Tag Archives: chat beo

Thói quen giúp tỉnh táo không cần caffeine

Các chất chứa caffeine giúp bạn tỉnh táo những dùng quá nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bạn. Đây là giải pháp thay thế hoàn hảo cho cả gia đình.

1. Uống nước
Thay vì uống nước trái cây, đồ uống có caffeine hay thức uống giàu năng lượng, bạn nên uống một hoặc hai ly nước để thanh lọc cơ thể, làm sạch da và cải thiện hệ tiêu hóa vì nước giúp loại bỏ những chất độc ra khỏi cơ thể. Theo tờ Havard Health Publications cho hay, nước là chất dinh dưỡng duy nhất giúp bạn duy trì phong độ trong những hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian.

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine
Lời khuyên: Bạn nên cho thêm một quả chanh để biến nước trở thành loại thức uống giàu năng lượng tự nhiên với chất điện giải giúp các tế bào sản sinh năng lượng.

2. Ăn các loại chất béo có lợi
Bạn không nên loại toàn bộ chất béo ra khỏi khẩu phần ăn của mình. Các loại chất béo có lợi rất cần thiết để cơ thể hấp thụ các chất chống ô xi hóa. Cơ thể cần chất béo để hấp thụ một số chất ô xi hóa từ ruột vào máu. Ngoài ra, các chất béo này còn giúp cơ thể chống lại một số gốc tự do và tăng cường sự tập trung, tỉnh táo.
Lời khuyên: Để có được mức năng lượng tối đa thì các chất béo từ bơ, dầu ô liu, dừa và cá là tốt nhất.

3. Đi rảo bước
Đi rảo bước mỗi ngày là khởi đầu tốt để tăng mức hoạt động. Luyện tập khiến cơ thể sản sinh epinephrine và norepinephrine, những hoóc môn có thể khiến bạn cảm thấy tràn đầy năng lượng. Tất cả các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người hoạt động nhiều sẽ ít cảm thấy mệt mỏi hơn người hoạt động ít.
Lời khuyên: hãy tập aerobic từ 30 đến 60 phút, 3 đến 5 ngày một tuần để tăng cường năng lượng và sức khỏe tim mạch.

4. Nghe một bài hát bạn ưa thích

thoi-quen-giup-tinh-tao-khong-can-caffeine1
Để nhanh chóng tràn đầy năng lượng, bạn hãy bật bài hát mình ưa thích và bắt đầu nhảy. Theo một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí thần kinh học châu Âu, âm nhạc sẽ cải thiện tinh thần và phục hồi năng lượng vì nó tiếp thêm sinh lực cho cơ thể bằng cách kích thích một số vùng trên não.

5. Mát xa tai
Mát xa tai tăng cường tuần hoàn máu, vì vậy bạn sẽ khôi phục năng lượng nhanh chóng. Tiến sĩ Art Karno, chuyên gia chữa bệnh bằng phương pháp nắn khớp xương tại California cho hay tai chứa các huyệt có thể kích thích các vùng, tổ chức, hệ cơ quan trong cơ thể. Ông khuyến cáo mọi người nên mát xa toàn bộ tai bao gồm cả các thùy, đồng thời thở ba lần.
Lời khuyên: Bắt đầu ở thùy, sau đó mát xa lên phía trên tai.

6. Tắm nước ấm
Trong khi tắm nước nóng khiến bạn thấy thư giãn, thoải mái thì tắm nước ấm (khoảng 50 độ) sẽ kích thích cơ thể và tăng tuần hoàn máu khiến bạn tỉnh táo hơn. Tim Ferris, tác giả The 4-hour Body cho hay tắm nước ấm có thể thúc đẩy tiêu hóa, tăng năng lượng, hỗ trợ hệ miễn dịch, cải thiện chức năng sinh lý và cho bạn làn da, mái tóc khỏe mạnh.
Lời khuyên: Tắm bình thường sau đó giảm nhiệt độ trong khoảng 5 phút cuối.

Theo sức khỏe đời sống

Bổ sung dưỡng chất để phòng tránh bệnh ung thư

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư, trong đó có cả nguyên nhân xuất phát từ chuyện ăn uống. Hãy tham khảo những thông tin dưới đây để biết cách bổ sung dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, phòng bệnh và giữ  sức khỏe tốt nhất.

1. Cơ thể thiếu chất xơ có thể bị ung thư đại trực tràng

Nguy cơ ung thư đại trực tràng (ung thư ruột kết) là do thức ăn lưu trữ lâu trong ruột. Trong cuộc sống hiện đại, chế độ ăn uống của nhiều người thường thiễu chất xơ, cellulose… nhiều protein, chất béo…

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu

Thực phẩm protein cao, chất béo cao sau khi vào cơ thể sẽ phân giải và sinh ra nhiều chất gây ung thư. Những chất này lưu lại trên màng ruột kết trong thời gian dài sẽ dẫn đến ung thư ruột kết. Nếu cơ thể được cung cấp đủ chất xơ, thức ăn qua đường ruột sẽ được tiêu hóa nhanh hơn, nhờ đó những chất gây ung thư cũng được sản sinh ra ít hơn và nhanh chóng loại bỏ khỏi cơ thể nên nguy cơ ung thư đại trực tràng cũng giảm.

Bạn có thể bổ sung chất xơ từ các thực phẩm như yến mạch, các loại đậu, carotene, cam quýt, lúa mạch…

2. Cớ thể thiếu i-ốt có thể bị ung thư tuyến giáp

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu1


Thiếu i-ốt dẫn đến thiếu hormone tuyến giáp và ảnh hưởng tới nhiều chức năng quan trọng của cơ thể, gây ra nhiều rối loạn khác nhau gọi chung là “các rối loạn do thiếu i-ốt.

Tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng và lớn nhất, ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể. Khi chức năng tuyến giáp bị rối loạn thì các tế bào trong cơ thể sẽ không còn hoạt động hiệu quả như bình thường, khiến bạn dễ mắc nhiều bệnh khác.

Nếu chức năng tuyến giáp bị suy giảm hoặc nồng độ hormone tuyến giáp trong máu tăng cao có thể gây ra những tổn thương ở mô và rối loạn chuyển hóa hoặc gây những tổn hại về mô, chuyển hóa (nhiễm độc giáp), nhịp tim thường xuyên nhanh, tăng nhu động ruột,…

Nếu không được điều trị kịp thời, cả hai tình trạng suy giảm hoặc hoạt động quá mức của tuyến giáp sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng tuyến giáp, thậm chí có thể dẫn đến ung thư tuyến giáp.

Chế độ ăn uống nghèo iodine cũng góp phần vào sự xuất hiện của ung thư liên quan đễn estrogen như vú, ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng. Vì vậy, bạn nên bổ sung i-ốt từ những thực phẩm như rong biển, hải sâm, rong biển, nghêu, mực…

3. Cơ thể thiếu vitamin D có thể bị ung thư vú

bo-sung-duong-chat-de-phong-tranh-benh-ung-thu2

Trung tâm Y tế thuộc Đại học Georgetown (Mỹ) vừa kết thúc một nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy mối liên kết giữa việc bổ sung liều vitamin D cao và tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Theo nghiên cứu này, những phụ nữ thường xuyên tắm nắng và bổ sung vitamin D qua ăn uống giảm được tới 75% rủi ro mắc các loại bệnh ung thư nói chung và 50% nguy cơ di căn ở nhóm đã mắc bệnh, nhất là ung thư vú nhạy cảm với estrogen.

Các chuyên gia Bệnh viện Ung bướu Hiện đại Quảng Châu nhắc nhở, những phụ nữ có tiền sử gia đình mắc bệnh sử ung thư vú, có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn… sẽ dễ mắc bệnh ung thư vú hơn những người khác. Để phòng ngừa bệnh này, chị em nên ăn nhiều các thực phẩm giàu vitamin D như cá, gan bò, lòng đỏ trứng…thường xuyên cần ánh nắng mặt trời để thúc đẩy cơ thể tổng hợp vitamin D nhiều hơn.

Cơ thể thiếu chất dẫn đến ung thư là điều không thể phủ nhận, nhưng bên cạnh đó, có một số chất nếu quá thừa trong cơ thể cũng có thể dẫn đến những hậu quả xấu. Trong trường hợp xấu nhất là nó cũng có thể dẫn đến các bệnh ung thư. Cụ thể là: Hàm lượng sắt và lipid trong máu cao có thể tăng nguy cơ ung thư nói chung.

“Sắt và lipid kết hợp với nhau sẽ tạo nên sự ứng suất oxy hóa – yếu tố đóng vai trò trong quá trình phát triển ung thư”, Tiến sĩ Arch G. Mainous III, Đại học Y Nam Carolina (Mỹ), cho biết. Nghiên cứu được tiến hành trên khoảng 3.000 người có lượng sắt và lipid cao. Họ được đo lượng sắt và 3 loại cholesterol là HDL, LDL và VLDL trong máu (trong đó, HDL là loại cholesterol có lợi, còn LDL và VLDL gây hại). VLDL là cholesterol có hàm lượng lipid rất thấp.

Kết quả cho thấy, quá nhiều sắt trong máu làm tăng 66% nguy cơ phát triển ung thư, còn nhiều cholesterol VLDL tăng 54%. Nếu hàm lượng hai vi tố này đồng thời cao thì nguy cơ mắc bệnh ung thư sẽ lên tới 168%. Ngoài ra, nhiều sắt cộng với ít cholesterol HDL cũng làm tăng nguy cơ đến mức tương tự. Điều này chứng tỏ việc giảm sắt và lipid ở những người dư thừa hai vi chất này có thểgiúp ngăn ngừa bệnh ung thư.

Nguồn gia đình

Giảm stress tăng cường trí nhớ bằng khoai tây

1. Tác dụng giảm béo

Thường xuyên ăn khoai tây sẽ giúp bạn quên đi nỗi lo về lượng mỡ tích tụ trong cơ thể, bởi khoai tây chỉ chứa 0,1% chất béo, là một trong những thực phẩm có hàm lượng chất béo thấp nhất. Với những người ăn kiêng để giảm cân, khoai tây sẽ là lựa chọn hàng đầu.

2. Giảm stress, nâng cao tinh thần

Cuộc sống bận rộn khiến bạn cảm giác ức chế, căng thẳng thần kinh, dễ nóng giận vô cớ và mất bình tĩnh, luôn có tâm trạng bất an, lo lắng. Sở dĩ “mắc” phải những hiện tượng trên là do cơ thể thiếu vitamin A và C, hoặc nạp quá nhiều thực phẩm chứa nhiều thành phần axit. Khoai tây lại là một trong những thực phẩm chứa nhiều vitamin A và C, do đó, nó giúp giảm highlight và nâng cao tinh thần.

giam-stress-tang-cuong-tri-nho-bang-khoai-tay

Khoai tây là một trong những loại thực phẩm bổ dưỡng.

3. Cải thiện trí nhớ, làm chậm quá trình lão hóa

Khoai tây chứa nhiều dinh dưỡng, chất chống oxy hóa, vitamin B1, B2, B6, kali, chất xơ, nguyên tố vi lượng, amino axit, protein, chất béo có lợi… do đó có tác dụng cải thiện trí nhớ, làm chậm quá trình lão hóa.

