Tag Archives: chóng mặt

Chống say nắng trong những ngàu hè

Nhiều người thường xuyên phải làm việc dưới ánh nắng mặt trời của mùa hè rất dễ bị say nắng. Một số thực phẩm sau đây có thể giúp bạn phòng chống bị say nắng.

Bí ngô

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he9

Trong quả bí ngô có chứa nhiều chất beta-carotene, thành phần giúp bảo vệ sức khỏe của da. Beta-carotene chuyển hóa thành vitamin A- chất cần thiết cho sự phục hồi và phát triển của các mô da. Ttheo đông y thì bí ngô còn giúp hạ nhiệt và chống say nắng tốt.

Dưa chuột

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he6

Theo các nhà khoa học, dưa chuột là trái cây có tính mát và đắng nên có thể giúp cơ thể hạ nhiệt. Ăn dưa chuột vào mùa hè được xem như lựa chọn hữu ích. Dưa chuột thúc đẩy bài tiết nước và hạ thấp nồng độ cholesterol trong cơ thể và phòng tránh say nắng.

Dưa hấu

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he4

Dưa hấu không chỉ giúp giải độc và làm dịu cơn khát, nó còn giúp thúc đẩy quá trình tiêu hóa. Bạn nên tăng cường ăn dưa hấu vào mùa hè. Dưa hấu có chứa nhiều dinh dưỡng cho sức khỏe như đường mía, gluco, fructose, citrulline, axit propionic, alanine, axit glutamic, arginine, axit phosphoric, axit malic, muối, carotene, vitamin C… đều tốt cho chống say nắng.

Nước cam

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he

Trong cam có chứa hàm lượng vitamin C cao, đó chính là thần dược giúp phòng tránh những nguy hại từ ánh nắng mặt trời. Mỗi ngày một cốc nước cam không chỉ cung cấp vitamin dồi dào cho cơ thể mà còn giúp bạn phòng chống ánh nắng rất tốt. Trong cam có chất oxy hóa giúp tăng cường khả năng đàn hồi cho da và giúp da sáng dần lên.

Nước chanh

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he1

Ai trong chúng ta cũng đều biết, nước chanh là loại nước uống tuyệt vời của mùa hè vì chúng rất giàu vitamin C. Chúng có thể giúp bạn loại bỏ được các triệu chứng chóng mặt, buồn nôn thường diễn ra vào ngày hè oi ả.

Xoài xanh

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he2

Xoài được coi là thần dược chống say nắng. Trong xoài giàu vitamin C, làm tăng hệ miễn dịch và ngăn chặn cảm lạnh mùa hè. Bạn có thể ăn xoài xanh hoặc ngâm xoài xanh với chút muối, ớt để khoảng 30 phút sau thì ăn sẽ chống say nắng rất hiệu nghiệm.

Nước dừa

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he3

Trong nước dừa có chứa nhiều hàm lượng magie, kali, muối, đường tự nhiên. Những thành phần này vừa giúp cơ thể bớt háo nước vừa giải nhiệt và các tác dụng chống say nắng rất tốt.

Mướp đắng

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he5

Mướp đắng là trái cây có tính mát, vị đắng, công dụng giúp giải nhiệt tốt và giảm bớt mệt nhọc. Vì thế các chuyên gia thường khuyên vào mùa hè bạn nên tăng cường ăn mướp đắng để cải thiện sức khỏe và phòng chống say nắng.

Sữa

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he7

Các thành phần dinh dưỡng trong sữa sẽ làm cơ thể nhanh chóng giảm nhiệt và phòng chống say nắng. Khi cơ thể bạn đổ mồ hôi, căng cơ, buồn nôn, đau đầu …thì hãy uống sữa hoặc ăn sữa chua.Sữa Các thành phần dinh dưỡng trong sữa sẽ làm cơ thể nhanh chóng giảm nhiệt và phòng chống say nắng. Khi cơ thể bạn đổ mồ hôi, căng cơ, buồn nôn, đau đầu …thì hãy uống sữa hoặc ăn sữa chua.

Củ hành

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he8

Trong hành có chứa hàm lượng lưu huỳnh cao nên khi ăn hành củ bạn có thể ngăn được cơn sốt mà có thể chống được say nắng.

Uống nhiều nước

chong-say-nang-trong-nhung-ngau-he10

Để phòng tránh say nắng, những người phải làm việc nhiều trong môi trường có nhiệt độ cao, làm việc ngoài trời,… cần phải được trang bị mũ, nón che kín đầu và gáy. Uống nhiều nước khi khát, nước nên pha thêm một chút muối. Nước có vai trò điều chỉnh hệ thống làm mát cơ thể.

Nguồn giáo dục

Thiếu sắt có thể có những nguy cơ gì

Sắt từ lâu đã được biết đến là một thành phần có tác dụng vô cùng quan trọng đối với cơ thể con người. Thiếu sắt không chỉ dẫn đến tình trạng thiếu máu mà còn gây ra nhiều vấn đề nguy hiểm về sức khỏe khác cho con người.

Từ 200 năm trước, các bác sĩ đã tìm ra vai trò của sắt trong cơ thể con người. Thậm chí, những nhà khoa học đầu tiên phát hiện ra căn bệnh thiếu máu – căn bệnh vốn rất khó xác định thời bấy giờ – đã được trao giải thưởng vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe con người.

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat

Thiếu sắt là nguyên nhân gây ra nhiều chứng bệnh nguy hiểm cho trẻ em, phụ nữ và cả người già, trong đó phải kể đến các chứng bệnh liên quan đến sự suy giảm hệ hô hấp và hệ tim mạch. Các vấn đề liên quan đến tình trạng thiếu sắt gồm có:

Hiện tượng tim đập nhanh gây căng thẳng, mệt mỏi

Việc chẩn đoán bệnh ở những thế kỷ trước khi mà khoa học còn chưa phát triển là khá khó khăn. Người ta không tìm ra nguyên nhân cơ bản của hiện tượng và cho đó là căn bệnh không thể chữa trị. Ngày nay, dưới sự phát triển của y học, các bác sĩ dễ dàng xác định được các triệu chứng của hiện tượng thiếu máu. Thậm chí bất cứ ai cũng có thể xác định được nhờ vào những dấu hiệu dễ nhận biết của chứng thiếu máu, đó là hiện tượng hoa mắt, chóng mặt, suy nhược cơ thể… và hệ quả của nó có thể là bệnh tim mạch và suy hô hấp.

Hiện tượng rụng tóc, bong móng

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat1

Hầu hết bệnh nhân bị thiếu máu là do thiếu sắt, có thể khiến cho da bệnh nhân bị nhăn nheo, tóc bị rụng và mỏng, móng tay dễ bị bong. Theo giải thích của các nhà khoa học thì sắt là một chất khoáng chiếm số lượng lớn trong máu. Chức năng quan trọng nhất của sắt là duy trì quá trình tạo ra các hemoglobin (yếu tố tiếp nhận oxy trong máu) và myoglobin (1 dạng của hemoglobin tồn tại trong các cơ).

Khi trong máu thiếu sắt, phần chân tóc cũng sẽ bị ảnh hưởng. Bị thiếu dinh dưỡng, chân tóc sẽ yếu và dễ bị tổn thương hơn, dẫn đến việc tóc dễ bị rụng. Để cân bằng lượng sắt trong máu, cách tốt nhất là cải thiện chế độ ăn uống. Ăn nhiều đồ ăn có chứa chất sắt và các thành phần giúp tăng cường sự hấp thụ sắt để lấy lại sự cân bằng sắt trong máu.

Giảm trí nhớ và trí thông minh ở con người

Nguy-hai-tu-viec-co-the-bi-thieu-sat2

Thiếu sắt trong thời gian dài còn là nguyên nhân làm suy giảm khả năng tư duy, giảm trí thông minh ở con người. Điều này đã được khá nhiều nhà khoa học chứng minh.

Phụ nữ mang thai bị thiếu máu hoặc trẻ em được cung cấp dinh dưỡng không đảm bảo là những đối tượng dễ bị tác động nhất. Ngoài ra, ở phụ nữ trong thời kỳ xuất hiện kinh nguyệt, hiện tượng thiếu sắt cũng xảy ra khá phổ biến.

Suy giảm hệ miễn dịch, khả năng sinh sản

Đó là sự thực đang diễn ra khá phổ biến ở các nước nghèo trên thế giới hiện nay. Trẻ em ở những quốc gia kém phát triển thường xuyên bị mắc phải những căn bệnh nguy hiểm và tình trạng thiếu dinh dưỡng dẫn đến thiếu máu chính là nguyên nhân không nhỏ. Bởi thiếu sắt làm suy giảm hệ miễn dịch của con người. Giải thích cho hiện tượng này, các bác sĩ cho biết: thiếu sắt làm giảm quá trình sản sinh ra các tế bào T – lymphocytes (tế bào bạch cầu có vai trò chống lại sự tấn công của vi khuẩn đối với cơ thể). Khi hàng rào bảo vệ cơ thể (bạch cầu) bị giảm đi, việc hệ miễn dịch bị suy giảm là điều không thể tránh khỏi.

Ngoài ra, theo nhiều kết quả điều tra của nhiều tổ chức y tế trên thế giới, những người bị mắc chứng thiếu máu cũng có tỷ lệ vô sinh khá cao so với bình thường. Phụ nữ khi mang thai mà bị thiếu máu còn có tỷ lệ bị sảy thai rất cao.

Nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ trong các hoạt động của cơ thể

Thiếu dinh dưỡng, mà đặc biệt là thiếu máu, tất yếu hoạt động của cơ thể sẽ không thể được duy trì bình thường. Mọi quá trình hoạt động của các bộ phận trong cơ thể ít nhiều cũng bị kém đi, thậm chí nếu thiếu sắt lâu dài có thể gây rối loạn các hoạt động chức năng trong cơ thể con người.

Những nguyên nhân gây ra thiếu sắt và thiếu máu

Thiếu sắt chủ yếu là do việc ăn uống thiếu chất gây ra. Bản thân sắt cũng là một thành phần rất khó hấp thụ trong cơ thể. Vitamin A, C, E và axít folic chính là những thành phần cần thiết giúp thúc đẩy quá trình hấp thụ sắt trong cơ thể.

