Tag Archives: đái tháo đường

Chứng bệnh hạ canxi máu ở trẻ em

Hiện tượng hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh thường xảy ra trong hai tuần đầu sau sinh, do nhu cầu phát triển xương mạnh, đòi hỏi lượng can xi cung cấp rất lớn, nhưng sau khi cắt rốn, lượng can xi từ mẹ cung cấp cho con bị cắt đột ngột và nguồn can xi cung cấp từ bên ngoài qua sữa thường thiếu.
Một số nguyên nhân khác gây hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh là do trong thời kỳ mang thai mẹ không được cung cấp đủ can xi, bị nhiễm độc thai nghén, nhau tiền đạo, đái tháo đường, đẻ khó; cường tuyến giáp, trẻ bị ngạt, sau đẻ trẻ bị thiếu ô xy máu,…

Biểu hiện khi trẻ sơ sinh bị hạ can xi máu

ha-canxi-mau


Biểu hiện của thiếu can xi máu tùy thuộc vào mức độ, có thể gặp các dấu hiệu như: Khi ngủ trẻ hay bị giật mình và mỗi lần như vậy có những cơn khóc thét, co cứng toàn thân, đỏ và tím mặt, cơn khóc kéo dài có thể nhiều giờ hoặc suốt đêm. Càng dỗ, càng ru, càng cho bú càng khóc, có thể ngưng thở trong cơn khóc. Trẻ bị hạ can xi máu hay có những cơn co thắt thanh quản gây khó thở, nấc cụt, ọc sữa,… Nếu không được điều trị tốt thì lâu dài sẽ ảnh hưởng đến hệ xương và gây còi xương sớm, biến dạng xương, gù vẹo cột sống,… Ở những trường hợp thiếu can xi nặng có thể ngưng thở, có những cơn tăng nhịp tim và có thể gây suy tim, thậm chí tử vong.

Do đó, nếu trẻ sơ sinh có biểu hiện của hạ can xi máu cần phải đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế chuyên khoa Nhi để khám và điều trị thích hợp để tránh nguy cơ tử vong và các biến chứng phát triển xương của trẻ sau này.

Phòng ngừa như thế nào?


Để phòng ngừa hạ can xi máu ở trẻ sơ sinh, trong thời gian mang thai người mẹ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn thực phẩm chứa can xi như sữa, tôm, cá, cua,…; Khám thai định kỳ; Sau khi sinh, mẹ vẫn phải ăn uống đầy đủ chất, không ăn kiêng nhất là cua, tôm, cá và các thực phẩm khác có nhiều can xi; Phải cho trẻ bú càng sớm càng tốt ngay sau sinh, nhưng nếu chỉ bú sẽ mẹ mà không ra ánh sáng thì sự hấp thụ can xi sẽ giảm vì không có vitamin D cho nên các bà mẹ cần chú ý cho trẻ bú sớm và bú hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu, bú kéo dài đến khi trẻ 2 tuổi và không nên kiêng cữ như nằm trong buồng tối, hạn chế trẻ tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nhiều tuần, nhiều tháng sau đẻ dẫn đến cả mẹ và con đều có nguy cơ thiếu vitamin D gây giảm hấp thu canxi và hạ can xi máu.

Theo sức khỏe đời sống

Những căn bệnh đến sớm hơn thời gian ta nghĩ

Khi còn trẻ, chúng ta nghĩ rằng sức khỏe của mình là bất khả chiến bại. Nhưng gần đây, nhiều căn bệnh đáng lẽ thường xảy ra với người cao tuổi thì có xu hướng “trẻ hóa” đến 20-30 năm. Tại sao vậy?

Khi còn trẻ, chúng ta nghĩ rằng sức khỏe của mình là bất khả chiến bại. Nhưng gần đây, nhiều căn bệnh đáng lẽ thường xảy ra với người cao tuổi thì có xu hướng “trẻ hóa” đến 20-30 năm. Tại sao vậy?

Một phần do sàng lọc và phát hiện sớm tốt hơn, nhưng chính yếu tố lối sống, chế độ ăn uống và vận động hiện nay cũng là nguy cơ thực tế. Làm thế nào để ngăn ngừa những căn bệnh đến sớm hơn đó?

Loãng xương

loang-xuong

Không cần phải chờ đến tuổi 65 mới kiểm soát, những người ở độ tuổi 50 nên bắt đầu lo nghĩ đến bệnh loãng xương. Quan trọng là tăng cường xương bằng cách bổ sung vitaminD và canxi càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó là phối hợp các bài tập làm xương cốt chắc khỏe hơn như chạy bộ, leo cầu thang. Các chuyên gia khuyên rằng, hút thuốc và uống rượu thực sự độc hại đối với xương. Cuối cùng, tránh đồ uống có ga làm từ cola vì lượng axit phốt-pho cao trong đó có thể làm thâm hụt canxi trong xương.

Đột quỵ

Nếu như trước kia đột quỵ có xu hướng xảy đến với người trên 65 tuổi thì hiện nay, ngay ở tuổi thanh niên 20-30 cũng có thể bị đột quỵ. Một thông tin bạn nên nhớ là hút thuốc lá làm nguy cơ bị đột quỵ tăng gấp đôi, vì thế, bỏ thuốc lá ngay bây giờ cũng chưa muộn. Ngoài ra, những người nằm trong nhóm nguy cơ cao là huyết áp cao, đái tháo đường, béo phì, cholesterol cao. Cách phòng bệnh hữu hiệu là ăn nhạt, tránh thực phẩm chứa transfat, ăn cá hai lần một tuần và tập thể dục, đặc biệt, chỉ cần đi bộ 30 phút mỗi ngày cũng tạo nên sự khác biệt.

Ung thư vú

Phụ nữ 45 tuổi trở lên nên tầm soát ung thư vú nhưng nhiều trường hợp phát hiện bệnh sớm hơn nhiều. Đối với hầu hết phụ nữ, tập thể dục thường xuyên, giữ thân hình cân đối có thể giúp giảm nguy cơ. Những người lo lắng về xu hướng di truyền lại càng có thêm động lực để phòng ngừa và điều trị sớm.

Alzheimer

ung-thu-vu

Tuổi 40 đã có thể gặp nguy cơ Alzheimer chứ không như các trường hợp được chẩn đoán phổ biến ở tuổi 65. Để chặn quá trình này, chúng ta hãy “tập thể dục cho bộ não” bằng chính vận động cơ thể và trí não của mình. Bắt não bộ phải làm việc bằng cách học ngoại ngữ hay chơi một nhạc cụ sẽ có tác dụng đối phó với suy giảm nhận thức. Mặt khác, cái gì tốt cho tim cũng tốt cho não bộ, vì thế, quan trọng vẫn là duy trì nồng độ cholesterol thấp, kiểm soát huyết áp và cân nặng.

Đái tháo đường type 2

Ngoài người lớn độ tuổi 40 – 50, tình trạng trẻ em giờ bị đái tháo đường type 2 không phải là hiếm. Số bệnh nhân trẻ tuổi tăng chủ yếu là do chế độ ăn uống và lối sống ít vận động, các nhà khoa học khẳng định. Hầu hết những người thừa cân, béo phì cũng là nguy cơ cao. Giải pháp phòng ngừa ở đây chính là thực phẩm. Để tránh đường huyết cao, loại trừ thức ăn ít xơ hay thức ăn có nitrat vì một nghiên cứu năm 2009 đã phát hiện ra mối liên hệ giữa căn bệnh này với chất nitrat có trong thực phẩm đã chế biến có chất bảo quản.

Bệnh Gout

Độ tuổi điển hình có thể chẩn đoán gout là 50 – 60 nhưng nó có thể đến sớm từ tuổi 30. Các chuyên gia khuyên rằng, bệnh gout có thể ngăn ngừa sớm bằng cách ít uống rượu và kiểm soát trọng lượng vì đây là 2 nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh ở tuổi còn trẻ. Tuy nhiên, giảm cân đột ngột do chế độ ăn khắc nghiệt cũng có thể khiến lượng acid uric tăng cao và gout có thể bắt đầu tấn công.

Nguồn gia đình

Sẽ có thuốc chữa alzheimer – tim mạch – đái tháo đường

Các chuyên gia ở Trung tâm Langone Medical Center (LMC) trực thuộc ĐH New York đang tiến gần đến việc cho ra đời một loại thực phẩm đa năng: viên thuốc “3 trong 1” có khả năng chữa đồng thời 3 căn bệnh là Alzheimer (suy giảm trí nhớ), bệnh tim và đái tháo đường týp 2.

se-co-thuoc-chua-alzheimer-tim-mach-va-dai-thao-duong

Để sản xuất được dược phẩm độc đáo này, các nhà khoa học đã phát hiện được cơ chế ngăn ngừa cơ thể cung cấp các phân tử có tên là cytokines gây suy giảm hệ thống miễn dịch, phát sinh viêm nhiễm, đặc biệt là viêm mạn tính, thủ phạm làm cho não tích tụ các mảng tiểu cầu, gây tắc nghẽn mạch máu và làm tăng rủi ro bệnh Alzheimer, tim mạch và rất nhiều chứng bệnh nan y khác. Hạn chế viêm nhiễm mạn tính hình thành các mảng bựa tiểu cầu chính là nguyên nhân hạn chế 3 căn bệnh nói trên. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học không chỉ phát hiện thấy cơ chế tạo cytokin mà còn tìm được cách phong bế cơ chế này đồng thời hạn chế các phân tử cytokin thâm nhập vào dòng máu, hạn chế nguy cơ gây bệnh cho con người. Hiện nay, nhóm đề tài đang tiếp tục nghiên cứu để phát triển ra loại thuốc 3 kết hợp nói trên. Liệu pháp này dự kiến sẽ được đưa vào thử nghiệm lâm sàng trong vòng 5 năm tới.

Khắc Nam (Theo Prevention)

Theo SKDS

Bệnh tăng huyết áp ở người trẻ

Tăng huyết áp ở người trẻ (dưới 35 tuổi) là dạng bệnh lý khá phổ biến hiện nay với tỉ lệ người mắc khoảng 5% -12%. Tình trạng huyết áp tăng cao gây nhiều tác động xấu đến sức khỏe và hiệu quả công việc.

Phát hiện tình cờ

Tăng huyết áp ở người trẻ có đến 70% là không có triệu chứng điển hình như nhức đầu, chóng mặt… và được phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hoặc bệnh nhân đến khám bệnh vì lý do khác.

Tăng huyết áp ở người trẻ thường bị tăng số huyết áp dưới, ví dụ 120/95mmHg, trong khi tăng huyết áp ở người cao tuổi thường là tăng số huyết áp trên, ví dụ 170/80mmHg. Dấu hiệu không điển hình của tăng huyết áp ở người trẻ có thể gặp như khó kiềm chế cảm xúc, dễ nóng giận, dễ mất tập trung, dễ ảnh hưởng đến công việc, giao tiếp…

tang-huyet-ap

Tăng huyết áp gây ra các biến chứng trên tim mạch, tai biến mạch máu não… Ngoài ra, ở người trẻ bị tăng huyết áp thì tỉ lệ rối loạn chức năng tình dục cao gấp 2,5 lần so với người không bị tăng huyết áp. Tỉ lệ này còn cao hơn khi người trẻ bị tăng huyết áp kèm theo các bệnh khác như đái tháo đường, bệnh lý thận mạn… Ngoài ra, người bệnh cũng dễ bị rối loạn cảm xúc theo chiều hướng dễ nóng giận, mất kiềm chế…

Các yếu tố cản trở việc điều trị tăng huyết áp ở người trẻ xuất phát từ tâm lý không chấp nhận mình bị tăng huyết áp vì cảm thấy cơ thể khỏe mạnh bình thường, tâm lý che giấu bệnh vì sợ ảnh hưởng việc thăng tiến trong công việc.

Phòng bệnh thế nào?

Nguyên nhân gây tăng huyết áp ở người cao tuổi có đến 95% trường hợp không có nguyên nhân, chỉ khoảng 5% có nguyên nhân. Tuy nhiên, ở người trẻ, tỉ lệ tăng huyết áp có nguyên nhân cao hơn so với người cao tuổi.

Để phòng ngừa tăng huyết áp ở người trẻ tuổi, cần thực hiện giảm cân nếu bị béo phì. Nên áp dụng chế độ ăn giảm cân: ít đường, ít mỡ, nhiều chất đạm và chất xơ. Ngoài ra, nên giảm bớt khẩu phần trong mỗi bữa ăn chứ không nên giảm bớt số bữa ăn hằng ngày. Không nên ăn quà bánh vặt, nên ăn nhạt. Chỉ nên ăn không quá 2 – 4g muối mỗi ngày.

Lượng muối này bao gồm cả lượng muối có trong thức ăn và nước chấm. Nên ăn thức ăn có chứa nhiều các chất kali (có nhiều trong chuối, nước dừa, đậu trắng…), can-xi (có nhiều trong sữa, tôm, cua…), ma-giê (có nhiều trong thịt) để hoạt động của hệ tim mạch được ổn định. Nên ăn chất đạm có nguồn gốc từ cá và thực vật hơn là các loại thịt lợn, bò, gà…

Không nên ăn quá ngọt ngay cả khi không bị đái tháo đường…, hạn chế ăn mỡ động vật. Nên ăn nhiều rau xanh, trái cây để cung cấp nhiều chất khoáng, vitamin và chất xơ. Hạn chế uống nhiều rượu. Nên rèn luyện thân thể, thường xuyên tập thể dục đều đặn mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30-45 phút. Nên tập các loại hình như dưỡng sinh, đi bộ, chạy bộ… và tuyệt đối không được gắng sức. Giữ nếp sinh hoạt điều độ, ổn định, tránh trạng thái xúc động, lo âu. Ngưng hút thuốc lá. Khi điều trị dùng thuốc, người bệnh nên tuân thủ lời dặn của bác sĩ, không nên tự ý ngừng thuốc.

Theo sức khỏe đời sống

Bệnh thận và bệnh đường tiết niệu do đái tháo đường

Đái tháo đường ngày nay đã được chứng minh là nguyên nhân chính gây suy thận giai đoạn cuối, vượt qua “hai đối thủ” là tăng huyết áp và bệnh cầu thận. Những người suy thận do đái tháo đường (ĐTĐ) thường có nhiều biến chứng khác, thời gian sống ngắn hơn, tỷ lệ tử vong cao hơn. Đối với những người bị ĐTĐ thì biến chứng gây tổn thương gặp ở tất cả các vùng của quả thận.

Nhiễm khuẩn tiết niệu

Đối với phần kẽ thận tiết niệu, chúng ta có thể thấy biến chứng cơ bản nhất là nhiễm khuẩn tiết niệu. Ở những người bị ĐTĐ thì nguy cơ bị nhiễm khuẩn cao hơn rất nhiều. Nguyên nhân chính là các loại vi khuẩn Gram âm chiếm tới 90%. Vi khuẩn thường đi ngược từ niệu đạo vào bàng quang rồi ngược lên bể thận. Nhiễm khuẩn tiết niệu ở những người bị ĐTĐ hay gặp các loại vi khuẩn Escera Coli, liên cầu, tụ cầu, ngoài ra còn dễ bị các nhiễm khuẩn khác mà ở người bình thường ít gặp như nhiễm nấm, nhiễm Chlamydia.

Biểu hiện chính của nhiễm khuẩn tiết niệu là đái buốt, đái dắt, đái đục, nặng hơn là đái mủ, đái máu. Người bệnh thường có cảm giác đau buốt lúc đi tiểu, đau thường nóng rát và tăng lên cuối bãi. Khi bệnh nhân thấy sốt, đau vùng hông lưng, hay đái ra mủ, đái ra máu, cần phải nghĩ nhiễm khuẩn đã ngược lên đến thận và phải tới ngay bệnh viện.

Về mặt điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu, phải tuân thủ nguyên tắc giải phóng thông thoáng đường tiểu, uống nhiều nước, kháng sinh hợp lý theo nguyên nhân gây bệnh. Vì nhiễm khuẩn đường tiết niệu hay tái phát nên cần tuyệt đối không được lạm dụng và sử dụng bừa bãi kháng sinh, phải tuân thủ chế độ điều trị một cách hợp lý để tránh nguy cơ tái phát bệnh.

benh-than-tiet-nieu-do-dai-thao-duong

Viêm mạch thận ĐTĐ

Tổn thương mạch thận là một trong những biến chứng về mạch máu hay gặp ở người bị ĐTĐ. Triệu chứng của việc thiếu máu thận là tăng huyết áp. Bệnh lý về mạch thận do ĐTĐ cũng giống như các bệnh lý về mạch máu khác, mạch máu đến thận cũng có thể bị các biến cố của các bệnh như mạch vành hay mạch não, bao gồm xơ vữa mạch, huyết khối, huyết tắc mạch máu… Với người bị ĐTĐ, biến chứng xơ vữa mạch cao lên gấp nhiều lần, lòng mạch bị hẹp lại và gây thiếu máu đến tổ chức.

Nguy cơ tổn thương mạch thận càng cao và sớm khi người bệnh ĐTĐ có thêm rối loạn chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, tăng huyết áp.

Bệnh cầu thận ĐTĐ

Giai đoạn đầu, đường huyết tăng cao, tổn thương thận chính là giãn khoảng kẽ, phì đại gian mạch. Lâm sàng sẽ thấy quả thận to lên về kích thước, mức lọc cầu thận tăng lên. Khi theo dõi bệnh nhân bị ĐTĐ, người ta thấy kích thước thận tăng cả về chiều rộng, chiều dài và chiều cao tới 140% so với quả thận bình thường. Trong khi mức lọc cầu thận tăng tới 150%. Nếu không được điều trị tốt sẽ tiến triển tới giai đoạn microalbumin niệu. Lúc này thận bắt đầu suy giảm chức năng. Nếu xét nghiệm mô học sẽ thấy màng đáy cầu thận dày lên, có nhiều chỗ bị “vỡ”. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến xơ hóa mạch cầu thận và cuối cùng sẽ khiến thận mất chức năng hoàn toàn.

