Tag Archives: chế độ ăn uống

Những trường hợp tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà

Đối với trẻ nhỏ, từ trước đến nay trứng gà luôn là một món ăn bổ dưỡng mà các mẹ vẫn cho bé ăn hàng ngày, thậm chí trứng gà còn được coi là một món ăn nhất-thiết-phải-có mỗi khi bé ốm sốt hay cảm gió. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học đã chứng mình điều ngược lại khiến một số mẹ phải giật mình: nếu cho con ăn không đúng lúc và đúng cách, mẹ có thể sẽ vô tình làm hại con. Hãy cùng  điểm ra những trường hợp mẹ tuyệt đối không nên cho bé ăn trứng gà sau đây:

1. Bé dưới một tuổi
Trong rất nhiều tài liệu hướng dẫn ăn dặm hay ngay cả trong thực tiễn hàng ngày, trứng gà vẫn được liệt kê như là một thực phẩm chứa nhiều dinh dưỡng cho trẻ. Ngay cả phương pháp ăn dặm kiểu Nhật hiện đang thu hút sự chú ý của các mẹ cũng gợi ý món cháo trứng gà cho bé 7 tháng tuổi. Nhưng có một sự thật mẹ không hề hay biết, trứng gà và các sản phẩm làm từ trứng gà có thể gây ra nguy cơ dị ứng cao cho bé. Bé bị dị ứng trứng thường do phản ứng của hệ miễn dịch với các loại protein có trong trứng gà (nhất là lòng đỏ). Có một lượng nhỏ những chất hóa học trong trứng gà cũng khiến bé có cơ địa mẫn cảm xuất hiện dấu hiệu dị ứng. Thậm chí với một số bé quá nhạy cảm, làn da bé cũng nhanh chóng bị dị ứng ngay khi vừa tiếp xúc với mùi vị trứng. Vì những nguy cơ tiềm ẩn này, mẹ chớ dại cho con ăn trứng gà khi bé chưa đầy 1 tuổi.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga

Không cho trẻ dưới 1 tuổi ăn cháo trứng

2. Bé vừa ốm dậy
Nếu các mẹ vẫn hay chế biến trứng cho con mỗi khi con bị cảm sốt, hãy suy nghĩ lại bởi có thể mẹ không biết hành động của mẹ có thể gây ra sai lầm tai hại đến thế nào. Thành phần chủ yếu của trứng gà gồm có anbumin và ovoglobumin, là protein hoàn toàn, được cơ thể hấp thu 99,7%, sau khi ăn vào sẽ tạo ra một nhiệt lượng đáng kể. Như vậy khi bé bị sốt mà còn ăn thêm trứng, nhiệt độ cơ thể sẽ càng tăng mạnh khiến bệnh của bé không những cải thiện mà còn trầm trọng thêm.

3. Bé bị cảm, sốt
Mẹ cũng nên thật cẩn thận khi nấu thực phẩm này cho con khi bé mới ốm dậy. Trên bề mặt vỏ trứng có chứa rất nhiều lỗ nhỏ li ti nên không khí và vi khuẩn rất dễ xâm nhập, thậm chí có thể nhiễm vi khuẩn salmonella trong lòng đỏ trứng. Khi bé mới khỏi ốm, sức đề kháng còn quá yếu nên mẹ không nên cho bé ăn trứng tươi, luộc chưa chín hay đập vào cháo nóng.

4. Bé bị tiêu chảy
Khi bé bị tiêu chảy, việc chuyển hoá các chất mỡ, đạm (có nhiều trong trứng gà) và đường bị rối loạn, trong khi trứng gà không dễ tiêu. Nếu không để đường ruột nghỉ ngơi, không những mẹ làm mất tác dụng bồi bổ mà còn làm cho bệnh của bé nặng thêm.

5. Bé có tiền sử tim mạch
Đối với những bé có các bệnh về tim mạch như tim bẩm sinh, hở van tim v.v, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi trong trứng có hàm lượng cholesterol cao dễ ảnh hưởng đến bệnh của trẻ.

nhung-truong-hop-tuyet-doi-khong-nen-cho-be-an-trung-ga1

6. Bé bị tiểu đường
Trẻ em bị đái tháo đường là một khái niệm mới lạ nhưng đã dần trở nên quen thuộc trong thời điểm hiện tại. VÌ chế độ ăn uống của trẻ không lành mạnh và chưa quá nhiều đồ ngọt nên rất nhiều trẻ em tiểu học hiện nay mắc căn bệnh này. Nếu bé của mẹ đang bị tiểu đường, ngoài các đồ ăn ngọt và tinh bột, mẹ cũng nên hạn chế cho con ăn trứng bởi thực phẩm này chứa nhiều chất gây hại cho bệnh tình của bé

7. Bé bị thừa cân, béo phì
Vì trong trứng chưa rất nhiều cholesterol và chất béo bão hòa, một trong những thủ phạm của tình trạng thừa cân ở trẻ, nên mẹ có thể hạn chế tối đa việc chế biến trứng đối với những bé đang thừa cân. Thay vào đó, một chế độ ăn hợp lý bao gồm các loại rau xanh và hoa quả chưa nhiều vitamin là những món ăn mẹ cần cung cấp cho bé mỗi ngày.

Những cách giảm cân sau mỗi kỳ nghỉ lễ

Kỳ nghỉ lễ kéo dài khiến cơ thể bạn tích trữ khá nhiều năng lượng, làm sao để giải phóng số calo dư thừa ấy sau khi tới công sở? Hãy áp dụng ngay những gợi ý giảm cân dưới đây.

1. Thể dục buổi sáng

Sau khi thức dậy, bạn có thể tập 20 phút với môn thể thao tay không, như thế vừa tạo hưng phấn cho tinh thần để nghênh đón những thách thức của một ngày mới, vừa có thể duy trì được sức khỏe của cơ thể.

Bạn có thể áp dụng những hình thức tập như sau:

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le

– Leo cầu thang: Mỗi tuần bạn nên lên xuống cầu thang 3 – 4 lần, mỗi lần lên xuống liên tục khoảng 30 phút. Cách luyện tập này có thể tiêu hao được 400 calo nhiệt lượng, còn có thể làm cho cơ bắp phần đùi, chân mạnh khoẻ, rắn chắc.
– Chạy tại chỗ: Bạn có thể chọn một chỗ trống khoảng 1m2 ở trong phòng hoặc ở hành lang ngoài nhà và kiên trì chạy dậm chân tại chỗ khoảng 15 phút.

– Đi bộ: Sau bữa cơm khoảng 45 phút, bạn nên đi bộ với tốc độ 4,8km/ tiếng. Như thế, nhiệt lượng tiêu hao rất nhanh. Nếu sau bữa cơm khoảng 2 – 3 tiếng lại đi một lần như thế thì hiệu quả càng tốt.

2. Uống nhiều nước

Uống nước là cách phương pháp dễ nhất để giảm cân. Uống nước giúp tăng cường trao đổi chất và cải thiện sức khỏe, duy trì bôi trơn các khớp và độ đàn hồi của cơ bắp.
Một tác dụng lớn khác của nước là giúp bạn ức chế cơn thèm ăn một cách tự nhiên. Uống nước đúng cách giúp bạn chống lại cảm giác thèm ăn và tránh các loại thực phẩm làm cản trở tiến độ giảm cân của bạn. Ngoài việc uống 500ml nước vào mỗi sáng, hãy áp dụng nhiều cách để tăng lượng nước bạn uống mỗi ngày.
3. Áp dụng chế độ ăn uống lành mạnh

Sau khi đã nạp quá nhiều năng nượng cho kỳ nghỉ lễ, bạn nên dành thời gian để “thanh lọc” cơ thể bằng những chế độ ăn đơn giản. Hãy sử dụng những thực phẩm tốt cho việc giảm cân sau đây:

Khoai lang: Khoai lang làm cho bạn có cảm giác bớt đói. Khi bạn đang thèm chất ngọt, một củ khoai lang cũng có thể làm yên dạ dày và đồng thời nó cũng chứa nhiều chất dinh dưỡng. Không kể đến chất ngọt của nó thì cứ một củ khoai lang nặng khoảng 100g có chứa chừng 117kcal.

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le1

Bí đao: Chỉ cần nửa quả bí đao, bảo thật mỏng thành sợi nhỏ, thêm ít dầu ăn, hạt tiêu… bạn có ngay món rau tươi ngon, mát lành. Đặc biệt, khi ăn vào buổi tối thay cơm, bí đao trộn còn giúp bạn gái giảm béo, tiêu mỡ.

Cà chua: Được xem là phương pháp giảm cân mới nhất của phụ nữ Nhật, loại quả này mọng nước, giàu chất sơ và vitamin C, A, chứa lượng calo rất thấp và đặc biệt nó giúp bạn giảm được ít nhất 2kg trong 1 tháng. Để đảm bảo phát huy tốt hiệu quả, bạn nên ăn 1 quả cà chua trước mỗi bữa ăn, hoặc 2 quả cà chua trước bữa tối. Mặc dù cà chua giúp bạn giảm 2kg ngay trong tháng đầu tiên nhưng các chuyên gia dinh dưỡng Nhật khuyên bạn nên ăn liên tục trong 3 – 6 tháng để duy trì hiệu quả và tránh tăng cân trở lại sau khi ngừng ăn cà chua.

Đu đủ: Không chỉ có tác dụng làm đẹp da, tốt cho tiêu hóa, ngừa ung thư, đu đủ còn có thể giups phái đẹp giảm cân hiệu quả. 100g đu đủ chỉ chứa không đầy 32 calo, nếu ăn 100g đu đủ trước bữa ăn, bạn sẽ bớt thèm ăn cơm và các món giàu calories khác. Bên cạnh đó, đu đủ chứa rất nhiều vitamin B cùng chất chống oxy hóa giúp vòng eo của bạn trở nên thon gọn hơn.

4. Ngủ đủ giấc

nhung-cach-giam-can-sau-moi-ky-nghi-le2

Nếu một ngày bạn không ngủ đủ 7 – 8 tiếng thì cơ thể sẽ không đủ năng lượng để phục vụ bạn làm việc và cảm giác ăn ngon. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, những người thường xuyên ở trong trạng thái mệt mỏi, thiếu sức sống thì quá trình trao đổi chất càng kém vì vậy muốn giảm béo bụng thì trước tiên bạn phải đảm bảo giấc ngủ cho mình.

Theo giadinh.net

Sống khỏe và sống lâu mỗi ngày

Thật khó để liên tục theo dõi các nghiên cứu mới nhất về những gì là tốt hay không tốt; những gì có thể giúp sống khỏe hơn… Tuy nhiên, một lối sống lành mạnh chắc chắn là yếu tố quan trọng nhất.

Dưới đây là 7 lời khuyên hữu ích dành cho bạn.

1. Dành thời gian để thư giãn

Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn bận rộn với các cuộc họp liên tục, chạy đua với những thời hạn công việc, tham gia các sự kiện và những bữa tiệc… và dường như chúng ta không bao giờ có thời gian để thư giãn.

Vậy nhưng, nếu coi trọng sức khỏe tinh thần và thể chất, bạn sẽ luôn biết dành thời gian để thư giãn, dù chỉ là 10 phút.

song-khoe

2. Đừng căng thẳng

Thật không may, căng thẳng là điều không thể tránh khỏi trong thế giới hiện đại và điều quan trọng là bạn nên học cách đối mặt với nó như thế nào, đặc biệt là trong những tình huống khó khăn nhất.

Căng thẳng có thể gây lão hóa sớm, các bệnh khác nhau, và thậm chí cả mụn trứng cá, do đó, đừng tự gây áp lực và căng thẳng cho mình. Trong bất kỳ tình huống nào, hãy hít thở thật sâu và suy nghĩ về những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

3. Thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh

Ngũ cốc nguyên hạt, trái cây và rau quả sẽ giúp cân bằng tâm trạng và giúp bạn có một sức khỏe tốt. Nó chính là một thành phần quan trọng trong một cuộc sống lâu hơn, khỏe hơn.

Thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh và chắc chắn rằng bạn không ăn đồ ăn vặt. Hãy nuôi dưỡng cơ thể với những lựa chọn lành mạnh.

4. Tập thể dục

Tập thể dục thường xuyên là một bí mật cho một cuộc sống khỏe mạnh hơn!

Giúp giảm nguy cơ bệnh tiểu đường, ung thư, bệnh đa xơ cứng và bệnh Alzheimer, tập thể dục cũng có thể cải thiện sức khỏe tinh thần và thể chất.

song-lau

5. Những sự lựa chọn đúng đắn

Mỗi ngày, hãy làm những gì bạn cho là đúng như giúp đỡ mọi người, lắng nghe người bạn thân đã vượt qua khó khăn như thế nào, nói lời cảm ơn với bố mẹ vì tất cả mọi thứ họ đã làm cho bạn và cho họ biết bạn thực sự quan tâm đến họ. Những sự lựa chọn đúng hàng ngày sẽ giúp bạn bước đi lâu hơn trên con đường đời.

6. Lối suy nghĩ tích cực

Nhiều nghiên cứu cho thấy những người lạc quan thường thành công và sống lâu hơn những người bi quan. Vì vậy, hãy cười nhiều hơn và suy nghĩ tích cực mỗi ngày, ngay cả khi, đó là một ngày vô cùng khó khăn. Với một thái độ tích cực, cuộc sống của bạn sẽ dễ dàng hơn và hạnh phúc hơn.

7. Hãy theo đuổi ước mơ

Nếu bạn muốn trở thành một kỹ sư, một luật sư, một bác sĩ hoặc một vũ công, hãy cố gắng để theo đuổi giấc mơ của bạn. Hãy tin rằng, dù có bao nhiêu lần bạn thất bại trong quá khứ, bạn vẫn luôn có cơ hội biến ước mơ của bạn trở thành sự thật. Hãy bắt đầu làm việc ngay lập tức để hướng tới ước mơ. Nếu bạn sống hạnh phúc, bạn sẽ sống lâu hơn.

Hy vọng bạn sẽ bắt đầu sống một cuộc sống hạnh phúc ngay lúc này. Hãy theo đuổi giấc mơ của bạn, mỉm cười thường xuyên hơn, ăn uống lành mạnh và tập thể dục đều đặn. Đó chính là bí mật để kéo dài cuộc sống!

Nguồn dân trí

6 thói quen giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh mỗi ngày

1. Đảm bảo đầy đủ protein trong bữa ăn

Protein là một phần thiết yếu của một chế độ ăn uống lành mạnh, nhưng cắt giảm béo của thịt có thể dẫn đến tiêu hóa không thoải mái. Khi bạn ăn thịt, hãy chọn thịt nạc, chẳng hạn như thịt thăn thịt lợn và thịt gia cầm không da.

2. Tập thể dục thường xuyên

Tập thể dục thường xuyên sẽ giúp thức ăn di chuyển trong hệ thống tiêu hóa một cách dễ dàng và nhờ vậy mà làm giảm táo bón. Việc tập thể dục có tác dụng hỗ trợ tích cực trong việc duy trì một trọng lượng cơ thể khỏe mạnh và một cơ thể cân đối với cân nặng phù hợp là điều kiện rất quan trọng để duy trì sức khỏe cho hệ tiêu hóa của bạn.

3. Ăn nhiều chất xơ

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, một chế độ ăn uống có nhiều chất xơ và ngũ cốc nguyên hạt, rau xanh, trái cây có thể bào vệ hệ tiêu hóa của bạn. Một chế độ ăn nhiều chất xơ giúp bạn tránh xa chứng táo bón và ngăn ngừa hoặc hỗ trợ điều trị các bệnh tiêu hóa khác như bệnh trĩ.

he-tieu-hoa

4. Kết hợp các chế phẩm sinh học vào chế độ ăn uống của bạn

Probiotics là những vi khuẩn lành mạnh có sẵn trong đường tiêu hóa của bạn. Chúng giúp giữ cho cơ thể khỏe mạnh bằng cách chống lại những ảnh hưởng xấu của các thực phẩm không lành mạnh hay các loại thuốc như thuốc kháng sinh.

Ngoài ra, chế phẩm sinh học probiotics có thể hỗ trợ ruột tăng cường hấp thu dưỡng chất , tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn, và thậm chí có thể giúp điều trị hội chứng ruột bị kích thích.

5. Chú ý đến thời gian ăn bữa chính

Ba bữa ăn chính bao gồm bữa sáng, bữa trưa và bữa ăn tối. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng bạn không nên bỏ qua bất kỳ bữa ăn nào trong ba bữa này nếu muốn giữ cho hệ tiêu hóa nói riêng và cả cơ thể nói chung luôn khỏa mạnh.

Với bữa ăn sáng, bạn nên ăn sau 7 giờ vì lúc này ruột mới hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng. Bữa ăn trưa nên là giờ thư giãn tránh xa các chủ đề căng thẳng trong công việc.

Cuối cùng, các nhà khoa học cũng khuyên bạn nên sắp xếp thời gian ăn tối sớm để dạ dày có thể hoạt động tốt, không ăn tối cách giờ đi ngủ ít hơn 2 giờ.

6. Ăn chất béo có lợi

Nhìn chung, các loại thực phẩm chứa nhiều chất béo có xu hướng làm chậm quá trình tiêu hóa, làm cho bạn dễ bị táo bón. Nhưng các chuyên gia dinh dưỡng cũng nhấn mạnh rằng điều quan trọng là bạn phải đảm bảo bữa ăn của bạn phải có đủ chất béo vì đây cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết để cơ thể duy trì hoạt động bình thường.

Do đó, thay vì dùng chất béo từ mỡ động vật, các chuyên gia khuyến khích bạn nên dùng dầu oliu, dầu hạt nho… như một nguồn chất béo lành mạnh.

Theo afamily

Bệnh xương khớp có thể gặp ở mọi lứa tuổi

Viêm khớp dạng thấp, loãng xương, thoái hóa cột sống, khớp háng, khớp gối… có thể gặp ở mọi độ tuổi chứ không phải chỉ người già như nhiều người lầm tưởng.

Dưới đây là bài viết của Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đình Phú, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhân dân 115, cảnh báo về một số vấn đề liên quan đến bệnh xương khớp ở trẻ em và người lớn.

Ở trẻ em, bệnh xương khớp rất đa dạng và có những đặc điểm riêng, có thể kể ra như: thấp khớp cấp, viêm khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp mủ do vi khuẩn lao, dị dạng cột sống, còi xương…

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Các bệnh lý về xương khớp xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi độ tuổi.

