Tag Archives: chấn thương

Nguy hiểm phồng động mạch chủ

Phồng động mạch là tổn thương giãn thành động mạch không hồi phục, đường kính động mạch bị phồng có thể lớn hơn 50% so với đường kính ban đầu. Nếu phồng động mạch càng lớn thì nguy cơ bị vỡ càng cao. Các túi phồng động mạch đều có xu hướng phát triển to dần chứ không thể tự khỏi.

Nhiều nghiên cứu cho thấy phồng động mạch thường gặp ở những người mắc các bệnh sau đây: xơ cứng động mạch, hoại tử thành động mạch do tác dụng phụ của một số loại thuốc chữa bệnh, bệnh loạn sản tổ chức xơ, thoái hoá thành động mạch do thai nghén…Các bệnh nhiễm khuẩn thông thường, giang mai, nhiễm virut. Do các nguyên nhân cơ học: sau hẹp động mạch, sau chấn thương và vết thương, sau phẫu thuật nối thông mạch máu, ghép đoạn động mạch. Các bệnh bẩm sinh: hội chứng Ehlers-Danlos, hội chứng Marfan, phồng động mạch não…

phong-dong-mach-chu

Phát hiện bệnh cách nào?
Bình thường một người bị phồng động mạch ở mức độ ít thường không có triệu chứng gì, nên bệnh nhân rất khó biết mình có bị phồng động mạch hay không. Tuy nhiên phồng động mạch ngày càng phát triển to ra, gây nên các triệu chứng chèn ép vào cơ quan xung quanh chỗ phồng; hoặc chèn ép vào bản thân động mạch, làm giảm lượng máu nuôi dưỡng cơ quan do động mạch bị phồng chi phối; dòng máu chảy vào túi phồng sẽ trở thành dòng chảy xoáy nên dễ tạo nên các cục máu đông ở trong lòng túi phồng, các cục máu đông này có thể bị bong ra và trôi theo dòng máu, đến gây tắc động mạch ở các nơi khác.

Phồng động mạch chủ, triệu chứng theo năm đoạn phồng như sau:
– Đoạn I, từ phía trên động mạch vành tới gốc của thân động mạch cánh tay đầu, túi phồng có thể chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên gây ra các triệu chứng: phù áo khoác (phần cơ thể bị phù tương ứng với phần khoác áo), tuần hoàn bàng hệ vùng cổ ngực; túi phồng có thể vỡ vào màng tim gây chèn ép tim cấp.

– Đoạn II, từ thân động mạch cánh tay đầu đến động mạch dưới đòn trái : túi phồng có thể chèn vào tĩnh mạch chủ trên, chèn vào khí quản và phế quản gốc gây ra khó thở theo tư thế, ho…; túi phồng có thể vỡ vào khí quản hay trung thất gây ho ra máu nặng và chèn ép trung thất cấp.

– Đoạn III, từ động mạch dưới đòn trái tới cơ hoành: túi phồng có thể chèn vào thực quản gây khó nuốt, chèn ép dây thần kinh quặt ngược trái gây nói khàn, giọng đôi, chèn ép và gây giảm cấp máu cho động mạch Adamkiewicz, gây thiếu máu tuỷ và liệt hai chi dưới; túi phồng có thể vỡ vào phổi, màng phổi gây ho ra máu và tràn máu màng phổi cấp.
Đoạn IV, từ dưới cơ hoành đến gốc 2 động mạch thận : túi phồng có thể chèn ép và ảnh hưởng đến cấp máu của thận gây thiểu niệu, tăng huyết áp; chèn ép các tạng ống tiêu hoá gây rối loạn tiêu hoá; túi phồng có thể vỡ vào ổ bụng hay khoang sau phúc mạc gây hội chứng bụng cấp.

– Đoạn IV: từ dưới động mạch thận đến chỗ phân chia ra các động mạch chậu gốc, nhìn thấy khối phồng đập nẩy theo nhịp tim; sờ thấy khối phồng và có thể luồn tay dưới bờ sườn để sờ được cực trên của nó; nghe trên khối phồng có tiếng thổi tâm thu; túi phồng có thể vỡ vào trong ổ bụng hay khoang sau phúc mạc.

Phồng động mạch ngoại vi: hay gặp là phồng động mạch khoeo và động mạch đùi. Nguyên nhân do bệnh xơ vữa động mạch, chấn thương hoặc nhiễm khuẩn. Triệu chứng gồm: phần chi bên dưới túi phồng thấy đau, tê, vận động chóng mỏi và hay bị chuột rút.

Khám thấy: mạch đập yếu hơn so với bên lành. Có các hiện tượng thiểu dưỡng như: đau nhức tăng lên khi vận động, phù nề, tím, giảm khả năng vận động, có các vết loét. Khối phồng nằm ngay trên đường đi của động mạch. Ranh giới thường rõ. Đập nẩy và có thể thấy khối đập co giãn theo nhịp tim. Nghe trên khối phồng thấy có tiếng thổi tâm thu. Khi ép lên đoạn động mạch ở phần đầu trung tâm của khối phồng thì thấy khối phồng nhỏ lại, hết đập nẩy và không còn tiếng thổi.

Chụp xquang thấy hình lắng đọng canxi ở túi phồng động mạch. Siêu âm xác định được hình dáng, kích thước, độ dày thành túi, tình trạng máu cục… trong lòng túi phồng. Chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ cho thấy : hình thái của khối phồng, xác định được tương quan của túi phồng với các cơ quan và tổ chức quanh túi phồng.

Biến chứng
Túi phồng động mạch nếu không được phát hiện và điều trị sẽ phát triển to lên dần và dẫn đến biến chứng vỡ phồng. Đây là biến chứng nguy hiểm, nếu túi phồng càng ở đoạn động mạch gần tim thì mức độ cấp tính và đe doạ tính mạng bệnh nhân càng nặng.
Ngoài ra còn có các biến chứng : chèn ép các cơ quan xung quanh, mức độ chèn ép tăng dần vì khối phồng ngày càng to ra. Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của các cơ quan này, sự chèn ép của khối phồng còn làm thiếu máu nuôi dưỡng vùng tổ chức phía ngoại vi của khối phồng. Nhiễm khuẩn: khối phồng bị nhiễm khuẩn có thể gây biến chứng vỡ khối phồng đột ngột. Tắc mạch ngoại vi: do cục máu đông trong túi phồng bị tách ra và theo dòng máu động mạch đến gây tắc các động mạch ở phía ngoại vi khối phồng.

Điều trị và phòng bệnh ra sao?
Việc điều trị phồng động mạch bắt buộc phải phẫu thuật để cắt bỏ khối phồng và ghép mạch. Có hai cách ghép mạch là ghép tự thân và ghép mạch đồng loại. Ghép mạch tự thân là dùng một đoạn tĩnh mạch của chính bệnh nhân để ghép. Ghép mạch đồng loại là dùng động mạch của người khác để ghép.

Do việc điều trị rất khó khăn và sự đe dọa tính mạng bệnh nhân nếu vỡ phồng động mạch, nên vấn đề phòng tránh có ý nghĩa rất quan trọng. Bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng tránh phồng động mạch gồm: thường xuyên tập thể dục để giúp lưu thông khí huyết, làm dẻo dai thành mạch máu, hạn chế nguy cơ bị phồng mạch. Bạn cũng không ăn mỡ động vật vì có thể bị vỡ xơ mạch máu gây ra chỗ xơ cứng chỗ yếu dễ bị phồng mạch. Nếu phải dùng thuốc chữa bệnh, bạn chỉ nên dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ để tránh bị hoại tử thành động mạch do thuốc. Phụ nữ có thai cần khám định kỳ để được bác sĩ theo dõi, tránh bị thoái hoá thành động mạch liên quan đến thai nghén…Bạn cần giữ vệ sinh trong ăn uống, sinh hoạt, phòng các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus. Việc phòng tránh tai nạn giao thông, tránh chấn thương và vết thương trong lao động và sinh hoạt cũng rất có ý nghĩa để bảo vệ sức khỏe và tránh phồng động mạch.

Nguồn sức khỏe đời sống

Tổn thương thận vì đi xe đạp

Những người thường xuyên đi xe đạp được khuyến khích đội mũ bảo hiểm, nhưng nghiên cứu của Đại học California (Mỹ) cho thấy chấn thương ở đầu không phải là điều lo ngại nhất.

ton-thuong-than-vi-di-xe-dap

Các nhà khoa học đã phân tích dữ liệu thu thập được bởi các hệ thống giám sát tai nạn thương tích quốc gia từ năm 2002-2012. Hàng năm, trung bình khoảng 4.000 người đi xe đạp liên quan đến những tổn thương ở thận và bộ phận sinh dục. Họ cũng phát hiện ra rằng trẻ em đi xe đạp phải đến phòng cấp cứu do tổn thương ở những bộ phận này nhiều hơn 10 lần so với người lớn. Nam giới và bé trai chiếm tới 61% thương tích khi đi xe đạp so với nữ giới.

Theo sức khỏe đời sống

Bong gân, dấu hiệu và cách xử trí

Khi chơi thể thao, lao động, sinh hoạt bình thường nếu không đúng tư thế rất dễ bị bong gân. Dây chằng là những dải băng dai và đàn hồi bám vào xương và giữ cho các khớp ở đúng vị trí. Bong gân là tổn thương dây chằng do sự kéo giãn quá mức gây ra. Dây chằng có thể bị rách hoặc có thể đứt lìa hoàn toàn.

Bong gân hay xảy ra nhất ở mắt cá chân, đầu gối hoặc cung bàn chân. Dây chằng bị bong sưng lên nhanh chóng và rất đau. Nói chung càng đau nhiều thì tổn thương càng nặng. Với phần lớn trường hợp bong gân nhẹ, bạn có thể tự điều trị.

bong-gan-dau-hieu-va-cach-xu-tri

Làm theo những hướng dẫn dưới đây:
– Bảo vệ để chi bị thương không bị tổn thương nặng hơn bằng cách không sử dụng khớp. Bạn có thể làm được điều này bằng cách sử dụng bất kì thứ gì từ nẹp cho đến nạng.

– Để chi bị tổn thương nghỉ ngơi. Tuy nhiên, không dừng hoàn toàn các hoạt động. Ngay cả với bong gân cổ chân, thì bạn vẫn có thể luyện tập các cơ khác thông thường để tránh mất điều hòa. Ví dụ, bạn có thể tập bằng xe đạp, hoạt động cả hai tay và chân không bị thương trong khi để bên cổ chân bị thương nghỉ ngơi trên một bên bàn đạp. Bằng cách này bạn vẫn có thể tập được 3 chi để giữ cho tim mạch điều hòa.

– Chườm đá vùng bị thương. Dùng khăn lạnh, khăn ướt hoặc túi chườm đổ đầy nước lạnh sẽ hạn chế sưng sau khi bị thương. Cố gắng chườm đá càng sớm càng tốt sau khi bị thương. Nếu bạn dùng đá, hãy cẩn thận không dùng quá lâu vì có thể gây tổn thương mô.

– Băng ép vùng bị thương bằng băng chun. Băng cuốn hoặc băng ống làm từ sợi chun hoặc neopren là tốt nhất.

– Nâng cao chi bị thương mỗi khi có thể để ngăn ngừa hoặc hạn chế sưng.

Hãy gọi cấp cứu nếu:
– Bạn nghe thấy tiếng khục khi khớp bị thương, hoặc bạn không thể cử động được khớp. Điều này có thể có nghĩa là dây chằng đã bị đứt hoàn toàn. Trên đường tới bác sỹ, hãy chườm lạnh.
– Bạn bị sốt, và vùng bị bong gân đỏ và nóng. Có thể bạn bị nhiễm trùng.
– Bạn bị bong gân nặng. Điều trị không thích hợp hoặc chậm trễ có thể làm khớp mất ổn định lâu dài hoặc đau mạn tính.
– Bạn không đỡ sau 2-3 ngày đầu.

Hãy cẩn thận hơn trong công việc hàng ngày hay lúc hoạt động thể lực sẽ giúp bạn giảm nguy cơ bị bong gân

Đãng trí

Nếu bạn dưới 30 tuổi và thường gặp rắc rối vì sự đãng trí thì bạn không phải là người duy nhất. Dưới đây là những lý do tại sao tình trạng đãng trí trong giới trẻ ngày càng gia tăng.