Suy thận giai đoạn cuối

Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ có biến chứng giai đoạn cuối đều là ĐTĐ týp II, chiếm trên 90% trong khi chỉ có dưới 10% ĐTĐ týp I. Suy thận giai đoạn cuối là kết quả của một quá trình bệnh lý kéo dài xuất phát từ những tổn thương rất sớm của thận, sau đó đến giai đoạn muộn hơn, bệnh nhân có xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng, xuất hiện đạm niệu, chức năng thận mất đi, ure tăng lên, các thành phần nitơ phi protein và cuối cùng thận mất chức năng hoàn toàn. Khi đó bệnh nhân phải chuyển sang giai đoạn điều trị thay thế. Về điều trị suy thận giai đoạn cuối do ĐTĐ, người ta thấy rằng, có 12% những người bị ĐTĐ suy thận giai đoạn cuối được điều trị bằng thẩm phân phúc mạc (lọc màng bụng). Trên 80% được điều trị bằng thận nhân tạo, chỉ khoảng 8% được ghép thận. Điều trị thay thế thận ở người bệnh ĐTĐ có một số đặc điểm khác với những bệnh lý khác. Đó là thời gian lọc máu phải sớm hơn. Ngay khi mức lọc cầu thận ở mức 15 – 20ml/phút thì bắt buộc phải can thiệp để ngăn các biến chứng khác. Tỷ lệ biến chứng cao hơn và thời gian sống sót của bệnh nhân ngắn hơn so với nhóm bệnh khác.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để điều trị hiệu quả biến chứng thận do ĐTĐ phải tuân thủ theo nguyên tắc chặt chẽ, phối hợp nhiều phương pháp và có sự theo dõi sát sao. Cụ thể:

Khống chế đường huyết: Nghiên cứu đa quốc gia cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa nồng độ HbA1c với sự xuất hiện và khối lượng của protein niệu cũng như chức năng thận. Khống chế tốt đường huyết càng sớm càng tốt sẽ làm giảm đáng kể tần suất bệnh thận và suy thận.

Khống chế huyết áp: Con số huyết áp cần đạt được ở bệnh nhân bệnh thận ĐTĐ bao giờ cũng phải thấp hơn người tăng huyết áp khác. Theo khuyến cáo chung là 120/70mmHg. Các thuốc hay dùng là ức chế men chuyển đổi angiotensin (renitec, lisinopril) hay ức chế thụ thể angiotensin II (aprovel, telmisartan).

Hạn chế tối đa sự tăng cân: Béo phì làm nhanh chóng suy thận hơn hẳn so với người không béo phì.

Bỏ thuốc lá không chỉ ngăn suy thận mà còn giảm các biến cố tim mạch khác.

Ăn giảm đạm cũng làm giảm tiến triển bệnh thận.
Chế độ thể dục hợp lý.

ThS. Nguyễn Vĩnh Hưng

Theo SKDS

Ðiều trị một số biến chứng tim mạch do đái tháo đường

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây nhiều biến chứng cho tim mạch và thường là những biến chứng nặng nề. Dưới đây là một số phương pháp điều trị các biến chứng tim mạch do đái tháo đường.

Hội chứng động mạch vành cấp

Hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp bao gồm cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên và NMCT có ST chênh lên. Tiên lượng hội chứng ĐMV cấp trên bệnh nhân ĐTĐ thường xấu, do nhiều nhánh ĐMV cũng bị tổn thương và hình thái tổn thương thường phức tạp, khó can thiệp.

Tái lưu thông ĐMV: tái lưu thông ĐMV là điều trị chính đối với bệnh nhân bị hội chứng ĐMV cấp. Có 3 biện pháp tái thông ĐMV là dùng thuốc tiêu sợi huyết, nong ĐMV và phẫu thuật bắc cầu chủ – vành. Trước đây, người ta cho rằng đối với bệnh nhân ĐTĐ, phẫu thuật bắc cầu chủ – vành là biện pháp điều trị chính. Song từ khi có các loại stent phủ thuốc, phối hợp với các thuốc ức chế thụ thể GPIIb/IIIa của tiểu cầu thì nhiều bệnh nhân ĐTĐ bị hội chứng mạch vành cấp đã được cứu sống nhờ các biện pháp điều trị này.

Trước khi có stent và thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa, tỷ lệ tái hẹp sau nong ĐMV trên bệnh nhân ĐTĐ lên tới 47 – 71%. Nhưng khi kết hợp đặt stent phủ thuốc cùng với các thuốc ức chế thụ thể IIb/IIIa và các thuốc chống gây kết tập tiểu cầu khác thì tỷ lệ tái hẹp chỉ còn 8,1% ở bệnh nhân ĐTĐ được can thiệp ĐMV.

dieu-tri-mot-so-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Suy tim

ĐTĐ là yếu tố nguy cơ độc lập của suy tim. Hai nguyên nhân góp phần gia tăng suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ là vấn đề NMCT trong bệnh ĐMV mạn và tình trạng tái cấu trúc thất sau NMCT. Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có tần suất suy tim cao hơn hẳn bệnh nhân không ĐTĐ. Việc kiểm soát tốt đường huyết và chỉ số huyết áp sẽ giúp giảm nguy cơ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ.

Các thuốc sử dụng nhằm phòng ngừa hoặc điều trị suy tim do ĐTĐ thường được sử dụng là: thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, chất đối kháng aldosteron, thuốc chẹn beta giao cảm…

Loạn nhịp tim

Nhiều loại rối loạn nhịp có thể gặp ở bệnh nhân ĐTĐ như: ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, rung nhĩ, bloc nhĩ – thất… Tần suất rung nhĩ trên bệnh nhân ĐTĐ chỉ đứng sau suy tim và tăng huyết áp trong khởi phát rung nhĩ. ĐTĐ cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ. Tần suất đột quỵ do tình trạng huyết khối gia tăng vì vận tốc dòng máu trong tiểu nhĩ hay trong tâm nhĩ giảm. ĐTĐ sẽ làm gia tăng nguy cơ đột tử ở mọi lứa tuổi nhiều hơn gấp 4 lần, ở nữ nhiều hơn nam. Cơ chế của đột tử do ĐTĐ còn chưa thực sự rõ ràng, có thể do nhiều yếu tố phối hợp như: xơ vữa động mạch, tổn thương vi mạch, rối loạn hệ thần kinh tự chủ, hội chứng QT dài.

Khi đường máu càng cao thì nguy cơ đột tử sẽ càng lớn.

Bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu não

Động mạch ngoại vi (ĐMNV) thường thấy rõ nhất các tổn thương là động mạch chi dưới, động mạch thận, động mạch cảnh… Bệnh nhân ĐTĐ có tần suất bệnh ĐMNV gia tăng từ 2 – 4 lần và khoảng 15% bệnh nhân có chỉ số cổ chân – cánh tay bất thường. Tần suất bệnh cũng gia tăng theo tuổi, theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ và bệnh thần kinh ngoại vi. Biểu hiện lâm sàng hay gặp của bệnh ĐMNV là tình trạng thiếu máu cục bộ chi dưới với biểu hiện lâm sàng là các cơn đau cách hồi.

Các biện pháp điều trị bao gồm: giảm yếu tố nguy cơ tim mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, tái lưu thông mạch (nong mạch qua da hoặc phẫu thuật).

Đột quỵ

Nguy cơ tương đối của đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ tăng từ 2,5 – 4,1 lần ở nam và 3,6 – 5,8 lần ở nữ so với người không mắc ĐTĐ. Tương quan giữa tăng đường máu và đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ ít chặt chẽ hơn so với NMCT.

Bệnh nhân ĐTĐ nếu đã có biến chứng có protein niệu, bệnh võng mạc hay bệnh thần kinh tự chủ thì thường cũng bị gia tăng nguy cơ đột quỵ. Đột quỵ thường do tình trạng thiếu máu cục bộ ở não.

Việc kiểm soát tốt đường máu, huyết áp và chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, phục hồi chức năng hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu tối đa những hậu quả do tai biến mạch não gây nên.

Dự án Quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường

Nguy cơ biến chứng tim mạch do Ðái tháo đường

Bệnh nhân mắc đái tháo đường (ÐTÐ) thường sẽ bị tăng nguy cơ vữa xơ động mạch (VXÐM) và tăng tỷ lệ mắc tăng huyết áp cũng như bệnh động mạch vành (ÐMV). Ngoài ra, các biến chứng mạch máu lớn và mạch máu nhỏ khác ở mạch máu não, động mạch chủ, động mạch thận… đều gia tăng ở các bệnh nhân ÐTÐ.

Bệnh nhân ĐTĐ được coi là có nguy cơ tương đương như các bệnh nhân đã có tiền sử nhồi máu cơ tim (NMCT). Mảng xơ vữa ở bệnh nhân ĐTĐ thường là các mảng xơ vữa không ổn định, rất dễ bị nứt vỡ gây hẹp hoặc tắc các mạch máu. Các biến chứng tim mạch của ĐTĐ bao gồm: biến chứng vi mạch (bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh); biến chứng mạch máu lớn (bệnh ĐMV, bệnh mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi). Khi bệnh tiến triển thì bệnh nhân có nguy cơ bị rối loạn nhịp tim, suy tim, suy thận…

nguy-co-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Nhiều nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ bệnh ĐMV cao hơn bệnh nhân không bị ĐTĐ. Bệnh nhân ĐTĐ khi bị NMCT cấp cũng có nguy cơ sốc tim và tử vong cao hơn bệnh nhân không bị ĐTĐ; ĐTĐ làm gia tăng nguy cơ đột quỵ ở người trẻ, ĐTĐ cũng làm tăng nguy cơ đột quỵ gấp 10 lần và cũng làm tăng tỷ lệ tái đột quỵ, tăng sa sút trí tuệ.

Giảm nguy cơ tim mạch bằng cách nào?

Cần phải điều chỉnh lối sống và chế độ ăn uống.

Việc điều chỉnh lối sống bao gồm: giảm cân (nếu có thừa cân hay béo phì); tăng cường vận động (tối thiểu 30 phút/ngày); khẩu phần ăn cần phải cân đối, giảm bớt các chất đường, chất béo, tăng lượng rau xanh; ngưng hút thuốc lá, không uống rượu, bia nhiều. Các biện pháp này cần được thực hiện thường xuyên.

Ngoài ra, cần kiểm soát tốt các bệnh phối hợp khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tăng axit uric máu…

Kiểm soát đường huyết

Kiểm soát tốt đường huyết sẽ giúp giảm biến chứng vi mạch và biến chứng mạch máu lớn. Trong một số nghiên cứu, người ta đã chứng minh có mối tương quan giữa HbA1c và biến chứng vi mạch. Nếu giảm 10% HbA1c sẽ giảm được 40-50% nguy cơ xuất hiện và tiến triển bệnh võng mạc. Khi mức HbA1C giảm được 1% sẽ giảm được 25% biến chứng vi mạch. Tương quan giữa tăng đường huyết với biến chứng mạch máu lớn không thực sự rõ ràng như tương quan giữa đường huyết với biến chứng vi mạch, nhưng một số nghiên cứu cũng chứng minh khi kiểm soát tốt đường huyết cũng sẽ giúp giảm bệnh mạch máu lớn ở tim và các cơ quan khác.

Trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2, mức HbA1c giảm 1% sẽ giúp giảm 14% tỷ lệ NMCT và tử vong. Việc giảm đường máu sau ăn là một yếu tố quan trọng giúp giảm biến cố tim mạch.

Điều trị rối loạn lipid máu

Bệnh nhân ĐTĐ týp 2 thường có tình trạng đề kháng insulin. Từ sự đề kháng insulin này cũng sẽ dẫn đến các rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ: tăng TG, giảm HDL-C, tăng LDL nhỏ đậm đặc. Các yếu tố này sẽ góp phần làm gia tăng tình trạng VXĐM.

Điều trị rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ ngoài việc điều chỉnh lối sống, điều chỉnh chế độ ăn uống hợp lý còn cần điều trị bằng một số nhóm thuốc điều chỉnh rối loạn lipid máu như nhóm statins, fibrates…

Điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ thì cần phải cố gắng đưa mức huyết áp xuống dưới 130/80mmHg.

GS.TS. Nguyễn Lân Việt
Theo SKDS

Chữa tiểu đường bằng thực phẩm hàng ngày

Củ cải dùng làm rau ăn, có thể chế biến thành nhiều món ăn như luộc, kho với thịt, với cá, xào mỡ, làm dưa… rất ngon miệng. Ngoài ra, với vị cay, tính lạnh, củ cải còn là một vị thuốc.

Củ cải trắng chứa 92% nước; 1,5% protit; 3,7% gluxit; 1,8 celluloz. Lá và ngọn chứa tinh dầu và một lượng đáng kể vitamin A và C.

Một số bài thuốc từ củ cải tham khảo từ báo Kiến thức gia đình và web phunu.info:

1.Trị chứng khản tiếng, không nói được

Củ cải sống 300g rửa sạch vắt lấy nước, gừng sống 20g giã vắt lấy nước, trộn hai thứ vào nhau rồi uống ngày 3 lần, uống 2 ngày là khỏi.

Trị chứng chảy máu cam

Củ cải sống 300g rửa sạch giã vắt lấy 1/2 bát nước hòa thêm một ít rượu rồi đun nóng, lấy nước này nhỏ vào mũi ngày 3 – 4 lần.

chua-tieu-duong-bang-thuc-pham-hang-ngay

2. Trị chứng lở loét miệng do nhiệt

Giã củ cải sống 300g rồi vắt lấy nước hòa thêm một ít nước lọc, súc miệng ngày 3 lần, dùng 2 ngày khỏi.

3. Trị đại tiện ra máu

Củ cải sống 200g giã nát, lọc lấy một chén nước nhỏ cho 4 thìa nhỏ nước mật ong, đun chín và uống nước này vào buổi sáng hằng ngày.

4. Trị đau sỏi mật

Củ cải sống 300g thái to thành từng miếng như ngón tay, tẩm với mật ong màu vàng nhạt, không dùng mật ong màu nâu sẫm. Đặt củ cải đã tẩm mật ong lên chảo rồi sấy khô trên than hoặc lửa. Khi khô lại tẩm mật ong và sấy khô không để chảy nước, ăn củ cải sấy khô và uống một ít nước muối loãng ngày 2 lần, dùng trong một tháng.

5. Trị chứng nước tiểu đục

Người bị nước tiểu đục do lo nghĩ nhiều, hoặc tửu sắc quá độ, lấy 200g củ cải trắng khoét rỗng bỏ hết ruột bên trong rồi nhét đầy ngô thù du (có bán tại hiệu thuốc Bắc), đậy kín lại.

6. Trị lao phổi ho ra máu

Củ cải 300g, mật ong 150g, phèn chua 10g, nước 400ml. Cho củ cải vào đun cùng với nước cho sôi, đến khi còn khoảng 100ml thì gạn lấy nước bỏ bã. Cho phèn chua và mật ong vào nước này khuấy đều, đun sôi chia làm 3 lần uống trong ngày trước khi ăn.

7. Trị viêm phế quản mạn ở người cao tuổi

Củ cải trắng 250g, đường phèn, mật ong vừa đủ, một bát con nước. Sắc đến khi còn nửa bát con nước, ăn củ cải và uống nước. Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và tối.

8. Trẻ nhỏ bị ho

Lấy củ cải thái thành miếng mỏng, thả vào ngâm trong nước đường đặc vài ngày. Mỗi lần lấy ra một thìa nhỏ, pha thêm nước nóng cho trẻ uống.

9. Chữa đái tháo đường

Củ cải 250g, gạo 100g. Củ cải tươi rửa sạch, cắt nhỏ, nấu với gạo thành cháo ăn hằng ngày.

Ngoài ra, nước ép từ củ cải có tác dụng chống nấm và phòng ngừa sỏi mật.

Nguồn giáo dục

Tăng huyết áp và những quan niệm sai lầm thường gặp

Trung bình cứ 4 người lớn ở nước ta lại có một người bị tăng huyết áp. Trên thực tế, con số này còn có thể cao hơn do bệnh tiến triển thầm lặng và chưa được phát hiện. Vì vậy, việc phổ biến những kiến thức đúng về tăng huyết áp là hết sức cần thiết trong việc kiểm soát huyết áp cũng như làm giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm do căn bệnh này gây ra. Sau đây là một số những quan niệm sai lầm về tăng huyết áp mà người bệnh cần điều chỉnh.

Huyết áp tối đa phải 160mmHg trở lên mới là tăng huyết áp (THA)
Theo định nghĩa về THA, huyết áp (HA) bình thường là HA có chỉ số từ 90/60 – 119/79 mmHg, Tiền THA: 120/80 – 139/89 mmHg, THA giai đoạn I: 140/90 – 159/99 mmHg, THA giai đoạn II: huyết áp bệnh nhân từ 160/100 mmHg trở lên và THA tâm thu đơn độc là khi bệnh nhân chỉ có tăng HA tâm thu trên 140 mmHg còn HA tâm trương dưới 90 mmHg. Như vậy, chỉ cần chỉ số HA của bạn trên 120/80 mmHg đã được gọi là tiền THA và bắt buộc đã phải theo dõi để điều chỉnh lối sống, chế độ ăn uống và tập luyện

tang-huyet-ap-va-nhung-quan-niem-sai-lam-thuong-gap

Tăng huyết áp ở người già là chuyện bình thường, không cần điều trị
Trước đây, người ta cho rằng huyết áp tăng ở người già là bình thường và chỉ cần can thiệp khi huyết áp đã tăng rất cao, thậm chí không cần điều trị gì. Hiện nay, mặc dù THA tỷ lệ thuận theo tuổi hay nói khác đi, tuổi càng cao nguy cơ bị THA càng lớn. THA áp ở người già được coi là bệnh lý (chứ không phải là một tình trạng của tuổi tác) như bất cứ một bệnh nào khác ở mọi lứa tuổi và cần phải được theo dõi, điều trị tốt như ở người trẻ.