Một số bệnh xương khớp có tính chất gia đình. Lối sống của cha/mẹ đóng vai trò quyết định sức khỏe của con cái. Nếu cha/mẹ hút thuốc lá uống rượu nhiều, mắc các bệnh cảm cúm do virus, hay dùng thuốc không hợp lý trong thời ký mang thai có thể dẫn tới sự xuất hiện những dị tật cơ xương khớp ở con cái của họ.

Trẻ em có hệ miễn dịch chưa hoàn thiện thường mắc các bệnh tai mũi họng như viêm họng hạt, viêm amidan, viêm xoang, viêm mủ ngoài da. Đó chính là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra nhiều bệnh ở khớp: thấp tim, viêm khớp nhiễm khuẩn… Phòng ngừa cho trẻ là nên điều trị kịp thời và dứt điểm các nguyên nhân nhiễm khuẩn trên.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng trong xuất hiện bệnh lý cơ xương khớp. Với trẻ em, cơ thể cần rất nhiều canxi, Vitamin D, protein và các chất khác để xây dựng khung xương. Do vậy, nếu chế độ ăn uống không đủ chất và số lượng thì trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, dẫn đến bệnh còi xương.

Ngoài ra việc mang vác nặng, ngồi sai tư thế ngồi lâu ngày… cũng là một nguyên nhân phổ biến, gây lệch vai, tổn thương xương sống hoặc gù, cong, vẹo cột sống…

Đối với độ tuổi trung niên, nguyên nhân chủ yếu gây ra gãy xương là do chấn thương, thoái hóa khớp, bệnh gout, loãng xương giai đoạn sớm. Ngoài nguyên nhân do sinh lý cơ thể theo lứa tuổi thì chế độ ăn uống không khoa học cũng là tác nhân gây hại về xương khớp. Một số người đau nhức do xương khớp cơ năng thường hay tự ý uống thuốc để giảm đau cũng là nguyên nhân gây hư xương và thoái hóa khớp. Để phòng ngừa bệnh, cần kiêng cữ, tiết chế, điều độ trong ăn uống.

Đối với người trên 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh xương khớp lên tới 60%. Đó là thoái hóa khớp, loãng xương, gãy cổ xương đùi, đau cột sống thắt lưng, gút, ung thư xương… Càng về già chất lượng xương càng yếu dần, vỏ xương không chắc chắn như lúc tuổi trẻ, nên rất dễ gãy cổ xương đùi khi có một sang chấn nhẹ. Biến dạng các khớp xương lâu ngày có thể gây thoái hóa tạo hình ảnh gai xương hoặc một biến dạng bất thường có thể gây ung thư xương với sự đau nhức dài ngày…

Để phòng ngừa, nên có sự tầm soát định kỳ mỗi 6 tháng với kiểm tra tổng quát có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Ngoài ra cần có một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh, kết hợp với chế độ thuốc men phù hợp với đặc điểm bệnh lý của người cao tuổi.

Nguồn giáo dục

Tăng huyết áp và những quan niệm sai lầm thường gặp

Trung bình cứ 4 người lớn ở nước ta lại có một người bị tăng huyết áp. Trên thực tế, con số này còn có thể cao hơn do bệnh tiến triển thầm lặng và chưa được phát hiện. Vì vậy, việc phổ biến những kiến thức đúng về tăng huyết áp là hết sức cần thiết trong việc kiểm soát huyết áp cũng như làm giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm do căn bệnh này gây ra. Sau đây là một số những quan niệm sai lầm về tăng huyết áp mà người bệnh cần điều chỉnh.

Huyết áp tối đa phải 160mmHg trở lên mới là tăng huyết áp (THA)
Theo định nghĩa về THA, huyết áp (HA) bình thường là HA có chỉ số từ 90/60 – 119/79 mmHg, Tiền THA: 120/80 – 139/89 mmHg, THA giai đoạn I: 140/90 – 159/99 mmHg, THA giai đoạn II: huyết áp bệnh nhân từ 160/100 mmHg trở lên và THA tâm thu đơn độc là khi bệnh nhân chỉ có tăng HA tâm thu trên 140 mmHg còn HA tâm trương dưới 90 mmHg. Như vậy, chỉ cần chỉ số HA của bạn trên 120/80 mmHg đã được gọi là tiền THA và bắt buộc đã phải theo dõi để điều chỉnh lối sống, chế độ ăn uống và tập luyện

tang-huyet-ap-va-nhung-quan-niem-sai-lam-thuong-gap

Tăng huyết áp ở người già là chuyện bình thường, không cần điều trị
Trước đây, người ta cho rằng huyết áp tăng ở người già là bình thường và chỉ cần can thiệp khi huyết áp đã tăng rất cao, thậm chí không cần điều trị gì. Hiện nay, mặc dù THA tỷ lệ thuận theo tuổi hay nói khác đi, tuổi càng cao nguy cơ bị THA càng lớn. THA áp ở người già được coi là bệnh lý (chứ không phải là một tình trạng của tuổi tác) như bất cứ một bệnh nào khác ở mọi lứa tuổi và cần phải được theo dõi, điều trị tốt như ở người trẻ.

Tăng huyết áp không chữa khỏi được
Không phải hoàn toàn là như vậy. Chúng ta đều biết rằng, THA gồm hai loại: THA nguyên phát và THA thứ phát. THA nguyên phát là loại THA không tìm thấy căn nguyên gây bệnh hay còn được gọi là tăng huyết áp vô căn, loại này chiếm từ 90% – 95% tổng số các trường hợp THA nói chung. THA thứ phát là loại THA có nguyên nhân gây bệnh rõ ràng như THA do u tủy thượng thận, do bệnh lý thận, do một số bệnh nội tiết… Đối với loại THA vô căn, bắt buộc phải uống thuốc hàng ngày để giữ cho HA luôn ở mức bình thường. Còn đối với loại THA có nguyên nhân rõ ràng, nếu điều trị tốt yếu tố gây bệnh (ví dụ như bệnh hẹp động mạch thận) thì HA có thể về trị số bình thường hay có thể chữa khỏi. Vì vậy, khi bị THA, nhất thiết phải tìm kiếm xem có nguyên nhân nào gây THA hay không để điều trị trước khi kết luận là THA vô căn.

Trẻ em và thanh niên không bị tăng huyết áp
THA hay gặp ở người già nhưng có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Phần lớn các trường hợp THA ở người từ 45 tuổi trở lên là THA vô căn trong khi THA xuất hiện ở người trẻ hơn thường có nguyên nhân rõ ràng như hẹp động mạch thận, suy thận, u tủy thượng thận… Hiện nay, THA đang có xu hướng trẻ hóa do có nhiều yếu tố nguy cơ ở nhóm đối tượng này như: nghiện rượu, nghiện thuốc lá, thuốc lào, béo phì, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, tăng axit uric máu, ăn mặn (lượng muối ăn trên 5g/ngày), lười vận động, môi trường làm việc căng thẳng nhiều stress,…

“Bỏ quên” một số yếu tố nguy cơ
Có một số yếu tố nguy cơ mà khi người bệnh khắc phục được có thể làm giảm huyết áp đáng kể. Đầu tiên là thói quen ăn mặn (trên 5g muối/ngày). Thói quen này hay gặp ở những người lao động nặng nhọc, lượng muối bị mất nhiều qua mồ hôi. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy một chế độ ăn nhạt giúp hạ huyết áp tâm thu tới 20 mmHg. Tiếp theo là những thói quen có hại như lạm dụng bia rượu, hút thuốc lá, thuốc lào. Đây cũng là những yếu tố làm HA của bạn tăng đáng kể. Ăn uống vô tội vạ dẫn đến béo phì, lười vận động, công việc nhiều áp lực, cuộc sống nhiều stress… cũng góp phần làm HA bạn tăng thêm từ 10 mmHg trở lên và nhiều khi là yếu tố khởi nguồn của cơn THA nếu bạn đang bị THA, cũng như góp phần vào việc làm cho HA của bạn ít đáp ứng với liệu pháp điều trị.

Người bình thường không cần kiểm tra huyết áp
Trong đại bộ phận các trường hợp, THA tiến triển từ từ, thầm lặng mà không có biểu hiện gì đặc biệt hoặc nếu có cũng nhẹ và thoáng qua. THA chỉ được phát hiện khi người bệnh đã bị các biến chứng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy thận… hoặc qua khám sức khỏe định kỳ. Tuy nhiên, cũng có một số dấu hiệu cảnh báo bệnh nhân đã bị THA như: hay bị đau đầu chóng mặt mà không rõ lý do cụ thể, thay đổi tính nết: dễ xúc động, cáu gắt, khó kiểm soát cảm xúc, có những cơn nóng, đỏ bừng mặt, mắt nhìn mờ, tức ngực, đau ngực, đánh trống ngực, làm việc dễ bị căng thẳng mệt mỏi, tiểu ít, đột ngột xuất hiện nói khó, thất ngôn, tê bì chân tay, liệt chi (có thể chỉ thoáng qua rồi hết…). Vì vậy những người có các biểu hiện nói trên, nhất là những người tuổi từ 45 trở lên nên đi khám ngay.

Dừng thuốc khi thấy huyết áp về bình thường
Nhiều người cho rằng khi uống thuốc đưa HA về trị số bình thường thì dừng ngay thuốc, thuốc chỉ bỏ sẵn trong túi, khi nào thấy HA tăng cao thì lại uống. Điều này thực sự nguy hiểm vì HA đã về bình thường là do tác dụng của thuốc, nếu dừng, nồng độ thuốc không còn nên chắc chắn HA lại tăng cao. Hơn nữa, khi HA tăng cao thường không có biểu hiện gì đặc biệt nên người bệnh khó nhận biết và nhiều khi cơn THA lên quá cao gây các biến chứng như xuất huyết não… thì đã quá muộn.

Tự ý thay thuốc hạ HA đang dùng
Rất nhiều người đang dùng thuốc hạ HA có tác dụng rất tốt lại tự ý bỏ và thay bằng một loại thuốc khác với hy vọng tốt hơn thuốc cũ. Bạn nên nhớ rằng loại thuốc hạ HA tốt nhất là thuốc giúp bạn kiểm soát tốt HA, ít gây tác dụng phụ và giá thành rẻ. Đối với người này, loại thuốc đó có thể rất tốt nhưng đối với người khác lại cho hiệu quả kém. Vậy không nên thay thuốc khi HA của bạn đang tốt và bạn không thấy có tác dụng phụ gì của thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chế độ ăn uống, luyện tập cho người hen suyễn

Nên tránh những thức ăn dị ứng, cần ăn thêm hành tây, tỏi, nghệ, ớt…hạn chế muối. Chọn những môn thể thao vừa sức. Giữ tâm hồn thư thái, không căng thẳng quá mức.

Hen suyễn là một loại bệnh dị ứng đường hô hấp. Khi bị dị ứng, lớp niêm mạc phế quản sưng phồng lên, thu hẹp đường hô hấp làm bệnh nhân khó thở. Các cơ bao quanh đường hô hấp cũng có thể bị co thắt làm cho việc hô hấp càng trở nên khó khăn hơn. Bệnh nhân cảm thấy ngực như bị lấp lại, thở ra rất khó, kèm theo theo có tiếng khò khè, ho. Bệnh nhân không nằm ngửa được mà phải ngổi há miệng để thở. Nếu bệnh nặng thì mồ hôi vã ra đầm đìa, môi lưỡi tím, người bứt rứt vật vã…

Cơn hen kéo dài thời gian 10-15 phút hoặc dài hơn, sau đó giảm dần. Cơn thường phát vào ban đêm, lúc trời trở lạnh, thời tiết thay đổi, hoặc cơn phát theo chu kỳ.

Những tác nhân dị ứng thường là phấn hoa, lông động vật, bụi nhà, các nha bào nấm, các loại vi khuẩn, các loại khói gây ô nhiễm không khí, các loại dược phẩm…Ngoài ra, các loại thực phẩm có thể gây dị ứng như tôm, cua, trứng, thịt bò, thịt gà cá trích, cá ngừ, tôm, sò lông, nhộng tằm, măng tre, đậu phộng, hạt điều, giá đậu, trái thơm (dứa), bia, rượu …

Một số yếu tố khác như thần kinh căng thẳng, nội tiết tố thay đổi, thời tiết, khí hậu, môi trường ẩm ướt… đều có ảnh hưởng đến bệnh hen suyễn.

che-do-an-uong-chua-hen-suyen

Những người bị hen suyễn nên tránh những thức ăn có thể gây dị ứng. Nên ăn nhiều rau xanh, củ, quả có chứa nhiều vitamin C (cần được cung cấp đến 2g vitamin C mỗi ngày) như cam quýt, chanh, bưởi, kiwi, sơ ri, ổi, xoài, thanh long, rau bồ ngót, cần tây, ớt chuông, rau dền đỏ, rau đay, mồng tơi, cải xanh, cà chua…

Nên dùng nhiều thực phẩm giàu beta caroten có trong gấc, bí đỏ, cà rốt, đu đủ, khoai lang bí, rau bồ ngót, ớt chuông màu vàng, màu cam…, và vitamin E có nhiều trong dầu thực vật và các loại đậu, hạt, cũng có giúp bảo vệ và tăng cường chức năng hô hấp.

Người bệnh hen suyễn cũng cần ăn thêm các loại như hành tây, tỏi, nghệ, ớt, tương hạt cải, bông cải xanh, các loại ngũ cốc lứt, các loại rau thơm, để tăng cường sức đề kháng, tiêu đàm, bảo vệ và làm thông lợi đường hô hấp.

Hàng ngày nên ăn uống đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết, nhất là cần chú ý đến lượng chất đạm có trong thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu (cung cấp ít nhất 1g đạm/kg thể trọng/ngày). Tỷ lệ chất béo trong khẩu phần cần chiếm khoảng 40 – 45% tổng năng lượng cung cấp mỗi ngày. Chất bột đường trong khẩu phần cũng có tác dụng giúp làm tăng thông khí của đường hô hấp.

Các thực phẩm giàu chất béo omega 3 có thể làm giảm bớt tình trạng viêm, giảm nguy cơ bị khó thở, thở khò khè. Các loại thực phẩm giàu omega 3 là cá hồi, cá trích, cá thu, các loại hạt có dầu, còn có thể giúp phòng ngừa bệnh hen suyễn di truyền ở trẻ nhỏ.

Cần hạn chế muối (dưới 6g muối/ngày). Tránh những thực phẩm sinh hơi, gây trướng bụng, như thức uống có ga, táo tây, trái bơ, dưa hấu, đậu phộng rang, bông cải, bắp cải, bắp, hành, rau cải ngâm giấm hoặc làm dưa chua…

Một chế độ tập luyện thể dục thể thao vừa sức, luyện khí công, yoga, thái cực quyền, xoa bóp cơ thể hàng ngày, cũng rất có ích cho người bị hen suyễn.

Đồng thời, nên giữ cho mình một tâm thái nhẹ nhàng, không lo âu, căng thẳng quá mức.

Theo Lương y Đinh Công Bảy/ VnExpress

Theo Suckhoedoisong

Những lợi ích sức khỏe của trái chanh xanh

Không chỉ là loại trái cây giúp giải khát tuyệt vời, trái chanh xanh còn có rất nhiều công dụng với sức khỏe như: giúp giảm cân, hỗ trợ tiêu hóa, bổ sung khoáng chất…

Chanh xanh là một loại quả tuyệt vời mà bạn có thể thưởng thức theo hai hình thức theo nhiều cách: pha nước uống, dùng trong chế biến thực phẩm… Chanh xanh có thể pha nước để trở thành thức uống giải khát tuyệt vời, nhất là sau khi chạy bộ buổi sáng, sau khi tập yoga, hoặc đi bộ miễn là đáp ứng công dụng như một loại quả giải khát tuyệt vời.
nhung-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh
Mặc dù loại quả này có thể trông rất giống với chanh vàng, nhưng nó có một hương vị hoàn toàn khác và có hàm lượng axit chanh thấp hơn so với trái chanh vàng. Dưới đây là một vài lợi ích sức khỏe của loại trái cây tuyệt vời này.

1. Ít calo nên rất tốt cho người ăn kiêng và giảm cân

Là loại trái cây rất ít calo cho nên chanh xanh là thành phần hoàn hảo cho chế độ ăn uống ít chất béo. Ví dụ khi bạn tiêu thụ khoảng 94,5g trái chanh xanh thì nó chỉ cung cấp cho cơ thể bạn khoảng chỉ thêm 43 calo. Carbohydrate thành phần chính của loại năng lượng này.

Trái chanh xanh cũng là loại quả có hàm lượng protein thấp, do đó bạn có thể cần phải bổ sung protein trong chế độ ăn uống của mình, cùng với loại quả này. Vì tất cả những lý do trên mà chanh xanh là một lựa chọn tuyệt vời cho người ăn kiêng, giảm cân và đặc biệt là những người hâm mộ bộ môn thể hình khi nó có khả năng giúp bạn hạn chế độ nhão – xệ của cơ bắp.

2. Hỗ trợ tiêu hóa
nhung-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh1
Trái chanh xanh có chứa flavanoids, có tác dụng thúc đẩy việc sản xuất mật, các axit và dịch tiêu hóa. Flavonoids trong trái chanh xanh còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan. Điều này giúp cho hệ tiêu hóa của cơ thể hoạt động tốt.

Bằng cách trung hòa các dịch tiêu hóa, chanh xanh còn hỗ trợ đào thải chất độc của cơ thể ra ngoài. Dùng chanh xanh cũng sẽ làm dịu dạ dày trong trường hợp bạn đang bị ói mửa, buồn nôn, hoặc tiêu chảy .

3 . Bổ sung vitamin C

Một người nam giới trưởng thành cần 90mg vitamin C hàng ngày, và người phụ nữ trưởng thành cần khoảng 75mg. Là loại trái cây rất giàu vitamin C, trái chanh xanh có thể dễ dàng giúp bạn đáp ứng nhu cầu bổ sung vitamin hàng ngày cho cơ thể theo cách tự nhiên.

Trong mỗi trái chanh xanh có chứa tối thiểu 50mg vitamin C, vì thế bạn không cần phải lo lắng về việc phải bổ sung thêm vitamin C hàng ngày của mình nếu trong chế độ ăn uống đã có trái chanh. Ngoài ra, nếu bạn đang mang thai thì đây thực sự là loại trái cây có lợi cho bạn.

4 . Rất giàu khoáng chất

Chanh xanh là loại trái cây giàu khoáng chất. Hàm lượng kali trong một trái chanh xanh rất cao (khoảng 490mg). Ngoài ra, nếu thường xuyên tiêu thụ chanh xanh thì cơ thể bạn cũng được cung cấp một lượng khoáng chất khác như đồng, canxi, sắt và phốt pho. Tất cả các khoáng chất này đều có nhiều lợi ích cho sức khỏe .