Tuy nhiên, muốn đạt được hiệu quả như mong muốn bạn phải duy trì chế độ ăn khoai tây một cách thường xuyên, liên tục và đủ lượng.

4. Chữa bệnh đau dạ dày

Khoai tây rất hiệu quả trong việc điều trị các chứng loét dạ dày, táo bón mãn tính, ho, sốt …Cellulose trong khoai tây không gây kích thích niêm mạc dạ dày, giúp giảm bớt những cơn đau dạ dày và giảm tiết lượng axit.

5. Chống ung thư

Một của khoai tây trung bình 148g thì có chứa khoảng 26g cacbon hydrat và hình thức chủ yếu của chất này là tinh bột tinh. Tinh bột này được coi là một hiệu ứng sinh lý và có lợi cho sức khỏe của chúng ta. Tương tự như chất xơ là chất chống ung thư ruột kết. Với những công dụng của khoaitây, bạn có thể tìm hiểu và có thể thêm khoai tây trong thực đơn hàng ngày để chống các căn bệnh trên.

6. Chữa bỏng

Khi bị bỏng, hãy cắt một khoanh khoai tây đắp lên chỗ bị thương, để một lúc lâu. Tuy nhiên, trước khi đắp, không nên rửa chỗ bị bỏng.

7. Chữa chứng phù mặt

Do bệnh gan, mặt bạn bị phù lên, đau đớn khó chịu. Trong khi chờ đi bác sĩ, bạn có thể chữa tạm thời cho đỡ đau bằng cách: Lấy khoai tây tươi giã nhỏ, đựng trong miếng vải màn, đắp lên mặt trong 30 phút, sẽ thấy dễ chịu ngay.

Theo giáo dục

Những căn bệnh ở da do thiếu chất

Nếu chế độ ăn của bạn bị mất cân đối hoặc thiếu chất, da sẽ bị tổn thương. Tùy theo chất bị thiếu mà có triệu chứng bệnh trên da hoặc kèm theo triệu chứng bệnh ở các cơ quan khác. Nhưng vấn đề khiến bạn phải băn khoăn muốn tìm câu trả lời, đó là: Tại sao chế độ ăn đầy đủ nhưng cơ thể vẫn bị thiếu chất?

Thiếu chất do ăn uống kém và do cơ thể hấp thu kém

Nhiều nghiên cứu cho biết: bình thường, đối với người khỏe mạnh, thiếu chất chủ yếu do chế độ ăn thiếu dinh dưỡng. Chẳng hạn bữa ăn thiếu thịt, cá, trứng, sữa… bạn sẽ bị thiếu chất đạm. Bữa ăn ít hay không có dầu mỡ, bạn sẽ bị thiếu chất béo. Đi nắng nhiều, làm việc lâu ngoài nắng mà không hoặc ít uống nước, bạn sẽ bị thiếu nước và một số muối khoáng. Bữa ăn thiếu rau và trái cây bạn dễ bị thiếu các loại vitamin…

Ở một khía cạnh khác, khi bữa ăn hằng ngày vẫn đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng bạn vẫn bị thiếu chất, đó là do cơ thể của bạn không hấp thu được các chất dinh dưỡng nói chung hoặc một vài chất nói riêng. Những chất dễ bị thiếu và khi thiếu gây tổn thương trên da gồm: nước và muối khoáng, vitamin, đạm, béo.

nhung-can-benh-o-da-do-thieu-chat

Thiếu vitamin C gây xuất huyết trên da

Tình trạng thiếu vitamin C là rất phổ biến, trong đó hay gặp ở những đối tượng: người già trên 55 tuổi, người hút thuốc lá, nghiện rượu, người lao động nặng, ăn uống thiếu rau xanh và trái cây. Thiếu vitamin C dễ bị xuất huyết do tính kém bền vững của thành mạch máu, hay gặp xuất huyết ở dưới da và ở niêm mạc lợi răng. Vitamin C có vai trò ngăn ngừa vết nhăn trên da, nó tham gia tổng hợp chất collagen đệm cho da không bị xệ và nhăn, tránh cho da khỏi khô, tóc và móng bớt gãy, giòn.

nhung-can-benh-o-da-do-thieu-chat1

Thiếu vitamin B3 gây viêm da tróc vảy.

Vitamin C cũng tham gia điều hòa sự tiết chất nhờn của tuyến nhờn trên da. Vitamin C còn giúp ngăn chặn sự tạo các vết đồi mồi trên da ở người lớn tuổi. Muốn tránh việc thiếu vitamin C, bạn cần ăn các thức ăn chứa nhiều chất này là rau xanh, trái cây như: rau ngót, rau đay, rau dền, súp lơ, rau cải, cà chua, chanh, cam, bưởi, dâu…

Thiếu vitamin và chất béo da khô tróc vảy

Vitamin A có vai trò quan trọng đối với mắt, đồng thời kích thích khả năng tái sinh tế bào da, chống lại sự lão hóa và sự teo đi của da khô; điều hòa sự bài tiết chất nhờn và ngăn chặn quá trình khô da, chống lại sự hình thành lớp sừng trên da, bảo vệ nhiễm sắc tố da chống lại hiệu ứng có hại của các tia tử ngoại… Thiếu vitamin A sẽ làm cho da bị ngứa, khô, tróc vảy, xù xì, các tuyến nhờn kém hoạt động, làm cứng da.

Chống thiếu vitamin A bằng cách ăn các thức ăn có nhiều vitamin A như: gan cá, gan động vật, bơ, lòng đỏ trứng, cà chua, cà rốt, rau có màu xanh thẫm, khoai lang, bí đỏ, đu đủ, gấc…

Thiếu vitamin B2 miệng lở, môi sưng đỏ và nứt, da trên mũi nứt, lưỡi viêm sưng, đau và nứt rãnh, rối loạn ở các tuyến nhờn trên da, làm cho da khô, tróc vảy mỏng, đặc biệt là ở những chỗ da có nếp gấp, các chất nhờn vón lại trên lỗ chân lông, khiến da bị gồ ghề xấu xí.

Thiếu vitamin B3 có thể đưa tới chứng viêm da, bị sưng, tróc vảy, nhất là ở phần da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời hoặc chấn thương, viêm miệng và lưỡi sưng đỏ.

Chữa bệnh bằng các loại thuốc có chứa acid nicotinic, ăn thực phẩm có nhiều vitamin B3 như: gan, thận, thịt bò, thịt gà vịt, thịt lợn, sữa, cơm gạo…

Trong thực tế, hầu hết mọi người không thiếu chất béo. Duy chỉ có một số trường hợp bị thiếu chất béo do ăn uống theo chế độ có rất ít chất béo, hoặc ở người phải nuôi dưỡng qua truyền mạch máu lâu ngày. Nếu thiếu chất béo thì da sẽ bị khô và lớp biểu bì sẽ tróc ra những vảy mỏng nhỏ. Cải thiện bằng cách ăn nhiều chất béo có trong thịt, cá, lạc, vừng…

nhung-can-benh-o-da-do-thieu-chat2

Thiếu vitamin C bị bệnh scorbut xuất huyết dưới da.

Thiếu chất đạm da khô, tóc thưa

Chất đạm là thành phần chính của các tế bào cũng như các cấu trúc khác của cơ thể, nên khi thiếu chất đạm sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng. Nếu thiếu đạm trầm trọng sẽ mắc bệnh Kwashiorkor là suy dinh dưỡng thể phù và có rối loạn sắc tố da. Bệnh này thường xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. Chế độ ăn có thể đầy đủ nhưng do cơ thể trẻ chưa đủ các loại men tiêu hóa nên không hấp thu được chất đạm mà bị suy dinh dưỡng do thiếu chất đạm.

Trẻ bị phù nề, kém ăn, tiêu chảy, mất cảm xúc, không tăng trưởng được. Đặc biệt da của bệnh nhi thay đổi màu, da rất khô, biểu bì tróc vảy mỏng với nhiều vết nhăn, kèm theo tóc rất thưa, mất màu sắc. Bệnh được cải thiện rất nhanh nếu trẻ được ăn uống đầy đủ chất nhất là chất đạm và điều trị suy dinh dưỡng tích cực.

Nguồn giáo dục

Thực đơn cho người béo phì

– Hãy lựa chọn các thực phẩm giàu protein như: Tôm, cua, cá, sữa đậu nành, trứng, sữa bột tách bơ, sữa chua làm từ sữa gầy, đậu để vẫn đảm bảo lượng protein cần thiết cho cơ thể.

– Cung cấp đủ vitamin và muối khoáng: Những khẩu phần ăn dưới 1.200 Kcal thường thiếu hụt vitamin và khoáng chất cần thiết như: Canxi, sắt, vitamin E…

– Ăn rau xanh và quả chín 500g/ngày, nên chế biến ở dạng luộc, nấu canh, làm nộm, rau trộn xa lát.

– Ăn muối rất hạn chế, chỉ dưới 6g/ngày, nếu có tăng huyết áp thì chỉ 2-4g/ngày.

beo-phi

Ngoài ra, bạn có thể thực hiện một chế độ ăn rất thấp năng lượng là chế độ ăn dạng lỏng, năng lượng 800Kcal/ngày. Việc thực hiện chế độ ăn thấp năng lượng chỉ nên kéo dài 12- 16 tuần và dạng ăn này thay thế hoàn toàn các bữa ăn với thức ăn thông thường.

Ngoài việc áp dụng một chế độ ăn đặc biệt, bạn cũng nên duy trì việc luyện tập thể thao ít nhất 30phút/ngày với các loại hình như đi bộ, bơi, thể dục nhịp điệu, đạp xe đạp… Với 1kg chất béo của cơ thể cung cấp đủ năng lượng cho đi bộ hoặc đi bộ nhanh 100km. Nếu bạn đi bộ được 2,5km (tức là mất 20 – 30phút đi bộ) một ngày và thực hiện đều đặn như vậy trong 5ngày/tuần thì bạn sẽ giảm được khoảng 6,5kg chất béo trong vòng 1 năm với điều kiện không ăn thừa năng lượng.

Chuyên gia tư vấn Kim Mai

Theo gia đình

Những thức ăn nên tránh khi bị bệnh đường ruột

Hội chứng ruột kích thích (IBS) là căn bệnh đường ruột phổ biến nhất hiện nay. Các triệu chứng của bệnh này bao gồm đau bụng, sình bụng, tiêu chảy, táo bón, đau lưng, đau khớp, nhức đầu… Có một số loại thực phẩm cần tránh khi bị chứng bệnh đường ruột này.

Thực phẩm cay

Cà ri và các loại thực phẩm cay khác làm gia tăng hoạt động trong ruột lên mức cao hơn bình thường. Điều này làm tăng rủi ro bị các triệu chứng như tiêu chảy và đau quặn bụng.

Chất béo

duong-ruot

Những loại thực phẩm nhiều chất béo có thể khiến ruột co thắt nhiều hơn bình thường, vốn có thể gây đau quặn bụng. Người bị IBS nên tránh dùng hoặc ăn chất béo bão hòa có nguồn gốc động vật, thay vào đó nên sử dụng các sản phẩm chứa chất béo không bão hòa dạng đơn thể (chẳng hạn như dầu ô liu) hoặc chất béo không bão hòa dạng đa thể (như dầu hạt hướng dương) trong chế độ ăn. Các loại thực phẩm cần tránh đối với bệnh nhân IBS là thịt chế biến (chẳng hạn như xúc xích, pa tê), các loại quà vặt nhiều chất béo (bánh quy, thực phẩm dạng hạt) và mayonnaise.