1. Căng thẳng

Stress được biết đến như một thứ bệnh âm thầm hủy hoại cơ thể về nhiều mặt bao gồm cả việc tác động đến não bộ và làm bạn ngày càng dễ quên và khó nhớ. Về mặt lý thuyết , càng có nhiều việc tác động khiến cho bạn bị căng thẳng thì khả năng bạn bị đãng trí càng cao. Điều tốt nhất mà bạn có thể làm là tìm các phương thuốc giảm căng thẳng hoặc dành thời gian thư giãn, tham gia các hoạt động thể thao.

dang-tri

2. Thiếu dinh dưỡng

Có nhiều lý do dẫn đến chế độ ăn uống của bạn không cân bằng, thiếu chất. Với các chị em thì thường là do ăn kiêng giảm cân. Một chế độ ăn không cung cấp đủ chất, bao gồm vitamin và các chất dinh dưỡng cần thiết sẽ làm gia tăng tình trạng mất trí nhớ ở độ tuổi dưới 30.

Thậm chí, tình trạng này càng đáng lo ngại hơn nếu bạn tiêu thụ một lượng lớn rượu hoặc dùng thuốc thường xuyên thì nguy cơ đãng trí nặng là rất cao.

3. Tuyến giáp có vấn đề

Rối loạn tuyến giáp, chẳng hạn như suy giáp và cường giáp, đã được biết như chứng bệnh có tác động mạnh đến bộ nhớ của con người. Nếu trong gia đình bạn có một thành viên có tiền sử mắc các bệnh về tuyến giáp thì khả năng bạn bị di truyền và nguy cơ mắc bệnh là rất cao.

Nếu không may gặp phải vấn đề suy giáp hay cường giáp thì cách duy nhất để hỗ trợ trí nhớ là đến khám tại các phòng khám chuyên khoa để được kê đơn chữa bệnh triệt để. Khi các tuyến giáp hoạt động ổn định trở lại thì trí nhớ của bạn cũng sẽ tốt hơn.

4. Chấn thương vật lý hoặc tổn thương tình cảm

Mặc dù các chấn thương không được biết đến như một nguyên nhân hàng đầu của chứng đang trí hay mất trí nhớ ở những người dưới 30 tuổi nhưng chắc chắn rằng bạn có thể trải nghiệm tình trạng đãng trí, hay quên nếu bạn đã trải qua chấn thương về thể chất hoặc tinh thần. Các chấn thương thể chất, thường là các chấn thương có liên quan đến não thường có khả năng gây mất trí nhớ tạm thời hay suy giảm khả năng suy nhớ về lâu dài.

Chấn thương về mặt tâm lý, tình cảm, bao gồm cả việc bị lạm dụng tình dục hay khi mất đi một người thân thiết cũng được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh về khả năng gây mất trí nhớ hay gây đãng trí ở những người trẻ.

5. Thiếu ngủ

Xã hội hiện đại với áp lực công việc ngày càng căng thẳng khiến cho 8 tiếng mỗi ngày ở công sỡ không còn đủ để giải quyết công việc. Tình trạng tăng ca,làm thêm… khiến cho chứng thiếu ngủ và mất ngủ ở giới trẻ gia tăng với tốc độ chóng mặt.

Hậu quả của việc thiếu ngủ không chỉ dừng lại ở cảm giác mệt mỏi thiếu tập trung mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới trí nhớ của chúng ta. Các nhà khoa học từ lâu đã khuyến cáo việc thiếu ngủ về lâu dài sẽ gây ra sự lãng quên.

Để khắc phục tình trạng này, việc sắp xếp thời gian biểu là vô cùng quan trọng. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng khuyến khích bạn nên ngủ các giấc ngủ ngắn 20-30 phút khi quá buồn ngủ.

Nguồn giáo dục

Lợi ích của hít thở sâu

Mỗi ngày tập thở bằng bụng từ 20-30 phút sẽ giúp tinh thần bạn tỉnh táo, thoải mái và thư giãn.

Lợi ích của hít thở sâu

Bạn sẽ ngạc nhiên trước những lợi ích của hít thở sâu bằng bụng đúng kỹ thuật:

-Thanh lọc cơ thể: Khi hít thở sâu sẽ giúp giãn nở phổi, đẩy nhanh quá trình trao đổi khí. Thở ra với lượng hơi dài đồng nghĩa với việc bạn đưa được nhiều hơn khí độc tích tụ trong cơ thể như N2, CO2 ra ngoài.

Enjoying the sun

-Tốt cho tim mạch: Bạn không thể điều chỉnh nhịp tim của mình nhưng lại có thể điều chỉnh hơi thở. Việc tập luyện hít thở sâu đúng kỹ thuật sẽ giúp nhịp tim của bạn chậm lại. Việc thở chậm và sâu sẽ giúp tim giảm bớt khối lượng công việc, mạnh mẽ hơn, giúp cơ thể luôn khỏe mạnh.

-Giảm huyết áp: Khi xúc động, mệt mỏi khiến tim bạn đập nhanh hơn, huyết áp tăng. Tập kỹ thuật hít thở sâu thường xuyên, huyết áp sẽ điều hoà ổn định.

-Giảm stress hiệu quả: Khi bạn tập luyện hít thở sâu trong một thời gian sẽ giúp lượng serotonin tăng đáng kể. Đây là chất được não sản xuất ra giúp bạn không cảm thấy mệt mỏi, tinh thần luôn được điều hoà, chịu đựng được áp lực trong công việc và tăng khả năng tập trung. Ngoài ra, hít thở sâu sẽ giúp cung cấp lượng ô-xy cao cho não, giúp tinh thần phấn chấn, bạn sẽ không còn cảm thấy bị stress.

-Không còn lo âu: Khi bạn gặp một điều gì đó gây sợ hãi, lo âu, hơi thở thường gấp và tim sẽ đập nhanh hơn… điều này cho thấy tâm trạng có sự liên quan tới nhịp thở. Vì vậy, nếu điều chỉnh hơi thở của bạn luôn luôn đều đặn trong mọi cảm xúc thì bạn sẽ có suy nghĩ tích cực và giữ được bình tĩnh trong mọi tình huống.

-Giảm đau cho cơ thể: Khi bị đau, chấn thương, bạn thường nín thở hoặc thở nhanh hơn vì cảm giác lo sợ nếu thở nhiều sẽ khiến cho vết thương trở nên đau đớn hơn.

Lúc này, nếu bạn thở sâu, chậm, cơ thể sẽ tạo ra chất giảm đau tự nhiên giúp xoa dịu vết đau hiệu quả. Vì vậy, khi bạn cảm thấy đau đớn thì hãy bình tĩnh và áp dụng kỹ thuật thở sâu. Hít thở sâu cũng làm thư giãn các cơ giúp giảm cơn đau nhức cơ thường gặp.

-Điều hoà khí huyết: Kỹ thuật thở sâu kích thích sự vận động của những cơ quan quan trọng như sinh dục, tiêu hoá, bài tiết… Vì vậy, sẽ giúp khí huyết được điều hoà, nuôi dưỡng các bộ phận trên cơ thể tốt hơn.

-Hiệu quả với người mắc bệnh hen suyễn, cao huyết áp: Luyện tập hít thở sâu thường xuyên giúp bệnh nhân sẽ cải thiện được tình hình bệnh tật của mình.

Kỹ thuật tập luyện

Mỗi ngày chỉ cần bỏ ra từ 20-30 phút tập luyện sẽ giúp bạn khỏe mạnh hơn, tinh thần phấn chấn. Bạn có thể áp dụng khi nào cảm thấy khó thở và tập luyện ở mọi nơi mọi lúc.

Trước khi luyện tập, hãy giữ cho tinh thần luôn thoải mái, không vướng bận, không nghĩ lan man, dẹp bỏ công việc sang một bên. Chú tâm vào luyện tập.

Bước 1: Thư giãn toàn bộ cơ thể. Bạn có thể ngồi hoặc nằm bất kỳ tư thế nào, miễn là cảm thấy thoải mái và thư giãn. Đặt một tay lên bụng, một tay lên ngực (đặt tay lên bụng để bạn biết chắc rằng đang tập thở bằng cơ bụng, vì lúc bình thường mỗi người đều thở bằng ngực). Khi đã quen rồi, bạn có thể bỏ qua bước này.

Bước 2: Hít mạnh vào, đảm bảo bụng của bạn phình ra, thở ra từ từ bằng mũi, bụng hóp lại. Khi hít vào bạn có thể ngưng vài giây sau đó thở ra.

Bước 3: Tập trung theo dõi hơi thở. Thực hiện đều, chậm và sâu khoảng 12-20 nhịp/phút. Nếu hơi thở gấp hơn bình thường, bạn có thể thở bằng miệng nhưng vẫn đảm bảo rằng bạn đang hít thở bằng cơ bụng.

Công việc đôi lúc bận rộn khiến bạn quên luyện tập cũng không sao. Bạn hãy tập luyện ngay khi bạn nhớ và nên kiên trì. Bạn cũng có thể tập hít thở sâu khi đi dạo, tản bộ tập thể dục.

Khi bạn thường xuyên luyện tập hít thở sâu bằng bụng trong thời gian dài sẽ tạo thành thói quen. Lúc đó, cho dù bạn không có chủ đích tập luyện thì phổi vẫn hô hấp sâu hơn bình thường, giúp bạn luôn giữ được sự tỉnh táo, thư giãn.

Tránh nơi nhiều khói bụi

Nạn nên chọn môi trường trong lành, yên tĩnh để thở sâu như trong công viên cây xanh, cạnh sông, hồ, ao có nguồn nước trong sạch. Tránh nơi ô nhiễm khói bụi.Không nên tập luyện khi mới ăn no. Trong khi tập luyện mà bạn cảm thấy đau tức ngực hoặc ho, khó thở thì nên ngừng tập và đi khám bác sĩ.Người có tiền sử bệnh tim hoặc bệnh liên quan đến hô hấp cần được bác sĩ tư vấn để chọn môi trường và chế độ luyện tập phù hợp.

Chữa viêm họng do lạnh hiệu quả với rau bô binh

Rau bô binh còn có tên gọi là tử tô hoang, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo, đơn kim, đơn buốt, cúc áo,… là cây thảo mọc hoang, thường thấy ở ven đường, bờ ruộng, bãi hoang quanh nhà. Thân và cành đều có những rãnh chạy dọc, có lông. Lá mọc đối,cuống dài, lá chét hình mác, phía đáy hơi tròn, cuống ngắn, mép lá chét có răngcưa to thô. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, mọc đơn độc hay từng đôi một ở nách lá hay đầu cành. Quả bế hình thoi, 3 cạnh, không đều, dài 1cm, trên có rãnh chạy dọc. Theo y học cổ truyền, rau bô binh có vị ngọt nhạt, tính bình. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tiêu thũng. Dùng chữa cảm, cúm, họng sưng đau, viêm ruột, trẻ nhỏ cam tích, chấn thương, mẩn ngứa, lở loét…

chua-viem-hong-do-lanh-hieu-qua-voi-rau-bo-binh

Rau bôbinh.

Một số bài thuốc thường dùng:

Chữa đau lưng do làm gắng sức: Rau bô binh 150-180g, rửa sạch sắc lấy nước, thêm 250g đại táo, đường đỏ và chút rượu trắng, nấu nhỏ lửa cho đến khi táo chín nhừ; Chia4-5 lần uống trong 2 ngày, uống liền 7-10 ngày.

Chữa mẩn ngứa do dị ứng thời tiết: Rau bô binh 100-200g, nấu với 4-5 lít nước tắm, đồng thời lấy bã xát kỹ lên vết mẩn. Thường chỉ dùng 1-2 lần là có kết quả.

Chữa chấn thương phần mềm nhẹ, tụ máu đau nhức: Rau bô binh cả lá và hoa, lá cây đại, mỗi vị 10-15g, giã nát, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1-3 lần.

Chữa đau răng, sâu răng: Rau bô binh cả hoa và lá, rửa sạch cho vào ít muối, giã nhỏ đặt vào chỗ đau. Hoặc lấy rau bô binh 50g, rửa sạch, ngâm với 250ml rượu trắng(theo tỷ lệ 1/5). Trường hợp bị đau răng, ngậm trong miệng một lúc rồi nhổ đi.

Chữa viêm họng do lạnh: Rau bô binh cả hoa và lá, kim ngân hoa, sài đất, lá húng chanh, cam thảo đất, mỗi thứ 10-15g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần. Dùng trong 5-7 ngày.

Chữa đau nhức do phong thấp: Rau bô binh 30-60g, rửa sạch sắc nước uống, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.

Chữa trẻn hỏ cam tích: Rau bô binh 15g, gan lợn 30-60g. Rửa sạch lá rau bô binh rồi cho lá xuống đáy nồi, đổ ngập nước, đặt gan lên phía trên hấp chín, ngày chia 2 lần, ăn liền 5-7 ngày.

