Tag Archives: chu kỳ kinh nguyệt

Phụ nữ trẻ cần đề phòng buồng trứng đa nang

Buồng trứng đa nang là hội chứng có thể ảnh hưởng tới chu kỳ kinh nguyệt, khả năng có thai, nội tiết, tim mạch, mạch máu và biểu hiện bên ngoài của người phụ nữ (PN).

“Khi người phụ nữ có hội chứng này, đặc trưng sẽ có nồng độ androgen cao (đôi khi được gọi là nội tiết tố nam mặc dù phụ nữ bình thường cũng sản xuất loại nội tiết tố này), không có hoặc kinh không đều, có rất nhiều nang ở buồng trứng” – TS-BS Phan Trung Hòa, BV Từ Dũ khuyến cáo.

Chuyện ghi tại phòng khám

Yến năm nay 15 tuổi, so với nhóm bạn cùng trang lứa thì cô bé đã ra dáng thiếu nữ với chiều cao, cân nặng khá lý tưởng, duy chỉ có “đường kinh nguyệt” bị chậm. Điều này khiến cô có những biểu hiện không bình thường: mái tóc đen dày dần thưa thớt, thay vào đó là lông chân, lông tay mọc rậm rì. Mẹ cô chia sẻ: “Thấy con gái gần đây cứ rón rén hỏi mẹ xem nhà mình có ai nhiều lông như nó không, ăn gì để giảm lông, làm sao để triệt lông khiến tôi băn khoăn. Khi đưa con đi khám mới hay con mình đang mắc chứng bệnh quái ác này…”.
buong-trung-da-nang-phu-nu-tre-cung-kho-tranh
Còn Hoa, cô gái có gương mặt bầu bĩnh ngồi cạnh bé Yến, thì ngược lại. Theo lời Hoa thì cô dậy thì rất sớm, từ năm 10 tuổi. Năm nay 26 tuổi, chưa lập gia đình nên Hoa cũng không quan tâm đến chuyện kinh nguyệt của mình ngày càng thưa thớt (hai-ba tháng mới hành kinh một lần). Cho đến gần đây, tuy không thấy kinh, nhưng hầu như tháng nào cô cũng bị chứng đau bụng kinh hành hạ. Đó là những cơn đau vùng thắt lưng, tuy diễn ra trong vài phút nhưng quặn thắt khiến cô hụt hơi, vã mồ hôi, không đứng thẳng được. Đến bệnh viện kiểm tra, mới hay cả hai bên buồng trứng của cô trứng mọc từng chùm.

Trẻ hơn Hoa là Minh, 24 tuổi, khá mập. Minh cho biết, thời con gái kinh nguyệt của cô rất đều đặn, nhưng không hiểu sao sau khi lấy chồng lại bị tắt kinh. Đi kiểm tra, bác sĩ cho biết cô bị buồng trứng đa nang (BTĐN), theo bác sĩ là vì nồng độ androgen của cô tăng cao, trong khi progesterone lại thấp. Hiện cô đang tuân thủ chế độ ăn kiêng giảm cân và uống thuốc để có kinh.

Mất cân bằng nội tiết

TS-BS Phan Trung Hòa, cho rằng, vấn đề chính trong hội chứng BTĐN là sự mất cân bằng nội tiết của PN. Ở người PN bị BTĐN, buồng trứng của họ sản xuất ra androgen nhiều hơn bình thường. Nồng độ nội tiết này cao sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển và phóng thích noãn (rụng trứng).

Nguyên nhân chính xác chưa được biết, nhưng các yếu tố nguy cơ đã được xác định. Yếu tố di truyền khá rõ khi thường thấy ở PN mà có mẹ hay chị gái cũng bị BTĐN.

Một vài triệu chứng của BTĐN thường gặp gồm: chậm có thai do rối loạn rụng trứng; không có kinh, kinh thưa hoặc không đều; rậm lông, buồng trứng có nhiều nang; mụn trứng cá, da nhờn, gàu; tăng cân, béo phì thường ở vùng hông eo; có những mảng da sậm màu, đen ở cổ, cánh tay, đùi, vú; đau vùng chậu; lo lắng hay bị ức chế, ngưng thở khi ngủ… Các dấu hiệu này có thể tồn tại đến tuổi mãn kinh.

BTĐN có thể xảy ra ở tuổi rất trẻ (11 tuổi). Nguy cơ bị các vấn đề sức khỏe khác: 50% sẽ bị đái tháo đường trước 40 tuổi, nguy cơ bị đột quỵ tim tăng gấp bốn-bảy lần người cùng tuổi, dễ bị cao huyết áp; cholesterol, mỡ trong máu cao và dễ bị ngưng thở khi đang ngủ.