Đường và đường thay thế

Fructose, thành phần tạo ra đường, khó tiêu hóa hơn ở bệnh nhân IBS. Táo bón, tiêu chảy và đầy hơi đều do sự hiện diện của đường trong chế độ ăn gây ra. Các loại đường thay thế như sorbitol và splenda có cùng tác động như vậy. Những loại thực phẩm cần tránh ở người bị IBS bao gồm mứt, si rô, bánh kẹo và nước trái cây có đường.

Sản phẩm sữa

Những người bị IBS và không dung nạp lactose khó tiêu hóa một số sản phẩm sữa. Sữa, kem bánh và kem ăn chứa các loại đường tự nhiên, trong quá trình tiêu hóa có thể gây tiêu chảy đau quặn bụng và táo bón. Phó mát và sữa chua không gây các triệu chứng này. Nếu bạn không thể dung nạp lactose, tốt nhất nên giảm bớt lượng sản phẩm sữa trong chế độ ăn và tham khảo ý kiến bác sĩ.

Rau cải

duong-ruot1

Trong khi một chế độ ăn lành mạnh và cân bằng được khuyến khích, một số loại rau có thể gây ra chứng đầy hơi, một triệu chứng bình thường trong các cơn phát bệnh IBS. Bạn có thể bị đau quặn bụng vì chứng đầy hơi do bông cải xanh, cải bắp và củ hành gây ra.

Lúa mì

Bánh mì, ngũ cốc và các sản phẩm lúa mì có thể gây ra IBS. Chúng có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ triệu chứng nào đã từng trải qua.

Trái cây nhiều a xít

Chanh, cam, quýt, và các loại trái cây khác chứa nhiều a xít có thể gây ra hoặc làm gia tăng các triệu chứng của IBS.

Rượu

Đối với một số bệnh nhân IBS, rượu là thứ không nên dùng. Rượu kích thích lớp niêm mạc ruột, gây ra các triệu chứng chẳng hạn như đau bụng.

Cà phê

Thường gây ra nhiều vấn đề cho người bị IBS, nó kích thích ruột gây tiêu chảy và đau quặn bụng.

Bữa ăn “hoành tráng”

Những bữa ăn lớn thường gây khó tiêu và ở người bị IBS chúng có thể khiến hệ tiêu hóa trở nên quá tải, dẫn đến những cơn đau quặn bụng và bệnh tiêu chảy. Bệnh nhân IBS được khuyên chia nhỏ bữa ăn và có thể ăn 5-6 bữa mỗi ngày.

Quyên Quân
Thanh niên

Thực phẩm làm mất giấc ngủ

Sau một ngày làm việc mệt mỏi, cơ thể chúng ta cần nghỉ ngơi, hệ thống tiêu hóa cũng không phải ngoại lệ. Dưới đây là những thực phẩm có hàm lượng chất béo cao, hoặc khó tiêu mà bạn nên tránh ăn trước khi đi ngủ.

Kẹo: Một thực tế mà mọi người ít biết là khi ăn thực phẩm chứa nhiều đường, đặc biệt là kẹo sẽ khiến bạn ngủ không ngon, thậm chí là mất ngủ. Hàm lượng đường trong kẹo kích thích, tạo sóng não bất thường, gây ra các cơn ác mộng. Vì vậy, nếu bạn muốn có một giấc ngủ ngon và yên bình, hãy tránh ăn vặt và ăn các loại thực phẩm thay thế, chứa ít calo như yến mạch.

thuc-pham-lam-mat-giac-ngu

Thịt đỏ: Mặc dù thịt đỏ là nguồn cung cấp chất sắt và protein tốt cho cơ thể nhưng không nên ăn trước khi ngủ bởi chúng khó tiêu hóa, gây đầy bụng và khiến bạn mất ngủ.

Chocolate: Chocolate đen tốt cho não bộ và trí nhớ nhưng không tốt cho vòng eo của bạn. Chocolate đen chứa nhiều caffeine và các chất kích thích khiến tim đập nhanh, não tập trung trong khi cơ thể lại đang muốn nghỉ ngơi, thư giãn.

Một số loại rau: Rau chứa nhiều vitamin tốt cho cơ thể nhưng một số loại rau chắc chắn không phải là sự lựa chọn tuyệt vời nếu bạn muốn đi ngủ sớm. Các loại rau như hành tây, cải xanh hoặc cải bắp chứa một lượng lớn chất xơ không hòa tan, khiến bạn đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

Rượu, bia: Rượu, bia chứa nhiều chất kích thích và có hàm lượng calo cao. Nếu uống rượu trước khi ngủ, cơ thể sẽ đổ nhiều mồ hôi khiến bạn có cảm giác khó chịu, dễ tỉnh dậy nhiều lần trong đêm.

Bánh hamburger: Giống như các loại thực phẩm giàu calo và chất béo khác, bạn nên tránh ăn các loại bánh hamburger trước khi đi ngủ vì chúng kích thích việc sản xuất axit trong dạ dày và gây ra chứng ợ nóng vào ban đêm.

Tương ớt: Tương ớt trộn vào một số loại thực phẩm khác có thể giúp bạn ăn ngon miệng hơn. Tuy nhiên, nó có thể làm giảm quá trình đốt cháy carbohydrates trong cơ thể.

Bim bim và đồ rán: Các chuyên gia khuyến cáo nên hạn chế ăn bim bim, đồ rán vào bất kỳ thời gian nào trong ngày, đặc biệt là trước lúc đi ngủ do chúng có chứa một lượng lớn một loại bột ngọt gây rối loạn giấc ngủ.

Theo ANTĐ

Nguyên nhân và hệ quả của béo phì

Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Thị Thu Hậu, Trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Đồng 2 TPHCM, cho biết, trong điều trị béo phì trẻ em, việc hạn chế  trẻ ăn tự do theo sở thích và thuyết phục trẻ ăn ít không hề đơn giản.

Nguyên nhân và hệ quả của béo phì

Ở nhiều nước, thừa cân và béo phì được phân biệt rõ. Tại Việt Nam, nói đến béo phì thường bao gồm cả hai. Trong y học, béo phì là lúc lượng mỡ dư tích tụ trong cơ thể gây tác hại đến sức khỏe. Các bác sĩ thường dùng chỉ số cân nặng so với chiều cao hoặc chỉ số BMI để đánh giá trẻ có béo phì hay không (cân nặng/chiều cao > 120% giá trị chuẩn, BMI vượt ngưỡng qui định theo tuổi và giới…). Người ta ít đánh giá trẻ dưới hai tuổi bị béo phì vì cơ thể còn nhiều khả năng điều chỉnh sau đó và đang phát triển nhanh.

beophi

Nguyên nhân béo phì có thể do bệnh lý: bệnh về nội tiết (suy giáp, cường insulin…), di truyền (hội chứng Prader-Wili, hội chứng Turner’s…), hay do cung quá cầu: trẻ ăn quá nhiều nhưng tiêu hao quá ít. Trẻ dễ bị béo phì hơn nếu có ba mẹ béo phì do yếu tố di truyền hoặc ảnh hưởng từ lối sống của gia đình.

Béo phì gây ra nhiều hậu quả: bệnh tim mạch, tiểu đường, tổn thương khớp, gan nhiễm mỡ, học hành chậm chạp, các tổn thương về tâm lý… Đa số trẻ béo phì sẽ trở thành người lớn béo phì.

Nên tìm cách để ngăn ngừa sự tăng cân quá mức của trẻ.

Điều trị béo phì là thay đổi cả lối sống

Quy tắc đầu tiên của phương pháp điều trị béo phì là cần có sự hợp tác tích cực từ phía gia đình của trẻ và bản thân trẻ. Mục tiêu là phải thay đổi lối sống mà bé đã quen trong thời gian dài. Nếu không tuân thủ theo qui tắc này thì tỉ lệ thất bại rất cao, khả năng trẻ bị béo phì nặng hơn cũng khó tránh khỏi. Do đó, gia đình và bé sẽ được bác sĩ tham vấn trước khi đưa ra quyết định điều trị. Mỗi trường hợp béo phì có nguyên nhân khác nhau vì vậy phương pháp điều trị ở mỗi trẻ béo phì cũng khác nhau. Nếu trẻ có biểu hiện các biến chứng béo phì hoặc trên 7 tuổi bị béo phì mức độ nặng, trẻ phải được điều trị giảm cân, nhưng cần có sự kiểm soát của bác sĩ dinh dưỡng do cơ thể trẻ đang tăng trưởng không thể máy móc áp dụng chế độ của người lớn. Với trẻ béo phì mức độ trung bình và chưa có biến chứng, chúng ta cần có chế độ ăn uống và luyện tập thích hợp để giúp trẻ đứng cân và tăng chiều cao. Khi bé có chỉ định giảm cân, sau mỗi tháng điều trị, bé cần giảm khoảng 500g, vì nếu trọng lượng giảm quá nhanh có thể gây tổn thương về tâm lý hay biến chứng ở gan, mật…

Trong việc ăn uống của trẻ, nên theo thực đơn của bác sĩ, đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cần thiết cho trẻ phát triển như đạm, vitamin, chất khoáng… Vẫn khuyến khích trẻ uống sữa, nhưng sử dụng sữa ít béo hoặc không béo, không đường. Không nên cho trẻ ăn khuya.

Hạn chế tối đa cho trẻ ăn những thức ăn giàu năng lượng rỗng như nước ngọt, các loại thức ăn có chứa nhiều chất bột đường, chất béo, dầu mỡ, các món chiên, xào…

Với những trẻ thích ăn vặt, có thể cho bé chơi các trò chơi có tính giáo dục để bé quên cảm giác thèm ăn. Nếu trẻ vẫn đòi ăn thì nên cho bé ăn “độn” những món nhiều chất xơ như trái cây, nước ép hoa quả không đường, khoai lang, các loại rau…

Trong quá trình điều trị, gia đình không nên chỉ trích trẻ nhằm tránh tình huống bé có những phản ứng không tốt, quá trình điều trị sẽ dễ thất bại.Trong giai đoạn trẻ bắt đầu phải thay đổi lối sống, tâm lý ít nhiều cũng bị ảnh hưởng. Cha mẹ nên tập cho bé quen dần với lối sống năng động. Ví dụ: khi bé học bài thuộc lòng, có thể khuyên bé vừa đi vòng quanh phòng vừa học, cũng là một cách giảm lượng mỡ thừa trong cơ thể. Hãy khuyến khích trẻ đi bộ hoặc đạp xe khi có thời gian rảnh. Cho bé chơi những môn thể thao có sức bền. Không nên ép trẻ chơi những môn vận động quá nặng như cử tạ vì có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của bé.