5. Có thể được sử dụng như một loại thuốc dân gian

Khi bạn dự trữ trái chanh xanh trong nhà, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang có một phương thuốc dân gian tuyệt vời. Do rất giàu vitamin C cho nên chanh xanh rất tốt để sử dụng khi bạn bị cảm lạnh thông thường. Nó cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.

Ngoài ra, trái chanh xanh còn được cho rằng có thể có đặc tính kháng virus và sát trùng, tăng cường chức năng gan, giảm các vấn đề không tốt cho hệ tiêu hóa.

Nguồn afamily

Dinh dưỡng cho độ tuổi 30 cần những chú ý gì

Khi bạn ở tuổi 30, cuộc sống sẽ có nhiều áp lực và bận rộn hơn. Nếu bạn đã lập gia đình, sinh con và luôn bận bịu với công việc, bạn rất khó để đảm bảo một chế độ ăn uống cân bằng dinh dưỡng cho bản thân. Các thực phẩm mà bạn thường ăn trong điều kiện hiện tại chủ yếu dựa trên nhu cầu và mong muốn của chồng, con hơn là chú trọng đến những gì bạn thực sự cần.

Bước vào độ tuổi 30, quá trình trao đổi chất trong cơ thể đã bị chậm lại. Do đó việc suy nghĩ và lựa chọn thực phẩm trước khi ăn ở độ tuổi 30 là một điều vô cùng quan trọng. Bởi việc lựa chọn này sẽ giúp bạn duy trì được sức khỏe khi cơ thể bắt đầu già đi. Dưới đây là một vài loại thực phẩm mà bạn nên ăn khi đang ở độ tuổi 30.

1. Cá

Cá là một thực phẩm rất tốt và bạn nên ăn nhiều hơn khi ở độ tuổi 30. Lý do đơn giản là, trong cá có rất nhiều protein giúp cho việc duy trì khối lượng cơ bắp của bạn. Thịt cá có chứa axit béo omega-3 sẽ đảm bảo mang lại cho bạn một làn da mịn màng, tươi trẻ.
dinh-duong-cho-do-tuoi-30-can-nhung-chu-y-gi
Trong cá cũng có chứa rất nhiều canxi, giúp bạn tăng cường độ chắc khỏe, dẻo dai của hệ xương đã bắt đầu có dấu hiệu suy yếu của bạn. Cá rất giàu kẽm, selen giúp sản sinh testosterone, cung cấp năng lượng cho cơ thể của bạn. Các vitamin B và magiê có trong cá cũng giúp tăng cường năng lượng và giúp cân bằng hệ thần kinh của bạn.

Ở một số loại cá có chất béo và chúng là một phần quan trọng không kém của một chế độ ăn uống cân bằng. Chúng giúp nuôi dưỡng tuyến giáp, cân bằng hormone, tăng năng lượng, xua tan trầm cảm.

Có rất nhiều cách khác nhau để bạn tận hưởng vị ngon của cá trong chế độ ăn uống của mình. Dó đó bạn có thể thoải mái kết hợp chúng với các loại thực phẩm khác để không cảm thấy chán khi ăn cá mỗi ngày.

2. Đậu

Nếu bạn là người ăn chay và không muốn ăn cá hoặc thịt thì các loại đậu là một lựa chọn tuyệt vời để cơ thể bạn có được các chất dinh dưỡng cần thiết và đảm bảo được lượng protein. Trong đậu có một lượng lớn canxi rất tốt cho hệ xương ở độ tuổi 30 của bạn.
dinh-duong-cho-do-tuoi-30-can-nhung-chu-y-gi1
Hơn thế trong đậu cũng rất giàu chất xơ, giúp bạn tiêu hóa dễ dàng. Nó cũng giúp bạn ngăn chặn tình trạng tăng cân như khi ăn thịt do có ít chất béo và lượng calo thấp. Các loại đậu cũng rất giàu sinh tố nhóm B, nhiều sắt, potassium giúp bạn giảm rủi ro bị cao huyết áp trong tương lai. Bên cạnh đó, các loại đậu cũng cung cấp các loại amino acid thiết yếu mà cơ thể cần.

3. Rau lá xanh và rau quả

Ở độ tuổi 30, bạn bắt đầu chú ý đến việc cắt giảm lượng thịt trong khẩu phần ăn của mình. Song điều này lại khiến cơ thể bạn đi một lượng dinh dưỡng cần thiết. Để khắc phục điều này thì bạn nên ăn thêm các loại rau có lá màu xanh thẫm. Rau lá xanh rất giàu magiê, giúp sản sinh năng lượng và điều hòa hệ thần kinh. Lượng sắt có trong rau lá xanh giúp hình thành tế bào hồng cầu thích hợp giúp ngăn ngừa mệt mỏi và thiếu máu cho cơ thể bạn.

Rau lá xanh cũng rất giàu chất xơ và chất diệp lục, giúp cơ thể giải phóng estrogen có hại và loại độc tố có thể khiến bạn tăng cân, mệt mỏi. Rau lá xanh là một trong những thực phẩm rất tốt cho phụ nữ, giúp bạn bổ sung chất dinh dưỡng và tăng cường độ mịn đẹp, tươi trẻ cho làn da của bạn.
Ngoài những loại thực phẩm cần chú trọng như trên, thì sữa chua, trứng và các loại hạt cũng là một lựa chọn tuyệt vời và tốt để ăn khi bạn đang trong độ tuổi 30. Bởi chúng là những thực phẩm giúp bạn bổ sung và cân bằng các chất dinh dưỡng cho cơ thể.

Nguồn gia đình

Đau dạ dày “kẻ giết người” thầm lặng dân công sở

Dân công sở bận rộn với công việc, không chú ý đến “chăm sóc” dạ dày. Mỗi ngày thường lặp đi lặp lại những thói quen xấu ấy khiến họ tự gây tổn thương cho chính bản thân mình.

1. Ăn bù

Vì bận rộn, dân công sở thường ăn sáng vội vàng hoặc thậm chí bỏ qua, sau đó ăn bù vào bữa ăn trưa hoặc tối. Chế độ ăn uống không điều độ, đặc biệt là ăn nhiều vào bữa tối trước khi đi ngủ nếu kéo dài sẽ phá hủy hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh.

Việc ăn tối quá nhiều hay ăn ngay trước khi đi ngủ không chỉ ảnh hưởng đến giấc ngủ, dẫn đến béo phì mà còn khiến đường tiêu hóa vào tình trạng hoạt động quá tải. Các tiết dịch quá mức của dạ dày sẽ ăn mòn niêm mạc, lâu dài sẽ dẫn đến xói mòn, loét và các bệnh khác.

2. Ăn không vệ sinh

Điều ngạc nhiên là dân công sở lại thuộc nhóm ăn uống thiếu vệ sinh nhất. Nguyên nhân chủ yếu do họ thường xuyên phải lựa chọn cơm hộp.

Mùa hè nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho nhiều vi khuẩn gây bệnh tăng trưởng một cách nhanh chóng, thực phẩm dễ bị giảm dinh dưỡng và bị hư hỏng. Nếu bạn ăn thức ăn không vệ sinh hoặc thức ăn để lâu sẽ dễ gây ra viêm dạ dày cấp tính, đau dạ dày, đầy hơi và các triệu chứng nôn mửa.

cong-so

Vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) là một yếu tố gây bệnh quan trọng dẫn đến sự xuất hiện cũng như phát triển của bệnh dạ dày mãn tính. Vi khuẩn này chủ yếu bắt nguồn từ ăn uống không vệ sinh và nhiễm trùng ở một vài bộ phận đường tiêu hóa. HP ký sinh trong niêm mạc dạ dày và tá tràng gây ra viêm niêm mạc và các vấn đề dạ dày khác. Đặc biệt là khi gia đình có tiền sử loét dạ dày, viêm dạ dày thì nguy cơ mắc bệnh càng cao.

3. Ăn lạnh

Dạ dày là một cơ quan rất nhạy cảm với khí hậu và nhiệt độ. Khi bị kích thích bởi không khí lạnh, dạ dày dễ bị những cơn co thắt, gây đau bụng, khó tiêu, nôn mửa, tiêu chảy và các triệu chứng khác.

Hầu hết mọi người thường chú ý ăn đồ nóng, ấm vào mùa thu và mùa đông mà không biết rằng vào mùa hè, ăn nhiều đồ ăn tính hàn, trái cây ướp lạnh hoặc đồ ăn để ở môi trường điều hòa lâu cũng khiến cho dạ dày tiếp xúc với lạnh, ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa.

4. Lao động mệt mỏi

Tình trạng quá tải về thể chất cũng như tâm thần lâu dài đều dẫn đến sự mệt mỏi, làm suy yếu hệ miễn dịch và vai trò phòng thủ của niêm mạc dạ dày. Điều này dễ dàng dẫn đến nguồn cung cấp máu cho dạ dày không đủ, gây rối loạn chức năng bài tiết, giảm nước nhầy trong dạ dày khiến niêm mạc dạ dày bị tổn hại.

5. Thần kinh căng thẳng

Dân công sở vận động trí óc thường xuyên nên dễ rơi vào tình trạng căng thẳng, trầm cảm… Trong khi đó, sự xuất hiện và phát triển của nhiều vấn đề dạ dày liên quan chặt chẽ với những cảm xúc và trạng thái tâm thần. Khi một người khó chịu, căng thẳng hay giận dữ, những cảm xúc xấu sẽ ảnh hưởng đến sự tiết dịch dạ dày, tiêu hóa và các chức năng khác. Do đó, trầm cảm kéo dài, lo lắng, hoặc chấn thương cũng sẽ làm tăng nguy cơ bệnh viêm loét dạ dày.

6. Nghiện thuốc lá

Sức ép công việc đôi khi khiến cho nhiều người kết thân với thuốc lá nhằm làm giảm căng thẳng. Thuốc lá không chỉ gây tổn hại cho hệ thống hô hấp của cơ thể mà còn gây thiệt hại khá nặng nề cho dạ dày. Hút thuốc nhiều khiến xu hướng viêm dạ dày ngày càng gia tăng. Điều này là do chất nicotine trong thuốc lá làm thiệt hại niêm mạc dạ dày.

Cụ thể như sau: nó thúc đẩy co mạch, giảm cung cấp máu cho niêm mạc dạ dày, ức chế tổng hợp prostaglandin (một chất đóng vai trò sửa chữa bảo vệ niêm mạc dạ dày), có thể gây ra sự rò rỉ mật vào dạ dày khiến cho các thành phần trên niêm mạc dạ dày bị tổn thương mạnh mẽ, đồng thời có thể thúc đẩy tiết ra axit dạ dày và pepsin, trực tiếp ăn mòn niêm mạc dạ dày.

Nguồn afamily

Những loại quả vừa có công dụng phòng chữa bệnh và phòng bệnh

Vậy những loại quả nào vừa có có công dụng phòng chữa bệnh và phòng bệnh? Dưới đây là 10 loại quả có lợi cho sức khỏe của bạn.

1. Ăn bơ để tránh tóc bị hư tổn

Quá trình hấp, uốn hay tóc sẽ lấy đi độ ẩm và độ dầu của tóc, tóc trở nên khô ráp. Trong trái bơ chín có chứa tới 30% dầu thực vật quý giá – axit oleic, chất này có tác dụng đặc biệt đối với mái tóc khô và xơ. Vì vậy, hãy bổ sung thực phẩm này để giúp tóc khỏe hơn.

2. Ăn chuối tốt cho não bộ

Khi não phải hoạt động quá nhiều sẽ gây thiếu hụt vitamin, khoáng chất và calo. Ngoài việc não bộ mệt mỏi, nó còn tạo ra cảm giác khiến bạn thường xuyên có tâm lý chán nản. Lúc này hãy ăn chuối, vì trong chuối có chứa rất nhiều kali, có thể giúp xoa dịu tâm lý tiêu cực và bổ sung các dinh dưỡng khác cho não bộ như vitamin A, vitamin C, vitamin K…

3. Ăn đu đủ tăng cường vitamin A cho mắt

Dán mắt vào màn hình máy tính hoặc tivi quá lâu, mắt tập trung quá mức, làm tiêu hao một lượng lớn vitamin A – chất quan trọng cho cơ quan thụ cảm thị giác, khiến mắt cảm thấy khô, đau, sợ ánh sáng, thậm chí còn khiến thị lực giảm sút. Lúc này bạn cần phải ăn nhiều đu đủ mới có thể cung cấp một lượng lớn vitamin A bị tiêu hao.

4. Ăn kiwi phòng chảy máu nướu răng

KIWWI

Sức khỏe nướu răng có liên quan chặt chẽ với vitamin C. Nướu của những người thiểu vitamin C trở nên rất yếu, thường xuất huyết, sưng, thậm chí còn làm lung lay răng. Hàm lượng vitamin C trong kiwi là phong phú nhất trong các loại hoa quả, do đó là loại quả có lợi nhất cho sức khỏe răng nướu.

5. Người có tiền sử bệnh tim mạch nên ăn bưởi

Cholesterol cao ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe tim mạch, đặc biệt những người có tiền sử bệnh tim mạch, càng phải chú ý kiểm soát chỉ số cholesterol trong cơ thể. Bưởi là loại quả có tác dụng trị bệnh được y khoa công nhận, chất pectin tự nhiên trong bưởi có thể hạ thấp cholesterol, phòng ngừa bệnh tim mạch.

6. Ăn nho để giảm sự suy giảm chức năng của phổi

Phổi của những người hút thuốc trong thời gian dài tích tụ rất nhiều độc tố, chức năng bị suy giảm. Các thành phần hiệu quả trong nho có thể cải thiện tỷ lệ chuyển hóa tế bào, giúp thải độc cho các tế bào phổi. Ngoài ra, nho còn có tác dụng long đờm và có thể giảm bớt các triệu chứng xấu như viêm đường hô hấp do hút thuốc gây ra.

7. Ăn dứa phòng chống đau cơ

Căng cơ, đau cơ, viêm mô cơ, lưu thông máu kém, vùng bị thường sưng đau. Thành phần bromelain trong quả dứa có tác dụng tiêu viêm, thúc đẩy tái tạo mô, còn có thể đẩy nhanh tốc độ trao đổi chất, cải thiện tuần hoàn máu, nhanh chóng tiêu sưng, là loại quả cần thiết cho cơ thể lúc này.

8. Ngăn ngừa nếp nhăn trên da bằng cách ăn xoài

soai

Nếu sự đàn hồi của collagen không đủ rất dễ làm da xuất hiện nếp nhăn. Xoài là loại quả tốt nhất để phòng ngừa nếp nhăn, bởi vì chất beta-carotene và enzyme độc nhất vô nhị phong phú trong xoài có thể kích thích sức sống tế bào, thúc đẩy sự bài tiết chất thải, giúp duy trì sự đàn hồi của collagen, có tác dụng làm chậm lại sự xuất hiện của nếp nhăn.

9. Đề phòng máu thiếu oxy bằng cách ăn quả cherry

Thường xuyên mệt mỏi có liên quan tới việc hàm lượng sắt trong máu thấp, thiếu oxy và lưu thông máu kém. Ăn cherry có thể bổ sung chất sắt, trong đó hàm lượng vitamin C cũng khá phong phú có thể thúc đẩy cơ thể hấp thụ sắt, ngăn chặn cơ thể mất sắt và cải thiện tuần hoàn máu, giúp chống lại mệt mỏi.

10. Phòng bệnh tê phù chân tay nhờ ăn cam

Những người thiếu vitamin B1 dễ gặp bệnh tê phù. Trong trường hợp này cam là lựa chọn thích hợp, bởi nó giàu vitamin B1, đồng thời giúp chuyển hóa glucose, phòng ngừa và điều trị hiệu quả các bệnh tê phù chân tay.

Nguồn afamily

6 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thấp khớp

Đó là các nguyên nhân như: độ tuổi, gien, giới tính, hút thuốc, nghề nghiệp, chế độ ăn uống…

1. Độ tuổi: Theo thống kê có khoảng 1/2 số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2. Gien: Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

thap-khop

3. Giới tính: Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

4. Hút thuốc: Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

5. Nghề nghiệp: Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn: Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Đánh tan đầy bụng, khó tiêu bằng thực phẩm

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Làm sao để nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này.

Đầy bụng, khó tiêu là một trạng thái vô cùng khó chịu. Những người bị đầy hơi, chướng bụng là do hơi được sinh ra trong quá trình chuyển hóa thức ăn không ra ngoài theo đường hậu môn (trung tiện) mà lại đi ngược lên thực quản do cơ thắt thực quản bị giãn ra và được đưa ra ngoài bằng đường miệng bởi triệu chứng ợ.

day-lui-chung-day-bung-kho-tieu-ngay-lap-tuc-nho-thuc-pham

Nguyên nhân đầy bụng, khó tiêu là do bạn ăn uống vô độ, ăn nhiều thực phẩm giàu chất đạm, béo, đường hoặc uống quá nhiều rượu gây ra.

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Cảm giác buồn nôn cũng có thể đi kèm với triệu chứng hoa mắt, chóng mặt.

Bạn chỉ muốn nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này. Vậy phải làm sao?

Cách đơn giản nhất để đẩy lùi triệu chứng đầy bụng, khó tiêu là hãy ăn các loại thực phẩm như dưới đây nhé:

– Ăn dứa: Dứa có chứa bromelain và đây là một loại enzyme có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa, giảm bớt hơi bị ứ đọng và di ngược lên thực quản, từ đó giảm cảm giác bị đầy bụng. Những người bị bệnh thận không nên ăn dứa vì trong dứa giàu bromelain, sẽ làm hòa tan hemaleucin và casein ở thận, làm suy giảm chức năng của thận.

– Ăn đu đủ: Trong đu đủ có chứa papain, một loại enzyme tiêu hóa có chức năng phá vỡ thức ăn và tiêu hóa hết protein, giải phóng khí và hơi trong bụng. Từ đó, thức ăn được chuyển hóa hết và không gây đầy bụng. Tuy nhiên, những người bị viêm loét dạ dày hoặc các bệnh dạ dày khác nên tránh ăn đủ đủ vì nó có thể khiến bệnh trầm trọng hơn.

– Ăn cần tây: Cần tây giúp giảm bớt lượng nước trữ trong cơ thể vì nó có tác dụng như một loại thuốc lợi tiểu. Khi lượng nước trong cơ thể giảm đi thì chứng đầy bụng cũng được đẩy lùi.

– Ăn măng tây: Măng tây khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn “tốt” trong đường ruột. Các vi khuẩn này có tác dụng làm giảm sự gia tăng của khí trong dạ dày và giảm chứng đầy bụng.

