Tag Archives: chất khoáng

Chê độ dinh dưỡng cho người bệnh nhiễm mỡ xơ mạch

Nhiễm mỡ xơ mạch là một bệnh mạn tính của động mạch do nhiễm mỡ và xơ hóa thành mạch, làm thành mạch dày lên, xơ cứng mất tính chất đàn hồi và hẹp lòng mạch, cản trở tuần hoàn. Chế độ ăn uống có thể giúp phòng ngừa bệnh này.

Bệnh thường gặp ở những người trong độ tuổi từ 50-70.

Bệnh là hậu quả của sự tác động nhiều yếu tố qua nhiều năm như: tăng cholesterol và lipoprotein trong máu, cao huyết áp, đái đường, thường xuyên bị stress, hút thuốc lá, nghiện rượu, có yếu tố di truyền, ăn uống không hợp lý, lên cân nhanh, hoạt động thể lực ít, nhược năng giáp, viêm cầu thận, tăng axit uric trong máu và trong bệnh goutte, rối loạn cân bằng đông máu…

che-do-dinh-duong-cho-nguoi-benh-nhiem-mo-xo-mach

Đối với bệnh nhiễm mỡ xơ mạch, việc phòng bệnh là cực kỳ quan trọng, vì khi đã mắc bệnh khả năng điều trị rất hạn chế. Việc phòng bệnh cần thực hiện từ lúc còn trẻ và suốt cuộc đời, chủ yếu là loại trừ các yếu tố nguy cơ.

Các biện pháp phòng bệnh cơ bản nhất là chế độ ăn đạm và rau xanh, trái cây chín tươi. Nguồn cung cấp vitamin, chất khoáng, các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng nhiễm mỡ và xơ mạch rất tốt.

Có thể áp dụng các thực đơn thông minh để chữa bệnh nhiễm mỡ trong máu:

Cháo bột ngô gạo tẻ:

Quấy bột ngô trong nước lạnh. Gạo tẻ cho nước vừa đủ, nấu thành cháo. Cho bột ngô vào cháo quấy đều, đun sôi thành cháo.

Chế độ ăn này có tác dụng điều trị có hiệu quả bệnh xơ cứng động mạch, bệnh động mạch vành, tắc động mạch cơ tim và tắc tuần hoàn máu. Người mắc bệnh trong máu nhiều mỡ phải ăn thường xuyên.

Cháo cà rốt, gạo tẻ: Cà rốt tươi vừa đủ, nấu với gạo tẻ thành cháo, ăn vào 2 buổi sáng, chiều. Cháo này có thể ăn thường xuyên, kéo dài, có lợi cho việc chữa và phòng bệnh huyết áp cao, giảm lượng mỡ trong máu, tăng cường thể lực cho người cao tuổi. Những người mắc bệnh đái đường, dùng bài thuốc này cũng rất tốt.

Cháo gạo tẻ, lá sen: Dùng 1 lá sen to, rửa sạch, sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước. Cho 100g gạo vào nước lá sen, một ít đường phèn, nấu thành cháo. Bài thuốc này chữa bệnh huyết áp cao, nhiều mỡ trong máu, chứng bệnh mùa hè cảm nóng, đầu óc choáng váng, quay cuồng, tiểu ít, nước đái đỏ, rất có hiệu quả. Bài thuốc này còn có tác dụng thanh nhiệt, giảm mỡ.

Nước sơn tra pha đường: Mỗi lần dùng 15-30g sơn tra đã phơi khô. Sau khi sơn tra sắc kỹ, bỏ bã, lấy nước cho vào đường uống thay nước chè hàng ngày.

Hà thủ ô, thảo quyết minh: Hà thủ ô, thảo quyết minh, linh chi, hổ trượng, lá sen, sơn tra và lá chè mỗi thứ 15-30g, hãm nước sôi uống thay chè. Lá cát cánh tươi luộc trong 30 phút vớt đem phơi khô để dùng. Mỗi lần dùng 10g, hãm với nước sôi uống thay chè, uống lâu dài, có thể giảm cholesterol, làm mềm mạch máu, phòng trừ bệnh động mạch vành, xơ cứng động mạch, bệnh huyết áp cao…

Trà sơn tra, ngân hoa, cúc hoa: Mỗi thứ 25g, nấu nước uống thay chè. Có tác dụng thông kinh mạch, giảm mỡ trong máu.

Bột đậu xanh: Đậu xanh vo sạch, phơi khô, nghiền thành bột, pha vào nước sôi, uống trước bữa ăn sáng và tối. Mỗi lần 30g, ngày uống 3 lần, uống liền trong một tháng là một đợt.

Chè vừng đen với dâu: Vừng đen 60g, quả dâu 60g, đường trắng 100g. Vừng đen, quả dâu, gạo rửa, vo sạch cho vào giã nát, sau đó cho 3 bát nước vào nồi nấu sôi lên rồi cho đường trắng vào, sau đó cho các thứ giã vào nấu chín thành dạng cháo ăn lúc còn ấm.

Nguồn báo tiền phong

Bổ sung hàm lượng Vitamin cho sức khỏe

Khi thiếu hay thừa những chất này sẽ gây ra nhiều bệnh cảnh khác nhau và đôi khi cũng nguy hiểm đến tính mạng.

