Tag Archives: cholesterol

Dinh dưỡng cho người tăng huyết áp

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh phổ biến và có xu hướng ngày một tăng ở nước ta. Stress do áp lực cuộc sống và công việc, chế độ ăn quá nhiều muối, thịt và mỡ động vật, ít rèn luyện thể lực, ít rau xanh… là những căn nguyên chính khiến số người mắc tăng huyết áp tăng cao ở Việt Nam.

Ăn nhiều mỡ và bệnh tăng huyết áp
Ảnh hưởng của dầu mỡ lên hệ tim mạch rất khác nhau. Hầu hết các loại mỡ động vật đều có chứa cholesterol và chứa từ 60-90% acid béo bão hoà (trừ mỡ cá hay mỡ một số loài chim có chứa ít hơn) nên mỡ động vật không có lợi cho phòng chống THA. Các loại dầu thực vật không có cholesterol và chứa ít (dưới 40%) acid béo bão hòa (trừ dầu dừa và dầu nhân hạt cọ) nên dầu thực vật là loại thực phẩm có lợi cho phòng chữa bệnh THA. Mỗi người một ngày ăn vào khoảng 300-500mg cholesterol. Thức ăn chứa nhiều cholesterol là thịt, gan, óc, lòng đỏ trứng, bầu dục, lòng non… Khi cholesterol tăng nhiều trong máu, nó sẽ bị lắng đọng và tích luỹ quá mức ở tế bào nội mạc để dần hình thành mảng đông lipid và phát triển thành những mảng vữa xơ động mạch. Làm cho thành mạch kém đàn hồi, dẫn đến THA.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Lòng lợn mắm tôm là món ăn chứa nhiều cholesterol và muối, người tăng huyết áp cần phải tránh.

Muối ăn góp phần tích cực khiến huyết áp tăng cao
Nói muối ăn (NaCl) thực chất là nói đến vai trò của ion Na trong muối ăn vì nó ảnh hưởng tới việc giữ nước trong cơ thể. Trong điều kiện bình thường, các hormon và thận cùng phối hợp điều hoà việc đào thải Na ăn vào. Khi quá khả năng điều chỉnh của cơ thể, hệ thống động mạch có thể tăng nhạy cảm. Tế bào cơ trơn tiểu động mạch ứ Na sẽ ảnh hưởng đến độ thấm của calci qua màng, làm tăng khả năng co thắt của tiểu động mạch gây tăng huyết áp. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo người có tuổi không nên dùng quá 6g muối/ngày (trong đó 40% từ các thực phẩm chế biến sẵn, 40% từ nấu nướng, 20% từ thức ăn tự nhiên). Các cuộc điều tra cho thấy: ở nơi ăn nhiều muối, tỉ lệ tăng huyết áp cao hơn những nơi khác. Muốn phòng và chữa bệnh tăng huyết áp cần giảm lượng muối ăn vào chỉ còn dưới 4g muối/ngày (1,5g Na) hoặc ít hơn nữa, có nghĩa là chỉ nên ăn rất nhạt, nấu nướng dùng ít mắm muối hoặc phải chọn thực phẩm chứa ít muối.

Nguyên tắc xây dựng chế độ ăn
Ít natri, giàu kali: hạn chế muối xuống dưới 6g/ngày, ăn nhiều rau quả để tăng kali trừ khi có ít nước tiểu. Không ăn các món mặn như dưa, cà muối, mắm tôm, cá biển…
Hạn chế các thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh và tâm thần: rượu, cà phê, trà đặc.
Tăng sử dụng các thức ăn uống có tác dụng an thần, hạ áp, lợi tiểu như canh lá vông, hạt sen, ngó sen, chè sen vông, nước rau, nước luộc ngô…
Hạn chế chất béo, đường bột, bánh kẹo, ăn nhiều rau quả tươi.

Nguồn sức khỏe đời sống

Vỏ tôm giúp giảm lượng Cholesterol

Một nghiên cứu mới đây cho biết chất hoá học chitosan có trong vỏ tôm sẽ rất có ích cho việc giảm béo phì và lượng cholesterol trong máu.

Nghiên cứu được đăng trên tập san Dược Lý và Sinh Lý Học Thực Nghiệm và Lâm Sàng. Chỉ đạo nghiên cứu Tiến sĩ Shahdat Hossain khoa Sinh Hoá à Sinh Học Phân Tử thuộc đại học Jahangirnagar đã tiến hành kiểm tra tác động của chitosan (có trong xương ngoài của tôm) lên cân nặng cơ thể, lượng lipid trong huyết tương và thành phần cấu tạo acid béo của những con chuột.

vo-tom

Kết quả nghiên cứu của Tiến sĩ Hossain và các cộng sự của ông cho thấy chitosan có thể giúp hạn chế tăng cân và lượng cholesterol ở chuột. Quan trọng hơn, khi được dùng như là nguồn bổ sung cho khẩu phần ăn kiêng, thì chitosan còn làm tăng tỷ lệ lượng choresterol có lợi hơn là có hại.

Nếu được nghiên cứu xa hơn, nó sẽ rất có ích về mặt xã hội và kinh tế. Trong khi béo phì một số bệnh khác như đái tháo đường và van tim đang phát triển, thì nghiên cứu đột phá về tác động của chitosan có thể là vũ khí lợi hại việc đấu tranh chống lại bệnh tim và đột quỵ – một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên thế giới, nó không ở đâu xa mà nằm ngay trong lớp vỏ tôm ta dùng hàng ngày.

