Tag Archives: cột sống

Khi nào thì cần mổ thoát vị đĩa đệm

Có những trường hợp gặp rủi ro liệt người do mổ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đã khiến nhiều bệnh nhân hoang mang. Đây là bệnh rất thường gặp và đáng quan tâm bởi không chỉ ảnh hưởng lên cá nhân người bệnh mà còn đến kinh tế gia đình và xã hội. Tuy nhiên, do bệnh nhân thiếu thông tin, do một số bác sĩ nhận diện không đúng bệnh lý, lạm dụng thái quá các kỹ thuật chẩn đoán… mà đã có nhiều trường hợp tiền mất tật mang

Không cứ “thoát” là mổ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng mức độ nhẹ hầu hết được điều trị bằng phương pháp bảo tồn (dùng thuốc, nghỉ ngơi, tập vật lý trị liệu…) Chỉ với những trường hợp bệnh nặng, điều trị bảo tồn thất bại mới cần xem xét khả năng điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật là phương pháp mà mọi bệnh nhân đều muốn tránh vì lo sợ biến chứng. Cũng chẳng ai muốn động dao động kéo và chịu một vết sẹo trên vùng cột sống, thắt lưng. Nhưng nếu so sánh các nguy cơ với lợi ích, một ca vi phẫu hay nội soi kéo dài không hơn 60 phút vẫn là lựa chọn tốt nhất trong điều trị thoát vị đĩa đệm nặng. Trong các trường hợp khối u chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống thì phẫu thuật loại bỏ chúng là phương pháp duy nhất cần thiết và hiệu quả (nhưng cũng tuỳ thuộc khối u lành tính hay ác tính).

khi-nao-thi-can-mo-thoat-vi-dia-dem

Không phải bất cứ thoát vị đĩa đệm nào tại vùng thắt lưng đều bắt buộc điều trị mổ. Nếu bác sĩ chỉ định đúng, thường mang lại kết quả cao và thoả mãn được mong đợi của người bệnh. Ngược lại, sẽ dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, nhiều biến chứng, liệt người, thậm chí tử vong. Hiện có hai phương pháp được coi là chính thống trong điều trị thoát vị đĩa đệm được thực hiện hàng ngày tại nhiều bệnh viện lớn, là mổ vi phẫu và mổ nội soi. Hai phương pháp này là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phổ biến nhất trên thế giới hiện nay.

Thực tế không phải bệnh nhân nào cũng có thể được bác sĩ chỉ định mổ. Khi gặp bệnh nhân quá yếu, tuổi cao, có bệnh toàn thân như tim mạch, tiểu đường nặng, hoặc thoái hoá cột sống quá nặng thì không thể điều trị bằng phẫu thuật được vì rất dễ gặp biến chứng khi gây mê và trong quá trình mổ.
Nhưng có lúc chỉ mổ mới thoát

Điều này còn tuỳ thuộc chỉ định của bác sĩ là đúng hay không. Hiện nay, loại thoát vị đĩa đệm mà việc chỉ định mổ đem lại kết quả cao nhất là thoát vị lồi rất lớn chèn ép trực tiếp rễ thần kinh, hoặc vỡ vào lỗ thần kinh, đôi khi khối thoát vị chui vào trong ống sống chèn ép chùm đuôi ngựa ảnh hưởng nhiều đến cảm giác và vận động. Đối với những trường hợp này, khả năng hồi phục chức năng của thần kinh và cột sống đến 80 – 90%. Những thoát vị nhẹ hoặc chưa chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép không nhiều, nếu đặt chỉ định phẫu thuật giai đoạn này thì hiệu quả hầu như không đáng kể. Chỉ định mổ bao giờ cũng phải dựa vào hai tiêu chuẩn chính là triệu chứng lâm sàng và kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống ngực và thắt lưng.

Đôi lúc, chính người thầy thuốc cũng rất phân vân giữa chỉ định mổ hay điều trị bằng thuốc và vật lý trị liệu. Như khối thoát vị còn nhỏ, chưa gây đau đớn nhiều nên chưa đáng để phẫu thuật, hoặc khối thoát vị lớn trên MRI nhưng không ảnh hưởng nhiều trên lâm sàng, thì có nên mổ hay không? Những trường hợp này cần đến sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa để chọn lựa biện pháp tối ưu. Thật ra, điều trị nội khoa không thể làm khối thoát vị biến mất hay đưa đĩa đệm trở lại vị trí cũ. Cái ranh giới mong manh này nhiều khi làm bệnh nhân có tâm lý đang phải chờ khối thoát vị lồi nhiều hơn để mổ một lần cho có kết quả tốt, nên tư vấn của bác sĩ chuyên khoa là vô cùng cần thiết.

Nỗi ám ảnh cho xương khớp mỗi khi thay đổi thời tiết

Nguyên nhân

Theo một nghiên cứu ở Việt Nam, có đến 66% người từ 40 tuổi trở lên mắc nguy cơ thoái hóa khớp, những vị trí thường gặp nhất là cột sống thắt lưng (43%) và khớp gối (35%). Các bệnh về xương khớp có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào nhưng thường gặp hơn ở người lớn tuổi, và việc thời tiết thay đổi cũng có liên quan mật thiết đến diễn biến của các bệnh về khớp do sự thay đổi áp suất khí quyển, nhiệt độ và độ ẩm không khí. Khi trời trở lạnh, áp suất khí quyển giảm xuống, các mô nở ra tạo áp lực cho khớp, độ ẩm tăng góp phần gây nên sưng mỏi khớp. Đồng thời mạch máu bị co lại khi nhiệt độ giảm xuống, khiến máu trong cơ thể lưu thông kém làm chân tay càng đau buốt, tê cứng hơn.

noi-am-anh-cho-xuong-khop-moi-khi-thay-doi-thoi-tiet

Với những người lớn tuổi, khi các tế bào xương dần dần bị lão hóa, các hóc-mon sinh dục giảm thấp, việc hấp thụ canxi và vitamin sút giảm dẫn đến bệnh loãng xương và các nguy cơ của thoái hóa khớp, thì thời tiết xấu lại là điều kiện thuận lợi cho các bệnh về khớp hoành hành. Ngoài ra, những nguyên nhân dẫn đến chứng thoái hóa khớp ở người lớn tuổi như: tình trạng béo phì, yếu tố di truyền, các chấn thương nhẹ nhưng thường hay xảy ra ở khớp… gây ra nhiều khó khăn trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến biến dạng khớp, tràn dịch khớp và phế khớp.

Những khớp nào dễ bị thoái hóa?

Các khớp xương đều có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa cột sống cổ, cột sống thắt lưng, khớp háng, khớp gối. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, sau đó sẽ kéo dài cả ngày, tăng cao khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, gây ảnh hưởng đến thần kinh tọa, làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

Cột sống cổ: Biểu hiện chủ yếu bằng đau cổ, hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động, nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối.

Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn, đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi, cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi.

Chăm sóc sức khỏe các khớp thế nào?

Để hạn chế các nguy cơ về loãng xương và thoái hóa khớp nên có một chế độ sinh họat hợp lý. Thường xuyên tập luyện các khớp xương như: xoay, xoa bóp, đi lại và tập thể dục tùy theo điều kiện mỗi người.

Chế độ ăn uống hàng ngày đóng vai trò quan trọng không kém trong việc cung cấp dưỡng chất cho cơ thể khỏe mạnh, đặc biệt là can-xi và vitamin D giúp xương chắc khỏe. Nhưng thực sự cơ thể chúng ta có được bổ sung đầy đủ chưa?

Theo nghiên cứu, glucosamine được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng sụn, mô liên kết đệm khớp. Glucosamine tăng cường chất dịch không những làm giảm đau viêm khớp, mà còn ngăn ngừa biến chứng. Trong thức ăn hàng ngày không có nguồn cung cấp chính thành phần quan trọng này, chính vì thế sản phẩm duy trì xương khớp khỏe mạnh của Herbalife – Joint Support Advanced- với các thành phần Glucosamine chiết xuất từ rễ Scutellaria cùng với các khoáng chất như mangan, selen và đồng giúp tăng khả năng tổng hợp sụn khớp, giảm quá trình viêm khớp và hỗ trợ quá trình lão hóa lành mạnh.

Nguồn sức khỏe đời sống

Tư thế ngủ tốt cho sức khỏe hàng ngày

Tư thế ngủ tốt nhất: Nằm ngửa

Nằm ngủ kiểu này đảm bảo cho quá trình lưu thông máu lên não, giữ cho lưng và cổ của bạn ở tư thế tự nhiên, đồng thời ngăn ngừa việc trào ngược axit. Bên cạnh đó, tư thế ngủ này còn có tác dụng làm đẹp, giúp bạn ngăn ngừa được các nếp nhăn và duy trì được bầu ngực căng tràn sức sống (do không bị chèn ép suốt cả đêm).

Tuy nhiên, đây không phải là tư thế lý tưởng cho những người mắc tật ngáy khi ngủ. Bởi ngáy sinh ra chủ yếu do đường thở vùng hầu họng bị hẹp lại, ngủ càng sâu thì đường thở càng hẹp, tiếng ngáy càng to và lưu lượng khí vào phổi càng thấp, vì vậy lượng ôxy trong máu cũng xuống thấp, khiến người ta có thể bị nhồi máu cơ tim, đột quỵ nhiều hơn. Những người ngủ ngáy nên nằm nghiêng hoặc phải gối cao đầu.

tu-the-ngu-tot-cho-suc-khoe-hang-ngay

Hãy chọn cho mình tư thế nằm ngủ tốt nhất để đảm bảo sức khỏe

Tư thế có lợi cho sức khỏe: Nằm ngủ nghiêng sang bên

Việc nằm ngủ nghiêng sang một phía khiến bạn bớt bị ngáy cũng như làm giảm tình trạng ợ nóng và trào ngược axít, đồng thời làm bạn dễ ngủ hơn.

Đây cũng là tư thế ngủ rất tốt cho chị em trong thời gian mang thai. Nếu như tư thế nằm ngửa tạo quá nhiều áp lực lên xương sống thì tư thế ngủ nằm nghiêng sang một bên khi bầu bí giúp tăng cường khả năng cung cấp máu đi khắp cơ thể.

Thế nhưng nằm ngủ kiểu này lại là thủ phạm gây nên những nếp nhăn trên mặt và hiện tượng ngực bị chảy sệ do cơ thể bị ép sang một bên.

Tư thế ngủ có hại cho sức khỏe: Nằm ngủ cuộn mình như thai nhi

Tư thế ngủ này có thể khiến bạn cảm thấy thoải mái nhưng sẽ gây khó thở và chèn ép một số bộ phận quan trọng của cơ thể, gây ra một số vấn đề cho cổ và cột sống của bạn. Cũng giống như tư thế ngủ quay sang bên, đây là nguyên nhân gây nên những nếp nhăn trên khuôn mặt và ngực chảy sệ.

Tư thế ngủ có hại nhất: Nằm sấp

Bạn nằm sấp khi ngủ 8 tiếng một ngày? Tư thế này sẽ khiến xương sống vốn cong tự nhiên của bạn bị duỗi thẳng ra, trong khi đầu và cổ bạn cũng phải xoay sang một bên khi ngủ. Mỗi khi thức dậy bạn chắc chắn sẽ cảm thấy mỏi, ê nhức cổ.

Kiểu ngủ nằm sấp cũng sẽ tạo áp lực lên các khớp xương và các cơ, gây nên tâm lý bực dọc, đau đớn, đau dây thần kinh tọa và tê người.

Theo VnExpress

Bệnh xương khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi

Viêm khớp dạng thấp, loãng xương, thoái hóa cột sống, khớp háng, khớp gối… có thể gặp ở mọi độ tuổi chứ không phải chỉ người già như nhiều người lầm tưởng.

Dưới đây là bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115, cảnh báo về một số vấn đề liên quan đến bệnh xương khớp ở trẻ em và người lớn.

Ở trẻ em, bệnh xương khớp rất đa dạng và có những đặc điểm riêng, có thể kể ra như: thấp khớp cấp, viêm khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp mủ do vi khuẩn lao, dị dạng cột sống, còi xương…

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Một số bệnh xương khớp có tính chất gia đình. Lối sống của cha/mẹ đóng vai trò quyết định sức khỏe của con cái. Nếu cha/mẹ hút thuốc lá uống rượu nhiều, mắc các bệnh cảm cúm do virus, hay dùng thuốc không hợp lý trong thời ký mang thai có thể dẫn tới sự xuất hiện những dị tật cơ xương khớp ở con cái của họ.

Trẻ em có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện thường mắc các bệnh tai mũi họng như viêm họng hạt, viêm amidan, viêm xoang, viêm mủ ngoài da. Đó chính là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều bệnh ở khớp: thấp tim, viêm khớp nhiễm khuẩn… Phòng ngừa cho trẻ là nên điều trị kịp thời và dứt điểm các nguyên nhân nhiễm khuẩn trên.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong xuất hiện bệnh lý cơ xương khớp. Với trẻ em, cơ thể cần rất nhiều canxi, Vitamin D, protein và các chất khác để xây dựng khung xương. Do vậy, nếu chế độ ăn uống không đủ chất và số lượng thì trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, dẫn đến bệnh còi xương.

Ngoài ra việc mang vác nặng, ngồi sai tư thế ngồi lâu ngày… cũng là một nguyên nhân phổ biến, gây lệch vai, tổn thương xương sống hoặc gù, cong, vẹo cột sống…

Đối với độ tuổi trung niên, nguyên nhân chủ yếu gây ra gãy xương là do chấn thương, thoái hóa khớp, bệnh gout, loãng xương giai đoạn sớm. Ngoài nguyên nhân do sinh lý cơ thể theo lứa tuổi thì chế độ ăn uống không khoa học cũng là tác nhân gây hại về xương khớp. Một số người đau nhức do xương khớp cơ năng thường hay tự ý uống thuốc để giảm đau cũng là nguyên nhân gây hư xương và thoái hóa khớp. Để phòng ngừa bệnh, cần kiêng cữ, tiết chế, điều độ trong ăn uống.

Đối với người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp lên tới 60%. Đó là thoái hóa khớp, loãng xương, gãy cổ xương đùi, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương… Càng về già chất lượng xương càng yếu dần, vỏ xương không chắc chắn như lúc tuổi trẻ, nên rất dễ gãy cổ xương đùi khi có một sang chấn nhẹ. Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa tạo hình ảnh gai xương hoặc một biến dạng bất thường có thể gây ung thư xương với sự đau nhức dài ngày…

Để phòng ngừa, nên có sự tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng với kiểm tra tổng quát có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra cần có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi.

Nguồn giáo dục

Vẹo cột sống ở trẻ

Vẹo cột sống có thể xảy ra ở mọi độ tuổi, trong đó dễ phát triển nhanh nhất ở tuổi dậy thì. Nhiều trẻ em ở Việt Nam bị vẹo cột sống nhưng không được phát hiện sớm, chỉ đến bệnh viện khám khi tình trạng bệnh đã nặng, cột sống bị vẹo nhiều.

Dấu hiệu phát hiện bệnh sớm

Bình thường cột sống của trẻ thẳng hàng khi nhìn từ cổ xuống lưng và thắt lưng. Nhìn ngang, cột sống hơi cong ở lưng và ưỡn bình thường ở thắt lưng. Nếu bị tật vẹo cột sống, nhìn phía sau khi trẻ đứng thẳng sẽ thấy vai xệ một bên, lồng ngực nhô lên một bên, có thể kèm theo vùng hông – thắt lưng nhô phía bên kia; xương chậu và háng cao hơn bên kia; cột sống lệch sang bên. Cho trẻ cúi thắt lưng, nhìn phía sau sẽ thấy rõ lồng ngực hay hông thắt lưng nhô lên một hay hai bên. Đây là cách khám đơn giản giúp phát hiện các tật vẹo cột sống tương đối sớm mà cha mẹ, người thân đều có thể thăm khám được.