Vitamin và chất khoáng là những chất có tỷ lệ thấp trong cơ thể. Nhưng là những chất rất quan trọng trong hoạt động sống còn của cơ thể. Khi thiếu hay thừa những chất này sẽ gây ra nhiều bệnh cảnh khác nhau và đôi khi cũng nguy hiểm đến tính mạng.

Vitamin có nhiều loại, dựa vào tính chất vật lý người ta phân các vitamin này thành hai nhóm. Nhóm tan trong nước như vitamin B, C… nhóm tan trong mỡ như A, D, E…

bo-sung-ham-luong-vitamin-cho-suc-khoe

Chất khoáng là những chất như: sắt, kẽm, đồng, vàng, canxi, magiê, natri, kali, chlor, phosphat, sulphat… Chất khoáng chiếm khoảng 4% trọng lượng cơ thể, người nặng 50kg thì chất khoáng khoảng 2kg.

Mỗi ngày cơ thể phải cần một lượng tối thiểu về chất khoáng. Các chất này phải được cung cấp qua thức ăn, nước uống hay dưới dạng thuốc khi cần thiết vì cơ thể không tổng hợp được các chất này.

Không phải nhiều là tốt

Nhiều người trong chúng ta nghĩ dùng vitamin liều cao như là thuốc tăng lực. Nhưng chúng ta quên rằng vitamin cũng là thuốc, là chất hóa học nghĩa là khi dùng quá liều cũng sẽ bị ngộ độc. Vitamin A, D là hai vitamin tan trong mỡ hay gây ngộ độc khi dùng liều cao kéo dài. Vitamin A được biết là có vai trò quan trọng với thị lực và da, màng tế bào, có thể dùng điều trị các bệnh như vẩy nến, mụn, trứng cá, chứng tóc khô, dễ gãy… Thuốc dùng dễ dàng qua đường uống và người ta đã quan sát được khi ngộ độc vitamin A có thể gây ra phù não, tổn thương trầm trọng ở gan. Cả hai biến chứng này đều có thể nguy hiểm đến tính mạng nên chúng ta phải thận trọng khi dùng vitamin A liều cao kéo dài. Tốt nhất là khi dùng phải có chỉ định và theo dõi của bác sĩ.

Pyridoxine hay còn gọi là vitamin B6 thường dùng để điều trị tình trạng chóng mặt và rối loạn tiền mãn kinh. Khi dùng quá liều kéo dài có thể bị ngộ độc gây tổn hại hệ thần kinh trung ương.

Acid ascortbic hay còn gọi là vitamin C được biết như là thuốc làm tăng sức đề kháng. Khi thiếu vitamin C thì mạch máu dễ vỡ gây xuất huyết dưới da. Trước đây, bệnh được mô tả ở những thủy thủ lênh đênh trên biển nhiều tháng liên tục không ăn rau, trái cây tươi. Vitamin C mang nhiều lợi ích khi ta biết cách sử dụng. Vitamin C có nhiều trong cây xanh, rau quả như chanh, cam, quýt, bưởi, bắp cải… Nhu cầu cơ thể về vitaminn C cao hơn các loại vitamin khác rất nhiều. Người lớn cần khoảng 50-100mg, nghĩa là 1mg/kg thể trọng mỗi ngày; đối với trẻ con và phụ nữ có thai cần 100-200mg mỗi ngày. Vitamin C ngoài tác dụng tốt cho tim mạch còn có tác dụng tăng sức đề kháng chống lại bệnh cảm, cúm, điều này đã được biết từ vài chục năm trước đây: với liều dùng khá cao 1-4g/ngày trong vài ngày người ta có thể rút ngắn được 30% thời gian mắc bệnh cúm. Ngược lại, nếu chúng ta không biết cách sử dụng, dùng liều quá cao trên 2g/ngày kéo dài trong nhiều tháng có thể gây hại cho dạ dày vì bản thân vitamin là acid – là chất chua. Tệ hại hơn là liều cao vitamin C làm tăng oxalate canxi trong nước tiểu, những tinh thể này sẽ lắng đọng tại thận tạo thành sạn thận. Chỉ nên dùng khoảng 0,5-1g vitamin C mỗi ngày sẽ rất có lợi cho sức khỏe và chống được chứng xơ vữa động mạch… khi cần dùng lâu dài cũng nên hỏi qua ý kiến bác sĩ.
bo-sung-ham-luong-vitamin-cho-suc-khoe1
Thiếu lại càng nguy hiểm

Nếu chúng ta không cung cấp đủ vitamin thì sẽ gây ra nhiều bệnh nguy hiểm như: thiếu vitamin A gây bệnh quáng gà, giảm sức đề kháng, thiếu vitamin C gây chứng chảy máu dưới da, thiếu vitamin B1 gây phù, suy tim, thiếu vitamin D gây còi xương, thiếu vitamin B12 gây thiếu máu, viêm dây thần kinh…

Chất khoáng cũng rất quan trọng tham gia vào nhiều phản ứng hóa học quyết định sự sống còn trong cơ thể và là thành phần cấu tạo chủ yếu của một vài cơ quan trong cơ thể như: canxi là thành phần cấu tạo chủ yếu của xương, sắt là thành phần cấu tạo chủ yếu của hemoglobin trong hồng cầu – là chất có chức năng vận chuyển oxygen trong máu.