Do mất cân bằng nội tiết, androgen làm suy yếu các nang noãn (trứng) khiến chúng tuy phát triển nhưng không thể trưởng thành (chất lượng trứng không tốt) và hiếm khi có hiện tượng rụng trứng xảy ra.

Các nghiên cứu cũng cho thấy sự liên quan giữa Insulin và BTĐN. Insulin là nội tiết kiểm soát sự thay đổi của đường, tinh bột và thức ăn giàu năng lượng khác để sử dụng và dự trữ. Mức Insulin cao quá mức sẽ làm gia tăng sản xuất androgen dẫn đến mụn trứng cá, rậm lông, tăng cân và rối loạn rụng trứng.

Điều trị như thế nào?

TS-BS Phan Trung Hòa cho biết: Cần thay đổi cách sống để cải thiện tình trạng béo phì, thừa cân bằng giảm ăn thức ăn nhanh, thức ăn nhiều đường, ngọt. Nên ăn nhiều gạo lức, rau, trái cây, thịt nạc. Chế độ ăn này sẽ giúp giảm lượng nội tiết Insulin để chuyển hóa đường, đặc biệt, việc giảm 10% cân nặng có thể giúp chu kỳ kinh nguyệt trở về bình thường và đều hơn.

Việc dùng thuốc vỉ tránh thai kết hợp sẽ giúp chu kỳ kinh đều hơn, giảm mụn, làm giảm được nội tiết androgen. Cũng có thể dùng nội tiết progesterone đơn thuần để điều chỉnh chu kỳ kinh nguyệt và giúp giảm nguy cơ bị ung thư nội mạc tử cung (nhưng không giúp giảm mụn và rậm lông).

Việc điều trị hiếm muộn, nguyên tắc cơ bản là tạo ra sự rụng trứng để tăng cơ hội có thai. Việc mổ nội soi đốt điểm trên buồng trứng (phá bỏ một số nang trứng không rụng) cũng giúp có hiện tượng rụng trứng sau đó. Nhưng loại bỏ các nang trứng không rụng không phải là cách điều trị bệnh triệt để.

Để dự phòng biến chứng, PN bị BTĐN nên được các bác sĩ sản phụ khoa, nội tiết tư vấn điều trị. Việc điều trị nên gồm nhiều mục tiêu chứ không chỉ vì điều trị cho có thai hay trị mụn. Quan trọng và lâu dài là ăn uống đúng, tập thể dục và không hút thuốc.

Nguồn afamily

Tìm hiểu kinh nguyệt và rối loạn kinh nguyệt

Rối loạn kinh nguyệt (RLKN) hay kinh nguyệt (KN) không đều là chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bệnh ảnh hưởng không nhỏ tới sinh hoạt cũng như sức khỏe, nặng hơn có thể gây vô sinh.

tim_hieu_kinh_nguyet_va_roi_loan_kinh_nguyet

Thế nào là RLKN

Chu kỳ KN thường kéo dài từ 21 – 35 ngày, trong đó 3 – 5 ngày có kinh. Lượng máu trung bình mất đi sau mỗi lần hành kinh là từ 50 – 150ml. Chu kỳ KN không đều và không ổn định, lượng máu mất đi sau những ngày hành kinh quá ít hoặc quá nhiều, mức độ huyết sắc tố sau chu kỳ kinh thấp hơn mức kinh thường (120g/l) là những biểu hiện thường thấy ở những phụ nữ bị RLKN.

Những nguyên nhân của RLKN là gì?

Có thể do nhiều nguyên nhân, thường gặp nhất là: stress (nghĩa là trong cuộc sống có nhiều yếu tố gây căng thẳng, lo phiền, đau khổ…), rối loạn tiêu hóa (ăn quá nhiều), nhiễm khuẩn (ví dụ bị viêm cổ tử cung), lao động hoặc luyện tập thể thao quá nhiều, tụt cân (có thể mất nhiều mỡ), thai ngoài tử cung. Một số nguyên nhân khác ít gặp hơn cần được thầy thuốc xem xét như: bệnh lý ở tuyến nội tiết, bệnh về máu, bệnh giảm tiểu cầu.