Trong một vài năm trở lại đây, các nhà khoa học cho biết, hiện tượng thiếu sắt còn diễn ra ở cả những người béo phì – những đối tượng vốn ít bị chứng thiếu máu nhất. Theo tiến sĩ Andrew Prentice thuộc Trường đại học London – Anh: nguyên nhân phần nhiều là do chế độ ăn uống kiêng khem thiếu chất khoáng mà bệnh nhân phải áp dụng để giảm cân. Chế độ ăn ít thịt sẽ dẫn tới hiện tượng thiếu sắt cho con người, bởi sắt có chứa khá nhiều trong thịt.

Nguồn giáo dục

Đoán bệnh khi mới ngủ dậy

Nghiên cứu chứng minh nhiều triệu chứng đặc biệt của bệnh sẽ lộ diện vào buổi sáng sớm, kể cả người mạnh khỏe cũng không ngoại lệ. Hiểu sớm về các triệu chứng biểu lộ bệnh tật này sẽ kịp thời phát hiện ra bệnh nguy hiểm đang tiềm ẩn trong đó.

doan-benh-khi-moi-ngu-day

Mệt vì tỉnh giấc sớm

Nếu 4-5 giờ sáng ngủ mơ rồi tỉnh giấc, thấy mệt mỏi mất sức, khó tiếp tục chìm vào giấc ngủ, sau khi thức dậy tâm trạng không thoải mái và cảm thấy buồn phiền không vui thì đó là hiện tượng mất ngủ vào sáng sớm.

Theo các chuyên gia, mất ngủ sáng sớm hay gặp ở người người rối loạn về tinh thần, nhiều phiền muộn, đặc biệt gặp nhiều ở những người bị trầm cảm.

Biểu hiện sớm nhất của rối loạn tâm lý ở một số người là mất ngủ vào buổi sáng, kèm theo lo lắng bất an. Nặng sẽ dẫn đến rối loạn tinh thần và có liên quan đến chứng mất trí nhớ. Vì vậy mất ngủ vào sáng sớm không phải là hiện tượng bình thường như bao bạn trẻ nghĩ.

Hoa mắt, chóng mặt

Trong trường hợp bình thường, buổi sáng đầu óc luôn tỉnh táo, thông suốt. Nếu sau khi thức dậy não nặng như chì, không tỉnh táo hoặc có hiện tượng hoa mắt chóng mặt, có thể do chất xương đốt sống cổ tăng sinh, gây chèn ép động mạch cổ, ảnh hưởng đến cung cấp máu cho não.

Ngoài ra, khi độ kết dính trong máu tăng cao thì lưu lượng máu chảy chậm, hàm lượng ô xy trong máu thấp và ảnh hưởng không tốt đến não cung cấp ô xy, máu. Giờ cao điểm của độ kết dính máu thường xuất hiện vào buổi sáng.

Phù thũng

Thông thường, người mạnh khỏe khi thức dậy cũng bị phù thũng nhẹ, nhưng vận động xong, phù thũng sẽ biến mất trong 20 phút. Nếu sau khi thức dậy, phần mặt vẫn bị sưng, đặc biệt là sưng ở mí mắt, điều này thể hiện bệnh thận hoặc bệnh tim. Người có triệu chứng này nên đến bệnh viện kiểm tra tình trạng của thận và tim.

Người đơ cứng

Người đơ cứng là chỉ sáng sớm sau khi thức đậy cảm thấy khớp, cơ thịt toàn thân đơ cứng, hoạt động bị hạn chế. Sau khi hoạt động, khớp và cơ thịt mới dần dần giãn rộng. Thông thường, nếu toàn thân đơ cứng, khớp hoạt động không linh hoạt, điều này cho biết có thể bệnh phong thấp, viêm khớp, chất xương tăng sinh đang làm phiền vv. Một số người có tiền sử dị ứng như viêm cơ da, vết ban đỏ, da xơ cứng… cũng có hiện tượng người đơ cứng vào sáng sớm.

Đói

Một số người 4,5 giờ sáng tỉnh dậy cảm thấy bụng đói cồn cào đến mức khó chịu, tâm trạng lo lắng, bất an, còn kèm theo mệt mỏi, mất sức. Nếu ăn một thứ gì đó, triệu chứng đói mới giảm đi, tuy nhiên miệng vẫn khát lưỡi vẫn khô, muốn uống nhiều nước, phải ăn sáng đầy đủ xong mới dần dần mất đi. Đây chính là biểu hiện của bệnh tiểu đường.

Nếu đã bị bệnh tiểu đường, sáng sớm lại xuất hiện những triệu chứng này, chứng tỏ cách uống thuốc và liệu lượng thuốc đều không ổn.

Theo Dân trí

Những phản ứng nguy hiểm do thuốc điều trị tai mũi họng

Do Tai – Mũi -Họng là cửa ngõ đường ăn, đường thở, có hệ mạch và thần kinh rất phong phú nên khi sử dụng thuốc, ngay cả khi tại chỗ cũng có thể gây tai biến, phản ứng nguy hiểm. Ví dụ, cho trẻ sơ sinh nhỏ thuốc nhỏ mũi loại co mạch naphazolin 0,1% đã gây tử vong (theo thông báo của Viện Nhi). Nguyên nhân do độ lan tỏa và co mạch quá mạnh của thuốc làm co thắt các mạch máu não. Hay dùng corticoid qua đường xịt mũi hay khí dung kéo dài sẽ gây xuất huyết đường tiêu hóa ở những người có loét dạ dày, tá tràng, tăng tiến triển các bệnh đường hô hấp ở những người có bệnh đường hô hấp, lao phổi.

Mặt khác, vì TMH có hệ thống thần kinh giao cảm phong phú nên các phản ứng phụ của thuốc thường gặp đều có liên quan đến TMH như chóng mặt, ù tai, buồn nôn. Các phản ứng phụ của thuốc nhiều khi khó tránh khỏi, nếu không được giải thích, căn dặn sẽ có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: kháng histamin (kháng H1) thường được dùng trong viêm mũi xoang nhưng lại có tác dụng phụ là gây buồn ngủ.

nhung-phan-ung-nguy-hiem-do-thuoc-dieu-tri-tai-mui-hong

Nếu người bệnh không biết, hoặc không được giải thích kỹ về thời gian uống thuốc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng nếu uống thuốc xong lại làm ngay công việc cần sự tỉnh táo như làm việc trên cao, hay lái tàu, lái xe. Ngoài ra, vì TMH là cơ quan giữ nhiều chức năng quan trọng nên cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng các thuốc có ảnh hưởng xấu đến chức năng của các cơ quan này.

Trước hết với chức năng nghe: Nhiều trường hợp do dùng thuốc dẫn đến điếc, nguy hại hơn nếu xảy ra với bà mẹ mang thai dễ làm cho đứa trẻ bị câm điếc sau này. Kháng sinh gây tác dụng phụ loại này phổ biến nhất là nhóm aminozid. Cần nhớ có những người mẫn cảm thì chỉ với một lượng nhỏ như rắc, nhỏ vào tai cũng gây nên điếc tiếp âm, không có khả năng hồi phục. Đối với chức năng ngửi: Các thuốc rỏ mũi có thủy ngân (Hg) sẽ gây mất ngửi, thường không hồi phục.

Sử dụng thuốc không đúng cách hoặc quá lạm dụng thuốc cũng có thể gây tổn hại niêm mạc, bởi niêm mạc mũi xoang với hệ thống lông – nhày hoạt động rất tinh tế. Khi làm thay đổi pH, nhiệt độ, độ nhớt như rỏ mật ong nguyên chất vào mũi sẽ gây tổn hại niêm mạc do độ pH và độ nhớt quá cao. Các thuốc dùng dài ngày cũng gây tác hại lớn như rỏ các thuốc co mạch (ephedrin, naphazolin) tuy đúng hàm lượng nhưng nhiều lần, kéo dài liên tục sẽ gây viêm mũi do thuốc. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống miễn dịch.

Vì thế, việc sử dụng thuốc kháng sinh, hạ nhiệt trong viêm mũi họng cấp thông thường cho trẻ nhỏ làm cản trở việc tạo hệ thống miễn dịch hoặc tạo hệ thống miễn dịch không hoàn chỉnh. Ngược lại rỏ các loại dịch thuốc chưa được nghiên cứu kỹ (các đông dược với hoa lá tươi) có thể sẽ là cách vô hình đưa các dị nguyên vào cơ thể. Nếu rỏ liên tục thì các dị nguyên này sẽ tác động đến hệ thống miễn dịch và là nguyên nhân gây các phản ứng dị ứng sau này.

Nguồn giáo dục

Sơ cứu ngộ độc nấm

Ngộ độc nấm độc chỉ xảy ra khi ăn các nấm mọc hoang dại, thường vào mùa xuân và hè và ở các vùng rừng núi. Loại nấm độc nhất là nấm lục (hay nấm độc xanh đen), có hình thức hấp dẫn nhất, ngộ độc nặng nề, diễn biến ngộ độc không thể lường trước được và là nguyên nhân tử vong của hầu hết các trường hợp ngộ độc nấm xảy ra hàng năm ở nước ta.

Biểu hiện ngộ độc chính:

Loại biểu hiện ngộ độc sớm:Thường biểu hiện sau ăn 30 phút đến 2 giờ, tối đa là 6 giờ. Biểu hiện tuỳ thuộc vào loại nấm:

– Nấm đỏ (nấm mặt trời, tên khoa học: Amanita muscaria), nấm mụn trắng (nấm tán da báo, tên khoa học: Amanita pantheria): buồn ngủ, chóng mặt, khó chịu, ảo giác, sảng, giật cơ, co giật.

– Nấm mực (tên khoa học: Coprinus atramentarius): do khi ăn bệnh nhân có uống rượu, bia, biểu hiện đỏ mặt, cổ, ngực, cảm giác bốc hoả, vã mồ hôi, trống ngực, nhịp tim nhanh, đau ngực, thở nhanh, khó thở, buồn nôn, nôn, đau đầu, hạ huyết áp.

