Tag Archives: chế độ dinh dưỡng

Những cách giảm cân sau mỗi kỳ nghỉ lễ

Kỳ nghỉ lễ kéo dài khiến cơ thể bạn tích trữ khá nhiều năng lượng, làm sao để giải phóng số calo dư thừa ấy sau khi tới công sở? Hãy áp dụng ngay những gợi ý giảm cân dưới đây.

1. Thể dục buổi sáng

Sau khi thức dậy, bạn có thể tập 20 phút với môn thể thao tay không, như thế vừa tạo hưng phấn cho tinh thần để nghênh đón những thách thức của một ngày mới, vừa có thể duy trì được sức khỏe của cơ thể.

Bạn có thể áp dụng những hình thức tập như sau:

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le

– Leo cầu thang: Mỗi tuần bạn nên lên xuống cầu thang 3 – 4 lần, mỗi lần lên xuống liên tục khoảng 30 phút. Cách luyện tập này có thể tiêu hao được 400 calo nhiệt lượng, còn có thể làm cho cơ bắp phần đùi, chân mạnh khoẻ, rắn chắc.
– Chạy tại chỗ: Bạn có thể chọn một chỗ trống khoảng 1m2 ở trong phòng hoặc ở hành lang ngoài nhà và kiên trì chạy dậm chân tại chỗ khoảng 15 phút.

– Đi bộ: Sau bữa cơm khoảng 45 phút, bạn nên đi bộ với tốc độ 4,8km/ tiếng. Như thế, nhiệt lượng tiêu hao rất nhanh. Nếu sau bữa cơm khoảng 2 – 3 tiếng lại đi một lần như thế thì hiệu quả càng tốt.

2. Uống nhiều nước

Uống nước là cách phương pháp dễ nhất để giảm cân. Uống nước giúp tăng cường trao đổi chất và cải thiện sức khỏe, duy trì bôi trơn các khớp và độ đàn hồi của cơ bắp.
Một tác dụng lớn khác của nước là giúp bạn ức chế cơn thèm ăn một cách tự nhiên. Uống nước đúng cách giúp bạn chống lại cảm giác thèm ăn và tránh các loại thực phẩm làm cản trở tiến độ giảm cân của bạn. Ngoài việc uống 500ml nước vào mỗi sáng, hãy áp dụng nhiều cách để tăng lượng nước bạn uống mỗi ngày.
3. Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh

Sau khi đã nạp quá nhiều năng nượng cho kỳ nghỉ lễ, bạn nên dành thời gian để “thanh lọc” cơ thể bằng những chế độ ăn đơn giản. Hãy sử dụng những thực phẩm tốt cho việc giảm cân sau đây:

Khoai lang: Khoai lang làm cho bạn có cảm giác bớt đói. Khi bạn đang thèm chất ngọt, một củ khoai lang cũng có thể làm yên dạ dày và đồng thời nó cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng. Không kể đến chất ngọt của nó thì cứ một củ khoai lang nặng khoảng 100g có chứa chừng 117kcal.

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le1

Bí đao: Chỉ cần nửa quả bí đao, bảo thật mỏng thành sợi nhỏ, thêm ít dầu ăn, hạt tiêu… bạn có ngay món rau tươi ngon, mát lành. Đặc biệt, khi ăn vào buổi tối thay cơm, bí đao trộn còn giúp bạn gái giảm béo, tiêu mỡ.

Cà chua: Được xem là phương pháp giảm cân mới nhất của phụ nữ Nhật, loại quả này mọng nước, giàu chất sơ và vitamin C, A, chứa lượng calo rất thấp và đặc biệt nó giúp bạn giảm được ít nhất 2kg trong 1 tháng. Để đảm bảo phát huy tốt hiệu quả, bạn nên ăn 1 quả cà chua trước mỗi bữa ăn, hoặc 2 quả cà chua trước bữa tối. Mặc dù cà chua giúp bạn giảm 2kg ngay trong tháng đầu tiên nhưng các chuyên gia dinh dưỡng Nhật khuyên bạn nên ăn liên tục trong 3 – 6 tháng để duy trì hiệu quả và tránh tăng cân trở lại sau khi ngừng ăn cà chua.

Đu đủ: Không chỉ có tác dụng làm đẹp da, tốt cho tiêu hóa, ngừa ung thư, đu đủ còn có thể giups phái đẹp giảm cân hiệu quả. 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32 calo, nếu ăn 100g đu đủ trước bữa ăn, bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món giàu calories khác. Bên cạnh đó, đu đủ chứa rất nhiều vitamin B cùng chất chống oxy hóa giúp vòng eo của bạn trở nên thon gọn hơn.

4. Ngủ đủ giấc

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le2

Nếu một ngày bạn không ngủ đủ 7 – 8 tiếng thì cơ thể sẽ không đủ năng lượng để phục vụ bạn làm việc và cảm giác ăn ngon. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, những người thường xuyên ở trong trạng thái mệt mỏi, thiếu sức sống thì quá trình trao đổi chất càng kém vì vậy muốn giảm béo bụng thì trước tiên bạn phải đảm bảo giấc ngủ cho mình.

Theo giadinh.net

Người bị béo phì nên hạn chế ăn muối

Một nghiên cứu mới của Mỹ cho thấy, thanh thiếu niên béo phì ăn nhiều thực phẩm chứa quá nhiều muối có thể già nhanh hơn.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Mỹ cũng chỉ ra rằng, tiêu thụ quá nhiều muối có thể khiến con người dễ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nghiên cứu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Georgia Regents, tại Augusta, Mỹ tiết lộ rằng việc giảm lượng muối ăn có thể làm chậm quá trình lão hóa của các tế bào. Điều này đặc biệt hiệu quả cho những người bị thừa cân hoặc béo phì. Tuổi thọ thường bị rút ngắn do hút thuốc, thiếu vận động và dung nạp lượng chất béo cao.

beo-phi-khi-an-nhieu-muoi

Kết luận trên được rút ra dựa trên một cuộc khảo sát với 766 người từ 14 -18 tuổi về mức độ tiêu thụ muối. Trẻ vị thành niên bị béo phì ăn quá nhiều muối làm cho Telomere ngắn hơn so với những người ăn ít muối. Các Telomere giống áo khoác sinh học ở 2 đầu nhiễm sắc thể và bảo vệ các ADN khỏi những nguy hại. Khi chúng ta già đi, các Telomere ngày càng ngắn hơn, dẫn đến DNA bị nguy hại và nguy cơ cao mắc các bệnh như Anzheimer, tiểu đường và tim mạch. Các Telomere ngắn hơn bình thường là dấu hiệu bệnh tật và có nguy cơ dẫn đến tử vong.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Haidong Zhu cho biết: “Ngay cả đối với những người trẻ tuổi tương đối khỏe mạnh, việc ăn nhiều thức ăn chứa muối có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa tế bào, đặc biệt ở trẻ béo phì”.

Giảm lượng muối trong chế độ ăn của trẻ có thể là bước đầu tiên dễ dàng hơn cho việc giảm cân của những trẻ thừa cân và cũng là cách giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

Đa số thực phẩm chế biến sẵn thường chứa nhiều muối. Vì vậy, các bậc phụ huynh nên cho con em mình ăn thêm rau xanh và trái cây tươi cho một bữa ăn nhẹ thay vì khoai tây chiên.

Theo đời sống pháp luật

Chế độ dinh dưỡng BRAT giúp bé chống tiêu chảy

 Các nhà khoa học đã đưa ra chế độ BRAT giúp bé chống tiêu chảy hiệu quả.

Hầu hết trẻ nhỏ đều ít nhất một lần bị tiêu chảy, cho dù mẹ có chăm sóc bé kỹ đến đâu đi nữa. Làm sao để giúp bé vượt qua những ngày mệt mỏi này?

Các nhà khoa học đưa ra chế độ dinh dưỡng BRAT – gồm 4 loại thực phẩm cần thiết để giúp bé chống lại tiêu chảy. Chúng là chuối (banana), gạo (rice), táo (apple) và bánh mì nướng (toast).

Chuối
chuoi-chong-tieu-chay
Chuối giúp hệ tiêu hóa hoạt động mạnh mẽ hơn. Với trẻ trong độ tuổi ăn dặm, có thể nghiền nát chuối tươi hoặc trộn chung với bột của bé.

Gạo

Cơm hoặc ngũ cốc từ bột gạo cũng là một loại thực phẩm mà bé nên ăn trong thời kỳ này. Tuy nhiên, với bé còn nhỏ mẹ chỉ nên cho bé dùng ngũ cốc hoặc cháo loãng. Gạo là thực phẩm đường bột nên sẽ lấp đầy dạ dày, giúp bé chống chọi với căn bệnh.

Táo

Táo hoặc xốt táo, sinh tố táo rất cần thiết để đẩy lùi tiêu chảy. Xốt táo chứa pectin, có khả năng liên kết phân lỏng. Đồng thời lượng đường tự nhiên trong xốt táo còn giúp bổ sung năng lượng dồi dào. Xốt táo dễ ăn, nhẹ bụng và cung cấp nước cho cơ thể trong những ngày tiêu chảy.

Tuy nhiên, các món xốt táo được làm sẵn ở ngoài thường chứa lượng đường khá lớn nên có khả năng khiến bệnh tiêu chảy của bé nặng hơn.Vì vậy, mẹ nên tự làm xốt táo hoặc kiểm tra chỉ số dinh dưỡng trên bao bì khi mua.

Đây được coi là lựa chọn khá lý tưởng vì xốt táo, hoặc táo xắt nhỏ rất dễ phối hợp với các thực phẩm khác cho trẻ, kể cả trẻ ăn dặm, thậm chí còn kích thích vị giác của bé.

Bánh mì nướng

Bánh mì khô là một phần trong chế độ dinh dưỡng cho trẻ bị tiêu chảy bởi chúng cung cấp “nguyên liệu” lớn để tạo phân ra ngoài. Bên cạnh đó, bánh mì nướng còn chứa rất nhiều cacbohydrate tạo năng lượng và pectin.

Tuy bé trong tuổi ăn dặm không thể nhai bánh mì nướng nhưng bạn có thể cắt từng miếng cho bé. Bánh mì nướng nên ăn chung với xốt táo hoặc chuối dằm thay cho bơ đường để giảm lượng chất béo.

Ăn nhiều đã thực sự tốt

Cuộc sống đang từng ngày phát triển, nhu cầu của con người cũng tăng theo những biến đổi xã hội. Các thực phẩm dinh dưỡng ngày càng đa dạng, các sản phẩm được sản xuất trong nước cũng như ngoại nhập đang có mặt ở tất cả các chợ, siêu thị, từ thành thị đến nông thôn.