Cần phân biệt rau bô binh với một cây khác có tên là đơn buốt hay đơn kim hay quỷ trâm thảo (Bidens bipinnata L., cùng họ cúc) cũng mọc hoang khắp nơi. Cây đơn buốt chỉ khác cây rau bô binh ở chỗ số lá kép nhiều hơn 3, cụm hoa hình đầu, màu vàng.

Theo BS. NguyễnThị Hương
SKĐS

Bệnh động mạch chi và cách khắc phục

a. Bệnh động mạch chi là gì?

Bệnh động mạch chi là bệnh viêm nội mạc các động mạch, thường xuất hiện ở các động mạch nhỏ. Màng nội mạch có xu hướng dày dần lên, dẫn đến tình trạng tắc lòng động mạch, gây hoại tử phần tương ứng được nuôi dưỡng. Viêm tắc động mạch thường gặp ở nam giới; đa số trường hợp bệnh phát triển ở chi dưới, nhưng cũng có thể gặp ở chi trên, ở các động mạch ruột, vành tim và não.

Nguyên nhân chủ yếu là do xơ vữa động mạch.

Bệnh động mạch chi có thể gây ra một loạt các biến chứng nguy hiểm như: cắt cụt chi, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

benh-dong-mach-chi-va-cach-khac-phuc

b. Chứng đau cách hồi là gì?

Chứng đau cách hồi là đau kiểu chuột rút, đau cố định một nhóm cơ khi gắng sức ( đi bộ khoảng 300m, leo một tầng cầu thang, lội nước…), giảm đau khi nghỉ ngơi 5- 10 phút. Nhưng nếu tiếp tục đi thì sau một quãng đường cố định như cũ, cơn đau sẽ xuất hiện trở lại. Đau cách hồi sẽ làm người bệnh không thể đi liên tục trong một quãng đường dài, mà phải khập khiễng và ngắt quãng với từng quãng đường ngắn, vừa đi vừa nghỉ từng đoạn một.

Chứng đau cách hồi là biểu hiện điển hình của bệnh động mạch chi.

c. Bệnh động mạch chi và chứng đau cách hồi nguy hiểm với đôi chân như thế nào?

Giai đoạn đầu của bệnh động mạch ngoại biên, người bệnh không hề thấy bất kỳ một triệu chứng nào. Sau đó, xuất hiện triệu chứng đau khi đi lại. Đau, mỏi, co cứng cơ ở bắp chân, đùi hoặc mông khi đi lại và nghỉ ngơi thì giảm đau. Quãng đường đi được càng ngắn lại cũng là dấu hiệu của bệnh đang nặng lên.

Bệnh động mạch chi với triệu chứng điển hình là đau cách hồi tiến triển có tính chất chu kỳ, những cơn đau cấp tính giảm khi điều trị nhưng lại kịch phát khi gặp các kích thích như lạnh, chấn thương, hút thuốc lá, căng thẳng tâm lý… Dần dần, các triệu chứng trên xuất hiện dày hơn, nặng hơn, làm cho bệnh nhân đau đớn thường xuyên, cơ thể suy sụp, hoại tử chi và cuối cùng phải cắt cụt chi để bảo toàn tính mạng. Tuy nhiên, sau khi cắt cụt chi, quá trình viêm tắc động mạch vẫn có thể chuyển sang chi đối diện, thậm chí chuyển lên các chi trên.

Ai dễ mắc bệnh động mạch chi- chứng đau cách hồi

– Nguy cơ bị bênh động mạch chi tăng dần theo tuổi tác
– Người có cơ địa xơ vữa, rối loạn mỡ máu
– Hút thuốc lá nhiều, kéo dài
– Có các bệnh lý: tim mạch, đái tháo đường
– Phụ nữ mãn kinh, sử dụng thuốc tránh thai hay hoocmon thay thế

Theo gia đình

Trẻ có nguy cơ bị trầm cảm cao nếu từng bị chấn động não

Trẻ em từng tổn thương hoặc chấn động não (thường do chấn thương đầu) có thể bị nguy cơ trầm cảm cao gấp 5 lần so với trẻ bình thường, theo nghiên cứu gần đây tại Hoa Kỳ.

Trong một thống kê của Chương trình giám sát quốc gia về sức khỏe trẻ em, với 81.936 bé được khảo sát, có tần suất bị tổn thương não là 1,9% thì tỉ lệ trầm cảm chung là 3,7%. Nhưng ở những bệnh nhân tổn thương và chấn động não, tỉ lệ cao hơn nhiều: 15%. Sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ như thành phần gia đình, chậm phát triển não, sức khỏe thể chất yếu, nguy cơ trầm cảm vẫn cao gấp đôi ở những bé tổn thương và chấn động não.

Teenage Problems, Social Issues and Bullying

Các chuyên gia đề nghị cần theo dõi trong nhiều năm sau khi bé bị chấn động não hoặc thương tổn não. Một khi trẻ được chẩn đoán trầm cảm và kèm theo triệu chứng rối loạn tính khí hoặc cảm xúc, các bác sĩ nhi khoa cần chuyển bệnh nhi đến ngay các chuyên gia sức khỏe tâm thần để được điều trị phù hợp.

ThS.BS MAI VĂN BÔN
(A.A. Pediatrics 2013 National Conference)

Theo tuổi trẻ

Chữa các bệnh cột sống bằng luyện tập thể thao

Bạn có thể tìm thấy nhiều bài tập cải thiện các vấn đề liên quan đến cột sống trên Internet. Tuy nhiên, những bài tập này chưc chắc phù hợp với bệnh tình của bạn, vì vậy hãy tìm hiểu kỹ hoặc hỏi bác sĩ.

Tiến sĩ, bác sĩ Phạm Quang Thuận, Trưởng khoa Cơ xương khớp, Bệnh viện thể thao Việt Nam khuyến cáo, bệnh nhân mắc bệnh liên quan đến cột sống nên thường xuyên có các hoạt động thể lực hoặc tập luyện để điều trị và thích nghi với tình trạng bệnh. Các “đơn tập luyện” phải phù hợp với từng người, từng bệnh cụ thể, hơn thế nữa còn cần phù hợp với từng giai đoạn của bệnh.

Ở giai đoạn đau cấp tính trong hội chứng vai gáy, đau lưng cấp, hội chứng thắt lưng hông cũng như trong bệnh cảnh thoát vị đĩa đệm cột sống, việc nghỉ ngơi tích cực là cần thiết. Nghỉ ngơi tích cực là giảm hoặc không hoạt động những cơ quan, bộ phận hay vùng bị đau hoặc thực hiện bài tập, động tác cho các bộ phận đó ở tư thế phù hợp.

Với những bệnh lý liên quan đến đĩa đệm cột sống, hội chứng thắt lưng hông (80% bệnh nhân có hội chứng thắt lưng hông liên quan tới đĩa đệm cột sống), các bài tập cúi về phía trước hoặc tư thế sinh hoạt như lau quét nhà, cúi bê xách vật dụng là không thích hợp. Việc nằm nghỉ ngơi trên giường cứng và thực hiện các bài tập trên giường có tác dụng giảm đau, giãn cơ sẽ có lợi cho bệnh nhân hơn việc đi đứng vận động trong giai đoạn này.

chua-cac-benh-cot-song-bang-luyen-tap-the-thao

Đối với các chứng đau mãn tính, các bài tập cơ vùng cổ, lưng, tứ chi thích hợp có tác dụng tăng cường tuần hoàn cho cơ, tăng khả năng tiết endorphin nội sinh làm giảm đau. Các bài tập kéo giãn (đu xà đơn) có tác dụng giãn cơ, làm giảm áp lực lên đĩa đệm cột sống, giải phóng chèn ép tủy, rễ và dây thần kinh, điều chỉnh những sai lệch của các khớp đốt sống và cột sống, qua đó có tác dụng giảm triệu chứng đau, cải thiện chức năng vận động.

Đối với các tình trạng hẹp ống sống (thường do phù nề dây chằng vàng hoặc do thoát vị đĩa đệm) biểu hiện điển hình là đi cách hồi (đi khập khiễng, nặng nề, đau đớn, khó chịu ở cẳng chân và mông khi hoạt động) hoặc các tình trạng mất vững cột sống như do trượt đốt sống, việc tập luyện bằng hình thức đi hoặc chạy bộ rõ ràng là rất khó khăn. Trong trường hợp này, đạp xe đạp, tập dưới nước và kéo giãn là hình thức phù hợp nhất.

Với các vấn đề cột sống do viêm như viêm cột sống dính khớp (Bechterew), trong các trường hợp điển hình đau xuất hiện cả khi gắng sức và khi nghỉ ngơi. Trong giai đoạn tiến triển, bệnh nhân đau nhiều, nên cho nằm ở tư thế cơ năng (nằm ngửa, kê gối thấp hoặc không gối, tay chân duổi thẳng hơi dạng). Nếu có thể vận động được nên khuyến khích bệnh nhân vận động càng sớm càng tốt nhằm tránh dính khớp. Đối với trường hợp bệnh lý này, mọi hình thức vận động cột sống đều có thể áp dụng miễn là người bệnh có thể thực hiện được.

Các bài tập cụ thể cũng như cường độ, tần số, thời gian tập khác nhau tùy từng cá thể, tùy từng tình trạng bệnh lý và giai đoạn của bệnh, mục đích của việc tập luyện. Tuy nhiên về cơ bản phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

– Đối với những trường hợp mắc bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp hoặc bệnh nội khoa, nên tư vấn thêm bác sĩ chuyên khoa trước khi tập luyện.

– Luôn đảm bảo thực hiện đúng y lệnh trong “đơn” hoạt động thể lực.

– Những trường hợp bệnh nặng hoặc động tác khó nên thực hiện dưới sự hướng dẫn, giám sát và trợ giúp của bác sĩ hoặc kỹ thuật viên.

– Thiết lập thói quen tập luyện thường xuyên.

– Người tập thường xuyên đánh giá và kiểm soát hoạt động tập luyện nhằm tìm được phác đồ phù hợp nhất cho bản thân.

Lê Anh

Nguồn đời sống

Những điều kiện thuận lợi để ung thư tinh hoàn phát triển

Ung thư tinh hoàn thường gặp ở: Những người có tinh hoàn ẩn: đây là tình trạng tinh hoàn không nằm trong bìu mà nằm trong ổ bụng (thông thường ở giai đoạn bào thai hay trong 3 tháng đầu sau khi sinh, tinh hoàn của các bé trai sẽ di chuyển từ ổ bụng xuống bìu); những người bị hội chứng rối loạn nhiễm sắc thể giới tính; bị chấn thương tinh hoàn; viêm tinh hoàn do quai bị sau tuổi dậy thì; những người làm việc trong điều kiện nhiệt độ quá nóng như thợ mỏ, lái xe đường dài,…

Giai đoạn đầu của ung thư tinh hoàn thường không có dấu hiệu gì đặc biệt, chỉ thấy tinh hoàn to và rắn khi sờ nắn bằng mấy đầu ngón tay, cũng có thể không đau hoặc hơi đau. Đôi khi có thêm cảm giác nằng nặng ở bìu, gai sốt và hơi đau ở vú. Nếu được phát hiện sớm thì đối với thể ung thư tinh hoàn thường gặp nhất là ung thư tuyến tinh (Seminoma) thì tỷ lệ chữa khỏi có thể gần 100%. Nếu không được điều trị sớm, các tế bào ung thư có thể lan theo hệ bạch huyết đến các hạch bạch huyết ở bụng, ngực, cổ và cuối cùng là phổi.

Chưa biết rõ vì sao bệnh phát triển và vì không có đường liên lạc trực tiếp về bạch huyết giữa 2 tinh hoàn nên khó có sự di căn ung thư từ tinh hoàn bệnh sang tinh hoàn lành. Vì thế nam giới có thể tự kiểm tra tinh hoàn bằng cách dùng 2 tay nhẹ nhàng đưa đi đưa lại các viên tinh hoàn. Kiểm tra xem có u bướu gì bất thường không. Sờ nắn nhẹ tinh hoàn xem có thấy đau, có u nhỏ, tinh hoàn không nhẵn.

nhung-dieu-kien-thuan-loi-de-ung-thu-tinh-hoan-phat-trien

Nên theo dõi sự bất thường to – nhỏ của tinh hoàn vì bình thường tinh hoàn chỉ to bằng ngón tay cái của người đó, không đau, mặt nhẵn. Kiểm tra vùng tinh hoàn ngay sau khi tắm bằng nước ấm, nước ấm làm giãn bìu, da vùng bìu đang mềm giúp dễ phát hiện bất thường ở tinh hoàn. Nếu tinh hoàn bị sưng, có u cục cứng dù nhỏ cũng cần được thầy thuốc chuyên khoa tiết niệu và sinh dục khám. Nếu chẩn đoán xác định ung thư tinh hoàn, tùy mức độ bệnh các bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Cách điều trị thông thường là phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn bị bệnh, hóa trị để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại, để lại tinh hoàn lành, do đó vẫn đảm bảo khả năng tình dục và sinh sản.

