trở lên.

u_nang_buong_trung_de_doa_tinh_mang_benh_nhan

Để phát hiện sớm u nang buồng trứng

Khi chưa có biến chứng, khối u nang buồng trứng thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Các triệu chứng có thể gặp:

– Sờ thấy khối u trên bụng.

– Đau bụng.

– Rối loạn kinh nguyệt.

– Rối loạn đi tiêu hay đi tiểu.

Các triệu chứng này có thể là triệu chứng của một bệnh lý khác như bệnh phụ khoa (viêm nhiễm, u xơ tử cung) hoặc khối u của một bệnh lý khác ở vùng bụng. U nang buồng trứng có thể dẫn tới biến chứng xoắn u với các triệu chứng như đau quặn bụng cấp tính, đau thành từng cơn, diễn biến ngày càng dồn dập và gia tăng về cường độ, thường kèm nôn mửa, nhiều khi trầm trọng dẫn đến mất nước và các chất điện giải hoặc dẫn tới suy thận. Khám phụ khoa định kỳ có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein (CA 125).

Các diễn biến tự nhiên có thể xảy ra

– Khối u không gia tăng thêm kích thước: thường hiếm gặp.

– Khối u biến mất: thường xảy ra đối với những khối u cơ năng sau theo dõi từ 2-3 tháng.

– Khối u ngày càng to ra: bụng ngày càng to, có thể kèm thêm các biến chứng do chèn ép như đau bụng dưới, bí tiểu, rối loạn tiêu hóa, trướng bụng…

Điều trị u nang buồng trứng

Điều trị u nang buồng trứng phụ thuộc vào kích thước của khối u, có thể uống thuốc, chích nang, mổ nội soi hay mổ mở. Trong trường hợp khối u nang quá lớn, xâm lấn toàn bộ cả hai bên buồng trứng phải phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên. Nếu là khối u cơ năng thì nên chờ vài tháng để có chẩn đoán rõ ràng trong khi một khối u thực thể (do bệnh lý) thì cần được xử trí sớm nhằm xác định rõ tính chất lành hay ác, cũng như tránh các biến chứng có thể xảy ra. Một khối u nếu để quá to sẽ gây khó khăn cho phẫu thuật, gây mất nhiều máu và có nhiều nguy cơ tổn thương đến các cơ quan lân cận.

Phương pháp điều trị chủ yếu đối với u nang buồng trứng là phẫu thuật. Có thể phẫu thuật qua nội soi ổ bụng hay mổ bụng hở tùy theo kích thước và tính chất của khối u. Thuốc chỉ được dùng trong một vài trường hợp đặc biệt hoặc trong thời gian chờ đợi làm phẫu thuật đối với các trường hợp đã có chỉ định mổ.

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp

Nang lạc tuyến buồng trứng

 Xoắn cuống nang là một biến chứng thường gặp của xoắn u nang, hay xảy ra ở u có cuống dài, đường kính khoảng 8 – 10cm. Vì khối u nhỏ lại có cuống dài nên dễ di động và bị xoắn. Xoắn hay vỡ là tình trạng cấp cứu cần phải được phẫu thuật ngay. Dễ xoắn nhất là u nang bì, nếu được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời, tiên lượng sẽ tốt. Nếu muộn, khối u hoại tử vỡ, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Ngoài ra, không có hiện tượng một khối u nang buồng trứng để lâu ngày sẽ trở thành ung thư buồng trứng mà chỉ có tình trạng ung thư buồng trứng không được chẩn đoán và xử trí sớm để khối ung thư ngày càng phát triển trầm trọng thêm.