– Nấm phiến đốm chuông (tên khoa học: Paneolus campanulatus): điều hoà các động tác vận động kém, tăng vận động, ảo giác, hoang tưởng. Có thể có đồng tử (con ngươi mắt) giãn, kích thích vật vã, co giật.

so-cuu-ngo-doc-nam

Loại biểu hiện ngộ độc muộn:

– Xuất hiện sau khi ăn 6 – 40 giờ (trung bình 12 giờ).

– Hầu hết các trường hợp do nấm lục (nấm độc xanh đen, tên khoa học: Amanita phalloides).

– 6 – 40 giờ sau ăn, bệnh nhân mới biểu hiện nôn, đau bụng, ỉa chảy dữ rội và nhiều. Vào thời điểm này hầu hết chất độc đã vào máu.

– Sau 1 – 2 ngày: Các biểu hiện tiêu hoá trên đỡ, người bệnh (thậm chí có thể cả cán bộ y tế) nghĩ là bệnh đã khỏi. Trên thực tế tình trạng ngộ độc vẫn tiếp diễn âm thầm ở các cơ quan khác.

– Sau 3 – 4 ngày: Vàng mắt, vàng da, mệt mỏi, ăn kém, đái ít dần, phù, chảy máu nhiều nơi, hôn mê và tử vong.

Sơ cứu:

– Gây nôn (bằng biện pháp cơ học): Trong vòng vài giờ sau ăn nấm (tốt nhất trong giờ đầu tiên) nếu bệnh nhân là người trên 2 tuổi, tỉnh táo, chưa nôn nhiều. Cho bệnh nhân uống nước và gây nôn.

– Uống than hoạt: liều 1gam/kg cân nặng người bệnh.

– Cho người bệnh uống đủ nước, tốt nhất là dùng oresol.

– Nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.

– Nếu người bệnh hôn mê, co giật: cho người bệnh nằm nghiêng.

– Nếu người bệnh thở yếu, ngừng thở: hà hơi thổi ngạt hoặc hô hấp nhân tạo bằng các phương tiện cấp cứu có tại chỗ.

– Không tự về nhà trong 1 – 2 ngày đầu kể cả khi các biểu hiện ngộ độc ban đầu đã hết.

– Ngộ độc nấm loại biểu hiện muộn cần được điều trị tại các cơ sở y tế có phương tiện hồi sức tích cực tốt (thường tuyến tỉnh trở lên).

Nguồn giáo dục

Những thói quen ảnh hưởng tới sức khỏe dân công sở

Ngoáy tai: Không ít người nghiện ngoáy tay đến mức mang luôn bịch tăm bông bên mình. TS Trần Minh Trường, trưởng khoa tai mũi họng BV Chợ Rẫy cho biết điều này rất tai hại vì tăm bông không được vô trùng tốt, có thể gây nhiễm trùng ống tai, chưa kể khi ngoáy tai có người sơ ý đụng sẽ dẫn đến thủng màng nhĩ. Do đầu bông khá to, nên khi ngoáy sâu trong tai dễ làm đau, mặt khác do được tẩm một dung dịch đặc biệt, nên ngoáy lâu ngày dẫn đến ngứa.

Theo các chuyên gia sức khỏe, bình thường tai có thể tự làm sạch vì vùng da ở ống tai phát triển hướng ra ngoài, kéo theo ráy tai, do đó không cần phải dùng vật dụng nào để vệ sinh. Tắm xong, một thời gian sau tai sẽ tự khô.

nhung-thoi-quen-anh-huong-toi-suc-khoe-dan-cong-so

Bẻ cổ, bẻ người: Nhiều người thích làm giảm đau nhức, mỏi mệt bằng cách bẻ người, nhưng bác sĩ Thái Thị Hồng Ánh, trưởng khoa nội cơ – xương – khớp Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cho rằng điều này nguy hiểm vì khi bẻ người, ta sẽ tạo ra những cọ xát ở mặt khớp, nhẹ thì làm mòn mặt khớp, nặng hơn gây thoát vị, trật khớp, đôi khi phải cần đến phẫu thuật để giải quyết.

Mân mê da mặt, ngoáy mũi: Dù có rửa sạch tay đến mấy, bạn cũng không thể diệt 100% vi khuẩn có trên tay, huống hồ bạn phải dùng tay để gõ máy tính, cầm nắm vật dụng văn phòng, bắt tay người khác… Theo các chuyên gia sức khỏe, mân mê da mặt quá nhiều sẽ phá vỡ bề mặt bảo vệ trên da, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm. Trong khi đó, ngoáy mũi có thể làm huỷ hoại lông mũi, rách niêm mạc mũi, gây viêm nhiễm.

Làm việc với máy tính quá lâu: Làm việc với máy tính quá 2 giờ sẽ khiến mắt đau nhức, khô rát, nhìn đôi hoặc nhìn loá, khó tập trung vào công việc… Những triệu chứng này thường không để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài cho sức khoẻ, nhưng khiến bạn khó chịu, giảm năng suất làm việc.

Vì thế, sau 1 giờ làm việc với máy tính, bạn nên nghỉ ngơi 5 phút; sau 2 giờ nên đứng dậy đi dạo một vòng. Nếu không thích, bạn có thể ngồi trên ghế, ngửa người ra sau, nhắm mở mắt nhiều lần trong vài phút để mắt bớt khô.

Ngồi lâu, đứng dậy đột ngột: Ngồi lâu một chỗ, máu tụ xuống phần dưới cơ thể, vì thế nếu đứng dậy đột ngột, máu chưa vận chuyển lên đầu kịp thời, bạn sẽ thấy chóng mặt, xây xẩm, khó chịu.

Theo các chuyên gia tim mạch, đối với người có sẵn bệnh tim mạch trong người, việc đứng dậy đột ngột còn có thể gây ngất xỉu hoặc những tai biến đáng tiếc khác. Vì thế, tốt nhất khi ngồi lâu một chỗ, muốn đứng dậy cần phải thực hiện động tác từ từ.

Bác sĩ Ánh lưu ý vùng cột sống cổ rất nhạy cảm, vì nơi đây có nhiều trung khu thần kinh quan trọng (hô hấp, tim mạch…). Chấn thương vùng này có thể gây liệt người hoặc tử vong! Thay vì làm động tác bẻ người mạnh bạo và đột ngột, bác sĩ Ánh khuyên nên làm nhẹ nhàng hoặc tập những động tác kéo dãn cơ đơn giản.

Nguồn giáo dục

Các biện pháp xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm tại nhà

Ngộ độc thực phẩm là biểu hiện bệnh lý xuất hiện sau khi ăn, uống những thức ăn nhiễm độc, nhiễm khuẩn, thức ăn bị biến chất ôi thiu, có chất bảo quản, phụ gia. Đặc biệt, tỉnh ta là một tỉnh miền núi, vẫn còn một số bộ phận người dân vùng sâu xùng xa chưa đề cao ý thức trong việc sử dụng thực phẩm như: các loại rau rừng, quả rừng, nấm…chứa các độc tố tự nhiên. Hơn nữa, vào mùa mưa, sau khi nước lũ qua đi nguồn nước, thực phẩm bị ôi nhiễm…cũng là nguyên nhân gây ra các vụ ngộ độc. Vậy khi bị ngộ độc thực phẩm cần phải xử trí như thế nào?

cac-bien-phap-xu-tri-khi-bi-ngo-doc-thuc-pham-tai-nha

Người bị ngộ độc thường có biểu hiện: nôn mửa, tiêu chảy, chóng mặt, sốt, đau bụng… gây hại tới sức khỏe, khiến cơ thể mệt mỏi, nếu không có biện pháp xử lý kịp thời có thể dẫn tới tử vong. Do đó, khi nhận thấy những biểu hiện ngộ độc như trên cần biết cách xử trí kịp thời: Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6h thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn vào, bằng cách: Dùng lông gà ngoáy họng, uống nước mùn thớt, uống nước muối (2 thìa canh muối pha với 1 cốc nước ấm) hoặc uống đầy nước rồi móc họng để kích thích gây nôn. Tuy nhiên, khi sơ cứu bằng gây nôn cho trẻ, người lớn phải lưu ý móc họng trẻ cho khéo, tránh làm xây xát họng trẻ. Phải để trẻ nằm đầu thấp, nghiêng đầu sang một bên rồi móc họng để trẻ nôn thức ăn ra. Không để trẻ nằm ngửa và nôn vì như vậy có thể gây sặc lên mũi, xuống phổi và rất dễ dẫn đến tử vong. Trong quá trình gây nôn, phải luôn phải khăn để lau chùi. Móc sạch thức ăn trẻ nôn ra rồi dùng khăn mềm lau sạch miệng trẻ.

Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6h, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử trí bằng cách:

– Dùng chất trung hòa: nếu người bị ngộ độc do những chất acid có thể dùng những chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước magie oxyt 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15ml. Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành C­­O2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày. Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch acid nhẹ như: dấm, nước quả chua….

– Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng gà, nước cháo…để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc.

– Dùng chất kết tủa: nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân…) có thể dùng lòng trắng trứng, sữa hoặc 4 – 10g natri sunfat.

– Dùng chất giải độc: với người bị ngộ độc kim loại nặng, axit… có thể uống kết hợp với chất độc thành chất không độc như: uống hỗn hợp than bột, magie oxit.

Lưu ý: Đối với tất cả các trường hợp ngộ độc đều phải được đưa ngay tới cơ sở Y tế để được bác sỹ đưa ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời.

Bệnh xuất tinh ra máu ở nam giới

son thien Xuất tinh ra máu (XTRM) là hiện tượng trong tinh dịch có lẫn máu, có thể dễ phát hiện khi dùng bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo hay khi thủ dâm. Tinh dịch khi xuất ra thường có lẫn máu màu đỏ tươi, màu nâu hoặc màu gỉ sắt.

Vì sao gặp ở nam giới trẻ?