Theo BS. Hải Anh
Sức khỏe Đời sống

Các bệnh về van tim thường gặp và cách nhận biết

Bệnh van tim là bệnh hay gặp nhất trong các bệnh lý tim mạch (chiếm 50% bệnh nhân nằm điều trị tại các khoa, bệnh viện chuyên về Tim mạch), nếu bệnh không được quản lý và điều trị tốt sẽ gây nhiều biến chứng làm bệnh nhân bị tàn phế và có thể tử vong.

Quả tim có bốn van tim. Ngăn giữa buồng thất phải và buồng nhĩ phải là van ba lá. Ngăn giữa buồng thất trái và buồng nhĩ trái là van hai lá. Ngăn giữa buồng thất phải với động mạch phổi là van động mạch phổi và ngăn giữa buồng thất trái với động mạch chủ là van động mạch chủ. Khi các van tim bị tổn thương gây hẹp hoặc hở hoặc cả hẹp và hở van sẽ ảnh hưởng đến dòng máu chảy trong tim cũng như dòng máu chảy ra động mạch. Từ đó sẽ dẫn đến rối loạn huyết động và tùy mức độ rối loạn này mà có các biểu hiện bệnh lý trên lâm sàng.

Nhận biết dấu hiệu bệnh.

Triệu chứng lâm sàng

Gia đoạn đầu khi bệnh van tim còn ở mức độ nhẹ thì người bệnh không cảm thấy có triệu chứng gì đặc biệt. Rất nhiều trường hợp là do tình cờ bệnh nhân đi khám sức khỏe được phát hiện là có bệnh van tim. Khi bệnh tiến triển nặng hơn, người bệnh có cảm giác mệt mỏi, tim đập nhanh, có thể đau ngực và đặc biệt là có dấu hiệu khó thở. Khó thở lúc đầu thường xuất hiện khi bệnh nhân gắng sức làm một việc gì đó. Về sau mật độ khó thở sẽ tăng dần và có thể khó thở cả về đêm..

cac-benh-ve-van-tim-thuong-gap-va-cach-nhan-biet

Phần lớn các trường hợp bệnh van tim có thể phát hiện bằng ống nghe tim vì dòng chảy bất thương của máu thường tạo ra âm thanh đó là tiếng thổi.

Biến chứng bệnh: Bệnh nhân bị bệnh van tim nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị tốt sẽ có một số biến chứng hay gặp trên lâm sàng như: Rối loạn nhịp gây nhịp nhanh hoặc nhịp chậm hoặc bỏ nhịp; tắc mạch gây tai biến mạch não (liệt nửa người, thấp ngôn, hôn mê…), nhồi máu phổi (khó thở nhiều, đau ngực, ho ra máu….), suy tim (khó thở, phù, gan to…), suy thận (phù, tiểu ít, da – niêm mạc nhợt…)….

Xét nghiệm cận lâm sàng

Điện tim đồ: có giá trị chẩn đoán các rối loạn nhịp tim và các biểu hiện tăng gánh cơ tim ở giai đoạn bệnh với mức độ vừa trở lên. Ví dụ như: dày nhĩ, dày thất, ngoại tâm thu, rung nhĩ….

X Quang: cho biết các tổn thương như giãn các buồng tim, vôi hóa van tim, ứ huyết ở phổi và các tổn thương phối hợp khác…..

Siêu âm tim: cho biết các tổn thương van tim như hẹp – hở van, mức độ hẹp – hở van tim, tình trạng dày hoặc vôi hóa van và tổ chức dưới van… Ngoài ra, siêu âm tim còn cho biết một số thông quan trọng như: chức năng tim, áp lực động mạch phổi, các tổn thương tim khác phối hợp. Đây là phương pháp thăm dò không chảy máu rất có giá trị để chẩn đoán xác định bệnh cũng như mức độ tổn thương và tiên lượng được diễn biến của bệnh.

Thông tim: được chỉ định trong một số trường hợp để đánh giá chính xác tổn thương van tim, cơ tim, các mạch máu…

Một số xét nghiệm cận lâm sàng khác: xét nghiệm huyết học và sinh hóa máu, chụp CT scanner ngực, chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp đa dãy… các xét nghiệm này giúp bổ sung cho việc chẩn đoán mức độ bệnh và nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân của bệnh

Bệnh thấp tim

Thấp tim là nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh van tim. Nguyên nhân gây bệnh thấp tim là vi khuẩn liên cầu beta tan huyết nhóm A “Streptococus”.

Suy tim

Khi cơ tim bị suy do bất kỳ nguyên nhân gì đều có xu hướng giãn ra. Khi buồng tim gây giãn vòng van, giãn dây chằng và cột cơ dẫn đến hở van tim.

Bệnh tim bẩm sinh

Là những bất thường của van tim xuất hiện ngay khi sinh ra. Ví dụ như bệnh: hẹp van động mạch chủ thường gặp là bệnh van động mạch chủ có hai lá van (bình thường có ba lá van); hở van động mạch chủ trong hội chứng Marfan; hẹp van động mạch phổi; hẹp van hai lá (van hai lá hình dù, vòng thắt trên van hai lá); hở van hai lá do: xẻ lá van, van hai lá có hai lỗ van; hở van ba lá trong bệnh Ebstein…

Biến chứng của nhồi máu cơ tim như đứt cơ nhú, đứt dây chằng van tim gây hở van tim.

Sự suy yếu của các tổ chức dưới van

Đứt dây chằng của tim có thể gây hở van tim

Tổn thương thành động mạch chủ lên làm cho động mạch chủ bị yếu dẫn tới giãn động mạch chủ và hậu quả là hở van động mạch chủ.

Bệnh hệ thống gây xơ hóa van: bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp… gây hở van tim.

Nhiễm trùng: nhiễm trùng van tim được gọi là “Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn”, tổn thương van thường gặp là thủng van, đứt dây chằng, cột cơ… gây hở van tim.

Những nguyên nhân khác: thoái hóa van ở người cao tuổi, chấn thương, u carcinoid, lắng đọng mucopolysaccharid, hội chứng Takayashu, phình giãn xoang valsalva…

Chẩn đoán bệnh

Dựa vào các triệu chứng lâm sàng: mệt, ho, tức ngực, khó thở… Nghe tim có tiếng thổi ở tim, nhịp nhanh. Gan to, phù, phổi có ran ứ đọng…

Các xét nghiệm: điện tim đồ, siêu âm tim, chụp tim phổi, thông tim… trong các xét nghiệm này thì siêu âm tim đóng vai trò quan trọng nhất vì giúp chẩn đoán xác định bệnh giúp cho hướng phương pháp điều trị phù hợp, giúp tiên lượng bệnh…

Điều trị

Chế độ không dùng thuốc: Ăn uống, sinh hoạt, làm việc phù hợp với tình trạng bệnh. Nếu có biểu hiện suy tim cần ăn giảm muối (< 6g muối/24 giờ), ăn giảm mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế chất kích thích (như rượu, bia, cà phê), không hút thuốc lá – thuốc lào, không lao động gắng sức…

Chế độ điều trị

* Điều trị nội khoa

– Lợi tiểu; được dùng nếu có hiện tượng giữ muối và nước hoặc suy tim xung huyết để giảm gánh nặng cho tim. Ví dụ: furosemide, hydroclorothiazide, spironolactone…

– Digitalis: làm tăng sức co bóp cơ tim, làm giảm nhịp tim đặc biệt khi bệnh nhân bị rung nhĩ. Ví dụ: digoxin, digitoxin…

– Thuốc làm giảm hậu gánh; thuốc ức chế men chuyển làm giảm thể tích dòng hở và tăng thể tích tống máu, giảm suy tim. Ví dụ: Enalapril, captopril, perindopril, lisinopril…

– Thuốc giãn mạch nhóm nitrate làm giảm tiền gánh, giảm gánh nặng cho tim như: nitroglycerine, mononitrat, isosorbide…

– Thuốc chẹn β giao cảm: có thể sử dụng trong trường hợp nhịp nhanh do hẹp – hở van tim, suy tim nhưng chức năng tim còn bù. Ví dụ: carvedilol, metoprolol, lidocaine…

– Thuốc chống đông máu: cần dùng cho bệnh nhân có biến chứng rung nhĩ, buồng tim giãn, bệnh nhân mang van nhân tạo cơ học… vì nguy cơ cao hình thành cục máu đông trong tim. Thuốc thường được sử dụng: cumarin, aspirin, ticlodipin, clopidogil, dipyridamole…

* Điều trị can thiệp (theo chỉ định)

– Phương pháp nong van tim qua đường ống thông (qua da) để điều trị bệnh hẹp van tim như: hẹp van hai lá, hẹp van động mạch phổi, hẹp van động mạch chủ…

– Thay van qua da như: thay van động mạch chủ, thay van hai lá

* Phẫu thuật (theo chỉ định)

– Tách mép van: phẫu thuật viên sẽ dùng tay hoặc dụng cụ để tách mép van bị dính trong trường hợp hẹp van tim. Ngày nay phương pháp này được thay thế bởi phương pháp nong van bằng bóng qua da.

– Sửa van: khâu hẹp vòng van, khâu lại các vết rách ở lá van, sửa dây chằng, cột cơ của van tim…

– Thay van: được chỉ định trong trường hợp không thể thực hiện được kỹ thuật sửa van hoặc tách mép van. Van mới này có thể là van sinh học hoặc van cơ học.

* Điều trị khác: bệnh nhân bị hẹp – hở van tim dẫn đến suy tim nặng mà không còn chỉ định điều trị can thiệp hay phẫu thuật mổ sửa hoặc thay van thì có thể điều trị suy tim bằng các biện pháp đặc biệt như: cấy máy tái đồng bộ tim, ghép tim…

* Điều trị nguyên nhân: Điều trị bệnh thấp tim thật tốt (tiêm phòng thấp cấp I hoặc cấp II); Điều trị tốt các nguyên nhân có thể dẫn đến suy tim, làm giãn buồng tim gây hở van tim….

Cách phòng chống.

– Để đề phòng bệnh thấp tim tốt nhất là giáo dục chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt. Khi phát hiện nhiễm trùng vùng họng (thường do liên cầu) cần được điều trị triệt để. Khi phát hiện bị thấp tim cần được quản lý theo dõi chặtt chẽ ở các cơ sở y tế và tiêm phòng thấp tim đầy đủ theo chỉ định của bác sỹ.

– Để phòng bệnh mạch vành (nguyên nhân gây suy tim, hở van tim) cần loại bỏ các yếu tố nguy cơ như: điều trị tốt bệnh tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn lipide máu; hạn chế ăn mặn, hạn chế ăn mỡ và phủ tạng động vật; hạn chế uống rượu bia; không hút thuốc lá; tăng cường vận động thể lực theo khả năng (ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/ tuần), tránh stress, không để thừa cân – béo phì…

– Giữ gìn vệ sinh thân thể và môi trường để không bị bệnh nhiễm trùng…

– Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng: ăn, uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi khoa học và hợp lý.

Benh.vn

Bệnh viện quốc tế chấn thương chỉnh hình

benh-vien-quoc-te-chan-thuong-chinh-hinh

ảnh minh họa

Địa chỉ 305 LÊ VĂN SỸ, P.1, Quận Tân Bình, TP. HCM

Điện thoại 305 LÊ VĂN SỸ, P.1(08)384

Bị bệnh do… lấy ráy tai

Nhiều người thích lấy các loại ráy như ráy tai, lấy ghèn. Tuy mang lại cảm giác thoải mái, nhưng việc chọc ngoáy để lấy ráy tai có thể gây nhiều bệnh về tai, mũi, họng…

Không phù hợp với sinh lý cơ thể

BS CKII Nguyễn Thành Lợi – Trưởng khoa Tai, BV Tai Mũi Họng TP.HCM cho biết: mũi, họng là cửa ngõ chính của cơ thể vì tiếp xúc với môi trường bên ngoài. Để bảo vệ cơ thể, vùng cửa mũi có lông, trong hốc mũi có lớp niêm mạc tiết ra dịch nhầy. Khi hít không khí vào, bụi và vi khuẩn trong không khí bị cản lại bởi lông mũi, một số dính vào chất nhầy chỗ niêm mạc. Một phần bụi bặm, vi trùng bị chất nhầy cuốn xuống vùng họng theo thức ăn và được tống ra ngoài theo đường tiêu hóa, phần còn lại được thải ra ngoài.

bi-benh-do-lay-ray-tai

Ở vòm mũi họng có lỗ thông qua hai bên tai gọi là lỗ vòi nhĩ nên không khí mà mũi hít vào có một phần qua tai giữa. Tai ngoài và tai giữa được ngăn cách bởi một cái màng gọi là màng nhĩ, có nhiệm vụ dẫn truyền âm thanh vào để nghe và ngăn chặn không cho không khí, vật lạ đi vào tai giữa. Ở 1/3 ngoài của ống tai ngoài có lông và các tuyến tiết chất ráy tai (có màu vàng, có thể lỏng, sệt hoặc khô) có nhiệm vụ bảo vệ ống tai ngoài tránh tổn thương, nhiễm trùng. Bụi bẩn, vi trùng từ bên ngoài vào một phần dính vào lông, một phần dính vào ráy tai.