Tăng huyết áp không chữa khỏi được
Không phải hoàn toàn là như vậy. Chúng ta đều biết rằng, THA gồm hai loại: THA nguyên phát và THA thứ phát. THA nguyên phát là loại THA không tìm thấy căn nguyên gây bệnh hay còn được gọi là tăng huyết áp vô căn, loại này chiếm từ 90% – 95% tổng số các trường hợp THA nói chung. THA thứ phát là loại THA có nguyên nhân gây bệnh rõ ràng như THA do u tủy thượng thận, do bệnh lý thận, do một số bệnh nội tiết… Đối với loại THA vô căn, bắt buộc phải uống thuốc hàng ngày để giữ cho HA luôn ở mức bình thường. Còn đối với loại THA có nguyên nhân rõ ràng, nếu điều trị tốt yếu tố gây bệnh (ví dụ như bệnh hẹp động mạch thận) thì HA có thể về trị số bình thường hay có thể chữa khỏi. Vì vậy, khi bị THA, nhất thiết phải tìm kiếm xem có nguyên nhân nào gây THA hay không để điều trị trước khi kết luận là THA vô căn.

Trẻ em và thanh niên không bị tăng huyết áp
THA hay gặp ở người già nhưng có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Phần lớn các trường hợp THA ở người từ 45 tuổi trở lên là THA vô căn trong khi THA xuất hiện ở người trẻ hơn thường có nguyên nhân rõ ràng như hẹp động mạch thận, suy thận, u tủy thượng thận… Hiện nay, THA đang có xu hướng trẻ hóa do có nhiều yếu tố nguy cơ ở nhóm đối tượng này như: nghiện rượu, nghiện thuốc lá, thuốc lào, béo phì, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, tăng axit uric máu, ăn mặn (lượng muối ăn trên 5g/ngày), lười vận động, môi trường làm việc căng thẳng nhiều stress,…

“Bỏ quên” một số yếu tố nguy cơ
Có một số yếu tố nguy cơ mà khi người bệnh khắc phục được có thể làm giảm huyết áp đáng kể. Đầu tiên là thói quen ăn mặn (trên 5g muối/ngày). Thói quen này hay gặp ở những người lao động nặng nhọc, lượng muối bị mất nhiều qua mồ hôi. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy một chế độ ăn nhạt giúp hạ huyết áp tâm thu tới 20 mmHg. Tiếp theo là những thói quen có hại như lạm dụng bia rượu, hút thuốc lá, thuốc lào. Đây cũng là những yếu tố làm HA của bạn tăng đáng kể. Ăn uống vô tội vạ dẫn đến béo phì, lười vận động, công việc nhiều áp lực, cuộc sống nhiều stress… cũng góp phần làm HA bạn tăng thêm từ 10 mmHg trở lên và nhiều khi là yếu tố khởi nguồn của cơn THA nếu bạn đang bị THA, cũng như góp phần vào việc làm cho HA của bạn ít đáp ứng với liệu pháp điều trị.

Người bình thường không cần kiểm tra huyết áp
Trong đại bộ phận các trường hợp, THA tiến triển từ từ, thầm lặng mà không có biểu hiện gì đặc biệt hoặc nếu có cũng nhẹ và thoáng qua. THA chỉ được phát hiện khi người bệnh đã bị các biến chứng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy thận… hoặc qua khám sức khỏe định kỳ. Tuy nhiên, cũng có một số dấu hiệu cảnh báo bệnh nhân đã bị THA như: hay bị đau đầu chóng mặt mà không rõ lý do cụ thể, thay đổi tính nết: dễ xúc động, cáu gắt, khó kiểm soát cảm xúc, có những cơn nóng, đỏ bừng mặt, mắt nhìn mờ, tức ngực, đau ngực, đánh trống ngực, làm việc dễ bị căng thẳng mệt mỏi, tiểu ít, đột ngột xuất hiện nói khó, thất ngôn, tê bì chân tay, liệt chi (có thể chỉ thoáng qua rồi hết…). Vì vậy những người có các biểu hiện nói trên, nhất là những người tuổi từ 45 trở lên nên đi khám ngay.

Dừng thuốc khi thấy huyết áp về bình thường
Nhiều người cho rằng khi uống thuốc đưa HA về trị số bình thường thì dừng ngay thuốc, thuốc chỉ bỏ sẵn trong túi, khi nào thấy HA tăng cao thì lại uống. Điều này thực sự nguy hiểm vì HA đã về bình thường là do tác dụng của thuốc, nếu dừng, nồng độ thuốc không còn nên chắc chắn HA lại tăng cao. Hơn nữa, khi HA tăng cao thường không có biểu hiện gì đặc biệt nên người bệnh khó nhận biết và nhiều khi cơn THA lên quá cao gây các biến chứng như xuất huyết não… thì đã quá muộn.

Tự ý thay thuốc hạ HA đang dùng
Rất nhiều người đang dùng thuốc hạ HA có tác dụng rất tốt lại tự ý bỏ và thay bằng một loại thuốc khác với hy vọng tốt hơn thuốc cũ. Bạn nên nhớ rằng loại thuốc hạ HA tốt nhất là thuốc giúp bạn kiểm soát tốt HA, ít gây tác dụng phụ và giá thành rẻ. Đối với người này, loại thuốc đó có thể rất tốt nhưng đối với người khác lại cho hiệu quả kém. Vậy không nên thay thuốc khi HA của bạn đang tốt và bạn không thấy có tác dụng phụ gì của thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng ngừa biến chứng ở chân do tiểu đường

Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường là biến chứng bàn chân. Đây cũng là một trong những biến chứng nghiêm trọng, điều trị khó khăn, có thể khiến bệnh nhân thường phải cắt cụt chi dưới. Tuy nhiên, nếu được điều trị và chăm sóc tốt, người bệnh sẽ tránh được biến chứng nguy hiểm này.

Đái tháo đường gây bệnh ở bàn chân
Hàng ngày, bàn chân phải chịu một khối lượng lớn trọng lực của toàn bộ cơ thể nên rất dễ tổn thương. Ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó, nguy cơ cắt cụt chi là rất cao.

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Tổn thương hay gặp ở bàn chân bao gồm:
Khô da: Ở bệnh ĐTĐ, dinh dưỡng nuôi da kém, do tổn thương thần kinh, thay đổi chuyển hóa khiến da trở nên thô ráp nứt nẻ, hay bị bong vảy.
Nhiễm nấm: Các bệnh nấm có thể gặp là nấm móng, nấm gót chân. Biểu hiện: Móng chân, thường là ngón cái, bị đổi màu, bề mặt móng kém sáng bóng, dày và dễ mủn. Rìa móng xuất hiện các đám tổn thương là các sùi có màu trắng hoặc vàng, đôi khi có mủ.

Viêm dây thần kinh: Bệnh ĐTĐ làm tổn thương lớp màng bọc nuôi dưỡng dây thần kinh ngoại vi đi đến chân gây viêm dây thần kinh. Người bệnh có biểu hiện tê bì, da khô nứt nẻ, có cảm giác lạnh ở bàn chân.

Loét bàn chân: Đường huyết cao làm chậm sự liền vết thương, gây tổn thương mạch máu. Vết thương ở bàn chân dễ dàng “ăn” sâu đến xương, lộ gân có nguy cơ hỏng gân, hoại tử xương, phải cắt cụt chi.

Cách chăm sóc bàn chân để phòng ngừa biến chứng
Giữ sạch chân: Hằng ngày, cần rửa sạch bàn chân nhẹ nhàng với nước ấm và xà phòng trung tính, chú ý rửa sạch kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân và các kẽ ngón chân. Nếu da chân khô, có thể dùng kem dưỡng da bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ ẩm cho da, không bôi kem vào kẽ ngón chân.

Cắt móng chân: Thường xuyên cắt móng chân. Nên cắt móng chân theo đường thẳng hoặc theo đường vòng của ngón, không cắt móng quá sát và không cắt sâu vào các góc móng.

Bảo vệ bàn chân: Không được đi chân trần, ngay cả khi đi trong nhà, bởi vì chân có thể bị tổn thương do va đập mà người bệnh không cảm nhận được. Nên đi giày đế bằng, chất liệu mềm, vừa chân. Không đi giày cao gót hoặc các loại giày bó lấy bàn chân và gót chân. Nếu có điều kiện, nên đi giày dành cho người ĐTĐ. Khi đi giày, cần phải mang tất chân và thay tất hàng ngày. Chọn tất có màu sáng, làm bằng cotton hoặc sợi tổng hợp mềm, vừa chân. Không sử dụng các loại tất làm bằng chất liệu nilon hoặc tất bó. Trước khi đi giày và tháo giày, cần kiểm tra mặt trong của giày để chắc chắn không có vật gì trong giày có thể làm tổn thương chân.

Tập luyện bàn chân: Cần giữ cho mạch máu ở chân được lưu thông bằng cách đặt chân lên ghế ở tư thế ngang khi ngồi, không bắt chéo chân trong thời gian dài. Tập cử động các ngón chân trong khoảng 5 – 10 phút, vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như: đi bộ, nhảy, bơi lội hoặc đạp xe chậm là những bài tập tốt cho chân, giúp cải thiện lưu thông mạch máu.
Thường xuyên kiểm tra bàn chân: Hàng ngày, nên quan sát kỹ xem có sự thay đổi màu da ở chân hay không; xem các kẽ ngón chân; tìm các vết nứt trên da, các vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên da.

Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường như: Móng chân bị đổi màu, bị rối loạn cảm giác tại bàn chân, hay đau mỏi chân không đi được xa, có nốt sưng phồng, xuất hiện quá nhiều nốt chai chân…, người bệnh cần đi khám lại ngay để có chỉ định điều trị phù hợp, tuyệt đối không tự ý cắt bỏ chai chân.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng ngừa biến chứng bàn chân do đái tháo đường

Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường là biến chứng bàn chân. Đây cũng là một trong những biến chứng nghiêm trọng, điều trị khó khăn, có thể khiến bệnh nhân thường phải cắt cụt chi dưới. Tuy nhiên, nếu được điều trị và chăm sóc tốt, người bệnh sẽ tránh được biến chứng nguy hiểm này.

Đái tháo đường gây bệnh ở bàn chân

Hàng ngày, bàn chân phải chịu một khối lượng lớn trọng lực của toàn bộ cơ thể nên rất dễ tổn thương. Ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó, nguy cơ cắt cụt chi là rất cao.

Tổn thương hay gặp ở bàn chân bao gồm:

Khô da: Ở bệnh ĐTĐ, dinh dưỡng nuôi da kém, do tổn thương thần kinh, thay đổi chuyển hóa khiến da trở nên thô ráp nứt nẻ, hay bị bong vảy.

phong-ngua-bien-chung-ban-chan-do-dai-thao-duong

Nhiễm nấm: Các bệnh nấm có thể gặp là nấm móng, nấm gót chân. Biểu hiện: Móng chân, thường là ngón cái, bị đổi màu, bề mặt móng kém sáng bóng, dày và dễ mủn. Rìa móng xuất hiện các đám tổn thương là các sùi có màu trắng hoặc vàng, đôi khi có mủ.

Viêm dây thần kinh: Bệnh ĐTĐ làm tổn thương lớp màng bọc nuôi dưỡng dây thần kinh ngoại vi đi đến chân gây viêm dây thần kinh. Người bệnh có biểu hiện tê bì, da khô nứt nẻ, có cảm giác lạnh ở bàn chân.

Loét bàn chân: Đường huyết cao làm chậm sự liền vết thương, gây tổn thương mạch máu. Vết thương ở bàn chân dễ dàng “ăn” sâu đến xương, lộ gân có nguy cơ hỏng gân, hoại tử xương, phải cắt cụt chi.

phong-ngua-bien-chung-ban-chan-do-dai-thao-duong-1

Cách chăm sóc bàn chân để phòng ngừa biến chứng

Giữ sạch chân: Hằng ngày, cần rửa sạch bàn chân nhẹ nhàng với nước ấm và xà phòng trung tính, chú ý rửa sạch kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân và các kẽ ngón chân. Nếu da chân khô, có thể dùng kem dưỡng da bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ ẩm cho da, không bôi kem vào kẽ ngón chân.

Cắt móng chân: Thường xuyên cắt móng chân. Nên cắt móng chân theo đường thẳng hoặc theo đường vòng của ngón, không cắt móng quá sát và không cắt sâu vào các góc móng.

Bảo vệ bàn chân: Không được đi chân trần, ngay cả khi đi trong nhà, bởi vì chân có thể bị tổn thương do va đập mà người bệnh không cảm nhận được. Nên đi giày đế bằng, chất liệu mềm, vừa chân. Không đi giày cao gót hoặc các loại giày bó lấy bàn chân và gót chân. Nếu có điều kiện, nên đi giày dành cho người ĐTĐ. Khi đi giày, cần phải mang tất chân và thay tất hàng ngày. Chọn tất có màu sáng, làm bằng cotton hoặc sợi tổng hợp mềm, vừa chân. Không sử dụng các loại tất làm bằng chất liệu nilon hoặc tất bó. Trước khi đi giày và tháo giày, cần kiểm tra mặt trong của giày để chắc chắn không có vật gì trong giày có thể làm tổn thương chân.

Tập luyện bàn chân: Cần giữ cho mạch máu ở chân được lưu thông bằng cách đặt chân lên ghế ở tư thế ngang khi ngồi, không bắt chéo chân trong thời gian dài. Tập cử động các ngón chân trong khoảng 5 – 10 phút, vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như: đi bộ, nhảy, bơi lội hoặc đạp xe chậm là những bài tập tốt cho chân, giúp cải thiện lưu thông mạch máu.

Thường xuyên kiểm tra bàn chân: Hàng ngày, nên quan sát kỹ xem có sự thay đổi màu da ở chân hay không; xem các kẽ ngón chân; tìm các vết nứt trên da, các vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên da.

phong-ngua-bien-chung-ban-chan-do-dai-thao-duong-2

Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường như: Móng chân bị đổi màu, bị rối loạn cảm giác tại bàn chân, hay đau mỏi chân không đi được xa, có nốt sưng phồng, xuất hiện quá nhiều nốt chai chân…, người bệnh cần đi khám lại ngay để có chỉ định điều trị phù hợp, tuyệt đối không tự ý cắt bỏ chai chân.

Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

Theo báo công an

Suy thận kéo dài có thể gây tử vong

Quá trình suy thận diễn biến kéo dài, âm ỉ với những triệu chứng mơ hồ ở giai đoạn đầu như sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần… Chính vì thế, bệnh rất khó chẩn đoán sớm nếu không thực hiện những xét nghiệm cụ thể về máu và nước tiểu. Theo PGS.TS – Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Nguyên Khôi – Nguyên Trưởng Trung tâm thận nhân tạo (Bệnh viện Bạch Mai), bệnh nhân suy thận, rất dễ bị chẩn đoán sai, 67% vào viện phải lọc máu ngay vì nhiều biến chứng nguy hiểm.

Một người bị suy thận nếu không được phát hiện sớm và điều trị bảo tồn thì chỉ 4 năm sau có thể tử vong. Thực tế đáng buồn là ở nước ta hiện nay, cứ 10 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối thì đến 9 người tử vong vì không được lọc máu. Nguyên nhân là do số lượng bệnh nhân quá lớn, nhưng chưa đủ điều kiện kinh tế, kỹ thuật và nhân lực để có thể tiến hành lọc máu cho tất cả bệnh nhân. Trong khi đó, nếu được phát hiện và điều trị bảo tồn từ giai đoạn đầu thì có thể kéo dài thời gian bệnh nhân không cần chạy thận tới vài chục năm. Các biện pháp điều trị bảo tồn được áp dụng bao gồm chế độ ăn uống, điều trị các bệnh nguy cơ có thể làm suy thận nặng thêm như đái tháo đường, tăng huyết áp, các bệnh thận bẩm sinh… Do đó, phát hiện sớm suy thận có ý nghĩa lớn trong việc phòng ngừa bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn, bảo vệ, cải thiện chức năng thận, chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu chạy thận.

Hình minh hoa

Hình minh hoa

Để làm chậm tiến triển của suy thận mạn tính, người bệnh cần có chế độ ăn hạn chế đạm, ít muối, ngăn chặn hoặc kiểm soát các yếu tố thúc đẩy tiến triển bệnh như thuốc lá, các bệnh lý đái tháo đường, tăng huyết áp… Đồng thời, hiện nay, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên để giúp bảo tồn chức năng thận, giảm nhu cầu chạy thận, hiệu quả bền vững, tiết kiệm chi phí, không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài, tiêu biểu trong số đó là thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Sản phẩm có thành phần chính là cây dành dành có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với các dược liệu quý khác như: đan sâm, hoàng kỳ, trầm hương, râu mèo, mã đề, linh chi đỏ,… nên giúp thận tăng khả năng đào thải các chất độc ứ đọng ra ngoài cơ thể, hỗ trợ kiểm soát triệu chứng và biến chứng của suy thận, làm chậm tiến trình suy thận, từ đó ngăn chặn nguy cơ tử vong do suy thận mạn.

Để hỗ trợ điều trị và giảm nguy cơ tử vong do suy thận, bên cạnh việc duy trì sử dụng Ích Thận Vương, những đối tượng có nguy cao như người cao tuổi, tiền sử gia đình bị bệnh thận mạn tính, béo phì, bị bệnh lý cầu thận, tăng huyết áp, đái tháo đường… cần được thường xuyên kiểm tra để phát hiện và điều trị sớm nguy cơ bị suy thận.

Theo gia đình

Quan điểm mới trong chẩn đoán và điều trị đái tháo đường thai kỳ

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là bệnh đái tháo đường được phát hiện lúc mang thai, gồm cả bệnh có sẵn trước đó nhưng chưa được phát hiện. Đây là một tình trạng bệnh lý do bất dung nạp đường huyết.