Nguyên nhân của tình trạng XTRM có thể do tắc túi tinh hoặc các nang túi tinh gây căng giãn túi tinh, lâu ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới thành niêm mạc túi tinh. Hoặc do nguyên nhân từ các loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tinh hoàn, ung thư đường dẫn tinh. Các thủ thuật như sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, chạy xạ trong điều trị ung thư. Các bệnh toàn thân như rối loạn đông máu, bệnh ưa chảy máu, xơ gan, viêm gan hay do giãn tĩnh mạch niệu đạo (trường hợp này trong tinh dịch thường không lẫn máu mà chỉ đái máu một bãi sau cương dương vật).

benh-xuat-tinh-ra-mau-o-nam-gioi
XTRM ở người trẻ tuổi thông thường là lành tính, tự khỏi nhưng thường hay tái phát. Nó có liên quan đến thói quen sinh hoạt tình dục nhiều hơn là tình trạng bệnh lý. Ở nam giới trẻ tuổi thường có thói quen kìm hãm xuất tinh khi quan hệ để thể hiện “bản lĩnh” của mình, mỗi lần kìm hãm như thế khiến túi tinh tăng áp lực, nhiều lần như vậy đã làm tổn thương các mạch máu túi tinh gây giãn, vỡ mạch máu. Ngoài ra, qua thực tế khám bệnh chúng tôi nhận thấy trong số các bệnh nhân nam trẻ tuổi đến khám vì XTRM thì có đến 80% trong số đó tình trạng XTRM xảy ra sau một trận say xỉn. Vấn đề này được giải thích như sau, khi uống một nồng độ rượu cao vào người làm toàn bộ mạch máu của cơ thể bị giãn rất nhiều, trong đó có mạch máu vùng túi tinh, đồng thời nồng độ cồn cao trong máu đã ức chế tế bào thần kinh trung ương làm nó bị trơ và không đáp ứng với các kích thích tình dục, vì lâu không đạt được khoái cảm nên các đấng mày râu vẫn “hùng hục làm việc”,  khi đó túi tinh phải bóp nhiều đến một lúc nào đó áp lực trong túi tinh tăng lên cao làm vỡ các mạch máu (vốn đang bị giãn do rượu) gây hiện tượng XTRM. Tổn thương niêm mạc đường ống dẫn tinh là cơ hội để các vi khuẩn xâm nhập và gây viêm. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn đến hiện tượng sung huyết và phù nề các ống tuyến của đường ống dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt mà hậu quả là tình trạng xuất tinh ra máu ngày càng nặng nề hơn. Vi khuẩn gây viêm thường gặp là Enterrobacteria (chủ yếu là E.coli), Chlamydia, vi khuẩn gram dương, trực khuẩn lao và một số loại viut.

Chọn lựa thuốc chữa

Trường hợp có viêm và nhiễm khuẩn thì điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất. Nếu không có kháng sinh đồ thì có thể điều trị theo kháng sinh kinh nghiệm, lựa chọn những kháng sinh nào có phổ tác dụng đối với họ Enterobacteria, đặc biệt ở người trẻ, thuốc phải có tác dụng với cả Chlamydia. Trên thực tế lâm sàng thường dùng kháng sinh nhóm quinolon như: levofloxacin, norfloxacin, ciprofloxacin,… Tùy tình trạng bệnh lý mà có thể dùng thuốc từ 2 tuần đến 1 tháng. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng thuốc như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn, đau xương khớp, giảm tiểu cầu,… Nếu không có nhóm quinolon thì có thể thay thế bằng kháng sinh metronidazone, trimethoprim, kết hợp cùng nhóm doxycyclin để điều trị nhiễm Chlamydia kết hợp.

Ngoài việc dùng kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn cần phối hợp các thuốc chống viêm, giảm phù nề: alphachoay (alpha chymotrypsin) điều trị trong 2 – 3 tuần và thuốc cầm máu transamin, dùng đường uống hoặc tiêm trong 5 – 10 ngày đầu điều trị.

Nhóm thuốc có tác dụng trên tuần hoàn tĩnh mạch như diosmin – hesperidin (daflon) cũng có hiệu quả trong điều trị. Tại tĩnh mạch, thuốc có tác dụng làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch và làm giảm sự ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch. Tại vi tuần hoàn, thuốc có tác dụng làm bình thường hóa tính thấm mao mạch và tăng sức bền thành mạch. Vì thế, thuốc có tác dụng trên mạch máu bị căng giãn, thành mạch kém bền. Thuốc dùng kéo dài 1 – 2 tháng với liều tấn công trong 2 tuần, sau đó dùng liều duy trì. Có thể kết hợp cùng rutin C trong mục đích làm tăng cường sức bền thành mạch. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng nhóm thuốc này như rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh thực vật nhẹ.

Nếu nguyên nhân XTRM do lao cần điều trị theo phác đồ chống lao.

XTRM trong các trường hợp tắc túi tinh, sỏi túi tinh, giãn tĩnh mạch niệu đạo, ung thư… cần can thiệp ngoại khoa.

Trong thời gian điều trị, bệnh nhân không được quan hệ tình dục hoặc tự ý xuất tinh ra để kiểm tra, điều đó sẽ làm nặng thêm tình trạng tổn thương mạch máu và khiến bệnh dai dẳng hơn. Thói quen kìm hãm xuất tinh hay uống bia rượu nhiều trước quan hệ tình dục không chỉ gây ra tình trạng XTRM mà còn là nguyên nhân của một số rối loạn tình dục như xuất tinh muộn, xuất tinh ngược dòng, giao hợp không xuất tinh, giảm ham muốn tình dục,… vì thế bạn nên từ bỏ thói quen không tốt này.

BS. Nguyễn Thị Hương

Nguồn sức khỏe đời sống

Mẹo cho người làm việc lâu dài với máy tính

Tuy nhiên, cũng giống như tất cả các đồng xu có hai mặt, mặc dù máy tính cung cấp cho những người có rất nhiều lợi thế và tiện lợi, nhưng nó cũng tác động một số hiệu ứng bất lợi cho con người, chẳng hạn như vàng da hoặc dị ứng, hypoimmunity, một số bệnh như chóng mặt, buồn nôn, tinh thần mệt mỏi, tăng tỷ lệ mắc tật cận thị…

Đối với dân văn phòng, những công việc đặc biệt luôn phải làm việc cùng máy tính có thể gây ra nhiều tác hại nguy hiểm. Theo nghiên cứu của các nha khoa học Mỹ, nếu tập hợp tất cả các bức xạ do khoảng 100 triệu chiếc máy tính sinh ra trong một ngày, thì số bức xạ đó tương đương với bức xạ của hai quả bom nổ tại Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh cho thấy, có tới 19 chứng bệnh gây ra do tia bức xạ và điện trường phát ra từ màn hình máy tính, bao gồm các bệnh ngứa mắt, dễ nổi cáu… Ngồi lâu trước mắt tính gây tổn hại lớn tới mắt, làm cho mắt đổ, xuất hiện quầng thâm, khô mắt và giảm thị lực.

meo-cho-nguoi-lam-viec-lau-dai-voi-may-tinh

Màn hình máy tính sản sinh ra một lượng điện tích có thể là chất xúc tác khiến da hấp thụ nhiều bụi bẩn có trong không khí, thậm chí về lâu dài sẽ có thể xuất hiện nếp nhăn, vết tàn nhang. Da bạn có thể gặp tình trạng bị khô, xám xịt do những bức xạ từ máy tính phát ra.

Những gì chúng ta nên chú ý đến là làm thế nào để loại bỏ các tác hại từ bức xạ máy tính. Các phương pháp sau đây có thể giúp mọi người giải quyết những rắc rối gây ra bởi bức xạ máy tính:

Cải thiện môi trường làm việc
Bạn có thể đặt một số cây xanh bên cạnh máy tính của bạn, nó không chỉ có hiệu quả hấp thụ bức xạ của máy tính, mà còn có thể giải tỏa áp lực của bạn và làm mới cuộc sống hàng ngày của bạn. Các loại cây bạn có thể trồng bao gồm cây xương rồng, hoa đá quý, …

Uống nhiều nước và ăn đủ chất

Thứ hai, uống nhiều nước và ăn nhiều thực phẩm có chứa đủ Vitamin A, Vitamin C và protein. Đối với những người có cuộc sống bận rộn và bận rộn, cách đơn giản nhất để ngăn chặn bức xạ máy tính là uống 2-3 tách trà xanh hoặc ăn một trái cam mỗi buổi sáng.

Trà xanh rất giàu tiền vitamin A, có thể được nhanh chóng chuyển thành Vitamin A sau khi nó được hấp thụ bởi cơ thể. Vitamin A có thể tổng hợp thành Rhodopsin, mà có thể giúp chúng ta nhìn thấy mọi thứ rõ ràng hơn trong môi trường tối. Vì vậy, trà xanh có thể không chỉ loại bỏ tác hại từ bức xạ máy tính mà còn có thể bảo vệ đôi mắt của con người. Nếu bạn không uống được trà xanh, bạn có thể thay thế bằng trà hoa vì nó cũng có chức năng ngăn ngừa bức xạ máy tính và điều hòa cơ thể.

Chăm sóc làn da của bạn

Nhiều phụ nữ sẽ sử dụng make-up cơ sở trên khuôn mặt của họ trước khi ngồi trước máy tính. Nó có hiệu quả có thể ngăn chặn sự ô nhiễm bức xạ máy tính. Sau khi sử dụng máy tính trong một thời gian dài, sẽ có rất nhiều các hạt bức xạ điện từ được hấp thụ trên khuôn mặt của bạn, vì vậy bạn nên rửa mặt ngay lập tức. Một thói quen như vậy có thể làm giảm bức xạ máy tính hơn 70%.

Đảm bảo đủ không khí trong phòng

Nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng màn hình máy tính sẽ sản xuất một loại chất gây ung thư được gọi là “brom dibenzofuran”. Vì vậy, rất cần thiết phải có một chiếc quạt thông gió phải được cài đặt trong phòng.

Thư giãn ngắn

Điều này cũng rất cần thiết, bạn có thể nghe một chút nhạc hoặc thực hiện một số bài tập đơn giản ngay tại chỗ để giải tỏa áp lực công việc của bạn và cung cấp cho bạn một tâm trạng vui vẻ.