Về mặt kinh tế, tôm được xem là nguồn thu xuất khẩu lớn thứ 2 ở các quốc gia như Bangladesh, nghiên cứu này cũng dự báo tốt cho nền kinh tế tương lai. Vỏ tôm có thề góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng kinh tế bằng cách giúp kiểm soát béo phì và những căn bệnh tim mạch khác. Một số quốc gia như Bangladesh có thể thu lợi kinh tế từ việc sản xuất và xuất khẩu những sản phầm có chứa chitosan.

Kết quả nghiên cứu cho rằng chitosan sản xuất từ tôm có thể là nguồn dinh dưỡng tốt và giúp chống lượng cholesterol cao cũng như những biến chứng liên quan khác. Tuy nhiên tiến sĩ Hossion lưu ý nên thêm một số chất chống oxi hoá tương thích vào khẩu phần ăn giàu chitosan nhằm giảm thiếu mức áp lực oxi hoá lên gan và sẽ cần phải có nhiều nghiên cứu hơn nữa để làm rõ vai trò của chitosan.

Nguồn khoa học

Mẹo giảm tác hại khi uống bia rượu

Biết rõ chỉ số “tửu lượng” của mình như biết rõ chỉ số huyết áp và cholesterol là một trong mười bước đơn giản để giảm tác hại của bia rượu

Như với chỉ số huyết áp và cholesterol của mình để duy trì một lối sống lành mạnh, bài viết trên tờ Journal of Psychopharmacology đề nghị mọi người tìm hiểu và theo dõi chỉ số “tửu lượng” của mình với một kế hoạch đơn giản gồm 10 điểm.

Các nhà khoa học Anh và Canada đã đưa ra một bộ các chiến lược dựa trên bằng chứng nhằm vào những việc mà mỗi cá nhân và chính phủ có thể thực hiện để giảm những tác hại của rượu đối với cá nhân và cộng đồng.

“Rượu là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tàn phế ở Anh và châu Âu”, tác giả bào báo cho biết. “Và những tác hại do rượu có thể giảm được một cách dễ dàng.”

meo-giam-tac-hai-khi-uong-bia-ruou

Bốn điểm đầu tiên của chiến lược mười điểm tập trung vào hành vi sức khỏe cá nhân, bao gồm:

1. Theo dõi “tửu lượng” bằng cách tìm ra “con số” của mình, giống như cách bạn biết về huyết áp, nồng độ cholesterol hay khẩu phần calo của bản thân.

2. Giới hạn lượng rượu ở mức 20g (khoảng 2,5 ly theo cỡ ly của Anh, nhưng dưới 2 ly ở hầu hết các nước châu Âu khác) mỗi ngày đối với nam và 15g (khoảng 2 ly ở Anh và từ 1-2 ly ở các nước khác) đối với nữ.

3. Ít hơn sẽ tốt hơn. Như với huyết áp và cholesterol, lượng rượu uống càng ít thì càng có sức khỏe tốt và tuổi thọ dài.

4. Một ngày không bia rượu: Không uống rượu trong một hoặc hai ngày mỗi tuần có thể giúp gan phục hồi khỏi tác động của rượu và làm giảm nguy cơ bị các biến chứng ở gan.

Sáu điểm tiếp theo nhằm vào những can thiệp của chính phủ:

5. Giá rượu thấp sẽ làm giảm tình trạng uống rượu rẻ tiền, nhất là trong giới trẻ.

6. Ghi nhãn số gam cồn, giống như ghi nhãn thực phẩm, sẽ cho phép người dùng theo dõi chính xác lượng cồn uống vào.

7. Hạn chế giờ và địa điểm mua bán rượu sẽ khiến cho việc mua rượu “thiếu suy nghĩ”, nhất là khi đã say, trở nên khó khăn hơn và giúp những người có vấn đề khi “rượu vào” dễ tránh tiếp xúc với rượu tại các cửa hàng và siêu thị.

8. Việc điều trị có thể mang lại lợi ích sức khỏe đáng kể cho cá nhân và xã hội và cần được cung cấp cho tất cả những người có vấn đề về phụ thuộc rượu.

9. Đầu tư cho công tác nghiên cứu triển khai những cách tiếp cận mới đối với chứng nghiện rượu. Các kỹ thuật sử dụng di truyền và chụp ảnh thần kinh sẽ tối ưu hóa và bổ sung cho những nghiên cứu hiện có. Đầu tư cho thuốc điều trị nghiện rượu hiện còn rất hạn chế và cần được đổi mới nhờ các sáng kiến của chính phủ.

10. Phát triển những chất thay thế cho rượu thông qua nghiên cứu khả năng của các thuốc mới “bắt chước” tác dụng của rượu. Một chất thay thế có tác dụng thư giãn mà không gây tác dụng phụ xấu sẽ làm giảm tổn thất về sức khỏe cộng đồng và xã hội do tổn thương do rượu gây ra.

“Điều quan trọng là phải tạo ra một môi trường nơi mối nguy hiểm của bia rượu được biết rõ, và chính phủ có trách nhiệm làm giảm những vấn đề do bia rượu gây ra. Nhưng phương pháp của chúng tôi cũng bao gồm các biện pháp giáo dục và tự theo dõi của các cá nhân đã được chứng minh là hiệu quả đối với cholesterol và huyết áp. Phối hợp các biện pháp cá nhân và xã hội sẽ có thể tác động mạnh đến sức khỏe và tác hại xã hội do rượu, và giảm tỷ lệ tử vong do bia rượu, nhất là ở giới trẻ. Phương pháp được đề xuất này cũng sẽ làm giảm sự kỳ thị hiện đang gắn liền với những rối loạn do sử dụng rượu và nhờ đó tạo điều kiện cho việc can thiệp sớm hơn và nhiều hơn,” các tác giả kết luận.