Thống kê cho thấy tỉ lệ ĐTĐTK thay đổi tùy theo châu lục (châu Á cao hơn châu Âu, châu Mỹ), quốc gia, sắc tộc (da trắng ít hơn da màu). Tần suất mắc bệnh dao động từ 1 – 14% số thai phụ. Dưới góc độ khoa học, trong bốn nhóm thuốc điều trị đái tháo đường, insulin chính là thuốc tốt nhất, hợp sinh lý nhất. Gần đây, các nhà bào chế còn tiến thêm một bước sản xuất được insulin analog, với chức năng vượt trội hẳn insulin thông thường.

Trong khẩu phần ăn của thai phụ bị đái tháo đường nên giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ

anh-huong-tieu-duong-khi-mang-thai

Ảnh hưởng của ĐTĐTK bao gồm:

Ảnh hưởng lên mẹ: tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật, đa ối, tỉ lệ mổ lấy thai cao, dễ băng huyết sau sinh.

Ảnh hưởng lên thai nhi: gia tăng tỉ lệ dị dạng thai, suy hô hấp, thai to nhưng khả năng đề kháng kém, dễ sang chấn trong lúc chuyển dạ sinh do kẹt vai, rối loạn chuyển hóa đường huyết, rối loạn chuyển hóa canxi huyết và tăng tỉ lệ bệnh suất và tử suất chu sinh.

Xảy ra như thế nào?

Người mẹ khi có thai thì nồng độ estrogen và progesterone cao, đặc biệt trong tam cá nguyệt đầu và ở giai đoạn đầu tam cá nguyệt giữa, do vậy kích thích làm tăng sinh tế bào beta tụy làm tăng tiết insulin, kéo theo tăng khả năng dự trữ glycogen ở mô, giảm tạo glycose ở gan, tăng sử dụng glucose ở ngoại vi, dẫn đến đường huyết trong cơ thể tương đối ổn định. Do đó ở thời điểm ban đầu, khi chúng ta tầm soát đường huyết cao trên phụ nữ không có bị đái tháo đường thì kết quả sẽ âm tính và dễ bỏ sót nếu chúng ta không tiếp tục tầm soát và theo dõi nữa ở giai đoạn sau của thai kỳ.

Tiếp theo giai đoạn sau của tam cá nguyệt giữa và tam cá nguyệt cuối, do có sự tăng tiết các nội tiết tố tăng trưởng từ nhau, theo các nhà nghiên cứu thì chính các nội tiết tố này có liên quan đến tình trạng đề kháng insulin. Nếu lượng insulin tiết ra không đủ sẽ dẫn đến rối loạn dung nạp đường. Tình trạng này diễn tiến càng nặng khi thai càng lớn, từ đó gây ra biến chứng cho mẹ và thai nhi. Đặc biệt là những bà mẹ có các yếu tố nguy cơ thì dễ bị ĐTĐTK. Những bà mẹ có yếu tố nguy cơ: tuổi trên 35, thể trạng béo phì, tiền căn cha mẹ có bị đái tháo đường, tăng huyết áp, bản thân bị đái tháo đường, tiền căn sinh non, con to, tiền căn sảy thai, thai chết lưu mà không tìm được nguyên nhân…

Chẩn đoán

Hiện nay trên thế giới, có xu hướng tiêu chuẩn hóa toàn cầu về chẩn đoán ĐTĐTK, bằng cách sử dụng test 75g đường để chẩn đoán ĐTĐTK cho tất cả các bà mẹ mang thai, có tuổi thai 24 – 32 tuần. Nhiều quốc gia đồng thuận sử dụng ngưỡng giá trị theo tiêu chuẩn này. Test dương tính khi các giá trị có một trong các chỉ số cao hơn bình thường: đường huyết lúc đói: 5,1mmol/l, đường huyết sau khi ăn 75g đường: 10,0mmol/l và sau 2 giờ 8,5mmol/l.

Bà mẹ mang thai, ở tuổi thai 32 tuần trở đi, ở thời điểm này thông thường tình trạng rối loạn dung nạp đường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, trên mẹ và thai nhi, nên việc sử dụng xét nghiệm dung nạp đường để chẩn đoán không còn ý nghĩa.

Riêng đối với nhóm bà mẹ mang thai có yếu tố nguy cơ cao, cần thiết thực hiện xét nghiệm tầm soát sớm ngay ở tuổi thai 16 – 18 tuần, nếu kết quả âm tính, lặp lại xét nghiệm, vào tuổi thai 24 – 32 tuần, lý tưởng nhất là tuổi thai 28 tuần. Một số tác giả đề nghị, ở tuổi thai trước 24 tuần nên làm xét HbA1C (Hemoglobin A1c; HbA1c; Glycohemoglobin; Glycated hemoglobin; Glycosylated hemoglobin).

Những bà mẹ có tiền căn đái tháo đường, hoặc có yếu tố nguy cơ cần thực hiện tốt và duy trì thường xuyên chế độ dinh dưỡng và luyện tập. Luôn luôn giữ cho đường huyết ổn định và thông tin cho bác sĩ sớm về tình trạng sức khỏe bản thân để có kế hoạch phòng ngừa tốt.

Điều trị

Chăm sóc ở bà mẹ bị ĐTĐTK cần nhiều chuyên khoa: phụ sản, nội tiết, dinh dưỡng và nhi khoa.

Trong lúc mang thai: nguyên tắc chung của điều trị là điều chỉnh chế độ ăn sao cho đường huyết ở mức 5,7 – 6,1mmol/l. Các bà mẹ cần có một chế độ dinh dưỡng, vận động, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Năng lượng nhu cầu hàng ngày trung bình 1.800 – 2.500 calo, trong khẩu phần ăn giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ. Các bữa ăn cần được chia làm nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ăn no quá hay để đói quá. Khi thực hiện đúng theo nguyên tắc trên mà đường huyết ổn định thì không cần phải dùng thuốc, chỉ cần thực hiện đúng chế độ và thử đường huyết mỗi tuần 1 lần. Trường hợp đường huyết vẫn cao, phải điều trị bằng insulin có tác dụng kéo dài và theo dõi đường huyết mỗi ngày vào buổi sang lúc nhịn đói.

Về phía thai: bà mẹ được chăm sóc khám thai mỗi 2 tuần một lần, cân nặng, đo huyết áp và xét nghiệm chức năng gan, chức năng thận, phát hiện những bất thường khác để điều trị kịp thời, đánh giá sức khỏe thai bằng siêu âm Doppler, siêu âm 4 chiều, đo monitoring sản khoa, khi tuổi thai từ 36 tuần trở đi.

Trong lúc chuyển dạ: nếu đường huyết mẹ ổn định, sẽ cho chuyển dạ tự nhiên theo ngả sinh âm đạo, trừ những trường hợp có chỉ định mổ lấy thai. Trong lúc chuyển dạ sinh, cần theo dõi đường huyết mỗi 2 giờ/lần. Điều trị bằng insulin khi đường huyết tăng trên 6,8mmol/l.

Sau sinh: mẹ và bé cần được theo dõi đường huyết, vì có thể có nguy cơ hạ đường huyết. Cần có chế độ dinh dưỡng theo đúng nguyên tắc. Tiếp tục tầm soát bệnh lý ĐTĐTK sau tuần lễ thứ 6 trở đi, bằng cách tương tự sử dụng trắc nghiệm dung nạp đường 75g đường trong 2 giờ. Để có hướng điều trị tiếp.

Phòng ngừa

Bệnh lý ĐTĐTK chiếm tỉ lệ lớn trong nhóm bệnh gây ảnh hưởng lớn đến mẹ và thai nhi, tác hại không chỉ ở bản thân người mẹ mà gây hậu quả không nhỏ đến sự phát triển tâm thần và thể chất cho trẻ sau này lớn lên. Vì vậy, các biện phòng ngừa hiện nay là một chương trình cấp thiết và có tầm quan trọng cho tất cả các phụ nữ có kế hoạch có em bé, đặc biệt là những phụ nữ ở nhóm nguy cơ. Sự cần thiết phòng ngừa nhằm không mắc bệnh đái tháo đường hoặc hạn chế tối đa bệnh lý ĐTĐTK nhằm không gây hậu quả cho mẹ và thai nhi: những chất dinh dưỡng có tác dụng chống lại cơ chế sinh bệnh hoặc các rối loạn đi kèm với đái tháo đường giúp kiểm soát tốt bệnh đái tháo đường, bao gồm chất xơ, có tác dụng làm chậm hấp thu glucose từ ruột, nên chống lại sự tăng của đường huyết sau ăn, chất xơ có nhiều trong rau xanh, trái cây không ngọt và đậu khô. Chất acid béo, có trong các loài cá biển như cá thu, cá hồi, cá cơm và cá ngừ, có tác dụng bảo vệ hệ thống tuần hoàn, bởi chất Eicosapentaenoie acid. Ngoài ra acid béo khác như Alpha Lipoic Acid (ALA), có tác dụng tăng cường sử dụng glucose và cải thiện kiểm soát đường huyết, ALA có nhiều trong bông cải xanh, trong giá đậu và đậu Hà Lan. Các loại vitamin như: E, C, nhóm B và các loại muối khoáng như: kẽm, magie, có tác dụng rất tốt, cải thiện sức khỏe, tăng cường khả năng miễn dịch, tăng cường tiêu thụ glucose giúp cho đường huyết không tăng, kiểm soát tốt đường huyết.

Việc rèn luyện thân thể, thể dục thể thao giúp cho cơ thể săn chắc, tránh béo phì, tăng cường sức khỏe,  tăng sự tiêu thụ năng lượng, tạo nên đường huyết không tăng, giảm được yếu tố nguy cơ.

(Theo suckhoedoisong.vn)

Di chứng đột quỵ não

Theo thống kê, có khoảng 20% bệnh nhân ĐQN tử vong trong vòng 1 tháng, 5-10% trong vòng 1 năm; 20-30% có thể tự đi lại; 20-25% cần sự hỗ trợ của người khác; 15-25% bị liệt và phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Quá trình hồi phục di chứng liệt thường kéo dài và nếu không sớm cải thiện sẽ dẫn đến những hậu quả như teo cơ, cứng khớp, viêm phổi, loét do nằm lâu,… ảnh hưởng nghiêm trọng tới tâm lý, sinh hoạt của người bệnh cũng như là gánh nặng cho gia đình và xã hội.

di-chung-dot-quy-nao

Thời gian tập luyện để phục hồi tốt nhất là trong năm đầu tiên. Bệnh nhân nên được luyện tập dần từng động tác, từ đơn giản đến phức tạp, kết hợp chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Trong điều trị và cải thiện di chứng sau ĐQN, bên cạnh các biện pháp như dùng thuốc, tập vật lý trị liệu,… thì hiện nay, nhiều người đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, an toàn là thực phẩm chức năng Nattospes – một trong những sản phẩm được chú ý nhất. Với thành phần chính là enzym nattokinase được chiết xuất từ đậu tương lên men có tác dụng phòng ngừa và phá cục máu đông – tác nhân cơ bản gây ĐQN, Nattospes giúp tăng cường lưu thông máu tới não, hỗ trợ điều trị, phòng tái phát và cải thiện di chứng do ĐQN, trong đó có di chứng liệt.

Để ngăn chặn nguy cơ bị liệt do ĐQN, bệnh nhân có thể uống Nattospes thường xuyên, kết hợp với chế độ sinh hoạt hợp lý và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường,…

Theo gia đình

Đái tháo đường và bệnh mắt

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây tổn thương rất nhiều cơ quan nội tạng, đặc biệt khi gây tổn thương ở mắt, bệnh nhân (BN) có thể bị mù lòa nếu không được phát hiện và điều trị sớm. Ba bệnh lý hay gặp ở mắt do bệnh ĐTĐ gồm: rối loạn nhìn gần, đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc (VM) ĐTĐ. Treong ba bệnh lý này thì bệnh lý võng mạc ĐTĐ nguy hiểm nhất. Nhưng nếu được phát hiện và điều trị sớm, BN sẽ tránh khỏi mù lòa. Vì vậy, cách tốt nhất để phòng ngừa mù lòa trên BN ĐTĐ là nên đi khám mắt định kỳ.

dai-thao-duong-va-cac-benh-ve-mat

Ai sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh VM ĐTĐ

Tất cả những BN bị ĐTĐ đều có nguy cơ bị bệnh VM ĐTĐ. Những BN sau sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh VM ĐTĐ: thời gian bị ĐTĐ kéo dài, đường trong máu cao, ĐTĐ đi kèm với cao huyết áp đặc biệt có kèm biến chứng thận, ĐTĐ và thai kì.

Giải phẫu mắt bình thường

Mắt của người có hình dạng và kích thước giống như một trái banh, hơi lồi ra trước. Phía trước là đồng tử (con ngươi), sau con ngươi là thể thủy tinh, giống như là một kính phóng đại. Bên trong mắt chứa một chất giống như lòng trắng trứng gà được gọi là dịch kính. Bao bọc dịch kính là một lớp tế bào thần kinh được gọi là VM.

Mắt giống như một máy chụp hình. Ánh sáng đi qua đồng tử, thể thủy tinh và cuối cùng hội tụ trên VM. VM giống như phim ảnh, có nhiệm vụ thu nhận các hình ảnh hội tụ trên VM và truyền lên não, vì vậy, khi VM bị tổn thương thì ta không nhận biết được hình ảnh.

Trung tâm VM được gọi là điểm vàng là phần quan trọng nhất của thị giác. Vùng này sẽ nhận biết được tất cả hình ảnh ngay trước mắt. VM xung quanh điểm vàng chịu trách nhiệm cho thị giác ngoại biên.

Bệnh lý VM ĐTĐ

ĐTĐ làm cho những mạch máu rất nhỏ trên VM bị hủy hoại. Tổn thương của VM có hai giai đoạn:

Giai đoạn sớm hay còn gọi là giai đoạn không tăng sinh. Giai đoạn này BN thường có rối loạn thị giác. Trong giai đoạn này, những mạch máu nhỏ bị suy yếu, tạo thành những túi phình mạch nhỏ. Máu và những thành phần trong máu như nuớc, các chất mỡ sẽ thoát ra khỏi mạch máu và đi vào VM gây xuất huyết, xuất tiết và phù VM. Nếu như các chất xuất huyết này xảy ra tại điểm vàng, BN sẽ bị giảm thị lực. Nếu BN được phát hiện sớm trong giai đoạn này thì có thể ngăn ngừa được mất thị lực.

Giai đoạn muộn hay còn gọi là giai đoạn tăng sinh. Trong giai đoạn này, những mạch máu nhỏ bị tắc nghẽn dẫn dến sự cung cấp máu cho VM bị thiếu. Để bù đắp cho tình trạng thiếu cung cấp máu này, rất nhiều mạch máu mới được phát triển. Những mách máu mới này rất giòn và dễ vỡ. Khi những mạch máu này vỡ sẽ gây chảy máu trong mắt, vì vậy BN bất ngờ bị giảm thị lực. Nếu máu ít, BN sẽ có cảm giác như một đám mây mù trước mắt. Nếu như chảy máu nhiều, BN sẽ không nhìn thấy gì hết. Máu ở trong mắt phải mất một thời gian dài từ vài tuần đến vài tháng để tan hết, phụ thuộc vào số lượng máu chảy nhiều hay ít. Chảy máu nhiều sẽ dẫn dến sự hình thành các mô sợi trên VM. Các mô sợi co kéo và gây bong VM mà nếu không được điều trị sẽ gây mù lòa.

Các biện pháp phòng ngừa mù lòa do bệnh ĐTĐ

Nên giữ lượng đường trong máu ở mức độ cho phép.

Khám mắt định kì. Nên đi khám mắt định kỳ tại các trung tâm mắt hoặc các bác sĩ chuyên khoa ĐTĐ. Đừng chờ đợi cho đến khi có các triệu chứng ở mắt mới đi khám mắt. Bệnh lý VM ĐTĐ tiến triển rất yên lặng trước khi bạn ghi nhận có hiện tượng giảm thị lực. Càng bắt đầu điều trị sớm càng có nhiều cơ hội phòng ngừa mù lòa. Bao lâu nên đi khám mắt?

dai-thao-duong-va-cac-benh-ve-mat-1 - Copy

BN duới 30 tuổi bị ĐTĐ đang được điều trị với insulin nên đi khám mắt ít nhất là sau 5 năm kể từ khi bắt đầu phát hiện bị ĐTĐ. Sau đó khám định kì 2 năm một lần.

BN trên 30 tuổi nên khám mắt ngay khi được phát hiện ĐTĐ.

BN có cao huyết áp và bệnh thận nên khám thường xuyên hơn. Phụ nữ có thai và bị ĐTĐ nên đi khám mắt. Trong thời gian giữa hai lần khám định kì nếu có bất kì những triệu chứng nào ở mắt phải đi khám ngay, không nên chờ đợi đúng ngày hẹn. Khi BN đã thực sự có bệnh lý VM ĐTĐ rồi thì thời gian khám mắt sẽ phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh.

Làm thế nào để chẩn đoán được bệnh VM ĐTĐ?

Đến khám tại trung tâm mắt. Kiểm tra VM với đèn soi đáy mắt. Các bác sĩ nhãn khoa với những đèn soi đáy mắt chuyên biệt sẽ kiểm tra VM để phát hiện những tổn thương ở giai đoạn sớm.

Chụp hình màu VM cũng là một phương pháp để phát hiện sớm tổn thương trên VM. Chụp hình VM có tiêm thuốc cản quang giúp trong chẩn đoán và quyết định xem BN có cần điều trị laser hay không?

Phương pháp điều trị bệnh lý VM ĐTĐ

Laser là phương pháp đầu tiên để điều trị bệnh lý VM ĐTĐ. Laser không giúp lấy lại được thị lực tốt cho BN nhưng laser có tác dụng ngăn ngừa bệnh tiến triển. Điều trị bằng laser có thể được thực hiện vài lần, mỗi lần kéo dài khoảng 15 phút. Đầu tiên nhỏ thuốc giãn đồng tử để bác sĩ có thể quan sát rõ VM. Sau đó, nhỏ thuốc tê vào mắt để giúp bác sĩ dễ dàng đặt một vài loại kính đặc biệt lên mắt, sau khi điều trị kính sẽ được lấy ra. Bạn sẽ ngồi trước một kính hiển vi đặc biệt và bác sĩ sẽ bắt đầu điều trị. Thỉnh thoảng có một vài BN không thể ngồi yên để điều trị, khi đó bác sĩ sẽ phải tiêm thuốc tê. Trong những trường hợp bệnh lý VM ĐTĐ nặng có biến chứng bong VM, xuất huyết trong mắt thì khi đó phải can thiệp bằng phẫu thuật. Tiên luợng trong những trường hợp này rất xấu.