Ngoài ra, vị trí đặt máy tính cũng rất quan trọng. Hạn chế việc đặt mặt sau của màn hình về hướng có người bởi vì bức xạ điện từ của máy tính mạnh nhất là từ mặt sau, sau đó là hai bên, màn hình là nơi mà bức xạ điện từ yếu nhất. Để có thể nhìn rõ mặt chữ ít nhất chúng ta cũng phải đặt máy tính cách 50 – 75 cm. Với vị trí như vậy có thể giảm những ảnh hưởng của bức xạ điện từ.

Theo báo sức khỏe

Tìm hiểu và điều trị Huyết áp kẹt

Lâu nay, người ta vẫn thường nhắc đến bệnh huyết áp cao hoặc huyết thấp chứ ít khi nói đến huyết áp kẹt. Các triệu chứng khi bị kẹt huyết áp gần giống như huyết áp thấp nhưng hậu quả của nó lại rất nguy hiểm.

Vậy, huyết áp kẹt nguy hiểm như thế nào? Nguyên nhân và cách điều chỉnh để tránh hiện tượng huyết áp kẹt ra sao? Chúng ta sẽ cùng xem xét vấn đề này.

Huyết áp là gì:

Huyết áp là áp suất của mạch máu biểu hiện bằng hai số: số tối đa phản ánh sức bóp của tim và số tối thiểu ghi nhận sức cản của thành động mạch.

Huyết áp bình thường:

Khi số đo huyết áp tâm thu dưới 120mmHg và huyết áp tâm trương dưới 80mmHg thì được gọi là huyết áp bình thường.

tim-hieu-va-dieu-tri-huyet-ap-ket

Thế nào là huyết áp kẹt:

Khi huyết áp tâm thu – huyết áp tâm trương <=25mmHg (hoặc <=20 mmHg) thì được cho là huyết áp kẹp. Ví dụ: huyết áp tâm thu bằng 110 thì huyết áp tâm trương vào khoảng 65 – 75. Nếu huyết áp tâm trương là 85 – 90 thì có thể coi là huyết áp kẹt.

Triệu chứng:

+ Đau đầu, ngủ kém.

+ Mệt mỏi, khó thở.

+ Thỉnh thoảng thấy hoa mắt, chóng mặt.

+ Hơi thở ngắn, nói hụt hơi.

+ Cảm giác người lạnh hơn bình thường…

Nguyên nhân gây kẹt huyết áp:

+ Giảm huyết áp tâm thu.

+ Tăng huyết áp tâm trương.

Trong các trường hợp

1. Do mất máu nội mạch:

Có thể do chấn thương hoặc dịch thoát khỏi nội mạch trong bệnh cảnh sốt xuất huyết Dengue hoặc suy tim.

2. Bệnh van tim

+ Hẹp van động mạch chủ: khi van động mạch chủ hẹp, lượng máu được tống ra khỏi thất trái trong thì tâm thu giảm gây giảm huyết áp tâm thu dẫn đễn huyết áp kẹt.

+ Hẹp van 2 lá: khi van 2 lá hẹp máu sẽ bị ứ lại tâm nhĩ trái trong thì tâm trương chính điều đó làm tăng huyết áp tâm trương.

3. Một số nguyên nhân khác:

+ Chèn ép tim (tràn máu tràn dịch màng ngoài tim).

+ Cổ trướng cũng gây huyết áp kẹt…

Huyết áp kẹt nguy hiểm như thế nào:

+ Huyết áp kẹt khiến tim còn rất ít hiệu lực bơm máu làm cho tuần hoàn bị giảm hoặc ứ trệ.

+ Huyết áp kẹt gây lực cản ngoại vi lớn, dễ gây phì đại thất trái dẫn đến suy tim…

Biện pháp đề phòng:

1.Chế độ dinh dưỡng – sinh hoạt hàng ngày.

+ Bổ sung chế độ ăn đầy đủ dưỡng chất và rau xanh.

+ Sắp xếp công việc hơp lý, tránh làm việc quá khuya, stress.

+ Tập luyện thể thao hàng ngày tăng cường lưu thông máu trong cơ thể

2. Điều trị thuốc:

+ Sử dụng một số loại thuốc có tác dụng điều hòa huyết áp.

+ Sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sỹ.

Lời kết:

Các bệnh về huyết áp đều gây nguy hiểm cho sức khỏe. Tuy nhiên,  huyết áp kẹt khiến cơ thể mệt mỏi, hoạt động của tim gặp nhiều trở ngại…dễ dẫn đến suy tim. Mặt khác, huyết áp kẹt gây ảnh hưởng đến chất lượng công việc, đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Vì vậy, để đảm bảo sức khỏe, chúng ta cần điều hòa công việc, sắp xếp thời gian nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và luyện tập thể thao đều đặn.

Theo sức khỏe đời sống

Hội trứng khi điều trị viêm khớp

Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp và viêm khớp thoái hóa đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những tác dụng không mong muốn hoặc một số hội chứng ảnh hưởng xấu cho sức khỏe…

Tác dụng không mong muốn (còn gọi là tác dụng phụ) của thuốc là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: Dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc sốc phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu…).
viem-khop
Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: Tăng huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận… Bệnh nhân phải dừng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

Ngoài các tác dụng phụ vừa kể, một số hội chứng không điển hình dưới đây người bệnh cần chú ý khi điều trị viêm khớp:

Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Khi uống thuốc, người bệnh cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển thì rất có thể thuốc đã không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 38 độ C), đó có thể là biểu hiện bình thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 38 độ C), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm khuẩn. Nhiều thuốc trị viêm khớp đã làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: methotrexate, immuran, remicade, cyclosporine, cytoxan… Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm khuẩn sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

Tê hoặc cảm giác kiến bò: Các phản ứng này có thể xảy ra vì sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến bò. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc như solganal, myochrysine methoratrexate, hydroxychloro-quine.

Ðỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do thuốc plaquenil làm tổn hại võng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: ibuprofen, naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: azathiprine (immuran), prednisolone, methotrexate.

Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Khả năng bị nhiễm khuẩn đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời.
Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lý kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết. Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc mà mình thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

BS.TS. Hoàng Xuân Ba

Nguồn sức khỏe đời sống

Tằm đực – Vị thuốc bổ thận tráng dương

Khi nói đến con tằm, người ta thường liên hệ ngay đến một điều gì đó có tính chất thư thả, thong dong, cần mẫn, như “ tằm ăn lá dâu”, hoặc hết lòng vì thế hệ con cháu “rút ruột nhả tơ con tằm”.

Ở Việt Nam, cây dâu và con tằm đã là những đối tượng rất đặc biệt đi vào cuộc sống thường nhật của con người. Chỉ nói riêng con tằm thôi đã có bao nhiêu là chuyện, nào là tằm nhả tơ vàng, óng mượt đã làm cho làng lụa của Hà Đông phát triển. Khi tằm chín, bụng chứa đầy tơ, vàng ươm lại là một vị thuốc bổ khí, bổ huyết vô cùng quý giá. Chẳng may tằm bị một loại khuẩn (Botrytis bassiana Bals) làm cho chết cứng, sắc trắng như vôi vì thế mà có tên bạch cương tàm (Bombyx cum Botryte). Bạch cương tàm được dùng trị bệnh đau đầu, chóng mặt, sốt cao, thần kinh co giật, hoặc trẻ con khóc đêm, mất tiếng, cũng có khi dùng trị liệt dương hoặc băng huyết, khí hư bạch đới.

tam

Ngoài ra còn được tán thành bột hòa với nước mà bôi vào các chỗ bị nám, các vết bã chè trên mặt, nhất là chị em ở thời kỳ tiền mãn kinh. Đôi khi tằm vẫn còn một chút an ủi là có sự đóng góp cuối cùng cho loài người, đó là phân của tằm cũng là vị thuốc, được gọi là tàm sa, sau khi sao vàng được dùng trị bệnh tiểu đường, tuy nhiên những người huyết nhiệt không nên dùng.

Tằm cả đời chỉ vất vả chăm lo cho việc ăn nhậu của mình, kế đó là làm sao cho được cái tổ kén vàng bền đẹp, bên ngoài với các sợi tơ óng mượt, bên trong là một lớp vỏ mịn màng và không kém phần bền chắc, để rồi đến cuối của vòng đời, tằm sẽ yên nghỉ một cách bình an trong đó, kệ cho tạo hóa xoay vần “thành nhộng”. Cả vòng đời của tằm vất vả như thế đó. May thay, vẫn còn có một chút lộc “trời ban” để lại cho hậu thế của tằm, là các chú ngài non đầy sung sức.

Cắn kén chui ra

Chẳng cần đồng hồ, bất chấp hiệu lệnh, cứ khoảng 5 giờ sáng, đồng loạt các chú ngài tằm đực cắn kén chui ra. Và cuộc hành trình ngoạn mục này kéo dài đến khoảng 1 giờ đồng hồ thì các o ngài cái mới thực sự “tỉnh giấc”, và cũng làm theo cái cách của các anh bạn đời ra trước. Như vậy phải mất sau một giờ, tức là vào khoảng 6 giờ sáng cùng ngày, những con ngài cái mới xuất hiện trên thế gian này. Nói như vậy không có nghĩa là cứ phải đúng răm rắp, mà vẫn còn ngoại lệ. Nhiều chú ngài, cả đực và cái, vẫn còn rải rác chui ra khỏi kén trong suốt cả ngày.

Hormon sinh dục nam trong ngài tằm đực

Trong ngài tằm đực có chứa một hormon sinh dục nam là methyltestosteron, chất này có hoạt tính sinh học cao, có tác dụng làm phát triển túi tinh của động vật thí nghiệm. Về mặt làm thuốc, ngài tằm đực có tác dụng ích tinh, bổ thận tráng dương, dùng trị các chứng di tinh, hoạt tinh, liệt dương, nói chung là các hoạt động sinh lý yếu của phái mày râu. Cũng chính từ cái lẽ đó mà đôi khi cũng là điều “bất công” với các chú ngài tằm đực. Con người sẽ chẳng dại gì mà thu lượm các chú đã trải qua “chiến đấu”. Chính vì vậy mà người ta chỉ dùng những con ngài tằm đực khỏe mạnh, vừa mới ở kén chui ra, chưa có dịp thưởng thức cái thú vị mà thiên nhiên ban tặng cho chúng, để làm vị thuốc bổ thận tráng dương cho phái mạnh. Có nhiều phương án lựa chọn cho việc sử dụng những con ngài tằm đực. Khi cần “đánh nhanh thắng nhanh”, có thể dùng ngài tằm đực dưới dạng thực phẩm fast food, dùng 7 con ngài tằm đực, bỏ chân bỏ cánh, sao vàng cho thơm, làm bột mịn rồi đem phối hợp với vài con tôm he tươi, đã bóc vỏ, giã nát, cùng với 2 cái lòng đỏ trứng gà, thêm một chút lá hẹ, trộn đều rồi hấp chín. Có thể ăn ngay khi còn nóng hổi. Có người hỏi, tại sao lại chỉ dùng có 7 con ngài tằm đực, là lẽ gì vậy?