Có ba cấp độ vẹo cột sống: cấp độ 1, cột sống đã lệch nhưng chỉ có thể phát hiện bởi các chuyên gia, chưa ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Cấp độ 2, nhìn từ phía sau đã thấy cột sống cong vẹo, gù xương sườn do đốt sống bị xoay, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp nhẹ. Cấp độ 3, nhìn rõ cột sống vẹo lệch sang bên, ảnh hưởng nặng chức năng hô hấp, có thể gây biến dạng khung chậu, khớp háng, chiều dài của lưng – thắt lưng ngắn lại, xương sườn ngực bị biến dạng gây suy hô hấp mạn tính, xuất hiện bệnh tim phổi mạn, các cơ quan trong ổ bụng bị chèn ép…

Tại sao trẻ bị vẹo cột sống?

veo-cot-song-o-tre

Vẹo cột sống có nhiều nguyên nhân: bẩm sinh, vẹo cột sống kèm theo các bệnh lý tuỷ sống hay thần kinh cơ (bướu đa sợi thần kinh, hội chứng Marfan, rỗng tuỷ sống, thoát vị hạnh nhân tiểu não, di chứng sốt bại liệt…) hay không rõ nguyên nhân (vô căn). Vẹo cột sống vô căn chiếm đa số trường hợp: 60 – 70%. Đa số trẻ dưới ba tuổi bị vẹo cột sống bẩm sinh hay liên quan bệnh lý, khó điều trị và tiên lượng nặng. Khoảng 20% trẻ vẹo cột sống thiếu nhi (từ 3 – 10 tuổi) có nguyên nhân bệnh lý kèm theo, đa số không rõ nguyên nhân. Sau mười tuổi, đa số là vẹo cột sống vô căn diễn biến nặng cho đến khi dừng lại ở độ tuổi trưởng thành. Vẹo cột sống người lớn là hậu quả của mắc vẹo cột sống lúc nhỏ bị quên lãng hoặc vô căn hay bệnh lý. Phần lớn dị tật cột sống có nguyên nhân vô căn, còn lại là do các yếu tố liên quan đến di truyền, phải lao động sớm, ngồi học không đúng tư thế… Càng nhỏ tuổi nguyên nhân bệnh lý kèm càng nhiều, càng khó điều trị. Vẹo cột sống ở tuổi thanh thiếu niên thường là vô căn, việc điều trị thường cho kết quả tốt dù bảo tồn (giữa 20 – 40 độ vẹo) hay phẫu thuật (trên 40 độ vẹo). Tuy nhiên, bệnh nhân càng đến khám muộn, vẹo càng nặng thì phẫu thuật càng nguy hiểm.

Điều trị vẹo cột sống cho trẻ

Điều trị vẹo cột sống dựa chủ yếu vào góc vẹo cột sống được khảo sát trên hình ảnh học. Ba cách điều trị:

– Quan sát, theo dõi cho trẻ có góc vẹo dưới 20 độ.

– Cho trẻ có góc vẹo cột sống giữa 20 và 40 độ mang nẹp thân.

– Can thiệp phẫu thuật cho trẻ có góc vẹo trên 40 độ.

Điều quan trọng nhất là, khi phát hiện chứng vẹo cột sống ở trẻ, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa cột sống hay chấn thương chỉnh hình thăm khám. Đến khám càng sớm, cơ hội cứu chữa càng cao, chi phí điều trị cũng ít tốn kém. Bác sĩ sẽ cho khảo sát kỹ hình ảnh học để chẩn đoán và đánh giá độ vẹo cột sống chính xác hơn và có biện pháp điều trị thích hợp.

BS. Trần Quốc Ninh

Theo SKDS

Chứng vẹo cột sống

Vẹo cột sống có thể xảy ra ở mọi độ tuổi, trong đó dễ phát triển nhanh nhất ở tuổi dậy thì. Nhiều trẻ em ở Việt Nam bị vẹo cột sống nhưng không được phát hiện sớm, chỉ đến bệnh viện khám khi tình trạng bệnh đã nặng.

Tại sao cột sống bị vẹo?
Có nhiều nguyên nhân gây vẹo cột sống như bẩm sinh, vẹo cột sống kèm theo các bệnh lý tuỷ sống hay thần kinh cơ (bướu đa sợi thần kinh, hội chứng Marfan, rỗng tuỷ sống, thoát vị hạnh nhân tiểu não, di chứng sốt bại liệt…) hay không rõ nguyên nhân (vô căn). Vẹo cột sống vô căn chiếm đa số trường hợp: 60 – 70%. Đa số trẻ dưới ba tuổi bị vẹo cột sống bẩm sinh hay liên quan bệnh lý, khó điều trị và tiên lượng nặng. Khoảng 20% trẻ vẹo cột sống ở tuổi thiếu nhi (từ 3 – 10 tuổi) có nguyên nhân bệnh lý kèm theo.

Sau mười tuổi, đa số là vẹo cột sống vô căn diễn biến nặng cho đến khi dừng lại ở độ tuổi trưởng thành. Vẹo cột sống người lớn là hậu quả của mắc vẹo cột sống lúc nhỏ bị quên lãng hoặc vô căn hay bệnh lý. Phần lớn dị tật cột sống có nguyên nhân vô căn, còn lại là do các yếu tố liên quan đến di truyền, phải lao động sớm, ngồi học không đúng tư thế…

cau-tac-chem-nguoi-trong-thuong

Càng nhỏ tuổi nguyên nhân bệnh lý kèm càng nhiều, càng khó điều trị. Vẹo cột sống ở tuổi thanh thiếu niên thường là vô căn, việc điều trị thường cho kết quả tốt dù bảo tồn (giữa 20 – 40 độ vẹo) hay phẫu thuật (trên 40 độ vẹo). Tuy nhiên, bệnh nhân càng đến khám muộn, vẹo càng nặng thì phẫu thuật càng nguy hiểm.

Dấu hiệu phát hiện bệnh sớm
Bình thường cột sống của trẻ thẳng hàng khi nhìn từ cổ xuống lưng và thắt lưng. Nhìn ngang, cột sống hơi cong ở lưng và ưỡn bình thường ở thắt lưng. Nếu bị tật vẹo cột sống, nhìn phía sau khi trẻ đứng thẳng sẽ thấy vai xệ một bên, lồng ngực nhô lên một bên, có thể kèm theo vùng hông – thắt lưng nhô phía bên kia; xương chậu và háng cao hơn bên kia; cột sống lệch sang bên.

Cho trẻ cúi thắt lưng, nhìn phía sau sẽ thấy rõ lồng ngực hay hông thắt lưng nhô lên một hay hai bên. Đây là cách khám đơn giản giúp phát hiện các tật vẹo cột sống tương đối sớm mà cha mẹ, người thân đều có thể thăm khám được.

Có ba cấp độ vẹo cột sống: Cấp độ 1, cột sống đã lệch nhưng chỉ có thể phát hiện bởi các chuyên gia, chưa ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Cấp độ 2, nhìn từ phía sau đã thấy cột sống cong vẹo, gù xương sườn do đốt sống bị xoay, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp nhẹ.

Cấp độ 3, nhìn rõ cột sống vẹo lệch sang bên, ảnh hưởng nặng chức năng hô hấp, có thể gây biến dạng khung chậu, khớp háng, chiều dài của lưng – thắt lưng ngắn lại, xương sườn ngực bị biến dạng gây suy hô hấp mạn tính, xuất hiện bệnh tim phổi mạn, các cơ quan trong ổ bụng bị chèn ép…

Điều trị vẹo cột sống cho trẻ

Điều trị vẹo cột sống dựa chủ yếu vào góc vẹo cột sống được khảo sát trên hình ảnh học. Ba cách điều trị:

– Quan sát, theo dõi cho trẻ có góc vẹo dưới 20 độ.

– Cho trẻ có góc vẹo cột sống giữa 20 và 40 độ mang nẹp thân.

– Can thiệp phẫu thuật cho trẻ có góc vẹo trên 40 độ.

Điều quan trọng nhất là, khi phát hiện chứng vẹo cột sống ở trẻ, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa cột sống hay chấn thương chỉnh hình thăm khám. Đến khám càng sớm, cơ hội cứu chữa càng cao, chi phí điều trị cũng ít tốn kém. Bác sĩ sẽ cho khảo sát kỹ hình ảnh học để chẩn đoán và đánh giá độ vẹo cột sống chính xác hơn và có biện pháp điều trị thích hợp.

BS. Nguyễn Văn Dũng

Theo SKDS

Phát hiện sớm bệnh cong vẹo cột sống

Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra triệu chứng đau lưng, hạn chế vận động của hệ thống cơ xương.

Cong vẹo cột sống là gì?

Trong giai đoạn phôi thai, cột sống người có hình vòm cong. Sau khi sinh ra, khi trẻ đang còn nằm thì cột sống chuyển từ vòm cong sang thẳng, đến khi trẻ biết ngẩng cao đầu và tập lẫy thì đoạn cổ bắt đầu cong ra phía trước để nâng đầu lên và tạo thành đoạn cong ở cổ. Đến tháng thứ 6, khi trẻ tập ngồi thì cột sống uốn cong ra phía trước ở vùng thắt lưng và cong ra sau ở vùng cùng, cụt để giữ thân mình thẳng đứng. Đến khi trưởng thành, cột sống có 2 đoạn cong uốn về phía  trước là cổ và thắt lưng, 2 đoạn cong uốn về phía sau là ngực và cùng – cụt.

Cột sống có vai trò hết sức quan trọng trong mọi hoạt động sống của con người. Cột sống là trụ cột của cơ thể, là chỗ dựa vững chắc cho các hệ thống cơ quan phát triển, bảo vệ tuỷ sống, giảm sóc cho bộ não. Nhờ có cột sống mà cơ thể có thể vận động linh hoạt, quay sang trái, sang phải, cúi hoặc ưỡn, nhún nhảy một cách dễ dàng, tạo cho cơ thể có nhiều tư thế khác nhau.

Biến dạng cột sống là sự thay đổi về hình dáng hoặc cấu trúc của cột sống so với bình thường. Biến dạng cột sống bao gồm cong cột sống (gù hoặc ưỡn) và vẹo cột sống. Do vậy khi nói về biến dạng cột sống lứa tuổi học đường, người ta thường quen dùng thuật ngữ “Cong vẹo cột sống”.

Cong cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong quá mức sinh lý bình thường ở đoạn cổ, đoạn ngực hoặc thắt lưng. Khi đoạn cổ bị uốn cong quá mức, đầu sẽ ngả về trước, hai vai chùng xuống và giảm độ cong thắt lưng (tư thế vai so). Nếu đoạn ngực bị uốn cong quá mức về phía sau, lưng tròn, vai thấp, đầu hơi ngả, bụng nhô về phía trước (gọi là tư thế gù). Nếu đoạn thắt lưng bị uốn cong quá mức về phía trước, bụng xệ, phần trên của thân hơi ngả về phía sau (gọi là tư thế ưỡn).

Vẹo cột sống là hiện tượng cột sống bị uốn cong sang bên phải hoặc bên trái. Khi bị vẹo cột sống, nếu đỉnh đường cong hướng về bên phải thì cột sống có hình chữ C ngược, nếu đỉnh đường cong hướng về bên trái thì cột sống có hình chữ C thuận. Nếu cột sống có hai cung uốn cong đối xứng nhau thì nó sẽ có hình chữ S thuận hoặc chữ S ngược (còn gọi là vẹo cột sống bù trừ).

Theo thống kê, vẹo cột sống chiếm khoảng 1- 4% dân số, thường gặp ở nữ nhiều hơn nam và ảnh hưởng nhiều đến trẻ em từ 10-18 tuổi. Cong cột sống thường gặp ở trẻ em 12-15 tuổi.

phat-hien-som-benh-cong-veo-cot-song

Nhận biết như thế nào?

Trong trường hợp bị vẹo cột sống, có thể nhìn thấy những bất thường như: các gai đốt sống không thẳng hàng; hai vai dốc không đều, bên cao bên thấp; xương bả vai nhô ra, khoảng cách từ 2 mỏm xương bả vai đến gai đốt sống không bằng nhau; hai tam giác eo tạo ra giữa cánh tay và thân không đều nhau, bên rộng bên hẹp; mào chậu bên thấp bên cao; hai thăn lưng mất cân đối hoặc có ụ lồi do cột sống bị xoáy vặn, xương sườn lồi lên.

Nếu bị gù thì quan sát thấy lưng tròn, vai thấp, bụng nhô, đầu ngả ra phía trước. Nếu bị ưỡn, phần trên của thân hơi ngả về phía sau, bụng xệ xuống.

Có nhiều nguyên nhân gây ra cong vẹo cột sống. Một số trẻ em sinh ra đã bị cong hoặc vẹo cột sống bẩm sinh. Một số trẻ em bị cong vẹo cột sống do ngồi, đi đứng quá sớm hoặc bị mắc các bệnh về thần kinh, bệnh cơ, bị chấn thương, thể trạng kém vì ít hoạt động thể thao, suy dinh dưỡng (còi xương), cường độ lao động không thích hợp với lứa tuổi. Nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống.

Cong vẹo cột sống ở tuổi học sinh có thể phát sinh do ngồi sai tư thế vì bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, chiếu sáng bàn học kém, mang cặp sách quá nặng về một bên vai.

Tác hại của cong vẹo cột sống

Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra triệu chứng đau lưng, hạn chế vận động của hệ thống cơ xương.

Trường hợp bệnh nặng có thể gây rối loạn tư thế, dị dạng thân hình, tác động xấu đến tâm lý của trẻ, hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng; ảnh hưởng đến chức năng của tim, phổi (giảm dung tích sống của phổi); gây biến dạng xương chậu, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản của trẻ em nữ khi trưởng thành.

Chi phí điều trị cho các bệnh nhân bị cong vẹo cột sống rất tốn kém, đặc biệt là những bệnh nhân cần phải phẫu thuật chỉnh hình.

Và phòng ngừa?

Để phòng ngừa cong vẹo cột sống trước hết cần phải nâng cao sức khỏe chung của cơ thể bằng cách rèn luyện thể dục thể thao cho các bắp thịt, các tổ chức liên kết, dây chằng các khớp khỏe, làm tăng sự dẻo dai bền bỉ và phát triển cân đối.

Cần phòng chống suy dinh dưỡng, còi xương ở trẻ nhỏ. Chế độ ăn cần có đủ protein, chất khoáng và vitamin.

Bàn ghế ngồi học phải phù hợp với lứa tuổi và tư thế ngồi học phải đúng.

Nơi học tập ở trường phải đảm bảo chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo. Ở nhà, ngoài hệ thống chiếu sáng chung, gia đình cũng cần trang bị đèn ở góc học tập cho các em học sinh để đảm bảo ánh sáng tốt hơn. Cần thực hiện giờ nghỉ giải lao giữa các tiết học.

Học sinh không mang cặp quá nặng, trọng lượng cặp sách không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Cặp phải có hai quai, khi sử dụng học sinh đeo đều hai vai, tránh đeo lệch về một phía.

Học sinh cần được khám cột sống định kỳ nhằm phát hiện sớm các trường hợp cong vẹo cột sống để có thể có cách xử trí và điều trị kịp thời.

ThS. Lỗ Văn Tùng

Theo báo công an

Chứng vẹo cột sống

Vẹo cột sống có thể xảy ra ở mọi độ tuổi, trong đó dễ phát triển nhanh nhất ở tuổi dậy thì. Nhiều trẻ em ở Việt Nam bị vẹo cột sống nhưng không được phát hiện sớm, chỉ đến bệnh viện khám khi tình trạng bệnh đã nặng.

Tại sao cột sống bị vẹo?

Có nhiều nguyên nhân gây vẹo cột sống như bẩm sinh, vẹo cột sống kèm theo các bệnh lý tuỷ sống hay thần kinh cơ (bướu đa sợi thần kinh, hội chứng Marfan, rỗng tuỷ sống, thoát vị hạnh nhân tiểu não, di chứng sốt bại liệt…) hay không rõ nguyên nhân (vô căn). Vẹo cột sống vô căn chiếm đa số trường hợp: 60 – 70%. Đa số trẻ dưới ba tuổi bị vẹo cột sống bẩm sinh hay liên quan bệnh lý, khó điều trị và tiên lượng nặng. Khoảng 20% trẻ vẹo cột sống ở tuổi thiếu nhi (từ 3 – 10 tuổi) có nguyên nhân bệnh lý kèm theo.
Sau mười tuổi, đa số là vẹo cột sống vô căn diễn biến nặng cho đến khi dừng lại ở độ tuổi trưởng thành. Vẹo cột sống người lớn là hậu quả của mắc vẹo cột sống lúc nhỏ bị quên lãng hoặc vô căn hay bệnh lý. Phần lớn dị tật cột sống có nguyên nhân vô căn, còn lại là do các yếu tố liên quan đến di truyền, phải lao động sớm, ngồi học không đúng tư thế…
chung-cong-veo-cot-song
Càng nhỏ tuổi nguyên nhân bệnh lý kèm càng nhiều, càng khó điều trị. Vẹo cột sống ở tuổi thanh thiếu niên thường là vô căn, việc điều trị thường cho kết quả tốt dù bảo tồn (giữa 20 – 40 độ vẹo) hay phẫu thuật (trên 40 độ vẹo). Tuy nhiên, bệnh nhân càng đến khám muộn, vẹo càng nặng thì phẫu thuật càng nguy hiểm.