Tại các tiệm hớt tóc, còn có cả dịch vụ se, ngoáy lỗ ghèn (điểm lệ) để làm sạch đồng thời tạo cảm giác “đã” cho khách hàng. Vật dụng để se thường là sợi tóc hoặc một số sợi nhỏ như sợi tóc. BS Vũ Anh Lê – Trưởng khoa Chấn thương, BV Mắt TP.HCM cho biết, ở mí mắt trên và dưới có hai điểm lệ (lỗ ghèn) trên và dưới. Ban ngày, khi thức, tuyến lệ tiết ra nước mắt làm nhiệm vụ bôi trơn, làm sạch giác mạc (tròng đen) và kết mạc (tròng trắng).

Nước mắt này sẽ đổ về hồ lệ qua hai điểm lệ nối với hai tiểu lệ quản trên và dưới xuống túi lệ và ống lệ mũi. Nước mắt dư thừa sẽ được thoát ra ở khe mũi dưới – họng. Khi ngủ, nhắm mắt liên tục trong thời gian dài, phần nước mắt còn thừa lại hòa lẫn với chất tiết của tuyến bờ mi dần tập trung vào khóe mắt tạo thành ghèn. Dùng sợi tóc hay bất cứ vật gì ngoáy vào lỗ điểm lệ để lấy ghèn và tạo cảm giác “đã” là việc làm sai.

Nguy hiểm khó lường

BS Vũ Anh Lê khuyến cáo, việc chọc ngoáy vào điểm lệ và lệ quản có nguy cơ gây trầy xước, có thể đưa đến viêm và nhiễm trùng điểm lệ, lệ quản, dần dần dẫn đến tắc lệ đạo gây chảy nước mắt sống, làm nhòe và mờ mắt. Việc dùng vật lạ chọc, ngoáy vào lệ quản với lý do lấy ghèn để vệ sinh mắt hay tạo khoái cảm đều là thói quen xấu cần phải loại bỏ vì có thể gây những hậu quả nghiêm trọng. Chưa kể, các dụng cụ tại các tiệm hớt tóc thường không vô trùng, vì vậy chúng có thể truyền bệnh từ người này sang người khác, phổ biến nhất là bệnh về nấm.

Theo BS Nguyễn Thành Lợi, mọi người thường thích ngoáy tai cho đã ngứa. Nhưng thực tế khi ngoáy sẽ kích thích tai ngứa nhiều hơn và làm ống tai bị tổn thương. Những bụi bẩn, vi trùng thay vì được thải ra ngoài, khi ngoáy sẽ đẩy vi trùng vào sâu bên trong, cộng với sự tổn thương sẽ làm vi trùng dễ xâm nhập.

Tổn thương do lấy ráy tai có nhiều dạng như làm mất cấu trúc sinh lý bình thường là bảo vệ ống tai ngoài, rụng lông, trầy xước, da bị nhiễm trùng. Thậm chí có những vật nhọn làm thủng màng nhĩ, vi trùng xâm nhập gây viêm tai giữa, chảy mủ tai suốt đời để lại di chứng điếc, lâu ngày ảnh hưởng đến viêm tai xương chũm, gây biến chứng liệt thần kinh mặt, viêm màng não, não… thậm chí tử vong.

Phần đầu lông mũi rất mềm có chức năng ngăn bụi. Khi bị cắt, nhổ chức năng ngăn bụi không còn mà phần chân cứng của lông có thể gây tổn thương niêm mạc mũi. Với những trường hợp bị bệnh, việc dùng kéo cắt chung có thể lây bệnh thông qua chất nhầy bên trong mũi. Chưa kể, bên ngoài vùng tiền đình mũi là cả một ổ vi trùng. Nếu vùng tiền đình mũi bị nhiễm trùng có thể gây viêm cấp tĩnh mạch xoang hang, dẫn đến nhiễm trùng huyết rất nguy hiểm.

Các bác sĩ khuyến cáo, để vệ sinh tai và mũi, khi rửa mặt chỉ cần dùng khăn lau ướt ngoáy bên ngoài cửa tai hoặc mũi là đủ. Trường hợp ráy bít lỗ tai thì có thể lấy ráy tai với dụng cụ thích hợp, đảm bảo vệ sinh. Việc lấy ráy thậm chí cần phải nhờ đến các bác sĩ.

Theo afmily

Sụp mi mắt do chấn thương

Sụp mi là bệnh lý mi mắt thường gặp gây ảnh hưởng đến chức năng thị giác và thẩm mỹ của người bệnh. Sụp mi do chấn thương có thể xảy ra sau chấn thương mắt hay chấn thương sọ não. Sụp mi có thể xuất hiện đơn độc hay đi kèm các tổn thương nhãn cầu hay liệt các dây thần kinh vận nhãn khác gây ra lác, song thị.

Có thể phân sụp mi ra làm các loại sau:

– Sụp mi bẩm sinh: Bệnh xuất hiện từ nhỏ, ở một hay cả hai bên mắt với các mức độ từ nhẹ đến nặng. Sụp mi nặng che kín đồng tử, cản trở bệnh nhân nhìn và có thể gây nhược thị hay giảm thị lực. Sụp mi hai bên có thể gây vẹo cổ, do trẻ cố ngửa đầu ra sau để nhìn và gây biến dạng đốt sống cổ. Nguyên nhân có thể do dị dạng cân cơ nâng mi, yếu cơ hay nhược cơ.
sup-mi-2931a
–  Sụp mi mắc phải:Bệnh xuất hiện khi trẻ đã lớn hay ở người lớn do liệt dây thần kinh III hay khối u mi mắt hay chấn thương gây rách cân cơ nâng mi.

Điều trị sụp mi được chỉ định dựa theo mức độ sụp mi, tuổi bệnh nhân, loại sụp mi, nguy cơ sụp mi gây giảm thị lực và khả năng vận động của cơ nâng mi. Trong bài viết này chúng tôi chỉ tập trung bàn về sụp mi sau chấn thương.

Không giống như sụp mi bẩm sinh, sụp mi sau chấn thương thường hoàn toàn, che kín toàn bộ lòng đen và kết quả điều trị rất hạn chế trừ trường hợp do đứt cân cơ nâng mi.

Cũng như khám những trường hợp sụp mi bẩm sinh, cần đánh giá mức độ sụp mi dựa vào độ mở rộng của khe mi, mức độ vận động của cơ nâng mi và đặc biệt là có dấu hiệu Bell hay không (nhắm chặt mắt, nhãn cầu bình thường di chuyển lên trên và ra ngoài). Cần quan sát đánh giá vết thương mi xem có khả năng gây rách cân cơ nâng mi hay không?

Phẫu thuật nối cân cơ nâng mi bị rách mang lại kết quả tốt. Khó khăn là phải bộc lộ được cân cơ này. Để làm được điều đó đòi hỏi phẫu thuật viên phải tôn trọng giải phẫu mi mắt và cầm máu cẩn thận khi phẫu thuật.

Sụp mi sau chấn thương do liệt dây thần kinh III thường đi kèm giãn đồng tử, lác mắt và dấu hiệu Bell (-). Chỉ can thiệp 6 tháng đến 1 năm sau chấn thương và can thiệp lác trước sụp mi. Lý do là nâng mi có thể làm cho cảm giác song thị xuất hiện. Bên cạnh đó, Bell (-) là điều kiện dẫn đến hở giác mạc sau mổ. Cần lưu ý là mức độ sụp mi rất nặng, mi che kín toàn bộ giác mạc cho nên phải áp dụng treo cơ trán. Các chất liệu dùng để treo cơ trán gồm có cân cơ đùi, chỉ nylon và chất liệu sinh học. Lấy cân cơ đùi dễ để lại sẹo xấu ở đùi nên tránh áp dụng với bệnh nhân nữ. Chỉ nylon hay bị nhiễm trùng và tạo u hạt nên ít áp dụng. Chất liệu sinh học phải nhập khẩu đắt tiền. Quyết định được đề ra tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân.

Bệnh nhân cần được tư vấn rằng sụp mi sau chấn thương có thể chữa khỏi nhưng cũng có thể không  nếu nguyên nhân là do liệt thần kinh nặng. Không có chỉ định mổ khi dấu hiệu Bell (-) hay song thị quá nặng do lác.

Theo sức khỏe đời sống

Trượt đốt sống: Bệnh không nên xem thường

Trượt đốt sống là bệnh thường gặp, xảy ra chủ yếu ở vùng cột sống thắt lưng. Bệnh có thể do bẩm sinh, thoái hoá, chấn thương, bệnh lý gây ra, trong đó hay gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và do thoái hóa.

Vì sao bị trượt đốt sống?

Một người có thể bị trượt đốt sống do một trong các nguyên nhân sau đây: bẩm sinh, bị rối loạn phát triển, với đặc điểm là các khiếm khuyết về giải phẫu của mấu khớp như: thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng ra sau, thường có dị tật gai đôi cột sống; thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng vào trong. Do khe hở eo, khuyết eo do gãy, do hiện tượng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo; chấn thương làm gãy eo gây trượt. Do thoái hoá chủ yếu ở vị trí L4-5, thường gặp ở phụ nữ tuổi từ 40-50; thoái hoá cột sống, nhất là thoái hoá đĩa đệm và các mấu khớp, làm mất tính vững chắc của cột sống gây nên. Do bệnh lý như: nhiễm khuẩn, ung thư làm hoại tử hay phá hủy các cấu trúc của cột sống; bệnh vôi hóa đốt sống. Do chấn thương làm gãy cuống, gãy mấu khớp dẫn tới mất vững cột sống. Do phẫu thuật cắt cung sau kèm theo cắt bỏ các mấu khớp.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_01

Các mức độ tổn thương trượt đốt sống do thoái hóa.

Phát hiện bệnh có khó không?

Bạn có thể phát hiện được bệnh trượt đốt sống căn cứ vào các dấu hiệu sau: bệnh nhân có biểu hiện mất vững cột sống và chèn ép các rễ thần kinh. Người bệnh đau cột sống thắt lưng âm ỉ liên tục, đau tăng khi cột sống phải chịu lực như khi đứng, đi bộ, lao động…nhưng nằm nghỉ thì hết đau hoặc đau giảm hẳn. Khi bệnh nhân thay đổi tư thế cũng gây đau cột sống, phải chống tay vào đùi khi đứng lên. Nếu bệnh nặng thường có thay đổi tư thế thân người và dáng đi. Ở vùng cột sống thắt lưng có thể có biến dạng lõm, gọi là dấu hiệu bậc thang, dấu hiệu nhát rìu… Có bệnh nhân bị đau cách hồi, đây là triệu chứng đau đặc trưng của bệnh: đau khi đi bộ, vì đau phải dừng lại, hết đau mới đi tiếp, đang đi vì đau lại phải nghỉ, hết đau lại đi. Đối với bệnh nhân bị chèn ép rễ thần kinh, họ thường đau cả khi nằm nghỉ. Bệnh nhân bị hẹp lỗ ghép thần kinh được cho là nguyên nhân chèn ép rễ hay gặp nhất. Lỗ ghép hẹp là do các yếu tố như sự lồi vào của bờ sau thân đốt và đĩa đệm, tình trạng khớp giả và tổ chức xơ từ khe hở eo, một phần do cột sống thường xoay nhẹ làm cho lỗ ghép hẹp hơn ở một bên. Số ít bệnh nhân vì tổ chức xơ quá phát từ khe eo rất nhiều trở thành nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh. Các nguyên nhân chèn ép rễ khác ít gặp hơn như thoát vị đĩa đệm tại mức trượt hay là ở vị trí lân cận các đốt sống trượt. Đối với bệnh nhân trượt đốt sống do thoái hoá, tình trạng chèn ép rễ thần kinh do hẹp lỗ ghép khá phổ biến.