Những RLKN thường gặp

Chu kỳ kinh ngắn, nhiều, kéo dài: chu kỳ KN ít hơn 21 ngày gọi là “chu kỳ kinh ngắn”, ngày hành kinh kéo dài 7 ngày gọi là “kỳ kinh kéo dài”. Còn về lượng kinh thì thông thường chỉ có thể dựa vào số băng vệ sinh dùng để phán đoán. Nếu máu hành kinh chảy ra quá nhiều, có những cục máu lớn; sau chu kỳ kinh, mức độ huyết sắc tố thấp hơn mức bình thường (120g/l) thì được coi là lượng KN nhiều.

Xuất huyết không theo quy luật: KN hoàn toàn không có tính quy luật, thời gian giữa 2 kỳ kinh có thể kéo dài vài tháng mà cũng có thể là dăm ngày. Lượng KN có lúc nhiều nhưng cũng có lúc ít.

Xuất huyết giữa kỳ kinh: thường bị xuất huyết vài ngày trong thời gian giãn cách giữa hai chu kỳ (lượng máu thường là tương đối ít).

KN thưa, ít: chu kỳ KN ở trong khoảng từ 36 ngày đến 6 tháng thì gọi là KN thưa. Thời gian hành kinh ít hơn 3 ngày, lượng băng vệ sinh dùng rất ít hoặc thậm chí không cần dùng thì gọi là KN ít (dân gian còn gọi máu bồ câu).

Vô kinh: chỉ KN ngừng từ 6 tháng trở lên.

Thống kinh: trong thời kỳ KN, bụng dưới đau dữ dội, ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt. Trước khi vào viện, nếu người bệnh đã uống một loại thuốc gì và liều lượng ra sao thì cần phải nói rõ với bác sĩ, bởi vì có một số loại thuốc hormone nếu dùng không đúng sẽ dẫn đến RLKN.

RLKN ảnh hưởng như thế nào tới sức khỏe?

Cơ thể phát triển bình thường, vòng kinh đều đặn và ổn định là yếu tố vô cùng quan trọng đối với khả năng sinh sản của phụ nữ. Chu kỳ kinh quá dài hay quá ngắn cũng gây khó khăn cho việc thụ thai.

Chu kỳ kinh kéo dài gây bất tiện cho sinh hoạt hàng ngày. Đó cũng là giai đoạn nhạy cảm của cơ thể. Vi khuẩn dễ dàng tấn công gây nên những bệnh viêm nhiễm “vùng kín” như: viêm âm đạo, u màng trong tử cung, viêm buồng trứng… Nếu lượng máu trong những ngày có kinh mất đi quá nhiều sẽ gây nên bệnh thiếu máu, cơ thể sẽ dễ mệt mỏi, cáu gắt, khó chịu.

Khi nào thì cần đi khám bác sĩ?

Nên thường xuyên theo dõi chu kỳ KN của mình. Khi vòng kinh của bạn dài, ngắn bất thường hay lượng máu mất đi trong những ngày có kinh quá nhiều, hãy đi khám bác sĩ ngay. Nếu để quá lâu sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe cũng như khả năng sinh sản.

Ăn uống và sinh hoạt thế nào khi RLKN?

Khi bị RLKN, cơ thể bạn thường mệt mỏi, khó chịu. Hãy bổ sung vào thành phần bữa ăn hàng ngày các nhóm thực phẩm giàu vitamin nhóm B như: cá, thịt, bò, trứng, sữa, pho mát… Nên ăn nhiều các loại rau và hoa quả, đặc biệt là những loại rau quả có màu đỏ đậm như: cà chua, cà rốt… Hạn chế dùng các loại đồ ăn nhiều chất béo và các loại nước uống có chất kích thích như: rượu, bia, cà phê, thuốc lá…

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. TRẦN DUY THỰC

Chữa rối loạn kinh nguyệt bằng xoa bóp

Kinh nguyệt là hiện tượng xuất huyết tử cung theo chu kỳ. Thời gian giữa hai kỳ kinh gọi là chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ nói chung khoảng 28 ngày (trước hoặc sau 5 ngày vẫn là bình thường). Thời gian mỗi lần thấy kinh từ 3 – 7 ngày, lượng huyết khoảng 100ml. Rối loạn kinh nguyệt là bệnh thường gặp nhất của phụ khoa. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, có thể là do nhiễm lạnh khi hành kinh dẫn đến ứ trệ; hoặc do cơ thể hư nhược, ốm lâu ngày làm tổn thương khí huyết; hoặc do uất ức, buồn phiền, căng thẳng thần kinh. Các chấn động về tinh thần, tình cảm cũng dẫn đến rối loạn kinh nguyệt. Biểu hiện là kinh nguyệt đến sớm hoặc đến muộn 1 tuần trở lên, lượng kinh quá nhiều hoặc quá ít, máu kinh sẫm màu, có khi vón cục hoặc nhớt loãng…, bụng dưới trướng đau nhiều, đau từng cơn, xoa nắn thì đỡ đau, có thể đau thắt lưng. Kèm theo người bệnh thấy váng đầu, hồi hộp, ăn uống kém… Để điều trị, có thể dùng các bài thuốc sắc, châm cứu bấm huyệt, món ăn – bài thuốc… Sau đây xin  giới thiệu cách xoa bóp bấm huyệt để chị em có thể tham khảo.

chua_roi_loan_kinh_nguyet_bang_xoa_bop

– Day huyệt quan nguyên trong khoảng 1 – 2 phút.