Thiếu chất khoáng gây nhiều tác hại cho sức khỏe: thiếu canxi gây co giật tay chân, thiếu kali gây chuột rút, rối loạn nhịp tim…

Phòng ngừa thiếu vitamin và chất khoáng bằng cách nào?

Để phòng ngừa những tình trạng này chúng ta nên ăn uống thức ăn có chứa đầy đủ chất khoáng và vitamin cần thiết cho cơ thể. Còn trong điều kiện sức khỏe suy giảm, người già, người bệnh nặng kéo dài chúng ta nên dùng thêm thuốc có chứa đầy đủ các thành phần vitamin và chất khoáng cần thiết cho nhu cầu cơ thể. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện ở những người ở độ tuổi trung bình từ 48-78 tuổi thì sau 4-10 tuần bổ sung vitamin và chất khoáng có cải thiện rõ rệt về sức khỏe như: giảm được mệt mỏi, tập trung tư tưởng tốt hơn, ăn ngon miệng hơn, dễ ngủ và thời gian ngủ kéo dài hơn…
Vitamin và chất khoáng là những chất nền tảng của sự sống, chúng được cung cấp hàng ngày qua thức ăn, nước uống dễ dàng đến độ có lúc chúng ta quên đi sự cần thiết thực sự của nó. Cho đến khi sự thiếu thốn tích lũy lâu dần theo thời gian trở thành bệnh lý tức là lúc sức khoẻ suy giảm nhiều đôi khi đã khá muộn. Hãy cung cấp kịp thời những gì cơ thể cần.

Theo SKĐS

Điều trị gãy xương và tái gãy xương do loãng xương

Không tuân thủ phác đồ điều trị là một trong những lý do thường thấy dẫn đến thất bại trong điều trị bệnh loãng xương. Tại sao bệnh nhân thường không tuân thủ phác đồ điều trị và làm thế nào và tái gãy xương do loãng xương có hiệu quả hơn?

Những biến cố không kiểm soát!

Vài tháng trước, cứ thay đổi thời tiết là bác Trần Thị Minh, 63 tuổi ở số 2 ngõ 40 Phan Đình Giót Hà Nội lại thấy nóng âm ỉ trong xương, đau mỏi trong các khớp, cột sống, đau cơ, co cứng cơ… Đi đo mật độ xương tại khoa Cơ Xương khớp BV. Bạch Mai, bác được chẩn đoán là LX và được chỉ định dùng thuốc ức chế hủy xương dạng viên uống tuần/lần cùng với một số thuốc khác. Bác Minh cho biết: “Từ khi phải điều trị LX, tôi thấy rất phiền phức. Về quê giỗ, tết đều phải mang thuốc. Mặc dù đã phải ghi chép, đánh dấu cẩn thận vậy mà vẫn có lúc quên. Chưa kể, mỗi lần uống thuốc phải đứng thẳng hơn nửa tiếng… Thế mà đợt kiểm tra này bác sĩ cho biết, mật độ xương của tôi vẫn ở tình trạng báo động”.

dieu_tri_gay_xuong_va_tai_gay_xuong_do_loang_xuong

Biến chứng gãy cổ xương đùi do loãng xương.

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan (Trưởng khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai, Hà Nội cho biết, các loại thuốc ức chế hủy xương như Alendronat, Risedronate, Zoledronate là những thuốc điều trị LX khá hiệu quả, được sử dụng ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Song thuốc cần phải dùng kéo dài nhiều năm, thậm chí suốt đời nên việc tuân thủ điều trị khá khó khăn. Nhiều BN tưởng là đã khỏi bệnh nên ngưng thuốc (do LX thường không có triệu chứng). Những BN có tuổi thường quên uống thuốc, đến khi biến chứng gãy xương thì đã muộn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân sau điều trị, người bệnh LX chỉ có thể giảm được 50% nguy cơ bị gãy xương và tỷ lệ tái gãy xương là rất cao, gấp 2,5 lần so với người không mắc bệnh.

Phòng ngừa và điều trị bằng dịch truyền

PGS.BS Nguyễn Thị Ngọc Lan cho biết, hiện khoa Xương Khớp BV. Bạch Mai đang triển khai phương pháp điều trị mới cho BN LX và gãy xương bằng thuốc ức chế hủy xương zoledronic acid 5mg dạng tiêm truyền tĩnh mạch. Thuốc được truyền trực tiếp vào tĩnh mạch bệnh nhân trong vòng ít nhất 15 phút. Bước đầu sử dụng tại khoa Cơ Xương Khớp BV. Bạch Mai cho thấy hiệu quả tốt. Dưới 10% BN gặp tác dụng phụ như: sốt, đau mình mẩy, đau xương khớp… (xuất hiện trong vòng 1-3 ngày đầu). Tuy nhiên, những BN đau cột sống do lún xẹp đốt sống (biến chứng của LX) được truyền zoledronic acid 5mg đạt hiệu quả giảm đau nhanh chóng (trong vòng 24 giờ sau truyền, BN đã thấy giảm đau rõ rệt). Điều này giúp BN phục hồi chức năng vận động, tránh các biến chứng có thể gây tử vong cho người cao tuổi như: viêm phổi chẳng hạn… Cần lưu ý các chống chỉ định của thuốc là các BN suy thận nặng (có hệ số thanh thải creatinine < 35 ml/phút). Tuy nhiên, thuốc không cần chỉnh liều ở BN suy gan hoặc người cao tuổi (trên 65 tuổi).