Hay gọi đúng hơn là lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng. Nội mạc tử cung là lớp màng trong của tử cung, gồm 2 phần, phần nền hầu như không thay đổi và phần tăng trưởng là phần sẽ thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, trong quá trình mang thai và khi sinh nở. Thông thường, theo chu kỳ kinh nguyệt, phần tăng trưởng này sẽ phát triển ngày càng dày lên, tích tụ nhiều chất dinh dưỡng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để trứng thụ tinh sẽ đến làm tổ khi có thai. Gần hết chu kỳ kinh, do thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ, lớp tăng trưởng này sẽ bong ra và tạo ra hiện tượng hành kinh, sau đó phần này lại tiếp tục tăng trưởng vào chu kỳ kinh sau và cứ thế duy trì suốt giai đoạn tuổi sinh sản. Trong bệnh lý lạc nội mạc tử cung, nội mạc tử cung sẽ hiện diện ở nhiều nơi khác ngoài lòng tử cung như trong ổ bụng, tại vòi trứng, tại buồng trứng hoặc bám trên thành ruột… Mặc dù nằm lạc chỗ nhưng các phần nội mạc này vẫn bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh dục nên vẫn phát triển dày lên, cương tụ rồi bong ra và gây xuất tiết vào ngày hành kinh. Tuy nhiên, dịch xuất tiết và xuất huyết từ đám nội mạc này sẽ không được tống ra ngoài như máu kinh mà bị tích tụ lại tại chỗ và ngày càng nhiều lên. Khối lạc chỗ sẽ ngày càng to ra và tạo thành các khối nang chứa dịch, máu và nội mạc tử cung. Nguyên nhân của bệnh cho tới nay vẫn còn chưa rõ ràng, được giải thích là do nội mạc tử cung khi sinh ra đã có mặt ở các vị trí bất thường, hoặc do hiện tượng nội mạc bong ra khi hành kinh đã đi ngược dòng từ lòng tử cung trở ngược ra vòi trứng và có mặt tại các nơi khác trong ổ bụng.

Triệu chứng của tình trạng này là xuất hiện cơn đau bụng kinh ngày càng gia tăng kèm một khối u vùng bụng ngày càng to ra. Điều trị thuốc được ưu tiên chỉ định khi khối u còn nhỏ hoặc trước và sau khi phẫu thuật nhằm tiêu diệt triệt để các khối lạc chỗ. Tuy nhiên, bệnh rất thường hay tái phát.

U bì buồng trứng

Đa số là u lành. Tổ chức u là tổ chức phát triển từ mô thượng bì trong thời phôi thai. Khi phẫu thuật sẽ thấy bên trong khối u có chất bã đậu vàng, nhiều lông tóc, xương, răng…

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng cũng được xếp vào trong các dạng đặc biệt của u nang vì tính chất ung thư chỉ biết được sau khi phẫu thuật, còn trước đó, khi thăm khám vẫn chẩn đoán là u nang. Ung thư buồng trứng có thể phát triển trên mọi độ tuổi và thường được phát hiện muộn do triệu chứng của khối u buồng trứng thường rất mơ hồ. Hơn nữa, vị trí của buồng trứng tiếp xúc nhiều với ổ bụng, do đó thường có di căn xa từ rất sớm. Điều trị ung thư buồng trứng gồm phẫu thuật và hóa trị bổ sung sau đó. Tùy theo mức độ bệnh, có khi đòi hỏi phẫu thuật lấy hết cả 2 buồng trứng và cả tử cung, dù tuổi đời bệnh nhân còn rất trẻ.

U nang buồng trứng là một bệnh hay gặp của phụ nữ. Có thể đây chỉ là khối u cơ năng do hoạt động nội tiết của cơ thể hoặc cũng có thể là khối ung thư cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời nhằm bảo toàn mạng sống và duy trì chức năng cho người phụ nữ.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ TS. Trần Văn Việt

7 cơn đau bạn không nên bỏ qua

Bạn bị đầy hơi, chướng bụng và nghĩ có thể mình bị viêm, loét dạ dày. Tuy nhiên, với chị em tình huống xấu nhất có thể là ung thư buồng trứng.

Dưới đây là 7 dấu hiệu bạn cần đi khám:

1. Đau ngực

Nếu người bệnh hiểu được ngôn ngữ tinh tế của trái tim của mình thì nhiều người có thể đã tránh được những lo lắng không đáng có cũng như lãng phí tiền của, tiến sĩ Arthur Agatston, một chuyên gia về bệnh tim cho biết. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các triệu chứng đau tim của nữ giới khác với nam giới.