Dấu hiệu phát hiện bệnh sớm
Bình thường cột sống của trẻ thẳng hàng khi nhìn từ cổ xuống lưng và thắt lưng. Nhìn ngang, cột sống hơi cong ở lưng và ưỡn bình thường ở thắt lưng. Nếu bị tật vẹo cột sống, nhìn phía sau khi trẻ đứng thẳng sẽ thấy vai xệ một bên, lồng ngực nhô lên một bên, có thể kèm theo vùng hông – thắt lưng nhô phía bên kia; xương chậu và háng cao hơn bên kia; cột sống lệch sang bên.

Cho trẻ cúi thắt lưng, nhìn phía sau sẽ thấy rõ lồng ngực hay hông thắt lưng nhô lên một hay hai bên. Đây là cách khám đơn giản giúp phát hiện các tật vẹo cột sống tương đối sớm mà cha mẹ, người thân đều có thể thăm khám được.

Có ba cấp độ vẹo cột sống: Cấp độ 1, cột sống đã lệch nhưng chỉ có thể phát hiện bởi các chuyên gia, chưa ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Cấp độ 2, nhìn từ phía sau đã thấy cột sống cong vẹo, gù xương sườn do đốt sống bị xoay, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp nhẹ.

Cấp độ 3, nhìn rõ cột sống vẹo lệch sang bên, ảnh hưởng nặng chức năng hô hấp, có thể gây biến dạng khung chậu, khớp háng, chiều dài của lưng – thắt lưng ngắn lại, xương sườn ngực bị biến dạng gây suy hô hấp mạn tính, xuất hiện bệnh tim phổi mạn, các cơ quan trong ổ bụng bị chèn ép…

Điều trị vẹo cột sống cho trẻ

Điều trị vẹo cột sống dựa chủ yếu vào góc vẹo cột sống được khảo sát trên hình ảnh học. Ba cách điều trị:

– Quan sát, theo dõi cho trẻ có góc vẹo dưới 20 độ.

– Cho trẻ có góc vẹo cột sống giữa 20 và 40 độ mang nẹp thân.

– Can thiệp phẫu thuật cho trẻ có góc vẹo trên 40 độ.

Điều quan trọng nhất là, khi phát hiện chứng vẹo cột sống ở trẻ, cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa cột sống hay chấn thương chỉnh hình thăm khám. Đến khám càng sớm, cơ hội cứu chữa càng cao, chi phí điều trị cũng ít tốn kém. Bác sĩ sẽ cho khảo sát kỹ hình ảnh học để chẩn đoán và đánh giá độ vẹo cột sống chính xác hơn và có biện pháp điều trị thích hợp.

BS. Nguyễn Văn Dũng
Theo báo công an

Chữa các bệnh cột sống bằng luyện tập thể thao

Bạn có thể tìm thấy nhiều bài tập cải thiện các vấn đề liên quan đến cột sống trên Internet. Tuy nhiên, những bài tập này chưc chắc phù hợp với bệnh tình của bạn, vì vậy hãy tìm hiểu kỹ hoặc hỏi bác sĩ.

Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Quang Thuận, Trưởng khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện thể thao Việt Nam khuyến cáo, bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến cột sống nên thường xuyên có các hoạt động thể lực hoặc tập luyện để điều trị và thích nghi với tình trạng bệnh. Các “đơn tập luyện” phải phù hợp với từng người, từng bệnh cụ thể, hơn thế nữa còn cần phù hợp với từng giai đoạn của bệnh.

Ở giai đoạn đau cấp tính trong hội chứng vai gáy, đau lưng cấp, hội chứng thắt lưng hông cũng như trong bệnh cảnh thoát vị đĩa đệm cột sống, việc nghỉ ngơi tích cực là cần thiết. Nghỉ ngơi tích cực là giảm hoặc không hoạt động những cơ quan, bộ phận hay vùng bị đau hoặc thực hiện bài tập, động tác cho các bộ phận đó ở tư thế phù hợp.

Với những bệnh lý liên quan đến đĩa đệm cột sống, hội chứng thắt lưng hông (80% bệnh nhân có hội chứng thắt lưng hông liên quan tới đĩa đệm cột sống), các bài tập cúi về phía trước hoặc tư thế sinh hoạt như lau quét nhà, cúi bê xách vật dụng là không thích hợp. Việc nằm nghỉ ngơi trên giường cứng và thực hiện các bài tập trên giường có tác dụng giảm đau, giãn cơ sẽ có lợi cho bệnh nhân hơn việc đi đứng vận động trong giai đoạn này.

chua-cac-benh-cot-song-bang-luyen-tap-the-thao

Đối với các chứng đau mãn tính, các bài tập cơ vùng cổ, lưng, tứ chi thích hợp có tác dụng tăng cường tuần hoàn cho cơ, tăng khả năng tiết endorphin nội sinh làm giảm đau. Các bài tập kéo giãn (đu xà đơn) có tác dụng giãn cơ, làm giảm áp lực lên đĩa đệm cột sống, giải phóng chèn ép tủy, rễ và dây thần kinh, điều chỉnh những sai lệch của các khớp đốt sống và cột sống, qua đó có tác dụng giảm triệu chứng đau, cải thiện chức năng vận động.

Đối với các tình trạng hẹp ống sống (thường do phù nề dây chằng vàng hoặc do thoát vị đĩa đệm) biểu hiện điển hình là đi cách hồi (đi khập khiễng, nặng nề, đau đớn, khó chịu ở cẳng chân và mông khi hoạt động) hoặc các tình trạng mất vững cột sống như do trượt đốt sống, việc tập luyện bằng hình thức đi hoặc chạy bộ rõ ràng là rất khó khăn. Trong trường hợp này, đạp xe đạp, tập dưới nước và kéo giãn là hình thức phù hợp nhất.

Với các vấn đề cột sống do viêm như viêm cột sống dính khớp (Bechterew), trong các trường hợp điển hình đau xuất hiện cả khi gắng sức và khi nghỉ ngơi. Trong giai đoạn tiến triển, bệnh nhân đau nhiều, nên cho nằm ở tư thế cơ năng (nằm ngửa, kê gối thấp hoặc không gối, tay chân duổi thẳng hơi dạng). Nếu có thể vận động được nên khuyến khích bệnh nhân vận động càng sớm càng tốt nhằm tránh dính khớp. Đối với trường hợp bệnh lý này, mọi hình thức vận động cột sống đều có thể áp dụng miễn là người bệnh có thể thực hiện được.

Các bài tập cụ thể cũng như cường độ, tần số, thời gian tập khác nhau tùy từng cá thể, tùy từng tình trạng bệnh lý và giai đoạn của bệnh, mục đích của việc tập luyện. Tuy nhiên về cơ bản phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

– Đối với những trường hợp mắc bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp hoặc bệnh nội khoa, nên tư vấn thêm bác sĩ chuyên khoa trước khi tập luyện.

– Luôn đảm bảo thực hiện đúng y lệnh trong “đơn” hoạt động thể lực.

– Những trường hợp bệnh nặng hoặc động tác khó nên thực hiện dưới sự hướng dẫn, giám sát và trợ giúp của bác sĩ hoặc kỹ thuật viên.

– Thiết lập thói quen tập luyện thường xuyên.

– Người tập thường xuyên đánh giá và kiểm soát hoạt động tập luyện nhằm tìm được phác đồ phù hợp nhất cho bản thân.

Lê Anh

Nguồn đời sống

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Bên cạnh các phương pháp điều trị thông thường, hiện nay, những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Điển hình cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương.

Điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Theo thông tin đăng trên tạp chí Y dược lâm sàng tập 5 – số 6/2010 (bệnh viện TƯ Quân đội 108) về nghiên cứu “Tác dụng hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Cốt Thoái Vương” do GS.TS Nguyễn Văn Thông – Chủ nhiệm khoa Thần kinh, bệnh viện TƯ Quân đội 108 cùng các cộng sự thực hiện trên 141 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được chia thành 2 nhóm: nhóm I gồm 85 bệnh nhân điều trị theo phác đồ thông thường (vật lý trị liệu, dùng thuốc giảm đau chống viêm; tiêm hydrocortisone ngoài màng cứng) kết hợp với Cốt Thoái Vương 4 viên/ ngày; nhóm II có 56 bệnh nhân chỉ điều trị phác đồ thông thường. Kết quả cho thấy: Nhóm không dùng Cốt Thoái Vương: kết quả rất tốt và tốt 23,2%, khá 21,4%. Nhóm có sử dụng Cốt Thoái Vương đạt kết quả giảm đau, cải thiện vận động cột sống thắt lưng rất tốt và tốt chiếm 23,53%, khá 40,0% cao hơn nhóm đối chứng. Sản phẩm Cốt Thoái Vương không gây tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Tác dụng của Cốt Thoái Vương có được là nhờ sự phối hợp từ các thành phần thiên nhiên, đặc biệt là thành phần chính dầu vẹm xanh giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương và nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Do đó, sản phẩm giúp giảm đau, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nói riêng và các bệnh lý về cột sống nói chung.

Kết quả nghiên cứu trên đã phản ánh tín hiệu tích cực khi dùng Cốt Thoái Vương để hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời có thêm lựa chọn khả quan cho các bác sĩ cũng như người bệnh.

Minh Trí

Theo sức khỏe đời sống

Thoát vị đĩa đệm cột sống – Phòng tránh và điều trị

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể gây tàn phế suốt đời do bị liệt, teo cơ chi, hay chứng đại tiện không tự chủ được do rối loạn cơ tròn, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

Khi bệnh nặng, điều trị thường tốn kém và phẫu thuật khá nguy hiểm, vì vậy cần chủ động phòng tránh.

Các biện pháp phòng tránh

Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
thoat-vi-dia-dem
Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.

Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay, các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính.

Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị.

Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống.

Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng.

Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực.

Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.

Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc.

Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo… Tuy nhiên, bệnh nhân khi có biểu hiện của bệnh cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị

Điều trị thoát vị đĩa đệm có các biện pháp bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Trong các trường hợp nhẹ có thể chỉ cần uống thuốc và tập thể dục phù hợp là khỏi, nhưng thường người bệnh phát hiện ra muộn, khi có biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, nên phải áp dụng các biện pháp nặng hơn, như trước đây phổ biến là phẫu thuật. Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng sóng radio để điều trị.

“Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật bằng sóng radio đó là bệnh nhân chỉ bị gây tê tại chỗ, không mất máu. Đáng nói là thời gian phẫu thuật chỉ khoảng 20 phút và hầu như không gây biến chứng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được ra viện trong ngày, thay vì phải nằm viện 3 đến 4 ngày như trước đây và không cần phải chăm sóc đặc biệt sau phẫu thuật”. Cơ sở áp dụng thành công phương pháp này là Phòng khám An Thái, nhưng để xác định phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh nên đến khám để được bác sĩ tư vấn phương pháp điều trị cụ thể.

Lao xương khớp: Cách điều trị

Lao xương khớp được coi là lao thứ phát, do vi khuẩn lao sau khi qua phổi hoặc hệ thống tiêu hóa sẽ theo đường máu hoặc bạch huyết đến khu trú tại một bộ phận nào đó của hệ thống cơ xương khớp gây bệnh. Bệnh lao xương khớp có thể bị đơn độc hoặc kèm theo lao tại phổi hay tại các cơ quan khác.

Nguyên nhân và triệu chứng

Lao xương khớp là tình trạng nhiễm khuẩn của hệ thống xương khớp do trực khuẩn lao có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Đây là tình trạng lao ngoài phổi phổ biến, chiếm khoảng 7% tổng số các thể lao. Lao xương khớp có thể gặp ở tất cả các lứa tuổi, tất cả các xương khớp trong cơ thể; trong đó lao cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng 60-70% tổng số lao xương khớp, sau đó đến lao khớp háng (10%), khớp gối (5%)…

Lao cột sống còn gọi là bệnh Pott, là tình trạng viêm đốt sống – đĩa đệm do lao hay gặp nhất. Biểu hiện toàn thân: bệnh nhân sốt nhẹ về chiều, vã mồ hôi, gầy sút, da xanh xao, ăn uống kém. Biểu hiện tại chỗ: thường bệnh nhân đau cột sống âm ỉ liên tục, đau tăng về đêm. Khi bị lâu có thể dẫn đến xẹp đốt sống gây gù nhọn. Lao có thể rò mủ ra ngoài, chất mủ giống như bã đậu. Cũng có khi lao tạo thành ổ áp-xe lạnh cạnh cột sống. Khi để muộn có thể gặp một số biến chứng chèn ép thần kinh xung quanh do xẹp đốt sống, thoát vị đĩa đệm, do áp-xe lạnh, do viêm màng nhện tủy. Nếu chèn ép thần kinh ở vùng cột sống thắt lưng gây yếu liệt hai chân, rối loạn cảm giác vùng hậu môn sinh dục, đại tiểu tiện không tự chủ. Nếu chèn ép ở cột sống cổ có thể gây liệt tứ chi. Chèn ép vùng ngực gây đau thần kinh liên sườn, rối loạn cảm giác, yếu liệt hai chân… Trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh, khối áp-xe có thể vỡ vào trung thất  gây hội chứng trung thất, hoặc vỡ vào màng tim, màng phổi gây chèn ép tim, phổi cấp dẫn đến suy hô hấp, trụy tim mạch. Nếu áp-xe vỡ vào cơ thắt lưng chậu gây viêm cơ thắt lưng chậu.

Lao khớp ngoại biên hay gặp là lao khớp háng, khớp gối và một số khớp khác ít gặp hơn như khuỷu tay, cổ tay, cổ chân… Biểu hiện tại chỗ là tình trạng viêm khớp: sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ thường ở một khớp đơn độc; khớp bị tổn thương hạn chế vận động, có thể có lỗ rò ra chất hoại tử bã đậu hay mảnh xương chết. Lâu ngày cơ quanh khớp viêm bị teo, hạn chế vận động. Biểu hiện toàn thân của lao khớp ngoại biên cũng tương tự như lao cột sống. Cần lưu ý hiện nay lao nói chung và lao xương khớp nói riêng thường phối hợp với các bệnh suy giảm miễn dịch, nhiễm HIV, đái tháo đường…

lao_xuong_khop_cach_dieu_tri

Xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

Vấn đề điều trị

Điều trị lao xương khớp bao gồm điều trị cơ bản tức điều trị nguyên nhân bệnh và điều trị phối hợp.

Điều trị cơ bản, tức là dùng thuốc chống lao điều trị nguyên nhân theo các nguyên tắc sau: phối hợp các thuốc chống lao với ít nhất 3 loại thuốc trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Dùng thuốc đúng liều: liều thấp không hiệu quả, dễ tạo vi khuẩn kháng thuốc, ngược lại liều cao dễ gây tai biến. Dùng thuốc đều đặn đặn để đạt sự hấp thu thuốc tối đa. Dùng thuốc đủ thời gian, theo 2 giai đoạn: tấn công từ 2-3 tháng và duy trì từ 4-6 tháng. Cần theo dõi quản lý bệnh theo nguyên tắc DOST (Directly Observed Treatment, Short course) tức là điều trị phác đồ ngắn ngày có theo dõi, kiểm soát trực tiếp việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Cần thường xuyên kiểm tra tình trạng toàn thân, tại chỗ, tiến triển của bệnh cũng như các tai biến có thể xảy ra khi dùng thuốc.

Các thuốc chống lao thường dùng và liều lượng thuốc khi dùng hàng ngày là: Streptomycin (S), Isoniazid (H), Rifampicin (R), Pyrazynamid (Z), Ethambutol (E). Trong trường hợp dùng phác đồ 3 lần một tuần thì liều lượng có sự thay đổi, thường là cao hơn liều hằng ngày.

Các phác đồ chuẩn: đối với lao xương khớp mới phát hiện: dùng phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE hoặc 2S(E)RHZ/4RH. Phác đồ 2 S(E) HRZ/6HE có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 4 loại kháng sinh phối hợp: streptomycin hoặc ethambutol, isoniazid, rifampicin, pyrazynamid; 4 tháng sau dùng hai loại thuốc là isoniazid và ethambutol hằng ngày. Phác đồ này chỉ áp dụng khi kiểm soát trực tiếp được bệnh nhân ở cả giai đoạn duy trì.

Với lao xương khớp tái phát, hoặc thất bại sau phác đồ trên, hoặc điều trị lại sau bỏ thuốc hoặc với thể lao nặng thì áp dụng phác đồ: 2SHRZE/1HRZE/5H3R3E3, có nghĩa là trong 2 tháng đầu dùng 5 loại thuốc phối hợp, tháng thứ ba dùng 4 loại thuốc, 5 tháng tiếp theo dùng 3 loại thuốc mỗi tuần 3 ngày.