BS. Đoàn Hồng Dung

Theo SKDS

Đậu bắp trị đái tháo đường

Gần đây, trên các trang web có nhiều bài “ca tụng” đậu bắp như một “khắc tinh” của bệnh đái tháo  đường. Có thật như vậy không?

Đậu bắp còn có tên là Mướp tây, bắp chà.

Tên khoa học là Hibiscus esculentus, họ Bông.

Quả đậu bắp có hình dạng tương tự như quả mướp nên gọi là mướp tây. Hạt trắng như hạt bắp (ngô) nên gọi là bắp chà. Cây giống đậu nhưng hạt giống bắp nên gọi là đậu bắp.

100g quả đậu bắp có 660 UI vitamin A (13% nhu cầu hàng ngày), 0,2mg vitamin B1 (10%), vitamin C 21mg (35%), canxi 81mg(l0%), folacin 88mcg (44%), magiê 57mg (16%), thiamin 0,2mg (13%), ngoài ra còn có kali và mangan.

Khi đun nóng lâu, chất nhầy làm cho nước canh đặc hơn. Nếu không thích nhầy thì chỉ đun nóng trong chốc lát.

Thanh nhiệt giải khát: lao động dưới trời nắng gắt, mồ hôi ra nhiều nên khát nước và dễ bị cảm nắng. Đậu bắp thanh nhiệt và sinh tân dịch, vì vậy, dùng đậu bắp nấu vừa ăn vừa uống nước nấu đó rất thích hợp.

dau-bap-dieu-tri-dai-thao-duong

Táo bón: đậu bắp rất dồi dào chất xơ, cả chất xơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. 1/2 chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 2g chất xơ, đậu bắp còn tươi nguyên cung cấp nhiều hơn, 1 chén khoảng 3,2g, và chất nhầy. Chất nhầy rất tốt đối với việc làm mềm phân, chất xơ kích thích nhu động ruột… cho nên nhuận tràng. Do chứa hàm lượng nước cao, đậu bắp còn giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi. Ngoài ra, đậu bắp giúp đi cầu tự nhiên, không gây đau bụng như các thuốc trị táo bón khác, vì vậy, những người thường bị táo bón, nên dùng đậu bắp nấu lấy nước uống và ăn cả quả đậu bắp luộc.

Hỗ trợ tiêu hóa: khi vào hệ tiêu hóa đậu bắp sẽ chất nhầy và chất xơ của đậu bắp trở thành môi trường tốt cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh với sữa chua (yaourt), giúp tổng hợp các vitamin nhóm B.

Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời làm dịu những cơn đau thắt trong ruột.

Hỗ trợ giảm thân trọng: đậu bắp sinh ít nhiệt lượng – calori (khoảng 25 calo với 1/2 chén đậu bắp nấu chín), vì vậy đậu bắp là thức ăn lý tưởng cho những người đang muốn giảm cân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới vào máu,  chất nhầy của đậu bắp khóa hoạt tính của  cholesterol nên chất béo không vào máu; cơ thể không được tiếp tế nên sử dụng mỡ tồn đọng và tiêu mỡ khiến cho thân trọng giảm. Đa số người mập phì bị táo bón, vì vậy ăn đậu bắp vừa giảm cholesterol vừa chống táo bón, đúng là món ăn – vị thuốc.

Bệnh tim mạch: chất nhầy của đậu bắp ngoại hấp cholesterol của thực phẩm và của muối mật. Nó giữ cholesterol lại trong ruột, giúp cơ thể tái hấp thu nước, hấp thu những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu rồi bài thải theo phân ra ngoài, do đó giảm được cholesterol huyết. Những người cholesterol huyết cao, cao huyết áp, đau thắt ngực và các bệnh tim mạch khác nên ăn đậu bắp, vừa giảm cholesterol lại thông tiểu, rất thuận lợi cho bệnh cao huyết áp.

Tuy nhiên, nên lưu ý là không ăn đậu bắp cùng lúc với uống thuốc, hãy uống thuốc trước bữa ăn 1 giờ hoặc sau 2 giờ.

Hỗ trợ thai phụ: đậu bắp chứa nhiều acid folic. 1/2 chén đậu bắp nấu chín tương đương với 36,5mg acid folic. Một chén đậu bắp sống chứa đến 87,8mg acid folic. Đây là chất dinh dưỡng cần thiết cho nhiều chức năng của cơ thể, đặc biệt đối với những phụ nữ mang thai, acid folic rất quan trọng vì giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi.

Gần đây, những thí nghiệm tại khoa Y học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM, cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Với liều 10g – 40g/kg thể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Liều có tác dụng hạ đường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng. Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạ đường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút. Sau 90 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứng không điều trị. Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằng insulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơ gây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường…

Một số nghiên cứu cũng cho thấy chất xơ hòa tan có tác dụng tốt trong ổn định đường huyết. Chất nhầy trong đậu bắp tiết ra thông qua những mặt cắt ngang, dọc thân trái và dễ hoà tan vào môi trường nước, kể cả nước ở nhiệt độ thường. Qua nhiều giờ ngâm, chất nhầy hòa tan vào nước biểu thị rõ bằng độ sánh trong nước tăng lên. Lượng chất nhầy trong trái non cao hơn nhiều so với thân hay lá.

Chúng tôi cũng nhận thấy có người ăn nhiều đậu bắp hàng ngày hoặc dùng thân, lá hoặc quả đậu bắp phơi khô rồi phối hợp với một số thảo dược như mướp đắng, lá ổi, lá sakê… sắc uống để trị đái tháo đường. Có khi thấy có kết quả nhưng không biết là do đậu bắp hay là do các vị thuốc dùng chung. Khi theo dõi thấy có người có tác dụng ổn định đường huyết rất tốt, số khác lại không; có lẽ do cơ địa không thích hợp chăng? Chưa có nghiên cứu khoa học nào kết luận hiệu quả điều trị của những trường hợp này, nhưng có điều cần lưu ý là cần theo dõi lượng đường huyết hàng ngày và cần có sự tư vấn của các thầy thuốc chuyên môn cho từng cơ địa mỗi người để có được hiệu quả thích hợp nhất.

Ngoài quả, cành non, thân, lá và rễ của đậu bắp cũng có thể dùng làm thuốc:

Giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan: dùng cành non của đậu bắp luộc ăn.

Chữa ho, viêm họng: rễ và lá thái mỏng phơi khô ngày uống 10 – 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Ngoài ra, còn dùng súc miệng.

Sốt cao, viêm đường tiểu, viêm họng: dùng lá, thân (hoặc thêm rễ) 40g, nấu lấy nước uống.

Để có được những lợi ích tốt từ đậu bắp, các nhà dinh dưỡng lưu ý:

Khi mua đậu bắp tươi, nên chọn quả không quá mềm, không có vết thâm bên ngoài vỏ, và không dài quá 8cm. Khi chế biến, nên nấu chín ở nhiệt độ thấp, vừa phải, không nấu, nướng đậu bắp ở nhiệt độ cao, tốt nhất là hấp chín.

Lương y HOÀNG DUY TÂN

Theo báo công an

Bài thuốc trị đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường, Ðông y gọi là chứng “tiêu khát”. Có nhiều nguyên nhân và đều gây uất nhiệt hóa hỏa, làm phần âm của các tạng phủ (phế, vị, thận…) bị hao tổn. Hỏa làm phế âm hư gây nên khát; gây vị âm hư làm đói nhiều mà người gầy; làm thận âm hư không tàng trữ được tinh hoa của ngũ cốc, không chủ được thủy, làm thủy dịch bị bài tiết ra ngoài nhiều, gây đái nhiều và nước tiểu có đường.
Cách điều trị chủ yếu là phối hợp giữa chế độ ăn, vận động và thuốc. Trong Đông y, tùy bệnh ở tam tiêu hay thượng tiêu, trung tiêu mà dùng bài thuốc thích hợp.

bai-thuoc-tri-dai-thao-duong

Chứng đái tháo đường do thượng tiêu: Người bệnh khát nhiều, thích uống nước, họng ráo, miệng khô, đi tiểu nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều; rêu lưỡi vàng mỏng; mạch hồng sác. Dùng một trong các bài:

Bài 1. Thiên hoa phấn thang: thiên hoa phấn 36g, sinh địa 24g, mạch môn bỏ lõi 24g, đạo mễ 16g, cam thảo 8g, ngũ vị tử 8g. Sắc các vị thuốc lấy 600ml, bỏ bã, cho đạo mễ vào nấu chín, lọc bỏ bã. Chia làm 4 lần: ngày uống 3 lần, tối uống 1 lần.

Bài 2. Nhị đông thang: thiên môn (bỏ lõi) 16g, mạch đông (bỏ lõi) 24g, tri mẫu 8g, nhân sâm 4g, thiên hoa phấn 8g, hoàng cầm 8g, cam thảo 4g, lá sen 8g. Sắc uống trong ngày.

Chứng đái đường do trung tiêu: Người bệnh ăn nhiều, chóng đói, cồn ruột, người gầy sút nhanh; rêu lưỡi vàng khô; mạch hoạt có lực. Dùng một trong các bài:

Bài 1. Tang dịch thang: huyền sâm 32g, sinh địa 32g, mạch môn (bỏ lõi) 32g, thiên hoa phấn 32g, hoàng liên 10g. Sắc lấy 300ml nước thuốc, chia 4 lần (ngày uống 3 lần, tối uống 1 lần).

Bài 2. Điều vị thừa khí thang: đại hoàng (bỏ vỏ tẩm rượu sao) 16g, chích thảo 8g, mang tiêu 12g. Sắc kỹ đại hoàng với cam thảo lấy 300ml, bỏ bã, cho mang tiêu vào, đun sôi nhẹ, uống lúc thuốc còn ấm, ngày 3 lần.

Bài 3. Sinh địa bát vật thang: sinh địa 15g, tri mẫu 8g, hoàng cầm 6g, hoàng bá 6g, lá sen 8g, sơn dược 8g, mạch đông (bỏ lõi) 15g, hoàng liên 6g, đơn bì 8g. Sắc uống khi thuốc còn ấm.

bai-thuoc-tri-dai-thao-duong-1

Chứng đái tháo đường do hạ tiêu: Người bệnh đái nhiều, lượng nước nhiều và có đường, mỏi mệt, đau lưng, mỏi khớp, miệng khô, lưỡi ráo, lòng bàn tay bàn chân nóng, lưỡi ít rêu; mạch tế sác, vô lực. Dùng một trong các bài:

Bài 1. Lục vị địa hoàng hoàn: hoài sơn 16g, trạch tả 12g, đan bì 12g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, thục địa 32g. Xay khô, tán bột, luyện mật làm hoàn, viên bằng hạt ngô. Ngày 2 lần, mỗi lần 15 viên, uống với rượu loãng.

Bài 2. Lục vị địa hoàng gia thạch hộc thiên hoa phấn: hoài sơn 16g, trạch tả 12g, đan bì 12g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, thục địa 32g, thiên hoa phấn 12g, thạch hộc 12g. Sắc lấy 400 ml; uống 4 lần (ngày 3 lần, tối 1 lần).

Chứng đái tháo đường lâu ngày: Bệnh lâu ngày với đủ các triệu chứng của tiêu khát kèm theo đau lưng, chân tay lạnh, đại tiện lỏng hoặc ngũ canh tiết tả, sôi bụng, da sạm đen, mắt thâm quầng, mạch hư nhược. Dùng bài Tam nhân lộc nhung thang: sơn thù du 16g, ngưu tất 12g, huyền sâm 12g, địa cốt bì 12g, lộc nhung 12g, mạch môn (bỏ lõi) 16g, thục địa 16g, hoàng kỳ 12g, nhục thung dung 12g, kê nội kim 8g, phá cố chỉ (tẩm muối sao) 8g, nhân sâm 8g, ngũ vị tử  6g. Để riêng lộc nhung; các vị sắc lấy 400ml nước, cho lộc nhung vào đun tan. Uống nóng 4 lần (ngày 3 lần, tối 1 lần). Có thể làm viên hoàn dùng dần.

BS. Tiểu Lan

Theo báo công an

Trầm cảm và đái tháo đường

Trầm cảm là tình trạng rối loạn tâm thần phổ biến nhất có liên quan với đái tháo đường (ĐTĐ). bệnh có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn trong diễn tiến tự nhiên của ĐTĐ. Tuy nhiên, đa số người bệnh không được phát hiện và điều trị trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Tỉ lệ trầm cảm trong ĐTĐ là gấp đôi so với dân số chung, với tỉ lệ gộp là 9% nếu chẩn đoán bằng phỏng vấn, và 26% nếu chẩn đoán bằng cách tự chấm điểm triệu chứng trầm cảm theo thang điểm.

tram-cam-va-dai-thao-duong

Tác hại của trầm cảm trong ĐTĐ

Trầm cảm làm tăng 37% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2.  Ngược lại, ĐTĐ làm tăng 3 lần nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, nhất là ở những người ĐTĐ đã xuất hiện biến chứng.

Nguy cơ tử vong tăng lên gấp 5 lần. Trầm cảm có liên quan với tử vong ngay cả khi bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ hoặc chưa có biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân cao tuổi có bệnh ĐTĐ týp 2 và những người có biến chứng thuộc nhóm có nguy cơ cao.

Khi bị trầm cảm, các gánh nặng liên quan đến ĐTĐ được xem là nghiêm trọng hơn, và sự hài lòng với việc điều trị ĐTĐ là thấp hơn. Bệnh nhân có trầm cảm và ĐTĐ thường ít hoạt động thể lực, tăng xu hướng hút thuốc lá, thói quen ăn uống ít có lợi cho sức khỏe và tuân thủ điều trị ĐTĐ kém. Trầm cảm có liên quan đến cách đánh giá tiêu cực về các liệu pháp insulin ở người chưa từng sử dụng insulin, và điều này có thể gây trì hoãn việc điều trị ĐTĐ, chẳng hạn như chậm khởi đầu điều trị bằng insulin trong ĐTĐ týp 2. Trong một nhóm bệnh nhân được lựa chọn ở bệnh viện cho thấy tình trạng trầm cảm kéo dài hơn, tái phát nhiều hơn và mức độ nặng hơn ở người có bệnh ĐTĐ.

ĐTĐ là một bệnh tốn kém, và đồng mắc bệnh trầm cảm làm tăng thêm chi phí chăm sóc sức khỏe lên 4 lần.

Chẩn đoán trầm cảm ở người ĐTĐ

Việc chẩn đoán và điều trị sớm trầm cảm ở người ĐTĐ là rất quan trọng, tuy nhiên trên 50% trường hợp trầm cảm trong ĐTĐ là không được chẩn đoán. Ba lý do khiến bệnh khó phát hiện, đó là: nếu bệnh ĐTĐ là kiểm soát kém cũng có các triệu chứng tương tư như trầm cảm: mệt mỏi, sụt hoặc tăng cân, thay đổi cảm giác ngon miệng, rối loạn giấc ngủ…; người bệnh không tự nhận ra các dấu hiệu trầm cảm, hoặc có biết cũng ít khi thông báo cho bác sĩ; thầy thuốc thiếu sự quan tâm hoặc do khả năng hạn chế.

Trên thực tế, chỉ có khoảng 1/3 số trường hợp trầm cảm ở người ĐTĐ được chẩn đoán. Vì vậy, khi người thân phát hiện người bệnh có các biểu hiện hoặc hành vi bất thường thì nên sớm thông báo cho thầy thuốc.

Các dạng bệnh tâm thần đồng mắc trong ĐTĐ

Các rối loạn tâm thần khác có thể cùng tồn tại với trầm cảm trong ĐTĐ. Tỉ lệ về các rối loạn lo âu và các vấn đề về ăn uống cũng gia tăng ở bệnh nhân ĐTĐ so với những người khỏe mạnh. Vì những rối loạn này có xu hướng đồng xảy ra với trầm cảm trong dân số chung, nên điều này cũng có thể xảy ra trong bệnh ĐTĐ.

Điều trị người trầm cảm và ĐTĐ

Việc đầu tiên là tìm ra các nguyên nhân thực thể gây ra trầm cảm và loại trừ chúng. Các chiến lược đồng chăm sóc sẽ giúp cải thiện sức khỏe người ĐTĐ và trầm cảm, giúp giảm gánh nặng của bệnh. Dùng thuốc chống trầm cảm, cùng với thay đổi lối sống như tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn… sẽ giúp cải thiện tốt cho cả bệnh trầm cảm và ĐTĐ. Ngoài ra, người trầm cảm cần có sự quan tâm giúp đỡ của người thân trong gia đình và các chuyên gia tâm lý.

Phòng ngừa trầm cảm ở người ĐTĐ

Mỗi bệnh nhân có những hoàn cảnh riêng biệt và ứng xử với bệnh hoàn toàn khác nhau. Do đó, người bệnh ĐTĐ nên sớm chấp nhận rằng mình mắc bệnh ĐTĐ và cần điều chỉnh một số hành vi sống như: bỏ ngay thuốc lá, giữ tinh thần lạc quan, duy trì luyện tập thể lực, tìm hiểu nhiều về bệnh ĐTĐ và việc điều trị bệnh. Tự chịu trách nhiệm chăm sóc cho chính mình. Đặt mục tiêu điều trị, nhưng nên hiểu rằng cần có thời gian đạt được mục tiêu đó để tránh tâm lý bi quan, chán nản, dễ dẫn đến không tuân thủ chế độ điều trị.