Khác với các thuốc ức chế hủy xương dạng uống khác, zoledronic acid 5mg đảm bảo tốt hơn sự tuân thủ điều trị của BN vì chỉ cần truyền 1 liều duy nhất mỗi năm. Bác Nguyễn Văn Khải, 54 tuổi (Bắc Giang) đã điều trị LX bằng Aclasta cho biết: “Tôi có tiền sử bệnh dạ dày. Trước đây, tôi dùng thuốc LX dạng viên nên hay bị đau bụng và cơ thể bứt rứt, khó chịu. Sau khi được bác sĩ thay đổi phác đồ điều trị, chỉ cần truyền thuốc trực tiếp vào tĩnh mạch một lần mỗi năm để bảo vệ xương, tôi thấy nhẹ cả người”.

Theo GS.TS Trần Ngọc Ân, Chủ tịch Hội Khớp học Việt Nam, zoledronic acid 5mg đã được y học thế giới chứng minh về hiệu quả: giảm tỷ lệ gãy xương như: gãy xương hông, gãy xương đốt sống (lún xẹp đốt sống) và gãy các xương khác; tăng mật độ chất khoáng của xương; phòng ngừa gãy xương lâm sàng mới sau gãy xương hông cả ở nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, phương pháp này cần có sự chỉ định và theo dõi sát sao của bác sĩ, BN tuyệt đối không được tự ý sử dụng. Ngoài ra, để phòng ngừa tình trạng LX và điều trị LX, tránh biến chứng gãy xương, BN cần duy trì các bài tập thể dục thông thường có chịu đựng sức nặng của cơ thể (đi bộ, chạy bộ, khiêu vũ, tennis), các bài tập tăng sức mạnh của cơ (bài tập kháng lực, nhấc vật nặng, cử tạ…) nếu không có chống chỉ định (lưu ý là bơi không có tác dụng phòng chống LX). Ngoài ra, cần đảm bảo chế độ ăn giàu canxi trong suốt cuộc đời. Các BN đã LX cần phải tránh ngã. Nếu cần thiết có thể mặc “quần đùi” bảo vệ khớp háng để tránh gãy cổ xương đùi. Khi đã có biến dạng cột sống (gù, vẹo), cần đeo thắt lưng cố định cột sống để trợ giúp cột sống. cột sống để trợ giúp cột sống.

TUYẾT VÂN
Theo SKĐS

Phòng và điều trị chứng loãng xương như thế nào?

Loãng xương là một chứng bệnh làm cho xương bị yếu, giòn và dễ bị gãy hơn bình thường. Chỉ cần một va chạm nhẹ hoặc ngã cũng có thể làm xương bị gẫy nặng. Chứng loãng xương thường được gọi là chứng bệnh âm thầm, quá trình loãng xương diễn ra từ từ nên không gây triệu chứng gì. Chỉ tới khi loãng xương nặng, xương bị gãy hoặc bị xẹp mới có biểu hiện.

phong_và_dieu_tri_chung_loang_xuong_nhu_the_nao

Dấu hiệu của loãng xương

Dấu hiệu sớm nhất là đau lưng nhẹ, âm ỉ, dấu hiệu này thường bị bỏ qua. Nếu không điều trị loãng xương có thể gây ra gãy xương. Bất cứ xương nào trên cơ thể cũng có thể gãy, nhưng thông thường nhất là xương hông, xương sống, xương cổ tay, xương sườn, xương chậu và xương cánh tay.

Hàm lượng chất khoáng trong xương cao ở tuổi 25 sau đó giảm xuống ở nữ độ tuổi mãn kinh và nam khoảng 55 tuổi. Tỷ lệ khối lượng xương giảm đi hàng năm thay đổi từ 0,5 – 2% tùy theo từng người. Những người khi còn trẻ có độ đặc xương thấp thì khi về già dễ bị loãng xương. Các yếu tố ảnh hưởng tới độ đặc của xương bao gồm: thiếu oestrogen, thiếu hoạt động, hút thuốc lá, uống rượu và dùng nhiều thuốc, chế độ dinh dưỡng thiếu canxi. Thể phổ biến nhất của loãng xương được cho là nồng độ estrogen (nội tiết tố sinh dục nữ) thấp sau mãn kinh. Vì vậy, phụ nữ sau mãn kinh thường bị loãng xương. Ở nam giới thì dấu hiệu của loãng xương xuất hiện chậm hơn.

Có thể kiểm tra loãng xương bằng chụp Xquang và đo độ dày của xương bằng máy siêu âm

Điều trị loãng xương

Điều trị có thể làm ngừng tiến triển của loãng xương nhưng không hồi phục được những tổn hại trước đó. Do đó việc điều trị sớm là rất cần thiết. Mục đích của điều trị là ngăn ngừa cho tế bào xương không bị mất thêm và tránh cho xương bị gãy. Điều trị làm giảm sự mất xương bao gồm tăng can xi qua chế độ ăn và thuốc uống, bổ sung vitamin D hoặc fluorid tác động lên sự chuyển hoá của xương. Phụ nữ mãn kinh có thể phòng ngừa hoặc làm ngừng sự phát triển của loãng xương bằng điều trị oestrogen thay thế.