Theo thuyết âm dương của Đông phương, con số 7 thuộc về “dương số”, là con số đang mạnh để tiến tới con số cực dương, tức là số “lão dương”, số 9. Hơn nữa, trong thực tế, người ta thấy với số lượng 7 con như thế cũng là tạm đủ một bữa cho các quý ông rồi. Nếu cần chiến thuật “đánh chậm thắng chắc” theo kiểu “tằm ăn lá dâu”, “mưa lâu ướt áo”, có thể dùng phương án “trường kỳ – rượu” gồm: Ngài tằm đực 40g, ba kích, hà thủ ô đỏ, dâm dương hoắc, đan sâm, mỗi vị 20g, trần bì 12g. Tán bột thô. Ngâm với 1- 1,5 lít rượu 30-35o từ 3 – 4 tuần. Ngày uống 2- 3 lần, mỗi lần 30-50ml, hoặc uống trước khi đi ngủ. Cần lưu ý rằng, tất cả các loại “ rượu bổ dương” nói chung nên uống theo liều lượng nhất định, cũng không nên quá lạm dụng như một thứ rượu tiêu khiển khác. Vì đối với rượu, bao giờ cũng có hai mặt, liều lượng vừa phải thì gây cảm giác hưng phấn, quá lượng sẽ gây ức chế, quá mãi có khi lại làm “liệt” luôn chức năng của quý ông.

Sức khỏe đời sống

Vi khuẩn gây viêm dạ dày

Viêm dạ dày là một căn bệnh rất đáng lo ngại nếu không được chữa trị kịp thời  và đúng cách có thể khiến bệnh trở nên nặng hơn. Viêm dạ dày thường xảy ra ở những người có mô hình ăn uống bất thường, như các loại thực phẩm có tính axit, kích thích sản sinh axit trong dạ dày, hoặc các loại thực phẩm, các loại thuốc có thể gây kích ứng dạ dày. Bên cạnh đó một số vi sinh vật truyền nhiễm cũng có thể gây ra viêm dạ dày.

Triệu chứng của viêm dạ dày: Người bị viêm dạ dày thường có triệu chứng: đau ở hố của dạ dày, buồn nôn, mệt mỏi, đầy hơi, khi ăn không thấy cảm giác ngon miệng, mặt xanh xao, nhiệt độ cơ thể tăng lên, ra mồ hôi lạnh, chóng mặt,… Trường hợp nặng có thể nôn ra máu.

vi-khuan-gay-viem-da-day

Axit dạ dày tăng cao có thể do một số nguyên nhân như: ăn muộn, bị căng thẳng, ảnh hưởng đến sản xuất của axit dạ dày thừa. Tiêu thụ một số loại thực phẩm và đồ uống gây tiết axit dạ dày cao như các loại thực phẩm và đồ uống có vị chua, cay, cà phê, vitamin C liều cao, các loại trái cây chua.

Ngoài nguyên nhân trên thì viêm dạ dày còn do vi khuẩn Hp, nhiễm khuẩn E-colli, salmonella hoặc virut gây nên.

Phương thức lây truyền của vi khuẩn Helicobacter Pylori: Vi khuẩn Hp có thể lây truyền qua đường ăn uống: Mẹ bị viêm dạ dày do vi khuẩn Hp nhai thức ăn cho con. Hoặc những con ruồi bẩn đậu vào phân của người bị viêm dạ dày có vi khuẩn Hp sau đó lại đậu vào thực phẩm. Hoăc do không rửa tay trước khi ăn cũng là một nguyên nhân.

Những điều cần tránh đối với bệnh viêm dạ dày có vi khuẩn Hp

–         Tránh các thức ăn có chứa rất nhiều khí (chẳng hạn như mỡ, mù tạt, cải bắp, mít, chuối, Amra, trái cây sấy khô, nước giải khát).

–         Tránh các thức ăn kích thích việc sản xuất acid dạ dày

–         Tránh những thức ăn mà khó có thể tiêu hóa mà làm cho dạ dày ví dụ như thức ăn béo chậm hơn trống, bánh, phô mai, vv.

–         Tránh các loại thực phẩm mà thiệt hại các bức tường của dạ dày như giấm, gia vị, hạt tiêu và các loại thảo mộc

–         Tránh những thức ăn làm suy yếu van dưới thực quản như sô cô la, chất béo và các thực phẩm chiên.

–         Tránh nhiều nguồn carbohydrate như gạo nếp, mì, bún, bulgur, ngô, sắn, những câu chuyện, và lunkhead.

Để phòng tránh bệnh viêm dạ dày do vi khuẩn Hp nên giữ vệ sinh môi trường sống trong lành sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Thức ăn sau khi chế biến xong cần phải được đậy cẩn thận để tránh ruồi đậu vào. Ngoài ra nếu trong gia đình có người bị viêm dạ dày do vi khuẩn Hp nên chú ý vấn đề ăn uống, để tránh lây qua đường ăn uống.

Theo sức khoẻ

Dị ứng thức ăn, có cần dùng thuốc?

Một số người khi sử dụng thực phẩm như tôm, cua, ốc, sò,  hến, nhộng, ba ba, cá… có những biểu hiện bệnh dị ứng. Ở người sẵn có cơ địa dị ứng (mẫn cảm, không dung nạp) thì ngay những thức ăn thông thường  như lạc, cà chua, hành, tỏi… vẫn có thể gây dị ứng thành mày đay. Ngoài ra, yếu tố gây dị ứng trong thức ăn còn có thể là các chất màu, chất bảo quản, chất phụ gia trong quá trình chế biến.

Sở dĩ thức ăn gây dị ứng là do hoặc bản thân thức ăn chứa nhiều histamin hoặc khi vào cơ thể qua chuyển hóa  thức ăn làm sản sinh ra nhiều histamin và một số chất gọi là chất hóa học trung gian (serotomin, axeticolin…) có tác dụng làm giãn mao mạch, thoát huyết tương và một số tế bào trắng thoát ra đọng lại gây phù nề tại chỗ, ở một vùng hoặc rải rác khắp cơ thể.
di-thuc-thuc-pham
Để điều trị dị ứng thức ăn, nếu chỉ là mày đay cấp, nhẹ chỉ cần dùng thuốc kháng histamin như: phenergan, dimedron, chlopheniramin, cimetidin… Nặng hơn có khi phải kết hợp với các chế phẩm corticoid (prednisolon, dexamethason…) uống hoặc tiêm, truyền. Đối với phù Quincke, sốc phản vệ do thức ăn phải được phát hiện và điều trị kịp thời ở cơ sở y tế chuyên khoa mới mong thoát khỏi tử vong.

Về ngoài da có thể bôi kem dịu da, chống ngứa có methol, phenol, sulfat kẽm nhưng bệnh nhân phải không gãi vì càng gãi càng tăng ngứa, tăng sẩn nề.

Trong Đông y thường dùng các đơn thanh lương giải độc có kim ngân, bồ công anh, ké đầu ngựa, cỏ mực, cam thảo,… vừa có hiệu lực, vừa an toàn đối với các thể mày đay nhẹ, mạn tính.

Khi dùng thuốc cần lưu ý, các thuốc kháng histamin và corticoid tuy có tác dụng đặc hiệu trong dị ứng nhưng đều có thể gây tác dụng phụ và tai biến đôi khi nghiêm trọng. Thuốc kháng histamin thường gây ù tai, chóng mặt, nặng đầu, choáng váng, buồn ngủ. Do đó, khi dùng thuốc không nên lái xe, đi xe máy, làm việc ở giàn giáo cao, dễ gây tai nạn. Đối với corticoid dùng liều cao, lâu ngày có thể dẫn tới phù nặng mặt, teo da, xốp xương, rối loạn chuyển hóa nhẹ hoặc nặng…

Vì vậy, tốt nhất bệnh nhân nên đi khám bệnh sớm ngay từ khi mới phát bệnh để được thầy thuốc hướng dẫn và điều trị thích hợp, nhất là giúp phát hiện thức ăn gây dị ứng để loại trừ, đó là phương pháp triệt để nhất. Nổi ban sẩn nề, kèm theo triệu chứng khác thường về nội tạng, nhất là khi có phù nề ở mặt, môi, lại càng phải sớm đi khám bệnh để phòng diễn biến xấu hơn. Dị ứng thức ăn tuy là thông thường nhưng không thể xem nhẹ.

GS. Nguyễn Xuân Hiền

Dị ứng thuốc biểu hiện như thế nào?

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ nhất là sự kích ứng, các tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như: buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng, chẳng hạn shock phản vệ… Sau đây là các biểu hiện thường gặp nhất.

Mày đay: Là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5 – 10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

di-ung

Phù Quincke: Là tình trạng phù cục bộ, phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

Viêm da dị ứng: Thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo ban đỏ, ngứa, phù da và tiến triển theo nhiều giai đoạn. Viêm da dị ứng có thể xuất hiện nhanh sau một vài giờ, trung bình sau vài ba ngày, có khi hàng tuần sau khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

Đỏ da toàn thân: Bệnh xuất hiện từ 2 – 3 ngày, trung bình 6 – 7 ngày, đôi khi 2 – 3 tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh thấy bừng nóng, ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hóa, nổi ban đỏ toàn thân, trên da có vảy trắng, các kẽ chân tay có thể nứt và chảy nước vàng, đôi khi bị bội nhiễm có mủ.