Để đạt được hiệu quả tối đa, trước tiên người lớn trong gia đình phải là những tấm gương tiên phong trong “cuộc chiến chống béo phì”. Ngoài ra, không nên áp dụng biện pháp “cấm đoán” mà nên dùng biện pháp “thay thế”, như thay thế món chiên xào bằng món luộc hấp, thay lon nước ngọt bằng một ly nước lọc, thay dĩa cơm tấm bì chả bằng một tô bún mọc nhiều rau…, không để bé ngồi xem ti vi mà có thể dắt bé đi công viên, nhà sách…

Phụ huynh cần hiểu rằng “để bé béo phì ăn ít lại” là một quá trình hợp tác, quyết tâm lâu dài giữa gia đình bệnh nhân, trẻ béo phì và bác sĩ. Có nhiều trường hợp lúc nhỏ trẻ bị suy dinh dưỡng, khi lớn gia đình lại cho bé ăn nhiều, liên tục không kiểm soát, kết quả bé bị béo phì cần điều trị. Để ngăn ngừa tình trạng trên, phụ huynh nên đưa bé đi khám sức khỏe định kỳ để đánh giá sự phát triển thể chất, tinh thần, phát hiện các bệnh lý, trong đó có thừa cân béo phì.

Theo người lao động

Ăn vặt làm tăng nguy cơ ung thư vú

Theo đó, nếu các thiếu nữ càng ăn vặt nhiều và đặc biệt các món ăn vặt đó càng giàu chất béo thì nguy cơ bị ung thư vú càng cao.

an-vat-lam-tang-nguy-co-ung-thu-vu

“Phát hiện của chúng tôi cho thấy chất béo là thủ phạm chính làm các tế bào ung thư vú ở tuổi dậy thì phát triển ” – Nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Michigan kết luận.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ tại nhiều nước công nghiệp.

Theo news.go

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Thực phẩm có hại cho làn da của chị em phụ nữ

Có thể bạn không biết rằng một số thực phẩm thực sự không tốt cho làn da của bạn, khiến cho bạn già đi trước tuổi. Vậy, để cải thiện sức khỏe nói chung và bảo vệ làn da và không bị già nhanh bạn cần phải suy nghĩ trước khi sử dụng các loại thực phẩm sau đây.

Muối

Theo nghiên cứu các chuyên gia dinh dưỡng, nếu cơ thể bạn hấp thu nhiều natri mỗi ngày thì bạn có thể phải đối mặt với nguy cơ huyết áp cao, thậm chí có thể làm da yếu bởi khi đó các collagen trong da bị tác động mạnh.

Bên cạnh đó, nó có thể gây ra nếp nhăn, đặc biệt là với những vùng da mỏng như xung quanh mắt. Ngoài ra, ăn nhiều muối cũng có thể gây ra bọng mắt, làm cho mắt sưng phồng. Vì thế, để bảo vệ làn da bạn hãy ăn nhiều rau, ăn ít muối.

Đường
dinh-duong
Những đồ ăn ngọt như bánh, kẹo … là những đồ ăn ngọt được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, ăn đồ ngọt quá thường xuyên có thể khiến bạn già nhanh hơn.

Quá trình lão hóa của các tế bào là do viêm. Do đó, nếu muốn có vẻ trẻ trung, bạn phải tránh những yếu tố có thể gây ra viêm, bạn nên hạn chế những món ăn có chứa nhiều đường.

Cà phê

Cà phê không chỉ làm xỉn bộ răng của bạn mà chúng còn khử nước của cơ thể, khiến da bạn khô và nhanh già. Thêm vào đó, những nếp nhăn xung quanh mắt càng ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng cà phê có thể là một điều cần thiết của một cuộc sống bận rộn, vì vậy nếu bạn không tỉnh táo, hãy nghĩ đến chuyện uống trà xanh. Đây là một chất chống oxy hóa tuyệt vời và giữ cho da ít bị mất nước, nhờ hàm lượng caffeine thấp hơn so với cà phê. Do vậy, bạn không nên uống quá nhiều cà phê mỗi ngày.

Thịt đỏ

Theo nghiên  cứu của các nhà khoa học Mỹ cho thấy rằng, ăn thịt đỏ nhiều hơn một tuần có liên quan đến sự xuất hiện của các nếp nhăn, cũng như nguy cơ về sức khỏe.

Theo nghiên cứu, mức độ cao của carnitine, một hợp chất dồi dào có trong chất đạm động vật, có thể làm cứng thành mạch máu, làm cho da nhăn sớm, mất đi sự trẻ trung. Thịt đỏ có thể là một nguồn cung cấp vitamin B12, mà là rất quan trọng cho tế bào hồng cầu và chức năng của não. Vì vậy, nếu bạn là một người thích thịt đỏ thì hãy ăn một cách hạn chế.

Chất cồn

Trừ rượu vang đỏ, chất cồn có thể gây hư hại cho da của bạn. Chất cồn làm khử nước trong cơ thể, dẫn đến hậu quả là để lại làn da khô và không mịn màng. Do quá trình chuyển hóa rượu mà gan cũng giải phóng các gốc tự do lão hóa ra da, càng làm cho da xấu hơn và nhanh lão hóa hơn.

Chất béo bão hòa

Chất béo bão hóa có nhiều trong thịt lẫn mỡ và các sản phẩm sữa còn nguyên chất béo, chất béo no (hay chất béo bão hòa) có thể khiến bạn trông già hơn. Các chuyên gia cho biết ăn quá nhiều chất béo no có thể gây ra chứng viêm lão hóa da, đồng thời tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ.

Nếu muốn giảm được nguy cơ trên, bạn hãy ăn thực phẩm như dầu ôliu, dầu lạc, dầu ngũ cốc… Trong những loại dầu này có chứa nhiều chất béo no đơn chất, là chất béo có lợi cho cơ thể.

Để làn da tươi trẻ, bạn nên hạn chế tối đa việc dùng chất béo nguồn động vật như mỡ heo, bò, gà…Hạn chế dùng các thực phẩm chế biến sẵn có sử dụng các loại bơ thực vật (margarin). Thay vào đó, dùng các dầu có lợi như dầu ô liu, dầu mè, dầu đậu nành…; Hoàn toàn không dùng thực phẩm chứa chất béo dạng trans trên mức cho phép.

Ngoài ra, trong bữa ăn hàng ngày nếu bạn ăn quá nhiều thực phẩm cay có  thể sẽ gây hại cho da của bạn. Thức ăn cay có thể làm giãn mạch máu ở những người dễ bị mụn trứng cá – căn bệnh viêm nhiễm da mãn tính, xuất hiện các mụn đỏ tấy trên da, làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp thẩm mỹ hoặc phụ nữ đang trải qua thời kỳ mãn kinh.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, để giữ làn da luôn khỏe khoắn và trẻ trung đó chính là việc nuôi dưỡng từ bên trong. Chế độ ăn uống hợp lý, trong đó có chứa các loại thực phẩm chống oxy hóa có thể giúp làn da bạn luôn tươi khỏe.

Nguồn vnmedia

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Bệnh ruột kích thích

Hội chứng ruột kích thích là bệnh do rối loạn chức năng của ruột dẫn đến đau thắt ruột, đầy hơi, sình hơi…

Hội chứng này còn có nhiều tên gọi khác như bệnh đại tràng chức năng; viêm đại tràng co thắt; do bệnh biểu hiện các triệu chứng từng đợt lúc nặng lúc nhẹ nên trước kia còn gọi là viêm đại tràng mạn tính. Nhưng hầu hết những tên gọi này đều không đúng, vì nó không dẫn đến viêm và không nên lẫn lộn với những rối loạn khác, như viêm loét đại tràng. Mặc dù bệnh lành tính, không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

ruot-kich-thich
Trong một số trường hợp mắc hội chứng ruột kích thích có táo bón, số khác có kèm tiêu chảy và một số thì có cả hai dấu hiệu trên. Thỉnh thoảng những người bị hội chứng ruột kích thích có những cơn đau thắt ruột gây cảm giác phải đi tiêu nhưng không thể thực hiện được. Bệnh thường có triệu chứng nổi bật tại hệ tiêu hóa. Đau bụng là triệu chứng thường gặp, người bệnh thường có cảm giác đau ở vùng hạ vị hoặc hố chậu trái, cũng có thể đau ở bên phải hoặc thượng vị, đau chạy dọc theo khung đại tràng tức dọc theo khung của vùng bụng. Đau có thể có hoặc không có vị trí rõ ràng, đôi khi người bệnh chỉ cảm giác tức nặng, ấm ách khó chịu và đau bụng thường giảm đi sau khi đại tiện.

Trướng bụng cũng là triệu chứng thường gặp, sau ngủ dậy có thể bị nhẹ, sau đó tăng dần. Người bệnh có thể biểu hiện bằng tiêu chảy hoặc táo bón, đôi khi bị tiêu chảy xen lẫn từng đợt với táo bón. Trong cơn đau, người bệnh đau quặn bụng bắt buộc phải đi tiêu ngay không kiềm chế được và luôn có cảm giác chưa đi hết phân sau khi đại tiện. Ngoài ra, có các biểu hiện nóng ở vùng thượng vị, ăn nhanh no, buồn nôn, cảm giác có vướng ở vùng họng.

Người bệnh không sụt cân, siêu âm bụng và xét nghiệm đều bình thường, chụp X-quang đại tràng có thể có hình ảnh tăng hoặc giảm co bóp hay rối loạn co bóp, nhưng khi soi toàn bộ đại tràng thì niêm mạc hoàn toàn bình thường. Xét nghiệm phân cũng không có gì thay đổi rõ rệt.

Cần ăn uống, vận động hợp lý
Nguyên nhân của hội chứng ruột kích thích đến nay vẫn chưa được biết đến và chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Theo một số nghiên cứu thì hội chứng này là rối loạn chức năng bởi vì không có một dấu hiệu bệnh nào được tìm thấy khi khám đại tràng. Nó làm cho người bệnh khó chịu, mất tự tin; nhưng bệnh này hoàn toàn không gây hại đến đường ruột, không gây chảy máu hay một bệnh trầm trọng nào ở ruột.

Mặc dù là bệnh lành tính, không gây tử vong nhưng để điều trị dứt không phải dễ. Việc điều trị chủ yếu làm giảm triệu chứng giúp cho người bệnh đỡ khó chịu. Chế độ ăn rất quan trọng, nên có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý, hạn chế sử dụng những thức ăn dễ kích thích như bia rượu, cà phê, thức ăn cay chua, chất béo, thức ăn dễ tạo men. Chế độ làm việc điều độ, tăng hoạt động thể lực, cố gắng tạo được giấc ngủ sâu, ngủ đủ, tránh tình trạng căng thẳng… sẽ góp phần làm cho hội chứng ruột kích thích luôn được ổn định và cũng là cách đề phòng hữu hiệu nhất.
BS Hồ Văn Cưng
Theo TNO

Chế độ ăn cần thiết cho tuổi dậy thì

Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Khi trẻ bước vào giai đoạn dậy thì mỗi ngày cần 2.200 -2.400 calo, tương đương với lượng ăn của người trưởng thành. Nếu không cung cấp đúng và đủ trẻ sẽ bị thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến chậm hoàn thiện và phát triển các bộ phận cơ thể.