Phòng chứng loãng xương

Can xi là thành phần cấu trúc quan trọng của xương, giúp cân bằng kiềm toan để giữ trương lực cơ. Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ can xi cho cơ thể qua chế độ ăn uống, vận động. Nhu cầu về can xi ở trẻ dưới 12 tuổi là 800 – 1000mg/ngày, trên 12 tuổi và người lớn cần 1200mg/ngày, phụ nữ có thai và đang cho con bú cần 1500mg/ngày. Các thực phẩm giàu can xi là sữa và các chế phẩm từ sữa, các loại cá, tôm, cua, ốc, đậu tương, rau cải, lòng đỏ trứng… Ngoài ra cần bổ sung nguồn vitamin D (trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, lươn, trai, sò…) để cơ thể hấp thụ được can xi. Phụ nữ mang thai nên ăn thức ăn đa dạng, bảo đảm đủ can xi và chất đạm giúp hình thành xương cho thai nhi trong suốt quá trình phát triển. Nên vận động điều độ, phù hợp lứa tuổi, tạo sự dẻo dai cho cơ thể. Tập thể dục vừa sức như đi bộ đạp xe, bơi… vì tập thể dục giúp cho xương được rắn chắc, giúp tăng mật độ xương, hạn chế chứng loãng xương.

Bác sĩ Vũ Minh
Theo SKĐS

Cốt toái bổ: Vị thuốc dự phòng và điều trị loãng xương

Tỷ lệ trường hợp bị bệnh loãng xương ở người cao tuổi và ở phụ nữ đã mãn kinh ngày càng tăng. Một số công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh có nhiều loại thực phẩm và cây thuốc có tác dụng làm tăng sự hấp thụ chất khoáng vào xương, trong đó có cây cốt toái bổ. Như vậy, việc dùng các chất bổ sung dinh dưỡng thiên nhiên và các thảo dược có thể là một biện pháp quan trọng để giảm tỷ lệ người mắc bệnh loãng xương, hoặc ít nhất làm giảm mức độ mất chất khoáng ở xương, đặc biệt ở người cao tuổi.

Cốt toái bổ là một trong những cây thuốc có tác dụng dự phòng và điều trị loãng xương, điều trị gãy xương và các bệnh về xương khớp khác. Ở Việt Nam, cốt toái bổ phân bố ở một số tỉnh giáp biên giới Trung Quốc. Cây hiếm gặp hơn ở các tỉnh từ Thanh Hóa, Nghệ An trở vào. Cốt toái bổ sinh trưởng ở kiểu rừng kín thường xanh và rừng núi đá vôi ẩm, với độ cao phân bố đến 1.600m. Bộ phận dùng là thân rễ già phơi hay sấy khô. Có khi người ta đồ chín, rồi mới phơi, sấy khô. Muốn biết lông bao phủ bên ngoài, người ta đốt nhẹ cho cháy.

cot_toai_bo_vi_thuoc_du_phong_va_dieu_tri_loang_xuong

Tác dụng dược lý: Để nghiên cứu tác dụng chống loãng xương, người ta đã thử nghiệm tác dụng của cốt toái bổ trên hoạt tính của protease là men có vai trò gây khởi đầu sự mất xương ở chuột cống và chuột nhắt trắng. Trong nghiên cứu này, cả cao chiết cồn và cao chiết nước đều có tác dụng ức chế mạnh các cathepsin K và L, là các yếu tố làm biến tính chất tạo keo trong xương, trong đó cao chiết cồn có tác dụng mạnh hơn. Cũng đã chứng minh trong thử nghiệm nuôi cấy tế bào và trên cơ thể động vật sống hiệu quả tốt của thân rễ cốt toái bổ trên sự tăng sinh các tế bào xương của người và hoạt tính điều hòa miễn dịch.

Các tế bào tiền – xương được nuôi cấy với các nồng độ khác nhau của cốt toái bổ và đã nhận xét thấy các nồng độ thấp có tác dụng kích thích sự tăng sinh tế bào xương và các nồng độ cao lại có tác dụng ức chế. Ngoài tác dụng chống loãng xương, cốt toái bổ còn có các hoạt tính dược lý khác như tác dụng tăng cường chức năng nội tiết sinh dục nữ (và như vậy cũng là tác dụng gián tiếp chống loãng xương), chống viêm và viêm khớp.

Công dụng: Cốt toái bổ là một thành phần chính trong nhiều bài thuốc được dùng chữa gãy xương và làm mạnh xương khớp trong y học cổ truyền Việt Nam, Trung Quốc và Triều Tiên. Thân rễ cốt toái bổ có tác dụng bổ thận, làm mạnh gân xương, hành huyết, phá huyết ứ, cầm máu, giảm đau. Được dùng để dự phòng và điều trị loãng xương, đau xương, đau lưng mỏi gối, khớp sưng đau, ngã chấn thương, bong gân, tụ máu, sai khớp, gãy xương, thận hư (suy giảm chức năng nội tiết), chảy máu chân răng. Ngày dùng 6-12g thân rễ khô dưới dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu uống.