Điều này gây không ít bối rối cho các bậc phụ huynh khi phải lựa chọn những sản phẩm dinh dưỡng cho con em mình. Có người nghĩ hàng ngoại là tốt, có người nghĩ hàng nội tốt hơn. Người khác lại nghĩ rằng, cứ cho con mình ăn đầy đủ, ăn nhiều sẽ khỏe. Thực tế thì, ăn uống thế nào mới khoa học, mạnh khỏe? Có phải cứ ăn nhiều là đủ chất?
an_giam_can_cho_tre_1
Một số phụ huynh nuôi con theo quan điểm trẻ thích gì thì cho ăn đấy, vì trẻ sẽ ăn được nhiều những món mình thích. Thật ra, như thế không phải là tối ưu, vì theo các nhà khoa học, các chuyên gia dinh dưỡng, mỗi bữa ăn của trẻ nên đầy đủ các chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng… theo tỷ lệ phù hợp với từng độ tuổi, từng giai đoạn phát triển. Vì vậy, tùy vào từng giai đoạn của trẻ mà điều chỉnh các thành phần cho hợp lý.

Nhiều năm về trước, do điều kiện kinh tế khó khăn, các bậc phụ huynh nuôi con chỉ mong con đủ no đã là tốt rồi, không dám nghĩ đến việc liệu có đủ dưỡng chất hay không. Ngày nay con trẻ không chỉ được ăn no thôi mà mong muốn của các bậc phụ huynh là con mình phải được ăn uống đầy đủ nhất, phát triển tốt nhất về thể chất và trí tuệ. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cho con ăn như thế nào là đủ và đúng, một số phụ huynh quan niệm rằng cứ “ăn nhiều là tốt”, mà không biết rằng ăn đúng và đủ mới là tốt nhất. Và sai lầm là ở chỗ đó, các bé có thể ăn nhiều, ăn no nhưng chưa cân đối về mặt dinh dưỡng, nếu các chất cung cấp cho cơ thể quá dư hoặc quá thiếu sẽ dẫn đến việc các bé có thể bị béo phì, suy dinh dưỡng hoặc một vài bệnh khác liên quan đến sự phát triển tầm vóc của trẻ.

Không những trẻ em, người lớn cũng vậy, khi có những sai lầm trong việc ăn uống sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho sức khỏe. Nhiều người than phiền “tôi ăn rất nhiều nhưng sao vẫn gầy”, hay “tôi đã cố nhịn ăn, nhưng tôi không giảm cân được”. Nguyên nhân là do chế độ ăn không phù hợp, không cân bằng về năng lượng và thành phần các chất dinh dưỡng.

Hiểu được nhu cầu của xã hội, với kiến thức chuyên môn vững vàng và bằng trái tim của người làm cha mẹ, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã không ngừng nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt dành cho các độ tuổi khác nhau, từ Nuti IQ Mum dành cho phụ nữ mang thai, Nuti IQ giúp phát triển trí thông minh, NuVita Grow dành cho trẻ từ 3 tuổi trở lên giúp phát triển chiều cao, thể trạng. Và mới đây nhất, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã nghiên cứu thành công dòng sản phẩm Grow Plus+ dành cho trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, đáp ứng đúng mong đợi của các bậc cha mẹ.

Từ góc nhìn của các chuyên gia NutiFood, với tâm niệm: “Trước khi trở thành một chuyên gia, chúng tôi nhìn cuộc sống bằng trái tim của người làm cha làm mẹ”, NutiFood hiểu rằng, sự phát triển của con cái luôn là niềm vui của cha mẹ. Nhìn thấy trẻ lớn lên khỏe mạnh từng ngày chính là động lực để các chuyên gia NutiFood làm việc tốt hơn, cho ra đời những sản phẩm dinh dưỡng tốt nhất, phù hợp nhất với thể trạng người Việt. Chỉ vì một lẽ: “Mỗi sản phẩm NutiFood chính là giải pháp của chuyên gia, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cộng đồng và vì một thế hệ trẻ em Việt Nam cao lớn, khỏe mạnh, thông minh”

Theo  Dantri

Thực phẩm cần thiết cho trẻ ở tuổi chập chững

 Với những trẻ tăng cân ít, bạn hãy thử cho trẻ ăn những loại thực phẩm dưới đây. Tuy nhiên, bạn vẫn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ để có được chế độ dinh dưỡng và cải thiện cân nặng của trẻ.
Quả bơ

Bơ không chỉ chứa lượng calo cao, mà còn cung cấp những chất béo có lợi cho não và sự phát triển cơ thể của trẻ. Bạn có thể ăn cho trẻ ăn bơ khi trẻ sáu tháng tuổi.

Bạn có thể trộn một ít sữa, chuối, nếu bạn muốn. Đối với trẻ mới biết đi, bạn có thể thử làm guacamole – một loại xốt, chấm làm từ bơ dùng để phết lên bánh mì cho trẻ ăn.

Ô liu

Ô liu là một thực phẩm có thể giúp cung cấp các chất béo cần thiết cho sự phát triển trí não và tăng trưởng của cơ thể trẻ, dầu ô liu cũng chứa chất béo không bão hòa đơn – loại chất béo có lợi giúp làm giảm cholesterol xấu và làm tăng cholesterol tốt.

Trứng

Trứng có nhiều chất protein và ít carbohydrate. Một quả trứng trung bình chứa khoảng 26 gram protein. Đây là thực phẩm rất tốt giúp trẻ tăng cân.

Bơ đậu phộng

Bơ đậu phộng rất nhiều chất béo và protein. Đó là một thực phẩm năng lượng tuyệt vời và sẽ giúp bé tăng cân. Bánh bơ đậu phộng là một ý tưởng hay cho bé.

Pho mát
cheese-31
Pho mát là một thực phẩm tuyệt vời để giúp con bạn tăng cân. Pho mát trắng thường tốt hơn so với pho mát màu vàng hoặc màu da cam về mặt dinh dưỡng. Món ăn cho bé của bạn có thể bao gồm pho mát và bánh quy giòn hoặc pho mát với quả táo, kem pho mát phết lên bánh mì tròn hay kết hợp với trái cây …

Lưu ý

Bạn hãy lưu ý rằng, trên thực tế có nhiều trẻ lớn tuổi hơn, tăng cân chậm và một số trẻ thậm chí còn có thể sụt cân khi chúng bắt đầu biết đi do chúng tốn nhiều calo, vì vậy bạn cũng không cần quá lo lắng.

Ngoài ra, cũng có nhiều lý do khiến trẻ chậm tăng cân vì thế bạn nên đưa trẻ tới bác sĩ nhi khoa để loại trừ bất kỳ loại bệnh nào trẻ có thể mắc cũng như các vấn đề di truyền…

Theo xinhxinh

Những thực phẩm không nên cho bé ăn nếu muốn bé cao

 Việc phát triển chiều cao của bé cũng có nhiều nguyên do: do gen, sinh hoạt, do từng thời kỳ và do chế độ ăn uống.

Một trong những yếu tố quyết định quan trọng khác là chế độ ăn uống của bé vô cùng quan trọng. Khi cơ thể được bổ sung đầy đủ dưỡng chất, đặc biệt là vitamin D và canxi giúp hệ xương đầy đủ, thì con bạn mới có thể cao lớn, vững vàng. Tuy nhiên, có một số thức ăn có thể khiến bé… lùn nếu bạn lạm dụng. Chẳng hạn như những thực phẩm chứa nhiều chất béo bão hòa (có nguy cơ đẩy lùi quá trình phát triển): snack, bánh ngọt, soda, các món nhiều dầu mỡ và các thực phẩm chứa caffein như chocolate, kẹo cà phê… Vì vậy không nên cho trẻ em thường xuyên ăn những thực phẩm này.
Soda

 Soda khiến bé lùn đi

Ngoài ra, còn nhiều vấn đề ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao của bé như ăn uống thất thường, thiếu chất, sức đề kháng kém nên gây ra ốm đau, bé ngủ ít, khó ngủ…

Ngoài việc đảm bảo chế độ ăn uống của bé, hãy lưu ý tới chế độ sinh hoạt đúng giờ giấc cũng như quan tâm tới đời sống tinh thần để bé có thể phát triển tốt nhất bạn nhé. Nếu bạn thấy bé đã đáp ứng đầy đủ những điều kiện này mà vẫn chưa cao lớn như mong muốn, thì cũng có thể là chưa tới thời điểm đấy. Thông thường bé phát triển chiều cao tốt nhất ở 3 thời kỳ: trong bụng mẹ, dưới 5 tuổi và thời kỳ tiền dậy thì. Có những bé tới tuổi dậy thì bỗng nhiên cao vống lên khiến bố mẹ phải ngỡ ngàng đấy.

Theo kiến thức gia đingf

Vài chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Dinh dưỡng có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe đối với tất cả mọi người, nhất là với người cao tuổi. Chế độ dinh dưỡng tốt sẽ giúp người cao tuổi tránh được nhiều bệnh tật và khỏe mạnh hơn. Do vậy, khi bước sang tuổi 50, người cao tuổi cần có chế độ ăn uống hợp lý.

Trong chế độ dinh dưỡng của người già cần chú ý

Nên chọn những thực phẩm dễ hấp thụ, dễ tiêu hóa, đảm bảo đủ chất đạm nhưng không quá nặng nề đối với đường tiêu hóa. Nên trong khẩu phần ăn của người già nên giảm ăn thịt, tăng cường các loại cá chế biến theo phương pháp hấp, luộc hạn chế chiên, xào nhằm đảm bảo hàm lượng vitamin và khoáng chất, giảm chất béo hơn thế nữa thức ăn có độ mềm nhất định sẽ giúp người già dễ dàng thưởng thức và hấp thu hơn.

Giảm áp lực cho dạ dày về đêm

Do hệ tiêu hóa kém hơn, quá trình tiêu hóa thức ăn của người già cũng diễn  ra chậm hơn nên buổi tối cần ăn ít hơn một chút và ăn sớm, tốt nhất là trước 7h tối và nên có những bữa lót dạ nhẹ nhàng 2 tiếng trước khi đi ngủ bằng một chút sữa nóng sẽ giúp các cụ ngủ ngon hơn.

Hạn chế chất đường, chất béo, ăn mặn và uống rượu bia

Sử dụng nhiều thực phẩm trên khiến người già dễ gặp phải các bệnh về tim mạch, máu nhiễm mỡ, bệnh tiểu đường, cao huyết áp…Vì vậy, người già cần hạn chế các thực phẩm như bánh kẹo, đồ khô mặn, mỡ động vật, không nên uống rượu bia, nước ngọt, trà hoặc cà phê đặc.

vai-loi-khuyen-cho-che-do-dinh-duong-nguoi-cao-tuoi

Uống nước, bổ sung hoa quả, vitamin và khoáng chất

Người già thường ít có cảm giác khát nước, nên cần chú ý uống nước đầy đủ, một ngày khoảng 7- 8 ly nước sẽ giúp thận hoạt động tốt hơn và giảm các nguy cơ về táo bón.

Các loại rau củ được xem là “bạn” của người già như: cam, bưởi, dưa hấu, đu đủ… cung cấp nhiều vitamin C và cũng là nguồn cung cấp dồi dào vitamin A giúp tăng sức đề kháng.

Uống sữa để bổ sung dinh dưỡng
Vài lời khuyên về chế độ dinh dưỡng dành cho người cao tuổi 2

Uống 1 -2 ly sữa mỗi ngày là một cách khá hiệu quả để bổ sung những dưỡng chất bị thiếu hụt cho người già.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý việc lựa chọn sữa cho người già sẽ không đơn giản như với trẻ em hay người trưởng thành do các nguy cơ về bệnh béo phì và mỡ máu tăng cao.

Nên chọn những sản phẩm cân bằng và bổ sung dưỡng chất cho người già, có khả năng cung cấp đủ dinh dưỡng thay thế bữa ăn khi khả năng ăn uống bị hạn chế. Chọn các loại sữa có MUFA, PUFA, Choline, Canxi,FOS để tăng cường sức khỏe cho hệ tim mạch, xương chắc khỏe và giúp cho hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.

Ngoài ra, nên chọn các loại sữa không chứa đường lactose vì ở một số người cơ thể bị thiếu men lactose nên khi uống các loại sữa chứa đường lactose có thể sẽ gây ra đau bụng, tiêu chảy.

Khi chọn sữa cần quan tâm đến cả hương vị, chọn những loại sữa có vị ngọt tự nhiên để người già dễ uống và cảm thấy ngon miệng hơn.

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Loãng xương hiện nay đang là một trong những căn bệnh thường gặp ở người cao tuổi, nhất là phụ nữ. Hậu quả gãy xương hoặc gãy lún cột sống… do loãng xương thường khá nặng nề với sức khỏe người cao tuổi vì xương rất lâu liền, điều trị tốn kém, người bệnh phải nằm lâu ngày nên dễ bị bội nhiễm (viêm phổi, viêm đường tiết niệu, loét mục…), là gánh nặng cho người bệnh, gia đình và cả xã hội. Nhưng nhiều người không để ý đến một điều rất quan trọng để phòng ngừa loãng xương, đó là chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho một bộ xương chắc khoẻ ngày từ những năm đầu đời.

dinh_duong_phong_ngua_loang_xuong

“Kẻ cắp thầm lặng”

Theo tổng kết của Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM, loãng xương là nguyên nhân của hơn 90% trường hợp người cao tuổi bị gãy xương sau những cú ngã nhẹ. Hiện tại Việt Nam, ước tính có 2,5 triệu người bị loãng xương và trên 150.000 trường hợp gãy xương do loãng xương.

Xương chắc khoẻ nhất ở thời kỳ đầu trưởng thành. Hàm lượng chất khoáng trong xương cao nhất ở tuổi 25, sau đó giảm xuống ở nữ vào tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi. Tỷ lệ khối lượng giảm hàng năm thay đổi từ 0,5 đến 2% tùy theo từng người. Những người có chế độ dinh dưỡng cân đối và thói quen tập thể dục từ khi còn trẻ thì có ít nguy cơ bị bệnh này hơn vì xương vẫn duy trì khoẻ mạnh khi được vận động.

Loãng xương là một căn bệnh diễn biến từ từ và không có triệu chứng rõ rệt, khiến người bị loãng xương thường không biết mình bị bệnh. Căn bệnh này được ví như “một kẻ cắp thầm lặng”, từng chút một, đánh cắp đi các khoáng chất trong ngân hàng xương của cơ thể. Khi xương bị loãng, cơ thể sẽ mất đi một số lượng lớn tổ chức xương trong toàn bộ thể tích xương, làm độ đặc của tổ chức xương giảm đi. Các yếu tố có ảnh hưởng tới độ đặc của xương bao gồm: Thiếu oestrogen (xuất hiện ở phụ nữ tuổi mãn kinh); thiếu hoạt động; hút thuốc lá; uống rượu; chế độ dinh dưỡng thấp, nhất là nghèo canxi.

Bệnh loãng xương gây gãy xương sau những va chạm rất nhẹ ở người cao tuổi, khi  xương bị gãy sẽ rất khó và rất lâu liền trở lại. Người bệnh phải nằm một chỗ, điều trị dài ngày trong bệnh viện, tốn kém nhiều thời gian, tiền bạc và công sức của người nhà. Nguy hiểm hơn, khi phải nằm lâu để điều trị sẽ kéo theo nhiều biến chứng bất lợi như bội nhiễm đường hô hấp, đường tiết niệu, loét mục ở các nơi tì, đè… có thể gây tàn phế suốt đời và giảm tuổi thọ của người bệnh.

Vai trò của dinh dưỡng phòng ngừa loãng xương

Việc điều trị bệnh loãng xương khó khăn và tốn kém nên chúng ta cần biện pháp phòng ngừa bằng cách xây dựng chế độ dinh dưỡng đảm bảo cho xương chắc khỏe bằng cách bổ sung lượng canxi và vitamin D phù hợp trong suốt tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì và trưởng thành.

Canxi: Canxi cần cho tim, cơ bắp, và thần kinh để hoạt động bình thường và giúp máu đông. Thiếu canxi là nguyên nhân chính gây ra loãng xương. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, chế độ ăn ít canxi có liên quan đến khối xương thấp và tỷ lệ gãy xương cao. Do đó cần xây dựng những bữa ăn giàu canxi. Thực phẩm giàu canxi bao gồm: sữa và các chế phẩm từ sữa, tôm, cua, tép (nhất là tôm, cua đồng), ốc, lòng đỏ trứng, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, rau ngót, đậu nành, vừng,… Ngoài ra cần chú ý lượng protein (chất đạm) trong khẩu phần nên vừa phải, vì chế độ ăn nhiều đạm làm tăng bài xuất canxi theo nước tiểu.

Nếu không ăn đủ canxi trong chế độ ăn, cần bổ sung thêm canxi. Lượng canxi bổ sung tùy thuộc vào lượng canxi hấp thu được từ thức ăn. Tất cả các dạng canxi đều được hấp thu như nhau khi dùng chung với thức ăn trừ khi người bệnh có vấn đề về đường tiêu hóa. Thuốc bổ sung canxi được hấp thu tốt hơn ở liều nhỏ (<=500mg) nhiều lần trong ngày.

Vitamin D: Cơ thể cần vitamin D để hấp thu canxi. Thiếu vitamin D sẽ không thể tạo đủ hormone calcitriol (dạng vitamin D có hoạt tính), dẫn đến không hấp thu đủ canxi từ thức ăn. Trong trường hợp này, cơ thể sẽ lấy canxi từ nơi dự trữ là xương, làm cho xương bị yếu đi và ngăn chặn việc tạo xương mới.

Có 3 cách thu nhận vitamin D: qua da, từ thức ăn và từ thuốc. Vitamin D được hình thành một cách tự nhiên bởi cơ thể sau khi phơi nắng. Phơi nắng trực tiếp 15 phút vài lần trong tuần là đủ để tạo được lượng vitamin D cần thiết. Các chuyên gia y tế khuyến cáo dùng mỗi ngày 400 – 600 IU vitamin D, từ thuốc hay thực phẩm giàu vitamin D như: lòng đỏ trứng, cá biển, gan và sữa bổ sung vitamin D.

Cần ăn nhiều rau và trái cây, các thức ăn có chứa nhiều oestrogen thực vật như: giá đỗ, đậu nành, bắp cải, cà chua, dưa chuột, tỏi… cũng làm giảm mất xương và làm tăng chất khoáng trong xương.

Tóm lại, bệnh loãng xương có thể được phòng ngừa tốt bằng việc duy trì một chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý ngay từ khi còn nhỏ đến lúc trưởng thành và trong suốt cuộc đời. Riêng ở phụ nữ sau khi mãn kinh, khi lượng oestrogen giảm loãng xương sẽ được phòng ngừa tốt nhất bằng liệu pháp hormon thay thế (nếu có chỉ định và điều kiện) kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt, tập luyện, vận động đầy đủ và hợp lý.

BS. Thu Lan
Theo SKĐS

Phòng và điều trị chứng loãng xương như thế nào?

Loãng xương là một chứng bệnh làm cho xương bị yếu, giòn và dễ bị gãy hơn bình thường. Chỉ cần một va chạm nhẹ hoặc ngã cũng có thể làm xương bị gẫy nặng. Chứng loãng xương thường được gọi là chứng bệnh âm thầm, quá trình loãng xương diễn ra từ từ nên không gây triệu chứng gì. Chỉ tới khi loãng xương nặng, xương bị gãy hoặc bị xẹp mới có biểu hiện.

phong_và_dieu_tri_chung_loang_xuong_nhu_the_nao

Dấu hiệu của loãng xương

Dấu hiệu sớm nhất là đau lưng nhẹ, âm ỉ, dấu hiệu này thường bị bỏ qua. Nếu không điều trị loãng xương có thể gây ra gãy xương. Bất cứ xương nào trên cơ thể cũng có thể gãy, nhưng thông thường nhất là xương hông, xương sống, xương cổ tay, xương sườn, xương chậu và xương cánh tay.

Hàm lượng chất khoáng trong xương cao ở tuổi 25 sau đó giảm xuống ở nữ độ tuổi mãn kinh và nam khoảng 55 tuổi. Tỷ lệ khối lượng xương giảm đi hàng năm thay đổi từ 0,5 – 2% tùy theo từng người. Những người khi còn trẻ có độ đặc xương thấp thì khi về già dễ bị loãng xương. Các yếu tố ảnh hưởng tới độ đặc của xương bao gồm: thiếu oestrogen, thiếu hoạt động, hút thuốc lá, uống rượu và dùng nhiều thuốc, chế độ dinh dưỡng thiếu canxi. Thể phổ biến nhất của loãng xương được cho là nồng độ estrogen (nội tiết tố sinh dục nữ) thấp sau mãn kinh. Vì vậy, phụ nữ sau mãn kinh thường bị loãng xương. Ở nam giới thì dấu hiệu của loãng xương xuất hiện chậm hơn.

Có thể kiểm tra loãng xương bằng chụp Xquang và đo độ dày của xương bằng máy siêu âm

Điều trị loãng xương

Điều trị có thể làm ngừng tiến triển của loãng xương nhưng không hồi phục được những tổn hại trước đó. Do đó việc điều trị sớm là rất cần thiết. Mục đích của điều trị là ngăn ngừa cho tế bào xương không bị mất thêm và tránh cho xương bị gãy. Điều trị làm giảm sự mất xương bao gồm tăng can xi qua chế độ ăn và thuốc uống, bổ sung vitamin D hoặc fluorid tác động lên sự chuyển hoá của xương. Phụ nữ mãn kinh có thể phòng ngừa hoặc làm ngừng sự phát triển của loãng xương bằng điều trị oestrogen thay thế.

Phòng chứng loãng xương

Can xi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương, giúp cân bằng kiềm toan để giữ trương lực cơ. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ can xi cho cơ thể qua chế độ ăn uống, vận động. Nhu cầu về can xi ở trẻ dưới 12 tuổi là 800 – 1000mg/ngày, trên 12 tuổi và người lớn cần 1200mg/ngày, phụ nữ có thai và đang cho con bú cần 1500mg/ngày. Các thực phẩm giàu can xi là sữa và các chế phẩm từ sữa, các loại cá, tôm, cua, ốc, đậu tương, rau cải, lòng đỏ trứng… Ngoài ra cần bổ sung nguồn vitamin D (trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, lươn, trai, sò…) để cơ thể hấp thụ được can xi. Phụ nữ mang thai nên ăn thức ăn đa dạng, bảo đảm đủ can xi và chất đạm giúp hình thành xương cho thai nhi trong suốt quá trình phát triển. Nên vận động điều độ, phù hợp lứa tuổi, tạo sự dẻo dai cho cơ thể. Tập thể dục vừa sức như đi bộ đạp xe, bơi… vì tập thể dục giúp cho xương được rắn chắc, giúp tăng mật độ xương, hạn chế chứng loãng xương.

Bác sĩ Vũ Minh
Theo SKĐS

Loãng xương: Kẻ thù số một của phụ nữ

Ở tuổi 50, phụ nữ luôn quan tâm tới hình thể, sắc đẹp và sức khỏe. Bởi độ tuổi này, mọi thứ đều “xuống dốc”, trong đó phải kể tới căn bệnh loãng xương, kẻ thù của sức khỏe và vẻ đẹp phụ nữ.

Nguyên nhân bị loãng xương

Số xương ngày càng mất đi khi số tuổi ngày một tăng. Ngoài 50 tuổi, xương của bạn trở nên xốp, mỏng và dễ gãy, vỡ. Từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành, các tế bào xương già nua liên tục được thay bằng tế bào xương mới. Trong thời thơ ấu và thanh niên, mô xương mới được tạo ra nhiều hơn mô xương cũ bị hủy đi. Nhưng đến một thời kỳ nào đó, thường sau tuổi 30, thì ngược lại, mô xương bị hủy nhiều hơn mô xương mới được tạo ra. Đó cũng là giai đoạn bắt đầu loãng xương. Loãng xương được xem là bệnh khá phổ biến của phụ nữ độ tuổi trung niên, sau thời kỳ mãn kinh dễ bị loãng xương. Vậy đâu là nguyên nhân? Có rất nhiều nguyên nhân như: do chất estogen – liên quan đến sự hấp thụ canxi của xương, đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành xương mới – giảm đi; do nghiện rượu, cà phê và thuốc lá; do chế độ dinh dưỡng không phù hợp, nhất là không đủ canxi; do dùng thuốc chữa bệnh lâu dài… Hậu quả của loãng xương là gù hoặc có bướu ở lưng, gãy xương, vỡ xương chậu.. Các tai nạn đó ảnh hưởng tới khả năng lao động, chất lượng cuộc sống, thậm chí gây tàn tật vĩnh viễn và có thể dẫn đến tử vong.

loang_xuong_ke_thu_so_mot_cua_phu_nu

Phát hiện loãng xương

Xương cấu tạo nhờ canxi và chất khoáng, khi các chất này mất đi sẽ khiến bạn bị loãng xương. Loãng xương là một bệnh phức tạp liên quan đến các nhân tố như hormon, lối sống, dinh dưỡng và môi trường. Hiện nay, người ta phát hiện loãng xương bằng cách đo độ loãng xương. Bệnh loãng xương muốn khắc phục được hay không sẽ phụ thuộc vào bản thân người bệnh là chủ yếu vì nếu bạn biết cách dùng thuốc, biết cách vận động như chăm chỉ tập thể dục, hay thực hiện chế độ ăn khoa học, dùng thuốc bổ trợ và liệu pháp thay thế hormon… đều có thể làm ngừng quá trình mất xương và trong một số trường hợp còn có thể tăng mật độ xương.

Chế độ dinh duỡng và luyện tập phòng tránh loãng xương  

Như đã trình bày, ăn uống và luyện tập góp phần quan trọng hạn chế loãng xương. Bạn nên bổ sung các chất như:

Canxi: Là chất quan trọng nhất cấu thành xương, vì vậy, sự hấp thụ canxi là điều sống còn đối với sức khỏe của xương. Chế độ ăn giàu canxi cùng với vitamin D rất quan trọng để chống loãng xương.

Florua: Là chất khoáng thiết yếu trong việc hình thành xương và răng.

Magiê: Quan trọng không kém canxi đối với sức khỏe của xương vì cơ chế chuyển hóa canxi và vitamin C rất cần đến nó. Magiê ngăn chặn sự gãy xương mới và làm tăng đáng kể mật độ xương.

Bo: Cùng với canxi và magiê, chất khoáng này làm xương chắc khỏe hơn. Bo bổ sung làm giảm sự mất canxi và magiê trong nước tiểu và còn làm tăng đáng kể mức estrogen và canxi trong máu, giúp bảo vệ xương.

Vitamin D: Cơ thể không hấp thụ được canxi nếu không bổ sung vitamin D. Vitamin D có trong nhiều sản phẩm sữa, trứng, nấm tươi, hải sản và còn được tạo ra khi chúng ta phơi mình dưới ánh nắng yếu.

Ngoài ra bạn nên dùng các chất bổ trợ khác nhau như cá và dầu cá, chứa nhiều acid béo omega 3 – một loại acid giảm được sự bài tiết canxi qua thận, tăng lượng canxi mà xương hấp thụ, cản trở hoạt động của tế bào hủy xương và kích thích hoạt động của các tế bào  tạo xương. Những nguồn thực phẩm giàu acid omega 3 là cá ngừ, cá hồi, cá thu, cá bơn,… Bạn cũng có thể dùng viên dầu cá, nhưng phải có chỉ định của thầy thuốc. Đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương như đậu phụ, sữa đậu nành, giá đậu nành, giàu phytoestrogen, một hormon thực vật giống hệt estrogen ở người. Vì tế bào xương có các cơ quan thụ cảm  estrogen nên có thể phytoestrogen sẽ gắn vào các cơ quan thụ cảm này và hoạt động như estrogen tự nhiên.

Muốn giảm chứng loãng xương, bạn nên thường xuyên tập thể dục thể thao, như đi bộ, tennis, khiêu vũ, thể dục nhịp điệu và các bài tập chuyên biệt để làm cho lưng khỏe hơn. Nên tránh những môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, vật, thể hình…

Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có cafein, nước ngọt có gas, chất cồn và muối.

Thừa cân cũng làm bộ xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ ổn định trọng lượng.

Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp canxi rất tốt, nhưng nếu dùng nhiều sữa dễ bị béo phì, vì vậy, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

Theo SKĐS

Sự khác nhau trong sử dụng thuốc Còi xương, loãng xương

Bệnh còi xương và loãng xương đều là những bệnh về xương. Nó thường xuất hiện ở trẻ em dưới 3 tuổi, nhiều nhất là dưới 1 tuổi. Bệnh này có thể do nhiều nguyên nhân như thiếu vitamin D, rối loạn chuyển hóa vitamin D, kháng vitamin D.

Ngoài ra nó còn xuất hiện khi loạn dưỡng xương do thận, thiếu sót ở khuôn xương. Các nguyên nhân trên được nảy sinh do thiếu ánh sáng mặt trời, do chế độ dinh dưỡng (ít hoặc không bú sữa mẹ dẫn đến thiếu vitamin D, canxi,…). Biểu hiện trẻ quấy khóc, ngủ không yên, giật mình, nhiều mồ hôi, xương mềm và cong, thóp chậm kín, chậm mọc răng, cột sống vẹo, chậm biết ngồi và chậm biết đi, có dấu hiệu loãng xương. Còi xương có thể dẫn đến loãng xương nhưng loãng xương thì do những nguyên nhân khác dẫn đến chứ không chỉ do còi xương. Còi xương có biến chứng là giảm canxi máu gây ra cơn co giật, ảnh hưởng đến viêm phổi cấp tính… Để chống còi xương, phụ nữ khi mang thai cần tắm nắng. Mẹ cần cho con bú chứ không chỉ nuôi con bằng sữa bột. Trẻ cần được tắm nắng, dinh dưỡng có đủ vitamin D (như uống dầu cá), chứ không phải cần cung cấp canxi hoặc ăn nhiều xương như một số người vẫn có thói quen đó.

su_khac_nhau_trong_su_dung_thuoc_coi_xuong_loang_xuong

Còn loãng xương thì sao? Bệnh lý này thể hiện lượng chất khoáng trong xương thấp. Nó dẫn đến suy giảm cấu trúc của mô xương. Lực của xương bị suy giảm. Xương bị yếu và tăng nguy cơ gãy xương. Như vậy, mật độ và chất lượng của xương được thể hiện bằng lực của xương. Yếu tố này có thể do di truyền, gen, lối sống (hút thuốc lá…), chế độ dinh dưỡng, thay đổi lứa tuổi sinh lý (mãn kinh…). Trong số đó thay đổi hormon là nguy cơ lớn nhất. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy nồng độ estrogen nội sinh có vai trò quan trọng trong bệnh loãng xương. Nguy cơ loãng xương của phụ nữ sau mãn kinh cao hơn nhiều so với nam  giới cùng tuổi. Loãng xương cũng còn có thể xuất hiện do các thay đổi nội tiết, chuyển hoá ở tuổi dậy thì.

Như vậy, bệnh còi xương và loãng xương cũng như thấp khớp, thoái hóa khớp… được xếp trong nhóm bệnh lý về cơ xương khớp. Các bệnh này hoặc đơn lẻ, hoặc kèm theo đều làm tăng nguy cơ gãy xương. Nguy cơ này làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống. Chúng ta cần cập nhật thông tin để dự phòng và điều trị sớm. Việc dùng thuốc ở hai bệnh này hoàn toàn khác nhau. Còi xương cần được điều chỉnh và bổ sung vitamin D. Còn loãng xương cần được điều chỉnh và bổ sung canxi. Hai nguồn bổ sung này (vitamin D và canxi) có thể trực tiếp hoặc gián tiếp (từ các chất dinh dưỡng và các phương pháp trị liệu khác nhau).

DSCKII. Nguyễn Hữu Minh
Theo SKĐS

Tìm hiểu bệnh cườm nước

Trong các loại bệnh ở mắt thì bệnh cườm nước (Glaucom), dân gian thường gọi là bệnh “thiên đầu thống”, là bệnh rất nguy hiểm, dễ gây mù mắt. Bệnh không chỉ xảy ra ở người lớn mà còn có ở trẻ sơ sinh, nếu không kịp thời phát hiện, điều trị thì trẻ sẽ bị mù vĩnh viễn. Bệnh cườm nước thường xuất hiện ở người trên 40 tuổi, đặc biệt là ở những phụ nữ hay lo nghĩ, căng thẳng. Bệnh có yếu tố di truyền. Trong gia đình có người mắc bệnh cườm nước thì những người ruột thịt có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5- 6 lần. Bệnh cườm nước không có biểu hiện nhiễm trùng, bệnh nhân là người lớn tuổi dễ nhầm lẫn với hiện tượng lão thị. Do đó, bệnh thường được phát hiện muộn, bệnh nhân đến khám khi mắt đã mờ hẳn thì đã quá muộn vì các tổn thương thần kinh thị giác không phục hồi được.

Có hai loại cườm nước: loại tiến triển nhanh (cấp tính) và loại tiến triển âm thầm, chậm chạp (mạn tính). Có trường hợp bệnh nhân bị cườm nước ở một mắt nhưng cũng có người bị bệnh ở cả hai mắt.

tim_hieu_benh_cuom_nuoc

Ở loại tiến triển cấp tính, người bệnh thấy nhức mắt, nhức nửa đầu, đôi khi rất dữ dội, có thể kèm theo nôn mửa, đau bụng, nhìn thấy các màu giống “cầu vồng”, hay thị lực giảm sút (nhìn mờ), mắt đỏ, cảm giác căng cứng, đồng tử giãn nở (con ngươi nở lớn). Dạng tiến triển âm thầm thì rất khó nhận biết, thường người bệnh chỉ có cảm giác hơi xốn, mắt mỏi, đôi khi cảm thấy mắt mờ. Cả hai trường hợp cấp tính hoặc mạn tính, bệnh nhân đều bị tổn thương thần kinh thị giác. Vì vậy, phát hiện bệnh sớm là điều cực kỳ quan trọng. Để sớm phát hiện bệnh cườm nước, khi mắt có triệu chứng mờ, đau nhức, người bệnh không tự ý dùng thuốc, mà phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ chỉ định thực hiện các xét nghiệm phù hợp, điều trị bệnh. Với người trên 40 tuổi (đặc biệt là phụ nữ), thường xuyên tiếp xúc với máy vi tính và làm việc trong điều kiện căng thẳng tinh thần, nên khám mắt định kỳ 6 tháng/lần.

Trẻ em bị bệnh cườm nước có các biểu hiện: sợ ánh sáng, khi bật đèn bé sẽ khóc thét lên, nếu bé còn bú mẹ thì lúc bú no bé vẫn úp mặt vào ngực mẹ, chảy nước mắt sống ròng rã ở cả hai bên mắt và hay nheo mắt. Trẻ bị bệnh cườm nước, từ 6 tháng trở lên, thị lực sẽ giảm dần, gia đình dễ phát hiện qua hội chứng mắt trâu, tức mắt của bé sẽ nở to tròn, con ngươi to như mắt trâu.

Việc điều trị bệnh cườm nước rất phức tạp, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Việc phẫu thuật chỉ thực hiện khi điều trị bằng thuốc không hiệu quả và thường chỉ áp dụng với trường hợp bệnh cấp tính. Đối với người mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, nếu mắc bệnh cườm nước thì phải điều trị kết hợp. Bệnh nhân hoặc người thân phải chủ động cung cấp cho bác sĩ điều trị bệnh cườm nước các thông tin về căn bệnh mạn tính của bệnh nhân.

Các phương pháp phẫu thuật chỉ nhằm giải quyết nguyên nhân gây bệnh cườm nước. Sau phẫu thuật bệnh nhân phải duy trì nhãn áp ở mức ổn định, phải khám mắt định kỳ 3 hoặc 6 tháng/lần, tốt nhất là dùng máy đo thị trường kế tự động để kiểm tra, theo dõi diễn tiến bệnh lý. Trường hợp bệnh nhân bị bệnh cườm nước cấp tính (thường chỉ xảy ra ở một bên mắt), khi đã phẫu thuật thì khả năng bệnh lây sang mắt thứ hai là rất cao, cần phải được theo dõi thường xuyên.

Ngoài ra, bệnh nhân phải có chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi thích hợp. Không dùng thực phẩm có chất kích thích (rượu, bia, cà phê, các chất cay,…), không thức quá khuya, khi làm việc đừng để có biểu hiện mỏi mắt mới nghỉ ngơi.

BS. Huỳnh Nhất Thống
Theo SKĐS

Nguy hiểm do nhịn đại tiện

“Thói quen nhịn đại tiện sẽ dẫn đến sa trực tràng, hoại tử đường ruột, tử vong”. BSCKII, Vũ Đức Chung, Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện 354 nói.

Tắc ruột, sa trực tràng do nhịn đại tiện

Cách đây 5 ngày, bệnh nhân B.T. H. (76 tuổi ở Mỹ Hào, Hưng Yên) đến viện cấp cứu trong tình trạng thủng ruột. Được biết, trước đó bà H có thói quen nhịn đại tiện. Bà H bị tắc ruột cấp dẫn đến thủng đại tràng.

Người nhà bệnh nhân cho biết, bà H. 3 ngày không đại tiện. Bà H. vẫn sinh hoạt và làm việc nhà bình thường. Đột nhiên, bà H kêu đau bụng, gia đình nghĩ bà bị táo bón đơn thuần. Chiều cùng ngày, gia đình thấy bà H đau nặng, đau lan khắp ổ bụng không chịu được nên được đưa đến Bệnh viện Trung ương quân đội 108 cấp cứu.

Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng bụng chướng, ấn đau khắp ổ bụng, nửa bụng dưới đau nhiều, bên trái đau hơn bên phải. Mặc dù kết quả CT được chẩn đoán ban đầu là viêm ruột thừa, RT nằm sau manh tràng nhưng qua theo dõi và thăm khám, các bác sĩ nghĩ tới bệnh nhân bị viêm phúc mạc. Lập tức, bệnh nhân được mở đường trắng giữa ổ bụng để phẫu thuật. Sau đó bác sĩ xác định nguyên nhân bà H. bị như vậy là do thói quen nhịn đại tiện.

thoi_quen_nhin_dai_tien

Bệnh nhân bị lòi ruột, sa trực tràng vì thói quen nhịn đại tiện. (Ảnh minh họa)

Tương tự như bà H., chị Nguyễn Thị Yến (Cầu Giấy, Hà Nội) chỉ vì thói quen nhịn đại tiện mà phải nhập viện cấp cứu vì lòi ruột do sa trực tràng.

Gia đình chị Yến làm nghề buôn bán, bận rộn nên hay có thói quen nhịn đại tiện. Gần đây, chị thấy hậu môn lòi ra một cục, lúc đầu chỉ khi rặn đại tiện, sau đó xuất hiện cả một khối phồng như quả cà chua, kèm theo rớm máu, đau, chảy nhầy hoặc són phân liên tục. Chị nghĩ đơn thuần mình bị nóng trong nên chỉ thay đổi chế độ ăn thêm nhiều rau. Sau vài tuần chị Yến không thấy tình hình cải thiện. Đi khám bác sĩ kết luận, chị bị lòi ruột mà nguyên nhân là do thói quen nhịn đại tiện gây ra.

PGS.TS.Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch hội Hậu môn Trực tràng học Việt Nam cho biết, không ít người nhịn đại tiện dẫn đến táo bón, trĩ. Tuy vậy, họ không biết hướng điều trị và không chú ý đến chế độ sinh hoạt, dinh dưỡng nên bệnh rất nặng.

Tập thói quen đại tiện hàng ngày

Theo BSCKII, Vũ Đức Trung, Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện 354, trĩ có nhiều nguyên nhân trong đó có thói quen nhịn đại tiện. Bởi khi phân xuống trực tràng sẽ kích thích gây cảm giác muốn đi ngoài. Nhưng nếu phân xuống không đúng lúc, chúng ta cố nhịn, lâu ngày trực tràng quen chứa phân và mất tính cảm thụ, phân nằm tại đó không tống ra ngoài dẫn tới trĩ.

Thói quen nhịn đại tiện phải rặn, lâu ngày thành táo bón, ấn vào dễ dàng nhưng sau sa tăng lên, không đưa vào được. Đoạn trực tràng sa bị nghẽn vì cơ hậu môn co thắt, phù nề, niêm mạc tím tái dần có các mảng hoại tử gây nên viêm dưới phúc mạc, dẫn tới tử vong. Vì vậy, nên tập thói quen đại tiện hàng ngày vào một giờ nhất định và tuyệt đối không nên nhịn đại tiện khi buồn.

PGS.TS. Triệu Triều Dương, Khoa Tiêu hóa, BV 108 cho biết, người bệnh thường chủ quan với bệnh táo bón không đi khám và điều trị. Táo bón đôi khi chỉ đơn giản là do thói quen ăn uống không khoa học, chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ, ít vận động, lười uống nước, hoặc thói quen nhịn đi cầu… Những trường hợp này có thể điều trị dễ dàng nhưng đôi khi táo bón lại là triệu chứng của một bệnh lý thực thể tại đường tiêu hoá như viêm đại tràng, rối loạn chức năng đại tràng hay bệnh toàn thân nào đó như suy giáp trạng, tăng canxi máu, nhiễm độc chì hoặc các nguyên nhân chèn ép gây hẹp lòng đại tràng và có thể sẽ tử vong.

Theo 24h

Giảm chứng đau xơ cơ bằng chế độ dinh dưỡng

Những loại thực phẩm tươi ngon và một vài thay đổi trong chế độ dinh dưỡng hàng ngày sẽ giúp bạn cải thiện các triệu chứng của bệnh đau xơ cơ.

1. Tăng cường omega 3

Omega 3 chứa nhiều hoạt chất kháng viêm, rất dồi dào trong cá và hạt óc chó giúp ngăn ngừa các triệu chứng trầm cảm, cao huyết áp và các vấn đề về khớp và cả tình trạng đau xơ cơ. Hơn nữa, omega 3 có tác dụng kích thích sự sản sinh các hợp chất trong cơ thể hỗ trợ kiểm soát tình trạng viêm khớp và mô.

2. Bổ sung vitamin D
Vitamin D khá quan trọng đối với bệnh nhân đau xơ cơ và sẵn có trong ánh nắng mặt trời. Một số chuyên gia cho rằng điều chỉnh sự thiếu hụt vitamin D giúp bạn giảm các triệu chứng đau nhức. Bệnh nhân đau xơ cơ nên phơi nắng để bổ sung vitamin D, đặc biệt vào mùa đông. Thiếu hụt vitamin D trong cơ thể sẽ dẫn đến đau xương và khớp.

kiem-soat-dau-xo-co-tu-che-do-dinh-duong

3. Hạn chế chất phụ gia
Các chất phụ gia thực phẩm thường thấy trong đồ ngọt và đồ uống nhẹ kích thích sự nhạy cảm của bạn với cơn đau. Bạn nên hạn chế sử dụng các chất phụ gia thực phẩm. Một số nghiên cứu cho thấy tiêu thụ nhiều chất béo trans dẫn đến chứng đau cơ xương và khiến bệnh đau xơ cơ trầm trọng hơn. Mặt khác, các chất tạo ngọt có thể gây đau khớp và nhức mỏi, rối loạn nhận thức, chóng mặt và nhức đầu.

4. Bổ sung protein nạc

Giảm lượng carbohydrate và bổ sung protein nạc trong chế độ dinh dưỡng có thể giúp bạn duy trì lượng đường huyết và phòng tránh bệnh đau xơ cơ. Theo Hiệp hội Đau xơ cơ quốc gia Hoa Kỳ, hãy lựa chọn protein nạc như thịt gia cầm, các loại đỗ, sản phẩm đậu nành và cá thay thế thịt đỏ. Và theo trung tâm y tế trường đại học Maryland, cá chứa nhiều axit béo omega 3 giúp giảm viêm nhiễm và hỗ trợ hệ miễn dịch.

5. Tăng cường ăn cá

Rất dồi dào axit béo omega 3, cá có tác dụng tốt đối với sức khỏe, giữ cho trái tim khỏe mạnh và giảm đau khớp. Theo chuyên gia y tế, các loại cá như các hồi, cá mòi và cá trích giúp tăng cường lượng cholesterol tốt tới 4% và giảm viêm nhiễm. Ngoài ra, bạn có thể bổ sung một số nguồn omega 3 thực vật như dầu đậu nành, dầu colona, dầu hạt lanh, tinh dầu từ hạt óc chó…vv.

6. Hạn chế đồ uống chứa caffeine

Bệnh nhân đau xơ cơ thường ngủ kém và dễ sử dụng caffeine để duy trì sự tỉnh táo trong công việc hàng ngày. Tuy nhiên, caffeine sẽ khiến bạn căng thẳng, phá vỡ lịch sinh hoạt và giấc ngủ đêm. Do vậy, bạn hãy thử sử dụng đồ uống không chứa caffeine như trà thảo dược giúp bạn ngon giấc ban đêm.

Theo Tiền phong/ Healthmeup/SKDS

Phụ nữ hút thuốc làm con có nguy cơ lác mắt

Mỗi điếu thuốc sản phụ hút mỗi ngày làm tăng nguy cơ trẻ sơ sinh bị lác mắt lên 5 lần, một nghiên cứu mới cho biết.

phu_nu_hut_thuoc_lam_con_co_nguy_co_lac_mat

Nghiên cứu tiến hành đối với 1.300 trường hợp trẻ bị lác, được sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến 2003 tại bệnh viện Phụ sản Cohort, Đan Mạch. Các bà mẹ của những trẻ em này được thăm khám hai lần định kỳ trong khi mang thai và vào tháng thứ 6, tháng thứ 18 sau khi sinh về tình trạng sức khoẻ của trẻ, chế độ dinh dưỡng và thói quen hút thuốc của người mẹ. Kết quả cho thấy, sản phụ hút thuốc có nguy cơ sinh ra con bị lác cao gấp 26% những sản phụ không hút thuốc, đặc biệt người mẹ hút thuốc lá nhiều vào 3 tháng đầu thai kỳ, nguy cơ này tăng 35%. Theo tiến sĩ Tobias Torp-Pedersen, Viện Statens Serum tại Copenhaghen Đan Mạch: trẻ sơ sinh tiếp xúc với các chất độc, đặc biệt là nicotine của khói thuốc ngay trong bụng mẹ sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của não đồng thời có nguy cơ cao bị lác. Trong báo cáo ở Tạp chí Dịch tễ học Mỹ, các nhà khoa học khuyến cáo: sản phụ hút từ 5 đến 9 điếu/ngày nguy cơ trẻ bị lác cao hơn 38% so với sản phụ không hút và trên 10 điếu/ngày thì nguy cơ này là 90%.

Huệ Minh (Theo Reuters, 4/2010)
Theo SKĐS

Cách chăm sóc mắt cận thị sau phẫu thuật

Cái này quan trọng lắm đó!

Để “cửa sổ tâm hồn” luôn khỏe đẹp và sáng rõ, thì bạn phải chăm sóc thật kỹ sau khi phẫu thuật kèm theo ăn uống nhiều dinh dưỡng và học hành, làm việc thật hợp lý.

Ngay sau khi phẫu thuật

Vì vừa xong phẫu thuật nên mắt có thể bị cộm xốn, chảy nước mắt trong vài giờ và mắt rất nhạy cảm với ánh sáng. Bạn nên nghỉ ngơi, ngủ sớm để thư giãn, nhắm mở mắt nhẹ nhàng, tránh nheo – nhíu mắt quá mạnh và không dụi tay vào mắt. Ăn uống bình thường.

Sau 1 tuần

– Một tuần sau, mắt vẫn chưa quen điều tiết nên nhìn gần mờ (đọc sách, báo…). Bạn nên hạn chế xem ti vi và nhìn máy tính trong 1 tuần đầu.
– Thời gian đầu, mắt dễ nhạy cảm với ánh sáng, bạn không nên lo lắng hiện tượng này sẽ hết trong vòng vài tuần lễ.
– Nhỏ thuốc kháng sinh, nước mắt nhân tạo theo toa BS. Rửa tay sạch trước khi nhỏ thuốc. Trong ngày đầu mắt có thể khó mở nên dùng một ngón tay kéo nhẹ mi dưới xuống để nhỏ thuốc. Tránh chạm đầu lọ thuốc vào mắt và lông mi.
– Mang kính bảo vệ sẫm màu khi ra ngoài trời.
– Trong tuần đầu, dùng eyeshield (dụng cụ bảo vệ mắt) khi ngủ để tránh vô tình dụi mắt trong lúc ngủ.
– Tái khám đúng hẹn và tuân thủ dặn dò của bác sĩ.

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_01

Đeo eyeshield khi đi ngủ trong tuần đầu sau phẫu thuật

Sau 1 tháng

– Không đi bơi và chơi thể thao trong vòng 1 tháng.
– Không sử dụng mascara, kẻ mắt nước trong ít nhất 3 tuần đầu tiên.

Sau 6 tháng

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_02

Khi làm việc với máy tính, smartphone, cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

– Đặt màn hình với khoảng cách  từ 50-65 cm, dưới tầm nhìn mắt 10-20 độ, không để màn hình quá cao hay thấp so với tầm mắt.
– Ánh sáng phòng làm việc và màn hình phải hợp lý (ánh sáng màn hình không quá sáng hoặc tối so với ánh sáng phòng làm việc), tránh ánh sáng phản chiếu trực tiếp trên màn hình gây chói và nhòe chữ.
– Nên chọn màn hình lớn, phẳng, dễ kiểm tra độ tương phản.
– Khi sử dụng máy tính, trung bình 30 phút nên cho mắt nghỉ ngời 1 lần bằng cách ngưng không nhìn vào màn hình, không nhất thiết phải nhắm mắt hoàn toàn mà có thể chuyển sang công việc khác như đi lại, gọi điện thoại, tạo điều kiện cho mắt được nghỉ ngơi. Ngoài ra, bạn có thể ngồi tại chỗ nhìn ra xa hơn 5m.
– Nên chớp mắt thường xuyên và dùng thêm nước mắt nhân tạo (nếu cần) để giữ độ ẩm cho mắt.
– Không nên thức khuya để làm việc với máy tính (nên sử dụng tối đa 1-2 giờ) vì mắt chúng ta cần nghỉ ngơi sau 1 ngày làm việc.

Xem TV:

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_03

– Khoảng cách xem TV tốt nhất là cách sáu lần đường chéo màn hình TV (ví dụ: TV 32 inch thì ngồi cách khoảng 480 cm).
– Vị trí ngồi đối diện màn hình và chọn tư thế ngồi thoải mái khi xem.

Chế độ dinh dưỡng:

cach_cham_soc_mat_can_thi_sau_phau_thuat_04

– Nên duy trì chế độ ăn bình thường, đa dạng chất dinh dưỡng và cân đối cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm dinh dưỡng cho mắt.
– Các vitamin có lợi cho mắt: A, B1, B2, B3, E và C.
– Các chất có lợi cho mắt: Canxi, Kẽm, Crôm, Se-len, Phốtpho.

Trái cây và rau quả là nguồn cung cấp Vitamin và khoáng chất dồi dào nhất đấy các bạn.

Lưu ý: Các nguồn dinh dưỡng bổ sung không thay thế cho một chế độ ăn đầy đủ.

Khám mắt định kỳ:

– Nên khám mắt định kỳ 6 tháng một lần để được tư vấn và chăm sóc mắt phù hợp.
– Nên khám mắt ngay khi có nhu cầu và gặp vấn đề về mắt.