Dậy thì là lúc trẻ phát triển mạnh, nhanh về thể lực, sự thay đổi của hệ thần kinh, nội tiết mà nổi bật là sự hoạt động của các tuyến sinh dục tăng lên gây ra những biến đổi về hình thức và sự tăng trưởng của cơ thể trẻ. Lúc này, ngoài sự phát triển và hoàn thiện cơ thể cũng là lúc trẻ hoạt động nhiều nhất, nên cần phải có một chế độ dinh dưỡng thật tốt cho trẻ ở giai đoạn này.

chedoanchotuoidaythi
Chất đạm: Trẻ dậy thì cơ bắp giai đoạn này phát triển nên lượng đạm cần cao hơn người trưởng thành. Chất đạm chiếm 14-15% tổng số năng lượng trong khẩu phần ăn hàng ngày. Lượng đạm lấy từ thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, trứng sữa… Trong đó đạm động vật là tốt nhất vì thức ăn có nguồn gốc động vật chứa nhiều sắt – chất sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo máu.

Chất béo: Dầu, mỡ không chỉ giúp trẻ ăn ngon miệng mà còn là nguồn cung cấp năng lượng tốt và giúp cơ thể hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Ở giai đoạn này cần cả chất béo no có trong thức ăn chứa nhiều đạm động vật và chất béo không no trong dầu ăn và cá, nên cho trẻ ăn cả mỡ động vật và dầu thực vật, khoảng 40 – 50gr mỗi ngày.

Chất bột: Là chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể chiếm60 – 70% năng lượng có trong gạo, bột mì, và sản phẩm chế biến, khoai, củ… Nên chọn lựa những loại bột đường thô để cung cấp chất xơ tốt cho đường tiêu hóa và phòng chống béo phì.

Canxi: Canxi rất cần thiết cho lứa tuổi dậy thì, nếu được cung cấp đủ sẽ giúp xương chắc khỏe và độ đậm xương đạt mức tối đa giúp trẻ phát triển tốt về chiều cao và phòng được bệnh loãng xương sau này. Mỗi ngày trẻ cần 1.000 – 1.200mg can xi. Can xi có nhiều trong sữa, cả sữa bò và sữa đậu nành, các loại thủy sản, xương cá (nên kho nhừ cá để có thể ăn cả xương). Nên uống 400 -500ml sữa/ ngày.

Chất sắt: Bé gái khi bước vào tuổi dậy thì cần lượng sắt nhiều hơn bé trai do mất máu trong chu kỳ kinh nguyệt. Nên bé trai chỉ cần 12 – 18 mg sắt/ngày trong đó bé gái cần tới 20 mg sắt/ngày. Chất sắt có nhiều trong thịt, phủ tạng động vật:gan, tim, bầu dục…, lòng đỏ trứng, đậu đỗ, rau xanh có nhiều vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn… Nếu thiếu sắt trẻ sẽ bị thiếu máu gây ra các triệu chứng mệt mỏi, hay quên, buồn ngủ, da xanh…
Các vitamin: Đây là những vi chất dinh dưỡng cần thiết chocơ thể. Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp vàđường tiêu hóa; chậm phát triển chiều cao. Khi thiếu vitamin C, quá trình tổnghợp collagen gặp trở ngại, làm giảm quá trình hình thành tế bào ở các thành mạch, mô liên kết, xương, răng, giảm sức đề kháng.

Theo SKĐS

Không nên cho trẻ ăn kem trong mùa hè

Mùa hè, thời tiết trở nên ngày càng nóng vì vậy kem đã trở thành món ăn ưa thích cho rất nhiều người. Kem có thể mang lại cho chúng ta một cảm giác mát mẻ và tươi mới, nhưng không phải ai cũng thích hợp để ăn kem.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, bốn nhóm người sau đây không nên ăn kem, nếu không, nó có thể gây tác hại nghiêm trọng trên cơ thể của họ.

Nhóm người đang giảm cân

Kem có chứa một hàm lượng đường và chất béo, làm bạn dễ dàng tăng cân. Ngoài ra, một số kem có chứa axit béo trans. Theo nghiên cứu chỉ ra rằng, axit béo là một trong những nguyên nhân chính của bệnh béo phì. Tác dụng chính của nó là để tích lũy chất béo trên bụng. Do vậy, đối với những người muốn giảm cân thì không nên ăn kem.
06fd61suckhoe-tre-em
Phụ nữ mang thai

Tại sao phụ nữ mang thai không nên ăn kem? Điều này chủ yếu bởi vì khi phụ nữ trong thời kỳ mang thai, sự tiết nước tiêu hóa và men tiêu hóa sẽ giảm, và các chức năng tiêu hóa sẽ yếu đi. Nếu ăn kem lạnh quá nhiều, nó sẽ làm cho các mạch máu đường tiêu hóa đột nhiên thay đổi đột ngột và dẫn đến các triệu chứng như đau bụng và tiêu chảy. Hơn nữa, kem luôn luôn có chứa một số lượng lớn đường, chất béo và các chất phụ gia thực phẩm, nó cũng có thể gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của bào thai.

Trẻ em đang trong giai đoạn phát triển

Kem thuộc về thực phẩm có chứa nhiều đường và chất béo, có thể dễ dàng làm cho trẻ em tích tụ chất béo. Ngoài ra, trẻ em dễ bị dị ứng hơn với phụ gia thực phẩm có trong kem. Hơn nữa, ăn kem quá nhiều trước bữa ăn không chỉ có thể ảnh hưởng đến sự thèm ăn của trẻ mà còn có thể gây kích thích mạnh mẽ trên đường tiêu hóa, dẫn đến khó chịu đường tiêu hóa.

Bệnh nhân tiểu đường

Kem có chứa một hàm lượng đường cao, có thể làm cho mức độ đường trong máu tăng lên nhanh chóng trong các bệnh nhân tiểu đường, do đó làm trầm trọng thêm tình trạng của bệnh tiểu đường. Do vậy, các bác sĩ luôn khuyên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn kem. Tuy nhiên, hiện nay có một số loại kem dành riêng cho bệnh nhân tiểu đường. Các loại kem không chứa đường mà chỉ có một số chất làm ngọt như sorbitol và maltitol. Bởi vì sorbitol và maltitol có một hương vị ngọt ngào, chúng chứa ít calo. Hơn nữa, sự trao đổi chất của sorbitol và maltitol không được kiểm soát bởi insulin.

Theo VnMedia.vn

Những điều ít biết về mỡ cơ thể

Dưới đây là những thông tin thú vị về mỡ cơ thể, được đưa ra sau nhiều nghiên cứu rất công phu của các nhà khoa học nhằm giúp bạn tìm ra giải pháp hiệu quả nhất để giảm mỡ.

Ngoài việc làm thân hình bạn không được “mi nhon”, chất béo còn có ý nghĩa quan trọng vể cả thể chất và cảm xúc của con người. Trên tạp chí dinh dưỡng và hình thể S.HA, ông Shawn Talbott, Tiến sĩ, một nhà dinh dưỡng sinh học và là tác giả của cuốn “The Secret of Vigor: How to Overcome Burnout, Restore Biochemical Balance, and Reclaim Your Natural Energy” (tạm dịch: “Bí mật của sức mạnh: Làm thế nào để vượt qua sự mệt mỏi, khôi phục cân bằng sinh hóa, và thu hồi năng lượng tự nhiên”), đã nêu ra một vài thực tế có thể khiến bạn ngạc nhiên về mỡ cơ thể .

1. Mỡ có nhiều màu khác nhau

Mỡ có nhiều loại khác nhau với chức năng, và màu sắc cũng khác mà theo Tiến sĩ Talbott thì đó là 3 màu: trắng, nâu, và màu be. Các chất béo màu trắng là chất béo nhạt và vô dụng. Vô dụng ở chỗ nó tạo ra một tỷ lệ trao đổi chất thấp, không giúp đốt cháy calo nhiều. Nhưng đó là loại mỡ chiếm ưu thế trong cơ thể người, với hơn 90%. Nói cách khác, mỡ trắng gây tích trữ thêm calo.
beo-mo
Mỡ nâu là loại chất béo tối màu hơn do được cung cấp nhiều máu, và giúp đốt cháy nhiều calo hơn là lưu trữ chúng, nhưng điều này chỉ xảy ra ở chuột hoặc một số động vật có vú khác (vì chỉ cơ thể các sinh vật này mới kích hoạt được mỡ nâu đốt cháy calo, tạo ra nhiệt để giữ ấm cơ thể vào mùa đông). Tiếc thay, con người có rất ít chất béo nâu nên khó có thể giúp đốt cháy nhiều calo hoặc giữ ấm.

Loại thứ 3 là mỡ màu be – loại nằm giữa mỡ trắng và nâu về khả năng đốt calo. Phát hiện này rất có giá trị vì các nhà nghiên cứu đang xem xét cách thay đổi các tế bào mỡ trắng thành những chất béo màu be thông qua chế độ ăn uống và tập thể dục hoặc các thực phẩm chức năng. Đã có bằng chứng rằng một số hóc môn nhất định có thể được kích hoạt thông qua tập luyện để chuyển đổi các tế bào chất béo màu trắng thành màu be. Thêm vào đó, một số bằng chứng cho thấy các loại thực phẩm như rong biển nâu, rễ cam thảo, và ớt cay cũng có khả năng kích thích chuyển hóa này.

2. Mỡ vòng 3 tốt hơn mỡ vòng 2

Chắc chắn rằng không phụ nữ nào thích bị tích mỡ thừa trên bất cứ vùng nào của cơ thể, nhưng sẽ an toàn hơn nếu cơ thể bạn hình trái lê, thay vì trái táo, Tiến sĩ Talbott cho biết. Mỡ bụng, còn được biết đến như mỡ nội tạng, phản ứng nhạy hơn với hóc môn xì-trét, cortisol, so với mỡ vùng mông hay đùi. Vì thế, nếu bạn thường xuyên căng thẳng thì tất cả lượng calo thừa bạn nạp vào sẽ tích tụ ngay vào vùng giữa cơ thể.

Mỡ bụng có tính viêm cao hơn mỡ các vùng khác và nó có thể tự hình thành khối viêm hóa học. Những chất hóa học này sẽ di chuyển lên não và làm bạn thấy đói bụng, mệt mỏi, dẫn đến việc ăn nhiều và lười vận động. Vòng luẩn quẩn đó cứ tiếp diễn và khiến cơ thể bạn ngày càng phình to ở khu vực giữa. Vậy nên, chỉ cần giảm mỡ bụng thì nhiều triệu chứng hệ lụy như hay đói, mệt mỏi… sẽ biến mất. Tiến sĩ Talbott gợi ý rằng dầu cá (axit béo omega 3) và các vi khuẩn có lợi trong sữa chua có khả năng kích thích sự tiêu tan mỡ bụng hiệu quả.

3. Đốt cháy calo, rồi mới đốt cháy mỡ

Thuật ngữ “đốt cháy chất béo” (fat-burning) rất phổ biến khi nói đến giảm cân, nhưng thực tế đốt mỡ chỉ là việc gián tiếp. Bởi vì, trước khi “đốt cháy” chất béo, bạn đốt cháy calo, đó có thể là calo từ lượng carbohydrate được tích trữ (glycogen và đường trong máu) hoặc từ mỡ cơ thể. Bạn càng tiêu hao nhiều calo thì bạn càng giảm nhiều mỡ.