Theo Dân trí

Bảo vệ tim ở từng độ tuổi

Những thay đổi sinh học trong cơ thể thường diễn ra theo từng độ tuổi, kéo theo những nguy cơ tổn thương cho sức khỏe tim mạch. Dưới đây là những điều bạn nên làm để giúp bảo vệ tim luôn khỏe mạnh theo thời gian.

Tuổi 20

– Nên uống nước lọc: Các bạn trẻ tuổi đôi mươi thường có thói quen uống nước soda, nước ngọt, nước tăng lực hoặc nước ép. Các nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy, những người thường xuyên uống nước ngọt nhiều thì có xu hướng thiếu chất xơ, canxi, sắt, kẽm và vitamin A. Do vậy, thay vì uống các loại nước ngọt nói trên thì bạn nên uống nước lọc sẽ tốt hơn cho trái tim của bạn.

– Dùng cách giảm stress có lợi: Thường thì các bạn trẻ có xu hướng hút thuốc lá để giảm stress khi gặp các vấn đề buồn phiền nào đó trong cuộc sống. Có thể nói rằng, cách làm này không tốt chút nào và bạn cần phải bỏ thói quen xấu ngay. Người hút thuốc lá ở độ tuổi 20 và tiếp tục trong những năm tiếp theo của cuộc đời sẽ ít sống thọ bằng người không hút thuốc lá từ 12 – 14 năm. Bạn nên nhớ là ở độ tuổi 20 sẽ dễ dàng bỏ hút thuốc hơn là khi về già vì thói quen chưa bị in sâu. Thay vào đó, hãy tìm những cách giảm stress tích cựa hơn, ví dụ như chơi thể thao, nghe nhạc, nấu nướng…

bi-quyet-bao-ve-tim-theo-do-tuoi

– Hiểu về bệnh sử của gia đình: Bạn cũng nên hỏi những người thân trong dòng họ của mình xem có ai hay mắc bệnh gì không. Hãy quan tâm đến các rủi ro gây đột quỵ vì những người thân trong gia đình bị đột quỵ thì bạn dễ có nguy cơ này. Bạn nên thường xuyên đo huyết áp của mình mỗi 2 năm để kiểm soát các nguy cơ gây bệnh tim.

Tuổi 30

– Năng tập thể dục sau khi sinh con: Quá trình mang thai, sinh nở và sau đó là tuổi trung niên chính là những yếu tố gây tăng cân ở người phụ nữ. Do vậy, việc luyện tập thể dục thường xuyên sẽ giúp bạn kiểm soát được trọng lượng sau những lần sinh con. Bạn có thể thực hiện các động tác vận động nhẹ nhàng như đi bộ, chạy bộ, nhảy dây hay vận động bằng nhiều cách có thể.

– Nắm rõ các chỉ số sức khỏe: Bạn nên nắm rõ các con số về chỉ số khối cơ thể (BMI – Body Mass Index), huyết áp và mức cholesterol. Nếu những con số này không nằm ở mức an toàn cho tim, hãy đến bác sĩ tư vấn những việc cần làm để cái thiện điều đó. Huyết áp tối thiểu 130/80mm Hg; Cholesterol trong máu :LDL dưới 100 mg/dL, HDL trên 40 mg/dL cho đàn ông và trên 50 mg/dL cho nữ; Tryglycerid: dưới 150 mg/dL; Chỉ số khối cơ thể từ 18,6 – 24,9 là ở mức tốt.

Tuổi 40

– Kiểm soát cân nặng: Phụ nữ 40 tuổi thường bắt đầu mất dần độ săn chắc của cơ thể và khả năng trao đổi chất giảm nên khiến bạn dễ tăng cân. Các chuyên gia đề nghị phụ nữ nên tập thể thao ít nhất hai lần trong tuần để giữ cân nặng ở mức hợp lý, đồng thời duy trì sự trao đổi chất và củng cố độ chắc khỏe cho xương.

– Vun vén các mối quan hệ: Ở độ tuổi này, bạn sẽ thấy được những mối quan hệ bạn bè và xã hội trở nên quan trọng như thế nào trong việc giúp bạn vượt qua những khó khăn, giúp bạn có những lựa chọn tốt cho sức khỏe của mình. Các nghiên cứu chứng minh rằng những người cô đơn ở tuổi 50 và 60 sẽ có nhiều vấn đề rắc rối về sức khỏe hơn những người được nhiều bạn bè quan tâm.

– Cần quan tâm thêm các chỉ số khác: Ngoài các chỉ số đã quen ở độ tuổi 30, bạn cũng nên đi khám định kỳ 3 năm để biết thêm lượng đường trong máu là bao nhiêu khi 45 tuổi, giúp giám sát những rủi ro gây bệnh tiểu đường và bệnh tim. Nếu lượng đường trong máu hơn 100 mg/dL thì phải đi tư vấn ý kiến của bác sĩ để có những điều chỉnh phù hợp.

Tuổi 50

– Thay đổi chế độ dinh dưỡng: Khi đến tuổi 50, bạn cần phải giảm số calo tiêu thụ, nên ăn nhiều vào buổi sáng và ăn ít lại vào buổi tối. Những người tuổi 50 không cần thu nạp nhiều calo để hoạt động vào ban đêm vì lượng calo tăng thêm sẽ không bị đốt cháy mà chỉ góp phần làm bạn tăng cân.

– Tham gia công tác xã hội: Chúng ta có nhiều điều phải lo lắng trong độ tuổi 20 và 30 như chuyện hôn nhân, nuôi con, vấn đề thất nghiệp… Khi bạn ở độ tuổi 50, những sựkiện lớn trong đời đã qua và bạn phải đương đầu với những chuyện buồn khác như người thân cao tuổi qua đời, đồng thời bạn cũng không còn đi làm nữa. Tham gia công tác thiện nguyện là cách tốt nhất để mang nhiều điều tích cực và niềm vui vào cuộc sống của bản thân. Đây cũng chính là cách làm tốt để giúp duy trì tim khỏe.

– Phòng ngừa các nguy cơ sức khỏe: Bạn cũng cần kiểm tra mật độ xương sau độ tuổi 50 khi bạn có nhiều rủi ro mắc bệnh như phụ nữ mãn kinh, có tiền sử gia đình bị loãng xương. Mặc dù không liên quan trực tiếp đến tim, nhưng những yếu tố gây nên chứng loãng xương cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch của bạn.

Tuổi 60

– Điều chỉnh lại việc tập thể thao: Ở độ tuổi 60, một số người bắt đầu bị viêm khớp, đau lưng nên bạn phải chuyển từ các hoạt động nặng sang vận động nhẹ nhàng hơn như chuyển từ chạy sang đi bộ, từ chơi quần vợt sang tập dưỡng sinh… Hãy tìm những bài tập nào phù hợp với bạn nhất và tiếp tục tập thể dục khoảng hai lần trong tuần.

– Tập khí công: Các nghiên cứu khoa học trên thế giới cho thấy khí công không chỉ giúp bạn giảm stress mà còn giúp cân bằng, tránh bị té ngã cho người lớn tuổi. Ngoài ra, nó cũng còn giúp giảm đau nếu bạn có những bệnh kinh niên và cải thiện giấc ngủ. Tất cả những điều này đều rất có lợi cho sức khỏe tim mạch.

– Trò chuyện với bác sĩ: Khi thấy những tín hiệu đầu tiên của các triệu chứng có liên quan đến tim mạch, mặc dù không nghiêm trọng đi chăng nữa, như ép ngực, căng hàm, mệt sâu và thở ngắn…, hãy chia sẽ với bác sĩ để được tư vấn, đánh giá rủi ro và điều trị khi cần thiết.

Theo afamily

Những hiểu lầm về cholesterol

Có nhiều suy nghĩ sai lầm về cholesterol và bệnh tim mạch mà chúng ta vẫn hay gặp phải. Dưới đây là 5 sai lầm thường gặp trong chế độ ăn uống của mỗi người.

HDL cao bảo vệ tim mạch

nhung_hieu_lam_ve_cholesterol_01

Nghiên cứu đăng trên tạp chí The Lancet chỉ ra rằng chỉ số HDL (cholesterol tốt) cao không trực tiếp giúp chống lại bệnh tim. Thông tin mới này có thể làm thay đổi suy nghĩ của chúng ta về cholesterol HDL (tốt), LDL (xấu) và sức khỏe tim mạch khi hầu hết đều cho rằng nếu cholesterol LDL cao sẽ làm tăng nguy cơ bệnh tim, còn HDL cao sẽ giúp có trái tim khỏe mạnh.

Nghiên cứu được tiến hành trên những người có tỷ lệ cholesterol HDL cao tuy nhiên bị mắc phải các triệu chứng bệnh tim (không có di truyền gen). Các nhà nghiên cứu tìm ra rằng nhóm có tỷ lệ HDL cao vẫn có tỷ lệ mắc bệnh tim đáng kể. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa HDL là cholesterol xấu. Những thói quen có lợi cho sức khỏe như luyện tập thể dục, thể thao và ăn uống đầy đủ chất xơ, chất béo không bão hòa đơn sẽ làm tăng HDL và làm giảm nguy cơ bệnh tim cho chúng ta.

Không nên ăn tôm (hoặc thức ăn hàm lượng cholesterol cao) nếu cholesterol cao

nhung_hieu_lam_ve_cholesterol_02

Thông thường nếu bệnh nhân có cholesterol cao sẽ phải có chế độ ăn kiêng phù hợp và tránh các thực phẩm chứa nhiều cholesterol. Không hẳn là vậy. Chúng ta cần biết chất béo bão hòa có ảnh hưởng rõ rệt đến việc tăng hay giảm tỷ lệ cholesterol. Do vậy việc ăn kiêng các thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao là không đúng khoa học. Bổ sung trứng, tôm và các thực phẩm chứa cholesterol trung bình khác sẽ là một chế độ ăn bổ dưỡng cho sức khỏe.

Khoai tây chiên chứa cholesterol

nhung_hieu_lam_ve_cholesterol_03

Khoai tây chiên cùng với các loại hoa quả, rau và ngũ cốc nguyên hạt không chứa cholesterol. Tuy nhiên, để chắc chắn cần kiểm tra kỹ chất béo bão hòa trong bảng dinh dưỡng trên túi khoai tây vì đây là chất thường sản sinh ra nhiều cholesterol. Khoai tây miếng cũng là loại thực phẩm có hàm lượng calo cao.

Ngũ cốc yến mạch nướng – thực phẩm làm giảm cholesterol tốt nhất

nhung_hieu_lam_ve_cholesterol_04

Thực tế là các loại ngũ cốc yến mạch này có một số chất xơ hòa tan giảm hàm lượng cholesterol, tuy nhiên bạn có thể hấp thụ hàm lượng cao hơn từ các loại thực phẩm như bột yến mạch, chuối, lê, đậu và cây họ cam quýt. Nếu bạn có ý định thưởng thức loại ngũ cốc này, cần đảm bảo đủ hàm lượng chất xơ vào buổi sáng bằng hoa quả.

Muốn giảm cholesterol, ăn nhiều đậu nành

nhung_hieu_lam_ve_cholesterol_05

Nghiên cứu chỉ ra rằng protein đậu nành có ảnh hưởng không đáng kể. Lợi ích thực sự có thể liên quan đến việc sử dụng đậu nành như một loại thực phẩm thay thế cho các thực phẩm có hàm lượng chất béo bão hòa cao. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu muốn giảm cholesterol, không chỉ bổ sung thực phẩm giàu protein đậu nành mà cần đảm bảo chất xơ, sterol thực vật và các loại hạt như hạnh nhân.

Lưu ý: Cần giảm cholesterol LDL và tăng cholesterol HDL bằng cách: luyện tập thể dục thể thao, ăn chất béo không bão hòa đơn (như trong oliu, dầu canola và trái bơ) thay cho chất béo bão hòa và trans fat; bổ sung thêm chất xơ hòa tan.

Theo SKĐS/ Theo Dân trí

Tăng Cholesterol: Thủ phạm của bệnh tim mạch

Cholesterol là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng tế bào, sợi thần kinh và nhiều nội tiết tố trong cơ thể. Trong quá trình tiêu hóa thức ăn, gan cũng phải dùng cholesterol sản xuất ra mật phục vụ hoạt động tiêu hóa. Có thể nói cơ thể con người không thể tồn tại nếu không có cholesterol. Nhưng chính sự gia tăng quá mức của cholesterol trong máu lại là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh tim mạch và nhiều bệnh mạn tính nguy hiểm khác.

Cholesterol từ đâu mà có?

Cholesterol có hai nguồn gốc chính: Từ thức ăn hằng ngày có trong thịt mỡ, trứng, bơ, pho mát… chiếm 20% nhu cầu cholesterol trong cơ thể. Bên cạnh đó, cholesterol do gan tạo ra chiếm 80%. Gan có khả năng tổng hợp cholesterol từ những chất khác như đường, đạm.

tang_cholesterol_thu_pham_cua_benh_tim_mach

Cholesterol được mang đi trong máu nhờ kết hợp với một chất có tên là lipoprotein. Có nhiều loại lipoprotein, trong đó có 2 loại chính mà cholesterol kết hợp, gây ra tác dụng trái ngược nhau: loại có trọng lượng phân tử cao viết tắt là HDL (high density lipoprotein), loại này khi kết hợp với cholesterol (HDL-C) giúp cơ thể chống lại quá trình xơ vữa động mạch, nên được gọi là cholesterol tốt; ngược lại loại có trọng lượng phân tử thấp, viết tắt là LDL (low density lipoprotein), loại này kết hợp với cholesterol (LDL-C) tạo thành cholesterol xấu, gây ra xơ vữa động mạch.

Mối liên quan giữa tăng cholesterol và bệnh tim mạch

Nồng độ cholesterol trong máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình vữa xơ động mạch và dần dần làm hẹp các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác của cơ thể. Khi động mạch vành bị hẹp sẽ làm giảm dòng máu tới nuôi cơ tim gây ra cơn đau thắt ngực, thậm chí nhồi máu cơ tim. Hầu hết lượng cholesterol toàn phần trong máu tạo ra LDL-C là loại cholesterol có hại. Chỉ có một lượng nhỏ cholesterol tạo ra HDL-C là loại cholesterol có ích, có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh vữa xơ động mạch. Nguy cơ bị bệnh động mạch vành và các bệnh lý tim mạch khác càng tăng cao hơn nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác đi kèm như hút thuốc lá, tăng huyết áp, đái tháo đường, thói quen ít vận động và thừa cân.

Mỡ trong máu tồn tại dưới hai dạng chính là cholesterol và triglycerid, vì vậy khi kiểm soát mỡ máu cần phải đánh giá đầy đủ những yếu tố: cholesterol toàn phần, LDL-C, HDL-C, triglycerid. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng nếu kiểm soát được các yếu tố này trong những giới hạn sau đây thì sẽ phòng ngừa rất hữu hiệu bệnh xơ vữa động mạch: Cholesterol toàn phần dưới 200mg/100ml; LDL-C dưới 130mg/100ml; HDL-C trên 45mg/100ml; triglycerid trong khoảng 150-200mg/100ml. Giảm cholesterol trong máu cũng có thể gọi là giảm mỡ máu vì không chỉ có cholesterol trong máu mà cả triglycerid cũng cần phải giảm.

Nếu kết quả xét nghiệm cholesterol toàn phần dưới 200mg/100ml thì hoàn toàn bình thường, nguy cơ mắc bệnh tim mạch ít, có thể ăn uống và sinh hoạt bình thường, nhưng cần phải kiểm tra lại ít nhất 2 năm/lần đối với người còn trẻ tuổi (dưới 40). đối với những người cao tuổi, thừa cân, tăng huyết áp hay bệnh mạn tính nào khác thì kiểm tra 6 tháng/lần.

Nếu cholesterol toàn phần ở mức từ 200 – 240mg/100ml là bắt đầu có dấu hiệu cao, những nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch đã có, nhưng cần phải làm thêm xét nghiệm LDL-C và HDL-C, đường máu, đo huyết áp… để đánh giá chính xác mức độ tiềm tàng của bệnh.

Nếu cholesterol từ 240mg/100ml trở lên thì có biểu hiện tăng cholesterol rõ rệt, có nguy cơ cao của bệnh xơ vữa động mạch, cũng cần phải đánh giá thêm các yếu tố như LDL-C, HDL-C, huyết áp, đường máu để có những biện pháp xử trí kịp thời.

Điều trị và kiểm soát cholesterol là mục tiêu phòng ngừa tốt bệnh tim mạch

Các thuốc giảm cholesterol máu rất có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ tái phát bệnh động mạch vành, bao gồm 5 nhóm chủ yếu: Nhóm thuốc statin ngăn chặn tổng hợp cholesterol tại gan bằng cách ức chế cạnh tranh hoạt động của men HMG-CoA reductase, làm giảm tổng hợp cholesterol ở toàn bộ cơ thể; thuốc gắn acid mật (resin)  làm tăng gắn cholesterol với acid mật, do vậy thuốc làm tăng thải cholesterol qua đường mật; thuốc ức chế ly giải lipid (nicotinic acid); làm giảm sự di chuyển acid béo tự do từ các tổ chức mỡ, do vậy gan sẽ có ít nguyên liệu để tổng hợp ra cholesterol; nhóm thuốc fibrat làm tăng ly giải lipid ở ngoại biên và giảm sản xuất triglycerid ở gan; thuốc ức chế hấp thu cholesterol (ezetimibe) có tác dụng ức chế hấp thu cholesterol một cách có chọn lọc ở ruột non.

Thay đổi lối sống là biện pháp quan trọng giảm cholesterol có hại và phòng ngừa bệnh tim mạch. Đó là hạn chế ăn những thức ăn làm tăng cholesterol: Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, người bình thường không nên ăn quá 300mg cholesterol mỗi ngày. Đối với những người có nguy cơ cao như người cao tuổi, gia đình từng có người bị xơ vữa động mạch, tăng huyết áp… thì lượng cholesterol ăn vào phải hạn chế hơn nữa, chỉ 200mg, thậm chí là 100mg mỗi ngày. Những thức ăn làm tăng cholesterol xấu là những thứ có nhiều acid béo bão hòa như dầu cọ, dầu dừa, mỡ bò, pho mát, bơ, kem, đường… vì vậy hạn chế tối đa sử dụng những đồ ăn này, nhất là người có nguy cơ. Những thức ăn có chứa acid béo không bão hòa rất cần thiết cho cơ thể như dầu vừng, dầu lạc, dầu cám, dầu ôliu, mỡ cá hồi, dầu đậu tương. Tích cực ăn nhiều rau xanh và hoa quả.

Tập luyện thể dục thường xuyên: Đây là một biện pháp quan trọng đốt cháy lượng calo dư thừa, nhất là những người thường xuyên ngồi làm việc tại chỗ. Các hình thức thể thao như đi bộ, chạy bước nhỏ, đi xe đạp… ở mức độ không gắng sức có thể phù hợp với nhiều đối tượng. Thời gian tập mỗi lần phải từ 30- 45 phút, nên tập ít nhất 3lần/tuần.

Hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê, không hút thuốc lá: Những chất này làm gia tăng cholesterol có hại, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đái tháo đường, không tốt cho gan mật, hệ thần kinh…

Theo SKĐS

Kiểm soát cholesterol trong máu để phòng ngừa bệnh tim mạch

Cholesterol là một loại mỡ (lipid) rất quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể, đóng vai trò trung tâm xây dựng màng tế bào, các hormon sinh dục, tái tạo vitamin D và thúc đẩy quá trình tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu hàm lượng cholesterol trong máu tăng quá mức sẽ tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch, kèm theo đó là bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành với các biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim, đột qụy.

Những nguy hiểm nếu cholesterol máu cao

Những người có hàm lượng cholesterol máu cao có tỷ lệ mắc bệnh mạch vành cao hơn 2-3 lần so với người bình thường-200mg% (mg/100ml) và thấp hơn. Nguyên nhân chủ yếu làm cholesterol trong máu tăng cao là do ăn uống quá nhiều các thức ăn có chứa nhiều chất béo no và cholesterol như: thịt lợn, thịt bò, sữa nguyên kem, bơ, phomát, trứng, dầu dừa, phủ tạng động vật… Ngoài ra, việc không tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, hút thuốc, tuổi tác, di truyền, tình trạng thừa cân cũng là các yếu tố nguy cơ.

kiem_soat_cholesterol_trong_mau_de_phong_ngua_benh_tim_mach

Trong cơ thể, ở gan, cholesterol kết hợp với protein tạo ra hai dạng lipoprotein là LDL-lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp và HDL-lipoprotein có trọng lượng phân tử cao và được vận chuyển vào dòng máu. HDL mang ít cholesterol nên nó có thể kết hợp với cholesterol tự do trong máu và vận chuyển về gan để xử lý, vì vậy nếu hàm lượng của HDL trong máu càng cao thì càng giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Người có hàm lượng HDL trong máu cao hơn 60mg% là ngưỡng an toàn đối với bệnh tim mạch, thấp hơn 40mg% là có nguy cơ mắc bệnh cao.