– Ăn sữa chua: Tuy sữa dễ gây đầy hơi nhưng sữa chua lại tốt cho đường ruột do chứa vi khuẩn lactobacillus, giúp tiêu diệt các vi khuẩn có hại gây đầy hơi.

– Tiêu thụ hạt tiêu đen: Tinh dầu của hạt tiêu đen có tác dụng xoa bóp dạ dày và tiêu hóa thức ăn, nhờ đó, không còn hiện tượng thức ăn và khí hơi lưu lại ở dạ dày nên tránh được tình trạng đầy bụng.

– Uống trà bạc hà trà: Trà bạc hà hỗ trợ tiêu hóa bằng cách giúp thức ăn được “xử lý” qua dạ dày một cách nhanh chóng. Bạn có thể dùng trà bạc hà đóng gói sẵn trong túi hoặc lá bạc hà tươi vì cả hai đều có tác dụng loại bỏ chứng đầy hơi, đày bụng khó chịu.

Ngoài ra, nếu không áp dụng những cách trên, bạn có thể trị đầy bụng bằng các cách sau đây:

– Uống trà gừng nóng, chiêu từng ngụm nhỏ.

– Uống nước chanh gừng, gồm nước ấm pha với một thìa mật ong, hai thìa nước cốt chanh và vài lát gừng.

– Ăn vài lát gừng tươi chấm muối.

– Xoa nhẹ nhàng vùng bụng, xoa vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới rồi quay lại. Có thể bôi chút dầu nóng khi thoa.

Theo afamily

Nhận biết ung thư ruột

Ung thư ruột là một trong những loại ung thư có khả năng điều trị thành công nếu được phát hiện sớm. Dưới đây là cách giúp giảm thiểu nguy cơ từ căn bệnh này.

1. Nhận biết các dấu hiệu bệnh

Ung thư ruột có một vài dấu hiệu cảnh báo sớm và phát triển nhiều năm trước khi lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Đối với nhiều người, đi ngoài ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Nếu phát hiện dấu hiệu này hay có những triệu chứng khác thường trong thói quen vệ sinh, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bác sĩ Rosemary Lester tại Victoria’s Chief Health còn cho biết: “Những dấu hiệu khác bao gồm tiêu chảy hoặc táo bón, chướng bụng và thường xuyên cảm thấy mệt mỏi”.

ung-thu-duong-mat

2. Chú ý tiền sử mắc bệnh của các thành viên trong gia đình

Cần có những hiểu biết về bệnh sử của gia đình bạn. Đối với một số người, ung thư ruột có thể di truyền trong gia đình bởi những tổn thương trong gene truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu một người họ hàng gần đã mắc bệnh này, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 50 tuổi khi được chẩn đoán bệnh, bạn cần trao đổi với bác sĩ của mình.

3. Thường xuyên kiểm tra sàng lọc ung thư ruột

Việc kiểm tra thường xuyên nhằm phát hiện polyp và ung thư ở giai đoạn đầu, tạo điều kiện cho việc chữa trị sau này. Phó giáo sư Graham Newstead từ Bowel Cancer Australia khuyến khích mọi người tham gia xét nghiệm FOBT (faecal occult blood test – xét nghiệm máu ẩn trong phân) bởi việc này rất đơn giản, không đau đớn, đồng thời tỷ lệ sống sót khoảng 90% đối với những người được chữa trị sớm.

4. Giảm lượng cholesterol trong cơ thể

Thuốc statins nhằm giảm cholesterol thường được những bệnh nhân tim mạch sử dụng. Tuy nhiên, hiện thuốc này được cho là làm giảm nguy cơ ung thư ruột khoảng 82% trong 5 năm. Đây chính là kết luận của nhóm bác sĩ tại Bệnh viện đại học Norwich, những người chứng minh mối liên hệ giữa hàm lượng cholesterol cao và ung thư ruột. Mặc dù vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa nhưng việc giảm cholesterol vẫn tốt cho sức khỏe ở nhiều phương diện khác nhau.

5. Bổ sung nhiều chất xơ

Các nhà nghiên cứu đã so sánh số liệu từ 2 triệu người và nhận thấy việc tăng cường hấp thụ chất xơ khoảng 10 g một ngày có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột khoảng 10%. Dường như chất xơ từ ngũ cốc cung cấp sự bảo vệ nhiều hơn từ trái cây và rau củ, vì vậy nên ăn nhiều bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, gạo lức. Theo các bác sĩ, chất xơ giảm thời gian những chất thải tồn tại trong ruột và kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột.

6. Ăn đậu hạt và trái cây khô

Một nghiên cứu cho thấy việc ăn đậu hạt các loại như đậu lăng và đậu đỏ 3 lần một tuần giảm thiểu sự hình thành polyp trong ruột tới 30%. Theo tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Yessenia Tantamango, đậu hạt, trái cây khô và gạo lức chứa hàm lượng chất xơ cao, được biết đến với tác dụng làm giảm các tác nhân gây ung thư, do đó chúng trở thành những “vũ khí” lợi hại trong việc chống ung thư ruột.

7. Chú ý tới chế độ ăn uống, giảm béo

Béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt đối với nam giới. Tuân theo một chế độ ăn uống hợp lý có thể ngăn ngừa tới 1/3 khả năng ung thư ruột. Các chuyên gia cũng khuyến cáo việc hạn chế sử dụng rượu, caffeine và thịt đỏ. Cần giảm hấp thụ thịt đỏ và những loại thịt đã chế biến sẵn như xúc xích, thịt muối xông khói, giăm bông bởi chúng có liên quan tới việc gia tăng nguy cơ ung thư ruột.

Theo VnExpress

5 bí quyết giảm cân nghe lạ tai nhưng có hiệu quả thật

Đôi khi bạn có thể bắt gặp những biện pháp giảm cân nghe rất lạ tai và bạn nghĩ rằng nó thật là phi lý, không hiệu quả. Nhưng thực tế có thể hoàn toàn ngược lại.

Dưới đây là 5 biện pháp giúp giảm cân rất tốt nhưng có thể bạn lại không hề tin từ trước đến nay.

1. Giảm cân với chuối

Hầu hết chị em muốn giảm cân đều biết bí quyết: ăn chuối giảm cân. Nhưng không phải ai cũng rõ nguyên do ăn chuối lại có thể giúp mình giảm cân.

Thực tế trong chuối có chứa hàm lượng enzym cao, giúp thúc đẩy quá trình tiêu hóa và chuyển hóa năng lượng, giảm thiểu lượng mỡ thừa tích lại cơ thể. Ăn chuối còn cung cấp nhiều tinh bột cho cơ thể, nhờ đó, bạn sẽ có cảm giác no lâu, không thèm ăn. Ngoài ra, chất tinh bột trong chuối còn giúp đốt cháy chất béo trong cơ thể, chất kali phong phú trong chuối kích thích sự phát triển cơ bắp, từ đó cải thiện tình trạng đốt cháy mỡ thừa, giúp giảm cân hiệu quả.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that

2. Giảm cân với cơm nguội

Cùng là cơm nhưng tại sao cơm nóng lại không có tác dụng giảm cân trong khi cơm nguội lại có hiệu quả này? Câu trả lời là: thành phần tinh bột trong cơm nóng khi vào cơ thể sẽ kích thích hoạt động của của dạ dày và hệ thống tiêu hóa khiến cho quá trình tiêu hóa diễn ra nhanh hơn, bạn sẽ nhanh đói hơn.

Trong khi đó, nếu ăn cơm nguội, thành phần kháng tinh bột sẽ kìm hãm sự hoạt động của cơ quan tiêu hóa khiến cho việc tiêu hóa chậm lại, giúp cơ thể không dễ dàng hấp thụ chất kháng tinh bột, do đó nó không được chuyển hóa hết thành năng lượng mà đào thải ra ngoài cơ thể.

Hơn nữa, chất kháng tinh bột còn có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu, ức chế bài tiết insulin, từ đó cản trở quá trình tổng hợp chất béo trong cơ thể nên giảm tình trạng mỡ thừa gây tăng cân.

5-bi-quyet-giam-can-nghe-la-tai-nhung-co-hieu-qua-that1

3. Giảm cân với dầu ăn

Từ trước đến nay bạn vẫn nghĩ rằng tất cả các loại dầu ăn đều không có lợi cho mục đích giảm cân. Nhưng thực tế, một số chất béo lành mạnh lại có tác dụng chống lại chất béo trong cơ thể. Hai loại dầu được cho rằng có tác dụng này là dầu dừa và dầu ôliu.

Dầu dừa chứa ít calo hơn các loại dầu khác (6,8Kcal/gram dầu dừa so với 9Kcal/gram dầu khác). Hơn nữa, năng lượng trong dầu dừa gần giống như carbohydrate  vừa dễ tiêu hóa lại có thể được gan “đốt cháy” nhanh chóng để chuyển thành năng lượng và tránh tạo thành mỡ thừa tích trữ trong cơ thể. Dầu ôliu rất giàu axit béo không bão hòa đơn mà chất béo này lại có tác dụng giúp mỡ ít tích trữ trong cơ thể. Bên cạnh đó, dầu ôliu còn chứa hàm lượng lớn adiponectin – một loại hormone giúp phá vỡ các thành phần chất béo trong cơ thể.

Đó chính là lý do tại sao 2 loại dầu này lại có tác dụng giúp bạn tránh tăng cân.

4. Giảm cân nhờ kem đánh răng bạc hà

Đã bao giờ bạn nghĩ rằng kem đánh răng có vị bạc hà có thể hạn chế sự thèm ăn của bạn? Thực tế đúng là vậy. Mùi vị bạc hà không những có thể lấn át được mùi thức ăn mà nó còn khiến bạn không còn cảm giác thèm ăn.

Hơn nữa, sau mỗi lần đánh răng, bạn sẽ có cảm giác răng sạch sẽ và từ đó cũng ngại chuyện ăn uống nên cũng hạn chế được việc bổ sung calo vào cơ thể.

Theo các chuyên gia sức khỏe, mùi bạc hà giúp bạn tỉnh táo, giảm đi sự mệt mỏi, tăng cảm giác no nếu như bạn vừa ăn trước đó. Hương vị dễ chịu và the mát của bạc hà sẽ truyền đến rất nhanh cơ quan vị giác và khứu giác, làm giảm khả năng thèm ăn của bạn.

Thói quen này không chỉ giảm cân hiệu quả và an toàn mà còn giúp bạn có một hàm răng chắc khỏe.

5. Giảm cân nhờ cười

Nụ cười của bạn không đơn thuần chỉ làm tinh thần vui vẻ, sáng khoải mà còn giúp bạn đốt cháy lượng calo đáng kể. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ thực hiện trên 100 người vừa được công bố cho thấy, nếu giữ được mật độ cười đều  đặn mỗi ngày, thì trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Khảo sát được thực hiện với hơn 100 tình nguyện viên. Những người này được cho xem các chương trình hài hước trên tivi (họ không được báo trước về các chương trình mình sẽ xem).

Kết quả cho thấy những người cười nhiều thì sẽ tăng tốc độ trao đổi chất lên 20% so với bình thường. Nghĩa là, nếu cười 10-15 phút/ngày, cơ thể sẽ giảm được từ 10-40 calorie, cười như vậy đều đặn mỗi ngày, trong 1 năm có thể giảm được 2 kg.

Cười có thể giúp giảm cân là bởi vì, khi cười nhiều, bạn sẽ đẩy lùi trạng thái căng thẳng. Căng thẳng là nguyên nhân khiến cơ thể bạn lưu trữ chất béo  do cơ thể sản xuất ra hormone drenalin, corticotrophin và cortisol, khiến chúng ta cần thêm năng lượng ngay lập tức. Do đó, bạn càng ăn nhiều hơn. Cười nhiều chính là một cách giảm nhu cầu nạp năng lượng, từ đó bạn cũng tránh được nguy cơ tăng cân.

Theo afamily

Ăn nhiều đã thực sự tốt

Cuộc sống đang từng ngày phát triển, nhu cầu của con người cũng tăng theo những biến đổi xã hội. Các thực phẩm dinh dưỡng ngày càng đa dạng, các sản phẩm được sản xuất trong nước cũng như ngoại nhập đang có mặt ở tất cả các chợ, siêu thị, từ thành thị đến nông thôn.

Điều này gây không ít bối rối cho các bậc phụ huynh khi phải lựa chọn những sản phẩm dinh dưỡng cho con em mình. Có người nghĩ hàng ngoại là tốt, có người nghĩ hàng nội tốt hơn. Người khác lại nghĩ rằng, cứ cho con mình ăn đầy đủ, ăn nhiều sẽ khỏe. Thực tế thì, ăn uống thế nào mới khoa học, mạnh khỏe? Có phải cứ ăn nhiều là đủ chất?
an_giam_can_cho_tre_1
Một số phụ huynh nuôi con theo quan điểm trẻ thích gì thì cho ăn đấy, vì trẻ sẽ ăn được nhiều những món mình thích. Thật ra, như thế không phải là tối ưu, vì theo các nhà khoa học, các chuyên gia dinh dưỡng, mỗi bữa ăn của trẻ nên đầy đủ các chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng… theo tỷ lệ phù hợp với từng độ tuổi, từng giai đoạn phát triển. Vì vậy, tùy vào từng giai đoạn của trẻ mà điều chỉnh các thành phần cho hợp lý.

Nhiều năm về trước, do điều kiện kinh tế khó khăn, các bậc phụ huynh nuôi con chỉ mong con đủ no đã là tốt rồi, không dám nghĩ đến việc liệu có đủ dưỡng chất hay không. Ngày nay con trẻ không chỉ được ăn no thôi mà mong muốn của các bậc phụ huynh là con mình phải được ăn uống đầy đủ nhất, phát triển tốt nhất về thể chất và trí tuệ. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cho con ăn như thế nào là đủ và đúng, một số phụ huynh quan niệm rằng cứ “ăn nhiều là tốt”, mà không biết rằng ăn đúng và đủ mới là tốt nhất. Và sai lầm là ở chỗ đó, các bé có thể ăn nhiều, ăn no nhưng chưa cân đối về mặt dinh dưỡng, nếu các chất cung cấp cho cơ thể quá dư hoặc quá thiếu sẽ dẫn đến việc các bé có thể bị béo phì, suy dinh dưỡng hoặc một vài bệnh khác liên quan đến sự phát triển tầm vóc của trẻ.

Không những trẻ em, người lớn cũng vậy, khi có những sai lầm trong việc ăn uống sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho sức khỏe. Nhiều người than phiền “tôi ăn rất nhiều nhưng sao vẫn gầy”, hay “tôi đã cố nhịn ăn, nhưng tôi không giảm cân được”. Nguyên nhân là do chế độ ăn không phù hợp, không cân bằng về năng lượng và thành phần các chất dinh dưỡng.

Hiểu được nhu cầu của xã hội, với kiến thức chuyên môn vững vàng và bằng trái tim của người làm cha mẹ, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã không ngừng nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt dành cho các độ tuổi khác nhau, từ Nuti IQ Mum dành cho phụ nữ mang thai, Nuti IQ giúp phát triển trí thông minh, NuVita Grow dành cho trẻ từ 3 tuổi trở lên giúp phát triển chiều cao, thể trạng. Và mới đây nhất, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã nghiên cứu thành công dòng sản phẩm Grow Plus+ dành cho trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, đáp ứng đúng mong đợi của các bậc cha mẹ.

Từ góc nhìn của các chuyên gia NutiFood, với tâm niệm: “Trước khi trở thành một chuyên gia, chúng tôi nhìn cuộc sống bằng trái tim của người làm cha làm mẹ”, NutiFood hiểu rằng, sự phát triển của con cái luôn là niềm vui của cha mẹ. Nhìn thấy trẻ lớn lên khỏe mạnh từng ngày chính là động lực để các chuyên gia NutiFood làm việc tốt hơn, cho ra đời những sản phẩm dinh dưỡng tốt nhất, phù hợp nhất với thể trạng người Việt. Chỉ vì một lẽ: “Mỗi sản phẩm NutiFood chính là giải pháp của chuyên gia, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cộng đồng và vì một thế hệ trẻ em Việt Nam cao lớn, khỏe mạnh, thông minh”

Theo  Dantri

Đau khi bị thoái hóa cột sống: Cách khống chế

Nguyên nhân chính thoái hóa cột sống (THCS) là do tuổi tác nhưng cũng có các trường hợp THCS do các nguyên nhân khác, còn gọi là thoái hóa cột sống thứ phát. Nguyên nhân phổ biến nhất là sau chấn thương như sau ngã, tai nạn, do nghề nghiệp phải sử dụng nhiều cột sống như mang vác, bưng bê, nhấc, xách các đồ vật, trong lao động hay trong công việc hằng ngày tại gia đình. Một số bệnh cột sống mắc phải như viêm đốt sống đĩa đệm, đau thần kinh tọa, dị dạng phát triển cột sống (gai đôi cột sống, quá phát mỏm ngang đốt sống), khuyết tật di truyền, béo phì, đái tháo đường, suy giáp, cường cận giáp, gút… cũng để lại biến chứng THCS. Ngoài ra, thiếu dinh dưỡng có thể gây nên THCS. Đặc điểm của THCS là gây những cơn đau lưng. Vậy làm thế nào để khống chế và phòng ngừa?

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_01

Đau cột sống thắt lưng

Khống chế những cơn đau lưng khi bị THCS

Mục tiêu của điều trị THCS là sớm loại bỏ các yếu tố nguy cơ, chẩn đoán sớm, điều trị giảm đau thích hợp. Giúp bệnh nhân phục hồi khả năng vận động cũng rất quan trọng. Điều trị THCS kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc, đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả can thiệp ngoại khoa, do các bác sĩ chuyên khoa đảm nhiệm. Khi bị đau lưng, bệnh nhân cần đến khám bác sĩ để chẩn đoán chắc chắn và có biện pháp điều trị thích hợp. Tránh trường hợp tự chữa hay chữa mò, chỉ làm mất triệu chứng bệnh, chuốc vào nhiều tai biến hay biến chứng của bệnh khi bệnh tiến triển vào giai đoạn muộn, nói tóm lại là tiền mất tật mang. Khi đau thắt lưng cấp thì bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường trong vài ngày. Điều trị dùng thuốc bao gồm: dùng các thuốc giảm đau như paracetamol, thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, celebrex, thuốc tăng cường sụn khớp như glucosamin sulfat chondroitin, artrodar… Chú ý nên uống thuốc khớp sau khi ăn, uống thuốc với nhiều nước để tránh tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Có thể  xoa bóp, bấm huyệt nhẹ nhàng vùng cột sống bị tổn thương hay tác động cột sống. Một số biện pháp vật lý trị liệu có ích như  đắp paraffin, hồng ngoại, dùng túi chườm, điện di thuốc giảm đau, dùng sóng siêu âm. Khi đi lại, bệnh nhân cần sử dụng dụng cụ hỗ trợ như gậy, khung chống, đai lưng. Khi đau nhiều mà chưa có điều kiện đi khám bác sĩ thì nên nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động nặng, dùng kem bôi thuốc kháng viêm non-steroid hoặc uống thuốc giảm đau như paracetamol. Khi cơn đau đã giảm, có thể tập thể dục nhẹ nhàng. Khi đi khám bác sĩ và đã có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Người bệnh cần xác định đây là dạng bệnh mạn tính và phải điều trị lâu dài.