– Xoa day bụng dưới: Tay trái để lên mu bàn tay phải, úp vào bụng xoa theo chiều kim đồng hồ khoảng 2 phút, thấy nóng ấm là được.

– Véo nắn da thịt hai bên cột sống từ đại chuỳ đến mệnh môn khoảng 20 lần.

– Day bấm huyệt thận du khoảng 1 – 2 phút.

– Day bấm huyệt mệnh môn khoảng 1 –  2 phút.

– Day bấm huyệt huyết hải khoảng 1 – 2 phút.

– Day bấm huyệt tam âm giao khoảng 1 – 2 phút.

Lưu ý: – Nếu người bệnh bụng trướng đau nặng thì thủ pháp phải nhẹ nhàng.

– Xoa bóp bấm huyệt có hiệu quả tốt đối với những trường hợp rối loạn kinh nguyệt tương đối nhẹ. Nếu bệnh nặng và kéo dài, cần đến bệnh viện để xác định chính xác nguyên nhân, từ đó mới có thể tìm ra phương pháp chữa trị hữu hiệu.

– Cần có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý tránh căng thẳng thần kinh. ăn uống đủ chất dinh dưỡng để đảm bảo sức khoẻ,  nên kiêng ăn các đồ sống lạnh. Không rửa bằng nước lạnh, không ngâm người trong nước lâu.

– Giữ vệ sinh bộ phận sinh dục. Tránh quan hệ tình dục trong kỳ kinh.

– Nếu có các bệnh ở hệ thống sinh dục cần điều trị sớm.

Vị trí huyệt

– Quan nguyên: dưới rốn 3 tấc, trên đường giữa bụng.

– Mệnh môn: dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2.

– Ðại chuỳ: giữa đốt sống cổ cổ 7 và đốt sống lưng 1.

– Thận du: dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 sang ngang 1,5 tấc.

– Huyết hải: mặt trước trong đùi, từ xương bánh chè đầu gối đo lên 2 tấc, huyệt nằm trong khe lõm giữa cơ may và cơ rộng trong, ấn vào có cảm giác ê tức.

– Tam âm giao: mắt cá trong đo thẳng lên 3 tấc, chỗ bờ sau xương chày.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Lương y Đình Thuấn

Tuổi mãn kinh có nên dùng thuốc nội tiết?

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu việc dùng thuốc nội tiết có thể cải thiện đáng kể rối loạn nào ở lứa tuổi mãn kinh không hay chỉ là việc dùng cho có? Nhằm kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ nguy cơ của việc dùng này. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất…

tuoi_man_kinh_co_nen_dung_thuoc_noi_tiet

Lý do chỉ định

Sự thay đổi của thời kỳ mãn kinh mang tính chất rõ nét nhất là sự suy giảm hormon nữ giới trong cơ thể của chị em. Đó là estrogen và progesteron. Để tiện cho việc nghiên cứu và xem xét, người ta thường gọi hormon con gái là estrogen, còn chất progesteron thường được gọi là hormon mang thai.

Điều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Tại sao hormon lại giảm?

Việc giải thích cho câu hỏi tại sao vào thời kỳ mãn kinh hormon lại suy giảm có thể được đơn giản hoá như sau: Estrogen là chất do các tế bào hạt ở “vỏ trứng” tiết ra do tác động của FSH và LH (hai hormon tuyến yên) sẽ được duy trì vào những ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt và đạt đỉnh vào gần ngày rụng trứng. Sự phối hợp của hai hormon này, sự nhạy cảm hoá của buồng trứng là cơ sở thiết yếu tạo nên sự điều hoà hormon estrogen.

Khi con người bước sang độ tuổi mãn kinh, buồng trứng bắt đầu thoái hoá, số lượng các nang trứng giảm, buồng trứng lại bắt đầu trơ ra với các chất FSH và LH. Điều tất yếu này đã đưa đến một hậu quả là estrogen mất nguồn tổng hợp. Chuyện sụt giảm gần như là tất nhiên và không thể tránh. Mặc dù estrogen còn một số nguồn khác tổng hợp song sự bù đắp này chẳng thấm vào đâu.