Theo Kênh 14/Theo MASK

10 thắc mắc thường gặp về cận thị học đường

Theo số liệu thống kê cả nước có 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị cận thị, được thống nhất với tên gọi “cận thị tuổi học đường” vì mắc ở lứa tuổi đang đi học. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về cận thị, yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, làm thế nào để phát hiện sớm bệnh cũng như vấn đề sử dụng kính cho trẻ…

1. Cận thị là một bệnh lý như thế nào? Cận thị trẻ em khác gì cận thị ở người lớn?

Cận thị là sự suy giảm khả năng nhìn xa, trong đó ảnh của sự vật không rơi đúng vào võng mạc mà rơi ra phía trước võng mạc, phải dùng một thấu kính phân kỳ để nhìn được nét. Cận thị học đường hay cận thị trên người trẻ (từ 8 – 22 tuổi) tăng số dần theo năm tháng đi học, mỗi năm 0,5 – 1đi-ốp (D), dừng lại khoảng 6D. Cá biệt cũng có những trường hợp cận bệnh lý (cận thị thoái hóa): có yếu tố di truyền, số kính tiếp tục gia tăng sau tuổi trưởng thành, cận đến 10D hoặc hơn, không thể đeo đúng số, nhiều biến chứng, thị lực khó đạt mức tối đa mặc dù đã cố gắng chỉnh kính.

Một thực tế ở nước ta là nhiều người không hề cận thị khi còn đi học, là sinh viên nhưng khi ra trường, đi làm lại bị cận thị. Họ đều ở môi trường làm việc bằng mắt nhiều ở cự ly gần, với máy tính chẳng hạn.

10_thac_mac_thuong_gap_ve_can_thi_hoc_duong

Tư thế ngồi học không đúng, trẻ dễ bị cận thị.

2. Khi bị cận thị, trẻ thường có những biểu hiện như thế nào?

Đa phần sẽ bắt đầu biểu hiện vào cấp II, nhưng hiện nay nhiều trẻ cận từ lớp 3, trẻ thường có biểu hiện nheo mắt, nghiêng đầu, có xu hướng thích tiến gần đến nguồn tài liệu. Học tập kém tập trung, kết quả giảm sút do chép đầu bài không kịp, hỏi han bạn bè… Thời lượng học tập cũng như trẻ bình thường thì trẻ cận thấy nhanh mỏi mắt, có thể dẫn tới đau nhức mắt và đau đầu.

3. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến thị lực của trẻ?

Muốn có thị lực hoàn hảo về yếu tố tiên thiên cần có: đôi mắt (nhãn cầu) hoàn chỉnh, các cơ điều khiển mắt hoạt động tốt, đường dẫn truyền ảnh lên não hoàn hảo, não bộ không có bệnh lý.

Về điều kiện ngoại cảnh: chiếu sáng tốt là điều tối quan trọng, bên cạnh đó là độ tương phản, màu sắc… cũng ảnh hưởng đến kết quả thị lực.

4. Các phương pháp thăm khám bệnh cận thị hiện nay?

Phát hiện cận thị không khó, trừ một số trường hợp giả cận thị hoặc cận thị gắn liền với các hội chứng bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hóa. Thông thường chỉ bằng việc thử thị lực, đo khúc xạ, thử kính thấy thị lực đạt tối đa là có thể kết luận trẻ có bị cận thị hay không. Các trường hợp khác cận thị kèm với loạn thị, cận thị giả, cận thị là một biểu hiện của hội chứng nào đó… sẽ phức tạp hơn, cần có bác sĩ chuyên khoa khám xét cẩn thận.

5. Cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị cận qua các dấu hiệu như thế nào?

Cha mẹ chủ yếu bằng quan sát có thể phát hiện ra trẻ bị cận thị: nheo mắt, nghiêng đầu, ngồi gần, ở lớp: ghi chép trên bảng khó khăn, hay phải nhờ bạn bè giúp đỡ…

6. Nhiều người cho rằng, khi mới phát hiện trẻ bị cận không nên cho đeo kính vì như vậy độ cận của trẻ sẽ bị tăng nhanh. Như vậy có đúng không?

Để trả lời câu hỏi trên người ta đã làm nghiên cứu hai nhóm đối chứng, nhóm có đeo và không đeo. Hằng năm có đánh giá lại tình trạng khúc xạ thì thấy đeo hay không đeo không ảnh hưởng đến độ gia tăng cận thị. Có một điều chắc chắn là: không đeo nhất định sẽ gặp khó khăn trong học tập và sinh hoạt, nhìn gần cường độ cao trong thời gian dài sẽ làm tăng số cận.

7. Trẻ em đôi khi hiếu động không tập trung nên việc đo thị lực có thể không chính xác. Vậy làm thế nào để có thể chọn đúng số kính cho trẻ?

Trẻ không tập trung, nói dối, không hợp tác có thể gây khó khăn cho việc thử thị lực, thử kính nhưng với các chuyên gia, môi trường chuyên khoa sâu thì những khó khăn trên không thành vấn đề gì. Do vậy thầy thuốc nhãn khoa luôn có cách để cấp được kính chính xác cho trẻ.

8. Trẻ đã bị cận thị thì cần kiểm tra lại mắt và số kính sau thời gian bao lâu?

Tùy số cận của trẻ, độ thỏa mãn khi dùng kính, tình trạng bệnh lý kèm theo mà bác sĩ sẽ đặt lịch khám lại cho trẻ. Cận thị nhỏ hơn 6D khoảng 1 năm khám 1 lần. Trên 6D khoảng 6 tháng khám mắt 1 lần.

9. Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng thế nào đối với mắt trẻ?

Cho trẻ học tập điều độ, kết hợp với vui  chơi, hoạt động thể lực tích cực sẽ làm hạn chế gia tăng cận thị. Tuy nhiên dinh dưỡng cũng có vai trò quan trọng, dùng đủ vitamin A, C, E kèm theo các khoáng chất kẽm, selen, đồng được cho là hạn chế tăng số cận cùng với những thoái hóa do cận thị. Các yếu tố dinh dưỡng trên có nhiều rau xanh đậm, hoa quả màu đỏ, cá biển và một số loài nhuyễn thể.

10. Lời khuyên của bác sĩ đối với các bậc phụ huynh để kiểm soát tốt độ cận cho trẻ?

Đây là một vấn đề lớn của sức khỏe cộng đồng. Vẫn  chưa thể có những khuyến cáo mạnh mẽ và chính xác với công chúng. Tuy nhiên giới chuyên môn đều thống nhất rằng chúng ta nên:

– Đảm bảo cho trẻ vệ sinh mắt tốt: chiếu sáng, cự ly, khoảng cách học tập, học kết hợp với vui chơi và hoạt động ngoại khóa…

– Cung cấp dinh dưỡng đúng và đủ: vitamin A, C, E, khoáng chất.

– Chăm sóc đặc biệt cho trẻ cận thị số cao: tránh chấn thương, khám mắt đều đặn, phát hiện và điều trị sớm biến chứng.

BS.Hoàng Cương
Theo SKĐS

Chữa viễn thị bằng Đông y

Viễn thị là 2 mắt nhìn gần thì rõ mà nhìn xa như người bình thường thì không rõ vật (viễn thị bất minh); bệnh thường  gặp ở người từ tuổi 50 trở lên hoặc những người tự nhiên gầy sút nhanh…

Nguyên nhân do dương khí hư, phần hỏa bị suy tổn lâu ngày không bù đắp lại được làm cho thận hỏa, tâm hỏa, can hỏa hư suy nghiêm trọng dẫn đến phần thủy và phần hỏa mất cân bằng. Do vậy việc nuôi dưỡng mục hệ không đầy đủ mà sinh bệnh.

chua_vien_thi_bang_dong_y

Triệu chứng lâm sàng:

Hai mắt nhìn gần mờ dần, thị lực giảm, nhìn xa rõ hơn. Hai mắt có cảm giác khô, sâu hơn; người mệt mỏi, gầy sút, ăn uống kém, trong người bứt rứt khó chịu; mạch hư nhược.

Phương pháp điều trị:

Tư bổ can thận, ôn trung tán hàn, minh mục.

Bài thuốc:

“Gia giảm chú cảnh hoàn”

Chử thực tử 1 lạng, xuyên tiêu 1 lạng, câu kỷ tử 2 lạng, ngũ vị tử 2 lạng, xa tiền tử 2 lạng, thục địa hoàng 5 lạng, đương quy 5 lạng, thỏ ty tử  (hạt phơi khô của cây tơ hồng) 8 lạng.

Xa tiền tử, xuyên tiêu sao, thỏ ty tử tửu tẩm. Các vị sao giòn tán mịn tinh, mật hoàn viên. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g với rượu trắng hoặc với nước sôi để nguội.

Phòng bệnh

Giữ vệ sinh cho mắt, khi đọc cần đủ ánh sáng, rửa mặt bằng nước và khăn mặt sạch. Đảm bảo chế độ ăn đủ dinh dưỡng và hợp lý, không ăn các chất cay nóng.

Theo SKĐS

Dinh dưỡng cho người mắc bệnh gan

Khi mắc các bệnh về gan, nhất là viêm gan, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc chuyển hóa các loại thực phẩm và làm cho người bệnh mất cảm giác thèm ăn hay chán ăn. Mặt khác, nếu dùng chế độ dinh dưỡng không phù hợp khi mắc bệnh về gan sẽ làm cho bệnh lý về gan càng nặng thêm.

Dinh dưỡng phù hợp trong bệnh lý viêm gan là thực hiện chế độ ăn uống có sự cân đối giữa các thành phần như đường, chất béo, chất đạm, các vitamin và khoáng chất. Chế độ dinh dưỡng này tùy thuộc vào từng giai đoạn của bệnh.

dinh_duong_cho_nguoi_mac_benh_gan

Dinh dưỡng hợp lý giúp gan hồi phục tốt khi mắc bệnh

Trong bệnh lý viêm gan cấp

Trong bệnh lý viêm gan cấp, các tế bào gan bị phá hủy cấp tính cho nên các chức năng hoạt động bình thường của gan bị xáo trộn và được biểu hiện bằng các dấu hiệu mệt mỏi và rối loạn tiêu hóa: chán ăn, ăn không tiêu, sình bụng, tiêu chảy, nhất là hay buồn nôn và nôn ói. Khi có một trong các dấu hiệu trên nhất thiết phải đến ngay các bác sĩ chuyên khoa để được khám và được hướng dẫn phương pháp điều trị kịp thời. Đồng thời, người bệnh phải áp dụng chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý với các loại thức ăn, đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng và năng lượng cần thiết cho cơ thể, không nên kiêng ăn quá mức. Các loại thức ăn dành cho người bệnh trong giai đoạn này là những loại dễ tiêu hóa, dễ hấp thu như: ngũ cốc, đường, mật ong và hoa quả ngọt. Đối với chất đạm, nên chọn loại có giá trị dinh dưỡng cao nhưng ít chất béo như lòng trắng trứng, cá nạc, sữa không béo, đậu hũ…với số lượng khoảng 50 – 70g mỗi ngày. Tuy nhiên, cần tránh quan niệm cho rằng “ăn chuối để chữa bệnh viêm gan”, vì chúng không có giá trị trong điều trị bệnh mà đó chỉ là những lời truyền miệng không có chứng cứ khoa học.