Mặc dù, bạn có thể tạo ra sự thâm hụt calo bằng cách ăn ít, nhưng rất khó để duy trì điều này đến khi tạo ra được sự thiếu hụt cần thiết để giảm cân. Ông Talbott (và nhiều chuyên gia khác) chủ trương đốt cháy calo bằng tập luyện cường độ cao (HIIT). Phương pháp này, xen kẽ giữa việc tập cường độ bình thường và cường độ cao, có thể làm tăng gấp đôi lượng calo bị đốt cháy trong cùng thời gian tập luyện so với việc tập với tốc độ ổn định.

4. Chất béo ảnh hưởng đến tâm trạng

Việc tăng cân đối với những người béo chắc chắn sẽ mang đến tâm trạng không hề tốt. Ngoài ra, việc thừa mỡ, nhất là mỡ vùng bụng đã được chứng minh là một yếu tố gây nên hiện tượng tâm trạng tiêu cực như căng thẳng, rối loạn lưỡng cực – Bipolar Disorder. (“Rối loạn lưỡng cực” là một căn bệnh nghiêm trọng gây ra do tâm trạng cảm xúc thay đổi đột ngột và mạnh mẽ từ cảm giác ở mức “cao trào”, hưng phấn cao độ về dễ cáu gắt, hoặc trầm cảm. Những giai đoạn cuồng vọng/hưng phấn/trầm cảm…có thể gây mất ngủ trong thời gian dài hoặc mua sắm không kiểm soát. Mỗi giai đoạn này có thể kéo dài hàng giờ, hàng tuần hoặc vài tháng.)

Để giải tỏa căng thẳng, và giảm những cơn thèm ăn do tâm trạng không tốt, Tiến sĩ Talbott khuyên bạn nên ăn sôcôla đen. Ngoài ra, các chế phẩm ít béo từ sữa như sữa chua cũng có thể mang lại kết quả tương tự vì sự kết kợp giữa canxi và magie có thể làm giảm những triệu chứng tâm trạng tiêu cực do căng thẳng.

Theo tiền phong

Dinh dưỡng cho bệnh nhân mắc bệnh mạch vành

Sử dụng chất béo ở mức độ vừa phải, với tỷ lệ hợp lý giữa nguồn thức ăn từ động và thực vật, đồng thời tăng cường các chất chống ô xy hóa được coi là một chế độ dinh dưỡng để tăng cường sức khỏe hệ tim mạch nói chung và mạch vành nói riêng.

Các bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước công nghiệp hóa. Bệnh cũng đang có xu hướng gia tăng ở nước ta trong thời gian gần đây. Mối quan hệ giữa bệnh tim mạch với chế độ ăn đã được quan sát từ cuối thế kỷ 19 khi con người có thể gây thực nghiệm xơ mỡ động mạch trên thỏ bằng chế độ ăn nhiều cholesterol và acid béo bão hòa. Năm 1933, người ta đã phát hiện thấy các quần thể dân cư sử dụng nhiều acid béo no có nguy cơ cao bị xơ mỡ động mạch và bệnh mạch vành (CHD).

che-do-dinh-duong-voi-benh-mach-vanh

Nhu cầu về chất béo

Bệnh mạch vành hay bệnh tim do mạch vành là nguyên nhân gây hội chứng lâm sàng đau thắt ngực và nhiều hội chứng lâm sàng khác như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, đột tử (do mạch vành). Có tới 90% trường hợp bị bệnh mạch vành là do xơ vữa động mạch do đó có thể gọi là bệnh tim xơ vữa động mạch.

Nhìn chung người ta vẫn coi một lượng thừa chất béo và năng lượng là không tốt với sức khỏe tim mạch. Cơ chế chính là do chất béo và cholesterol trong khẩu phần làm tăng lipoprotein huyết thanh, đặc biệt là thành phần lipoprotein có tỷ trọng thấp (LCL). LDL- C  ô xy hóa làm tăng ngưng tụ tiểu cầu và kích thích sự tăng sinh cơ trơn thành mạch, thúc đẩy quá trình xơ vữa. Đồng thời, LDL – C ô xy hóa bị những đại thực bào bắt giữ tạo nên các tế bào bọt (foam cell), các tế bào này tích tụ lại thành mảng chất béo bám vào thành động mạch gây hẹp lòng mạch máu.

Bởi vậy, có ý kiến khuyên giảm tổng chất béo thay bằng glucid nhưng nhiều bằng chứng cho thấy thay thế các acid béo bão hòa bằng glucid dẫn đến giảm lipoprotein tỷ trọng cao (HDL) và tăng triglyxerit, ngược lại nếu thay thế bằng acid béo chưa bão hòa một nối kép (MUFA), triglyxerit huyết thanh giảm, còn HDL không thay đổi. Như vậy, chế độ ăn có lượng acid béo no thấp, acid béo chưa no một nối kép cao sẽ có lợi với sức khỏe tim mạch.

Dựa vào những hiểu biết hiện nay cho thấy, chất béo không phải là thành phần dinh dưỡng duy nhất có ảnh hưởng đến bệnh mạch vành nhưng vẫn là thành phần quan trọng nhất. Do vậy lời khuyên được các nhà dinh dưỡng đưa ra: tổng số chất béo không có vai trò quan trọng đến bệnh mạch vành bằng loại chất béo cụ thể. Nên không phải kiêng hẳn chất béo mà là sử dụng chất béo ở tỷ lệ thích hợp (không quá 30% năng lượng ở các xứ lạnh và 25% ở các xứ nóng). Đồng thời, cần có tỷ lệ cân đối giữa các thành phần acid béo, các acid béo bão hòa không nên quá 7% nhu cầu năng lượng của khẩu phần. Bên cạnh mối tương quan giữa các acid béo bão hòa/chưa bão hòa có nhiều nối kép còn cần chú ý tương quan giữa các acid béo chưa bão hòa nhóm n-6 (linoleic) và nhóm n-3 (DHA và EPA). Do vậy trong chế độ ăn nên bớt chất béo từ mỡ, thịt, bơ, sữa toàn phần mà thay vào đó các acid béo chưa bão hòa từ dầu thực vật và cá.

Vai trò các chất chống ô xy hóa

Nhiều chất chống ô xy hóa đã được nghiên cứu mà trước hết là vai trò bảo vệ của vitamin E đối với sự ô xy hóa LDL trong bệnh sinh xơ vữa động mạch. Bổ sung vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành ở nam và nữ. Vitamin E còn có tác dụng bảo vệ hệ thần kinh, hệ cơ xương và võng mạc mắt chống ô xy hóa.

Vitamin C cũng có đặc tính chống ô xy hóa cao. Một số công trình nghiên cứu đã đưa ra kết luận về mối liên quan giữa mức vitamin C trong khẩu phần với bệnh tim mạch. Người ta thấy tác dụng của vitamin C có ở trong thức ăn tự nhiên tốt hơn ở dạng tách biệt.

Beta – caroten và các carotenoid khác thường được xếp nhóm cùng với vitamin E và C như là các chất chống ô xy hóa và đã có những công trình khoa học chỉ rõ mối liên quan giữa hàm lượng Beta – caroten trong cơ thể với nguy cơ ung thư phổi và bệnh tim mạch ở những người hút thuốc lá. Tuy nhiên các bằng chứng này vẫn chưa nhất quán.

Hiện nay, bên cạnh các chất chống ô xy hóa trên, người ta còn phát hiện thấy trong một số thực phẩm mặc dù không có vai trò dinh dưỡng nhưng cũng có vai trò chống ô xy hóa, đặc biệt là các bioflavonoid  có ở trong chè, rượu vang, nước quả nho và ở vỏ nhiều loại quả.

Lời khuyên được các nhà dinh dưỡng khuyến cáo: tăng cường sử dụng các loại rau tươi và quả là những thức ăn giàu các chất chống ô xy hóa để phòng chống các bệnh tim mạch. Việc bổ sung các chất chống ô xy hóa cũng như tăng cường trong chế độ ăn chỉ nên coi là liệu pháp hỗ trợ cho các biện pháp đã biết như: ngừng hút thuốc lá, giám sát huyết áp và cholesterol, tránh béo phì và tăng cường hoạt động thể lực.

Các chất hóa thực vật

Các chất hóa thực vật là các phức hợp có hoạt tính sinh học tìm thấy ở quả, rau và các loại hạt nguyên vẹn. Nhiều nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng cho thấy các hợp chất này có vai trò giảm nguy cơ bệnh tim mạch và ung thư. Chẳng hạn như: flavonoid là các hợp chất đa phenol có ở rau quả, hạt có vỏ cứng, chè và rượu vang. Flavonol và flavon là các nhóm trong flavonoid có vai trò đối với bệnh tim mạch theo các cơ chế khác nhau. Đậu tương có nhiều isoflavon có tác dụng giảm cholesterol huyết thanh.

Các thực phẩm thực vật có sunfua thuộc họ hành, tỏi, chủ yếu dưới dạng các dẫn xuất của cystein đã được nhiều công trình kiểm chứng cho thấy: hành và tỏi có tác dụng giảm cholesterol, giảm nguy cơ tắc mạch và ức chế ngưng tụ tiểu cầu. Đã có nghiên cứu đưa ra rằng, mỗi ngày dùng một nhánh tỏi có thể làm giảm 0,59 mmol/l (23mg/dl) cholesterol, tuy vậy các kết quả còn chưa nhất quán.

Vũ Hải

Theo SKDS

Vài chế độ dinh dưỡng cho người cao tuổi

Dinh dưỡng có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe đối với tất cả mọi người, nhất là với người cao tuổi. Chế độ dinh dưỡng tốt sẽ giúp người cao tuổi tránh được nhiều bệnh tật và khỏe mạnh hơn. Do vậy, khi bước sang tuổi 50, người cao tuổi cần có chế độ ăn uống hợp lý.

Trong chế độ dinh dưỡng của người già cần chú ý

Nên chọn những thực phẩm dễ hấp thụ, dễ tiêu hóa, đảm bảo đủ chất đạm nhưng không quá nặng nề đối với đường tiêu hóa. Nên trong khẩu phần ăn của người già nên giảm ăn thịt, tăng cường các loại cá chế biến theo phương pháp hấp, luộc hạn chế chiên, xào nhằm đảm bảo hàm lượng vitamin và khoáng chất, giảm chất béo hơn thế nữa thức ăn có độ mềm nhất định sẽ giúp người già dễ dàng thưởng thức và hấp thu hơn.

Giảm áp lực cho dạ dày về đêm

Do hệ tiêu hóa kém hơn, quá trình tiêu hóa thức ăn của người già cũng diễn  ra chậm hơn nên buổi tối cần ăn ít hơn một chút và ăn sớm, tốt nhất là trước 7h tối và nên có những bữa lót dạ nhẹ nhàng 2 tiếng trước khi đi ngủ bằng một chút sữa nóng sẽ giúp các cụ ngủ ngon hơn.