Một số trường hợp lao xương khớp đặc biệt như lao ở trẻ em, người già, phụ nữ có thai hay cho con bú, người suy gan thận cần đặc biệt chú ý và có những hướng dẫn điều trị, theo dõi riêng.

Khi sử dụng thuốc chống lao kéo dài cần đặc biệt chú ý đến các tác dụng phụ của thuốc trên đường tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng), đau khớp, rối loạn về thần kinh ngoại biên (tê bì, bỏng rát ở chân), mẩn ngứa phát ban… Trường hợp nặng có thể có ù tai, chóng mặt hay điếc do dùng streptomycin; xuất huyết dưới da, thiếu máu huyết tán do dùng rifampicin, giảm thị lực do dùng ethambutol; vàng da viêm gan do R, H, Z…, hay có thể sốc phản vệ do thuốc. Vì vậy cần theo dõi chặt chẽ về lâm sàng, xét nghiệm máu để có thái độ xử trí thích hợp.

Điều trị phối hợp: Ngoài điều trị thuốc cơ bản, đặc hiệu thì trong lao xương khớp, việc điều trị phối hợp rất quan trọng.

Bất động tương đối vùng tổn thương: bất động trong thời gian tiến triển của bệnh bằng máng bột, áo bột, nẹp bột hay áo, nẹp chỉnh hình; sau đó nếu có thể thì vận động trở lại sớm để tránh dính, cứng khớp.

Điều trị tốt bệnh phối hợp: HIV, đái tháo đường…

Phòng, điều trị các tác dụng phụ của thuốc.

Nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao thể trạng, chế độ ăn uống nhiều đạm, vitamin.

Kết hợp thuốc giảm đau, chống viêm, giãn cơ nếu đau nhiều.

Điều trị ngoại khoa phối hợp trong các trường hợp cần thiết: phẫu thuật loại bỏ ổ tổn thương, giải phóng chèn ép, điều trị chỉnh hình…

Phòng bệnh

Cách ly người bệnh, tránh lây nhiễm. Những người trong gia đình có tiếp xúc với bệnh nhân lao cần được khám và chụp Xquang phổi để phát hiện sớm tình trạng nhiễm lao, từ đó có biện pháp điều trị và quản lý hợp lý, tránh lây lan.

Người bệnh cần được theo dõi quản lý chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc điều trị bệnh nhằm tránh hiện tượng lao tái phát, lao kháng thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình
Theo SKĐS

Cách hạn chế nguy cơ gây đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa là căn bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30-60. Ngoài các nguyên nhân bệnh lý như: tổn thương ở cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh, thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn) thì nguy cơ gây đau thần kinh tọa tăng cao ở những trường hợp thường xuyên phải lao động chân tay nặng nhọc, làm việc sai tư thế; các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, vận động viên cử tạ…

Dấu hiệu nhận biết bệnh

Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Chức năng chính của dây là chi phối cảm giác, dinh dưỡng và vận động cho hai chân, đặc biệt là cẳng chân.

Đau dây thần kinh tọa có biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1). Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út. Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân. Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa

Thoát vị đĩa đệm gây đau thần kinh tọa

– Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

– Cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên.

– Nhói lưng khi ho, khi hắt xì hơi, khi cười.

–  Cột sống cứng, bị đau khi chuyển dịch hoặc nghiêng người .

– Khó cúi người xuống vì đau.

– Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Đau tăng thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi,…

– Có thể thấy teo cơ bên chân đau nếu tình trạng đau kéo dài.

Trong trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường, nhưng cơn đau có thể gây khó chịu, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Nếu bị đau nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và khả năng lao động. Nếu không điều trị kip thời, bệnh có thể để lại những biến chứng như yếu liệt cơ, chân tê bì mất cảm giác, đi lại khó khăn, tiểu tiện khó…

Điều trị như thế nào?

Khi người bệnh thấy những biểu hiện của đau thần kinh tọa cần phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ kiểm tra, chẩn đoán và có chỉ định điều trị phù hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có  phương pháp chữa trị phù hợp. Trong giai đoạn đau cấp tính người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và có thể dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu bệnh nặng không thuyên giảm hoặc có biến chứng như yếu cơ, teo cơ, người bệnh đau nhiều, đau tái phát nhiều lần thì bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật.

Hạn chế nguy cơ gây bệnh

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa2

Để hạn chế mắc bệnh đau dây thần kinh tọa, chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng tránh như: Không nên lao động quá sức, làm việc sai tư thế. Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu. Nếu phải ngồi làm việc lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang, vác, hay nhấc vật nặng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng, hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất, không nên nhảy từ trên cao xuống, không nên thay đổi tư thế một cách đột ngột,…

Ngoài ra để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống.

Khi có dấu hiệu của bệnh cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ chuyên khoa khám xác định nguyên nhân và mức độ của bệnh để có chỉ định điều trị phù hợp, hạn chế được những biến chứng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động.

BS. Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Cách phòng bệnh đau thắt lưng cấp

Đau thắt lưng cấp là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Bệnh thường tái đi tái lại nếu không điều trị sớm và đúng bệnh dễ chuyển thành đau lưng mạn tính.

Đau thắt lưng cấp là gì?

Đau thắt lưng cấp là đau ngang vùng thắt lưng, người bệnh có thể bị đau một nơi ở giữa cột sống hoặc đau ở các điểm cạnh cột sống vùng thắt lưng. Đau nhiều khi lan tỏa sang hai bên. Đau thắt lưng cấp thường xảy ra do hoạt động sai tư thế trong sinh hoạt lao động, sinh hoạt thường ngày như: khiêng, nhấc vật nặng trong tư thế cúi lưng hay trong các tư thế đứng kiễng chân với tay cao, nhón gót lấy vật nặng trên cao… khiến người bệnh không đứng thẳng lên được, phải đi đứng lom khom. Ngoài ra, bệnh cũng còn thấy trong các trường hợp ngồi liên tục nhiều giờ (nhân viên văn phòng, thợ may, lái xe…). Ở những người công việc đòi hỏi phải khom cúi (như cấy, gặt lúa), các vận động viên thể thao hay sử dụng tư thế cúi lưng và xoay thân thình lình. Bệnh cũng hay gặp ở những phụ nữ sau mãn kinh…

cach_phong_benh_dau_that_lung_cap_01

Điều trị sớm, hiệu quả cao

Việc điều trị đau thắt lưng cấp phải được thực hiện sớm và dứt điểm nếu để bị tái phát nhiều lần sẽ trở thành đau thắt lưng mạn tính. Nếu điều trị sớm và đúng phương pháp sẽ mang lại kết quả tốt, bệnh nhân nhanh phục hồi và sớm trở lại công việc hằng ngày. Điều quan trọng, trong quá trình điều trị bệnh nhân phải tuân thủ đúng phác đồ của bác sĩ.

Phòng bệnh đau thắt lưng cấp

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Đây chính là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.

cach_phong_benh_dau_that_lung_cap_02

Không cúi gập người khi bê vật nặng

Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm.

Khi bê, nâng đồ vật lên: Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc; Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống; Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra; Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên; Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

Như vậy, việc phòng bệnh đau thắt lưng cấp là rất quan trọng. Ý thức giữ cột sống trong tư thế tốt nên được quan tâm và thực hiện hằng ngày. Tư thế tốt khi làm việc, sinh hoạt, lao động dù nhẹ hay nặng là rất quan trọng. Càng lớn tuổi, càng phải chú ý giữ tư thế tốt vì cột sống của người có tuổi không còn mềm dẻo như khi còn trẻ.

Bác sĩ  Nguyễn Minh Hiệp
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm có phải là bệnh?

Thoát vị đĩa đệm tiếng Pháp gọi là Hernie dícale. Từ thoát vị – Hernie dùng để mô tả rất nhiều biểu hiện đặc trưng bởi sự nhô ra hay lồi ra một cơ quan hay một phần cơ quan ngoài vị trí bình thường của nó, ta vẫn thường nói thoát vị bẹn, thoát vị rốn… Đĩa đệm – Discale nằm giữa liên đốt sống, như vậy thoát vị đĩa đệm là sự nhô ra một phần của đĩa liên đốt sống.

Thoát vị đĩa đệm xảy ra như thế nào?

Đĩa đệm nằm giữa liên đốt sống, xung quanh cấu tạo bởi các cung xơ, ở giữa là nhân cứng gelatine, đĩa đệm có vai trò như chống xóc và tạo tính mềm dẻo cho cột sống. Cung xơ có vai trò giữ cho nhân gelatine nằm trong đĩa đốt sống. Tránh rách, đứt chui ra khỏi vòng cung xơ. Bình thường, nhân gelatine nằm chính giữa đĩa đệm xung quanh có các cung xơ. Nhân gelatine nhô ra và băng qua khỏi cung xơ gọi là thoát vị đĩa đệm, thoát vị di chuyển và thoát vị xuyên qua ngoài dây chằng, ép rễ gây đau thần kinh vùng tổn thương, nhân gelatine chui ra khỏi cung xơ gây ép tuỷ. Một số người có thoát vị đĩa đệm nhưng không nhận thấy triệu chứng vì thoát vị không liên quan đến thần kinh, như vậy tỷ lệ thoát vị đĩa đệm khó đánh giá. Thoát vị đĩa đệm có thể ép tuỷ nhưng hiếm gặp.

Cột sống có ba đoạn: đoạn cổ, đoạn ngực và đoạn thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra bất kỳ đoạn nào của cột sống. Khoảng 95% thoát vị đĩa đệm ở đoạn cột sống thắt lưng. Trong trường hợp này thoát vị có thể gây đau vùng thắt lưng gọi là đau thắt lưng – Lombalgie. Nếu thoát vị ép vào rễ của thần kinh toạ có thể gây đau dọc mặt sau của chân, ta gọi là đau thần kinh toạ.Thoát vị đĩa đệm hay gặp những người tuổi từ 35 – 55 tuổi, nam hay gặp hơn nữ liên quan thể lực khoẻ, liên quan nghề nghiệp hoặc chơi thể thao.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm: Người ta nhận thấy thoát vị có liên quan đến tuổi, do thoái hoá đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể. Những người quá béo hoặc phụ nữ thời kỳ mang thai ép lên cột sống thường xuất hiện đau vùng lưng. Một số người đau lưng do ảnh hưởng yếu tố di truyền nên có thể thấy thoát vị đĩa đệm từ lúc còn rất trẻ.

thoat_vi_dia_dem_co_phai_la_benh

Các động tác đột ngột như nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể rất dễ gây thoát vị đĩa đệm

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Ngày nay, nhờ các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cột sống mà hình ảnh thoát vị đĩa đệm sẽ được phát hiện, mặc dù hình ảnh thoát vị đĩa đệm có giống nhau giữa người này và người khác, song biểu hiện triệu chứng khác nhau. Một số người có thể có thoát vị đĩa đệm nhưng không có triệu chứng đau lưng, đối với người khác đau khủng khiếp. Đôi khi thoát vị đĩa đệm ép vào rễ thần kinh. Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng gây đau thắt lưng, nếu đau dọc chân gọi là đau thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cổ, gây cứng cổ và đau vùng cổ, đôi khi lan ra hai vai và cánh tay. Thoát vị đĩa đệm cổ có thể thấy cảm giác như dị cảm đầu chi hoặc cảm giác yếu mỏi vùng cẳng tay và cánh tay.

Điều trị thoát vị đĩa đệm

Thái độ trước tiên để giảm sức căng cho cột sống nằm nghỉ trên giường và dùng thuốc làm dịu đau và giảm viêm. Phần lớn, các trường hợp thực hiện như trên là đủ để giảm triệu chứng và chữa khỏi thoát vị đĩa đệm. Ngoại khoa rất ít khi phải can thiệp, tuy nhiên khi có thoát vị phối hợp với yếu tay chân hoặc liệt tay chân hay có biểu hiện rối loạn đại tiểu tiện thì cần can thiệp ngoại khoa sớm. Trường hợp đau cấp và đau nhiều nằm nghỉ trên giường từ một hoặc hai ngày và lấy lại các hoạt động nếu có thể để tránh teo cơ và yếu cơ lưng.

TS. Mai Thị Minh Tâm
(Khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện E)
Theo SKĐS

Giải pháp mới cho người bị tổn thương cột sống

Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, đã ứng dụng thành công phương pháp mới điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cột sống như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống thắt lưng, đau thần kinh tọa… cho nhiều trường hợp bằng thiết bị silicon (DIAM) giúp cột sống vững chắc, tránh cho bệnh nhân khỏi bị liệt, gù, hết đau và cử động bình thường. Đây là một phương pháp tiên tiến, hiện đang áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới như: Mỹ, châu Âu và một số nước châu Á… Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật này.

Trả lại sự mềm mại cho cột sống lưng người bệnh

Sau nhiều năm sống chung với chứng đau lưng và đau bại một bên chân, bệnh nhân Ngô Thanh V., 54 tuổi (thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) chạy chữa nhiều phương pháp nhưng chẳng đỡ được là bao. Gần đây, bệnh nhân đau nhiều và khó khăn trong việc đi lại. Kết quả chiếu chụp cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống L4-L5 và hẹp thân đốt sống L3 bị phù nề. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật cột sống – Bệnh viện Việt Đức quyết định dùng phương pháp cố định động cột sống liên gai sau bằng thiết bị silicon (còn gọi là DIAM) để xử trí những đau đớn cho bệnh nhân V. Chỉ sau vài ngày đặt DIAM, bệnh nhân đã giảm đau rất nhiều và đi lại được.

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa Phẫu thuật cột sống cho biết, trước đây đối với các trường hợp này thường được mổ mở giải hẹp, rồi nẹp vít để cố định cột sống. Tuy bệnh nhân cũng hết đau nhưng nẹp vít lại khiến bệnh nhân rất khó cử động, chỉ có ưỡn mà không thể gập được người. Hơn nữa, qua thời gian có thể mòn và gãy dễ gây tai biến, còn các trường hợp bị xẹp do loãng xương hoặc vừa loãng xương vừa chấn thương do thoát vị đĩa đệm… thì phải sống chung với đau đớn suốt phần đời còn lại do xương của bệnh nhân giòn, dễ vỡ. Còn DIAM là loại dụng cụ được đưa vào khe giữa hai mỏm gai sau đốt sống thắt lưng nhằm làm giãn và cố định động 2 đốt sống. Ưu điểm của phương pháp này không những cố định được cột sống và giải ép các nguyên nhân chèn ép thần kinh mà còn đảm bảo độ mềm dẻo của cột sống, giúp bệnh nhân cúi và ưỡn thoải mái. Đặc biệt, DIAM còn có tác dụng hữu hiệu khi phối hợp với vít cố định cột sống hoặc trên các bệnh nhân bị lấy nhân đĩa đệm… giúp bệnh nhân khỏi bị xẹp đĩa đệm, làm chậm quá trình thoái hoá diện khớp và đĩa đệm liền kề chỗ cố định. Với phương pháp này, bệnh nhân hầu như không còn cảm thấy đau, rất ít biến chứng, có thể đi lại sau 1 – 2 ngày phẫu thuật.

Theo TS. Thạch, phương pháp này ít gây tai biến cho bệnh nhân vì silicon tương thích với cơ thể con người, có độ đàn hồi tốt nên hiếm khi gây ra các biến chứng như tuột hoặc đứt…. Hơn nữa, đây là dạng phẫu thuật can thiệp tối thiểu không đụng chạm trực tiếp đến cấu trúc thần kinh vào rễ thần kinh tủy sống nên không gây ảnh hưởng đến chức năng quan trọng của vùng cột sống và phần mềm ít bị phá huỷ. Tuy nhiên, theo TS. Thạch, không phải ai cũng thực hiện được kỹ thuật này. Để tiến hành, cần phải có phẫu thuật viên chuyên khoa, được đào tạo bài bản. Kỹ thuật này không áp dụng được đối với các bệnh nhân bị trượt đốt sống mất vững, gãy đốt sống, khuyết hở eo đốt sống, vẹo cột sống bẩm sinh, khối u vùng cột sống. Trong 1 – 2 tháng đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân cần làm việc nhẹ nhàng, không mang vác nặng.

giai_phap_moi_cho_nguoi_bi_ton_thuong_cot_song

Phẫu thuật cố định cột sống ở BV Việt Đức

TS. Thạch cho biết các bệnh lý cột sống nếu được phát hiện sớm bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kết hợp các bài tập phục hồi chức năng, điều chỉnh những thói quen trong sinh hoạt ảnh hưởng đến bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh thường cố gắng chịu đựng, chỉ khi không thể chịu nổi họ mới tìm đến bệnh viện, khi đó bệnh đã nặng, có thể đã xuất hiện nhiều biến chứng. Việc điều trị nội khoa lúc này không đạt hiệu quả mà phải tính đến giải pháp can thiệp bằng phẫu thuật. Thành công của phương pháp điều trị mới này hy vọng sẽ là một giải pháp tốt cho nhiều người bệnh.