Bằng những nghiên cứu tỉ mỉ và công phu, người ta thấy trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, sự thay đổi nồng độ estrogen chưa phải là suy giảm ngay mà chính xác là dao động quá mức, gây ra những hậu quả mang tính chất đặc thù chỉ có ở tuổi mãn kinh.

Hệ lụy của sự thay đổi

Lượng estrogen giảm, chị em chúng ta sẽ không còn được thừa hưởng những tác dụng mà estrogen đem lại. Những tác dụng đó là: kích thích tăng tạo mỡ làm da đẹp và mịn màng, kích thích tuyến vú to, kích thích tử cung to, âm đạo nở nang, nang trứng phát triển, kích thích nhu cầu tình dục ở nữ giới… Và tất nhiên, những tác dụng mong muốn này của estrogen sẽ không còn được đầy đủ trong thời kỳ mãn kinh.

Thêm vào đó, sự dao động mạnh mẽ của estrogen đã gây ra cho cơ thể một số triệu chứng khác nữa mà người ta gọi là những triệu chứng đặc thù của thời kỳ mãn kinh. Những triệu chứng đó là sự rối loạn điều hoà vận mạch, lão hoá da, suy giảm hình thể và chức năng của cơ quan sinh dục, thay đổi tính tình, loãng xương, nguy cơ bệnh tim mạch, mất ngủ, mệt mỏi, ra mồ hôi đêm, suy giảm trí nhớ và tập trung…

Những biểu hiện này ở một số người là không rõ ràng nhưng ở một số người lại rất rõ nét. Ví dụ như rối loạn điều hoà vận mạch, nhiều người thấy hồi hộp, nóng bừng mặt, cơn bốc hoả rất đáng ngại. Sự lão hoá da làm da bị teo đi và mỏng xuống, da nhăn nheo và chảy xệ. Loãng xương làm tỷ trọng xương bị giảm, chuyển hoá can xi giảm.. Vì thế mà nhiều khi người ta phải cân nhắc sử dụng liệu pháp hormon nhằm can thiệp.

Dùng liệu pháp hormon như thế nào?

Liệu pháp hormon có tên cũ là liệu pháp thay thế hormon là một liệu pháp quan trọng áp dụng trong thời kỳ mãn kinh. Bản chất của liệu pháp này là sử dụng hormon nữ giới (estrogen) tổng hợp bên ngoài để bù đắp phần hormon thiếu hụt. Việc sử dụng hormon thay thế nhằm hai mục đích: bù trừ hóa hormon thiếu và hoá giải tình trạng dao động của estrogen.

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu sự bổ sung này có những cải thiện đáng kể nào không hay chỉ là việc dùng cho có. Nhằm để kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ bệnh tật. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất.

Nói về tác dụng điều hoà vận mạch thì không có gì cần phải bàn hơn. Vì rằng đồng loạt các dấu hiệu bên ngoài của rối loạn vận mạch như nóng bừng, hồi hộp, đỏ mặt, bốc hoả đều có thể được giải quyết trọn vẹn khi sử dụng liệu pháp hormon. Có lẽ sự dao động hormon quá mạnh đã gây ra những biến đổi này nên chỉ cần được bổ sung một cách phù hợp thì mọi chuyện phức tạp được hoá giáng. Người bệnh không còn cảm thấy xấu hổ quá mức vì tự nhiên mặt đỏ như gấc chín, không còn cảm thấy phiền hà khi tự nhiên thấy người nóng bừng như bốc hoả. Tác dụng tuyệt diệu này của nó đã được người ta ấn định là chỉ định đầu tay khi người phụ nữ có triệu chứng rối loạn điều hoà vận mạch điển hỉnh.

Trên loãng xương, nhiều công trình nghiên cứu có chỉ ra là có sự cải thiện rối loạn này. Cụ thể, năm 2001, Grady và Cummings đã nghiên cứu những phụ nữ mãn kinh có và không có sử dụng hormon thay thế. Các tác giả này đã chỉ ra là những người được sử dụng hormon thay thế thì giảm được 27% nguy cơ loãng xương ở các đốt sống và giảm được 40% tình trạng loãng xương ở xương chậu và xương cổ tay.

Theo những con số tính toán thu thập được, người ta thấy tỷ trọng xương có thể bị hao hụt mất tới 20% trong những năm ở độ tuổi mãn kinh. Người ta không dám chắc là tình trạng này là do sự già hoá của xương hay là do sự rối loạn hormon gây ra nhưng có một điều mà người ta thấy là sử dụng hormon thay thế có thể cải thiện được loãng xương do mãn kinh gây ra.