Các bài thuốc có cốt toái bổ

Bài thuốc bổ khí huyết, bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương, dùng cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, gãy xương: Cốt toái bổ 12g; đảng sâm, hoài sơn, ba kích, mỗi vị 16g; hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, cẩu tích, tục đoạn, mẫu lệ, mỗi vị 12g; thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang hoặc nấu cao lỏng uống.

– Bài thuốc bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương: Bột cốt toái bổ, bột sừng hươu nai, bột mẫu lệ, mỗi vị 2g. Làm thành viên uống, hay uống dạng bột trong một ngày. Uống liên tục trong thời gian dài. Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư, yếu: Cốt toái bổ 16g; cẩu tích, củ mài, mỗi vị 20g; tỳ giải, đỗ trọng, mỗi vị 16g; rễ gối hạc, rễ cỏ xước, dây đau xương, thỏ ty tử, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

– Chữa đau lưng, răng đau, ù tai do thận hư: Cốt toái bổ tán nhỏ 4-6g, cho vào bầu dục lợn, nướng chín ăn.

– Chữa phong thấp đau nhức thuộc huyết:

a. Phương thuốc ngâm rượu: Cốt toái bổ 40g, rễ gắm 120g, vỏ chân chim 100g, rễ rung rúc 80g; rễ bươm bướm (bạch hoa xà), rễ chiên chiến, mỗi vị 60g; xích đồng nam, bạch đồng nữ, tiền hồ, ô dược, cỏ xước, rễ bưởi bung, mỗi vị 40g. Nấu thành cao đặc rồi cho thêm rượu 40o thành 2 lít, ngâm trong 3 ngày. Lọc lấy dịch trong, mỗi lần uống 30ml, ngày 2 lần.

b. Phương thuốc viên: Cốt toái bổ 160g (nấu với mật, phơi khô), cẩu tích 240g (tẩm rượu nấu với nước muối, phơi khô), thạch hộc 160g (rửa với rượu, chưng kỹ, phơi khô), hy thiêm 160g (chưng với rượu và mật, phơi khô), rễ cỏ xước 160g (dùng tươi, rửa với rượu), vỏ chân chim 160g (sao), rễ gắm 160g (sao), quán chúng 100g (phơi chỗ râm), lá ké đầu ngựa 40g (phơi trong râm). Các vị tán bột, làm thành viên, uống mỗi lần 8-12g với nước gừng hay rượu.

– Chữa thấp khớp mạn tính (thể nhiệt): Cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết đằng, đan sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, thiên hoa phấn, thổ phục linh, mỗi vị 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

– Thuốc đắp chữa bong gân, tụ máu: Cốt toái bổ tươi, bóc bỏ hết lông tơ và lá khô, rửa sạch, giã nhỏ, rấp nước, gói vào lá chuối đã nướng cho mềm, đắp lên các chỗ đau, bó lại. Thay thuốc bó nhiều lần trong ngày.

Theo SKĐS

Loãng xương: Kẻ thù số một của phụ nữ

Ở tuổi 50, phụ nữ luôn quan tâm tới hình thể, sắc đẹp và sức khỏe. Bởi độ tuổi này, mọi thứ đều “xuống dốc”, trong đó phải kể tới căn bệnh loãng xương, kẻ thù của sức khỏe và vẻ đẹp phụ nữ.

Nguyên nhân bị loãng xương

Số xương ngày càng mất đi khi số tuổi ngày một tăng. Ngoài 50 tuổi, xương của bạn trở nên xốp, mỏng và dễ gãy, vỡ. Từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành, các tế bào xương già nua liên tục được thay bằng tế bào xương mới. Trong thời thơ ấu và thanh niên, mô xương mới được tạo ra nhiều hơn mô xương cũ bị hủy đi. Nhưng đến một thời kỳ nào đó, thường sau tuổi 30, thì ngược lại, mô xương bị hủy nhiều hơn mô xương mới được tạo ra. Đó cũng là giai đoạn bắt đầu loãng xương. Loãng xương được xem là bệnh khá phổ biến của phụ nữ độ tuổi trung niên, sau thời kỳ mãn kinh dễ bị loãng xương. Vậy đâu là nguyên nhân? Có rất nhiều nguyên nhân như: do chất estogen – liên quan đến sự hấp thụ canxi của xương, đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành xương mới – giảm đi; do nghiện rượu, cà phê và thuốc lá; do chế độ dinh dưỡng không phù hợp, nhất là không đủ canxi; do dùng thuốc chữa bệnh lâu dài… Hậu quả của loãng xương là gù hoặc có bướu ở lưng, gãy xương, vỡ xương chậu.. Các tai nạn đó ảnh hưởng tới khả năng lao động, chất lượng cuộc sống, thậm chí gây tàn tật vĩnh viễn và có thể dẫn đến tử vong.

loang_xuong_ke_thu_so_mot_cua_phu_nu

Phát hiện loãng xương

Xương cấu tạo nhờ canxi và chất khoáng, khi các chất này mất đi sẽ khiến bạn bị loãng xương. Loãng xương là một bệnh phức tạp liên quan đến các nhân tố như hormon, lối sống, dinh dưỡng và môi trường. Hiện nay, người ta phát hiện loãng xương bằng cách đo độ loãng xương. Bệnh loãng xương muốn khắc phục được hay không sẽ phụ thuộc vào bản thân người bệnh là chủ yếu vì nếu bạn biết cách dùng thuốc, biết cách vận động như chăm chỉ tập thể dục, hay thực hiện chế độ ăn khoa học, dùng thuốc bổ trợ và liệu pháp thay thế hormon… đều có thể làm ngừng quá trình mất xương và trong một số trường hợp còn có thể tăng mật độ xương.