Các bệnh lý cột sống đang ngày càng trở nên phổ biến

Các chuyên gia về cột sống cho hay, các bệnh lý liên quan đến cột sống rất phổ biến, đặc biệt là người luống tuổi, bị loãng xương gây hẹp ống sống. Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn… Trong khi đó, có rất nhiều nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá… Ngoài ra, hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Khi bị hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường đau lưng, đau dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính lan sang 2 bên đùi, xuống chân, gây liệt. Hơn nữa, trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù… Các tổn thương này không chỉ ảnh hưởng đến sự vận động của các bệnh nhân mà liệt và gù còn là gánh năng cho gia đình và xã hội.

Bài và ảnh: Hà Anh
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm: Nguyên nhân gây đau lưng

Trong các nguyên nhân gây đau lưng do căng cơ thắt lưng, hẹp ống sống, viêm khớp cột sống thắt lưng, trượt đốt sống, loãng xương thì thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân thường gặp nhất.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Những đốt sống tạo thành cột sống ở sau lưng được chêm bởi những đĩa nhỏ gọi là đĩa đệm có tác dụng như một miếng đệm giữa hai đốt sống. Khi bị chấn thương hoặc do tiến trình thoái hóa tự nhiên, đĩa đệm bị trượt ra ngoài chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống và gây đau.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm rất đa dạng. Thứ nhất là do các chấn thương cột sống. Thứ hai là do tư thế xấu trong lao động. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung

Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cột sống. Hơn 90% thoát vị đĩa đệm xảy ra ở cột sống thắt lưng.

Thoát vị đĩa đệm nếu không điều trị có thể khiến người bệnh bị tàn phế suốt đời do bị liệt, có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ…

Dấu hiệu nhận biết

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Phần lớn thoát vị đĩa đệm là ở vùng thắt lưng. Triệu chứng điển hình gồm đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân đến mặt lòng bàn chân đến ngón út mặt lưng bàn chân đến ngón cái. Hoặc đôi khi triệu chứng không điển hình như chỉ tê hoặc mỏi ở cẳng chân, đùi hay đau ở vùng bẹn. Trong một số trường hợp nặng có thể bị yếu liệt chân, teo cơ hoặc rối loạn tiêu tiểu.

thoat_vi_dia_dem_nguyen_nhan_gay_dau_lung2

Hình ảnh thoát vị đĩa đệm

Điều trị thoát vị đĩa đệm thế nào?

Hiện nay, điều trị thoát vị đĩa đệm bao gồm điều trị bảo tồn và các phẫu thuật can thiệp. Điều trị bảo tồn bao gồm: nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau, kháng viêm không steroide (NSAIDS), vật lý trị liệu… Khi điều trị bảo tồn không đáp ứng – từ 6 tuần đến 6 tháng – có thể thực hiện các phẫu thuật can thiệp.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, cũng như xu hướng can thiệp tối thiểu bảo tồn cấu trúc giải phẫu học bình thường, hiện nay phương pháp phẫu thuật nội soi cột sống lấy nhân thoát vị là một hướng đi mới với nhiều hứa hẹn. Ưu điểm của phương pháp này là không có sự can thiệp nhiều đến cơ, xương khớp hoặc lôi kéo thần kinh ở cổ, những nguy cơ của hàm xương, không có nguy cơ để lại sẹo sau mổ của thần kinh. Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân vẫn còn khoảng 98% chiều cao của đĩa đệm. Quá trình diễn biến sau phẫu thuật bệnh nhân cảm thấy giảm đau ngay tức thì, có thể đi lại được trong ngày và có thể tập vật lý trị liệu ở nhà. Hầu hết bệnh nhân được vận động bình thường có thể bắt đầu lại trong vòng 1 đến 6 tuần sau phẫu thuật.

Bác sĩ   Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Bí quyết loại trừ chứng đau lưng

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng ngay cả tuổi còn rất trẻ, bởi vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân xảy ra ngay tại cột sống nhưng có nhiều trường hợp đau lưng do nguyên nhân ở một vị trí khác, cơ quan khác trong cơ thể gây nên. Vì đau lưng do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên không có sự phân biệt giàu nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý.

Nguyên nhân gây đau lưng

Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản sau đây: đau lưng do tác động cơ học và đau lưng do hiện tượng viêm.

– Đau lưng do tác động cơ học: Đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hằng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà buộc người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng…).

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_01

Đau lưng cấp tính do thay đổi tư thế đột ngột

– Đau lưng do hiện tượng viêm: Trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… và cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh kiểu như thế này thường gây đau lưng một cách âm ỉ.

Làm thế nào để tìm căn nguyên gây đau lưng

Như trên đã trình bày đau lưng chỉ là một triệu chứng. Trước hết người bị đau lưng nên tự xem xét bản thân mình đau lưng có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? Ví dụ hay đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ, ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với đau lưng như tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế; đau lưng có liên quan đến đau dạ dày hay không; đau lưng ở đoạn nào (phía trên hay vùng thắt lưng); đau có lan ra các vùng xung quanh hay không? Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng khả nghi  nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y. Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây đau lưng là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Bác sĩ có thể yêu cầu làm thêm một số xét nghiệm để chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây đau lưng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì đau lưng cũng dần dần khỏi, ví dụ như ngồi sai tư thế; bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp đau lưng do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may… Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm khuẩn cũng gây đau lưng, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết.

bi_quyet_loai_tru_chung_dau_lung_02

Thoái vị đĩa đệm gây đau lưng

Loại trừ chứng đau lưng bằng cách nào?

Khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng, thầy thuốc sẽ có chỉ định điều trị thích hợp và khi loại trừ được nguyên nhân thì triệu chứng đau lưng cũng biến mất. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản trong ngày một, ngày hai hay trong vài ba tuần, ví dụ như thoái hóa cột sống, lồi đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó, bởi để tái phát thì đau lưng còn tăng hơn nhiều lần so với trước.

Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tùy theo sức mình và bệnh của mình ví dụ như thoát vị đĩa đệm nên đi bộ trên nền phẳng; không đi xe đạp, xe máy, ôtô những nơi gây xóc, mấp mô, nhiều ổ gà… Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hóa cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khỏe cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tùy tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y cả thuốc Đông y. Trong điều kiện cho phép có thể đều trị Đông, Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc lý liệu pháp. Người bệnh cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh đau lưng tái phát.

PGS.TS.BS. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Bệnh loãng xương: con số đáng báo động

Theo tổ chức y tế thế giới, loãng xương (LX) là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 gây nên bệnh tật, chỉ sau bệnh tim mạch. Tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị LX và có trên 150.000 trường hợp bị gãy xương do LX. Đến năm 2050, ước tính toàn thế giới sẽ có tới 6,3 triệu trường hợp gãy cổ xương đùi do LX và châu Á chiếm 51%.

Những con số giật mình

LX là tình trạng mật độ canxi và khoáng chất trong xương suy giảm, làm cho xương trở nên giòn, xốp, dẫn đến nguy cơ gãy xương tăng cao. Hay LX có nghĩa “xương xốp” xuất hiện, khi lớp vỏ ngoài xương bị mỏng đi và giòn, lớp bè xương bị thương tổn. PGS.TS.BS. Lê Anh Thư – Trưởng khoa Nội Cơ Xương Khớp, BV. Chợ Rẫy, Chủ tịch Hội LX TP. HCM nói về bệnh này với cách nói hình ảnh: “LX diễn biến từ từ và thầm lặng. Người bị LX thường không biết mình bị bệnh. Người ta mệnh danh LX là kẻ cắp thầm lặng, từng chút một, đánh cắp đi các khoáng chất trong ngân hàng xương của cơ thể. Thông thường, manh mối đầu tiên dẫn tới LX là khi xuất hiện gãy xương. Gãy xương chính là “đột quỵ” của LX…”. Những người bị LX có nguy cơ gãy xương tăng gấp 3 – 5 lần so với người không bị LX. Một yếu tố nguy cơ quan trọng khác là tiền sử gãy xương. Một khi bệnh nhân đã bị gãy xương, nguy cơ gãy xương lần thứ hai gia tăng 2,5 lần so với nguy cơ trung bình trong dân số.

benh_loang_xuong_con_so_dang_bao_dong

Đo mật độ xương bằng máy DXA Hologic tại BV 115. Ảnh T.N

PGS.TS.BS. Nguyễn Thy Khuê – Chủ tịch Hội Nội tiết và Đái tháo đường Việt Nam – cho biết, hậu quả của LX thường rất nặng nề. Thông thường, bệnh chỉ được phát hiện từ một ca chấn thương nhiều khi rất nhẹ ở hệ xương: một cú ngã từ tư thế đứng, trượt chân trong phòng tắm, bước hụt cầu thang… làm gãy xương cổ tay, gãy xương cẳng chân dồn cột sống… Gãy xương khi bị những chấn thương nhẹ này là hậu quả cuối cùng của bệnh LX, thường gặp ở các vị trí chịu lực của cơ thể như cột sống thắt lưng và cổ xương đùi. Với người cao tuổi, thường có nhiều bệnh lý đi kèm như: tim mạch, huyết áp, đái tháo đường… Đặc biệt, với tình trạng LX nặng sẵn có (thiếu khoáng chất và protein của xương) thì việc liền xương thường rất khó và lâu. Đa số người bệnh phải nằm tại chỗ, thậm chí phải nằm điều trị dài ngày trong bệnh viện. Điều này không những làm tình trạng LX càng nặng lên mà còn kéo theo nhiều nguy cơ rất bất lợi cho sức khỏe như: bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các nơi tì, đè… Đây cũng là một nguyên nhân chính gây tàn phế và giảm tuổi thọ cho người mắc bệnh.

Theo thống kê ở các nước phát triển, gần 21% người có tuổi bị gãy cổ xương đùi sẽ tử vong trong vòng 6 tháng đầu vì các biến chứng do nằm lâu nêu trên. 20% người bệnh phải có người trợ giúp trong suốt cuộc đời còn lại. 30% người bị tàn phế, phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Chỉ có khoảng 30% có thể trở lại với cuộc sống bình thường nhưng lúc nào cũng bị nguy cơ tái gãy xương “rình rập”.

Theo số liệu của Tổ chức Chống loãng xương quốc tế (IOF), trên thế giới, cứ 3 phụ nữ thì có 1 người bị LX. Ở nam giới, tỉ lệ này là 1/5. Riêng tại Việt Nam, theo số liệu khảo sát bước đầu của Viện Dinh dưỡng, bệnh LX ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi. Trong khi đó, khẩu phần ăn của người Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu hạn chế LX. Lượng canxi đưa vào cơ thể trung bình là 524mg/người/ ngày, thấp hơn nhiều so với nhu cầu trung bình 800 – 1.000mg/người/ngày đối với người lớn.

Phòng ngừa LX là thuốc chữa tốt nhất

LX là một trong những bệnh mãn tính tiêu tốn nhiều tiền nhất. Chi phí điều trị LX tương đương với điều trị bệnh đái tháo đường, và cao hơn nhiều so với 2 căn bệnh ung thư ở phụ nữ là: ung thư vú và ung thư cổ tử cung. Đặc biệt, điều trị LX không biến chứng chiếm hơn 50% thu nhập bình thường của người Việt Nam, nên hầu như người Việt Nam không có khả năng theo đuổi quá trình điều trị lâu dài, hết năm này qua tháng nọ.

Các chuyên gia cho rằng: phòng chống LX là thuốc chữa tốt nhất. Duy trì hệ xương chắc khỏe chỉ cần 4 bước đơn giản: cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho xương hàng ngày, nhất là canxi; thường xuyên vận động, tập thể dục; không hút thuốc, tránh sử dụng quá nhiều chất có cồn và caffein; đo mật độ xương định kỳ để kiểm tra sức khỏe của xương. Đồng thời, người bệnh cần phải đi kiểm tra xương ngay khi có các triệu chứng như: đau mỏi mơ hồ ở cột cống, đau dọc xương dài, đau mỏi cơ bắp, ớn lạnh, vọp bẻ các cơ, đau khi ngồi lâu hay thay đổi tư thế, đầy bụng chậm tiêu hay nặng ngực khó thở..

Nguyễn Na
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Phòng ngừa đau thắt lưng cấp do tư thế

Đau thắt lưng là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng đau thắt lưng là nguyên nhân hay gặp nhất gây ốm đau và mất sức lao động ở những người dưới 45 tuổi; tỷ lệ đau thắt lưng hằng năm ước tính khoảng 5% dân số; 50% người đau thắt lưng ở trong độ tuổi lao động. Có nghiên cứu cho rằng 60 – 90% người trưởng thành bị đau vùng thắt lưng ít nhất 1 lần trong đời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the

Ai có thể mắc bệnh?

Thắt lưng là vùng được giới hạn từ bờ trên hai xương cánh chậu đến bờ dưới xương sườn 12, hai bên là hai cơ thẳng lưng. Đoạn cột sống thắt lưng có 5 đốt sống từ thắt lưng 1 đến thắt lưng 5 với 6 đĩa đệm (có 2 đĩa đệm chuyển đoạn ngực – thắt lưng và thắt lưng – cùng). Đoạn thắt lưng là đoạn chịu sức nặng của nửa trên cơ thể kháng lại trọng lực nên cấu tạo khỏe, chắc. Vùng thắt lưng có tầm vận động rộng gồm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Biên độ vận động lớn nhất của vùng thắt lưng là ở thắt lưng 5 (L5)  và cùng 1 (S1); đây là vùng bản lề, đảm nhiệm khoảng 75% vận động cúi, ngửa vùng thắt lưng; còn lại 20% ở thắt lưng 4 (L4) và thắt lưng 5 (L5); và 5% ở các mức khác. Lực đè nén cuối cùng của cột sống cũng dồn cả vào vùng L5 và S1.

Đau thắt lưng có thể xảy ra từ từ hoặc đột ngột sau một vận động mạnh hoặc vận động không đúng tư thế; trong trường hợp này chỉ cần nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau thông thường, điều trị vật lý sau một thời gian đau vùng thắt lưng cũng sẽ thuyên giảm, nhưng vấn đề quan trọng là phục hồi lại chức năng vận động của vùng thắt lưng và đề phòng đau thắt lưng cấp và đau tái phát.

Phòng ngừa đau thắt lưng

Ở Việt Nam, ước tính đau thắt lưng chiếm tỷ lệ 2% trong cộng đồng; 6% trong tổng số các bệnh xương khớp. Đau thắt lưng là một vấn đề phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng có nhiều cách xử trí khác nhau, việc điều trị cơ bản của đau thắt lưng là tìm được nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân.

Đau thắt lưng là một trong những chứng bệnh hay tái phát nhất. Có thể những lần đau sau là do tổn thương thực thể của cột sống hoặc do một tình trạng bệnh lý mới xuất hiện, nhưng rất nhiều trường hợp đau thắt lưng cấp và đau tái phát là do người bệnh vận động ở tư thế không đúng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the02

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp và đau lưng tái phát hiệu quả nhất là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.

Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Nếu cần có thể dùng một gối mỏng kê đỡ vùng thắt lưng để duy trì đường cong bình thường của đoạn cột sống này. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm, hạn chế các tư thế làm gấp cột sống.

Khi bê hoặc nâng đồ vật lên: Khi muốn bê hoặc nâng một vật từ dưới đất lên cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình, khoảng cách giữa đồ vật đó với cơ thể và sự phối hợp nhịp nhàng của động tác, cụ thể như sau:

– Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc.

– Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống.

– Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra.

– Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên.

– Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

– Giữ cho độ ưỡn của đoạn thắt lưng vẫn được duy trì ở mức bình thường.

Khi bê và mang đồ vật đi: Khi muốn bê và mang một vật nào đó đi chỗ khác, chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình cũng như vị trí và khoảng cách của vật đó đối với cơ thể. Một số vấn đề cần chú ý như sau:

– Bê đồ vật cần mang đi như đã hướng dẫn ở trên.

– Ôm chắc đồ vật đó bằng hai tay.

– Giữ đồ vật đó sát vào bụng, ở mức ngang ngực – thắt lưng.

– Giữ cột sống thẳng, giữ đoạn thắt lưng ở độ ưỡn bình thường.

– Bước đi bình thường, thoải mái, không bước xiêu vẹo, xoắn vặn.

PGS.TS. Trần Văn Chương
(Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Những tổn thương cơ xương khớp thường gặp khi đi xe máy

Những năm gần đây xe máy đã trở thành một phương tiện giao thông quan trọng vì sự tiện lợi, linh hoạt, phù hợp với mức sống của người dân. Song song là tỷ lệ tai nạn giao thông gia tăng, trong đó phải kể đến tổn thương bộ máy vận động liên quan đến tai nạn xe máy, sử dụng xe máy không đúng cách. Có hai dạng tổn thương chính bộ máy vận động là tổn thương cấp tính và mạn tính.