Chia sẻ cảm xúc với người thân trong gia đình và bạn bè, giúp họ hiểu về bệnh ĐTĐ và tạo điều kiện cho mình thực hiện chế độ ăn cũng như các chế độ điều trị và luyện tập một cách nghiêm túc.

Tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ khi có bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể, đặc biệt là những tổn thương ở bàn chân để có các biện pháp xử trí kịp thời, tránh nguy cơ cắt cụt chi.

 

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI

Theo báo công an

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường typ 2 có xu hướng gia tăng. Đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng để phát triển. Vậy chúng ta cần phải làm gì để ngăn chặn căn bệnh nguy hiểm này ở trẻ? Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường ở trẻ

– Do yếu tố duy truyền: Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, hoặc do người mẹ mắc bệnh trong khi mang thai.

– Béo phì ở trẻ: Là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh đái tháo đường ở trẻ và nguy hiểm hơn, trẻ béo phì còn có thể mắc bệnh đái tháo đường typ 2 giống như người lớn.

– Thừa dinh dưỡng: Những trẻ ăn nhiều chất béo, nhiều đường dẫn đến thừa năng lượng và glucose máu tăng. Mặt khác, do thiếu vận động nên năng lượng thừa ngày càng nhiều và dẫn đến béo phì, đây cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh đái tháo đường ở trẻ.

Thông thường, người mắc đái tháo đường typ 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.

dai-thao-duong-o-tre-em

Làm gì khi trẻ có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường?

– Lập cho trẻ một kế hoạch tập luyện để trẻ giảm cân khi trẻ bị béo phì.

– Thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu để bảo đảm glucose máu luôn ổn định. Nhằm giúp cho trẻ tránh được bệnh đái tháo đường và có một cuộc sống khoẻ mạnh.

– Trong giai đoạn trẻ đang phát triển cơ thể trẻ cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để cho trẻ tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, cần phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp theo sự chỉ dẫn của bác sĩ.

– Nên cho trẻ ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều chất vitamin, chất sắt, acid folic.

– Không nên cho trẻ ăn những thực phẩm quá mặn, không để trẻ sử dụng nhiều đồ ăn đông lạnh, không cho trẻ em dùng những thức ăn có chứa chất màu tổng hợp và đặc biệt không để trẻ dùng thức uống của người lớn và ăn quá thừa chất dinh dưỡng. Vì như thế sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

Ăn cân bằng, vận động hợp lý

Để hạn chế tốt nhất bệnh đái tháo đường là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Trẻ mắc đái tháo đường nên hạn chế bánh kẹo, sô – cô – la, nước cốt dừa, đặc biệt, không nên dùng nước ngọt có gas. Các bậc cha mẹ nên cho trẻ ăn thành nhiều bữa trong ngày vì nếu ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.

Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.

Hiện nay, trên thị trường đã có rất nhiều sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường nên trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Ngoài ra, nếu trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì và phải dùng theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

BS.Quý Nhân

Theo SKDS

Điều trị biến chứng tim mạch do đái tháo đường gây ra

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây nhiều biến chứng cho tim mạch và thường là những biến chứng nặng nề. Dưới đây là một số phương pháp điều trị các biến chứng tim mạch do đái tháo đường.

Hội chứng động mạch vành cấp

Hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp bao gồm cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên và NMCT có ST chênh lên. Tiên lượng hội chứng ĐMV cấp trên bệnh nhân ĐTĐ thường xấu, do nhiều nhánh ĐMV cũng bị tổn thương và hình thái tổn thương thường phức tạp, khó can thiệp.

Tái lưu thông ĐMV: tái lưu thông ĐMV là điều trị chính đối với bệnh nhân bị hội chứng ĐMV cấp. Có 3 biện pháp tái thông ĐMV là dùng thuốc tiêu sợi huyết, nong ĐMV và phẫu thuật bắc cầu chủ – vành. Trước đây, người ta cho rằng đối với bệnh nhân ĐTĐ, phẫu thuật bắc cầu chủ – vành là biện pháp điều trị chính. Song từ khi có các loại stent phủ thuốc, phối hợp với các thuốc ức chế thụ thể GPIIb/IIIa của tiểu cầu thì nhiều bệnh nhân ĐTĐ bị hội chứng mạch vành cấp đã được cứu sống nhờ các biện pháp điều trị này.

Trước khi có stent và thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa, tỷ lệ tái hẹp sau nong ĐMV trên bệnh nhân ĐTĐ lên tới 47 – 71%. Nhưng khi kết hợp đặt stent phủ thuốc cùng với các thuốc ức chế thụ thể IIb/IIIa và các thuốc chống gây kết tập tiểu cầu khác thì tỷ lệ tái hẹp chỉ còn 8,1% ở bệnh nhân ĐTĐ được can thiệp ĐMV.

dieu-tri-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Suy tim

ĐTĐ là yếu tố nguy cơ độc lập của suy tim. Hai nguyên nhân góp phần gia tăng suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ là vấn đề NMCT trong bệnh ĐMV mạn và tình trạng tái cấu trúc thất sau NMCT. Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có tần suất suy tim cao hơn hẳn bệnh nhân không ĐTĐ. Việc kiểm soát tốt đường huyết và chỉ số huyết áp sẽ giúp giảm nguy cơ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ.

Các thuốc sử dụng nhằm phòng ngừa hoặc điều trị suy tim do ĐTĐ thường được sử dụng là: thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, chất đối kháng aldosteron, thuốc chẹn beta giao cảm…

Loạn nhịp tim

Nhiều loại rối loạn nhịp có thể gặp ở bệnh nhân ĐTĐ như: ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, rung nhĩ, bloc nhĩ – thất… Tần suất rung nhĩ trên bệnh nhân ĐTĐ chỉ đứng sau suy tim và tăng huyết áp trong khởi phát rung nhĩ. ĐTĐ cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ. Tần suất đột quỵ do tình trạng huyết khối gia tăng vì vận tốc dòng máu trong tiểu nhĩ hay trong tâm nhĩ giảm. ĐTĐ sẽ làm gia tăng nguy cơ đột tử ở mọi lứa tuổi nhiều hơn gấp 4 lần, ở nữ nhiều hơn nam. Cơ chế của đột tử do ĐTĐ còn chưa thực sự rõ ràng, có thể do nhiều yếu tố phối hợp như: xơ vữa động mạch, tổn thương vi mạch, rối loạn hệ thần kinh tự chủ, hội chứng QT dài.

Khi đường máu càng cao thì nguy cơ đột tử sẽ càng lớn.

Bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu não

Động mạch ngoại vi (ĐMNV) thường thấy rõ nhất các tổn thương là động mạch chi dưới, động mạch thận, động mạch cảnh… Bệnh nhân ĐTĐ có tần suất bệnh ĐMNV gia tăng từ 2 – 4 lần và khoảng 15% bệnh nhân có chỉ số cổ chân – cánh tay bất thường. Tần suất bệnh cũng gia tăng theo tuổi, theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ và bệnh thần kinh ngoại vi. Biểu hiện lâm sàng hay gặp của bệnh ĐMNV là tình trạng thiếu máu cục bộ chi dưới với biểu hiện lâm sàng là các cơn đau cách hồi.

Các biện pháp điều trị bao gồm: giảm yếu tố nguy cơ tim mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, tái lưu thông mạch (nong mạch qua da hoặc phẫu thuật).

Đột quỵ

Nguy cơ tương đối của đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ tăng từ 2,5 – 4,1 lần ở nam và 3,6 – 5,8 lần ở nữ so với người không mắc ĐTĐ. Tương quan giữa tăng đường máu và đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ ít chặt chẽ hơn so với NMCT.

Bệnh nhân ĐTĐ nếu đã có biến chứng có protein niệu, bệnh võng mạc hay bệnh thần kinh tự chủ thì thường cũng bị gia tăng nguy cơ đột quỵ. Đột quỵ thường do tình trạng thiếu máu cục bộ ở não.

Việc kiểm soát tốt đường máu, huyết áp và chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, phục hồi chức năng hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu tối đa những hậu quả do tai biến mạch não gây nên.

Dự án Quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường

Theo SKDS

Phát hiện chất chống tiểu đường có trong cam thảo

Theo bản nghiên cứu về thảo dược này, các nhà khoa học đã thử nghiệm dịch chiết cam thảo cho chuột bị đái tháo đường. Sau thời gian nghiên cứu các nhà khoa học thấy không những nồng độ đường máu giảm và hiện tượng viêm cũng giảm và hiện tượng kháng insulin cũng giảm theo.

Những thực phẩm và vị thuốc có vị ngọt vẫn thường được tránh với những bệnh nhân đái tháo đường. Nhưng thậc ngạc nhiên, các nhà khoa học đến từ viện nghiên cứu Di truyền phân tử Max Planck (Ðức) đã thấy rằng rễ cam thảo có thể kháng đái tháo đường. Công trình nghiên cứu được đăng tải trên báo cáo toàn văn National Academy of Sciences.

phat-hien-chat-chong-tieu-duong-co-trong-cam-thao

Phân tích thành phần dịch chiết các nhà khoa học khám phá ra chất có tên là amorfrutin có tác dụng làm hạ đường máu, chống viêm và giảm kháng insulin. Nghiên cứu cho thấy amorfrutin gắn trực tiếp vào các thụ cảm thể ở nhân tế bào. Sự gắn kết này làm hoạt hóa các gen chuyển hóa đường và mỡ. Do đó nó có tác dụng làm hạ đường máu và giảm kháng insulin.

Mặc dù còn nhiều điểm cần tiếp tục nghiên cứu nhưng các nhà khoa học cho hay, sự khám phá vô cùng mới mẻ này về thảo dược có thể tạo ra một phương thức điều trị mang tính “nhổ tận gốc” bệnh đái tháo đường typ 2 có liên quan đến gien di truyền.

Theo y học cổ truyền

Giá đỗ là một thực phẩm tốt cho sức khỏe

Thông tin về lực lượng chức năng TP Hà Nội phát hiện, bắt giữ 80.000 tuýp thuốc kích thích không rõ nguồn gốc có thể khiến giá đỗ lớn thêm từ 1-2cm chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ lại dấy lên nỗi lo về thị trường giá đỗ. Tẩy chay hay vẫn ăn? Tự làm hoặc mua thì cần lựa chọn giá như thế nào?

Độc chất trong giá đỗ là gì?

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), các loại hóa chất kích thích giá đỗ tăng trưởng nhanh thường bao gồm các chất p-chlorophenoxyacetic axit và 6-benzylaminopurine được hòa tan trong dung dịch Na2CO3. Hai hợp chất này đều không có trong danh mục các hóa chất được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định và cũng không có trong danh mục các thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trưởng được phép sử dụng do Bộ NN&PTNT quy định.

Cùng với Hà Nội, Trung tâm Y tế dự phòng quận Bình Thạnh, TPHCM cũng đã lấy mẫu phân tích, rà soát, hóa chất dùng để sản xuất giá đỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc do Công ty TNHH Phú Dung, ở Giang Tô sản xuất. Theo đó, các chất phát hiện gồm hoạt chất 6-benzylaminopurine thuộc nhóm cytokinin và gibberelin A28. Công dụng của các loại hoạt chất trên là giúp giá đỗ chóng nảy mầm. Tuy nhiên, đây là những hoạt chất chưa được nghiên cứu, khảo nghiệm và chưa được phép sử dụng ở Việt Nam.

gia-do-la-mot-thuc-pham-tot-cho-suc-khoe

Vì sao không nên tẩy chay?

Nhiều người quá lo lắng độc chất có trong giá đỗ nên đã tẩy chay luôn món ăn này. Tuy nhiên, giá đỗ (làm từ các loại đỗ) là một thực phẩm tốt cho sức khỏe. Trong Đông y, giá đỗ xanh có tác dụng giải độc đa năng, kể cả thạch tín là một khoáng vật rất độc. Đỗ tương sau khi ngâm thành giá đỗ không những giữ nguyên được toàn bộ giá trị dinh dưỡng vốn có mà còn làm tăng thêm lượng vitamin C và amino axit, có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn bệnh tim mạch. Giá đỗ tương có những enzym có thể kháng lại carcinogens (các tác nhân gây ung thư). Nếu bổ sung giá đỗ tương trong khẩu phần ăn hằng ngày còn có tác dụng phòng chống hiệu quả bệnh ung thư trực tràng và một số bệnh ung thư khác do trong thành phần của giá đỗ tương có chứa lục diệp tố. Giá đỗ tương là một loại thực phẩm rất tốt cho những người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ, người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol trong máu cao…

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, trong quá trình nảy mầm hạt đỗ xanh, hàm lượng vitamin E tăng cao, protein, đường, canxi, phốt pho, sắt, caroten, vitamin K, beta caroten, vitamin C, các vitamin nhóm B cũng tăng theo, gia tăng sự tổng hợp enzym SOD là chất chống ôxy hóa mạnh nhất hiện nay. Ngoài ra, giá đỗ xanh tốt với nam giới. Vitamin C trong giá đỗ xanh là chất chống ôxy hóa giúp tinh trùng không bị vón cục, dính kết, vì vậy làm tăng cơ hội thụ thai.

Cách chọn giá đỗ sạch

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, một mẻ giá đỗ làm theo đúng quy trình sẽ mất từ 4-5 ngày còn giá ngậm thuốc kích thích chỉ mất từ 1-2 ngày. Vì vậy, giá ngậm thuốc có rất ít rễ. Bạn chỉ cần nhìn vào rễ của giá là có thể phân biệt được giá sạch hay không. Cụ thể:

– Giá ngậm thuốc có thân dài, ít rễ hoặc không có rễ, màu trắng bắt mắt.

– Giá sạch có rất nhiều rễ, thân cong queo.

Ngoài ra, bạn không nên chọn những cọng giá dài vì càng dài, lượng protein và các khoáng chất càng ít. Lượng vitamin trong giá đạt cao nhất khi bắt đầu nảy mầm. Nếu cọng giá dài 10cm thì chất dinh dưỡng bị tổn thất đến 20%, trong đó có 74% lượng vitamin C bị mất. Vì vậy, bạn nên chọn cọng giá có độ dài khoảng 2-3cm.

Bạn có thể tự làm giá đỗ xanh bằng cách:

– Đỗ xanh: 300g (sẽ cho khoảng 3kg giá đỗ thành phẩm).

– Nồi đất (hoặc chõ đồ xôi bằng nhôm); Lá tre (hoặc vải màn), que gài.

Cách làm:

– Ngâm đỗ xanh trong nước chừng 2-3 giờ. Sau đó rửa sạch, cho đỗ xanh vào nồi đất, phủ lá tre hoặc vải lên trên, lấy que gài như đan phên trên miệng nồi sau đó úp nồi xuống đất, kênh một miệng nồi lên cho thoáng. Nên để nồi ủ giá ở nơi thoáng mát.

– Ngày đầu tiên ủ không cần phải ngậm nước. Những ngày sau, mỗi ngày cho nước vào nồi ủ giá 3 lần, mỗi lần từ 15-20 phút, sau đó lại úp nồi ủ giá xuống cho ráo nước, nhớ kênh miệng nồi để giá khỏi bị ủng.

– Cuối ngày thứ 4 hoặc ngày thứ 5 là bạn có thể dỡ giá.

Theo news.go

Búp ổi chữa đái tháo đường

Dân gian có nhiều bài thuốc nam điều trị các bệnh lý nội khoa mãn tính có tác dụng tốt, lại tránh được những tác dụng phụ. Trong đó có bài thuốc nam điều trị bệnh đái tháo đường. Dưới đây yhoccotruyen.vn giới thiệu 1 số bài thuốc dân gian chữa bệnh đái tháo đường:

1 .Ổi, búp ổi

Còn có tên gọi là phan thạch lựu, có tên khoa học là Psidum guajava. L, thuộc họ Sim Myrtaceae. Ổi chịu đất khô, cát sỏi, đồi núi, ổi cũng thường mọc hoang ở triền đồi núi.

Trong điều trị thường dùng ổi còn xanh, chát tốt cho tiêu hóa thể lỏng, ổi chín có tác dụng nhuận trường, thịt quả ổi chứa nhiều vitamin có tác dụng ngăn ngừa cảm cúm, sốt siêu vi, cải thiện cấu trúc da tốt hơn…

bup-oi-chua-dai-thao-duong

2. Lá sa kê úa vàng rụng xuống đất (không dùng lá sa kê tươi đang ở trên cành)

Lá sa kê có tên khoa học là Artocarpus incia L, thuộc họ Dâu tằm Moraceae, cây thân gỗ cao 10-12m có thể cao 15m, tán lá rất đẹp, phiến lá to, dài 30-50cm, rộng 10-12cm. Cụm hoa đực có hình chùy và chỉ có một nhụy, cũng có khi hoa đực tụ họp giống như đuôi con sóc dài 20cm. Cụm hoa cái hình cầu hoặc hình ống.

Qủa sa kê rất to, giống như quả mít tố nữ, hình tròn hoặc hình trứng, đường kính 10-20cm, vỏ màu xanh lục hoặc màu vàng nhạt, thịt quả rất nạc trắng và chứa nhiều bột. Qủa sa kê mọc thành từng chùm vài ba quả không có hạt, nhưng cũng có quả có hạt chìm trong thịt quả. Cây sa kê chịu đất khô ẩm, các tỉnh phía Nam nước ta nhân dân trồng nhiều sa kê vừa thu quả để ăn vừa làm cây cảnh che mát trong vườn nhà.

Qủa sa kê thường chế biến các món ăn như thái lát nhỏ rán với mỡ, bơ ăn thom ngon như bánh mỳ, còn dùng hầm nấu ca ri, bột sa kê làm bánh pho mát, bánh ngọt, nấu với tôm cá, với gạo ăn có chất dinh dưỡng cao.