Phòng bệnh và hạn chế các hậu quả của bệnh THCS

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_02

Xoa ấn vùng cột sống

Cần phòng bệnh THCS ngay từ khi còn nhỏ. Đầu tiên là có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Cần ăn nhiều thức ăn giàu các chất chống oxy hóa như vitamin C và E (có nhiều trong các loại rau, quả). Vitamin D và canxi cần thiết cho sức khỏe khung xương, cần dùng 1.000 – 1.200mg canxi và 400 UI vitamin D mỗi ngày. Cần giảm cân nếu béo phì. Trong sinh hoạt hằng ngày, cần luôn giữ tư thế đúng ngay cả khi nằm ngủ, ngồi, đứng. Người làm việc ở văn phòng không nên ngồi quá lâu. Khi ngồi làm việc 1 giờ, phải đứng dậy, vươn vai, làm động tác thể dục thư giãn hay đi lại trong khoảng 5 -10 phút. Tập thể dục thường xuyên giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, giúp cho sụn khớp phát triển.

Để dự phòng THCS thắt lưng, có thể tập một số động tác làm mạnh các cơ vùng thắt lưng như tập nghiêng xương chậu, tập cơ bụng, tập khối cơ cạnh sống. Có thể đi bộ, bơi lội, thái cực quyền, tập thể dục nhịp điệu. Cần tránh các môn thể thao đối kháng mạnh. Đối với người phải mang vác, lao động nặng thì không nên mang vác quá sức hay ở tư thế xấu.

Khi đã bị THCS cổ thì cách điều trị tốt nhất là tuân thủ các chế độ điều trị do bác sĩ chuyên khoa đưa ra, đồng thời giảm tải các tác động có hại lên cột sống cổ. Cần có tư thế ngồi, làm việc thẳng. Không mang vác, xách đồ nặng. Khi ngủ không nên kê gối quá cao. Cần nghỉ ngơi giữa giờ làm việc. Có thể xoa bóp, bấm huyệt vùng cổ để giảm co thắt cơ.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Chế độ dinh dưỡng phòng, chữa đau khớp

Trong những ngày mùa đông giá rét hay khi mưa phùn gió bấc, nhiều người, nhất là người lớn tuổi thường hay than phiền về những cơn đau chân, tay, đau nhức mình mẩy hay sưng các khớp gối, lên xuống cầu thang khó khăn. Đó có thể là những biểu hiện tái phát của căn bệnh thoái hóa khớp. Ngoài thuốc, chế độ ăn uống có thể góp phần phòng, chống chứng bệnh này.

Thoái hóa khớp (THK) là một bệnh khớp của người cao tuổi. Khi cơ thể già đi, bị lão hóa thì các khớp cũng bị lão hóa theo. Đó chính là bệnh THK. Tuy bệnh thường xảy ra ở người cao tuổi nhưng không phải người cao tuổi nào cũng mắc bệnh này. Ngay cả những cụ trên 70 tuổi thì chỉ có 80% mắc bệnh THK. Người ta chỉ nói về THK khi người cao tuổi có các triệu chứng đau khớp, hạn chế vận động hay sưng khớp, biến dạng khớp. Những người có dị dạng khớp, thừa cân béo phì, chấn thương khớp, khi trẻ lao động nặng thì đến tuổi trung niên hoặc về già cũng dễ mắc bệnh này. Vậy làm thế nào để có được chế độ ăn uống phù hợp để dự phòng và giảm nhẹ căn bệnh THK?.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_01

Canh xương hầm tốt cho người bệnh khớp

Chế độ dinh dưỡng trong bệnh THK

Về thịt thì có thể ăn thịt lợn, thịt gia cầm (gà, vịt), tôm, cua. Đặc biệt là nên ăn cá nước lạnh như cá hồi, cá ngừ vì chúng chứa nhiều acid béo omega-3. Nhiều người quan niệm “ăn gì bổ nấy”, do vậy để phòng ngừa THK, họ thường ăn những món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn. Về mặt khoa học, nước hầm từ xương ống hay sụn sườn bò và bê có chứa nhiều glucosamin và chondroitin là những hợp chất tự nhiên trong sụn, có tác dụng giúp sụn chắc khỏe. Ngoài ra, các món ăn nấu từ xương ống hoặc sườn còn có thể bổ sung nguồn canxi quí báu cho cơ thể. Việc ăn các món ăn từ tôm, cá hầm cả xương cũng giúp bổ sung canxi. Những người cao tuổi nếu có điều kiện thì nên sử dụng những “dược liệu” tự nhiên này.

Về thực vật thì cần ăn đầy đủ các loại ngũ cốc. Ngoài ra, một số thực vật như đậu nành, rau xanh, hạt mầm có đặc tính chống bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch, kháng oxy hóa.

Về hoa quả thì nên ăn đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, hai hoạt chất có tác dụng kháng viêm. Đặc biệt hiện nay người ta đã phát hiện được tác dụng chữa THK của quả bơ kết hợp với đậu nành. Các cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy rằng các chất trong trái bơ hay đậu nành có thể kích thích tế bào sụn sinh trưởng collagen, một thành phần protein chủ yếu của gân, sụn và xương. Trong một cuộc nghiên cứu, những người bị THK gối hay khớp háng được cho uống trái bơ hay đậu nành trong vòng 6 tháng thấy giảm các triệu chứng của THK và không phát hiện thấy tác dụng phụ gì cả. Một số gia vị như ớt, hạt tiêu, gừng, lá lốt đều có tác dụng chống viêm, giảm đau đối với bệnh THK. Thậm chí người ta còn phân tách được từ ớt hoạt chất capsain có thể bôi chữa sưng đau khớp thoái hóa.

che_do_dinh_duong_phong_chua_dau_khop_02

Người bệnh khớp ăn cà chua không nên bỏ hạt

Nấm và mộc nhĩ: có nhiều loại nấm rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi. Các món ăn chế từ nấm như canh nấm đông cô, lẩu nấm, nấm hương xào thập cẩm rất được ưa chuộng. Không chỉ là món ăn ngon, các loại nấm còn có tác dụng tăng cường sức đề kháng cơ thể, chống lão hóa, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch… là các bệnh thường hay gặp ở người cao tuổi. Mộc nhĩ và nấm hương là những thực phẩm gia vị được dùng phổ biến để nấu cỗ, trong các dịp Tết lễ. Tuy nhiên, mộc nhĩ còn có tác dụng hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch. Mộc nhĩ còn chứa một loại polysaccharid có khả năng tăng cường miễn dịch trong cơ thể người để chống chất phóng xạ và ức chế khối u. Nấm hương được mệnh danh là “vua của các loại nấm” còn có tác dụng chống viêm, chữa cơ thể suy nhược, chứng chân tay tê bại. Y học hiện đại coi nấm hương như một nguồn bổ sung đáng kể lượng vitamin D2 để phòng và chống bệnh còi xương, trị chứng thiếu máu. Đó là do chất ergosterol có trong nấm hương, dưới tác dụng của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành vitamin D2.

Nấm hương, mộc nhĩ có thể kết hợp với súp lơ xanh, cà rốt, ớt đỏ để tạo thành món nấm hương xào thập cẩm, không chỉ ngon mà còn có khả năng phòng bệnh THK. Cà rốt và ớt rất giàu vitamin A và E, hai nhân tố cần thiết để bảo vệ bao khớp và đầu xương. Súp lơ xanh là thực phẩm giàu vitamin K và C, giúp cho xương khớp chắc khỏe. Ngoài ra ăn cà chua cũng rất có lợi cho khớp.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý rất quan trọng. Hiện nay, các thực phẩm chức năng đang rất phổ biến, nhưng giá cả còn tương đối cao, không phải ai cũng có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên nếu chỉ chú ý một chút, chúng ta có thể lựa chọn thực phẩm hàng ngày là các thức ăn tự nhiên nhưng cũng có các công dụng phòng chống THK có hiệu quả. Trong dân gian có rất nhiều thực phẩm có thể trở thành bài thuốc phòng ngừa hoặc làm giảm những cơn đau do viêm xương khớp, trong khi đó thì nhiều người thường “ngại” dùng thuốc. Có một số thực phẩm giúp cho phòng bệnh THK nói riêng và tốt cho sức khỏe xương khớp nói chung.

 

Có quan điểm cho rằng khi chế biến cà chua phải bỏ hạt vì ăn phải thì dễ bị viêm xương khớp. Trên thực tế không đúng như vậy. Ăn cà chua rất có lợi vì có thể làm bớt đau khớp. Hạt cà chua không những không có hại mà còn có thể thay thế aspirin, có tác dụng giảm đau, chống viêm khớp.

Tuy nhiên có một số thực phẩm không có lợi cho những người cao tuổi như các chất béo (dầu, mỡ các loại), chất ngọt như kẹo, bánh, đồ uống ngọt thì nên hạn chế.

Về đồ uống, các nghiên cứu của các nhà khoa học Thụy Điển đã chứng tỏ uống rượu vang có điều độ có thể làm giảm một nửa nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp mạn tính.

Tóm lại, nếu chúng ta biết cách lựa chọn các thực phẩm bổ dưỡng và phối hợp sử dụng chúng thường xuyên thì có thể nấu được những món ăn rất ngon miệng mà lại có tác dụng phòng chống bệnh THK.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa Khớp – BV Bạch Mai)
Theo SKĐS

Dự phòng bệnh gút tái phát

Gút là một bệnh liên quan rất nhiều đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, thường gặp ở nam giới và tuổi trung niên. Tuy bệnh được biết đến từ rất lâu nhưng thực tế việc điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là khi gút tái phát.

du_phong_benh_gut_tai_phat_01

Ăn phủ tạng động vật dễ làm bệnh gút tái phát

Bệnh gút dễ tái phát

Bốn nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu là: do tăng tổng hợp  purines và tăng cung cấp qua đường ăn uống; tăng dị hoá các acid  nhân nội sinh (tiêu tế bào, dùng thuốc điều trị ung thư); giảm thải trừ acid uric qua thận (suy thận); dùng thuốc: lợi tiểu, pyrazynamid, corticoid, aspirin liều thấp.

Điều trị cơn gút cấp thường không khó nhưng dự phòng tái phát bệnh, tránh những đợt viêm khớp tái phát và ngăn chặn bệnh chuyển sang mạn tính thường không dễ. Rất nhiều bệnh nhân và ngay cả nhiều thầy thuốc chỉ điều trị viêm khớp cấp tính, sau vài ngày hết viêm khớp tưởng đã khỏi nên không có điều trị duy trì tiếp theo. Hậu quả là sau một thời gian ngắn một đợt viêm khớp cấp tính mới lại xuất hiện và bệnh diễn biến nhanh chóng đến gút mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề như phá hủy khớp, nổi u cục dưới da (cục tophi), sỏi thận, suy thận… Do đó việc điều trị tốt dự phòng cơn gút tái phát đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm hạn chế tối đa tác hại của bệnh đối với hệ xương khớp và hệ tiết niệu.

Làm thế nào để phòng ngừa bệnh tái phát hiệu quả?

Mục đích của điều trị dự phòng cơn gút tái phát là làm hạ thấp acid uric xuống dưới mức bình thường, bằng cách tác động trên các nguyên nhân gây bệnh kể trên thông qua các biện pháp sau:

Chế độ ăn cho bệnh nhân gút là ăn giảm đạm (100-150g thịt/ngày) ăn giảm kalo, giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý. Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5l/ngày). Kiềm hoá nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%.

Những thực phẩm không nên ăn: tránh thức ăn giàu purine (phủ tạng động vật như gan, óc, tim, lòng, bầu dục, một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại…). Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả. Bỏ thức uống có cồn  như rượu, bia…

Tránh lao động quá mức, tránh các yếu tố có thể khởi phát cơn gút như chấn thương…

Khi cần phải phẫu thuật hoặc mắc một bệnh toàn thân nào đó, phải chú ý theo dõi sát lượng acid uric máu để điều chỉnh kịp thời.

Cố gắng loại bỏ mọi thuốc có thể làm tăng acid uric máu nếu có thể (corticosteroid, lợi tiểu…) hoặc thay bằng các thuốc khác.

Nếu chế độ ăn đạt hiệu quả, tức là không có các cơn thường xuyên, acid uric máu dưới 60 mg/l (360 mmol/l), không có hạt tophi và tổn thương thận thì ta chỉ cần duy trì chế độ sinh hoạt và ăn uống như trên là đủ. Nếu không, chúng ta phải dùng thêm các thuốc làm giảm acid uric máu.

du_phong_benh_gut_tai_phat_02

Hạt tophi trong bệnh gút ở khớp ngón

Biện pháp dùng thuốc:

Colchicin: Ngoài chỉ định trong điều trị cơn gút cấp, colchicin còn được sử dụng với mục đích dự phòng các cơn gút tái phát. Thuốc không làm thay đổi nồng độ acid uric máu và sử dụng liều thấp (0;5-1 mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ (tiêu lỏng…) của thuốc để điều chỉnh hay kết hợp thuốc kịp thời.

Thuốc hạ nồng độ acid uric máu: Các thuốc ức chế tổng hợp acid uric do ức chế men xanthine- oxydase, gây hạ acid uric máu và niệu. Thuốc hay được sử dụng nhất là allopurinol (zyloric) được chỉ định trong mọi trường hợp gút, nhất là trường hợp có tăng acid uric niệu, sỏi thận, suy thận. Song không nên dùng allopurinol ngay trong khi đang có cơn cấp, mà nên đợi khoảng một tháng sau mới bắt đầu. Liều thường dùng tùy theo lượng acid uric máu mà chỉnh liều. Trị liệu này có tác dụng ngăn các cơn gút cấp và làm các hạt tophi, sỏi tiết niệu nhỏ dần và có thể biến mất. Chú ý thuốc hay gây dị ứng và nếu xảy ra thì các tổn thương thường nặng.

Một số thuốc khác như các thuốc tăng thải acid uric qua thận, và ức chế hấp thụ acid uric ở ống thận (benémid, anturan,amplivix…) làm giảm acid uric máu, song làm tăng acid uric niệu, nên có thể gây sỏi thận. Thuốc tiêu acid uric (uricozyme) là enzym uric có tác dụng chuyển acid uric thành allantoine dễ hoà tan. Các thuốc này ít được sử dụng hơn.

Mặc dù là một bệnh rối loạn chuyển hóa đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài nhưng cho kết quả tốt nếu bệnh nhân tuân thủ tốt chế độ sinh hoạt, ăn uống và thầy thuốc sử dụng phối hợp các thuốc một cách hợp lý. Chúng ta có thể hoàn toàn phòng tránh được các biến chứng nặng nề của bệnh.

TS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Nổi lo biến chứng của bệnh gút

Khi mắc bệnh gút acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây tổn thương khớp. Ngoài ra acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tophi. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, bệnh gút đã trở nên rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ tư  trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.

Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử  vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp, là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận: sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp, từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng  thì việc điều trị gút cũng có thể gây nên  tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

noi_lo_bien_chung_cua_benh_gut

Tinh thể acid uric lắng đọng trong khớp ngón chân cái

Khó khăn khi điều trị bệnh gút

Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với  nhiều thuốc chữa gút như colchicin và  allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

Nguyên tắc điều trị bệnh gút

Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó thì mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hoá lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Cách phòng tránh bệnh gút

Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Bệnh nhân cần nhận thức rằng ăn uống  không khoa học là một yếu tố thức đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát, vì vậy cần phải hạn chế ăn nhậu quá mức. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân nếu béo phì và uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm. Do vậy bệnh nhân gút cần tuân thủ chế độ ăn kiêng. Thứ nhất, lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc. Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng. Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả. Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn. Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc.  Bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, 1,5-2 lít nước mỗi ngày. Đặc biệt là nên uống nước khoáng kiềm để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu. Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như: lạnh, lao động quá sức, chấn thương, stress… Ngoài ra bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu,  corticoid, aspirin.

TS.BS.Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Dinh dưỡng cho người bệnh xương khớp

Bệnh cơ xương khớp là bệnh của hệ thống vận động, bao gồm cơ, xương, khớp và các tổ chức quanh khớp (đầu xương, bao khớp, màng hoạt dịch, gân cơ và dây chằng). Có hơn 100 bệnh lý khớp, phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis), loãng xương (osteoporosis), gút (gout).

Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong bệnh lý khớp

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, gây đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, có thể dẫn đến tàn phế, mất khả năng lao động mà điều trị lại rất tốn kém. Các biện pháp điều trị chỉ nhằm đẩy lui những đợt bệnh cấp tính, vì vậy nhiều người bệnh đã tự tìm mọi cách để khống chế, nghe mách bảo lẫn nhau từ thuốc men đến cách ăn uống chọn lựa thực phẩm, thậm chí kiêng khem đến mức bị suy dinh dưỡng nhưng bệnh vẫn cứ ngày càng nặng dần.

dinh_duong_cho_nguoi_benh_xuong_khop

Cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học chứng minh loại thực phẩm nào có thể điều trị lành bệnh khớp hoặc gây ra bệnh. Ngoại trừ, bệnh gút dễ bị tấn công nếu chế độ ăn chứa quá nhiều chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Có một số loại thực phẩm có thể gây xuất hiện những đợt viêm khớp cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp và người bệnh cho chúng là nguyên nhân của bệnh, nhưng sự thật với người bệnh khác có thể không xảy ra.

Thực tế chỉ có một chế độ ăn hợp lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh, giúp người bệnh đủ khả năng chống lại những đợt bệnh tấn công, đồng thời cũng giúp người bệnh phòng một số bệnh mãn tính khác như: đái tháo đường, cao huyết áp, tăng cholesterol máu… góp phần làm nặng nề thêm bệnh khớp.

Thế nào là ăn uống hợp lý?

Đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để duy trì mức cân hợp lý. Cân nặng cơ thể gọi là hợp lý khi BMI = 18,5 – 23. Nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, trên 23 là thừa cân.

Nếu bị thiếu cân, cần tăng thêm năng lượng ăn vào để tăng cân. Ngoài 3 bữa chính nên thêm 2 – 3 bữa phụ, chú ý các món ăn giàu năng lượng như: chiên xào, sữa béo, thêm vào sau bữa chính các món ăn như: trái cây ngọt, bánh ngọt, tàu hủ… Lưu ý: sau những đợt viêm cấp sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, mất các chất dinh dưỡng, ăn uống kém do đau đớn, sốt, rất dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể giảm sức đề kháng. Do đó, càng phải ăn uống nhiều hơn.

Nếu bị thừa cân, cần giảm năng lượng ăn vào để giảm cân. Hạn chế các món ăn béo ngọt, chiên xào, không ăn nhiều vào cữ tối, thay vào đó là các món rau, đậu, trái cây. Tăng thời gian vận động thể lực để tăng tiêu hao năng lượng. Đặc biệt người bệnh thoái hóa khớp, loãng xương, gút hay gặp ở tuổi trung niên, có tình trạng thừa cân béo phì kèm theo làm tăng gánh nặng lên các khớp, gây đau đớn, hạn chế vận động có thể dẫn đến xẹp các đốt sống, mòn khớp, cứng khớp, biến dạng khớp. Ngoài ra, thừa cân béo phì còn là nguy cơ của các bệnh lý mãn tính khác như: tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, ung thư… Do đó, giảm cân sẽ giúp giảm gánh nặng cho khớp và giảm nguy cơ mắc bệnh.

Ăn đủ các chất dinh dưỡng cần thiết:

Ăn nhiều các loại rau quả: mỗi ngày nên ăn hơn 300g rau các loại và hơn 200g trái cây, để cung cấp đủ các vitamin nhóm B, C, E, -caroten, khoáng chất kali, magiê là những chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa các bệnh thoái hóa.

Ăn đủ thức ăn giàu đạm: đạm động vật như: thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, nghêu, sò. Đạm thực vật như: tàu hủ, bột đậu nành, các loại đậu đỗ. Mỗi ngày nên ăn trung bình 50g thịt, 50 -100g cá, 100g đậu hủ, 30g đậu đỗ, trứng 3 – 4 quả/tuần. Nếu cholesterol máu cao hoặc có sỏi mật ăn 1 – 2 quả/tuần. Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu cho thấy chất béo omega-3 có trong cá có thể giúp giảm viêm khớp.

Sữa: nên uống 2 – 3 ly/ngày. Nếu có thừa cân hoặc cholesterol máu cao thì thay bằng sữa tách béo. Sữa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất đặc biệt giàu canxi rất cần thiết cho người bệnh xương khớp.

Chất béo: nên ăn vừa phải, chọn các loại dầu thực vật như: dầu mè, dầu nành, dầu phộng… trung bình 20g/ngày. Nếu thừa cân nên giảm thức ăn chiên xào, ăn thịt nạc bỏ da, các món kho luộc hấp. Nếu thiếu cân suy dinh dưỡng, cần tăng thêm chất béo trong thức ăn.

Ăn đủ thức ăn giàu bột: cơm, mì, nui, bắp, khoai, củ… để không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì. Nên ăn gạo lức, thêm khoai củ, bắp để tăng chất xơ và các chất dinh dưỡng khác.

Tránh ăn quá mặn, quá ngọt: lưu ý ở các bệnh nhân tim mạch, đái tháo đường, thận. Một số thuốc điều trị bệnh khớp có tác dụng giữ natri, mất kali hoặc các thuốc tráng dạ dày dùng kèm có tác dụng giữ natri, canxi, magiê.

Tránh dùng rượu và các chất kích thích thần kinh: các chất này thường gây co cứng cơ, giảm tác dụng của thuốc, gây bất lợi trong điều trị.

Ăn uống trong bệnh gút

Bệnh gút là loại bệnh khớp duy nhất mà chế độ ăn đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người bệnh. Nên hạn chế những thức ăn giàu purin, làm tăng acid uric trong máu, đặc biệt trong những đợt bị gút cấp tính. Các thực phẩm dễ làm tăng acid uric trong máu được chia thành 2 nhóm.

Nhóm 1: nhiều purin: gan, cật, óc, lá lách, trứng cá, cá sardine, cá trích, cá hồi, heo, nấm, măng tây, bia, sô-cô-la, cacao…

Nhóm 2: chứa purin trung bình: heo, bò, gà, vịt, hải sản, cua, tôm, đậu đỏ, cải, bó xôi, bông cải.

Nhóm 3: chứa ít purin: ngủ cốc, bơ, dầu mơ, rau quả.

Các thức uống làm tăng acid uric máu: rượu, cà phê, trà, nước uống có coca.

Người bị bệnh gút nên loại bỏ thức ăn nhóm 1, đặc biệt các đợt gút cấp tấn công, hạn chế nhóm 2. Nên ăn thịt nạc, trứng, đậu hủ, sữa giảm béo. Rượu bia 1 – 3 ly/ tuần, nên uống nhiều nước 2 – 3 lít/ngày để tăng thải acid uric theo nước tiểu.

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, với những đợt tấn công cấp tính gây đau đớn, điều trị tốn kém nhưng lại hạn chế kết quả điều trị và có khả năng gây tàn phế, giảm chất lượng sống của người bệnh. Muốn điều trị tốt cần phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó ăn uống hợp lý sẽ giúp cho người bệnh đủ sức chống đỡ những cơn cấp tính, phòng ngừa một số bệnh lý mãn tính, đem lại một tinh thần sảng khoái, lạc quan trong cuộc sống.

BS. NGUYỄN THỊ ÁNH VÂN
Theo SKĐS

Vấn đề ăn uống với bệnh nhân gout

Đón năm mới chắc chắn sẽ có tiệc, có nhiều rượu, có nhiều thức ăn ngon, có những cuộc vui, có những cố gắng, vất vả lo toan… và chắc chắn cũng sẽ có ai đó không may phải chịu đựng sự đau đớn của cơn viêm khớp gout cấp. Trong khi đó, bệnh gout liên quan chặt chẽ đến chế độ ăn uống. Ăn uống điều độ có thể làm giảm bệnh, có thể ngăn ngừa bệnh và ngăn ngừa bệnh tiến triển xấu.

Nguyên nhân và biểu hiện của bệnh gout

Mặc dù nguyên nhân của rối loạn purine, gây bệnh Gout, hiện chưa rõ, nhiều khả năng là do những rối loạn tại gen, nhưng bệnh Gout đã được coi là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine ở người, làm tăng tổng hợp acid uric và/hoặc giảm thải acid uric ra ngoài, gây tăng acid uric trong máu, gây thêm một hoặc nhiều biểu hiện sau:

van_de_an_uong_voi_benh_nhan_gout

– Viêm một khớp cấp (thường ở ngón chân cái) được gọi là cơn Gout cấp.

– Có các khoảng hoàn toàn khỏi giữa các đợt viêm khớp cấp.

– Xuất hiện các tophy (u cục) ở khớp, quanh khớp, ở vành tai.

– Có sỏi thận (sỏi urate), suy thận mãn.

Ở giai đoạn đầu, bệnh Gout có những đặc điểm lâm sàng khá đặc trưng, đa số dễ nhận biết nếu được chú ý từ đầu:

– Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp.

– Thường bắt đầu vào cuối những năm 30 và đầu những năm 40 của cuộc đời, tuổi bắt đầu làm nên của những người đàn ông thành đạt.

– Khởi bệnh đột ngột bằng một cơn viêm khớp cấp với tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội, đột ngột ở một khớp làm người bệnh rất đau đớn, không thể đi lại được. Hiện tượng viêm thường không đối xứng và có thể tự khỏi sau 3-7 ngày. Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, nôn ói…).

– Bệnh diễn biến từng đợt, giữa các cơn viêm cấp có những giai đoạn các khớp hoàn toàn hết đau, người bệnh tưởng mình khỏi bệnh.

– Ở giai đoạn muộn, biểu hiện viêm ở nhiều khớp cả tay và chân, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, bệnh diễn biến liên miên không rõ từng đợt, giữa các đợt viêm cấp các khớp vẫn đau nhức, dần dâ gây biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ… hoàn toàn khỏi (những năm đầu).

Các yếu tố nguy cơ của bệnh gout

Tăng acid uric máu

Nếu chỉ có tăng acid uric máu đơn thuần, không phải là bệnh Gout, đây chỉ là một tình trạng rối loạn chuyển hóa purine, làm tăng acid uric trong máu (trên 7mg% hay trên 420mmol/L) nhưng chưa gây bệnh. Tăng acid uric máu đơn thuần có tỷ lệ khá cao: từ 4- 14% dân số (tùy từng dân tộc, từng quốc gia). Tình trạng này có thể xuất hiện rất sớm, ngay lúc dậy thì. Đa số trường hợp, tình trạng này hoàn toàn không gây triệu chứng gì, thường chỉ được tình cờ phát hiện khi làm xét nghiệm.

Tăng acid uric máu được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh Gout. Lượng acid uric máu càng cao, càng nhiều khả năng trở thành bệnh Gout.

Khoảng 5-10 % số người có tăng acid uric máu sẽ trở thành bệnh nhân Gout vào cuối thập niên thứ 3 trở đi (> 35 tuổi).

Ăn nhiều thức ăn chứa purine

Trên nhóm người có tăng acid uric máu, việc ăn nhiều thức ăn giàu purine sẽ làm tăng thêm tình trạng tăng acid uric máu sẵn có, thúc đẩy họ trở thành bệnh nhân Gout, làm nhanh tái phát các cơn Gout, khó kiểm soát bệnh và sớm trở thành Gout mạn.

Uống nhiều rượu

Việc uống nhiều rượu, rượu mạnh sẽ không những góp phần làm tăng thêm acid uric máu mà còn làm cho acid uric dễ dàng bị lắng đọng tại tổ chức, gây cơn Gout cấp, gây sỏi thận… Uống nhiều rượu còn ảnh hưởng tới gan, thận, dạ dày… tới các bệnh lý đi kèm như: tim mạch, huyết áp, rối loạn lipid máu.

Béo phì, cao huyết áp, rối loạn lipid máu

Các yếu tố này vừa là các yếu tố nguy cơ, vừa là các bệnh lý thường đi kèm với bệnh Gout. Nếu không được kiểm soát tốt, các yếu tố này gây ảnh hưởng xấu tới bệnh và ngược lại nếu các yếu tố này được điều chỉnh tốt sẽ góp phần làm bệnh Gout dễ điều trị hơn.

Tại sao bệnh gout lại gia tăng

Trong vài thập niên gần đây, số lượng bệnh nhân Gout gia tăng rất nhanh trên toàn thế giới. Cùng với sự thay đổi về kinh tế – xã hội, mô hình bệnh tật của nước ta đã có những thay đổi sâu sắc. Cũng như nhiều bệnh lý chuyển hóa khác (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì…) bệnh Gout đã trở nên rất thường gặp trong thực tế lâm sàng. Mới đây, tại Hội nghị Thấp khớp học châu Âu ở Paris tháng 6/2008, tác giả Roddy. E và cộng sự đã nêu ra những nguyên nhân chính làm bệnh Gout gia tăng trên toàn thế giới, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi đáng kể về lối sống và các điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay:

– Tăng tiêu thụ bia và rượu trong cộng đồng.

– Tăng sử dụng thiazide và liều nhỏ aspirin cho các bệnh lý tim mạch.

– Tăng sử dụng các thức ăn giàu purine.

– Gia tăng các bệnh lý chuyển hóa (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…) và béo phì.

– Gia tăng tuổi thọ, tăng tỷ lệ người trên 65 tuổi trong cộng đồng (người ta nhận thấy, có mối liên quan giữa sự lắng đọng các tinh thể urate và sụn khớp bị thoái hóa, vì vậy nguy cơ bị bệnh sẽ gia tăng theo tuổi).

– Gia tăng và kéo dài thời gian sống của các bệnh nhân suy thận mãn.

Chế độ ăn uống của người tăng acid uric máu và bệnh gout

Không dùng

van_de_an_uong_voi_benh_nhan_gout02

Không ăn phủ tạng động vật.

Không uống nhiều rượu mạnh. Không ăn các thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc…, hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi. Không ăn mỡ động vật, không ăn đường.

Dùng hạn chế

Hạn chế protid (<1g protein/kg/ ngày tương đương < 200g thịt nạc mỗi ngày).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) đồ biển (tôm, cua…).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) các loại đậu hạt, măng tây.

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) chocolate, cacao, trà, cà phê.

Dùng nhiều

Các loại rau xanh, trái cây tươi.

Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.

Các loại ngũ cốc.

Sữa, trứng.

Chế độ sinh hoạt

Chống béo phì.

Tăng cường vận động.

Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…

Chế độ ăn uống có thay thế được thuốc không?

Đối với bệnh Gout

Trong đa số trường hợp, chế độ ăn uống góp phần điều trị cho bệnh Gout và các bệnh kèm theo (cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu…) chứ không thể thay được thuốc. Thực hiện tốt chế độ ăn uống có thể giảm bớt số lượng thuốc, số loại thuốc cần dùng, giảm bớt các hậu quả xấu của bệnh.

Chế độ ăn uống được sử dụng để thay thế thuốc trong một số ít trường hợp, người bệnh không dùng được các thuốc làm hạ acid uric (dị ứng thuốc, suy thận, suy gan…).

Đối với tình trạng tăng acid uric máu

Chế độ ăn uống và chế độ sinh hoạt sẽ giúp phòng ngừa bệnh Gout, làm giảm số người trở thành bệnh nhân Gout.

Như vậy, chế độ ăn uống không thể thay thế được các thuốc điều trị bệnh Gout, nhưng có một vai trò quan trọng trong điều trị, góp phần làm bệnh Gout và các bệnh kèm theo dễ kiểm soát hơn, giảm bớt liều thuốc phải dùng, giảm bớt số thuốc phải dùng. Chế độ ăn uống càng quan trọng hơn khi người bệnh bị dị ứng với các thuốc làm giảm acid uric máu, hoặc vì một lý do nào đó không sử dụng được các thuốc này. Chế độ ăn uống còn là biện pháp chính, không thể thiếu được trong việc phòng ngừa bệnh Gout cho các đối tượng có tăng acid uric máu đơn thuần.

Các bệnh rối loạn chuyển hóa ở người thường đi kèm với nhau, ngày càng gia tăng và đang là một hiểm họa lớn cho loài người trong thế kỷ 21. Hội chứng chuyển hóa kinh điển gồm 4 biểu hiện: béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Nay thêm một biển hiện thứ 5 là tăng acid uric máu, nói cách khách, các bệnh nhân béo phì, cao huyết áp, bệnh mạch vành… rất dễ bị gout và ngược lại, bệnh nhân gout thường mắc bệnh các bệnh béo phì, xơ mỡ động mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh mạch vành.

TS.BS. Lê Anh Thư
Theo SKĐS

Mãn kinh và những thay đổi về xương ở phụ nữ

Tuổi càng cao, sức khỏe cũng như vóc dáng của con người sẽ thay đổi. Ở độ tuổi 40-50, đối với phụ nữ cơ thể sẽ “xuống dốc không phanh” với những biểu hiện: da nhăn nheo, vòng 2 biến dạng trong khi vòng 1 lại nhỏ đi… Nhưng có một sự thay đổi lớn mà ít người nhận ra đó là sự thay đổi về xương, nhất là ở phụ nữ tuổi mãn kinh.

Từ nhỏ cho đến khi lớn lên lượng xương trong cơ thể người phụ nữ tăng dần, khoảng 25-30 tuổi thì đạt đến đỉnh cao. Nhân tố di truyền có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của xương (80%), 20% là do chế độ ăn uống, vận động, hormon, thuốc và bệnh mạn tính quyết định.

Trong giai đoạn phát dục, cơ thể cần bổ sung lượng canxi thích hợp để phát triển xương. Vì thế, nếu không chú ý bồi dưỡng sức khỏe ở giai đoạn này thì hệ xương kém phát triển mà biểu hiện cụ thể nhất là chiều cao phát triển kém. Phụ nữ có mật độ xương ở mức cao nhất ở lứa tuổi 30 và họ cần phải có đủ lượng canxi để tạo xương và duy trì sức khỏe ở giai đoạn còn lại. Ngoài 30 tuổi, lượng xương của người phụ nữ dần dần thoái hóa (mỗi năm giảm 0,25%-1%), và sau khi mãn kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng oestrogen giảm nên tốc độ thoái hóa xương khá nhanh, mỗi năm giảm 1%-5%. Trong khoảng thời gian 3-5 năm đầu sau khi mãn kinh, sự thoái hóa xương xảy ra nhanh nhất, với biểu hiện chủ yếu là hiện tượng xốp xương. Thêm vào đó là quá trình già hóa nên công năng của tế bào xương giảm, sự hấp thụ canxi và sự tổng hợp vitamin D kém đi… làm ảnh hưởng xấu đến cấu trúc của xương.

man_kinh_va_nhung_thay_doi_ve_xuong_o_phu_nu

Mật độ xương chỏm xương đùi giảm rõ rệt trước và sau mãn kinh.

Bước sang tuổi 60-70, xương của người phụ nữ yếu hẳn, sụn và các đĩa đệm xẹp xuống, biểu hiện rõ nhất là lưng bị còng. Theo thống kê, có tới 40% phụ nữ ở độ tuổi trên 50 mắc các chứng bệnh về xương như đau lưng, đau vai, mỏi gối, gãy xương… Sau mãn kinh, loãng xương tiến triển theo thời gian, xương mất nhiều lên. Kết quả là một hoặc nhiều xương bị gãy, và sau đó là đau kéo dài và tàn tật. Chẩn đoán loãng xương càng sớm càng tốt là bước rất quan trọng để giúp hạn chế mất xương ở giai đoạn sớm nhất có thể. Mãn kinh là nguyên nhân quan trọng nhất gây loãng xương. Tuy nhiên không phải người phụ nữ nào ở tuổi mãn kinh cũng bị loãng xương mà chỉ có khoảng 30% số người bị bệnh loãng xương, và ở độ tuổi ngoài 75 thì tỷ lệ này chiếm tới 40%-60%.

Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, những nhân tố dễ gây loãng xương là: di truyền, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, dùng đồ uống có hàm lượng caffein quá cao, ít vận động mạnh, thiếu canxi, mãn kinh quá sớm… Ngoài ra, tác dụng phụ của một số loại thuốc cũng có thể gây loãng xương.

Để hạn chế những tác động xấu do loãng xương ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh. Cần có một chế độ ăn uống đủ chất: canxi, florua, magiê, và bổ sung vitamin D bằng cả việc ăn uống kết hợp với hoạt động ngoài trời, tăng cơ hội sưởi nắng để làm tăng lượng vitamin D3 tổng hợp ở tế bào da, làm tăng khả năng hấp thụ canxi qua đường tiêu hóa, làm cho xương chắc hơn. Bạn cũng nên bổ sung đầy đủ canxi tối thiểu 1.000mg/ngày; sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế ở giai đoạn mãn kinh theo chỉ định của bác sĩ. Đối với một số trường hợp cần phải được bổ sung oestrogen và canxi, hạn chế tối thiểu hiện tượng gãy xương. Để tránh phát sinh hiện tượng gãy xương, phụ nữ ở giai đoạn tiền mãn kinh nên chú ý đề phòng trượt ngã. Muốn giảm chứng loãng xương, ngoài việc kết hợp ăn uống, bạn cũng phải có một chế độ luyện tập thích hợp như chơi thể thao (bóng bàn, cầu lông, tennis…), đi bộ đúng cách. Nên tránh những môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, đấu vật, thể hình… Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có caffein, nước ngọt có gas, chất cồn và muối. Thừa cân cũng làm bộ xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ ổn định trọng lượng. Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp canxi rất tốt. Lưu ý, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

BS. Hà Hùng Thủy
Theo SKĐS

Làm gì khi cơn gút tái phát

Gút là một bệnh do rối loạn chuyển hoá các nhân purin, với đặc trưng là tăng acid uric trong máu và lắng đọng các tinh thể monosodium urat ở các tổ chức, các mô biểu hiện bằng viêm khớp; tích lũy vi tinh thể ở khớp, xương, mô phần mềm, sụn khớp, được gọi là tophi; lắng đọng vi tinh thể ở thận, gây bệnh thận do gút; sỏi tiết niệu. Gút là một bệnh liên quan rất nhiều đến chế độ ăn uống, sinh hoạt, thường gặp ở nam giới và tuổi trung niên. Tuy bệnh được biết đến từ rất lâu nhưng thực tế việc điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là khi gút tái phát.

lam_gi_khi_con_gut_tai_phat

Vì sao phải dự phòng bệnh gút tái phát?

4 nguyên nhân chính gây tăng acid uric máu là: Do tăng tổng hợp purin và tăng cung cấp qua đường ăn uống; tăng dị hoá các acid nhân nội sinh (tiêu tế bào, dùng thuốc điều trị ung thư); giảm thải trừ acid uric qua thận (suy thận); dùng thuốc: lợi tiểu, pyrazynamid, corticoid, aspirin liều thấp.

Điều trị cơn gút cấp thường không khó nhưng dự phòng tái phát bệnh, tránh những đợt viêm khớp tái phát và ngăn chặn bệnh chuyển sang mạn tính thường không dễ. Rất nhiều bệnh nhân và ngay cả nhiều thầy thuốc chỉ điều trị viêm khớp cấp tính, sau vài ngày hết viêm khớp tưởng đã khỏi nên không điều trị duy trì tiếp theo. Hậu quả là sau một thời gian ngắn, một đợt viêm khớp cấp tính mới lại xuất hiện và bệnh diễn biến nhanh chóng đến gút mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề như phá hủy khớp, nổi u cục dưới da (cục tophi), sỏi thận, suy thận… Do đó việc điều trị tốt dự phòng cơn gút tái phát đóng vai trò vô cùng quan trọng nhằm hạn chế tối đa tác hại của bệnh đối với hệ xương khớp và hệ tiết niệu.

Biện pháp điều trị cần thiết

Mục đích của điều trị dự phòng cơn gút tái phát là hạ thấp acid uric xuống dưới mức bình thường, bằng cách tác động trên các nguyên nhân gây bệnh kể trên thông qua các biện pháp sau:

– Chế độ ăn cho bệnh nhân gút là ăn giảm đạm (100-150g thịt/ngày), ăn giảm calo, giữ trọng lượng cơ thể ở mức hợp lý. Đảm bảo uống đủ nước để thận có thể lọc tốt (2-2,5l/ngày). Kiềm hoá nước tiểu để tăng đào thải acid uric qua thận bằng các loại nước khoáng có kiềm cao hoặc nước kiềm 14%.

– Những thực phẩm không nên ăn là thức ăn giàu purin (phủ tạng động vật như gan, óc, tim, lòng, bầu dục; một số loại nấm, măng tây, tôm, cua, cá béo, cá hộp, thịt bê, đậu hạt các loại…). Có thể ăn trứng, sữa, hoa quả. Bỏ thức uống có cồn như rượu, bia…

– Tránh lao động quá mức, tránh các yếu tố có thể khởi phát cơn gút như chấn thương…

– Khi cần phải phẫu thuật hoặc mắc một bệnh toàn thân nào đó, phải chú ý theo dõi sát lượng acid uric máu để điều chỉnh kịp thời.

– Cố gắng loại bỏ mọi thuốc có thể làm tăng acid uric máu nếu có thể (corticosteroid, lợi tiểu…) hoặc thay bằng các thuốc khác.

– Nếu chế độ ăn đạt hiệu quả, tức là không có các cơn gút thường xuyên, acid uric máu dưới 60 mg/l (360 mmol/l), không có hạt tô phi và tổn thương thận thì chỉ cần duy trì chế độ sinh hoạt và ăn uống như trên là đủ. Nếu không, phải dùng thêm các thuốc làm giảm acid uric máu.

Biện pháp dùng thuốc

– Colchicin: Ngoài chỉ định trong điều trị cơn gút cấp, colchicin còn được sử dụng với mục đích dự phòng các cơn gút tái phát. Thuốc không làm thay đổi nồng độ acid uric máu và sử dụng liều thấp (0,5-1 mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ của thuốc (đại tiện lỏng…) để điều chỉnh hay kết hợp thuốc kịp thời.

– Thuốc hạ nồng độ acid uric máu: Các thuốc ức chế tổng hợp acid uric do ức chế men xanthin- oxydase, gây hạ acid uric máu và niệu. Thuốc hay được sử dụng nhất là allopurinol (zyloric) được chỉ định trong mọi trường hợp gút, nhất là trường hợp có tăng acid uric niệu, sỏi thận, suy thận. Song không nên dùng allopurinol ngay trong khi đang có cơn cấp, mà nên đợi khoảng một tháng sau mới bắt đầu. Nếu đang dùng allopurinol mà có đợt cấp thì vẫn tiếp tục dùng thuốc bình thường. Liều thường dùng từ 100-300mg/ngày và tuỳ theo lượng acid uric máu mà chỉnh liều. Trị liệu này có tác dụng ngăn các cơn gút cấp, làm các hạt tô phi, sỏi tiết niệu nhỏ dần và có thể biến mất. Chú ý thuốc hay gây dị ứng và nếu xảy ra thì các tổn thương thường nặng.

– Một số thuốc khác như các thuốc tăng thải acid uric qua thận và ức chế hấp thụ acid uric ở ống thận (benémid, anturan, amplivix…) làm giảm acid uric máu, song làm tăng acid uric niệu, nên có thể gây sỏi thận. Thuốc tiêu acid uric (uricozym): là enzym uricas có tác dụng chuyển acid uric thành allantoine dễ hoà tan. Các thuốc này ít được sử dụng hơn.

Mặc dù là một bệnh rối loạn chuyển hóa đòi hỏi phải điều trị và theo dõi lâu dài nhưng cho kết quả tốt nếu bệnh nhân tuân thủ đúng chế độ sinh hoạt ăn uống và thầy thuốc sử dụng phối hợp các thuốc một cách hợp lý. Chúng ta có thể hoàn toàn phòng tránh được các biến chứng nặng nề của bệnh.

BS. Trần Quốc Minh
Theo SKĐS

Phụ nữ thành thị loãng xương nhiều hơn phụ nữ nông thôn

Loãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.

phu_nu_thanh_thi_loang_xuong_nhieu_hon_phu_nu_nong_thon

Loãng xương ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.

Các nguyên nhân gây LX ở phụ nữ thành thị

Chính sự thay đổi môi trường sống là một yếu tố nguy cơ gây LX. Hiện nay cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt, thì tỷ lệ LX ngày càng cao ở các đô thị. Phụ nữ ở thành thị có nguy cơ LX cao hơn ở nông thôn. Tuổi thọ đang cao lên cũng làm tăng gãy xương do LX ở châu Á. Các yếu tố sinh hoạt, ăn uống, vận động của từng cá nhân cũng làm gia tăng nguy cơ LX cho phụ nữ sống ở các đô thị. Phụ nữ bận rộn thường có chế độ ăn uống thất thường, do vậy lượng canxi đưa vào thấp mới chỉ 400mg trong khi đó cơ thể cần 800-1.000mg canxi hằng ngày. Cần chú ý rằng một số phụ nữ trẻ có chứng chán ăn do thần kinh, do áp dụng một số biện pháp nhịn ăn để giữ eo. Do vậy thường xảy ra sự thiếu hụt canxi cũng như cả các chất đạm cần thiết cho xây dựng khung xương của cơ thể. Phơi nắng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cơ thể có thể tự sản xuất ra vitanin D, cần thiết cho hấp thu canxi vào xương. Cần chú ý rằng lạm dụng việc sử dụng kem chống nắng cũng làm giảm hấp thu vitamin D từ đó lượng vitamin D cần thiết là 400-1.000UI. Ở miền Bắc Ấn Độ có tới hơn 40% dân chúng bị thiếu hụt vitamin D. Lối sống tĩnh tại như ngồi lâu trong văn phòng, ít đi lại cũng gây LX. Cần chú ý rằng tập thể lực quá mức dẫn đến vô kinh. Tình trạng mất kinh xảy ra cả ở các nữ vận động viên điền kinh. Chế độ làm việc căng thẳng bận rộn, nhiều stress gây đau dạ dày, khiến cơ thể kém hấp thu các chất, kể cả canxi và vitamin D rất cần cho khung xương của cơ thể. Stress cũng gây rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, là yếu tố nguy cơ cao gây LX. Hiện nay phụ nữ có xu hướng gia tăng hút thuốc lá và uống rượu, đặc biệt ở các vùng núi và uống cà phê ở thành phố. Chính các thói quen xấu này cũng làm gia tăng nguy cơ LX. Hút thuốc lá một bao mỗi ngày trong suốt giai đoạn trưởng thành có thể làm mất từ 5-10% khối lượng xương của cơ thể.

Phòng ngừa loãng xương như thế nào?

Chế độ ăn cần đa dạng, bảo đảm đầy đủ đạm và khoáng chất đặc biệt là canxi. Sữa và các sản phẩm chế tiến từ sữa (bơ, phomat, yaourt…), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Các thực phẩm như tôm, tép, cua, cá, vừng, rau ngót, rau thơm, rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, tào phớ, xúp lơ… đều giàu canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Ngoài ra cần bổ sung vitamin D, có trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, trai, sò… để cơ thể hấp thu được canxi. Nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, bắp cải, tỏi, yến mạch, lạc… vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Uống trà thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ LX do trong trà có nhiều hợp chất tạo xương. Cần có chế độ tập luyện thường xuyên  phù hợp với sức khỏe và từng lứa tuổi. Cần tập thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày, đi bộ nhanh, chạy chậm, tập thể dục thẩm mỹ. Ngoài ra cần tăng thời gian hoạt động ngoài trời hoặc tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Để duy trì mật độ xương hợp lý cần tránh các thói quen xấu như uống rượu, cà phê, hút thuốc lá.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Khoa khớp – BV Bạch Mai
Theo SKĐS

Thống phong: Căn bệnh của nhà giàu

Goutte còn gọi là thống phong, là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa acid uric. Bệnh được mô tả từ thời Hy Lạp cổ, ở thế kỷ 4 trước Công nguyên, Hippocrate đã mô tả và gọi đó là “bệnh của những ông vua”. Vì thời đó do ăn uống vô độ nên các bậc vua chúa hay bị mắc bệnh này và khi mắc bệnh thống phong thì cực kỳ đau đớn nên Hippocrate đã gọi như vậy.

Cùng với xu hướng phát triển của xã hội, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh goutte đang có chiều hướng tăng lên do nhiều nguyên nhân và không còn là “bệnh của riêng người giàu” nữa.

Bệnh có đặc điểm là viêm khớp (do lắng đọng acid uric), điển hình là viêm một khớp, 70% thường hay gặp ở khớp ngón chân cái.

thong_phong_can_benh_cua_nha_giau

Ngoài ra còn có các đặc điểm khác như các đợt viêm khớp cấp, cơn đau khớp thường sưng, nóng, đỏ, đau… Đau khớp đã trở thành nỗi kinh hoàng ở những người mắc bệnh goutte.

Đau khớp thường kéo dài 1-2 ngày, giảm dần sau 7-10 ngày.

Bệnh tái phát nhiều lần. Thường những lần sau, thời gian đau càng kéo dài, lâu khỏi hơn, nhiều khớp bị đau hơn…

Trong các đợt bệnh cấp, người bệnh thường mệt mỏi, sốt nhẹ, đi lại khó khăn, tính tình cáu gắt thất thường…

Tuổi mắc bệnh thường gặp ở lứa tuổi 35-45. 95% thường gặp ở nam giới khỏe mạnh.

Người ta thấy một số các yếu tố được coi là yếu tố thuận lợi của bệnh như stress: căng thẳng thần kinh, tức giận, lo lắng quá mức… có thể gặp sau một chấn thương vào khớp, sau phẫu thuật, uống rượu, nhiễm khuẩn… hoặc sau một bữa ăn nhiều thịt. Còn có thể gặp do nguyên nhân dùng một số thuốc như vitamin C, aspirin, lợi tiểu, thuốc chống lao pirazinamid…

Bệnh có nhiều biến chứng như biến dạng khớp, sỏi thận, suy thận…

Khi có dấu hiệu nghi ngờ, người bệnh nên đến bệnh viện hoặc các cơ sở y tế để khám bệnh.

Bệnh nhân đã mắc bệnh goutte thường có thể mắc một số bệnh kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, bệnh mạch não… Hoặc ngược lại, các bệnh nhân mắc bệnh trên cũng dễ mắc bệnh goutte.

Bệnh goutte có thể điều trị tốt bằng:

Có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý.

Sử dụng thuốc nhằm 2 mục đích, cắt cơn goutte cấp và phòng ngừa viêm khớp tái phát, sỏi thận, suy thận…

Điều trị cần liên tục, kéo dài để hạ và duy trì acid uric máu ở mức bình thường.

Người bệnh nên biết rằng: kết quả điều trị hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết và sự tuân thủ phác đồ điều trị của bệnh nhân.

Để dự phòng và hạn chế tiến triển của bệnh, người bệnh cần:

Định kỳ kiểm tra sức khỏe, sử dụng thuốc theo chỉ định của thầy thuốc… Điều trị kịp thời các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, đái tháo đường…

Thay đổi hành vi sinh hoạt:

Nên hạn chế các yếu tố thuận lợi gây cơn goutte cấp: tránh căng thẳng thần kinh, tránh gắng sức, lo lắng thái quá…

Nếu béo bệu thì nên tập thể dục thể thao để tránh dư cân. Duy trì chế độ luyện tập đều đặn, vừa sức.

Ngâm chân nước nóng hằng ngày là có ích, tuy nhiên không nên ngâm chân trong giai đoạn cấp, không dùng nước quá nóng.

Chế độ ăn uống:

Ăn vừa phải chất đạm, chỉ cần đủ cung cấp cho cơ thể. Nhu cầu người lớn chỉ cần 1g đạm/kg trọng lượng cơ thể/ngày. Không nên ăn nhiều thịt, số lượng đạm ăn vào không nên quá nhu cầu của cơ thể.

Để giảm acid uric máu, nên hạn chế ăn tim gan, thận động vật, trứng cá, cá trích, cá đối, đậu nành, súp lơ, rau cần, đậu phụ, lạc… vì đây là những thực phẩm có nhiều chất purin có thể làm tăng acid uric máu. Không uống rượu, hạn chế uống bia. Nên tăng cường ăn rau xanh, hoa quả tươi. Nên uống nhiều nước, đặc biệt là các nước khoáng có ga. Bicarbonat có tác dụng kiềm hóa máu và nước tiểu, làm tăng đào thải acid uric.

Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn mạn tính, nên có chế độ tập luyện thích hợp kết hợp với vật lý trị liệu phục hồi chức năng để tránh teo cơ, cứng khớp, biến dạng khớp.

Theo y học cổ truyền, thống phong là do tà khí lưu trệ ở gân mạch. Khí huyết ứ trệ kinh lạc gây ra. Thống phong có nhiều thể bệnh, mỗi thể bệnh có bài thuốc chữa như sau:

Thể đàm thấp bế tắc kinh lạc:

Triệu chứng: Da thịt đau nhức, chóng mặt buồn nôn, xương khớp đau nhức tê cứng, nóng lạnh, rêu lưỡi bệu.

Bài thuốc: Đại táo 12 quả, quế chi 12g, thược dược 12g, hoàng kỳ 12g, sinh khương 2g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể huyết ứ tắc:

Triệu chứng: Tay chân da thịt đau như kim châm, đau một chỗ nhất định, ban đêm đau nhiều, co rút, miệng khô táo, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết.

Bài thuốc: Hương phụ chế 12g, đương quy 12g, ngưu tất 12g, chích thảo 4g, hồng hoa 12g, ngũ hương 6g, chính địa long 6g, khương hoạt 12g, ngũ linh chi 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can thận âm hư:

Triệu chứng da thịt xương khớp đau nhức như bị đánh, chóng mặt hoa mắt, ù tai, lòng bàn chân bàn tay, mỏ ác nóng, họng khô, lưỡi đỏ.

Bài thuốc: Bạch thược 12g, tỏa dương 8g, can thương 4g, quy bản 24g, trần bì 6g, hoàng bá 16g, thục địa 16g, tri mẫu 8g. Sắc uống ngày một thang.

Lương y  Vũ Quốc Trung
Theo SKĐS

Trẻ dễ bị còi xương vào mùa đông

Theo một số tài liệu nghiên cứu của Bệnh viện Nhi Trung ương, ở nước ta tỷ lệ bệnh còi xương chiếm khoảng 9,4%. Còi xương ở trẻ thường xảy ra chủ yếu ở độ tuổi dưới 3 tuổi. Bệnh làm cho xương mềm, xốp, đồng thời làm biến dạng xương ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.

tre_de_bi_coi_xuong_vao_mua_dong

Nguyên nhân trẻ bị còi xương

Còi xương là bệnh do rối loạn chuyển hoá vitamin D hoặc thiếu vitaminD. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trẻ bị còi xương như thiếu nắng mặt trời – đây là nguyên nhân hay gặp nhất do thói quen kiêng cữ, sợ trẻ tiếp xúc với nắng. Nhà ở chật chội, thiếu ánh sáng, trẻ sinh vào mùa đông mặc quá nhiều quần áo, không được đưa ra ngoài trời tắm nắng, hoặc ở vùng cao có nhiều mây mù… là những nguyên nhân khiến tiến trình tự tổng hợp vitamin D bị ảnh hưởng. Nguyên nhân thứ hai là chế độ ăn uống không hợp lý, không được bú sữa mẹ thường xuyên, bị tiêu chảy làm giảm hấp thu vitamin D.