Chấn thương cấp tính bộ máy vận động do tai nạn giao thông

Một số chấn thương cơ hay gặp như căng giãn cơ, cứng cơ, rách cơ, rách gân. Căng cơ là tổn thương cơ và gân do bị co hoặc kéo căng quá mức. Thường hay bị tổn thương ở chỗ nối cơ gân. Tuy nhiên cũng có thể chỉ bị tổn thưong cơ hay gân. Rách cơ là khi cơ bị kéo căng quá mức thì các sợi cơ hay sợi gân có thể bị xé rách gây chảy máu trong cơ và phản ứng viêm. Ngoài ra chấn thương trực tiếp cũng có thể  gây chảy máu trong bao cơ. Khi bao cơ bị rách, máu tràn ra có thể gây xuất huyết dưới da. Một số trường hợp nặng gân hay cơ có thể đứt hoàn toàn gân, thậm chí sờ thấy được lỗ hổng trong cơ, sưng và tạo thành khối máu tụ. Thường hay bị tụ máu ở mặt trước đùi. Về sau có thể phát triển thành viêm cơ vôi hoá, nhìn thấy được trên phim Xquang, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng co duỗi cơ.

Sau một tai nạn ôtô, xe máy, tổn thương vai thường xảy ra khi bị ngã chống tay, vai xuống đất. Khi vùng vai bị chấn thương thì xuất hiện cảm giác đau, có thể khu trú hay lan xuống cánh tay. Ở thời điểm chấn thương có thể có cảm giác có tiếng động của gãy xương hay rách bao khớp. Khi vận động vùng khớp vai có thể có các tiếng cọ, mài xát. Khám khớp vai thấy có biến dạng kèm theo sưng phía trước hõm vai, bờ viền của vai, đường cong phía bên ngoài vai trở nên bất đối xứng so với bên lành. Trong một số trường hợp, đặc biệt khi gãy xương hay trật khớp vai một số cấu trúc thần kinh và mạch máu của vùng vai và tay cũng bị tổn thương như thần kinh nách hay một số thành phần của đám rối thần kinh cánh tay cũng như động mạch nách. Đánh giá sự toàn vẹn của mạch máu bằng cách sờ mạch ngoại vi như mạch quay và trụ.

Khớp vai bị trật. Trong trường hợp trật khớp vai đơn thuần thì có thể nắn chỉnh khớp. Cần làm Xquang để kiểm tra, sau đó cố định cánh tay trong 6 tuần.

– Tổn thương cổ tay và bàn tay như  gãy đầu dưới xương quay khá thường gặp, sau khi ngã chống bàn tay xuống đất. Bệnh nhân thấy đau, sưng vùng cổ tay, đầu dưới xương quay, không thể ngửa cổ tay. Để phát hiện tổn thương phối hợp cần phải khám thêm thần kinh trụ, quay, giữa, cũng như mạch quay, trụ. Bệnh nhân cần được nẹp cố định ngay và đưa đi chụp Xquang vùng cổ tay. Có thể chườm đá để giảm đau và giảm sưng nề phần mềm vùng tổn thương.

Tổn thương gối rất thường gặp trong chấn thương do tai nan. Cơ gân, dây chằng, sụn khớp, sụn chêm thường hay bị nhất. Có trường hợp bị máu tụ ở phía trước xương bánh chè hay thậm chỉ là tràn máu khớp do dập đầu gối xuống nền đường khi bị tai nạn.

– Bong gân cổ chân rất phổ biến. Tổn thương do trẹo chân vào trong thường gặp hơn là trẹo chân ra ngoài. Khi khám có thể thấy đau sưng, cổ chân có thể bị xoắn lại khi vận động, bước hụt, bước vào chỗ trũng. Phụ nữ thường hay đi giày cao gót, nên rất lúng túng khi xử lý tình huống giao thông và khi bị ngã thì thường bị nặng hơn so với người không đi guốc cao gót. Thường thấy đau gót chân. Tải trọng quá lớn, đột ngột có thể làm đứt gân Achilles.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhung_ton_thuong_co_xuong_khop_thuong_gap_khi_di_xe_may

Khớp vai bình thường                                     Trật khớp vai.

Tổn thương mạn tính bộ máy vận động khi điều khiển xe máy

Đầu tiên là các tổn thương phần mềm bàn cổ tay.  Hay gặp nhất là viêm gân gấp các ngón tay, hay còn gọi là ngón tay lò xo. Người bệnh thấy đau vùng gốc ngón tay phía gan tay, ngón tay khó duỗi thẳng ra, nhiều khi phải gắng sức mới “bật” duỗi thẳng được ngón tay, dường như là lò xo bật ra. Nguyên nhân là do bàn tay thường xuyên ở tư thế co gấp, để điều khiển phương tiện và bóp phanh, đặc biệt ở người dùng xe tay ga. Một tổn thương khác là viêm gân cơ bám vào đầu dưới xương cẳng tay, ở phía mỏm trâm quay hay trâm trụ, thường gặp hơn ở phụ nữ  do phụ nữ thường có gân dây chằng cổ tay lỏng lẻo, khi phải điều khiển xe ở tư thế giữ  thăng bằng khi đi hay rẽ thì phải gắng dùng sức, đặc biệt là ở những người đi xe tay ga, thường có lốp xe rộng bản, gây ma sát lớn trên đường gồ ghề, mấp mô. Bệnh nhân thường đau vùng cổ tay, phía mỏm trâm trụ hay trâm quay, đau tăng lên khi đi xe máy.

Khuỷu tay cũng dễ bị tổn thương khi đi xe máy, đặc biệt là viêm gân vùng mặt ngoài của khuỷu. Khám lâm sàng có thể thấy sưng nhẹ vùng lồi cầu ngoài xương cánh tay, kèm theo điểm đau khu trú, đau tăng lên khi ngửa cổ tay.

Khớp vai cũng dễ bị tổn thương, do bao khớp vai có cấu tạo rất lỏng lẻo, rộng rãi. Chủ yếu là tổn thương các gân cơ quanh khớp vai như gân cơ trên gai, cơ nhị đầu cánh tay. Thường gặp thể viêm quanh khớp vai đơn thuần. Đau vai xuất hiện khi làm một số động tác hàng ngày cần đến khớp vai như chải đầu, gãi lưng, giơ tay lên cao để với đồ vật. Người bệnh thường đau ở mỏm cùng vai. Bệnh nhân cũng không dám duỗi tay, nhấc vai. Vào ban đêm, các triệu chứng đau nhức vai tăng lên khiến bệnh nhân mất ngủ.

Các biện pháp hạn chế tổn thương khi đi xe máy

Thận trọng khi đi xe máy để tránh tai nạn ngã, gây chấn thương. Nên chú ý chọn xe vừa với khổ người, chiều cao của mình, không chọn xe quá to, quá nặng, khó điều khiển khi tham gia giao thông. Chỉ chọn xe tay ga khi có đủ khả năng điều khiển tốt, chứ không nên chọn chỉ vì ý thích hay phô diễn.

Thao tác với xe cũng cần phải chú ý đặc biệt. Không dùng lực để di đuôi xe hay nhấc đuôi xe khi xếp xe ở bãi vì điều đó rất có hại cho tay và cột sống. Không nhấc đuôi xe để dựng xe bằng chân chống giữa, vì cơ thể sẽ phải chịu tải trọng nặng nề của xe máy. Tốt nhất là dùng bàn chân cố định chân chống giữa, sau đó dùng lực toàn thân đẩy xe ra phía sau để dựng chân chống giữa. Người yếu sức hay phụ nữ thi chỉ nên dùng chân chống bên. Khi đưa xe lên nhà qua một số bậc thềm, thì không nên dùng sức mà nên đề xe và điều khiển xe nhẹ nhàng đề dùng sức của máy đưa xe lên. Khi quay chiều xe, đặc biệt khi ở trong ngõ cũng không nên dùng sức rê đuôi xe mà nên dùng chân chống bên để quay xe, hay dùng tay lái trước để điều khiển quay xe nhẹ nhàng.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Sớm phát hiện bệnh gù lưng ở trẻ em

Đây là một thể thoát vị đĩa đệm đặc biệt thường xảy ra ở trẻ em. Bệnh tiến triển rất từ từ, không gây đau đớn “cấp tính” ở cột sống nên thường bị bỏ qua.

Vì sao trẻ lại bị gù lưng?

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_som_phat_hien_benh_gu_lung_o_tre_em

Giải phẫu cột sống bình thường

Bệnh gù lưng ở trẻ em là bệnh loạn sản sụn của đốt sống và đĩa đệm ở vùng cột sống ngực. Bệnh có gây ảnh hưởng đến cột sống thắt lưng và cần phân biệt với những bệnh lý khác của cột sống thắt lưng. Tổn thương bệnh lý thể hiện đốt sống vẹt ở phần trước, nhân nhầy thoát vị chui vào thân đốt sống ở phía dưới đĩa đệm, mặt trên và dưới của thân đốt sống cong lên chứ không lõm xuống, đĩa đệm hẹp, sụn đĩa đệm lồi lõm không đều. Những tổn thương trên thường xuất hiện ở vùng lưng, từ đốt sống ngực thứ 7 đến thứ 11. Bệnh thường gặp ở nam giới, đa số bệnh nhân bắt đầu ở lứa tuổi 13 – 17.

Trẻ bị loạn sản sụn có thể nhận biết dễ dàng không?

Gù lưng là biểu hiện điển hình của bệnh, cột sống lưng gù cong đều, không có đỉnh gù nhọn. Do gù ở cột sống nên cột sống cổ và thắt lưng uốn cong ra trước (ngược lại cột sống lưng) để bù trừ. Giảm sự giãn nở của lồng ngực khi thở, gây giảm dung tích sống của phổi.

Đau ở cột sống lưng, mức độ thường nhẹ, đau có thể lan lên vùng cột sống cổ và xuống cột sống thắt lưng, về chiều đau nhiều hơn buổi sáng. Cũng có những người bị bệnh này nhưng không đau đớn gì. Không có triệu chứng chèn ép tủy hoặc rễ thần kinh. Trên phim Xquang nếu thấy hình ảnh bệnh lý như mô tả ở trên có thể chẩn đoán xác định bệnh. Cần chú ý phân biệt với viêm cột sống dính khớp, lao cột sống, thoái hoá cột sống.

Cách điều trị bệnh là gì?

Bệnh nhân nên cố gắng đi lại, sinh hoạt bình thường. Khi đau nhiều thì dùng thuốc giảm đau, đeo đai đỡ cột sống, điều trị lý trị liệu.

Trong độ tuổi thiếu niên: nên hạn chế tăng độ gù lưng, bệnh nhân cần phải nằm trên giường cứng, không gối đầu; tránh các gắng sức thể lực và thể thao, riêng môn bơi có thể thực hiện ở mức có giới hạn; phải nằm nghỉ vào buổi trưa ở tư thế nằm ngửa; dùng kết hợp một số thuốc giảm đau thông thường nếu đau lưng nặng lên. Liệu trình này không được áp dụng kéo dài quá 6 đến 9 tháng. Tiếp sau cho tiến hành các biện pháp nắn chỉnh cột sống do các thầy thuốc chuyên khoa chỉnh hình hướng dẫn.

Trong độ tuổi trưởng thành: thường xuất hiện chứng đau lưng khi các tổn thương, hư khớp thứ phát phát triển, nhất là ở những người bệnh có trạng thái tâm lý lo âu, rối loạn thần kinh chức năng. Cần cho chụp Xquang cột sống để làm cơ sở cho việc chỉ định các biện pháp điều trị thích hợp. Bệnh nhân phải nằm nghỉ tại giường, tiến hành các biện pháp: xoa bóp, thể dục liệu pháp. Có thể kết hợp dùng các thuốc giảm đau thông thường aspirin, alaxan… Đôi khi phải cho thêm các thuốc trấn tĩnh thần kinh.

Phòng bệnh cho trẻ bằng cách nào?

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_som_phat_hien_benh_gu_lung_o_tre_em2

Biểu hiện gù lưng ở trẻ em

Để phòng bệnh gù lưng cho trẻ, các bậc cha mẹ cần chú ý ngay từ những bước đi chập chững của trẻ. Cần lựa chọn thời điểm thích hợp dạy trẻ tập đi và thực hiện được theo đúng khả năng của mình, tránh nóng vội, muốn trẻ ngồi, đi, đứng quá sớm khiến cột sống non nớt của trẻ phải gánh đỡ sức nặng của đầu và thân mình, dễ khiến trẻ mắc các bệnh cột sống về sau. Khi trẻ đã biết đi, cần dạy trẻ đi một cách tự nhiên, giữ đầu thẳng, hai vai cân đối, ngực hơi ưỡn ra phía trước. Đây là giai đoạn đầu tiên cũng là một trong những bước quan trọng nhất tránh cho trẻ bị gù hay cong vẹo cột sống sau này. Khi trẻ bước vào tuổi đến trường, cần tạo cho trẻ thói quen ngồi học đúng tư thế. Trẻ em tuổi mẫu giáo nếu phải ngồi học hay xem vô tuyến lâu, cột sống rất dễ bị gù, vẹo do hệ cơ bắp chưa đủ sức đỡ được trọng lượng cơ thể trong thời gian dài. Đối với trẻ lớn hơn, cấp tiểu học hay trung học cơ sở, trẻ thường hay ngồi bò ra bàn, ép ngực vào thành bàn, nghiêng vẹo cổ để viết nên dễ bị biến dạng cột sống. Nhiều học sinh bị cong vẹo cột sống hay gù, vai bị lệch, vai cao vai thấp do cột sống bị xoay. Do đó, trẻ cần được tạo những điều kiện sinh hoạt, vui chơi, hoạt động thoải mái để trẻ có thể thay đổi tư thế cột sống thường xuyên, kết hợp các hoạt động thể lực và nghỉ ngơi một cách hài hòa, hợp lý. Mỗi học sinh cũng cần được sắp xếp một vị trí ngồi trong lớp hợp lý để có thể nhìn rõ bảng mà không phải ưỡn hay dướn, ngó nghiêng người dễ dẫn đến bị cong vẹo cột sống.

Ở gia đình, cha mẹ cũng cần luôn quan sát, nhắc nhở trẻ đi đứng, ngồi học đúng tư thế. Nếu trẻ có những dấu hiệu khác thường thì kịp thời chấn chỉnh, tránh để thành tật do tư thế không đúng.

PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS

Lao xương có chữa khỏi?

Để phát hiện sớm bệnh lao xương khớp, khi có dấu hiệu nghi ngờ, cần nhanh chóng khám làm xét nghiệm soi vi khuẩn (chọc hút từ vị trí tổn thương) và chụp Xquang (phổi, cột sống hoặc vị trí xương khớp tổn thương). Tùy từng nguyên nhân mà bác sĩ sẽ đưa ra những phương pháp điều trị tối ưu nhất.

lao_xuong_co_chua_khoi

Lao là một bệnh nhiễm khuẩn do một loại trực khuẩn có tên là Mycobacterium tuberculosis gây ra. Một trong những loại bệnh lao hay mắc nhưng dễ bị bỏ qua là lao xương – đó là tình trạng viêm các khớp, xương do lao. Trong hệ xương khớp, cột sống thắt lưng là vị trí tổn thương thường gặp nhất trong bệnh lao xương. Bệnh lao xương khớp thường xảy ra ở độ tuổi 20 – 40. Yếu tố nhiễm bệnh từ mối quan hệ với người bệnh, nhất là lao phổi, lao hạch, lao thận, bàng quang… Vi khuẩn từ vị trí tổn thương, theo máu di chuyển đến các khớp xương còn là hậu quả của bệnh lao hạch cổ, còn gọi là bệnh tràng hạt. Triệu chứng điển hình của bệnh là đau lưng âm ỉ, đau tăng dần và liên tục kèm theo sốt nhẹ về chiều. Có trường hơp ở bên ngoài thắt lưng phát triển khối u, ấn vào thấy mềm, không đau nhức. Một thời gian khối u vỡ, giải phóng nước vàng và chất bã đậu, tạo vết loét gọi là “áp-xe lạnh ngoài cột sống”. Trong đa số trường hợp, cột sống thắt lưng xuất hiện khối u nổi cộm dưới da, hạn chế cử động. Tình trạng này do vi khuẩn tấn công phần trước đốt sống, khiến phần còn lại của đốt sống bị lệch ra ngoài. Do lao xương khớp tiến triển chậm, âm ỉ, người bệnh chủ quan dễ bỏ qua, không được điều trị và phát hiện kịp thời nên gây những biến chứng nghiêm trọng. Đó là: liệt tứ chi do vi khuẩn làm cột sống biến dạng, chèn ép tủy sống và rễ thần kinh, ảnh hưởng đến các cơ quan, phổi, màng não… gây nguy kịch dẫn đến tử vong. Lao xương để lâu không chữa còn có thể dẫn tới xẹp đốt sống gây gù nhọn. Nếu khối áp-xe vỡ vào trung thất thì còn gây chèn ép tim, suy hô hấp, trụy mạch dẫn tới tử vong.