Hạn chế chất đường, chất béo, ăn mặn và uống rượu bia

Sử dụng nhiều thực phẩm trên khiến người già dễ gặp phải các bệnh về tim mạch, máu nhiễm mỡ, bệnh tiểu đường, cao huyết áp…Vì vậy, người già cần hạn chế các thực phẩm như bánh kẹo, đồ khô mặn, mỡ động vật, không nên uống rượu bia, nước ngọt, trà hoặc cà phê đặc.

vai-loi-khuyen-cho-che-do-dinh-duong-nguoi-cao-tuoi

Uống nước, bổ sung hoa quả, vitamin và khoáng chất

Người già thường ít có cảm giác khát nước, nên cần chú ý uống nước đầy đủ, một ngày khoảng 7- 8 ly nước sẽ giúp thận hoạt động tốt hơn và giảm các nguy cơ về táo bón.

Các loại rau củ được xem là “bạn” của người già như: cam, bưởi, dưa hấu, đu đủ… cung cấp nhiều vitamin C và cũng là nguồn cung cấp dồi dào vitamin A giúp tăng sức đề kháng.

Uống sữa để bổ sung dinh dưỡng
Vài lời khuyên về chế độ dinh dưỡng dành cho người cao tuổi 2

Uống 1 -2 ly sữa mỗi ngày là một cách khá hiệu quả để bổ sung những dưỡng chất bị thiếu hụt cho người già.

Tuy nhiên, cũng nên lưu ý việc lựa chọn sữa cho người già sẽ không đơn giản như với trẻ em hay người trưởng thành do các nguy cơ về bệnh béo phì và mỡ máu tăng cao.

Nên chọn những sản phẩm cân bằng và bổ sung dưỡng chất cho người già, có khả năng cung cấp đủ dinh dưỡng thay thế bữa ăn khi khả năng ăn uống bị hạn chế. Chọn các loại sữa có MUFA, PUFA, Choline, Canxi,FOS để tăng cường sức khỏe cho hệ tim mạch, xương chắc khỏe và giúp cho hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.

Ngoài ra, nên chọn các loại sữa không chứa đường lactose vì ở một số người cơ thể bị thiếu men lactose nên khi uống các loại sữa chứa đường lactose có thể sẽ gây ra đau bụng, tiêu chảy.

Khi chọn sữa cần quan tâm đến cả hương vị, chọn những loại sữa có vị ngọt tự nhiên để người già dễ uống và cảm thấy ngon miệng hơn.

Chất béo có gây hại cho sức khỏe

Cuộc sống hiện đại, tỷ lệ các bệnh nội tiết như béo phì, thừa mỡ trong máu, đái tháo đường, xơ vữa động mạch… đang tăng nhanh chóng khiến nhiều người tránh ăn chất béo, thậm chí loạibỏ chất béo ra khỏi thực đơn. Đây là một ý nghĩ hết sức sai lầm, vì chất béo cũng là một trong bốn thành phần cơ bản của bữa ăn, đó là: đường, đạm, béo và khoáng – vitamin.

Chất béo rất cần thiết để kiến tạo màng tế bào, tổng hợp chất xám của hệ thần kinh, tổng hợp các hormon thượng thận và sinh dục, hấp thu vận chuyển các sinh chất, đặc biệt là các vitamin tan trong dầu A, D, E, K…

Do vậy, cần phải đưa các chất béo lành mạnh vào chế độ ăn uống hằng ngày có thể giúp cải thiện sức khỏe. Nếu biết sử dụng chất béo đúng cách, đúng lúc, nó sẽ giúp bạn trẻ, khỏe và năng động hơn.

Những loại chất béo tốt này thường có trong cá béo, các loại hạt, quả bơ, dầu thực vật… Theo các chuyên gia cho biết, những lợi ích của các chất béo lành mạnh nếu được nạp ở số lượng vừa phải, chất béo lành mạnh giàu chất chống ô xy hóa như vitamin E và selen; chất béo tốt có thể giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng thiết yếu (như vitamin tan trong chất béo) từ thức ăn; có thể giúp cơ thể chống lại một số bệnh mãn tính như bệnh tim, tiểu đường, ung thư, tình trạng viêm và các vấn đề cơ xương; giúp kiểm soát huyết áp cao, tình trạng viêm sưng và cholesterol cao; dưới dạng a xít béo omega 3, các chất béo lành mạnh có thể giúp kích thích não phát triển.

chat-beo-co-that-su-gay-hai-cho-suc-khoe

Theo các chuyên gia, tùy từng loại chất béo chúng ta dùng để chế biến các món ăn khác nhau, …Các loại dầu có khả năng chịu nhiệt từ thấp lên cao là dầu mè, dầu hướng dương, dầu ô liu, dầu cọ. Khi chiên, xào, cần ưu tiên sử dụng dầu cọ, dầu hướng dương, mỡ động vật. Hãy thêm dầu ô liu nếu dùng bơ để chiên cá, thịt bò…

Khi dùng dầu để trộn, làm xốt mayonnaise nên dùng dầu đậu nành, dầu ô liu, dầu mè.

Mỗi một loại dầu đều có tác dụng khác nhau, chính vì vậy trong chế độ ăn uống hàng ngày bạn nên sử dụng xen kẽ và đa dạng các loại dầu để chế biến thức ăn.

Một thói quen cần bỏ là không nên sử dụng lại dầu đã chiên chả giò, tôm lăn bột… Dầu chiên nhiều lần ở nhiệt độ cao sẽ trở thành kẻ tiếp tay cho bệnh tim mạch, ung thư.

Ngoài ra, có nhiều thực phẩm chứa chất béo không có lợi cho cơ thể mà ít người biết đó là mì ăn liền, khoai tây chiên, bánh tiêu, chuối chiên… Bên cạnh việc chứa nhiều năng lượng dễ gây thừa cân, các thực phẩm này còn chứa độc tố gây bệnh nguy hiểm. Các bác sĩ chuyên khoa ung bướu cho rằng, loại dầu, mỡ màu nâu trông óng ả nhưng lại có khả năng gây ung thư hệ thống tiêu hóa.

Theo lời khuyên của bác sĩ dinh dưỡng, những người ăn kiêng không nên loại bỏ hoàn toàn chất béo ra khỏi bữa ăn. Bởi như vậy, bạn đã loại khỏi mình những chất sống cần thiết. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, nếu bạn tuân thủ một chế độ ăn, bạn sẽ có một thân hình cân đối và đường như trẻ hơn so với tuổi thật. Đồng thời nếu bổ sung một lượng chất béo vừa phải, da của bạn sẽ mịn màng, đẹp hơn. Ngoài ra, bạn có thể chỉ cần uống một chút dầu dừa trước bữa ăn, bạn sẽ loại bỏ được các chất béo có hại.

Dưới đây là lợi ích của một số loại chất béo:

Dầu oliu: Dầu oliu thường được dùng trong món salad. Nó không chỉ giúp món salad của bạn ngon hơn, quyến rũ hơn mà nó còn giúp cơ thể bạn hấp thu được những dưỡng chất và vitamin A, vitamin E. ngoài ra, chất béo trong dầu oliu là chất béo không no, có khả năng bảo vệ bạn khỏi những cơn đau tim hoặc có thể cả nguy cơ ung thư.

Dầu vừng: Dầu vừng thường đường dùng để xào các món ăn. Dầu vừng chứa hàm lượng lớn vitaminE và không làm mất đi hương vị của món ăn. Chất béo trong dầu vừng là chất béo không no, do đó khi xào một món ăn hoặc trước khi ăn, bạn có thể nêm vào món ăn một chút dầu vừng để làm tăng thêm hương vị cho món ăn đó và hấp thu tốt hơn vitamin E, vitamin B, magie, canxi và chất sắt.

Dầu dừa: Dầu dừa thường dùng để nấu. Bạn có thể dùng dầu dừa với nhiều món ăn. Mỗi ngày chỉ cần thêm một chút dầu dừa vào món nấu hoặc món xào, không những mùi vị thức ăn sẽ đặc biệt hơn mà bạn còn được cung cấp đầy đủ vitamin hơn, đặc biệt là vitamin E.
Dầu hướng dương và hạt bí: Các loại hạt này có chứa tinh chất acid béo (EFAs) mà cơ thể người không thể tạo ra được. Tinh chất này rất tốt cho lớp màng của bất cứ tế bào da nào. Chất EFAs giữ cho làn da không bị khô, mất nước, ngăn ngừa nám da. Ngoài ra, EFAs còn giúp não bộ hoạt động tốt hơn, giảm được những tai biến có hại. Chúng còn giúp cho những bệnh nhân Alzheimer hồi phục nhanh hơn… Có 3 dạng EFAs gồm omega-3, 6 và 9.

Theo Phạm Minh/Vnmedia

Những món ăn chăm sóc sức khoẻ sinh dục

Để chăm sóc tốt sức khỏe cũng như tăng cường khả năng tình dục thì chế độ ăn uống thích hợp và những thực phẩm qua khẩu phần ăn hàng ngày là vô cùng quan trọng.

Thực phẩm nguồn gốc từ động vật

Là những thực phẩm như: trứng gà, tôm, gan động vật, sữa, bơ, dầu cá… rất giàu vitamin A.

Theo các nhà khoa học thì đây là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe tình dục vì vitamin A có tác dụng đặc biệt trong việc thúc đẩy quá trình cấu thành nên các phân tử protein nuôi dưỡng cơ thể. Thiếu vitamin A gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các tổ chức tế bào sinh dục trong việc sản sinh tinh trùng và trứng cũng như làm thay đổi cấu trúc của các bộ phận sinh dục như: ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt, tử cung, buồng trứng… Do vậy, trứng gà, sữa, bơ, dầu cá… sẽ là sự lựa chọn thiết yếu giúp nâng cao đời sống tình dục.

Tuy nhiên, nên lưu ý là cần kiểm soát lượng thịt tiêu thụ hằng ngày, vì nếu nạp quá nhiều sẽ làm tăng mức chất béo và carbohydrate trong cơ thể, có khuynh hướng gây nên các bệnh nguy hiểm.

thuc_pham_cham_soc_suc_khoe_tinh_duc_01

Tôm, hàu… là hải sản giúp nam giới tăng cường sức khỏe tình dục.

Thực phẩm có nguồn gốc từ rau xanh và trái cây

Là những thực phẩm như: rau cải, rau muống, rau ngót, rau mồng tơi, các loại rau thơm: rau hẹ, rau bina (chân vịt), ớt tươi, táo, cam, quýt… rất giàu vitamin C. Loại vitamin này không chỉ có tác dụng nâng cao sức đề kháng của cơ thể, mà còn giúp ngăn chặn hiện tượng ngưng tụ và đông kết các tế bào tinh trùng, từ đó làm giảm thiểu khả năng vô sinh ở nam giới. Mặt khác vitamin C còn có tác dụng bảo vệ và ngăn chặn hiện tượng ôxy hoá các gen DNA di truyền có trong các tế bào tinh trùng.

Tuy nhiên, vitamin C dễ hòa tan trong nước, dễ bị phân huỷ ở nhiệt độ cao vì vậy cần chú ý khi rửa và nấu nướng. Nên rửa rau cả lá to rồi mới thái, cho vào nấu khi nước đã sôi và ǎn ngay sau khi chín sẽ giảm được tỷ lệ mất vitamin C.