Bệnh huyết thanh: Thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38 – 390C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

Lấy lại “phong độ” sau khi dùng thuốc tránh thai

Nhức đầu, chóng mặt, tức ngực

Theo Hilda Hutcherson, TS-bác sĩ sản phụ khoa tại ĐH Columbia (Mỹ), khi gặp các triệu chứng này hãy kiên nhẫn, không nên lo lắng. Những tác dụng phụ này thường sẽ biến mất sau một thời gian bạn dùng thuốc. Nếu sau đó, triệu chứng này vẫn không hết mà có dấu hiệu nặng thêm thì cách tốt nhất là nên ngừng thuốc và tìm đến bác sĩ.

Buồn nôn

Đây là triệu chứng thường gặp khi dùng thuốc tránh thai, có thể biến mất sau một vài tháng sử dụng. Trong trường hợp vẫn không hết, bạn có thể dùng thuốc kèm với thực phẩm để quên đi cảm giác buồn nôn nếu là thuốc dạng viên. Nếu là vòng hoặc miếng dán tránh thai thì cần phải chuyển sang một phương pháp khác.

tranh-thai

Ra máu

Bác sĩ Hutcherson nói: “Tôi nghĩ rằng đây là tác dụng khiến phụ nữ đau đầu hơn bất kì tác dụng phụ nào khác bởi nó rất khó lường”. Vì vậy, hãy dùng thuốc tránh thai vào một thời điểm chính xác trong ngày. Đặc biệt, bạn cần lưu ý, đối với phương pháp cấy ghép progestin thì nội mạc tử cung mỏng sẽ có khả năng bị bong tróc nên chảy máu (tuy về mặt tích cực, nó có thể khiến cho kỳ kinh nguyệt của bạn nhẹ nhàng hơn).

Giảm ham muốn tình dục

Dùng thuốc tránh thai có thể làm giảm nhu cầu và khoái cảm tình dục, nên thỉnh thoảng bạn hãy tìm cách thay đổi biện pháp tránh thai khác. Phụ nữ có những biểu hiện trên có thể chuyển sang dùng loại thuốc tránh thai có nhiều androgen (giống testosterone), chắc chắn sẽ lấy lại được ham muốn và cải thiện đời sống chăn gối của mình – theo bác sĩ Hutcherson.

Tính tình thay đổi

Bỗng dưng bạn cảm thấy căng thẳng, thất vọng, bồn chồn hoặc thậm chí tính tình thay đổi. Nếu cho rằng thuốc tránh thai là nguyên nhân gây ra hiện tượng này thì tốt nhất bạn nên tìm một phương pháp khác không liên quan đến hormone.

Theo nld

Bổ sung nước hợp lý cho cơ thể

Nếu bạn cảm thấy khô miệng thì đó chính là dấu hiệu cho thấy bạn nên uống nhiều nước.

Khô miệng

Nếu bạn cảm thấy khô miệng thì đó chính là dấu hiệu cho thấy bạn nên uống nhiều nước.

Nước tiểu sậm màu

Nước tiểu sậm màu và nặng mùi cũng được xem là một dấu hiệu cảnh báo bạn nên bổ sung nước cho cơ thể.

ec8fbcnuoc2281384730

Mệt mỏi

Cơ thể bị mất nước sẽ dẫn đến tình trạng mệt mỏi, vì vậy hãy đảm bảo uống đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày.

Đói

Cảm giác khát có thể bị nhầm với cảm giác đói. Bạn nghĩ rằng mình đang đói nhưng thực tế là cơ thể báo hiệu bạn cần uống nước.

Khô da

Da cần nhiều nước để duy trì độ ẩm. Hiện tượng da khô hoặc bong tróc là dấu hiệu cảnh báo bạn cần uống đủ nước.

Chóng mặt

Mất nước có thể khiến bạn có cảm giác hoa mắt, chóng mặt. Một trong những dấu hiệu chính của chóng mặt do mất nước là bạn đột ngột bị hoa mắt, choáng váng khi đứng dậy quá nhanh.

Co cơ

Mất cân bằng điện giải kéo dài có thể dẫn tới tình trạng chuột rút hoặc co cơ trong và sau khi tập luyện do mất nước.

Giảm đàn hồi da

Khả năng đàn hồi của da sẽ giảm do mất nước. Nếu da chậm trở lại bình thường sau khi bị vấu thì đó là một dấu hiệu cho thấy bạn cần uống nhiều nước.

Táo bón

Mất nước khiến đại tràng cố giữ nước, làm phân trở nên cứng và khô.

Say nóng

Mồ hôi chủ yếu được tạo ra từ nước. Điều này có nghĩa là khi cơ thể bị mất nước, nó sẽ ngăn chặn đổ mồ hôi và nhanh bị nóng, khiến chúng ta dễ gặp phải tình trạng say nóng.

Đau nửa đầu
Cơ thể bị mất nước có thể dẫn tới tình trạng đau nửa đầu. Đây có thể là dấu hiệu cho thấy bạn cần uống nhiều nước hơn.

Theo Dân trí

Thiên ma – thực vật chữa hoa mắt nhức đầu rất tốt

Thiên ma là một loài thực vật đặc biệt có tác dụng chữa trị hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, chân tay tê dại….

Thiên ma thuộc họ lan, tên khoa học là: Rhizoma Gastodiae. Thiên ma còn gọi là định phong thảo, thần thảo, vô phong tự động thảo, chân tiên thảo, minh thiên ma, hợp ly… Thiên ma là một loài thực vật đặc biệt, kỳ lạ không có chất diệp lục, toàn thân màu vàng đỏ, trông xa như một mũi tên, rễ thẳng đứng giống hình chân người, lá hình vẩy cá, vì vậy còn được gọi là “cây mũi tên đỏ”.
thien-ma
Theo y học cổ truyền, thiên ma có vị ngọt, tính bình, vào kinh can. Công dụng: bình can tức phong, định kinh, trấn kinh, an thần, chỉ thống.

Chữa trị: hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, chân tay tê dại, chứng yếu nửa người, các chứng co giật ở trẻ em, các chứng động kinh. Ngoài làm thuốc trị bệnh, thiên ma còn được dùng để ngâm rượu, pha trà uống, làm canh dưỡng sinh, nấu cháo… để điều trị các chứng tê nhức, đau mỏi hay bồi dưỡng cơ thể có kết quả rất tốt, phương pháp làm lại giản đơn. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Rượu xoa bóp: Thiên ma, ngưu tất, phụ tử, đỗ trọng mỗi thứ 60g ngâm với 5lít rượu tốt, xoa bóp điều trị các chứng tê nhức, đau mỏi tại chỗ hoặc toàn thân.

Trà thiên ma: Làm giảm huyết áp, bổ huyết, sáng mắt; điều trị chứng hoa mắt, chóng mặt đối với bệnh nhân tăng huyết áp. Thiên ma 10g, cúc hoa 10g, kỷ tử 10g, tang thầm 20g dùng nước sôi pha trà uống hàng ngày.
Thịt gà nấy thiên ma, món canh giúpcơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chống được phong hàn…

Canh thiên ma – thịt gà: Thiên ma tươi: 250g, gà trắng 1 con, nấm tươi 250g, dầu ăn 1 thìa canh nhỏ, muối, nước sạch lượng vừa đủ. Rửa sạch thiên ma, cắt từng miếng mỏng; thịt gà rửa sạch, chặt miếng; nấm tươi rửa sạch thái sợi. Cho dầu ăn vào rồi cho nấm, thịt gà, muối vừa đủ đảo cho ngấm kỹ rồi cho thêm nước, thiên ma vào đun chín là có thể dùng được. Công dụng: bình can, tức phong, trừ phong, giảm đau; tư bổ can âm, ích tinh, sáng mắt; làm cho cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chống được phong hàn…

Thuốc sắc có thiên ma: Điều trị chứng đau, tê do thoái hóa đốt sống cổ, gai đôi:cát căn 36g, thiên ma 12g, uy linh tiên 15g, bạch thược 15g, tử đan sâm 15g. Nếu cổ vai đau nhiều gia ô tiêu xà, ngô công; nếu tay tê nhiều gia tang chi, tần giao; đau đầu nhiều gia xuyên khung, mạn kinh tử; hoa mắt chóng mặt nhiều gia thạch quyết minh, câu kỷ tử. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, trong 2 tuần.

Điều trị tăng huyết áp tiên phát thể can dương thượng nghịch (đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ, phiền táo, hay cáu gắt, miệng đắng, khát nước, mạch huyền); không có biểu hiện suy tim, cơn đau thắt ngực hay suy giảm chức năng gan thận: thiên ma 9g, câu đằng 12g, thạch quyết minh 18g, chi tử 9g, hoàng kỳ 9g, ngưu tất 12g, đỗ trọng 9g, ích mẫu thảo 9, tang ký sinh 9g, dạ giao đằng 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, liền trong 4 tuần.

Theo Sức khoẻ & Đời sống

Những quan niệm sai lầm về chứng đột quỵ

Đột quỵ hiếm khi xảy ra và chỉ là vấn đề của người cao tuổi. Nhiều người vẫn tin vào những quan niệm này, dù thực tế hoàn toàn ngược lại.

Đột quỵ chỉ xảy ra ở người cao tuổi

Quan niệm này hoàn toàn sai lầm. Mặc dù phần lớn những người ở độ tuổi trên 65 thường mắc chứng đột quỵ nhưng theo một nghiên cứu mới đây, 1/3 số người mắc chứng đột quỵ ở độ tuổi dưới 65. Tỷ lệ đột quỵ ở giới trẻ ngày càng tăng cao, nguyên nhân chủ yếu là do bệnh béo phì hay do bệnh tim bẩm sinh.

Chỉ có một loại đột quỵ
7-quan-niệm-sai-lầm-về-chứng-đột-quỵ
Phán đoán này là sai. Trên thực tế, có 2 loại đột quỵ chính: chứng thiếu máu cục bộ và đột quỵ xuất huyết. Thiếu máu cục bộ xảy ra khi mạch máu cung cấp máu cho não bị tắc nghẽn còn đột quỵ xuất huyết (hay bệnh chảy máu não) xảy ra khi mạch máu bị vỡ đột ngột. Những yếu tố gây nên chứng đột quỵ khác nhau nên cần áp dụng phương pháp điều trị khác nhau.