Với tiến bộ của những phương pháp điều trị, bệnh lao xương có thể chữa khỏi hoàn toàn trong 9 – 12 tháng với điều kiện bệnh nhân phải tuân thủ theo chế độ điều trị và dùng thuốc nghiêm ngặt, không để vi khuẩn bị kháng thuốc. Bệnh nhân chủ yếu vẫn là dùng các thuốc chống lao theo đường toàn thân. Cần để khớp nghỉ tương đối ở giai đoạn đầu chừng 4 – 5 tuần bằng cách nằm trên giường cứng, không nên nằm trên đệm mềm, cũng không cần bó bột bất động tuyệt đối như cách điều trị trước đây. Sau đó, phải tập vận động khớp để tránh cứng khớp. Một số trường hợp phải can thiệp ngoại khoa như có ổ áp-xe lớn (cần dẫn lưu mủ, nạo lấy hết xương chết), chèn ép tủy do cột sống gấp khúc, đốt sống xẹp hoặc áp-xe lạnh (cần cắt lá cột sống, dẫn lưu áp-xe).

BS. Hoàng Thanh Hiền
Theo SKĐS

Trẻ dễ bị vẹo cột sống vì nằm đệm mềm

Tư thế ngủ và sự thoải mái của giấc ngủ là những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển trí não cũng như xương của trẻ nhỏ, đặc biệt là những năm tháng đầu đời.

Một nghiên cứu từng được công bố trên tạp chí Pediatrics (Mỹ) cho biết, rất nhiều bà mẹ người Mỹ gốc Phi sử dụng những bộ gối, đệm mềm cho trẻ bất chấp cảnh báo về tăng nguy cơ tử vong. Họ cho rằng sử dụng những bộ gối, đệm mềm giúp trẻ cảm thấy thoái mái hơn và bảo vệ trẻ khỏi bị đau. Song thực tế việc làm này có thể gây nguy hiểm cho trẻ.

tre-em14-veo-cot-song

 Một chiếc đệm cứng vừa phải sẽ tốt cho sự phát triển và giấc ngủ của trẻ.

Phần lớn các ông bố bà mẹ đều cho rằng, nằm trên một chiếc giường có đệm mềm sẽ giúp trẻ ngủ ngon giấc hơn. Thực tế đây là một suy nghĩ sai lầm bởi lẽ xương của trẻ khi còn nhỏ rất mềm và chưa phát triển hoàn thiện, khi để trẻ ngủ trên chiếc giường có đệm mềm một thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của xương. Lâu dài, trẻ có thể bị gù, bị vẹo cột sống hay biến dạng cơ…

Những chiếc giường có đệm mềm sẽ làm tăng độ cong sinh lý của cơ thể, khiến cho các dây thần kinh, dây chằng và khớp của cột sống trong tình trạng quá tải, khó chịu. Hơn nữa, khi nằm trên đệm quá mềm sẽ khiến xương bị võng thành hình cung gây biến dạng cột sống.

Ở trẻ nhỏ, xương chưa được phát triển hoàn thiện, nằm ngủ trên đệm mềm có thể khiến xương sống bị cong. Đặc biệt, đệm mềm không thích hợp với trẻ đang tập lẫy và tập bò. Nguy hiểm hơn, trẻ nhỏ tính hiếu động,  ngay cả trong giấc ngủ, trẻ cũng ít khi nằm yên, nằm trên đệm mềm sẽ tăng nguy cơ chăn trùm qua đầu gây thiếu oxy. Chính vì vậy, tốt nhất là cha mẹ không nên để trẻ nằm trên đệm mềm.

Hãy chọn một chiếc đệm có độ cứng vừa phải giúp cho cột sống ở trạng thái co giãn sinh lý bình thường. Nên chọn loại đệm có độ đàn hồi đồng đều để chỗ tiếp xúc với khuỷu tay trẻ không quá lõm.

Bên cạnh đệm thì việc lựa chọn gối cho trẻ cũng rất quan trọng. Ở trẻ nhỏ, xương đầu vẫn còn rất mềm nên dễ bị biến dạng như bị chứng bẹp đầu, xương đầu bị méo khi bé nằm gối quá lâu với một tư thế nhất định. Hãy cho trẻ gối đầu bằng khăn mềm cao khoảng 1mm hoặc để bé nằm trên một chiếc nệm vừa đủ êm.

Nên chọn loại gối phù hợp để bé có được giấc ngủ ngon. Một chiếc gối êm ái sẽ giúp mạch máu chạy dọc cột sống lên nuôi não và tránh được các nguy cơ biến dạng xương sống, khó thở hay vẹo cột sống.

Gối ngủ của trẻ không nên quá rộng, chỉ vừa đủ đầu để tránh gây ngạt thở cho trẻ. Tuyệt đối không nên chọn những chiếc gối quá cao hay quá thấp vì sẽ gây tác động đến hệ hô hấp và quá trình tuần hoàn máu ở cổ khiến trẻ khó ngủ.

Chất liệu của ruột gối cũng nên là chất liệu mềm mại, nhẹ, thoáng và khô để tiện cho vệc vệ sinh vì trẻ nhỏ thường đổ nhiều mồ hôi trong khi ngủ.

Nguồn st

Luyện tập đề phòng đau vai gáy

Ngồi làm việc trước màn hình vi tính của các công chức, ngồi học kéo dài nhiều giờ của học sinh sinh viên, làm việc ở tư thế ngồi theo dây chuyền công nghiệp của công nhân… dễ dẫn tới cảm giác căng thẳng, đau vai gáy, đau lưng mỏi mắt. Để giúp phòng tránh và cải thiện những rắc rối trên, người lao động cần phải bảo đảm tư thế làm việc và luyện tập đúng để nâng cao hiệu quả lao động, học tập và sức khỏe.

Tại sao cần phải bảo đảm tư thế đúng khi làm việc?

Để tiết kiệm năng lượng cho cơ.

– Đối với lao động cơ bắp: Lượng cấp máu cho cơ đáp ứng đủ theo nhu cầu do cơ co và được thư giãn sau mỗi cử động, trong khi đó lao động tĩnh, cơ phải co liên tục để duy trì tư thế, các sợi cơ khi co sẽ ép vào thành mạch – hiệu ứng bơm cơ sẽ ngăn cản máu đến cơ nên máu đến cơ ít hơn, cơ buộc phải lấy thêm năng lượng để hoạt động từ chuyển hóa yếm khí, acid lactic sẽ ứ đọng trong cơ dẫn tới đau cơ.

luyen_tap_de_phong_dau_vai_gay

 Tư thế ngồi đúng (trên) và sai (dưới) khi ngồi trước máy tính.

– Giảm lực ép, tỳ đè lên cột sống: Cột sống của bạn giống như cột trụ chống đỡ cho cơ thể, bao gồm từ 32-33 đốt sống. Các đốt sống trên và dưới khớp với nhau tạo nên ống sống để bảo vệ tủy sống, ở giữa 2 đốt sống là đĩa đệm có tác dụng như bộ phận giảm xóc cho cơ thể (giảm sức ép lên cột sống trong khi lao động và trong sinh hoạt hằng ngày). Đĩa đệm được cấu tạo bằng một nhân nhày ở giữa, bao bọc xung quanh là vòng xơ.

Đĩa đệm được dinh dưỡng theo kiểu thẩm thấu. ban ngày đĩa đệm phải làm việc, bị mất nước, ban đêm được nghỉ ngơi (ở tư thế nằm lực ép giảm tạo thuận lợi cho việc tái hấp thu nước). Nếu chúng ta không biết bảo vệ cho đĩa đệm (chọn tư thế đúng, tránh tư thế có hại cho đĩa đệm, nghỉ ngơi hợp lý) thì đĩa đệm chóng bị thoái hóa, khi đó chức năng giảm xóc giảm sẽ kéo theo hàng loạt các rắc rối như thoát vị đĩa đệm, thoái hóa khớp sau… gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe.

Lực ép lên cột sống thay đổi theo tư thế của bạn, lực ép ở tư thế ngồi cao hơn rất nhiều so với tư thế nằm và đứng. Trong các kiểu ngồi làm việc, tư thế ngồi mà phải duy trì giữ hai tay không có điểm tựa thì lực ép lên đĩa đệm là cao nhất. Tư thế ngồi tay có điểm tựa là tư thế được chấp nhận, vì bảo đảm cân bằng để làm việc và lực ép lên cột sống thấp, ở tư thế này, lưng được tựa, cẳng tay có điểm tựa.

Một số tư thế đúng để phòng tránh đau vai gáy

– Tư thế làm việc đúng trước máy vi tính:

Vai: Được thả lỏng, cẳng tay luôn ở trên mặt phẳng ngang, vuông góc với khuỷu, cổ tay thẳng trục với cẳng tay.

Cổ: Giữ ở vị trí trung tính, thẳng trục với cột sống.

Lưng: Giữ thẳng, ghế phải có tựa cho vùng thắt lưng.

Khi ngồi, tránh tư thế cong lưng, cần giữ lưng thẳng, cổ thẳng trục với chân, nên kê một gối mỏng ở đoạn thắt lưng. Nên giải lao khi phải ngồi kéo dài, cứ 45-60 phút giải lao một lần.

– Tư thế đúng khi lái xe: Khi lái xe, giữ thẳng lưng, kê gối ở đoạn thắt lưng, đầu và cổ giữ thẳng trục với thân, di chuyển ghế ngồi gần volant sao cho vai cánh tay không bị căng. Khi lái xe khoảng 150-200km nên nghỉ 1 lần.

– Tư thế nằm: Khi nằm không được gối quá cao, làm cột sống cổ không thẳng trục với thân. Nên gối phần đầu và cổ, không được kê gối xuống dưới vai.

– Khi làm việc nhà: Tránh các động tác ngửa cổ trong sinh hoạt hằng ngày như lau cửa, mắc quạt trần, lau đèn, lấy đồ trên cao, để giảm căng thẳng cho cổ vai hãy sử dụng ghế, thang khi làm những công việc này.

Một số động tác luyện tập khi bị đau vai gáy

– Ngồi thư giãn trên ghế, thẳng lưng, đầu, cổ. Xoay đầu từ từ sang 2 bên. Nghiêng đầu sang phải và trái. Thực hiện từ 3-5 lần.

– Ngồi thư giãn trên ghế, nhún 2 vai lên cao, hạ thấp vai và thư giãn, nhắc lại 3-5 lần.

– Ngồi thư giãn trên ghế, xoay vai từ từ ra trước, ra sau rồi xoay tròn.

– Đứng dựa lưng vào tường, chân rộng bằng hông, gót chân cách tường 2-5cm. Hai bàn tay đặt sau gáy, khuỷu hướng ra trước, sau đó dang 2 cánh tay.

– Đứng sát tường, đặt quả bóng cao su lên vùng cơ cổ và vai (không đặt lên cột sống và xương bả vai), từ từ lăn bóng từng bên (trái, phải) 2-3 lần.

Khi phải ngồi làm việc kéo dài bạn nên tập thêm các động tác co chân và bàn chân để cải thiện tình trạng căng cơ và “xuống máu chân” (tăng cường lưu thông máu). Để tập chân và bàn chân bạn có thể ngồi duỗi thẳng đầu gối; ngồi nâng bàn chân khỏi nền nhà; đứng thẳng, tỳ sát lưng vào tường, duỗi thẳng gối, đưa chân ra phía trước; đứng, tay vịn ghế, đá chân ra phía ngoài, đưa chân ra phía sau.

ThS. Ngân Thị Hồng Anh
Theo SKĐS

Biện pháp tập luyện để điều trị và phòng ngừa thoái hóa cột sống thắt lưng

Ước tính hơn 80% những người độ tuổi trung niên trở lên thường bị đau vùng thắt lưng (TL) do thoái hóa cột sống TL. Dưới đây là những điều cơ bản về vùng TL và một số biện pháp tập luyện để điều trị và phòng ngừa chứng đau này.

bien_phap_tap_luyen_de_dieu_tri_va_phong_ngua_thoai_hoa_cot_song_that_lung_01

Kéo dãn cột sống thắt lưng.

Cơ thể học vùng TL

Cột sống của cơ thể con người gồm 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống TL, 5 đốt sống cùng – cụt dính lại với nhau, giữa hai đốt sống có một đĩa đệm. Các đốt sống nối lại với nhau bằng 4 dây chằng: dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng và dây chằng liên gai sống. Điểm đặc biệt của dây chằng dọc sau là có chứa nhiều thụ thể thần kinh cảm giác nên khi chạm vào đấy dễ gây đau. Bên trong đốt sống có ống sống chứa tủy sống. Tủy sống chứa nhiều điểm xuất phát của rễ thần kinh vận động và cảm giác. Đây là nơi dẫn truyền thông tin giữa não và các cơ quan trong cơ thể. Do đó, khi bị chấn thương vùng cột sống, ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến sự chuyển động và khả năng chống đỡ trọng lượng cơ thể, còn có thể gây ra đau hay mất cảm giác hoặc liệt ở phần cơ thể tương ứng.

Nguyên nhân đau vùng TL

Một trong những nguyên nhân đau vùng TL thường gặp nhất là do thoái hóa cột sống TL, bệnh không những gặp ở người cao tuổi mà còn gặp ở người độ tuổi trung niên. Vùng cột sống TL là vùng gánh chịu sức nặng của trọng lượng cơ thể, lại là vùng bản lề cho các động tác hoạt động của cột sống và toàn thân, nên sự thoái hóa cũng diễn ra sớm hơn so với vùng xương khớp khác. Khi đó, các dâychằng, đĩa đệm cột sống giảm đi tính đàn hồi vốn có, vận động sẽ bị giới hạn, cơ vùng TL co cứng dẫn tới tình trạng đau kéo dài, ê ẩm ngang lưng, khi vận động mạnh quá mức có thể có những đợt đau cấp tính. Tình trạng này còn có thể gặp ở những người có liên quan đến nghề nghiệp, tư thế ảnh hưởng nhiều đến cột sống như đứng lâu, ngồi lâu một tư thế, công nhân bốc vác, lái xe, vận động viên cử tạ… gây nên tình trạng thoái hóa thứ phát.

Biện pháp tập luyện

bien_phap_tap_luyen_de_dieu_tri_va_phong_ngua_thoai_hoa_cot_song_that_lung_02

Ngoài việc điều trị bằng thuốc trong bệnh thoái hóa cột sống TL, thực hiện các biện pháp tập luyện cũng góp phần rất thiết thực, phối hợp với công tác điều trị và phòng ngừa bệnh tái phát. Sau đây xin giới thiệu 10 động tác tập luyện, cụ thể như sau:

Động tác 1: xoa bóp huyệt thận du. Đứng thẳng, úp hai bàn tay vào vùng TL, sát lên xuống 20 lần tới khi nóng lên rồi đặt hai bàn tay vào vùng hông, ngón cái hướng ra sau bấm nhẹ vào huyệt thận du (huyệt nằm cách khe giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 hai bên khoảng 2cm) day huyệt khoảng 20 lần theo chiều kim đồng hồ rồi day ngược lại. Động tác này có tác dụng bổ thận giãn gân cơ.

Động tác 2: nằm ngửa trên giường, hai chân duỗi thẳng, hai tay ôm gối, co gấp gối phải vào ngực hết cỡ, giữ vài giây rồi duỗi ra. Đổi chân làm tương tự, mỗi chân làm khoảng 20 lần.

Động tác 3: nằm ngửa thẳng 2 chân, nâng từ từ chân phải lên hết mức tới khi chân vuông góc với mặt giường. Giữ ở tư thế này vài giây hạ chân xuống, làm tương tự với chân trái. Mỗi chân làm như vậy 20 lần.

Động tác 4: tư thế như động tác 3, nâng thẳng cả hai chân hết mức có thể, giữ ở tư thế đó rồi dạng ra, khép vào 3 – 5 lần, hạ chân xuống. Làm như vậy 10-15 lần. 3 động tác trên có tác dụng làm khỏe khối cơ lưng.

Động tác 5: nằm ngửa, hai tay đặt hờ vào đùi, uốn cong người ngồi dậy, tay không bám chặt vào đùi. Rồi từ từ ngồi xuống. Làm khoảng 15 lần.