3. Quả đậu bắp còn có tên mướp tây

Tên khoa hoc là Abelmoschusesculentus, một loại cây thân mềm sống khoảng một năm, cao 1-2m, thân hình trụ có nhiều lông và nhám. Cây có nhiều cành vươn thẳng lên cao, không xòe ngang, lá mọc so le, hình chân vịt, chia 5 thùy hẹp, xẻ đến phần nửa. Hoa 5 cánh màu vàng mọc ở hai kẽ lá, có màu đỏ ở giữa quả hình thoi, dài 10-12cm, đầu quả vót nhọn.

Đậu bắp luộc chín vừa hoặc rửa sạch ngâm nước muối 09% ăn sống, nấu canh chua, xào nấu chung với giá đậu xanh, dưa leo …

Trong điều trị bệnh nhân đái tháo đường dùng 3 thứ trên theo công thức:

– Búp ổi tươi 20 gam

– Lá sa kê vàng rụng tách khỏi cây 100 gam

– Đậu bắp 100 gam

Ba thứ trên cho vào nồi hoặc ấm đất nấu với 2 lít nước đun lửa than còn lại 500 ml chia uống thường xuyên trong ngày.

Ngoài ra, với bệnh đái tháo đường phải thực hiện tốt chế độ ăn uống hàng ngày như mỗi bữa ăn chỉ cần một bát cơm và hai bát rau, phải kiêng khem các thức ăn giàu tinh bột như bánh mỳ, khoai lang, khoai mỳ, nên ăn bánh tráng và bún tươi thay cơm càng tốt.

BS Nguyễn Thị Thúy Nga

Theo y học cổ truyền

Phòng bệnh tăng lipid máu

Rối loạn lipid máu (hay còn gọi là rối loạn mỡ máu, tăng cholesterol máu) là bệnh khá phổi biến, đặc biệt khi đời sống càng phát triển. Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu, thường được gọi là các thành phần của mỡ máu hay chính xác hơn là lipid máu. Tất cả chúng ta đều có cholesterol và triglycerid trong máu. Cholesterol tham gia thành phần cấu tạo của màng tế bào, của một số hormon và có một số các công dụng khác, còn triglycerid là nguồn năng lượng cho hoạt động chuyển hóa của cơ thể. Cơ thể có cholesterol và triglycerid. Sau khi ăn chất béo (mỡ), triglycerid và cholesterol được hấp thu vào tế bào ruột dưới dạng acid béo và cholesterol tự do (chuyển hóa lipid ngoại sinh). Trong cơ thể các cholesterol cũng được tổng hợp tại các tế bào gan (chuyển hóa lipid nội sinh).

Vì không tan trong nước, để tuần hoàn được trong huyết tương, các lipid phải được kết hợp với các protein dưới dạng phức hợp phân tử lớn gọi là lipoprotein. Có 6 loại lipoprotein khác nhau về tỷ trọng, nhưng có 2 loại được quan tâm nhất là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C: Low Density Lipoprotein Cholesterol) là một loại cholesterol có hại và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C: High Density Lipoprotein Cholesterol) là một loại cholesterol có ích.

phong-benh-tang-lipid-mau

Rối loạn lipid máu, là hậu quả của béo phì và nguy cơ tương đương với tăng huyết áp, là nguyên nhân hàng đầu của nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Ở thành phố, chúng ta ít vận động, ăn uống quá dư thừa chất đạm, chất mỡ và những đồ ăn nhanh… vì vậy, ở thành phố có nhiều người bị rối loạn lipid máu hơn ở nông thôn.

Làm thế nào để phát hiện rối loạn lipid máu

Hầu hết những người có cholesterol máu cao đều hoàn toàn khỏe mạnh. Bạn thường không có dấu hiệu gì báo trước và cách duy nhất để phát hiện ra bệnh là làm xét nghiệm máu. Mẫu máu xét nghiệm thường được lấy từ máu tĩnh mạch ở cánh tay của bạn. Bởi vì nồng độ triglycerid máu tăng lên sau khi ăn, do vậy bạn cần nhịn đói trước khi làm xét nghiệm máu.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt có thể phát hiện được bệnh nhờ một số dấu hiệu của lắng đọng cholesterol ở dưới da hay ở vùng quanh mi mắt.

Tại sao bạn bị rối loạn lipid máu?

Nguyên nhân tăng cholesterol máu

Ăn quá nhiều chất béo bão hòa là nguyên nhân chủ yếu gây tăng cholesterol máu. Các chất béo bão hòa có trong các thức ăn có mỡ, đặc biệt là sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt mỡ, bơ, hai loại dầu thực vật là dầu dừa và dầu cọ, hầu hết các loại thức ăn rán, các loại bánh như bánh bích quy và ga tô..

Thay thế các thức ăn có chứa nhiều chất béo bão hòa bằng các thức ăn có chứa chát béo không bão hòa đa chuỗi và đơn chuỗi sẽ làm giảm lượng cholesterol trong máu của bạn. Các thức ăn có chứa nhiều chất béo không bão hòa đa chuỗi bao gồm dầu hướng dương, sữa đậu nành, cá, một số loại quả và củ. Các thức ăn có chứa chất béo bão hòa đơn chuỗi bao gồm dầu ô liu, dầu lạc. Ăn nhiều thức ăn có chứa cholesterol sẽ làm tăng lượng cholesterol trong máu của bạn, đặc biệt nếu bạn là người có nguy cơ cao bị mắc bệnh vữa xơ động mạch và bệnh động mạch vành.

Nguyên nhân gây tăng triglycerid máu

Bạn bị thừa cân (béo phì), uống nhiều rượu và ăn nhiều thức ăn có chứa chất béo sẽ làm tăng lượng triglycerid trong máu của bạn.

Để làm giảm lượng triglycerid máu bạn cần phải hạn chế ăn các thức ăn có thứa chất béo, hạn chế uống rượu và giảm cân nếu bạn bị thừa cân.

Rối loạn lipid máu thứ phát

Khoảng dưới 10% các trường hợp rối loạn lipid máu thứ phát do các nguyên nhân như:

– Đái tháo đường

– Hội chứng thận hư

– Tăng urê máu

– Suy tuyến giáp

– Bệnh gan

– Nghiện rượu

– Uống thuốc tránh thai

– Một số thuốc tim mạch như: thuốc ức chế bêta giao cảm, nhóm thuốc lợi tiểu thiazide.

Khi nào bạn cần kiểm tra lipid máu?

Điều đó phụ thuộc vào nguy cơ mắc bệnh động mạch vành của bạn. Nếu điểm ước tính nguy cơ mắc bệnh động mạch vành trong vòng 10 năm của bạn < 10% là bạn có nguy cơ thấp, 10-20% là bạn có nguy cơ vừa, nếu > 10% là bạn có nguy cơ cao. Bác sĩ sẽ là người quyết định khi nào bạn nên kiểm tra lipid máu.

Nên kiểm tra lipid máu định kỳ cho những người trên 45 tuổi.

Kiểm tra lipid máu cho những người có tuổi trẻ hơn nếu như người đó có các yếu tố nguy cơ khác như tiền sử có người ruột thịt trong gia đình bị bệnh động mạch vành, nếu người đó bị tăng huyết áp hay hút thuốc lá.

Theo dõi định kỳ lượng lipid trong máu phụ thuộc vào tuổi của bạn, mức độ nguy cơ mắc bệnh động mạch vành của bạn và do bác sỹ yêu cầu.

Trẻ em thường không cần kiểm tra lượng lipid máu trừ khi bị bệnh đái tháo đường.

Tại sao bạn cần điều trị rối loạn lipid máu?

Nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình vữa xơ động mạch và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác của cơ thể. Khi động mạch vành bị hẹp sẽ làm giảm dòng máu tới nuôi cơ tim gây ra cơn đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim. Hầu hết lượng cholesterol toàn phần trong máu tạo ra LDL-C là loại cholesterol có hại. Chỉ có một lượng nhỏ cholesterol tạo ra HDL-C là loại cholesterol có ích, có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh vữa xơ động mạch.

Tăng cholesterol máu là một trong những nguy cơ chính gây bệnh vữa xơ động mạch và bệnh động mạch vành. Nguy cơ bị bệnh động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác càng tăng cao hơn nếu như bạn có các yếu tố nguy cơ khác bao gồm hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, thói quen ít vận động và thừa cân (béo phì).

Các biện pháp điều trị rối loạn lipid máu

Với bệnh nhân tăng cholesterol máu loại LDL-C cao:

– Điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt: tăng cường vận động, ăn giảm béo, hạn chế ăn các loại phủ tạng động vật, thay thế mỡ động vật bằng dầu thực vật, ăn nhiều thực phẩm có chất xơ, khuyến khích ăn cá nước ngọt…

– Dùng thuốc: có thể dùng một trong những thuốc nhóm statin như sau (nên bắt đầu từ liều thấp). Lưu ý rằng liều này vẫn có thể tăng gấp đôi nếu không đạt hiệu quả sau 4-6 tuần điều trị.

+ Simvastatin (Zocor, Simvahexal, Vida…) 10 mg/ngày

+ Atorvastatin (Lipitor, Aztor, Atorvast) 10 mg/ngày

+ Fluvastatin (Lescol) 20mg/ngày

+ Pravastatin (Pravachol) 10mg/ngày

+ Rosuvastatin (Crestor) 5-10mg/ngày

Với bệnh nhân tăng cholesterol máu loại phối hợp tăng LDL-C và triglycerid:

– Điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt như đã trình bày ở trên.

– Dùng thuốc: nếu cần giảm nhanh triglycerid để tránh biến chứng: bắt đầu bằng thuốc nhóm fibrat:

+ Gemfibrozil (Lopid) 300mg/ngày (sau khi ăn tối)

+ Fenofibrat (Lipanthyl) 200 mg/ngày (sau ăn tối)

– Khi triglycerid giảm xuống dưới 5,62 mmol/L thì cho bệnh nhân dùng thuốc nhóm statin với liều lượng như trên.

– Nếu sau 4-6 tuần dùng thuốc nhóm statin hoặc fibrat mà không đạt LDL-C hoặc triglycerid mục tiêu thì có thể tăng gấp đôi liều thuốc và xét nghiệm lại sau 4-6 tuần.

Phòng bệnh tăng lipid máu

– Thực hiện chế độ ăn giảm các chất béo bão hòa (thịt mỡ, bơ, phomats, margarin…). Nên ăn các loại chất béo chưa bão hòa (dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu vừng…)

– Không ăn nhiều các thức ăn có cholesterol cao như lòng đỏ trứng, thịt có màu đỏ  (sữa, gan, bơ, phủ tạng động vật…). Ăn cá nhiều hơn ăn thịt

– Hạn chế uống rượu.

– Ăn nhiều rau quả (vì chúng làm hạ lượng cholesterol) như các loại táo, bưởi, cam, quýt, bắp cải, cải củ, cải bẹ, cải xanh, cà rốt, cà chua, cà tím, đu đủ, tỏi, hành ta, hành tây, gừng, ớt,…

– Ngoài chế độ dinh dưỡng nói trên, người bệnh còn cần tập thể dục đều đặn, vận động thường xuyên kiên trì (như dọn dẹp, lên xuống cầu thang, tập thể dục, chăm sóc cây cảnh…) để tránh béo phì.

Nguồn sức khỏe

Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ là tình trạng tưởng chừng không nguy hiểm nhưng có nguy cơ bào mòn thể lực và thần kinh âm thầm, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó.

Có nhiều yếu tố và nguyên nhân gây nên chứng mất ngủ:

Yếu tố bên ngoài: Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính; Xung đột với người chung quanh; Sự cố lớn trong cuộc sống; Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca kíp.

Mắc những bệnh lý nội khoa về tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim); Hô hấp (hen phế quản, ngưng thở khi ngủ); Đau mạn tính; Bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp); Tiêu hóa (viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược); Thần kinh (Parkinson, động kinh) và phụ nữ đang mang thai.

mat-ngu

Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ 1Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng để giúp cải thiện giấc ngủ. (Ảnh minh họa)

Tâm thần kinh: Rối loạn tính cách (trầm cảm, loạn thần); Rối loạn lo âu; Hội chứng cai thuốc, rượu.

Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: Chống động kinh; Hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm; Lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tùy mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamin tại thụ thể H1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không nên sử dụng kéo dài vì có thể gây những phản ứng ngoài ý muốn.

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ

Để cải thiện chứng rối loạn giấc ngủ nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm; Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ); Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng); Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ; Tránh uống trà, càphê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ; Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh); Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; Không nghĩ ngợi miên man.

Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng; Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm). Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.

Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm…); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bác sĩ  Lê Hoài

Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ là tình trạng tưởng chừng không nguy hiểm nhưng có nguy cơ bào mòn thể lực và thần kinh âm thầm, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó.

Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Có nhiều yếu tố và nguyên nhân gây nên chứng mất ngủ:

Yếu tố bên ngoài: Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính; Xung đột với người chung quanh; Sự cố lớn trong cuộc sống; Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca kíp.

Mắc những bệnh lý nội khoa về tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim); Hô hấp (hen phế quản, ngưng thở khi ngủ); Đau mạn tính; Bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp); Tiêu hóa (viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược); Thần kinh (Parkinson, động kinh) và phụ nữ đang mang thai.
mất ngủ
Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ 1Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng để giúp cải thiện giấc ngủ. (Ảnh minh họa)

Tâm thần kinh: Rối loạn tính cách (trầm cảm, loạn thần); Rối loạn lo âu; Hội chứng cai thuốc, rượu.

Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: Chống động kinh; Hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm; Lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tùy mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamin tại thụ thể H1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không nên sử dụng kéo dài vì có thể gây những phản ứng ngoài ý muốn.

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ

Để cải thiện chứng rối loạn giấc ngủ nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm; Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ); Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng); Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ; Tránh uống trà, càphê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ; Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh); Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; Không nghĩ ngợi miên man.

Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng; Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm). Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.

Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm…); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bác sĩ  Lê Hoài

Những điều cần nhớ khi bị đái đường

Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa, được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường máu cùng với các rối loạn chuyển hóa đường, đạm, mỡ và các chất khoáng do hậu quả của tình trạng thiếu insulin tuyệt đối hoặc tương đối. Người bệnh đái tháo đường thường phải dùng thuốc suốt đời để khống chế tăng đường huyết, vì đường huyết càng tăng cao, càng biến động thì biến chứng xuất hiện càng sớm và càng nặng…
Chọn thuốc gì?

Các thuốc uống làm giảm đường huyết được chia làm hai nhóm:

Nhóm sulfonyl urea: Các thuốc thuộc nhóm này (butamid, galiron, diabiez, prediant, diamicron…) có tác dụng kích thích tế bào beta tiết insulin, do đó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2, không dùng cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1. Các thuốc thuộc nhóm sulfonyl urea thường bắt đầu có tác dụng sau uống 1 giờ, tác dụng đạt tới tối đa sau 3 – 4 giờ và tác dụng kéo dài 18 – 24 giờ.

dai-duong

Nhóm thuốc biguanid: Các thuốc thuộc nhóm này (phenformin, metformin) không kích thích tế bào beta tiết insulin, thuốc chỉ có tác dụng làm tăng tính thấm của màng tế bào với glucose, tăng khả năng sử dụng glucose của tế bào ngoại vi. Thuốc được dùng cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nhưng cũng có thể dùng phối hợp với insulin để làm giảm liều insulin cần thiết trong điều trị đái tháo đường týp 1.

Thuốc nhóm này có loại tác dụng nhanh và loại tác dụng chậm. Loại tác dụng nhanh bắt đầu có tác dụng sau uống 30 phút đến 1 giờ, tác dụng đạt tối đa sau 4 – 6 giờ, tác dụng duy trì sau uống 8 – 10 giờ. Loại tác dụng chậm bắt đầu tác dụng sau uống 2 – 3 giờ, tác dụng kéo dài 14 – 16 giờ.

Ngoài 2 nhóm thuốc uống hạ đường huyết nói trên, còn một nhóm không có tác dụng hạ đường huyết, nhưng làm chậm quá trình hấp thu đường của ống tiêu hóa, làm giảm hiện tượng tăng vọt đường huyết sau ăn, đó là nhóm acacbose (glucobay) được dùng cho những người khó tuân thủ chế độ ăn. Thuốc này có thể phối hợp với các thuốc hạ đường huyết nói trên.

Người bệnh đái tháo đường thường phải dùng thuốc suốt đời để khống chế tăng đường huyết, vì đường huyết càng tăng cao, càng biến động thì biến chứng xuất hiện càng sớm và càng nặng. Chỉ trong thời gian bệnh nặng hoặc có biến chứng bệnh nhân mới cần nằm viện, còn lại phần lớn thời gian là dùng thuốc tại nhà.

Vấn đề cần lưu ý

Trước hết, người bệnh cần tuân thủ chế độ ăn dành cho người đái tháo đường. Chỉ cần thực hiện tốt chế độ ăn cũng có thể điều chỉnh được đường huyết ở người đái tháo đường nhẹ. Tuân thủ tốt chế độ ăn làm tăng được hiệu quả của điều trị bằng thuốc và làm giảm được liều thuốc cần dùng. Nếu không tuân thủ tốt chế độ ăn sẽ làm hiệu quả dùng thuốc giảm và thường phải tăng liều thuốc.

Thực hiện chế độ tập luyện hàng ngày và giảm cân nặng với người béo phì giúp cải thiện tình trạng kháng insulin, làm tăng hiệu quả của việc dùng thuốc và giảm được liều thuốc cần dùng.

Khi dùng thuốc uống hạ đường huyết cần lưu ý: không phối hợp hai thuốc cùng nhóm vì cùng cơ chế tác dụng, nhưng cũng có thể phối hợp thuốc có tác dụng nhanh với thuốc tác dụng chậm. Có thể phối hợp hai thuốc khác nhóm hoặc phối hợp thuốc hạ đường huyết với thuốc nhóm acacbose. Thuốc thường được uống trước bữa ăn 30 phút nếu là thuốc tác dụng nhanh, và uống trước bữa ăn 60 phút nếu là thuốc tác dụng chậm. Nếu uống quá xa bữa ăn dễ gây tụt đường huyết, có thể nguy hiểm đến tính mạng, nên cần đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng với từng loại thuốc.