Chụp Xquang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ xác định được mức độ trượt, mức độ thoái hoá của cột sống và nguyên nhân gây chèn ép thần kinh. Chụp cộng hưởng từ còn đánh giá được tình trạng hẹp lỗ ghép.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_02

Sử dụng thực phẩm chứa nhiều canxi để hạn chế thoái hóa cột sống

Về điều trị

Hầu hết bệnh nhân bị trượt đốt sống được điều trị nội khoa. Những bệnh nhân ở tuổi thiếu niên, chỉ cần nằm nghỉ, mặc áo cố định ngoài và hạn chế các hoạt động gây đau là có thể cải thiện được các triệu chứng của bệnh. Đối với bệnh nhân là người trưởng thành, trong những đợt đau cấp phải được nằm nghỉ, tránh mọi hoạt động hay lao động; dùng các thuốc chống viêm, giảm đau như paracetamol, aspirin, diclofenac, ibusprophen… sử dụng vật lý trị liệu, các phương pháp phục hồi chức năng, hướng dẫn bệnh nhân tập các bài thể dục tăng cường các cơ lưng, cơ bụng và cơ đùi; thực hiện ăn uống và các tập luyện nhằm giảm cân đối với người béo.

Điều trị bằng phẫu thuật trong các trường hợp: trượt đốt sống có tổn thương rễ thần kinh; có đau cột sống thắt lưng điều trị nội khoa nhưng không đỡ; trượt đốt sống tiến triển ngày càng nặng. Phẫu thuật ghép xương làm liền xương vững chắc giữa các đốt sống, loại bỏ chuyển động bất thường giữa các đốt sống kém vững.

Theo dõi và điều trị sau mổ: sau mổ, bệnh nhân cần được bất động tại giường từ 5-7 ngày. Nếu bệnh nhân hết đau có thể cho ngồi dậy sớm hơn. Chú ý phát hiện biến chứng sớm: nhiễm khuẩn, tổn thương rễ… Cần chụp Xquang trước khi bệnh nhân ra viện để đánh giá vị trí của vít; đánh giá di lệch trượt sau mổ…

Phòng bệnh cần tránh các cử động nặng vùng thắt lưng để tránh tình trạng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo. Phòng tránh các chấn thương làm gãy eo gây trượt đốt sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn trong luyện tập thể thao. Dùng thức ăn chứa nhiều canxi để phòng tránh bệnh loãng xương, hạn chế sự thoái hoá cột sống, nhất là ở phụ nữ từ 40-50 tuổi. Điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn để phòng biến chứng trượt đốt sống. Đối với bệnh nhân đã mổ điều trị trượt đốt sống, sau khi ra viện, cần kiểm tra định kỳ theo hẹn để đánh giá kết quả mổ, sự phục hồi chức năng cột sống, phát hiện sớm di lệch trượt…

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Trật khớp khuỷu có thể gây tàn tật

Trật khớp khuỷu là một chấn thương hay gặp, là loại trật khớp nhiều nhất ở trẻ em trên 5 tuổi. Tổn thương trật khớp có khi còn kèm theo gãy xương phải phẫu thuật để điều trị. Có những trường hợp trật khớp nặng làm mất khả năng vận động của bệnh nhân.

trat_khop_khuyu_co_the_gay_tan_tat

Ngã chống tay hoặc do chấn thương gây ra trật khớp khuỷu

Khớp khuỷu được cấu tạo bởi đầu dưới xương cánh tay và đầu trên của xương trụ và xương quay: phần ngoài là lồi cầu tiếp nối với chỏm quay tạo thành khớp cánh tay – quay; phần trong là ròng rọc tiếp nối với hõm xích-ma lớn tạo thành khớp cánh tay – trụ. Xương quay và xương trụ tiếp với nhau tạo thành khớp quay- trụ trên. Gấp, duỗi là hai  động tác quan trọng và duy nhất của khớp khuỷu; còn sấp, ngửa là động tác của cẳng tay.

Trật khớp khuỷu là cả hai xương cẳng tay: hõm xích-ma lớn và chỏm quay, trật ra khỏi đầu dưới xương cánh tay chỗ ròng dọc và lồi cầu. Nguyên nhân gây trật khớp có thể do ngã chống tay, khuỷu duỗi tối đa, cẳng tay ngửa hoặc chấn thương gián tiếp.

 Làm sao biết bị trật khớp khuỷu?

Sau một chấn thương, bệnh nhân thấy đau vùng khuỷu, không gấp hay duỗi được cẳng tay. Thông thường khi trật khớp khuỷu chúng ta thấy cẳng tay bệnh nhân ở tư thế gấp chừng 45 độ, cẳng tay trông như ngắn lại, trái lại cánh tay trông như dài ra. Sờ nắn nhẹ nhàng trước nếp khuỷu thấy bờ xương tròn của đầu dưới xương cánh tay. Sờ phía sau thấy mỏm khuỷu nhô ra sau, gân cơ tam đầu cánh tay căng cứng, gấp khuỷu nhẹ, thả ra có dấu hiệu lò xo tức là cẳng tay tự động bật trở về vị trí ban đầu trước khi gấp khuỷu. Thầy thuốc nhìn thấy mỏm khuỷu và hai mỏm trên lồi cầu và trên ròng rọc không còn quan hệ tam giác mà ngang nhau. Sờ được chỏm xương quay phía sau ngoài khớp. Có thể các dây chằng ở trước trong bị đứt, nhưng rất hiếm khi gặp đứt dây chằng  vòng quanh chỏm quay, bao khớp bị rách. Có thể gặp gãy xương như vỡ một phần của đầu dưới xương cánh tay (vỡ lồi cầu ngoài hay lồi cầu trong), mỏm khuỷu. Nếu bệnh nhân đến khám sớm ngay sau chấn thương, chẩn đoán thường dễ, do sờ thấy các mốc xương. Trường hợp bệnh nhân đến muộn thì vùng khuỷu sưng nề. Trật khớp khuỷu ra sau là hay gặp nhất chiếm 90% các trường hợp trật khớp khuỷu ra trước do vỡ mỏm khuỷu; trật khớp khuỷu sang bên: do vỡ các lồi cầu.

Trật khớp có thể gây tổn thương mạch máu và thần kinh nên cần khám mạch máu và thần kinh: bắt mạch quay, mạch trụ ở cổ tay xem còn đập không, nếu không là bị rách ở vùng trật khớp, khám vận động và cảm giác ở đầu chi để đánh giá có hay không tổn thương các dây thần kinh. Nhiều trường hợp trật khớp động mạch cánh tay thường bị căng giãn, có khi bị chèn ép có thể bị tắc mạch muộn do bị giập nội mạc. Chụp Xquang khuỷu để xác định kiểu trật và xem có gãy xương kèm theo hay không.

Chữa trị trật khớp khuỷu thế nào?

Trường hợp trật khớp khuỷu mới (dưới 3 tuần): phải kéo nắn khớp và nẹp bột. Thường nẹp bột khoảng 10 ngày thì tập vận động. Các bệnh nhân mà nắn khớp được rồi nhưng kém vững do rách phần mềm nhiều phải cho bất động 3-4 tuần, sau đó mới tập vận động. Cần lưu ý cho bệnh nhân tập duỗi cho hết. Trường hợp không nắn vào được là do kẹt khớp, bị gãy xương nội khớp, chèn phần mềm, khi đó phải phẫu thuật đưa về vị trí giải phẫu.

Nếu sau nắn trật, kiểm tra mạch không bình thường cũng cần phẫu thuật để kiểm tra, cắt nối chỗ giập, ghép tĩnh mạch. Tổn thương thần kinh có thể bị một trong ba sợi là thần kinh giữa, thần kinh trụ và thần kinh liên cốt trước. Hầu hết các trường hợp thần kinh chỉ bị đụng giập nhẹ, hồi phục nhanh. Tuy nhiên khi gặp bệnh nhân bị liệt quá 3 tháng cần phẫu thuật thăm dò thần kinh, hoặc bị liệt sau nắn khớp cần mổ thăm dò ngay.

Trật khớp kèm gãy xương: gãy mỏm trên lồi cầu trong, mảnh gãy rất hay bị kẹt vào khớp. Phát hiện được nhờ vào dấu hiệu: sau khi nắn xong thì cử động khớp không mềm mại. Lúc này cần kiểm tra Xquang để phát hiện mảnh xương kẹt vào khớp, nếu thấy thì mổ lấy bỏ mảnh xương kẹt.

Trật khớp kèm gãy mỏm khuỷu: gãy không lệch, bó bột để khuỷu duỗi. Gãy có di lệch thì mổ kết hợp xương mỏm khuỷu.

Trật khuỷu kèm gãy mỏm vẹt: độ 1, bất động 3-4 tuần rồi tập phục hồi chức năng ; độ 2-3: phẫu thuật cố định mảnh gãy với lỗ khâu xuyên xương, vỡ mảnh to cố định với vít.

Trật khuỷ kèm gãy chỏm xương quay: nếu mảnh gãy di lệch dưới 2mm thì điều trị bảo tồn. Nếu gãy vụn chỏm thì cắt bỏ chỏm ở người lớn, hoặc thay bằng chỏm kim loại. Ở trẻ em cố gắng bảo tồn bằng kết hợp xương với vít cỡ bé.

Điều trị trật khớp khuỷu cũ (trật khớp trên 3 tuần).

Trật khớp khuỷu cũ thường ở tư thế xấu, khuỷu duỗi 0 độ, cẳng tay mất chức năng, do đó phải phẫu thuật để điều trị. Phẫu thuật đặt lại xương nếu thời gian dưới 3 tháng; hoặc làm cứng khớp ở tư thế cơ năng: để khuỷu gấp 90 độ, cẳng tay trung gian, vì trật khớp quá lâu nếu đặt lại khớp sẽ biến dạng ở tư thế xấu và giảm cơ năng vận động.

Một nghiên cứu cho thấy: trật khớp khuỷu gặp thứ 3 sau trật khớp vai và trật khớp ngón tay, chiếm 20-25% tổng số trật khớp. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em trên 5 tuổi: 68%,  nữ nhiều hơn nam, tay trái nhiều hơn tay phải. Ở người dưới 20 tuổi, trật khớp khuỷu gặp nhiều hơn trật khớp vai 7 lần. Trật khớp kèm gãy xương chiếm khoảng 12% các trường hợp.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Cách hạn chế nguy cơ gây đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa là căn bệnh thường gặp ở lứa tuổi 30-60. Ngoài các nguyên nhân bệnh lý như: tổn thương ở cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh, thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn) thì nguy cơ gây đau thần kinh tọa tăng cao ở những trường hợp thường xuyên phải lao động chân tay nặng nhọc, làm việc sai tư thế; các nghề nghiệp có tư thế làm việc gò bó như công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, vận động viên cử tạ…

Dấu hiệu nhận biết bệnh

Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Chức năng chính của dây là chi phối cảm giác, dinh dưỡng và vận động cho hai chân, đặc biệt là cẳng chân.

Đau dây thần kinh tọa có biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1). Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út. Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân. Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau tới mắt cá ngoài bàn chân.

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa

Thoát vị đĩa đệm gây đau thần kinh tọa

– Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

– Cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên.

– Nhói lưng khi ho, khi hắt xì hơi, khi cười.

–  Cột sống cứng, bị đau khi chuyển dịch hoặc nghiêng người .

– Khó cúi người xuống vì đau.

– Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Đau tăng thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi,…

– Có thể thấy teo cơ bên chân đau nếu tình trạng đau kéo dài.

Trong trường hợp bệnh nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường, nhưng cơn đau có thể gây khó chịu, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Nếu bị đau nặng sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và khả năng lao động. Nếu không điều trị kip thời, bệnh có thể để lại những biến chứng như yếu liệt cơ, chân tê bì mất cảm giác, đi lại khó khăn, tiểu tiện khó…

Điều trị như thế nào?

Khi người bệnh thấy những biểu hiện của đau thần kinh tọa cần phải đến cơ sở y tế chuyên khoa để các bác sĩ kiểm tra, chẩn đoán và có chỉ định điều trị phù hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có  phương pháp chữa trị phù hợp. Trong giai đoạn đau cấp tính người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và có thể dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu bệnh nặng không thuyên giảm hoặc có biến chứng như yếu cơ, teo cơ, người bệnh đau nhiều, đau tái phát nhiều lần thì bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật.

Hạn chế nguy cơ gây bệnh

cach_han_che_nguy_co_gay_dau_than_kinh_toa2

Để hạn chế mắc bệnh đau dây thần kinh tọa, chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng tránh như: Không nên lao động quá sức, làm việc sai tư thế. Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu. Nếu phải ngồi làm việc lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang, vác, hay nhấc vật nặng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng, hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất, không nên nhảy từ trên cao xuống, không nên thay đổi tư thế một cách đột ngột,…

Ngoài ra để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống. Điều trị kịp thời các bệnh thoái hóa cột sống.

Khi có dấu hiệu của bệnh cần đến cơ sở y tế để các bác sĩ chuyên khoa khám xác định nguyên nhân và mức độ của bệnh để có chỉ định điều trị phù hợp, hạn chế được những biến chứng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và khả năng lao động.

BS. Trọng Nghĩa
Theo SKĐS

Đau khi bị thoái hóa cột sống: Cách khống chế

Nguyên nhân chính thoái hóa cột sống (THCS) là do tuổi tác nhưng cũng có các trường hợp THCS do các nguyên nhân khác, còn gọi là thoái hóa cột sống thứ phát. Nguyên nhân phổ biến nhất là sau chấn thương như sau ngã, tai nạn, do nghề nghiệp phải sử dụng nhiều cột sống như mang vác, bưng bê, nhấc, xách các đồ vật, trong lao động hay trong công việc hằng ngày tại gia đình. Một số bệnh cột sống mắc phải như viêm đốt sống đĩa đệm, đau thần kinh tọa, dị dạng phát triển cột sống (gai đôi cột sống, quá phát mỏm ngang đốt sống), khuyết tật di truyền, béo phì, đái tháo đường, suy giáp, cường cận giáp, gút… cũng để lại biến chứng THCS. Ngoài ra, thiếu dinh dưỡng có thể gây nên THCS. Đặc điểm của THCS là gây những cơn đau lưng. Vậy làm thế nào để khống chế và phòng ngừa?

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_01

Đau cột sống thắt lưng

Khống chế những cơn đau lưng khi bị THCS

Mục tiêu của điều trị THCS là sớm loại bỏ các yếu tố nguy cơ, chẩn đoán sớm, điều trị giảm đau thích hợp. Giúp bệnh nhân phục hồi khả năng vận động cũng rất quan trọng. Điều trị THCS kết hợp nhiều biện pháp khác nhau như dùng thuốc, đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả can thiệp ngoại khoa, do các bác sĩ chuyên khoa đảm nhiệm. Khi bị đau lưng, bệnh nhân cần đến khám bác sĩ để chẩn đoán chắc chắn và có biện pháp điều trị thích hợp. Tránh trường hợp tự chữa hay chữa mò, chỉ làm mất triệu chứng bệnh, chuốc vào nhiều tai biến hay biến chứng của bệnh khi bệnh tiến triển vào giai đoạn muộn, nói tóm lại là tiền mất tật mang. Khi đau thắt lưng cấp thì bệnh nhân cần nằm nghỉ tại giường trong vài ngày. Điều trị dùng thuốc bao gồm: dùng các thuốc giảm đau như paracetamol, thuốc chống viêm không steroid như ibuprofen, celebrex, thuốc tăng cường sụn khớp như glucosamin sulfat chondroitin, artrodar… Chú ý nên uống thuốc khớp sau khi ăn, uống thuốc với nhiều nước để tránh tác dụng phụ trên đường tiêu hóa. Có thể  xoa bóp, bấm huyệt nhẹ nhàng vùng cột sống bị tổn thương hay tác động cột sống. Một số biện pháp vật lý trị liệu có ích như  đắp paraffin, hồng ngoại, dùng túi chườm, điện di thuốc giảm đau, dùng sóng siêu âm. Khi đi lại, bệnh nhân cần sử dụng dụng cụ hỗ trợ như gậy, khung chống, đai lưng. Khi đau nhiều mà chưa có điều kiện đi khám bác sĩ thì nên nghỉ ngơi tại giường, hạn chế vận động nặng, dùng kem bôi thuốc kháng viêm non-steroid hoặc uống thuốc giảm đau như paracetamol. Khi cơn đau đã giảm, có thể tập thể dục nhẹ nhàng. Khi đi khám bác sĩ và đã có chỉ định điều trị thì nên kiên trì và chịu khó uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Người bệnh cần xác định đây là dạng bệnh mạn tính và phải điều trị lâu dài.

Phòng bệnh và hạn chế các hậu quả của bệnh THCS

dau_khi_bi_thoai_hoa_cot_song_cach_khong_che_02

Xoa ấn vùng cột sống

Cần phòng bệnh THCS ngay từ khi còn nhỏ. Đầu tiên là có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý. Cần ăn nhiều thức ăn giàu các chất chống oxy hóa như vitamin C và E (có nhiều trong các loại rau, quả). Vitamin D và canxi cần thiết cho sức khỏe khung xương, cần dùng 1.000 – 1.200mg canxi và 400 UI vitamin D mỗi ngày. Cần giảm cân nếu béo phì. Trong sinh hoạt hằng ngày, cần luôn giữ tư thế đúng ngay cả khi nằm ngủ, ngồi, đứng. Người làm việc ở văn phòng không nên ngồi quá lâu. Khi ngồi làm việc 1 giờ, phải đứng dậy, vươn vai, làm động tác thể dục thư giãn hay đi lại trong khoảng 5 -10 phút. Tập thể dục thường xuyên giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, giúp cho sụn khớp phát triển.

Để dự phòng THCS thắt lưng, có thể tập một số động tác làm mạnh các cơ vùng thắt lưng như tập nghiêng xương chậu, tập cơ bụng, tập khối cơ cạnh sống. Có thể đi bộ, bơi lội, thái cực quyền, tập thể dục nhịp điệu. Cần tránh các môn thể thao đối kháng mạnh. Đối với người phải mang vác, lao động nặng thì không nên mang vác quá sức hay ở tư thế xấu.

Khi đã bị THCS cổ thì cách điều trị tốt nhất là tuân thủ các chế độ điều trị do bác sĩ chuyên khoa đưa ra, đồng thời giảm tải các tác động có hại lên cột sống cổ. Cần có tư thế ngồi, làm việc thẳng. Không mang vác, xách đồ nặng. Khi ngủ không nên kê gối quá cao. Cần nghỉ ngơi giữa giờ làm việc. Có thể xoa bóp, bấm huyệt vùng cổ để giảm co thắt cơ.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Nên vận động hợp lý để bảo vệ khớp

Ở khớp khỏe mạnh, sụn hoạt động như một tấm đệm giảm xóc, cung cấp chất nhầy có độ trơn hơn 20 lần so với mặt băng trượt để các đầu xương không ma sát vào nhau. Tuy nhiên, trong sinh hoạt hàng ngày chúng ta có những thói quen như: bẻ các khớp tay, vặn đốt sống lưng, tư thế ngồi làm việc không đúng cách… gây tổn thương ở khớp.

Để tránh vi chấn thương dẫn đến phiền phức từ các gai xương gây ra, chúng ta cần có một chế độ vận động thích hợp và tránh những động tác sau đây:

nen_van_dong_hop_ly_de_bao_ve_khop

Không tạo thói quen bẻ khớp:

Nhiều người có thói quen bẻ khớp ngón tay chân, vặn cột sống cổ, lưng tạo ra những tiếng lốp rốp.Tiếng kêu khi vặn các khớp được sinh ra khi có sự va chạm mạnh của hai đầu sụn khớp tiếp giáp nhau, lúc đó sẽ xuất hiện một lực tác động lên bề mặt sụn hoặc đĩa đệm. Những va chạm này đang âm thầm gây ra các vi chấn thương lên tế bào sụn. Khi có sự tích lũy nhiều vi chấn thương trên cùng một ổ khớp thì sẽ làm mất dần chất sụn ở khớp. Mỗi lần vặn, bẻ như thế đem lại cho ta cảm giác dễ chịu hơn, nhưng ngược lại chính điều này cũng tạo ra những lực phá hủy  khớp.

Muốn tạo cho khớp cảm giác thoải mái mà vẫn tránh được vi chấn thương thì chỉ cần cử động khớp qua lại nhẹ nhàng đến góc độ tối đa mà không gây đau, không tạo ra tiếng lạo xạo là được, vì động tác đơn giản này đã góp phần tăng lưu lượng máu đến mô, tạo ra sự dễ chịu mà vẫn tránh được hiện tượng dính khớp và vi chấn thương.

Đi, đứng phải đúng cách:

Với những người có tiền sử và mắc bệnh khớp không nên đứng quá lâu hay đi giày cao gót thường xuyên; không lên cầu thang bộ nhiều lần hoặc đi bộ liên tục hơn 45 phút. Với những người luyện tập cũng không nên luyện tập quá sức sẽ làm khớp tổn thương. Nếu hàng ngày trong cách đi đứng, luyện tập luôn tạo một áp lực mạnh tác động lên khớp gối và gót chân, lâu ngày sẽ gây thoái hóa  khớp gối và gai gót dẫn đến đau và làm viêm cân gan bàn chân.

Không nên tắm quá lâu, nằm ngủ trực tiếp trên nền gạch vì nền gạch lạnh, môi trường có độ ẩm cao, nhiệt độ thấp sẽ gây co cơ, hẹp khe khớp tăng nguy cơ tạo vi chấn thương.

Chọn tư thế ngồi hợp lý:

Ngồi xổm được gọi là tư thế xấu vì khớp gối sẽ bị tăng lực nén. Bởi vậy phải hạn chế hoạt động ở tư thế này. Khi ngồi làm việc trên ghế văn phòng phải giữ lưng cho thẳng và nên chọn ghế có phần tựa cho cột sống thắt lưng để giảm tối đa lực ép lên đĩa đệm.

Khi lái ô tô, xe máy đường dài thường xuất hiện cảm giác mỏi lưng, đau lưng là do lực chấn động tác dụng liên tục và nhiều nhất lên cột sống. Để giảm lực chấn động này, cần mang đai thắt lưng và ngồi thẳng trục lưng cổ và đầu.

Chọn tư thế lao động:

Khi vắt quần áo cần làm với lực vừa phải, không cố hết sức vì khi đó khớp cổ tay hai bên chịu lực lớn  gây căng cơ dễ gây đau, gây thoái hóa khớp và hội chứng ống cổ tay.

Khi cần lấy đồ vật ở xa không nên với vì gây ra căng cơ, dễ trật khớp và cũng dễ tạo ra vi chấn thương lên ổ khớp. Trong lúc khiêng vác vật nặng cần chú ý ôm sát vật vào người và toàn bộ trọng tâm của cơ  thể phải ở chính giữa hai lòng bàn chân, để lực tác dụng được chia đều trên các đĩa đệm đốt sống, có như vậy mới tránh được những tổn thương khớp.

Lưu ý: Cần tập thể dục điều độ, hạn chế ăn nhiều chất béo, ngọt, giàu năng lượng nhằm tránh béo phì vì đây là nguyên nhân thường gặp nhất gây tăng lực nén lên tổ chức khớp. Ngoài ra, cần khám sức khoẻ định kỳ, phát hiện sớm các bệnh như đái tháo đường, loãng xương, bệnh gout (thống phong),…để điều trị kịp thời, tránh các biến chứng về khớp.

Bác sĩ  Tấn Hưng
Theo SKĐS

Bệnh đau vai gáy: Chớ xem thường

Bệnh đau vai gáy xuất hiện một cách thất thường, nhiều trường hợp bỗng dưng sau một đêm ngủ dậy thấy đau nhức khắp mình, đặc biệt là đau vùng vai, gáy, nhiều khi đau lan xuống bả vai, làm tê mỏi các cánh tay, cẳng tay và ngón tay rất khó chịu. Triệu chứng đau nhức vai, gáy kéo dài trong nhiều ngày thậm chí trong nhiều tháng, cá biệt có trường hợp đau lan xuống hông, sườn hoặc thiếu máu cơ tim do chèn ép các mạch máu rất nguy hiểm.