Chế độ dinh duỡng và luyện tập phòng tránh loãng xương  

Như đã trình bày, ăn uống và luyện tập góp phần quan trọng hạn chế loãng xương. Bạn nên bổ sung các chất như:

Canxi: Là chất quan trọng nhất cấu thành xương, vì vậy, sự hấp thụ canxi là điều sống còn đối với sức khỏe của xương. Chế độ ăn giàu canxi cùng với vitamin D rất quan trọng để chống loãng xương.

Florua: Là chất khoáng thiết yếu trong việc hình thành xương và răng.

Magiê: Quan trọng không kém canxi đối với sức khỏe của xương vì cơ chế chuyển hóa canxi và vitamin C rất cần đến nó. Magiê ngăn chặn sự gãy xương mới và làm tăng đáng kể mật độ xương.

Bo: Cùng với canxi và magiê, chất khoáng này làm xương chắc khỏe hơn. Bo bổ sung làm giảm sự mất canxi và magiê trong nước tiểu và còn làm tăng đáng kể mức estrogen và canxi trong máu, giúp bảo vệ xương.

Vitamin D: Cơ thể không hấp thụ được canxi nếu không bổ sung vitamin D. Vitamin D có trong nhiều sản phẩm sữa, trứng, nấm tươi, hải sản và còn được tạo ra khi chúng ta phơi mình dưới ánh nắng yếu.

Ngoài ra bạn nên dùng các chất bổ trợ khác nhau như cá và dầu cá, chứa nhiều acid béo omega 3 – một loại acid giảm được sự bài tiết canxi qua thận, tăng lượng canxi mà xương hấp thụ, cản trở hoạt động của tế bào hủy xương và kích thích hoạt động của các tế bào  tạo xương. Những nguồn thực phẩm giàu acid omega 3 là cá ngừ, cá hồi, cá thu, cá bơn,… Bạn cũng có thể dùng viên dầu cá, nhưng phải có chỉ định của thầy thuốc. Đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương như đậu phụ, sữa đậu nành, giá đậu nành, giàu phytoestrogen, một hormon thực vật giống hệt estrogen ở người. Vì tế bào xương có các cơ quan thụ cảm  estrogen nên có thể phytoestrogen sẽ gắn vào các cơ quan thụ cảm này và hoạt động như estrogen tự nhiên.

Muốn giảm chứng loãng xương, bạn nên thường xuyên tập thể dục thể thao, như đi bộ, tennis, khiêu vũ, thể dục nhịp điệu và các bài tập chuyên biệt để làm cho lưng khỏe hơn. Nên tránh những môn thể thao hay ngã như đạp xe ở địa hình gồ ghề, vật, thể hình…

Hạn chế đưa vào cơ thể những chất góp phần làm mất canxi và magiê như đồ uống có cafein, nước ngọt có gas, chất cồn và muối.

Thừa cân cũng làm bộ xương mỏng mảnh chịu lực nhiều hơn. Vì thế, bạn phải giữ ổn định trọng lượng.

Các sản phẩm từ sữa là nguồn cung cấp canxi rất tốt, nhưng nếu dùng nhiều sữa dễ bị béo phì, vì vậy, bạn chỉ nên dùng các loại sữa và sản phẩm từ sữa có lượng chất béo thấp.

Theo SKĐS

Nhận biết trẻ suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ.

nhan_biet_tre_suy_dinh_duong

Tại sao trẻ bị SDD?

Do sai lầm về nuôi dưỡng: Chế độ ăn của trẻ thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng như nuôi nhân tạo bằng nước cháo đường, ăn bổ sung sớm bằng bột mắm, muối, mì chính. Một số trẻ sau khi cai sữa, khẩu phần ăn chủ yếu là gạo, ít thức ăn động vật, dầu, mỡ, vitamin và chất khoáng.

Do nhiễm khuẩn: Hậu quả của các bệnh nhiễm khuẩn như sởi, tiêu chảy, viêm phổi, lao, giun sán… làm cho trẻ kém ăn chậm lớn.

Nguyên nhân sâu xa cũng cần phải kể đến dịch vụ y tế, môi trường, an ninh thực phẩm cho các hộ gia đình chưa đầy đủ.

Thực tế lâm sàng và dịch tễ học cho thấy những trẻ 6-18 tháng tuổi bắt đầu ăn bổ sung và giảm dần bú sữa mẹ; trẻ sinh ra có cân nặng thấp dưới 1.500g; trẻ không được bú sữa mẹ trong năm đầu; trẻ thường xuyên bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm đường hô hấp; trẻ bị dị tật bẩm sinh như sứt môi hở hàm ếch, tim bẩm sinh, di chứng thần kinh; gia đình đông con, kinh tế eo hẹp… có nguy  cơ bị SDD.

Làm thế nào để nhận biết được trẻ bị SDD?