Ngoài thuốc hạ đường huyết, người bệnh đái tháo đường thường phải dùng các thuốc khác để điều trị các biến chứng như sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm khuẩn, sử dụng thuốc để hạ mỡ máu, thuốc để điều trị tổn thương thần kinh ngoại vi… Để các thuốc trên phát huy được tác dụng, nhất là kháng sinh thì phải sử dụng thuốc hạ đường huyết đủ để duy trì đường huyết ở mức bình thường (4 – 6 mmol/l), nếu đường huyết cao thì kháng sinh sẽ không có hiệu quả.

Ngoài những điều cần lưu ý trên, người bệnh cần hết sức chú ý chăm sóc bàn chân, vì bàn chân thường bị giảm hoặc mất cảm giác do tổn thương thần kinh ngoại vi hoặc thiếu nuôi dưỡng gây hoại tử do tổn thương mạch máu là biến chứng thường gặp ở người đái tháo đường. Không được đi giày hoặc dép chật, đề phòng bị bỏng, bị vấp gây xây xát. Nên xoa bóp và ngâm chân nước ấm mỗi ngày 20 phút. Mùa đông tránh để bàn chân bị lạnh.

PGS.TS.BS. Hà Hoàng Kiệm

Theo sức khỏe đời sống

Ðối mặt với nguy cơ bệnh đái tháo đường tăng gấp đôi

Theo Liên đoàn Đái tháo đường Thế giới (IDF), năm 2011 số người bị bệnh ĐTĐ là 366 triệu người. Dự đoán tới năm 2030, toàn thế giới có khoảng 552 triệu người mắc bệnh. Số người mắc bệnh tăng đồng đều ở mọi quốc gia, trong đó có tới 80% người mắc bệnh đang sống ở các nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình. Cho tới nay, 183 triệu người bị bệnh ĐTĐ chưa được chẩn đoán.

Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật. Theo GS.TS. Thái Hồng Quang, Chủ tịch Hội Nội tiết, ĐTĐ Việt Nam, tỷ lệ ĐTĐ ở nước ta trong những năm gần đây có xu hướng phát triển mạnh, chỉ trong khoảng 10 năm, số người mắc bệnh được phát hiện đã tăng gấp đôi. Theo một nghiên cứu trên toàn quốc của BV Nội tiết Trung ương cách đây 5 năm thì tỷ lệ bệnh ĐTĐ 2,7% được ghi nhận, nhưng tới năm 2012, con số này đã lên tới 5,7%.

doi-mat-voi-nguy-co-benh-dai-thao-duong

Tại sao tình trạng bệnh ĐTĐ lại gia tăng một cách báo động như vậy? Cũng theo GS. Thái Hồng Quang, nhờ sự phát triển của ngành y tế nên bệnh ngày càng được chẩn đoán và sàng lọc sớm, cùng với công tác tuyên truyền tốt nên tăng sự hiểu biết của cộng đồng, tăng cường khám bệnh, xét nghiệm máu nên đã phát hiện được bệnh nhiều hơn. Ngoài ra, điểm cắt của chẩn đoán bệnh ĐTĐ đã được hạ thấp. Trước đây, khi mức đường huyết là 7,8mol/l mới được chẩn đoán là ĐTĐ thì ngày nay với mức 7,0mol/l đã được coi là mắc ĐTĐ.

Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có sự thay đổi lối sống mạnh mẽ, sự di chuyển dân cư từ nông thôn tới thành thị và các bữa ăn nhanh, giàu chất béo. Cùng với đó là cuộc sống tăng trưởng, kinh tế phát triển, sự vận động giảm… là những yếu tố nguy cơ cao khiến bệnh ĐTĐ gia tăng. Ngoài ra, ở một số nghiên cứu thì những người châu Á phải trải qua thời kỳ chiến tranh, có tỷ lệ ĐTĐ cao hơn so với vùng không có chiến tranh.

GS. Quang phân tích: Việt Nam trước đây là một quốc gia nghèo, qua 30 năm chiến tranh, một số bộ phận dân cư thiếu dinh dưỡng, do đó tuyến tụy được sinh ra có chức năng sản xuất insulin để chuyển hóa đường ở mức vừa phải. Hiện nay, mức sống đầy đủ, thức ăn dư thừa nên tuyến tụy phải sản xuất insulin quá mức dẫn tới suy kiệt tế bào và bệnh ĐTĐ là điều khó tránh khỏi.

Tuy nhiên, GS. Thái Hồng Quang cũng cho biết, dự phòng bệnh ĐTĐ là việc hoàn toàn có thể làm được. Trước hết, những người có yếu tố nguy cơ như: 45 tuổi trở lên; có bệnh tăng huyết áp; rối loạn lipid máu; đã có lần xét nghiệm đường máu cao; có ĐTĐ thai kỳ; phụ nữ đẻ con hơn 4kg; trong gia đình có thế hệ 1 mắc bệnh ĐTĐ… thì phải được quan tâm đặc biệt tới sức khỏe, đi khám bệnh, xét nghiệm đường huyết, làm nghiệm pháp dung nạp glucose thường xuyên để chia loại mức độ bệnh và tầm soát bệnh, nhằm dự phòng bệnh tiến triển và biến chứng. Tăng cường vận động thể lực, ăn uống hợp lý… để can thiệp tiền ĐTĐ và ĐTĐ.

Thu Hà

Theo SKDS

Đậu bắp tốt cho người bị đái tháo đường

Gần đây, trên các trang web có nhiều bài “ca tụng” đậu bắp như một “khắc tinh” của bệnh đái tháo  đường. Có thật như vậy không?

Đậu bắp còn có tên là Mướp tây, bắp chà.

Tên khoa học là Hibiscus esculentus, họ Bông.

Quả đậu bắp có hình dạng tương tự như quả mướp nên gọi là mướp tây. Hạt trắng như hạt bắp (ngô) nên gọi là bắp chà. Cây giống đậu nhưng hạt giống bắp nên gọi là đậu bắp.

100g quả đậu bắp có 660 UI vitamin A (13% nhu cầu hàng ngày), 0,2mg vitamin B1 (10%), vitamin C 21mg (35%), canxi 81mg(l0%), folacin 88mcg (44%), magiê 57mg (16%), thiamin 0,2mg (13%), ngoài ra còn có kali và mangan.

Khi đun nóng lâu, chất nhầy làm cho nước canh đặc hơn. Nếu không thích nhầy thì chỉ đun nóng trong chốc lát.

Thanh nhiệt giải khát: lao động dưới trời nắng gắt, mồ hôi ra nhiều nên khát nước và dễ bị cảm nắng. Đậu bắp thanh nhiệt và sinh tân dịch, vì vậy, dùng đậu bắp nấu vừa ăn vừa uống nước nấu đó rất thích hợp.

dau-bap-chua-tri-benh-dai-thao-duong

Táo bón: đậu bắp rất dồi dào chất xơ, cả chất xơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. 1/2 chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 2g chất xơ, đậu bắp còn tươi nguyên cung cấp nhiều hơn, 1 chén khoảng 3,2g, và chất nhầy. Chất nhầy rất tốt đối với việc làm mềm phân, chất xơ kích thích nhu động ruột… cho nên nhuận tràng. Do chứa hàm lượng nước cao, đậu bắp còn giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi. Ngoài ra, đậu bắp giúp đi cầu tự nhiên, không gây đau bụng như các thuốc trị táo bón khác, vì vậy, những người thường bị táo bón, nên dùng đậu bắp nấu lấy nước uống và ăn cả quả đậu bắp luộc.

Hỗ trợ tiêu hóa: khi vào hệ tiêu hóa đậu bắp sẽ chất nhầy và chất xơ của đậu bắp trở thành môi trường tốt cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh với sữa chua (yaourt), giúp tổng hợp các vitamin nhóm B.

Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời làm dịu những cơn đau thắt trong ruột.

Hỗ trợ giảm thân trọng: đậu bắp sinh ít nhiệt lượng – calori (khoảng 25 calo với 1/2 chén đậu bắp nấu chín), vì vậy đậu bắp là thức ăn lý tưởng cho những người đang muốn giảm cân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới vào máu,  chất nhầy của đậu bắp khóa hoạt tính của  cholesterol nên chất béo không vào máu; cơ thể không được tiếp tế nên sử dụng mỡ tồn đọng và tiêu mỡ khiến cho thân trọng giảm. Đa số người mập phì bị táo bón, vì vậy ăn đậu bắp vừa giảm cholesterol vừa chống táo bón, đúng là món ăn – vị thuốc.

Bệnh tim mạch: chất nhầy của đậu bắp ngoại hấp cholesterol của thực phẩm và của muối mật. Nó giữ cholesterol lại trong ruột, giúp cơ thể tái hấp thu nước, hấp thu những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu rồi bài thải theo phân ra ngoài, do đó giảm được cholesterol huyết. Những người cholesterol huyết cao, cao huyết áp, đau thắt ngực và các bệnh tim mạch khác nên ăn đậu bắp, vừa giảm cholesterol lại thông tiểu, rất thuận lợi cho bệnh cao huyết áp.

Tuy nhiên, nên lưu ý là không ăn đậu bắp cùng lúc với uống thuốc, hãy uống thuốc trước bữa ăn 1 giờ hoặc sau 2 giờ.

Hỗ trợ thai phụ: đậu bắp chứa nhiều acid folic. 1/2 chén đậu bắp nấu chín tương đương với 36,5mg acid folic. Một chén đậu bắp sống chứa đến 87,8mg acid folic. Đây là chất dinh dưỡng cần thiết cho nhiều chức năng của cơ thể, đặc biệt đối với những phụ nữ mang thai, acid folic rất quan trọng vì giúp phòng ngừa khuyết tật ống thần kinh và các dị tật bẩm sinh khác ở thai nhi.

Gần đây, những thí nghiệm tại khoa Y học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM, cho thấy cao lỏng được chế từ thân và lá cây đậu bắp có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Với liều 10g – 40g/kg thể trọng có tác dụng hạ đường huyết trên chuột thí nghiệm. Liều có tác dụng hạ đường huyết ổn định nhất là 30g/kg thể trọng. Ở liều này, cao lỏng đậu bắp hạ đường huyết có ý nghĩa thống kê từ thời điểm 40 phút và kéo dài đến 90 phút. Sau 90 phút, đậu bắp làm hạ 47,34% nồng độ đường huyết so với nhóm đối chứng không điều trị. Qua so sánh với insulin, tác dụng của đậu bắp không mạnh bằng insulin, không gây hạ đột ngột như insulin nhưng ổn định hơn và không có nguy cơ gây tụt huyết áp xuống dưới mức bình thường…

Một số nghiên cứu cũng cho thấy chất xơ hòa tan có tác dụng tốt trong ổn định đường huyết. Chất nhầy trong đậu bắp tiết ra thông qua những mặt cắt ngang, dọc thân trái và dễ hoà tan vào môi trường nước, kể cả nước ở nhiệt độ thường. Qua nhiều giờ ngâm, chất nhầy hòa tan vào nước biểu thị rõ bằng độ sánh trong nước tăng lên. Lượng chất nhầy trong trái non cao hơn nhiều so với thân hay lá.

Chúng tôi cũng nhận thấy có người ăn nhiều đậu bắp hàng ngày hoặc dùng thân, lá hoặc quả đậu bắp phơi khô rồi phối hợp với một số thảo dược như mướp đắng, lá ổi, lá sakê… sắc uống để trị đái tháo đường. Có khi thấy có kết quả nhưng không biết là do đậu bắp hay là do các vị thuốc dùng chung. Khi theo dõi thấy có người có tác dụng ổn định đường huyết rất tốt, số khác lại không; có lẽ do cơ địa không thích hợp chăng? Chưa có nghiên cứu khoa học nào kết luận hiệu quả điều trị của những trường hợp này, nhưng có điều cần lưu ý là cần theo dõi lượng đường huyết hàng ngày và cần có sự tư vấn của các thầy thuốc chuyên môn cho từng cơ địa mỗi người để có được hiệu quả thích hợp nhất.

Ngoài quả, cành non, thân, lá và rễ của đậu bắp cũng có thể dùng làm thuốc:

Giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan: dùng cành non của đậu bắp luộc ăn.

Chữa ho, viêm họng: rễ và lá thái mỏng phơi khô ngày uống 10 – 16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha. Ngoài ra, còn dùng súc miệng.

Sốt cao, viêm đường tiểu, viêm họng: dùng lá, thân (hoặc thêm rễ) 40g, nấu lấy nước uống.

Để có được những lợi ích tốt từ đậu bắp, các nhà dinh dưỡng lưu ý:

Khi mua đậu bắp tươi, nên chọn quả không quá mềm, không có vết thâm bên ngoài vỏ, và không dài quá 8cm. Khi chế biến, nên nấu chín ở nhiệt độ thấp, vừa phải, không nấu, nướng đậu bắp ở nhiệt độ cao, tốt nhất là hấp chín.

Lương y HOÀNG DUY TÂN

Theo SKDS

Đau khi bị thoái hóa cột sống: Cách khống chế

Nguyên nhân chính thoái hóa cột sống (THCS) là do tuổi tác nhưng cũng có các trường hợp THCS do các nguyên nhân khác, còn gọi là thoái hóa cột sống thứ phát. Nguyên nhân phổ biến nhất là sau chấn thương như sau ngã, tai nạn, do nghề nghiệp phải sử dụng nhiều cột sống như mang vác, bưng bê, nhấc, xách các đồ vật, trong lao động hay trong công việc hằng ngày tại gia đình. Một số bệnh cột sống mắc phải như viêm đốt sống đĩa đệm, đau thần kinh tọa, dị dạng phát triển cột sống (gai đôi cột sống, quá phát mỏm ngang đốt sống), khuyết tật di truyền, béo phì, đái tháo đường, suy giáp, cường cận giáp, gút… cũng để lại biến chứng THCS. Ngoài ra, thiếu dinh dưỡng có thể gây nên THCS. Đặc điểm của THCS là gây những cơn đau lưng. Vậy làm thế nào để khống chế và phòng ngừa?

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_01

Đau cột sống thắt lưng

Khống chế những cơn đau lưng khi bị THCS

Mục tiêu của điều trị THCS là sớm loại bỏ các yếu tố nguy cơ, chẩn đoán sớm, điều trị giảm đau thích hợp. Giúp bệnh nhân phục hồi khả năng vận động cũng rất quan trọng. Điều trị THCS kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc, đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả can thiệp ngoại khoa, do các bác sĩ chuyên khoa đảm nhiệm. Khi bị đau lưng, bệnh nhân cần đến khám bác sĩ để chẩn đoán chắc chắn và có biện pháp điều trị thích hợp. Tránh trường hợp tự chữa hay chữa mò, chỉ làm mất triệu chứng bệnh, chuốc vào nhiều tai biến hay biến chứng của bệnh khi bệnh tiến triển vào giai đoạn muộn, nói tóm lại là tiền mất tật mang. Khi đau thắt lưng cấp thì bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường trong vài ngày. Điều trị dùng thuốc bao gồm: dùng các thuốc giảm đau như paracetamol, thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, celebrex, thuốc tăng cường sụn khớp như glucosamin sulfat chondroitin, artrodar… Chú ý nên uống thuốc khớp sau khi ăn, uống thuốc với nhiều nước để tránh tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Có thể  xoa bóp, bấm huyệt nhẹ nhàng vùng cột sống bị tổn thương hay tác động cột sống. Một số biện pháp vật lý trị liệu có ích như  đắp paraffin, hồng ngoại, dùng túi chườm, điện di thuốc giảm đau, dùng sóng siêu âm. Khi đi lại, bệnh nhân cần sử dụng dụng cụ hỗ trợ như gậy, khung chống, đai lưng. Khi đau nhiều mà chưa có điều kiện đi khám bác sĩ thì nên nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động nặng, dùng kem bôi thuốc kháng viêm non-steroid hoặc uống thuốc giảm đau như paracetamol. Khi cơn đau đã giảm, có thể tập thể dục nhẹ nhàng. Khi đi khám bác sĩ và đã có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Người bệnh cần xác định đây là dạng bệnh mạn tính và phải điều trị lâu dài.

Phòng bệnh và hạn chế các hậu quả của bệnh THCS

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_02

Xoa ấn vùng cột sống

Cần phòng bệnh THCS ngay từ khi còn nhỏ. Đầu tiên là có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Cần ăn nhiều thức ăn giàu các chất chống oxy hóa như vitamin C và E (có nhiều trong các loại rau, quả). Vitamin D và canxi cần thiết cho sức khỏe khung xương, cần dùng 1.000 – 1.200mg canxi và 400 UI vitamin D mỗi ngày. Cần giảm cân nếu béo phì. Trong sinh hoạt hằng ngày, cần luôn giữ tư thế đúng ngay cả khi nằm ngủ, ngồi, đứng. Người làm việc ở văn phòng không nên ngồi quá lâu. Khi ngồi làm việc 1 giờ, phải đứng dậy, vươn vai, làm động tác thể dục thư giãn hay đi lại trong khoảng 5 -10 phút. Tập thể dục thường xuyên giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, giúp cho sụn khớp phát triển.

Để dự phòng THCS thắt lưng, có thể tập một số động tác làm mạnh các cơ vùng thắt lưng như tập nghiêng xương chậu, tập cơ bụng, tập khối cơ cạnh sống. Có thể đi bộ, bơi lội, thái cực quyền, tập thể dục nhịp điệu. Cần tránh các môn thể thao đối kháng mạnh. Đối với người phải mang vác, lao động nặng thì không nên mang vác quá sức hay ở tư thế xấu.

Khi đã bị THCS cổ thì cách điều trị tốt nhất là tuân thủ các chế độ điều trị do bác sĩ chuyên khoa đưa ra, đồng thời giảm tải các tác động có hại lên cột sống cổ. Cần có tư thế ngồi, làm việc thẳng. Không mang vác, xách đồ nặng. Khi ngủ không nên kê gối quá cao. Cần nghỉ ngơi giữa giờ làm việc. Có thể xoa bóp, bấm huyệt vùng cổ để giảm co thắt cơ.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS