Tag Archives: chị em

Món ăn giúp chị em thêm vui

Phụ nữ sau tuổi 30, buồng trứng dần thoái hóa, cơ thể người phụ nữ bắt đầu có những thay đổi, lượng estrogen do cơ thể sản xuất giảm dần. Vì vậy, để tăng cường ham muốn tình dục ở phụ nữ, chống mệt mỏi, lãnh cảm và khô âm đạo…, một trong những giải pháp hữu hiệu và đơn giản đó là sử dụng các loại món ăn thuốc từ thực phẩm thiên nhiên, lại an toàn khi sử dụng lâu dài.

Tôm càng xào lá hẹ:

mon-an-giup-chi-em-them-vui-1

Tôm càng 250g, lá hẹ 100g, cắt khúc để riêng.

Trước tiên dùng dầu thực vật xào tôm càng, nêm đủ gia vị, rượu vàng (rượu vàng là loại rượu được chế biến từ các nguyên liệu gồm gạo nếp, gạo tẻ, kê hạt vàng), xì dầu, dấm, gừng thái chỉ… sau đó cho lá hẹ vào xào chín tái là được.

Món tôm nấu đậu phụ:

Tôm 15g, đậu phụ 70g, cho thêm ít hành, gừng, muối vào nấu cùng.

Gà sống hấp: mon-an-giup-chi-em-them-vui-2

Gà sống 1 con làm sạch bỏ ruột, sau đó cho vào nồi, cho dầu ăn và ít muối xào chín. Tiếp đến cho vào bát to, bỏ vào 500g rượu nếp, hấp cách thủy ăn thường xuyên.

Canh bồ câu, kỷ tử: mon-an-giup-chi-em-them-vui-3

Bồ câu 1 con, làm sạch bỏ ruột, cho vào trong bát cùng 30g câu kỷ tử và nước vừa đủ, hầm cách thủy chín nhừ, ăn thịt, uống nước canh.

Canh bầu dục cừu, thung dung, câu kỷ tử: bầu dục cừu 1 cặp, lọc bỏ màng gân, cho nhục thung dung 15g tẩm rượu thái miếng, câu kỷ tử 15g, tất cả nấu thành canh, nêm hành, muối, gừng tươi… vào ăn. mon-an-giup-chi-em-them-vui-4

Dạ dày lợn hầm với ý dĩ, đẳng sâm: dạ dày lợn 1 cái, ý dĩ, đẳng sâm 15g, táo đỏ 30g, gừng, xì dầu, dầu ăn, nước đủ dùng. Dạ dày lợn rửa sạch thái miếng; các vị thuốc trên cho vào túi vải rồi buộc chặt. Cho túi thuốc vào nồi, đổ nước đun trong vòng 30 phút, sau đó cho dạ dày, gừng vào đun thêm 1 tiếng nữa, nêm gia vị là dùng được. Ăn liên tục 10 ngày, ăn cả cái và nước. Món ăn này thích hợp với phụ nữ ngại quan hệ tình dục, kém ăn, khí hư nhiều.

Món canh rau chân vịt: rau chân vịt vừa đủ bữa canh, bột tôm, nấu hai thứ thành canh ăn thường xuyên. Đây là thực phẩm giàu ma-giê, có tác dụng làm giãn các mạch máu và tăng tuần hoàn máu, bao gồm cả lượng máu tới khu vực sinh dục dẫn tới kích thích ham muốn và cực khoái. 

BS. Hoàng Xuân

 

Chè vằng – Thuốc quý của chị em

Chè vằng có hai loại: loại lá nhỏ gọi là vằng xẻ và loại lá to là vằng châu. Riêng vằng xẻ được dùng làm thuốc.
Cây mọc rải rác ở hầu hết các tỉnh thuộc vùng núi thấp, trung du và đồng bằng, thường lẫn với cây bụi ở ven đồi, bờ nương rẫy, quanh làng bản. Cây còn được trồng phân tán ở các gia đình để làm hàng rào và làm cảnh.

Bộ phận dùng làm thuốc của chè vằng là  cành lá, thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc phơi khô, sấy khô. Dược liệu có vị hơi đắng, chát, tính ấm, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong, hoạt huyết, điều kinh, tiêu viêm.

Dùng riêng: Phụ nữ nông thôn sau khi đẻ thường lấy cành lá chè vằng phơi khô, nấu nước uống hằng ngày cho khỏe, chóng lại sức, chống thiếu máu, mệt mỏi, kém ăn. Có thể dùng dạng thuốc hãm hay thuốc sắc với liều lượng mỗi ngày là 20 – 30g.

che-vang-thuoc-quy-cua-chi-em

Chữa đau bụng kinh, bế kinh:

cành lá chè vằng cắt nhỏ, phơi khô, 1kg nấu với 3 lít nước trong 3 – 4 giờ, rút nước đầu, nấu lại với 2 lít nước trong 2 giờ rồi trộn hai nước lại, cô thành cao mềm. Mỗi ngày uống 1 – 2g với nước ấm.

Chữa áp-xe vú: chè vằng có tác dụng kháng khuẩn mạnh: dùng lá chè vằng để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm ít cồn 50 độ, cho xâm xấp, rồi đắp. Ngày làm 3 lần.

Chữa bệnh răng miệng: dùng lá chè vằng tươi rửa sạch, cho bệnh nhân nhai ngậm để chữa bệnh nha chu viêm. Ngoài ra, chè vằng được đun lấy nước rửa vết thương.

Dùng phối hợp: chữa đau gan, vàng da: chè vằng 20g, ngấy hương 20g thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày. Hoặc chè vằng 20g; nhân trần 20g; chi tử; lá mua; vỏ núc nắc, rau má, lá bồ cu vẽ, vỏ cây đại mỗi thứ 12g; thanh bì 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa kinh nguyệt không đều: chè vằng 20g, ích mẫu 16g, hy thiêm 16g, ngải cứu 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chú ý: Ở một vài nơi miền núi, nhân dân đi lấy chè vằng về để làm thuốc, đã hái nhầm phải lá ngón là một cây rất độc và dùng bị ngộ độc chết người, vì chè vằng và lá ngón giống nhau về hình thái. Do đó, phải hết sức thận trọng khi sử dụng loại chè này.

Sau đây là một vài đặc điểm phân biệt giữa chè vằng và lá ngón để giúp nhận biết, tránh nhầm lẫn:

Chè vằng: cây nhỏ dạng bụi, màu sắc toàn cây nhạt xỉu; cụm hoa dạng chùy; hoa màu trắng, quả thường đôi một là quả mọng, khi chín màu đen.
Lá ngón: cây leo, thân cành mập, màu sắc cây sẫm bóng; cụm hoa dạng xim ngù, hoa màu vàng; quả riêng lẻ là quả nang, khi chín màu nâu.

 

TTƯT.DSCKII.Đỗ Huy Bích

Theo SKDS