Trên vấn đề bệnh lý mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh, liệu pháp hormon xem ra cũng có những thành tựu lưu ý. Mặc dù cả nam giới và nữ giới cao tuổi đều có nguy cơ bị bệnh mạch vành như nhau do những tác động của yếu tố tuổi, chuyển hoá và mức độ vận động. Song, cho đến nay khoa học đã công nhận một điều là dù ít hay nhiều, sự suy giảm của hormon đã gây ra những tác động một cách độc lập với tuổi trong tiến trình gây ra bệnh lý mạch vành.

Mặc dù còn nhiều vấn đề tranh cãi về hiệu quả của liệu pháp hormon nhưng nhìn chung người ta đều đồng ý ở một khía cạnh, liệu pháp hormon có thể làm giảm bớt nguy cơ của bệnh mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh. Kết luận này được dựa trên công trình nghiên cứu của Viện Điều dưỡng Hoa Kỳ. Họ tiến hành nghiên cứu và rút ra được kết luận là liệu pháp hormon có thể làm giảm 11% nguy cơ bị bệnh mạch vành tiền mãn kinh và sau mãn kinh. Song đây là vấn đề còn khá phức tạp vì bản thân khoa học chưa tìm ra được cách giải thích thoả đáng tác dụng này.

Và những góc tối…

Ðiều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Những kết quả thú vị trên không thể đủ lớn để xoá đi những góc tối của bức tranh liệu pháp hormon. Những mảng màu tối vẫn tồn tại như một thực thể không thể khắc phục được đã tạo ra những phần không đồng nhất trong tiến trình điều trị.

Điều đáng ngại thứ nhất mà người ta lo lắng đó là nguy cơ ung thư vú. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng một số lượng lớn công trình nghiên cứu đã chỉ ra có một mối liên quan nào đó giữa liệu pháp hormon và ung thư vú ở phụ nữ mãn kinh. Bằng chứng thực nghiệm lý giải điều này thì chưa có nhưng bằng chứng thực tế thì đã có. Những phụ nữ mà có độ tuổi có kinh sớm (trước 12 tuổi) và những người có độ tuổi mãn kinh muộn (sau tuổi 55) là những người có nguy cơ cao bị ung thư. Trên cả hai đối tượng này, thời kỳ có estrogen là kéo dài. Sự kiện này khiến người ta nghi ngại sự kéo dài thời kỳ estrogen đã liên kết với khả năng ung thư của phụ nữ. Do đó mà liệu pháp hormon cần được sử dụng rất thận trọng.

Điều đáng lo ngại thứ hai là gia tăng biến cố tắc mạch trên những người có nguy cơ cao. Dựa trên những dữ liệu lâm sàng người ta thấy rằng estrogen có một tác dụng phụ là gây ra rối loạn đông máu và hình thành những cục máu đông trong lòng mạch. Nguy cơ càng cao khi chúng ta dùng càng kéo dài. Tần suất càng lớn khi chúng ta càng dùng liều cao.

Nhiều ca bệnh nhồi máu não, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu cơ tim đã được báo cáo ở những người lạm dụng estrogen hay dùng bừa bãi liệu pháp hormon. Điều này còn đáng sợ hơn khi bản thân những người dùng estrogen lại có sẵn các nguy cơ nhồi máu như tăng huyết áp, rối loạn đông máu. Vì thế mà việc cân nhắc sử dụng là chuyện không thể không tính đến.

Bên cạnh các tác hại trên, liệu pháp hormon đang bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ra hàng loạt các rắc rối như làm tăng chảy máu và kéo dài chảy máu âm đạo, làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh lý viêm gan, làm tăng nguy cơ ung thư tử cung, gây ra ung thư vú ở những người có tiền sử gia đình, sưng phù, đau đầu nghiêm trọng…

Đứng trước những thay đổi cơ thể như trên, liệu pháp hormon chưa có một số phận chắc chắn. Không thể vì nó có một số tác dụng khá tốt trên hệ thống da, xương, mạch vành, các rối loạn vận mạch mà chúng ta cứ chỉ định hết sức thoải mái. Song ngược lại, không thể vì một vài tác hại của estrogen mà chúng ta lại phủ nhận đi những công hiệu của nó trong điều trị.