LDL chứa nhiều cholesterol và khởi xướng sự hình thành các mảng xơ vữa trên thành các động mạch nói chung và các động mạch vành tim nói riêng. Các mảng xơ vữa này gây chít hẹp hay tắc lòng mạch máu nuôi dưỡng cơ tim, gây ra các cơn đau tim. Hàm lượng LDL càng cao thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành càng cao. Người ta phân loại nguy cơ bệnh mạch vành dựa vào hàm lượng LDL trong máu như sau: thấp hơn 100mg% là ngưỡng an toàn đối với bệnh mạch vành, 100-129mg% – giới hạn an toàn, 130-159mg%-nguy cơ, 160-189mg% – nguy cơ cao, lớn hơn 190mg% – nguy cơ rất cao.

Mặc dù hàm lượng LDL và HDL là những chỉ số tin cậy để dự đoán nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng xác định hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu rất quan trọng. Hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu thấp hơn 200mg% thì ít có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, 200-239mg% – có nguy cơ trung bình, cao hơn 240mg% – có nguy cơ cao (ở Mỹ, trên 20% dân số có hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu vượt quá 240mg%).

Triglicerid là một loại mỡ khác tuần hoàn trong máu. Nếu một người có hàm lượng triglicerid và LDL trong máu cao thì sẽ có nguy cơ tim mạch cao. Giới hạn cho phép của hàm lượng triglicerid là 150-199mg%.

Các biện pháp điều chỉnh hàm lượng cholesterol máu

Về ăn uống:

– Tránh các thức ăn có chứa chất béo và cholesterol như bơ, thịt lợn mỡ xông khói, dầu cọ, dầu dừa; thay bằng dầu thực vật như dầu ôliu, đậu nành, ngô. Hạn chế dùng thực phẩm có chứa vòng trans như bơ thực vật, bim bim, bánh quy, kẹo dẻo…

– Hạn chế ăn các loại thịt, cá xuống còn 150-200g/ngày, ăn không quá 3 quả trứng/tuần và phải ăn cách ngày. Không ăn thịt mỡ, phủ tạng động vật, da của các loại gia cầm, thay thế bằng đạm thực vật như đậu tương…, tăng cường ăn rau quả.

– Tránh các thức ăn nhanh như bánh hamburger, bánh có nhân thịt băm, thịt rán, bánh gatô.

– Uống sữa đã tách bơ, hạn chế ăn phomát, kem.

Về điều chỉnh cân nặng: Nếu bạn bị thừa cân thì phải thực hiện chế độ giảm cân để phòng ngừa bệnh mạch vành bằng việc tăng cường tập luyện thể dục thể thao rèn sức bền và ăn giảm calo. Lợi ích của giảm cân gồm: giảm LDL, tăng HDL, giảm huyết áp, tăng khả năng sử dụng glucoza của các tổ chức mô, phòng ngừa bệnh tiểu đường.

Giảm cân phải từ từ, khuyến cáo giảm không quá 0,3-0,5kg/tuần. Để đạt được điều này, cần ăn giảm khoảng 250kcal/ngày và tăng cường vận động để đốt cháy 250kcal/ngày (đi bộ 50 – 60 phút/ngày), nghĩa là tổng số giảm 500kcal/ngày.

Về tập luyện thể dục thể thao: Rèn sức bền với các bài tập đi bộ nhanh, chạy, đạp xe… đặc biệt hiệu quả giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành và tăng cholesterol máu. Tập luyện thường xuyên có tác dụng tămg HDL, giảm LDL máu, giảm cân, giảm huyết áp, giảm stress, củng cố xương…

Biện pháp hữu hiệu nhất để giảm hàm lượng LDL, tăng HDL và giảm cholesterol máu toàn phần là thay đổi chế độ ăn (khuyến cáo giảm lượng chất béo sử dụng chung, đặc biệt là giảm lượng chất béo no chứa trong mỡ động vật) và tăng cường tập luyện thể dục thể thao thường xuyên.

Điều chỉnh hành vi: Bỏ hút thuốc, hạn chế rượu bia, kiểm soát stress. Hút thuốc có thể làm giảm lượng HDL tới 15%.

Nếu các biện pháp trên không giúp giảm đáng kể hàm lượng cholesterol máu, thì bác sĩ sẽ chỉ định dùng thêm thuốc (statin) giảm mỡ máu như: lipitor, mevacor… các thuốc này có tác dụng giảm sản xuất cholesterol ở gan. Ở những bệnh nhân có cholesterol máu cao, kết hợp tiểu đường, huyết áp cao, bệnh mạch vành thì việc dùng loại thuốc này là rất cần thiết để phòng ngừa các biến chứng tim mạch.

Tóm lại, cholesterol rất cần thiết cho cơ thể, tuy nhiên để phòng ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường, mỗi người phải biết kiểm soát hàm lượng cholesterol của cơ thể ở mức an toàn bằng việc điều chỉnh chế độ ăn, tập luyện rèn sức bền thường xuyên và thay đổi một số hành vi.