Bạn không thể làm gì để ngăn ngừa chứng đột quỵ

Điêu này là không đúng. Trên thực tế, khoảng 80% chứng đột quỵ có thể được ngăn ngừa bằng cách loại bỏ các yếu tố chính gây nên chứng đột quỵ như thừa cân, huyết áp cao hay lượng cholesterol cao. Bradley White, Phó Giáo sư Khoa Nghiên cứu thần kinh và Trị liệu thử nghiệm tại Trung tâm khoa học sức khỏe A&M thuộc Đại học Y Texas cho biết: “Tất cả 3 yếu tố này đều có thể ngăn ngừa được”. Ông cũng khuyến cáo rằng, nên tập thể dục thường xuyên, uống ít rượu bia và kiểm soát bệnh tiểu đường để ngăn chặn chứng đột quỵ.

Các triệu chứng đột quỵ luôn dễ dàng nhận biết

Điều này là không đúng. Tiến sĩ White cho biết: “Chóng mặt cũng là triệu chứng của đột quỵ”. Tuy nhiên, thông thường bạn bị chóng mặt là do đứng lên quá nhanh hay do một nguyên nhân nào đó vô hại. Nhìn chung, những triệu chứng dễ gặp nhất là: tê nửa mặt, yếu nửa người, hay nhầm lẫn, nói khó khăn. Ngoài ra, phụ nữ bị nấc thành tiếng cũng là dấu hiệu mắc chứng đột quỵ.

7 quan niệm sai lầm về chứng đột quỵ, Sức khỏe đời sống, Dot quy, chung dot quy, dot quy o nguoi cao tuoi, sai lam ve dot quy, ngan ngua chung dot quy, suc khoe, bao

Các triệu chứng sẽ tự biến mất

Quan niệm này là không đúng. Khi xảy ra các triệu chứng đột quỵ, bạn chờ đợi chúng biến mất hoặc đi ngủ là sai lầm rất lớn. Theo Tiến sĩ Bradley White, tốt hơn hết là bạn nên đến gặp bác sĩ còn hơn là ngồi chờ đợi và phớt lờ những triệu chứng đột quỵ thoáng qua như mắt đột ngột mờ đi, chóng mặt, tê một nửa cơ thể.

Nếu không phục hồi nhanh chóng thì sẽ chịu khuyết tật vĩnh viễn

Điều này là không đúng. Đã có một thời gian dài, người ta tin rằng những người mắc chứng đột quỵ sẽ ngừng hồi phục trong vòng 6 tháng. Tiến sĩ White cho biết: “Nếu bạn không ngừng chữa trị thì bạn sẽ không ngừng hồi phục”. Thực tế là nhiều bệnh nhân được chẩn đoán là sẽ không qua khỏi nhưng họ vẫn có tín hiệu hồi phục cả trong lời nói lẫn vận động cơ thể.

Sẽ muộn nếu không đến bệnh viện trong vòng 3 tiếng sau khi xảy ra đột quỵ

Phán đoán này là hoàn toàn sai lầm. 10 năm trước, các chuyên gia cho rằng thuốc tPA, một loại thuốc chống đông máu chỉ có tác dụng đối với những người thiếu máu cục bộ trong vòng 3 giờ. Tuy nhiên, hiện nay con số này đã tăng lên 8 giờ tùy thuộc vào cách sử dụng thuốc. Tiến sĩ White nhấn mạnh, thuốc tPA không có tác dụng với chứng đột quỵ xuất huyết, nó có thể khiến bệnh trầm trọng thêm.

Theo sức khỏe

Dược liệu dành cho phụ nữ tiền mãn kinh

Ở độ tuổi 45-55, do chức năng buồng trứng suy giảm nên 85% phụ nữ mắc hội chứng tiền mãn kinh với mức độ khác nhau, biểu hiện bằng các triệu chứng: rối loạn kinh nguyệt, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ, tim đập nhanh, có các cơn bốc hỏa, thay đổi tính tình… Theo y học cổ truyền, đây là hậu quả của tình trạng thận khí suy nhược, tinh huyết sút kém, kinh mạch hư tổn, công năng tạng phủ rối loạn, dẫn đến mất cân bằng âm dương trong cơ thể. Sau đây là một số món ăn bài thuốc hiệu quả cho chị em:

duoc_lieu_danh_cho_phu_nu_tien_man_kinh

Thể thận dương hư:

– Đông trùng hạ thảo 10g, thịt gà 250g. Thịt gà rửa sạch, cho vào nồi, đun sôi, hớt bọt. Cho đông trùng hạ thảo vào, hầm nhỏ lửa cho nhừ, chia làm 2 lần ăn trong ngày.

– Tôm nõn loại to 10 con, gạo kê 100g, dầu vừng, gia vị vừa đủ. Tôm rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo kê thành cháo, thêm gia vị, ăn vài lần trong ngày.

Thể can thận âm hư:

– Táo nhân 30g, sinh địa 30g, gạo tẻ 100g. Táo nhân đập vụn, sinh địa thái phiến, sắc kỹ cả hai vị lấy 200ml nước thuốc rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

– Tang thầm (quả dâu chín) 50g, đường trắng 200g, bột mì 300g, trứng gà 5 quả. Tang thầm rửa sạch, sắc lửa nhỏ trong 20 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước, cho đường, bột mì, trứng gà vào trộn đều, nặn thành bánh, nướng chín dùng dần. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 50-100g.

Thể tâm tỳ lưỡng hư.

– Thịt gà ác 200g, hà thủ ô 20g, hoàng kỳ 15g, đại táo 10 quả. Thịt gà rửa sạch, thái miếng, đại táo bỏ hạt, hà thủ ô và hoàng kỳ cho vào túi vải, buộc kín. Tất cả cho vào nồi đất, chế nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm kỹ trong 2 giờ, bỏ túi thuốc, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần.

– Long nhãn 30g, nhân sâm 3g, nấm linh chi 5g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà hằng ngày. Có thể chế thêm một chút đường phèn cho dễ uống.

– Nấm linh chi 5g, viễn chí 10g, tam thất 10g, ngũ vị tử 4g, hạt sen 10g. Tất cả tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, chế thêm một chút đường, uống thay trà trong ngày.

ThS. Hoàng Khánh Toàn
Theo SKĐS

Vì sao trẻ bị ngất

Trong thời gian gần đây, số lượng bệnh nhân đến khám tại phòng khám Khoa Tim Mạch với tình trạng ngất tương đối tăng.Vây thì ngất là gì , nguyên nhân nào gây ra cơn ngất và làm sao để phát hiện ra ngất?

Chúng ta nên biết rằng ngất là tình trạng mất ý thức tạm thời kèm theo mất trương lực tư thế gây ra bời giảm lưu lượng máu não.

Theo nghiên cứu của Mỹ: ngất chiếm # 1% số bệnh nhân nhập viện và # 3% số bệnh nhân cấp cứu.

vi_sao_tre_bi_ngat

Vậy làm sao để biết một trẻ là có ngất?

Thông thường trước khi ngất trẻ sẽ có triệu chứng choáng váng hoặc mắt tối xầm lại, ù tai, cảm giác buồn nôn hoặc nôn, mặt tái nhợt và toát mồ hôi lạnh, ta gọi đây là giai đoạn tiền triệu. Giai đoạn này xảy ra rất nhanh, hiếm khi quá 30 giây. Tuy nhiên trong một số trường hợp trẻ lại không có giai đoạn tiền triệu này ( như là nhịp nhanh thất, rung thất hoặc vô tâm thu gây ra ngất). Vào lúc khởi đầu của cơn ngất bệnh nhân thường ở tư thế đứng, cho nên giai đoạn tiền triệu này có thể giúp bệnh nhân có thời gian để nằm xuống tránh được các chấn thương do té ngã.

Tình trạng mất ý thức dài hay ngắn, còn nhận biết môi trường xung quanh hay hôn mê sâu thì tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân, có khi kéo dài vài giây đến vài phút hoặc có thể lâu đến 30 phút. Thường thì ý thức của bệnh nhân sẽ phục hồi ngay nhưng ở 1 số bệnh nhân vẫn còn cảm thấy yếu ớt, và đứng dậy quá sớm có thể gây ra một cơn ngất khác.

Vây nguyên nhân ngất là gì?

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra ngất: nguyên nhân thường gặp nhất là ngất có nguồn gốc phó giao cảm( 20 -40%) và khoảng 30% là không tìm thấy nguyên nhân.

– Ngất do phó giao cảm.
– Ngất do tư thế đứng
– Ngất do tim.
– Ngất do xoang cảnh.
– Ngất do tăng áp động mạch phổi nguyên phát.
– Ngất do thần kinh thiệt hầu và thần kinh X.
– Ngất do mạch máu não.
– Ngất do tiểu tiện.
– Ngất do tăng áp lực trong lồng ngực.

Ngoài ra chúng ta cũng có những bệnh cảnh lâm sàng tương tự như ngất như : động kinh, chóng mặt, tăng thông khí, cơn thoáng thiếu máu não,cơn hạ đường huyết hoặc Hysteria.

Nói tóm lại: ngất có thể do nhiều nguyên nhân gây ra hoặc không có nguyên nhân và có thể nhầm lẫn triệu chứng với những bệnh khác. Vì thế khi phụ huynh thấy trẻ có cơn ngất như nêu trên , hãy cho trẻ đến những cơ sở Chuyên Khoa Khi để được khám và kiểm tra nhằm tìm nguyên nhân của bệnh . Bởi vì những bệnh nhân bị ngất không rõ nguyên nhân có tỉ suất tử vong sau 1 năm là 6% và tần suất đột tử là 4%, còn  những bệnh nhân bị ngất do nguyên nhân tim thì có tỉ suất tử vong sau 1 năm là từ 18 -33% và tần suất đột tử là 24%.Cho nên đây là một tình huống cần phải cảnh giác, chớ có bỏ qua vì nó sẽ có thể gây ra những hậu quả nặng nề về sau.

Đăng bởi: BS.Nguyễn Thị Ngọc Phượng – Khoa Tim Mạch
Theo benhviennhi.org.vn