Thực phẩm từ các loại hạt

Là những thực phẩm như: vừng, lạc, hạnh đào và các chế phẩm từ đậu tương (rau giá, đậu…)… rất giàu vitamin E. Đây là loại vitamin không thể thiếu trong việc điều tiết hoạt động của các tuyến sinh dục cũng như kéo dài tuổi thọ của các tế bào tinh trùng và trứng. Việc kết hợp cung cấp đầy đủ vitamin E và A còn có tác dụng cải thiện tuần hoàn máu trong các cơ quan sinh dục và thúc đẩy nhanh quá trình sản sinh và phát triển của tinh trùng.

thuc_pham_cham_soc_suc_khoe_tinh_duc_02

Các loại hạt như hạt vừng, hạt lạc giàu vitamin rất tốt cho sức khỏe tình dục

Ngoài ra, ngũ cốc nguyên hạt còn giúp cho nam giới tăng lượng testosterone trong máu và chứa một loại axit amin có khả năng điều trị chứng rối loạn cương dương.

Ngoài ra, các loại hải sản rất có lợi cho sức khỏe, vì đây là nguồn phong phú protein. Các loại cá như cá ngừ, cá hồi, sò huyết, hàu,… tốt cho cơ thể nhờ chứa hàm lượng cao a-xít béo omega-3 và vi chất kẽm giúp tăng cường ham muốn.

Theo 24h

Chất béo đối với sự phát triển của trẻ em

Trong cơ thể, lipid có ở các dạng: acid béo, triglycerides, phospholipid, cholesterol và một số dạng khác ít quan trọng hơn.

– Triglycerid do glycerol gắn với 3 acid béo, là dạng chất béo chủ yếu trong thức ăn.

– Phospholipid là thành phần của màng tế bào,  có thành phần gồm một hay nhiều acid béo, một gốc acid phosphoric và 1  base nitrogen. 3 loại phospholipid chính là lecithin, cephalin, sphingomyelin.

chat_beo_doi_voi_su_phat_trien_cua_tre_em

– Cholesterol là chất có chứa nhân sterol. Nhân sterol được tổng hợp từ sản phẩm chuyển hóa của acid béo. Từ nhân sterol cơ thể có thể tổng hợp được acid cholic (acid mật), các hormon steroid, myelin của não và tế bào thần kinh. Lượng cholesterol trong cơ thể chủ yếu là cholesterol nội sinh do cơ thể tạo ra. Ở trẻ em, nhu cầu cholesterol cao để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của hệ thần kinh trong khi  quá trình tổng hợp này chưa hoàn chỉnh hẳn nên cần cung cấp thêm từ thức ăn. Cholesterol có nhiều trong các thức ăn động vật.

– Acid béo chủ yếu có trong thành phần của triglycerid. Người ta chia ra acid béo chuỗi ngắn, chuỗi trung bình và chuỗi dài tùy theo độ dài của chuỗi carbon. Tùy theo số nối đôi có trong phân tử, chúng được chia thành acid béo no (không có liên kết đôi), acid béo không no 1 nối đôi hoặc acid béo không no đa nối đôi. Chất béo không no đa nối đôi( DHA, EPA, ARA…) có nhiều trong hải sản, còn dầu thực vật thường giàu acid béo một nối đôi. Chất béo no có trong mỡ động vật (trừ mỡ cá), dầu dừa, dầu cọ…Khả năng hấp thu chất béo tỉ lệ thuận với số nối đôi và tỉ lệ nghịch với độ dài của chuỗi carbon. Người ta hay nói dầu thực vật dễ hấp thu hơn mỡ động vật do có nhiều acid béo không no hơn.

Ở điều kiện nhiệt độ bình thường, chất béo ở trạng thái lỏng được gọi là dầu và ở trạng thái đặc được gọi là mỡ. Tính chất sinh học và vai trò của chất béo phụ thuộc vào các acid béo cấu tạo nên. Trong số hàng trăm loại acid béo, có 2 loại cơ thể không thể tự tổng hợp được mà phải nhận vào từ bên ngoài, gọi là các acid béo thiết yếu, đó là acid linoleic (ω6) và acid α-linolenic (ω3)…  ω6 có nhiều trong dầu nành, dầu mè, dầu hướng dương, dầu bắp… ω3 có nhiều trong dầu nành, dầu olive, dầu hạt lanh, hạt cải…

Ở người lớn, việc sử dụng chất béo quá mức, nhất là các loại chất béo no và cholesterol có liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch và cao huyết áp, do đó cần giới hạn ở khoảng 20-25% tổng năng lượng và giảm chất béo no cũng như cholesterol. Tuy nhiên, với trẻ em, việc sử dụng chất béo hợp lý là cực kỳ cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Trọng lượng của trẻ gấp đôi lúc sinh khi được 5 tháng tuổi, gấp 3 lúc 1 tuổi, gấp 4 lúc 2 tuổi. Não của trẻ cũng tăng gấp 3 khi trẻ 1 tuổi, đạt 80% não người lớn lúc 2 tuổi, bằng não người trưởng thành khi trẻ 6 tuổi, mà chất béo chiếm đến 70-85% cấu tạo của não và dây thần kinh. Do đó thời gian này trẻ cần năng lượng và chất béo rất nhiều. Trẻ càng nhỏ, tổng lượng chất béo sử dụng càng cao, ví dụ trẻ sơ sinh cần đến 50% năng lượng từ chất béo, trẻ dưới 1 tuổi cần 40-50% và trẻ 1-2 tuổi cần 30-35%. Trẻ dưới 2 tuổi cần cholesterol để hoàn thiện não và hệ thần kinh, do đó phải có nguồn chất béo động vật. Ngoài lượng chất béo trong sữa, các bậc phụ huynh nên chú ý cho đủ lượng chất béo được bác sĩ khuyến nghị. Ở trẻ dưới 2 tuổi, chúng ta nên cho thêm 1 muỗng canh dầu mỡ trong 1 chén cháo.  Đa số trẻ suy dinh dưỡng đến khám tại bệnh viện Nhi đồng 2 đều có khẩu phần ăn chưa đủ chất béo.

Để cung cấp loại chất béo phù hợp với trẻ, người ta quan tâm đến tỉ lệ ω6/ ω3 (4-10 /1) và tỉ lệ chất béo không no đa nối đôi/ tỉ lệ chất béo bão hòa (0,3-0,9/1). Sử dụng nhiều loại dầu thực vật và mỡ động vật khác nhau sẽ bổ sung cho nhau để có hiệu quả cao nhất. Chúng ta cũng nên chú ý rằng chất béo không no rất dễ bị oxy hóa, nhất là ở nhiệt độ cao, sinh ra nhiều chất độc, do đó việc bảo quản cần kỹ càng hơn và không dùng để chiên xào.

Sử dụng chất béo đầy đủ, đa dạng, hơp lý sẽ giúp trẻ nhận được đủ năng lượng, đủ nguyên liệu để phát triển thể chất và trí tuệ. Chất béo cũng làm cho món ăn thơm ngon hơn, hợp khẩu vị trẻ. Chỉ giới hạn chất béo khi trẻ đã qua giai đoạn hoàn thiện hệ thần kinh và thừa cân béo phì hoặc có một số bệnh lý đặc biệt. Giới hạn ở mức độ nào cho phù hợp với nhu cầu tăng trưởng của trẻ mà vẫn đủ các acid béo thiết yếu cũng như vitamin tan trong dầu nên có ý kiến của các chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa. Chúng ta cũng không nên lạm dụng quá mức chất béo trong bữa ăn vì có nguy cơ làm trẻ béo phì và gây ra tác động xấu trên sức khỏe.

Đăng bởi: BS.CK2.Nguyễn Thị Thu Hậu – TK.Dinh Dưỡng
Theo benhviennhi.org.vn

Làm tổn thương da mặt bởi những thói quen xấu

Ăn kiêng, rửa mặt bằng nước nóng, nặn mụn, ăn nhiều đồ ngọt là thói quen xấu làm hỏng da mặt.

Ăn kiêng

Chế độ ăn kiêng nhiều rau không cung cấp đủ lượng chất béo cơ thể cần. Việc theo đuổi chế độ ăn uống ít chất béo quá mức sẽ làm giảm chất lượng của da, da sẽ khô thêm, dẫn đến lão hóa sớm bởi chất béo là nguồn dinh dưỡng cần thiết để duy trì làn da khỏe mạnh, giữ ẩm và giúp da đàn hồi. Hãy nhờ, việc hấp thụ axit béo từ trong dầu cá, trứng và rau củ là cực kỳ quan trọng để giữ làn da khỏe mạnh.

Thói quen xấu làm hỏng da mặt, Da liễu, Sức khỏe đời sống, Thoi quen hong da mat, an kieng, an rau xanh, chat beo, nan mun, dap mat na, rua mat, an do ngot, suc khoe, bao.

thoi_wen_lam_ton_thuong_da_mat_01

Ăn kiêng làm giảm chất lượng của da

Nặn mụn

Mụn là do tuyến bã nhờn hoạt động và sản xuất quá mức chất nhờn, làm chúng bị bít và tắc nghẽn ở lỗ chân lông. Thói quen nặn mụn có thể làm sản sinh thêm mụn trứng cá mới, tăng sinh vi khuẩn khiến mụn bị viêm nặng hoặc nhiễm trùng do bội nhiễm một số vi khuẩn tụ cầu, gây nên tình trạng sưng đỏ. Mụn bọc, mụn mủ dễ bị để lại sẹo, dẫn đến lỗ chân lông lớn.

Đắp mặt nạ quá lâu

Nhiều người cho rằng, việc đắp mặt nạ càng lâu, các dưỡng chất sẽ hấp thụ càng nhiều. Tuy nhiên, trên thực tế, các bác sĩ chuyên khoa da liễu cho rằng, việc lưu giữ mặt nạ quá lâu khiến bạn không những không đạt được hiệu quả mong muốn mà chỉ khiến cho bề mặt da bị mất đi độ ẩm, ảnh hưởng đến sự hấp thụ dưỡng chất và cản trở sự bài tiết lớp bã nhờn trên da, gây dị ứng. Vì vậy thời gian đắp mặt nạn tốt nhất là không quá 15 phút.

Rửa mặt bằng nước nóng

Rửa mặt bằng nước nóng sẽ khiến các mao mạch ở da trở nên yếu đi. Các nghiên cứu phát hiện, rửa mặt bằng nước nóng hơn khoảng 25 độ so với nước lạnh bình thường sẽ làm mất bã nhờn dưới da, khiến da khô hơn, nhiệt độ càng cao càng dễ mất đi lớp dầu bảo vệ da.

thoi_wen_lam_ton_thuong_da_mat_02

Rửa mặt bằng nước nóng sẽ khiến các mao mạch ở da trở nên yếu đi

Ăn nhiều đồ ngọt

Ăn đồ ngọt quá nhiều sẽ dẫn đến lượng đường trong máu cao. Đường huyết quá cao sẽ làm thay đổi cấu trúc và độ đàn hồi của tế bào sừng da, gây ra nếp nhăn trên mặt, dẫn đến tình trạng lão hóa sớm. Bữa ăn nhẹ giàu protein là sự lựa chọn tốt nhất, các loại hạt có chứa chất béo sẽ giúp làn da khỏe mạnh.

Theo 24h