Động tác 6: nằm ngửa, tay xuôi, tỳ xuống mặt giường, hai chân co. Đẩy hai chân ưỡn bụng lên phía trên, nâng mông khỏi mặt giường rồi từ từ hạ xuống. Làm khoảng 15 lần.

Động tác 7: nằm nghiêng về một phía, chân trên duỗi, chân dưới co, nâng chân trên lên cao hết mức, giữ vài giây rồi hạ xuống. Làm khoảng 15 lần, đổi tư thế làm tương tự với chân kia.

Động tác 8: nằm sấp, hai tay vòng ra sau ôm lấy hông, hai chân thẳng. Ưỡn người nâng nửa người trên khỏi mặt giường, giữ ở tư thế này vài giây rồi hạ xuống, làm khoảng 15 lần.

Động tác 9: nằm sấp, hai tay chống xuống mặt giường, lưng và chân thẳng, chống đẩy khoảng 10 lần. Nếu khi chống đẩy thấy đau từ từ chống đầu gối để hạ dần người xuống. Không nên làm động tác này khi đang đau cấp.

Động tác 10: đứng thẳng, hai tay xuôi thẳng ra trước, gối thẳng, từ từ cúi gập người xuống rồi trở lại tư thế ban đầu. Làm khoảng 15 lần. Lúc bắt đầu tập không nên cố cúi quá thấp gây đau mà phải hạ dần độ cúi.

Khi tiến hành các bài tập này phải chú ý tập từ từ, tránh tập quá sức, khi thấy đau phải ngừng tập, không nên tập trong giai đoạn đau cấp. Những người đã có thoái hóa cột sống trong sinh hoạt phải hết sức tránh các động tác gây sự quá tải về trọng lượng và áp lực cho cột sống. Không nên đứng, ngồi quá lâu một tư thế, nên vận động cột sống, thay đổi tư thế thường xuyên trong khi làm việc, hạn chế tối đa khuân, vác, mang, xách vật nặng, làm việc quá sức. Đối với những người béo phì còn cần phải thực hiện chế độ ăn kiêng và vận động hợp lý để giảm cân, giảm tải trọng đối với cột sống.

BS. CK2. Nguyễn Đức Lê
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm cột sống có thể gây tàn phế (Kỳ I)

Kỳ I: Nguyên nhân và biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống

Thoát vị đĩa đệm cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Ở Việt Nam có tới 17% người trên 60 tuổi bị mắc chứng đau lưng. Còn ở Mỹ, hằng năm có khoảng 2 triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng, với chi phí điều trị lên tới 21 tỷ đô-la. Hiểu biết vấn đề này giúp chúng ta dự phòng có hiệu quả thoát vị đĩa đệm cột sống và giảm bớt chi phí điều trị bệnh.

thoat_vi_dia_dem_cot_song_co_the_gay_tan_phe_ky1

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh.

Các nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm

Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống. Đầu tiên đó là các chấn thương cột sống. Thứ hai là tư thế xấu trong lao động. Đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế xấu. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Cần chú ý rằng tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm. Cơ chế thoát vị đĩa đệm được giải thích như sau. Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Ở những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức…), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.

Các biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.

Tuỳ theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ gây đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau cánh tay. Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống lưng thì sẽ có triệu chứng đau thần kinh liên sườn. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Còn nếu thoát vị đĩa đệm xảy ra ở vùng thắt lưng thì bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì.

Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.

Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ dàng. Trên thực tế bệnh hay bị chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác hay bị chẩn đoán muộn. Đó là do các triệu chứng lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý. Để chẩn đoán xác định cần phải làm các xét nghiệm hiện đại, tốn kém mà không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để làm. Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì tổn thương đĩa đệm không cản quang, do đó không thấy được trên phim. Người ta chỉ gián tiếp đánh giá tổn thương đĩa đệm khi thấy giảm chiều cao khe liên đốt sống, vẹo cột sống. Để “nhìn thấy” đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, phải chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. Khi đó đĩa đệm được “cắt thành từng lát” như khi người bán thịt ở chợ cắt miếng thịt trên sạp để cho người mua xem. Qua đó người ta có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó bác sĩ lập ra kế hoạch để quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.

Hậu quả của thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Thứ nhất, bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.

Tóm lại, thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Do vậy khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc (Khoa khớp, Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm cột sống có thể gây tàn phế (Kỳ II)

Kỳ 2: Cách điều trị và phòng tránh thoát vị đĩa đệm

Các phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm

thoat_vi_dia_dem_cot_song_co_the_gay_tan_phe_ky2

Thoát vị đĩa đệm đốt sống lưng chèn ép dây thần kinh gây đau.

Điều trị thoát vị đĩa đệm tùy theo tính chất tổn thương, biến chứng của bệnh cũng như mức độ ảnh hưởng của bệnh lên khả năng vận động và sinh hoạt của người bệnh. Các biện pháp điều trị bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Điều trị nội khoa bằng thuốc có thể chữa khỏi đa số các trường hợp thoát vị đĩa đệm. Đó là dùng thuốc giảm đau (paracetamol, efferalgan codein), thuốc chống viêm không steroid (celebrex, mobic), thuốc giãn cơ (myonal). Ở cơ sở chuyên khoa khớp có điều kiện kỹ thuật và vô khuẩn người ta còn tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison. Có thể dùng các biện pháp nắn chỉnh cột sống như tác động cột sống, kéo dãn cột sống, mang dụng cụ cố định cột sống cổ hay thắt lưng bị đau. Ở 1-3 tuần đầu tiên, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo dãn cột sống bằng dụng cụ chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Đeo đai lưng hay yếm cổ có tác dụng làm giảm tải tác động lên đĩa đệm. Gần đây người ta bắt đầu sử dụng laser, sóng radio để điều trị đau thần kinh tọa. Về điều trị bằng Đông y, người ta thường áp dụng các phương pháp xoa bóp, châm cứu, ấn huyệt, thủy châm. Xoa bóp có tác dụng giảm đau, chống co cứng và cải thiện chức năng các cơ cạnh cột sống. Trị bệnh bằng châm cứu được phát triển ở Trung Quốc từ 2-3 ngàn năm nay. Châm cứu kích thích tiết ra những chất hóa học tự nhiên có tác dụng giảm đau. Các biện pháp vật lý trị liệu thường dùng là liệu pháp nhiệt như chườm túi lạnh, tắm nước nóng, dùng đệm sưởi nóng. Có thể dùng các biện pháp khác như chiếu tia hồng ngoại, laser, sóng ngắn, từ trường, điện dẫn thuốc… Khi có điều kiện có thể dùng liệu pháp tắm cát, đắp bùn, tắm suối khoáng, tắm biển. Phẫu thuật chỉ có chỉ định trong một số rất ít các trường hợp. Đó là khi điều trị nội khoa không đỡ sau 6 tháng, hay có một số biến chứng của bệnh như liệt và teo cơ, rối loạn cơ tròn. Phẫu thuật nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép. Đó là các biện pháp cắt bỏ đĩa đệm qua da, mổ cắt cung sau, mổ lấy nhân thoát vị.

Các biện pháp phòng tránh và luyện tập cho người bệnh bị thoát vị đĩa đệm

Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm. Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính. Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị. Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống. Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe. Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc. Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo…

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc (Khoa khớp, Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Thoái hóa khớp: Có thuốc chữa khỏi không?

Thoái hóa khớp (hư khớp) không phải là một bệnh mà là tình trạng lão hóa (già) của khớp. Ở đầu xương bao giờ cũng có một lớp sụn, lớp sụn này giúp cho khớp trơn tru, dễ dàng trong vận động, chịu được sức nén, hoạt động. Lớp sụn này luôn luôn được đổi mới, mòn đến đâu đắp lên đến đấy, hỏng đến đâu phục hồi đến đấy. Quá trình cứ xây xây, phá phá như thế kéo dài cho đến tuổi già và từ 50 tuổi trở đi thì quá trình phá nhiều hơn xây, do đó sụn khớp ngày càng mỏng đi, ngày càng nứt nẻ ra… để trơ lại lớp xương ở bên dưới.

Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… đây chính là tình trạng mà ta gọi là thoái hóa.

thoai_hoa_khop_co_thuoc_chua_khoi_khong

Có nhiều nguyên nhân gây thoái hóa nhưng chủ yếu là sự lão hóa của cơ thể (sau tuổi 50 con người đã có những biểu hiện của sự lão hóa). Mức độ lão hóa khác nhau tùy thuộc vào từng cá thể và điều kiện sống của cá thể đó. Thực tế thoái hóa khớp thường biểu hiện ở 3 vị trí: cột sống, khớp gối và khớp háng.

Để điều trị thoái hóa khớp người ta sử dụng phối hợp phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các phương pháp không dùng thuốc: châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, chườm ngải cứu, đắp bùn nóng…

Các thuốc thường dùng trong điều trị thoái hoá khớp:

– Thuốc giảm đau, chống viêm (paracetamol, aspirin, meloxicam, diclofenac): Dùng các thuốc giảm đau, chống viêm từ nhẹ đến nặng (các thuốc này chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng tạm thời).  Nói chung nên hạn chế dùng kéo dài vì những tác dụng không mong muốn của thuốc như loét dạ dày – tá tràng…

– Thuốc bổ sung chất nhày cho khớp: sử dụng những chế phẩm có cấu trúc phân tử gần giống như dịch khớp tiêm vào ổ khớp. Chỉ tiêm khi có hiện tượng  đau, khô khớp, khó vận động và thường tiêm vào khớp gối.

– Thuốc dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin sulfat. Gần đây chất này được nhiều tác giả nghiên cứu để điều trị thoái hóa khớp do có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình thoái hóa khớp.

– Các thuốc bôi, xoa ngoài: tùy theo thành phần hoạt chất trong đó có tác dụng giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, giãn cơ.

– Các thuốc bổ: các thuốc bổ gân, bổ xương… (có giá trị về mặt tâm lý hơn là giá trị thực tế).

Hiệu quả điều trị của thuốc sẽ tốt hơn nếu được kết hợp với vật lý trị liệu và các liệu pháp vận động khác. Khi khớp bị tổn thương quá nặng, mất khả năng vận động phải thay khớp.

Thoái hóa khớp là một tất yếu của tuổi già vì thế không có thuốc chữa khỏi hẳn. Chỉ có thể làm chậm lại quá trình này bằng tập luyện, vận động đúng mức, phù hợp với tình trạng sức khỏe. Tuyệt đối không cho tăng cân (vì nếu tăng lên 1 kg thì khớp phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần), tránh các động tác có hại cho khớp và chỉnh các dị dạng bất thường của khớp (người có bàn chân vẹo, chân chữ O, X )…

Theo SKĐS

Bệnh đau lưng không thể chủ quan

Bệnh đau lưng gặp ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất ở lứa tuổi  30-60. Có khoảng 80% trường hợp bị đau lưng lần đầu không rõ nguyên nhân, chỉ có 6 – 8% trường hợp do bị lệch đĩa đệm cột sống. Có  trên 50% bệnh nhân đau lưng khỏi trong vòng 2 tuần, nhưng tỷ lệ tái phát khá cao sau một tháng trở lên; từ 5-10% bệnh nhân bị đau vùng thắt lưng cấp chuyển thành mạn tính.

Cột sống thắt lưng phải nâng đỡ sức nặng của phần trên cơ thể nên dễ bị đau do tổn thương phần mềm hoặc xương sống. Có nhiều yếu tố môi trường và xã hội ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh đau vùng thắt lưng.

benh_dau_lung_khong_the_chu_quan

Nguyên nhân nào gây đau lưng?

Các nguyên nhân sinh đau lưng thì nhiều, nhưng có thể phân làm hai loại. Một là nguyên nhân do xương khớp bị tổn thương như: viêm tủy xương, hoại tử xương, viêm khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp dạng thấp, khớp bị lão hóa, thoái hóa đĩa đệm cột sống, xoắn vặn vùng giãn đốt sống, chứng gù vẹo cột sống, gãy xương, loãng xương, trượt đốt sống, hẹp ống sống, gân hay là cơ bị rách, bị căng quá mức vì tai nạn hay vì cử động quá mạnh, hoặc đĩa đệm bị xô lệch, khe đốt sống bị hẹp lại… đều có thể sinh đau lưng. Loại thứ hai tuy ít gặp nhưng lại đáng ngại hơn, khi đó đau lưng chỉ là triệu chứng của các bệnh như: phình động mạch, ung thư từ nơi khác di căn vào xương sống, ung thư tủy sống, bệnh ankylosing spondylitis, thường bị ở đoạn dưới thắt lưng làm cho gân quanh các đốt xương sống bị vôi hóa làm cử động không được và đau lưng; khối u, áp-xe cạnh cột sống, áp-xe ngoài màng cứng, bệnh thận, loét ống tiêu hóa…

Các dấu hiệu thường gặp

Do có nhiều nguyên nhân gây đau lưng nên cũng có nhiều biểu hiện bệnh tuỳ thuộc nguyên nhân. Các dấu hiệu thường gặp là: hội chứng đau cơ mạc, những điểm đau có tính chất di động, đau ở vùng xương cùng chậu và mào chậu; Căng giãn xương cùng chậu do bị đứt các sợi của khớp cùng chậu gây ra tăng nhạy cảm ở vùng lõm của lưng, đau tăng lên khi gấp cẳng chân vào, khi nâng và ấn vào giữa khớp gối bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa, đau lan xuống chân; Đau cạnh cột sống lan tỏa ở cả hai phía của cột sống, có thể thấy tăng nhạy cảm đau ở giữa mỏm gai đốt sống hoặc ở vùng diện khớp của đốt sống do các nguyên nhân thường gặp như chấn thương của phần diện khớp, căng giãn cơ, hoặc là các vết rách nhỏ của vòng xơ đĩa đệm; Thoát vị đĩa đệm, triệu chứng gồm: hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, tăng nhạy cảm đau của thần kinh tọa, giảm cảm giác mặt ngoài cẳng chân và đầu ngón cái, động tác gấp bàn chân và ngón cái yếu, hạn chế động tác nâng chân ở tư thế duỗi thẳng, giảm phản xạ gân gót, giảm cảm giác mặt sau cẳng chân và cạnh ngoài bàn chân, động tác gấp gan bàn chân và ngón cái yếu; Kinh nghiệm của nhiều thầy thuốc lâm sàng cho thấy có những triệu chứng biểu hiện nguyên nhân gây bệnh đau lưng như: chệch đĩa đệm thì đau tăng khi ho, hắt hơi, vặn mình, giảm đau khi nằm thẳng; Trượt đốt sống thì khi đứng thẳng và đi lại đau tăng nhưng lại giảm đau khi bệnh nhân ngồi; Đi mạnh đau tăng, nghỉ ngơi giảm đau gặp trong hẹp ống tủy…  Xquang thường không có giá trị chẩn đoán bệnh bởi vì có nhiều nguyên nhân ở ngay cột sống mà trên phim không thấy; Ngược lại nhiều khi thấy có hình ảnh bất thường, nhưng nguyên do đích thực lại ở chỗ khác; Những người trên 40  tuổi chụp Xquang hay thấy bị thoái hóa xương, gai xương nhưng không đau lưng.

Các phương pháp chữa trị

Trừ những trường hợp bệnh đặc biệt, có thể áp dụng một hoặc phối hợp các phương pháp sau đây để điều trị bệnh đau lưng: dùng vật lý trị liệu không dùng thuốc;  dùng các thuốc trị đau lưng; phẫu thuật. Nhiều bệnh nhân đau lưng khi đứng hay ngồi lâu dễ bị đau tăng nhưng khi nằm nghỉ thì hết đau. Tập thể dục nhẹ nhàng cho cơ lưng hoạt động điều hòa nhiều khi đã khỏi bệnh. Vật lý trị liệu giúp bệnh nhân chóng bình phục, khi đã bớt đau nên thực hiện tập vận động nhẹ tại nhà; Châm cứu, kỹ thuật thư giãn, kéo giãn cột sống, chạy điện kích thích thần kinh, xoa bóp bấm huyệt… cũng có nhiều hiệu quả trong việc chữa khỏi bệnh đau lưng. Có thể dùng một trong các thuốc sau để chữa đau lưng: thuốc giảm đau chống viêm như panadol, aspirin, indomethacin, diclofenac,celebrex… Trường hợp đau nặng, khi dùng các thuốc giảm đau và chống viêm không kết quả, có thể dùng thuốc tiêm chống viêm loại steroid, phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Những trường hợp cần được điều trị bằng phẫu thuật như: lệch đĩa đệm cấp tính có ảnh hưởng tới thần kinh; dây thần kinh bị chèn ép như đau thần kinh tọa, gai cột sống, gãy đốt sống…

Theo SKĐS