Theo kinh nghiệm của ông, có ba biểu hiện giúp người bệnh nhận thấy có gì không ổn và có thể xảy ở cả hai giới. Đó là đau ngực, khó thở, đau ở phần cơ thể phía trên, hiện tượng này chưa từng xảy ra trước đó. Nếu bạn có một trong 3 dấu hiệu này thì tốt nhất là bạn nên gọi cấp cứu ngay lập tức.

2. Đau đầu dữ dội

Rất có thể bạn bị chứng đau nửa đầu. Tuy nhiên nếu nó không kèm theo những biểu hiện như: giảm thị lực, đau đột ngột, đau đầu dữ dội thì đó có thể là dấu hiệu của chứng phình động mạch não. “Khi khối phình vỡ có thể khiến não bị tổn thương chỉ trong vài phút vì thế bạn cần gọi cấp cứu ngay lập tức”, tiến sĩ Elsa-Grace Giardina, chuyên khoa tim mạch, Bệnh viện New York-Presbyterian, Mỹ khuyến cáo.

daudau

3. Đau bụng đầy hơi

Trong một tháng qua, bạn cảm thấy đầy hơi và bụng chướng kéo dài hơn bình thường, dù ăn rất ít. Kịch bản xấu nhất là bạn bị ung thư buồng trứng. Trong năm 2007, lần đầu tiên Quỹ Ung thư phụ khoa công bố các triệu chứng ban đầu của loại ung thư này gồm: đầy hơi, đau vùng bụng hoặc chậu, ăn uống khó khăn.

Vì thế nếu bạn bắt đầu có những biểu hiện này hầu như hằng ngày, kéo dài trong 2-3 tuần thì đó thực sự là cảnh báo đỏ. Bạn hãy lên lịch hẹn với bác sĩ để thảo luận về sức khỏe của mình.

4. Đau nhói ở răng

Có thể dây thần kinh răng đã bị tổn thương do sứt mẻ men răng. Nếu bạn không đi trám ngay lập tức thì vi khuẩn trong miệng có thể tấn công vào dây thần kinh. Và chắc chắn là bạn không muốn vi khuẩn “phiêu lưu” khắp cơ thể, tiến sĩ Kimberly Harms cho biết.

5. Đau bên sườn

Nếu cảm thấy giống như mình đang bị que đâm xiên bên sườn phải, kèm theo nôn, sốt thì có thể bạn bị viêm ruột thừa. Với chị em phụ nữ một khả năng khác là bị u nang buồng trứng, thường thì nó vô hại nhưng nếu nó bị xoắn hoặc vỡ thì có thể gây đau khủng khiếp.

Trong cả hai tình huống trên bạn đều nên đến bệnh viện ngay lập lức. “Nếu không cắt bỏ chỗ bị viêm nó có thể vỡ”, tiến sĩ Lin Chang, chuyên về bệnh dạ dày và ruột, Đại học California, Mỹ nói. Một u nang xoắn cũng cần được phẫu thuật loại bỏ vì nó có thể làm tắc dòng máu chảy đến buồng trứng trong vài giờ.

6. Đau lưng kèm theo ngứa ran ngón chân

Nếu bạn vừa giúp người họ chuyển đồ lên căn hộ tầng 4 của cô, thì cơn đau là bình thường. Nhưng nếu không thì đó là vấn đề đáng lưu ý. Một trong những địa đệm (vòng tròn ở giữa các đốt sống) có thể đang chèn ép lên dây thần kinh cột sống. Nếu bạn không quan tâm đúng mức, các dây thần kinh có thể bị tổn thương vĩnh viễn.

7. Đau, sưng chân

Bắp chân là một bộ phận hết sức nhạy cảm, bạn cần chú ý khi vùng này bị sưng, đỏ hoặc ấm khi chạm tay vào. Bạn có thể bị huyết khối tĩnh mạch sâu, một chứng bệnh có liên quan đến các cục máu đông trong tĩnh mạch. Nếu cục máu đông bị vỡ, nó có thể theo các tĩnh mạch đi lên phổi và gây thiếu ôxy.

Vì thế, bạn hãy đến bệnh viện khám để được chụp CT hoặc siêu âm để phát hiện bệnh.

Theo – VnExpress