Theo SKĐS

Phòng bệnh tim mạch bằng tập luyện và ăn uống hợp lý

Bệnh tim mạch ngày càng được “trẻ hóa”, đặc biệt là nhồi máu cơ tim không chỉ tấn công những người đàn ông trung niên mà cả những người trẻ, phụ nữ cũng đang có nguy cơ mắc bệnh gia tăng. Điều đáng buồn là có một mối liên quan tỷ lệ thuận giữa sự gia tăng định mức cholesterol và bệnh tim mạch. Vì vậy để hạn chế và phòng bệnh tim mạch cần quan tâm đến định mức cholesterol trong máu của mình nhằm tránh và hạn chế nguy cơ phát sinh bệnh cao huyết áp và nhồi máu cơ tim bằng một số nguyên tắc sau:

1. Giảm lượng mỡ trong khẩu phần ăn hàng ngày: Tránh xa hoặc giảm mỡ trong chế độ ăn sẽ giúp ta giảm được đáng kể hàm lượng cholesterol trong máu. Trong cơ thể cholesterol tồn tại ở 2 dạng: Lipoprotein tỷ trọng cao (HDL), có tác dụng thúc đẩy sự đào thải cholesterol dư thừa; Lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) có tác dụng làm tích tụ các cục xơ vữa ở thành mạch máu, dẫn đến xơ vữa thành mạch, phát sinh cao huyết áp, nhồi máu… Hạn chế sử dụng bơ động vật, chọn ăn những loại thịt ít mỡ như: bò nạc, bê, gà, ăn nhiều rau, ăn ít các đồ xào, rán.

phong_benh_tim_mach_bang_tap_luyen_va_an_uong_hop_ly

2. Nên ăn những loại mỡ có lợi: Đó là những loại mỡ được cấu tạo chủ yếu là thành phần axít béo chưa bão hòa: Loại này có nhiều trong các loại dầu ô liu, dầu vừng, lạc, hướng dương, quả bơ sẽ giúp cho cơ thể giảm nguy cơ về bệnh tim mạch.

3. Nên ăn nhiều rau quả hoặc sản phẩm có nhiều chất xơ: Các thực phẩm như: Bánh mì, gạo lứt, rau quả có nhiều chất xơ và Vitamin A, B, C, E có tác dụng làm tăng kích thích nhu động của ruột, dạ dày, tăng đào thải những chất cặn bã trong đường ruột, hạn chế quá trình oxy hóa, lão hóa và làm giảm hàm lượng cholesterol “xấu” trong cơ thể.

4. Nên ăn các loại cá nhiều mỡ: Trong mỡ cá hàm lượng axít béo loại omega 3 cao rất có lợi cho cơ thể, bởi những axít béo này ngăn chặn được sự hình thành các cục máu đông có nguy cơ gây tắc mạch. Theo các nhà khoa học tại Washington thì nếu sử dụng cá nhiều mỡ thường xuyên có khả năng giảm tới 44% bệnh tim.

5. Giảm ăn muối: Nên hạn chế muối trong thực đơn hàng ngày. Một số nhà chuyên môn khuyên nên chỉ sử dụng khoảng 1g muối cho mỗi ngày và không nên vượt quá 6g/ngày.

6. Nên sử dụng đậu nành: Trong đậu nành (tương) có chất tương tự như hormon ostrogen. Có vai trò duy trì ổn định cholesterol trong máu ở mức bình thường do vậy ăn nhiều đậu nành cũng là cách kiểm soát cholesterol.

7. Nên hạn chế rượu bia: Những người uống rượu bia ít thường có huyết áp ổn định và thấp hơn những người hoàn toàn không uống rượu bia. Song những người uống rượu bia (3 lần/ngày, số lượng > 60ml/lần) có chỉ số huyết áp thường cao hơn và hay xuất hiện những cơn cao huyết áp rất nguy hiểm.

8. Bỏ thuốc lá: Hút thuốc lá tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch và tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch 50%. Nhiều nghiên cứu chứng minh sau khi bỏ thuốc lá, nguy cơ bị các biến cố tim mạch, đặc biệt là nhồi máu cơ tim giảm ngay đáng kể. Những người đã từng bị nhồi máu cơ tim mà còn hút thuốc rất dễ tái phát và nguy cơ tử vong trong năm đầu là 50%.

9. Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Hiện tượng thừa cân và béo phì là nguy cơ trực tiếp đối với sự tăng cholesterol và tăng tỷ lệ nhồi máu cơ tim. Vì thừa cân và béo phì sẽ làm quá trình tích lũy mơ dưới da ở bụng, mông, hông và tăng lượng Triglycerit mỡ/máu sẽ làm giảm độ nhạy cảm của gan với kích thích tăng cholesterol. Vì vậy cần giữ trọng lượng ở mức vừa phải.

10. Nên vận động và thể thao thường xuyên: Việc vận động thể lực và thể thao thường xuyên giúp duy trì được cân nặng ổn định, tiêu hao những năng lượng dư thừa, giảm đường huyết và cholesterol. Hàng ngày nên vận động như đi bộ, chạy bộ, đạp xe, bơi lội… theo khả năng ít nhất 30 phút mỗi ngày đều đặn.

11. Hoạt động tình dục vừa phải: Theo thống kê của một số nhà khoa học, hoạt động tình dục quá mức cũng gây nguy cơ nhồi máu cơ tim. Do vậy mỗi người tự lượng sức khi hoạt động tình dục. Đặc biệt không nên hoạt động tình dục khi đã uống rượu quá nhiều.

Theo SKĐS