Trong trường hợp viêm gan quá nặng với các triệu chứng vật vã, lơ mơ thì phải giảm lượng đạm xuống dưới 40g mỗi ngày, vì chất được chuyển hóa từ đạm là amoniac (NH3) không còn được gan đào thải mà sẽ tích tụ trong máu dễ dẫn đến hôn mê gan. Mặt khác cũng cần thiết phải giảm cung cấp chất béo, chỉ sử dụng khoảng 15g mỗi ngày, tuyệt đối không ăn các loại thức ăn có nhiều cholesterol như óc, tim, gan, lòng heo, lòng đỏ trứng vì viêm gan có thể dẫn đến tắc mật cho nên không tiêu hóa hết các chất béo mà cần phải ăn nhiều rau quả tươi để cung cấp chất khoáng và các vitamin cần thiết giúp cho gan hoạt động tốt hơn

Khi mắc bệnh gan tuyệt đối phải ngưng hẳn rượu bia và các thức uống có cồn cho đến khi gan hồi phục hoàn toàn. Khi sử dụng các loại thuốc tân dược cũng cần phải hết sức thận trọng vì có một số thuốc cũng có thể gây độc cho gan như thuốc an thần, các thuốc giảm đau kháng viêm, trong đó có cả paracetamol mà trong cộng đồng hiện đang dùng rộng rãi. Những người có tiền căn viêm gan mà mắc các loại bệnh khác, khi đến khám bệnh, người bệnh cần thông báo cho bác sĩ biết để có sự lựa chọn thuốc cho phù hợp tránh làm nặng thêm tình trạng bệnh lý của gan. Nghỉ ngơi, tránh làm việc nặng nhọc cũng là biện pháp hỗ trợ giúp cho gan hồi phục nhanh hơn. Khi gan hồi phục hoàn toàn, có thể ăn uống trở lại như bình thường.

Trong bệnh lý viêm gan mạn

Khi gan bị viêm mạn tính, hầu hết người bệnh không có biểu hiện gì đặc biệt mà vẫn cảm thấy sinh hoạt và ăn uống bình thường mặc dù chức năng gan đã có sự biến đổi ngày càng nhiều theo chiều hướng xấu hơn. Tuy nhiên, vẫn có một số ít người bệnh có cảm giác mệt mỏi và ăn uống kém đi.

Trong trường hợp này thì chế độ ăn cũng phải cân đối giữa các như chất đường, đạm, béo và tuyệt đối phải cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể. Vì có ăn uống đầy đủ chất và cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể thì mới có đủ sức kháng cự lại tình trạng viêm nhiễm của gan cũng như chống lại các tác dụng phụ do thuốc dùng trong quá trình điều trị gây ra. Khi người bệnh chưa có cảm giác mệt mỏi, chán ăn thì không nên quá kiêng khem trong ăn uống. Vì như thế sẽ làm cho người bệnh cảm thấy chán ăn, ăn uống kém, từ đó người bệnh càng mệt mỏi hơn, thiếu sức đề kháng của cơ thể và làm cho bệnh gan bị nặng hơn.

Tuy nhiên, trong chế độ ăn hàng ngày, người bệnh cũng không nên ăn các thức ăn có quá nhiều gia vị và dầu mỡ vì sẽ làm cho đầy bụng vì khó tiêu, nên ăn các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao mà dễ tiêu hóa như đậu nành, đậu hũ… Cũng cần cung cấp đầy đủ chất bột, đường thông qua các loại bánh, trái cây ngọt để tránh tình trạng hạ đường huyết. Mặt khác, trong bệnh lý viêm gan mạn tính, người bệnh tuyệt đối không được uống rượu bia và các loại thức uống có cồn vì như thế sẽ làm cho tình trạng viêm của gan càng nặng thêm. Để giúp gan hồi phục, trong quá trình điều trị cần bổ sung thêm vitamin và khoáng chất. Nếu viêm gan mạn do rượu, cần phải bổ sung thêm vitamin nhóm B và acid folic đồng thời phải nghỉ ngơi và sinh hoạt bình thường, nên tập thể dục, thể thao vừa sức, tránh lao động quá nặng nhọc.

Trong vàng da tắc mật

Trong trường hợp có vàng da do tắc mật, người bệnh thường bị tiêu chảy và phân sẽ có váng mỡ do mật không được bài tiết xuống ruột đầy đủ để tiêu hóa chất béo. Ở trường hợp này, trong chế độ ăn phải hạn chế các chất mỡ động vật mà nên dùng các loại dầu nhất là dầu đậu nành để giúp thức ăn dễ tiêu hóa hơn.

BS. HỒ VĂN CƯNG
Theo SKĐS

Món ăn dành cho người bị bệnh xơ gan báng bụng

Xơ gan là bệnh gan mạn tính có nguyên nhân do tác động lâu dài hoặc lặp lại của một hay nhiều nguyên nhân gây ra thương tổn gan trên diện rộng. Do bị hoại tử trên diện rộng, tế bào gan khó có thể tái sinh nên gan dần dần bị xơ.

Biểu hiện: người bệnh chán ăn, người mệt mỏi, đau vùng bụng trên, nôn ọe, đại tiện lỏng, gan to và khô, tĩnh mạch cửa nổi, sắc mặt tối, võng mạc vàng, nổi các nốt mẩn chằng chịt. Thời kỳ cuối bị xuất huyết tiêu hóa, hôn mê…

Về chế độ dinh dưỡng người bị xơ gan thời kỳ đầu có thể ăn uống những chất có độ đạm cao để vừa thúc đẩy tế bào gan tái sinh, bảo vệ gan lại vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể và tăng cường khả năng chống bệnh. Nhưng thời kỳ cuối, nếu kèm thêm triệu chứng hôn mê thì phải giảm thức ăn có độ đạm cao mà ăn các thức ăn có đường là chính, đồng thời bổ sung lượng vitamin thích đáng. Không ăn các chất kích thích, chất cay nóng, thực phẩm đóng hộp có chứa phụ gia, thực phẩm ô nhiễm, dư lượng hóa chất bảo vệ…

mon-an-danh-cho-nguoi-benh-xo-gan-bang-bung-1

Sau đây xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ thịt gà dành cho người xơ gan báng bụng (cổ trướng) để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Đường đỏ, gạo lứt hấp gà vàng: Đường đỏ 150g, gạo lứt 150g, gà vàng 1 con (500-700g), gừng, hành, tỏi mỗi thứ 5g. Gà làm sạch, bỏ ruột, chân, gạo xay thành bột. Nhúng gà vào nước sôi cho hết máu rồi cho vào nồi hấp, cho gừng, hành, muối, đường đỏ trộn đều với bột gạo nhét vào bụng gà, đổ khỏang 300ml nước vào nồi rồi bắc lên bếp đun to lửa đến sôi thì hạ lửa đun sôi tiếp khỏang 1 giờ là được. Ăn ngày 1 lần khoảng 50g thịt gà, còn nước cháo ăn tùy ý. Tác dụng: bổ khí huyết, kiện gan tỳ, chống báng bụng.

Tam thất, uất kim hấp với gà đen: tam thất 6g, uất kim 9g, gà đen 1 con (500g), rượu 10g, gừng, hành, muối, tỏi. Tam thất thái nhỏ như hạt đậu; uất kim thái lát; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; tỏi bóc vỏ thái mỏng; hành cắt ngắn. Xát muối rượu lên con gà, cho tam thất, uất kim vào bụng gà, đặt vào nồi cho gừng, hành, đổ 300ml nước rồi đun trong 1 giờ là được. Ăn cả nước lẫn cái. Tác dụng bổ khí huyết, tan máu ứ, tiêu báng.

Canh đông trùng hạ thảo, sâm tây với thịt gà: sâm tây 20g, đông trùng hạ thảo 15g, gà con 1 con, gừng, hành, muối đều 5g. Sâm tây thái lát; đông trùng hạ thảo rửa sạch ngâm vào rượu; gà làm sạch bỏ nội tạng, chân; gừng đập lát; hành cắt ngắn. Cho sâm, trùng thảo vào bụng gà, cho gia vị và đổ 1000ml đem đun sôi khỏang 1 giờ. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần ăn 50g thịt gà; sâm, trùng thảo và canh ăn tùy ý. Tác dụng: bổ gan thận, dùng cho người xơ gan.

Canh ngũ vị tử với gà: ngũ vị tử 10g, thịt gà 200g, cần tây 200g, nấm 30g, rượu gạo 5ml, gừng, hành, muối, tỏi, dầu ăn đều 5g. Ngũ vị tử rửa sạch, thịt gà rửa sạch thái miếng, cần cắt khúc, nấm rửa sạch cắt bỏ cuống thái nhỏ, gừng đập lát. Hành tỏi bóc vỏ thái nhỏ, phi gừng hành tỏi với dầu cho thơm rồi đổ thịt gà vào đảo lên sau đó cho cần tây, nấm, ngũ vị tử, muối và 300ml nước vào đun sôi rồi hạ lửa đun khỏang 30 – 40 phút nữa là được. Ngày ăn 1 lần, mỗi lần 50g thịt gà, cần và nấm ăn tùy ý. Tác dụng: an thần,  bổ khí huyết, dùng cho người xơ gan kèm theo thần kinh suy nhược.

Người xơ gan cũng nên dùng một trong các thứ nước sau thay nước uống:

mon-an-danh-cho-nguoi-benh-xo-gan-bang-bung-2

Trà ngũ vị tử táo đỏ:

ngũ vị tử 10g, táo đỏ 5 quả, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, táo đỏ bỏ vỏ, đường giã nhỏ.  Cho tất cả vào nồi cùng 300ml nước đun sôi khoảng 20 – 30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Tác dụng: bổ dưỡng gan thận, ích khí, dùng cho người xơ gan, men gan tăng cao.

Chè ngũ vị tử, long nhãn và sâm tây: ngũ vị tử, sâm tây, long nhãn đều 5g, đường phèn 20g. Ngũ vị tử rửa sạch, sâm tây làm mềm rồi thát lát, đường giã nhỏ. Cho tất cả vào nồi  cùng 300ml nước đun chừng 20-30 phút là được. Uống thay nước hằng ngày. Công dụng: ích khí, dưỡng tâm, an thần, bổ ích gan thận. Dùng cho người xơ gan, mất ngủ, tự ra mồ hôi.

BS. Nguyễn Thị Phương Hoa

Theo SKDS