Biểu hiện sớm của SDD là trẻ chậm lớn, tăng cân kém. Theo dõi biểu đồ phát triển cho thấy cân nặng của trẻ SDD bao giờ cũng giảm hơn so với cân nặng của trẻ bình thường cùng lứa tuổi. SDD nhẹ (độ I) cân nặng sụt từ 20-30%, SDD vừa (độ II) cân nặng sụt từ 30-40%, SDD nặng: gồm 3 thể.

– Thể teo đét (Marasmus): Cân nặng giảm trên 40%. Trẻ gầy đét da bọc xương.

– Thể phù (Kwashiokor): Cân nặng giảm từ 20-40%. Trẻ phù toàn thân, trên da có thể xuất hiện các mảng sắc tố màu nâu và lở loét toàn thân.

– Thể phối hợp: Cân nặng giảm trên 40%, từ gầy yếu và phù 2 chân. Trẻ SDD thường bị thiếu máu, thiếu vitamin đặc biệt là thiếu vitamin A gây khô mắt.

Những trẻ SDD nhất là ở trẻ nhỏ, nếu bị SDD nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến phát triển thể chất, tinh thần và vận động. Trẻ chậm biết lẫy, bò, ngồi, đứng, đi. Khi trẻ lớn lên cân nặng và chiều cao đều giảm hơn so với người cùng tuổi, trẻ gái thì đẻ khó và khi làm mẹ dễ sinh ra những bé còi cọc. Một số công trình nghiên cứu đã chứng tỏ các tế bào thần kinh ở não không phát triển đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến trí tuệ, giảm trí nhớ và kém thông minh.

Trẻ SDD dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn có thể làm cho SDD nặng hơn. SDD bị mù do thiếu vitamin A thì tỷ lệ tử vong cao.

SDD là một bệnh có thể điều trị được nhưng cần phát hiện sớm, điều chỉnh cách ăn uống của trẻ. Trẻ SDD thường kém ăn, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày để bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng. Nếu trẻ đang bú mẹ vẫn phải tiếp tục cho bú. Tùy theo lứa tuổi cho trẻ ăn thêm bột, cháo nhưng phải quấy lẫn với thịt hoặc trứng, đậu đỗ, dầu, mỡ và các loại rau. Không cai sữa, không kiêng ăn mỡ khi trẻ bị bệnh nhất là bệnh tiêu chảy. Ngoài ra cần phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn thông thường ở trẻ SDD để xử trí kịp thời. Nếu trẻ bị SDD nặng phải được điều trị tại cơ sở y tế.

Để phòng bệnh SDD, cần làm tốt các việc sau đây

Chăm sóc trẻ từ trong bụng mẹ: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy cân nặng của trẻ sơ sinh phụ thuộc nhiều vào dinh dưỡng của bà mẹ. Ở những bà mẹ ăn uống kém thì thai nhi có thể bị SDD từ trong bụng mẹ. Vì vậy trong thời gian mang thai người mẹ cần ăn uống bồi dưỡng hơn bình thường đồng thời theo dõi tăng cân từng quý; khám thai định kỳ ít nhất 3 lần. Thực hiện tiêm phòng uốn ván, nghỉ ngơi trước đẻ và sinh đẻ tại cơ sở y tế để mẹ tròn con vuông.

Nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lý

Cho trẻ bú sớm ngay sau đẻ, bú càng sớm càng tốt, cho bú hoàn toàn trong 4 tháng đầu và kéo dài 18-24 tháng.

Trong trường hợp mẹ không có sữa hoặc ít sữa thì cho trẻ ăn thêm sữa bò hoặc sữa đậu nành, tuyệt đối không dùng nước cháo đơn thuần để nuôi trẻ.

Từ 5 tháng tuổi ngoài bú mẹ cần cho trẻ ăn thêm thức ăn bổ sung, tùy theo lứa tuổi có thể cho trẻ ăn bột, cháo nhưng phải quấy lẫn với thịt, trứng, đậu đỗ, dầu, mỡ và các loại rau.

Khi trẻ ốm không được kiêng khem quá mức, cho trẻ ăn nhiều bữa trong ngày thức ăn dễ tiêu hóa và đủ các chất dinh dưỡng.

Tiêm chủng: Để phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn cần thực hiện tiêm chủng cho trẻ đầy đủ và đúng kỳ hạn.

Theo dõi cân nặng: Trong năm đầu mỗi tháng cân trẻ một lần, trẻ từ 2-5 tuổi thì 2-3 tháng cân một lần, nếu thấy cân của trẻ bắt đầu đứng hoặc sụt cân là dấu hiệu sớm để phát hiện SDD.

Sinh đẻ kế hoạch: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ SDD tăng cao gặp ở những bà mẹ đẻ dày và đông con cho nên cần sinh đẻ có kế hoạch.

Xây dựng hệ sinh thái VAC tại gia đình để tạo thêm nguồn thực phẩm nhằm cải thiện bữa ăn cho bà mẹ và trẻ em.

SDD là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, tương lai của nòi giống. Do đó đòi hỏi những biện pháp cơ bản của Nhà nước và sự kết hợp của nhiều ngành, gia đình và xã hội. Bản thân các bà mẹ là những người trực tiếp nuôi trẻ, cần được trang bị những kiến thức về nuôi con theo khoa học.

Theo SKĐS