Những trẻ dễ bị còi xương là các bé được cho ăn bột sớm, ăn bột nhiều (gây ức chế hấp thu canxi). Trẻ đẻ non, đẻ sinh đôi, trẻ không bú mẹ, trẻ quá bụ bẫm, trẻ sinh vào mùa đông cũng dễ bị bệnh này.

Một nguyên nhân khác khiến trẻ còi xương là do chế độ ăn thiếu canxi, phốt pho, vitamin và chất khoáng khác, hoặc mắc một số bệnh đường tiêu hoá làm giảm hấp thu vitamin D3. Một số ít trẻ bị bệnh vì di truyền – do trong quá trình mang thai, người mẹ gặp một số vấn đề về sức khỏe và tình trạng ô nhiễm môi trường cũng có thể ảnh hưởng.

Bệnh còi xương khác với bệnh suy dinh dưỡng, bệnh suy dinh dưỡng là do thiếu calo, protein, làm cho trẻ chậm phát triển về thể chất, “thấp bé nhẹ cân”, còn bệnh còi xương thường xuất hiện ở những trẻ được ăn đầy đủ về năng lượng, thậm chí còn gặp ở những trẻ cân nặng còn cao hơn so với cùng lứa tuổi. Chính vì vậy mà nhiều bà mẹ đã không chú ý, bỏ qua các dấu hiệu của bệnh, đến khi có biến chứng mới đưa con đi khám.

Phát hiện trẻ  bị còi xương

Khi trẻ bị còi xương thường được chia ra 2 giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất: Ở giai đoạn này bệnh thường có biểu hiện ở mức độ nhẹ, thường khởi phát trong khoảng thời gian 6 tháng đầu đời của trẻ Trẻ có những biểu hiện như ngủ không ngon, đổ mồ hôi nhiều hoặc bị chứng rôm sảy… thì nên chú ý chăm sóc trẻ cẩn thận hơn.

Nếu thấy trẻ mọc ít tóc, phần tóc khá mỏng đặc biệt là phần tóc phía trước và sau gáy thì khả năng bị còi xương là rất cao. Trong trường hợp này, bạn nên đưa trẻ đến gặp bác sĩ để được khám và tư vấn  một cách đầy đủ.

Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn còi xương ở thể nặng, bệnh cũng xuất hiện trong thời điểm 6 tháng đầu đời. Nhưng các hoạt động của trẻ kém hơn bình thường, chân tay uể oải, chân có dáng vòng kiềng, những mảng hói lớn trên da đầu của trẻ… Bệnh còi xương ở giai đoạn nặng, bạn sẽ thấy xương của trẻ mềm đến mức khi chạm vào có cảm giác như trẻ không có xương. Hình dáng đầu của trẻ cũng bị thay đổi, vùng đỉnh đầu và phía trước gần như nhô to hơn. Phần xương ở cổ tay và ngón tay có xu hướng nhô hẳn lên. Chứng còi xương có thể làm thay đổi khung xương chậu và trở thành dấu hiệu nghiêm trọng trong quá trình phát triển của các trẻ gái.

Còi xương có phòng được?

Trong vòng 3 năm đầu đời, khoảng 70% trẻ em có thể thoát khỏi tình trạng còi xương nếu cha mẹ chăm sóc đúng cách.

Để phòng bệnh còi xương cho trẻ, theo các chuyên gia dinh dưỡng tốt nhất là bà mẹ thời kỳ mang thai và cho con bú phải ăn uống đầy đủ, uống bổ sung thêm viên sắt, canxi… và nhất là không quên tắm nắng.

– Đối với trẻ em, cho bú mẹ sớm ngay sau khi sinh và bú mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu. Đến tuổi ăn dặm, cần cho trẻ ăn đầy đủ và cân đối 4 nhóm thức ăn là chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng.

– Trẻ sau sinh 1 tháng cần được tắm nắng mỗi ngày 15 phút vào lúc mặt trời mọc (nên trước 9 giờ sáng) và ánh nắng phải chiếu trực tiếp trên bề mặt da mu tay, chân, bụng, lưng, ngực.

– Vào mùa đông, bạn cần cho con uống mộtd liều vitamin D3 để điều trị dự phòng. Có thể 6 tháng cho trẻ uống nhắc lại một lần. Ngoài ra, trong thai kỳ  có thể uống vitamin D3 vào lúc thai được 7 tháng.

ThS. Lê Anh
Theo SKĐS

Thực phẩm bẩn, một hiểm hoạ chết người

30% trong khoảng 9 triệu người mắc bệnh ung thư hằng năm trên thế giới đều liên quan đến ăn uống. Mỗi năm, nước ta phải tốn khoảng 14.000 tỉ đồng để khắc phục hậu quả từ ngộ độc thực phẩm.

Mới đây, tại TPHCM đã xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm với gần 150 công nhân nhập viện cấp cứu. Còn tại TP Đà Nẵng thì gần 30 thực khách bị tiêu chảy dữ dội sau khi ăn bánh mì… Các chuyên gia cảnh báo tình trạng ngộ độc thực phẩm tại các đô thị lớn hiện nay không dễ kiểm soát.

Rau sống: Nhiều mầm bệnh

Ở 2 vụ ngộ độc nói trên, đơn thuần là những món ăn thường thấy trong bữa ăn hằng ngày như giò heo, giá đỗ, hẹ, sườn ram, cải xào, dưa chua, lạp xưởng, rau sống, giăm bông, thịt nguội, patê…  Kết quả kiểm định của cơ quan chức năng kết luận thực phẩm gây ngộ độc bị nhiễm vi sinh. Cụ thể là mẫu rau sống, giăm bông, thịt nguội, patê ở bánh mì bị nhiễm Coliforms và E.coli vượt quá giới hạn cho phép từ 2-15 lần. Các bác sĩ cho biết Coliforms và E.coli là 2 loại vi sinh vật gây ra các bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy, ngộ độc, nhiễm trùng đường ruột.

Ngoài ra, ít ai biết được nguồn rau sống vốn có trong bữa ăn hằng ngày, đằng sau sự tươi ngon, nếu không xử trí đúng cách là những ẩn họa khôn lường về các mầm bệnh. Một nghiên cứu do PGS-TS-BS Trần Thị Hồng, Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh – Vi nấm học Trường ĐH Y Phạm Ngọc Thạch TPHCM, thực hiện cách đây chưa lâu đã chỉ ra về sự bất an này.

thuc_pham_ban_la_hiem_hoa

Hàng trăm công nhân nhập viện cấp cứu do ngộ độc thực phẩm tại quận 12 – TPHCM mới đây

Theo đó, khảo sát trên hơn 100 mẫu rau (chủ yếu là các loại rau ăn sống như xà lách, xà lách xoong, rau đắng, rau má, rau muống, tần ô, rau thơm) được lấy ngẫu nhiên từ 13 chợ trên địa bàn TPHCM, kết quả có hơn 97% mẫu rau bị nhiễm các loại ký sinh trùng như E.histolytica, E.coli, trứng giun đũa, giun móc, trứng giun đũa chó, mèo và ấu trùng giun. Trong đó, ấu trùng giun được phát hiện trên rau sống chiếm tỉ lệ cao nhất (78,8%). Có 4 loại rau phát hiện nhiễm ký sinh trùng đến 100% là xà lách xoong, rau đắng, rau tần ô và rau má…

Các vi sinh vật trên đều là những mối nguy hại cho sức khỏe con người, gây các bệnh rối loạn, viêm nhiễm tiêu hóa, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng gây thiếu máu, thiếu chất. “Nguy hiểm hơn, ngoài bị suy nhược cơ thể, người nhiễm còn bị vi sinh vật tấn công nội tạng gây tắc ruột, áp-xe gan, giun chui ống mật” – một chuyên gia cảnh báo.

Nguyên nhân của ung thư

Theo TS-BS Trần Phủ Mạnh Siêu, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng TPHCM, tác hại của bệnh do nhiễm ký sinh trùng phụ thuộc nhiều vào cơ quan mà chúng xâm nhập. Nặng nhất là xâm nhập hệ thần kinh trung ương như não, màng não, tác động trực tiếp, có tỉ lệ tử vong cao.

Các chuyên gia khuyến cáo: Ngoài bị nhiễm vi sinh thì thực phẩm bị ngậm hóa chất trong khâu chế biến hiện nay cũng khó kiểm soát. Đáng lo ngại là việc sử dụng hóa chất, phụ gia trôi nổi, không nguồn gốc, nằm ngoài danh mục cho phép.

Theo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) TPHCM, năm 2012, trên địa bàn xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm khiến gần 600 công nhân nhập viện. Trong đó, 2 vụ ngộ độc xảy ra là do E.coli, 1 vụ nghi ngờ do Histamin trong món cá ngừ, 2 vụ không rõ nguyên nhân. Các vụ ngộ độc thực phẩm gần đây xảy ra rất bất thường, không liên quan đến yếu tố mùa, thời tiết.

Theo ThS-BS Nguyễn Thị Huỳnh Mai, Phó Chi cục ATVSTP TP, hậu quả của việc tiêu thụ thực phẩm không an toàn không chỉ là ngộ độc cấp tính, các bệnh nhiễm do vi trùng, ký sinh trùng mà còn là các bệnh lý mãn tính do tích lũy các chất độc hại theo thời gian gây nên các bệnh về da, rối loạn chuyển hóa, suy dinh dưỡng, nguy hại hơn nữa là bệnh lý ung thư. Trong khoảng 9 triệu người mắc bệnh ung thư trên thế giới hằng năm, có khoảng 30% các trường hợp có liên quan đến ăn uống và 5 triệu người bị chết vì căn bệnh này.

Các chuyên gia cảnh báo: Ngộ độc cấp tính mới chỉ là bề nổi, phản ánh tác hại tức thời của thức ăn không bảo đảm chất lượng, có thể can thiệp được nhưng nguy hiểm hơn là ngộ độc mãn tính. Bởi về lâu dài, cơ thể con người sẽ nạp vào các loại hóa chất, tích tụ chất độc hại lâu ngày, ngoài dẫn đến những biến cố khôn lường cho sức khỏe, trong đó đáng sợ nhất là ảnh hưởng giống nòi.

Theo 24h

Bị bệnh tim mạch do ăn nhiều thịch đỏ

Giảm lượng thịt đỏ, sử dụng dầu ô liu và các loại gia vị là chế độ ăn uống tuyệt vời giúp bạn thêm khỏe mạnh.

Theo các chuyên gia y tế, ẩm thực vùng Địa Trung Hải có thể làm giảm nguy cơ đau tim hay đột quỵ. Thông tin gần đây của bệnh viện Mayo Clinic cho thấy hơn 1,5 triệu người trưởng thành có sức khoẻ tốt là những người có chế độ ăn uống vùng Địa Trung Hải, giảm tỷ lệ người mắc bệnh ung thư, tử vong do ung thư cũng như một số bệnh khác như bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer.

Tiến sĩ Julie Anderson, bác sĩ người Mỹ cho biết: sử dụng chế độ ăn uống vùng Địa Trung Hải là một sự lựa chọn khôn ngoan vì nó có nhiều lợi ích dựa trên việc tác động vào nhiều vấn đề sức khoẻ.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải truyền thống bao gồm trái cây, rau, mì và gạo. Thành phần cơ bản là dầu ô liu và thực phẩm tự nhiên được thay thế cho thực phẩm chế biến sẵn. Trong đó, rau và trái cây có trong thực đơn nhiều hơn thịt đỏ và các loại ngũ cốc nguyên hạt.

an_thit_Do_hai_mach

Giảm lượng thịt đỏ để tim mạch khỏe mạnh hơn

Vì không bị ảnh hưởng của lối sống phương Tây nên người dân sống ở vùng Địa Trung Hải vẫn giữ được chế độ ăn uống truyền thống của mình. Chẳng hạn như: người dân Hy Lạp ăn rất ít thịt đỏ và thực phẩm hàng ngày của họ rất giàu chất chống oxy hoá là trái cây, rau củ.

Ngoài ra trong thực đơn vùng Địa Trung Hải thường có một lượng rượu vang vừa phải, trong khi rượu đã được cho là có tác dụng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

Chế độ ăn uống Địa Trung Hải bao gồm:

Chọn thành phần chính trong bữa ăn là thực phẩm bắt nguồn từ thực vật như trái cây, rau quả, ngũ cốc, đậu và các loại hạt.

Thay thế bơ bằng các chất béo thân thiện khác như dầu ô liu cà dầu canola.

Sử dụng các loại thảo mộc và gia vị thay cho muối trong các món ăn thơm ngon.

Hạn chế ăn thịt đỏ và chỉ nên ăn một tháng  một vài lần.

Ăn cá và thịt gia cầm ít nhất hai lần một tuần.

Uống rượu vang đỏ ở mức độ vừa phải.

Kết hợp với việc tập thể dục thường xuyên.

Theo 24h

Thực phẩm nên kiêng khi bị yếu sinh lý

Những người “yếu sinh lý” có thể chữa khỏi bằng cách lựa chọn chế độ ăn uống.

Theo y học cổ truyền, để phòng chống các chứng bệnh được gọi là “yếu sinh lý” như liệt dương, xuất tinh sớm, suy giảm ham muốn tình dục… ngoài việc dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp và tập luyện khí công dưỡng sinh còn phải chú ý lựa chọn chế độ ăn uống phù hợp.

Với quan điểm “dược thực đồng nguyên”, việc sử dụng đồ ăn thức uống nào đó đều phải tuân thủ nguyên tắc “biện chứng luận trị”, nghĩa là phải căn cứ vào đặc điểm thể chất và tình trạng bệnh tật cụ thể của mỗi người mà trọng dụng hoặc kiêng kỵ các loại thực phẩm cho thích đáng. Bài viết này xin được tư vấn những đồ ăn thức uống mà người bị yếu sinh lý cần hạn chế sử dụng hoặc kiêng kỵ hoàn toàn.

Với thể thận dương hư

Chứng trạng: Sợ lạnh, dễ bị cảm, dễ vã mồ hôi, tay chân lạnh, da mặt trắng nhợt, lưng đau gối mỏi, tiểu tiện trong, hay đi tiểu về đêm hoặc đi lâu không hết bãi, có thể có phù thũng, liệt dương, di hoạt tinh, miệng nhạt, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính lạnh như thịt trâu, cua, ốc, trai, hến, ngao, dưa hấu, dưa chuột, bí đao, mướp, khổ qua, rau đay, mùng tơi, rau cần, rau rút, măng, rong biển, đậu phụ, đậu xanh, giá đỗ, cà rốt, mã thầy, củ đậu, nấm kim châm, táo tây, lê, chuối tiêu, trà hoa cúc, trà bát bảo…Người yếu sinh lý thể thận dương hư nên kiêng ăn cua.

thuc_pham_nen_kieng_khi_bi_yeu_sinh_ly

Người yếu sinh lý thể thận dương hư nên kiêng ăn cua.

Với thể thận âm hư

Chứng trạng: Người gầy, có cảm giác nóng trong, ngực bụng buồn bực không yên, lòng bàn tay và bàn chân nóng, đổ mồ hôi trộm, ngủ kém hay mê, miệng khô họng khát, lưng đau gối mỏi, thích uống nước mát, di tinh, liệt dương, chất lưỡi đỏ khô, ít hoặc không có rêu, mạch tế sác…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính cay nóng như thịt dê, thịt chó, ớt, hạt tiêu, quế, hồi, sa tế, sa nhân, rau hẹ, hành tây, tỏi, lạc rang, nhãn, vải, nhục dung, tỏa dương, nhân sâm, nhung hươu, rượu, thuốc lá…

Với thể tâm tỳ lưỡng hư

Chứng trạng: Sắc mặt vàng úa, mệt mỏi, có cảm giác khó thở, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp trống ngực, hay quên, ngủ kém hay mê mộng, chán ăn, đầy bụng chậm tiêu, đại tiện lỏng nát, có thể có hiện tượng xuất huyết dưới da, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như củ cải, hành tây, kinh giới, sa nhân, sơn tra, quế, hồi, gừng tươi, hạt tiêu, mã thầy, trà đặc, thuốc lá…

Với thể can khí uất kết

Chứng trạng: Tinh thần luôn bị ức chế, ngực bụng đầy tức hoặc đau nhói, tức nặng hạ sườn phải, hay thở dài, dễ cáu gắt, liệt dương, di mộng tinh, đại tiện táo lỏng thất thường, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như thịt mỡ, cơm nếp, mật ong, đại táo, long nhãn, nhân sâm, hoàng kỳ, hoàng tinh, trà đặc, bia rượu, cà phê…

Với thể can kinh thấp nhiệt

Chứng trạng: Vàng da, vàng mắt, ngực sườn đau tức đầy trướng khó chịu, ăn kém, miệng đắng, hoa mắt chóng mặt, tai ù tai điếc, tiểu tiện sẻn đỏ, đại tiện như đi kiết, rêu lưỡi dày nhờn, mạch hoạt sác…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống như thịt vịt, thịt đầu lợn, thịt mỡ, thịt chó, thịt dê, đồ uống quá ngọt, long nhãn, long vải, ớt, hạt tiêu, hồi hương, đinh hương, thuốc lá, rượu, giấm quá chua, kim anh tử, khiếm thực, hạt sen…

Với thể tâm thận bất giao

Chứng trạng: Tinh thần bồn chồn không yên, mất ngủ, hay mê mộng, di mộng hoạt tinh, lưng đau gối mỏi, hay có cảm giác sốt nóng về chiều, vã mồ hôi trộm, tai ù tai điếc, hay hồi hộp trống ngực, miệng khô họng khát, đi tiểu đêm nhiều lần, môi đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu, mạch tế sác…

Nên kiêng: Đồ ăn thức uống có tính cay nóng như ớt, hạt tiêu, giấm quá chua, đại hồi, nhục quế, đinh hương, hành tây, thịt chim sẻ, thịt dê, thịt chó, trà đặc, rượu trắng, thuốc lá…

Ngoài ra, theo kinh nghiệm dân gian, người suy yếu sinh lý không nên ăn nhiều rau răm, đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương.

Theo 24h