Liệu pháp hormon từ trước đến nay vẫn được coi là một chỉ định đầu tay với những người có rối loạn điều hoà mạch điển hình như bốc hoả, nóng bừng, đỏ mặt…  Song chỉ định thế nào, dùng dạng ra sao, liều bao nhiêu là đủ là những quyết định hết sức cân nhắc của bác sỹ.  Vì rằng mãn kinh không phải là một bệnh nên việc điều trị không phải là một quy định bắt buộc.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Yên Lâm Phúc

Nội mạc tử cung lạc chỗ

Lạc nội mạc tử cung là do các tế bào của niêm mạc tử cung đã không chỉ nằm trong lòng tử cung mà còn phát triển ở những nơi khác thuộc hệ thống sinh dục và cả những bộ phận khác trong cơ thể người phụ nữ. Bệnh có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Lạc nội mạc tử cung

Kinh nguyệt ở phụ nữ là kết quả của sự thay đổi có chu kỳ của niêm mạc tử cung dưới tác động của các chất nội tiết buồng trứng. Lạc nội mạc tử cung là tình trạng các tế bào của lớp niêm mạc này, ngoài vị trí trong buồng tử cung còn nằm rải rác ở các vị trí khác trong cơ thể người phụ nữ.

Thường gặp nhất là các tế bào niêm mạc tử cung nằm lẫn trong lớp cơ của tử cung. Có trường hợp các tế bào nội mạc tử cung lại có mặt trong ổ bụng, thường ở vùng tiểu khung (bụng dưới), bám vào màng bụng, các tạng trong ổ bụng như ruột, bàng quang, vòi trứng, buồng trứng.

Lại có trường hợp các tế bào lạc chỗ nằm trong âm đạo hoặc ở vùng tầng sinh môn (phía sau âm hộ và trước hậu môn) thường được giải thích là do bị rách khi sang chấn hoặc khi đẻ, những tế bào niêm mạc tử cung đã “rơi” vào các vết rách đó, tồn tại và phát triển gây nên.

noi_mac_tu_cung_lac_cho

Phẫu thuật nội soi điều trị lạc nội mạc tử cung.

Và những biến chứng

Những đám tế bào niêm mạc tử cung này tuy “lạc chỗ” nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của các nội tiết sinh dục do buồng trứng tiết ra giống như các tế bào niêm mạc nằm trong lòng tử cung nghĩa là cũng phát triển dưới tác động của nội tiết buồng trứng theo chu kỳ và khi các nội tiết này giảm sút thì đám tế bào đó ngừng phát triển và gây chảy máu tại chỗ.

Khác với các niêm mạc trong buồng tử cung khi bong sẽ được tử cung đẩy ra ngoài cùng với máu kinh, các đám “lạc nội mạc” này vẫn nằm nguyên tại chỗ, máu kinh cũng không thoát được ra ngoài vì thế gây nên đau đớn. Lạc nội mạc tử cung là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh (đau bụng kinh).

Triệu chứng thống kinh của lạc nội mạc tử cung là đau bụng kéo dài, có thể xuất hiện sớm trước khi hành kinh (do các tế bào niêm mạc lạc chỗ phát triển) hoặc khi bắt đầu ra máu kinh (do niêm mạc lạc chỗ bong ra, chảy máu) và có thể kéo dài đến cả sau hành kinh (do máu ứ đọng tại chỗ chưa “tiêu” đi được). Thường ở người bị thống kinh do lạc nội mạc tử cung thì những kỳ kinh sau nhiều khả năng mức độ đau bụng kinh tăng hơn trước.

Có trường hợp đau kéo dài tới mức khi giảm được đau hoặc hết đau thì đã lại đến một kỳ kinh mới. Trường hợp người phụ nữ đã mãn kinh nghĩa là không còn kinh nguyệt nữa thì chứng đau bụng do lạc nội mạc tử cung cũng kết thúc.

Trong số phụ nữ bị vô sinh, có tới 30 -50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung là do: biến dạng các tổ chức vùng chậu gây dính, co kéo, ảnh hưởng đến chức năng vòi trứng, buồng trứng, tử cung.

Ðiều trị

Điều trị chứng đau bụng kinh do lạc nội mạc tử cung có thể dùng biện pháp nội khoa bằng cách dùng các loại thuốc progestagen tổng hợp để làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Có thể dùng thuốc tránh thai chứa nhiều progestagen và ít estrogen uống liên tục từ 6 tháng đến một năm. Có khi phải dùng biện pháp phẫu thuật để nạo vét những ổ lạc nội mạc tử cung trong cơ thể.

Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung đã có những bước tiến mới. Phẫu thuật nội soi cho phép gỡ dính, phá hủy các tổn thương, tạo hình vòi trứng, đốt điện lưỡng cực hay đốt laser để phá hủy các tổn thương. Trong các trường hợp lạc nội mạc tử cung nặng, có thể phải cắt buồng trứng, cắt dây chằng tử cung – cùng, thậm chí cắt tử cung. Chỉ định điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung thường là khối lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; dính nặng; lạc nội mạc tử cung sâu; lạc nội mạc tử cung độ III, IV.

Tóm lại, lạc nội mạc tử cung là một bệnh phổ biến thường gặp ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, nguyên nhân còn chưa rõ ràng, liên quan mật thiết đến vô sinh. Vì vậy, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, triệt để sẽ giúp cải thiện đáng kể khả năng sinh sản của người bệnh, tiết kiệm một phần không nhỏ chi phí chăm sóc y tế, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.  Phó Ðức Nhuận

Lạc nội mạc tử cung có gây vô sinh?

Em năm nay 19 tuổi, kinh nguyệt của em không đều và rất hay bị đau bụng, đi khám có kết luận là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc. Nhưng em rất lo lắng và nghe nói bệnh này có thể gây vô sinh. Xin bác sĩ cho lời khuyên.

Bùi Thị Bình(Bắc Kan)

Nội mạc tử cung là lớp màng (niêm mạc) phủ mặt trong tử cung (dạ con). Lớp niêm mạc này biến đổi hằng ngày theo các chất nội tiết của buồng trứng tiết ra trong chu kỳ kinh nguyệt. Khi đang có kinh cũng là lúc niêm mạc này bắt đầu tái tạo phát triển dần lên. Đến cuối chu kỳ, lớp niêm mạc này rất dày, lúc này chất nội tiết buồng trứng giảm sút làm cho nó bong ra, gây chảy máu từ tử cung gọi là kinh nguyệt. Lạc nội mạc tử cung là trường hợp các tế bào niêm mạc tử cung đi lạc chỗ, vào sâu trong lớp cơ của thành tử cung (lạc nội mạc trong cơ) hoặc “lạc” cả ra ngoài tử cung như ở buồng trứng, màng bụng (phúc mạc), thành ruột; thậm chí có khi còn ở trong thận hay phổi… Các tế bào này có nguồn gốc là niêm mạc tử cung nên nó cũng biến đổi theo chu kỳ dưới ảnh hưởng của nội tiết buồng trứng và cũng gây chảy máu giống như kinh nguyệt, từ đó gây đau.

lac_noi_mac_tu_cung_co_gay_vo_sinh

Đây là bệnh lý tuy không gây tử vong nhưng có thể dẫn đến tình trạng vô sinh cho người bệnh vì nó có thể gây tổn thương vòi trứng, phá huỷ nhu mô buồng trứng, viêm dính vùng chậu, nếu không điều trị sớm.

Trường hợp của bạn đã đi khám được xác định là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc điều trị. Việc dùng thuốc được áp dụng trong các trường hợp bệnh nhẹ, chủ yếu là các thuốc nội tiết có tác dụng làm thoái triển và làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Do đó bạn không nên lo lắng, chỉ cần dùng thuốc và tái khám theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để có kết quả tốt nhất.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Bác sĩ  Trọng Nghĩa

Dấu hiệu nhận biết u nang buồng trứng

Theo các chuyên gia, u nang buồng trứng là bao nang chứa đầy dịch hình thành trong buồng trứng của người phụ nữ.

06

Hình ảnh u nang buồng trứng.

Cơ quan Quản lý sức khỏe và con người (Mỹ) cho biết ở một số trường hợp, u nang buồng trứng rất khó phát hiện và không biểu hiện dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Tuy nhiên, có một số triệu chứng đáng chú ý khi bị u nang buồng trứng, bao gồm: đau hoặc tức vùng bụng, hoặc cảm giác đầy bụng; đau mơ hồ ở vùng thắt lưng và đùi; đi tiểu khó; đau khi giao hợp; tăng cân không rõ nguyên nhân; đau nhức vú, buồn nôn hoặc nôn; đau hoặc ra huyết bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt.

Khi có một số triệu chứng trên, bệnh nhân nên khẩn trương tới cơ sở y tế để khám kiểm tra. Đặc biệt cần khám cấp cứu trong trường hợp có một trong những triệu chứng sau: đau kèm sốt và nôn; đột ngột đau bụng dữ dội; hoa mắt, chóng mặt hoặc suy kiệt; thở nhanh nông không rõ nguyên nhân.

Anh Tú (Theo HealthDay News, 4/6/2008)
Theo Sức Khỏe & Đời Sống