Đau vai gáy do bệnh lý và do thói quen xấu

benh_dau_vai_gay_cho_xem_thuong

Đau vai gáy

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên đau vai, gáy như thoái hoá, thoát vị đĩa đệm các đốt sống cổ với nhiều lý do khác nhau; do vẹo cổ bởi gối đầu cao, nằm sai tư thế hoặc vẹo cổ bẩm sinh; do dị tật; do viêm, chấn thương hoặc do các tác nhân cơ học như ngồi lâu, cúi lâu (đánh máy vi tính, công tác văn phòng… hoặc do mang vác nặng sai tư thế nhất là công nhân đội than, cát từ tàu thuyền lên bến. Ngoài ra, người ta cũng nhận thấy có một số yếu tố thuận lợi gây thiếu máu cục bộ vùng vai, gáy như thói quen ngồi lâu trước quạt, trước máy điều hoà nhiệt độ (máy lạnh), ra ngoài trời không đội mũ, nón để ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào vùng gáy…

Thời điểm xuất hiện đau vai gáy

Biểu hiện rõ nét nhất của hiện tượng tổn thương đốt sống cổ hoặc bị chèn ép dây thần kinh hoặc bị thiếu máu cục bộ đều có thể gây nên triệu chứng đau vai gáy. Đau vai gáy thường xuất hiện vào lúc sáng sớm vừa ngủ dậy hoặc ngồi làm việc ở bàn giấy nhiều thời gian như đánh máy, cúi xuống đọc văn bản hoặc sửa chữa văn bản hoặc soạn giáo án (các thầy cô giáo) trong một thời gian dài trong một buổi hoặc trong một ngày và có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng… Nhiều trường hợp ngoài đau vai gáy còn gây mỏi ở tay, tê tay, nặng tay cho nên khi làm các động tác dùng một hoặc hai tay nâng đỡ hoặc khi lái xe (xe máy, xe ôtô) phải làm động tác đổi tay cầm lái vì tay kia bị mỏi, nặng rất khó chịu. Cũng có tác giả cho rằng có một tỷ lệ nhất định nào đó do đau vai gáy có thể gây nên liệt nửa người, thậm chí gây nhồi máu cơ tim do mạch máu nuôi dưỡng tim bị chèn ép. Nói chung, bệnh đau vai gáy là một loại bệnh gặp tỷ lệ khá cao, chủ yếu ở người trưởng thành hoặc gặp ở những đối tượng mang tính chất nghề nghiệp và nhất là người cao tuổi.

Có thể tự chẩn đoán đau vai gáy?

Một số trường hợp có thể tự chẩn đoán cho mình bị đau vai gáy với nguyên nhân gì, ví dụ nằm ngủ gối đầu cao, sáng dậy bị vẹo cổ, đau vai, mỏi tay hoặc do nằm sai tư thế kéo dài nhiều giờ như nằm co quắp, gối đầu cao hoặc tư thế nằm nghiêng sang một bên. Đa số các trường hợp không rõ nguyên nhân hoặc có nhiều nguyên nhân làm lẫn lộn không biết nguyên nhân nào là nguyên nhân chính gây nên đau vai, gáy thì cần đi khám bệnh. Tại cơ sở y tế có điều kiện ngoài thăm khám, hỏi bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định chụp Xquang đốt sống cổ, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp vi tính (CT) và cũng có thể đo điện não đồ, đo mật độ xương, xét nghiệm sinh hoá máu nếu có bệnh liên quan đến tim mạch…

Loại trừ nguyên nhân – bảo bối khắc phục đau vai gáy

Cần khắc phục nguyên nhân gây ra đau vai gáy mà chính bản thân người bệnh biết được lý do gây ra đau vai gáy là điều quan trọng, ví dụ như không đọc sách, đọc truyện kéo dài nhiều thời gian trong một buổi, trong một ngày; không nằm kê đầu bằng gối cao cả tư thế nằm ngửa, cả tư thế nằm nghiêng. Một số nghề nghiệp không thể không ngồi lâu trong một thời gian dài như đánh máy, lái xe đường dài, công tác văn phòng thì cố gắng nghỉ giải lao giữa giờ làm việc và tập cúi xuống, đứng lên hoặc quay đầu, xoay cổ nhẹ nhàng trong vòng từ 10 – 15 phút sau vài giờ đã làm việc liên tục. Tuy nhiên, trong những trường hợp đã được bác sĩ khám và xác định thoái hoá đốt sống cổ gây xơ cứng đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ thì không nên xoay cổ, vặn cổ hoặc xoay lưng mạnh, nếu làm như vậy thì sẽ “lợi bất cập hại”. Xoa bóp, bấm huyệt đúng cách, đúng chuyên môn và thực hiện đều đặn hàng ngày cũng có thể đem lại hiệụ quả nhất định kết hợp với điều trị thuốc. Điều trị thuốc gì cần có ý kiến của bác sĩ, không nên tự mua thuốc điều trị và theo mách bảo. Hiện nay, khoa học ngày càng phát triển cho nên về Tây y có những loại thuốc dùng điều trị về bệnh khớp nói chung và bệnh thoái hoá khớp nói riêng khá hiệu nghiệm. Thuốc vừa điều trị giảm đau vừa điều trị phục hồi dần các tổn thương của khớp mà ít ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng xấu đến đường tiêu hoá của người bệnh. Người ta cũng khuyên nên bỏ dần thói quen ngồi trước máy điều hoà nhiệt độ (máy lạnh) nhiều giờ; khi ra khỏi nhà cần đội mũ, nón để che nắng mỗi khi có ánh nắng mặt trời. Những người nghiện thuốc lá, thuốc lào thì cần bỏ thuốc vì chất độc trong thuốc lào, thuốc lá cũng đóng góp đáng kể trong bệnh gây thoái hoá khớp. Muốn không để xảy ra bệnh đau vai gáy nên tập thể dục nhẹ nhàng, đều đặn, đúng bài, sinh hoạt điều độ và luôn nghĩ sức khoẻ là điều quý giá hơn bất cứ thứ gì có ở trên đời này.

PGS.TS. BS. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS

Không thể xem thường: lụt khớp gối

Những bước đi của bạn đột nhiên trở nên đau đớn, khó khăn khiến bạn phải nghĩ tới “có vấn đề gì ở chân mình thế này?” Hình ảnh đầu gối sưng phồng lên sẽ làm cho bạn cảm thấy hoảng hốt và lo lắng. Rất có thể khớp gối của bạn đang bị ngập lụt trong dịch, điều quan trọng nhất lúc này là bạn cần đi khám ngay tại các chuyên khoa xương khớp để được điều trị kịp thời.

khong_the_xem_thuong_lut_khop_goi01

Pseudogout gây tràn dịch khớp gối

Nhận dạng tràn dịch khớp gối

Tràn dịch khớp gối (lụt khớp gối) là tình trạng lượng dịch trong khớp gối nhiều lên, có thể phát hiện dễ dàng trên lâm sàng. Các dấu hiệu của tràn dịch khớp gối điển hình bao gồm:

Sưng nề: Một bên gối có thể sẽ to hơn bên kia.

Hạn chế vận động khớp: Khớp gối của bạn sẽ bị hạn chế vận động do lượng dịch trong khớp cản trở vận động khớp.

Đau: Tuỳ theo nguyên nhân gây tràn dịch khớp mà có thể sẽ có triệu chứng đau khớp, đôi khi do đau mà bệnh nhân không thể đi lại được.

Nếu không được điều trị, dịch trong khớp gối sẽ làm hạn chế vận động khớp, việc chọc hút dịch khớp nhiều lần làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và nếu có nhiễm khuẩn thì sẽ phá huỷ khớp và có thể ảnh hưởng đến toàn thân bệnh nhân.

Thủ phạm gây tràn dịch khớp gối hay gặp

Chấn thương: Chấn thương các cấu trúc giải phẫu có thể gây đau và gây tràn dịch khớp gối. Một số nguyên nhân chấn thương thường gặp là: gãy xương, rách sụn chêm khớp gối, đứt các dây chằng khớp gối (dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau), tình trạng chấn thương do quá tải khớp gối, thường do tổn thương sụn khớp.

Một số bệnh lý và nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối có thể gặp là: Thoái hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, nhiễm khuẩn khớp, gout, pseudogout, viêm bao hoạt dịch khớp do nhiều nguyên nhân như: viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính hay sau chấn thương… Các dạng nang bao hoạt dịch khớp, bệnh lý rối loạn về tình trạng đông máu, u khớp…

Béo phì là yếu tố thuận lợi gây bệnh: Bệnh thường gặp nhiều hơn ở lứa tuổi trên 55, rất có thể sự thoái hóa theo quá trình tự nhiên của khớp là yếu tố tác động đến bệnh lý này. Bên cạnh đó, người ta cũng nhận thấy những người tham gia nhiều vào các hoạt động thể thao có nguy cơ chấn thương nhiều hơn, đặc biệt là những môn thể thao liên quan đến các chuyển động đột ngột của khớp như bóng đá, bóng rổ… Đặc biệt, thừa cân – béo phì làm trọng lượng cơ thể quá lớn sẽ làm quá tải khớp gối, đặc biệt làm tăng nguy cơ vi chấn thương cho các thành phần của khớp, trong đó có sụn khớp, vì vậy làm tăng nguy cơ thoái hoá khớp, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tràn dịch khớp gối.

Chữa trị tràn dịch khớp gối có gì đặc biệt?

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gốiNghỉ ngơi.Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Trong trường hợp bệnh đang ở giai đoạn đầu tiên, biện pháp nội khoa được ưu tiên hàng đầu, đó là sử dụng các thuốc giảm đau, trong một số trường hợp, triệu chứng đau hơn mức chịu đựng của bệnh nhân. Bác sĩ có chỉ định dùng kháng sinh khi có nguy cơ hoặc đang bị nhiễm khuẩn. Các thuốc kháng viêm corticosteroids có thể sử dụng đường miệng hoặc tiêm trực tiếp vào khớp gối. Tuy nhiên, corticoids có một số tác dụng phụ, vì vậy phải được kê đơn và theo dõi điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.

Nếu tình trạng bệnh nặng nề, cần phải điều trị phẫu thuật và các can thiệp xâm lấn như:

Chọc hút dịch khớp: Chọc hút dịch khớp nhằm giảm áp lực, đồng thời có thể kết hợp điều trị tiêm corticoid.

Nội soi khớp: Nội soi khớp có giá trị chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch khớp và có thể kết hợp điều trị như sửa chữa các thương tổn sụn, dây chằng hay tổn thương thoái hóa khớp.

Thay khớp: Trong trường hợp tổn thương thoái hóa khớp gối.

Bí quyết phòng bệnh

Dịch trong khớp gối thường gặp do tình trạng bệnh lý mạn tính hoặc chấn thương. Để phòng ngừa và phát hiện sớm tình trạng tràn dịch khớp gối, bạn cần thực hiện một số công việc sau:

Kiểm soát tốt các bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp hay gout.

Dùng thuốc theo đơn để điều trị các bệnh lý nguyên nhân, đeo nẹp gối khi cần thiết theo yêu cầu điều trị.

Tập khỏe khối cơ đùi. Cơ đùi khỏe là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho vận động khớp gối. Nếu cơ đùi yếu thì gối nhanh bị mỏi, dễ chấn thương. Cơ đùi khỏe giúp cho hoạt động gối được tốt hơn.

Tập các bài tập mềm dẻo cho gối. Nếu bạn hơi quá cân nặng, cần tập luyện để giảm cân, bạn cần lựa chọn một bài tập mà khớp gối của bạn không phải chịu quá nhiều tải trọng khi bạn tập, ví dụ như tập thể dục nhịp điệu dưới nước hay bơi…

ThS. Trần Trung Dũng
Theo SKĐS

Tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gối

– Nghỉ ngơi. Tránh việc đi lại tỳ chân vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau.

– Chườm đá và kê cao chân: đặc biệt có tác dụng tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương. Kê chân cao giúp cho việc tuần hoàn chân được tốt, tránh được tình trạng sưng nề.

– Điều trị giảm đau. Sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.

Giải pháp mới cho người bị tổn thương cột sống

Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, đã ứng dụng thành công phương pháp mới điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cột sống như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống thắt lưng, đau thần kinh tọa… cho nhiều trường hợp bằng thiết bị silicon (DIAM) giúp cột sống vững chắc, tránh cho bệnh nhân khỏi bị liệt, gù, hết đau và cử động bình thường. Đây là một phương pháp tiên tiến, hiện đang áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới như: Mỹ, châu Âu và một số nước châu Á… Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật này.

Trả lại sự mềm mại cho cột sống lưng người bệnh

Sau nhiều năm sống chung với chứng đau lưng và đau bại một bên chân, bệnh nhân Ngô Thanh V., 54 tuổi (thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) chạy chữa nhiều phương pháp nhưng chẳng đỡ được là bao. Gần đây, bệnh nhân đau nhiều và khó khăn trong việc đi lại. Kết quả chiếu chụp cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống L4-L5 và hẹp thân đốt sống L3 bị phù nề. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật cột sống – Bệnh viện Việt Đức quyết định dùng phương pháp cố định động cột sống liên gai sau bằng thiết bị silicon (còn gọi là DIAM) để xử trí những đau đớn cho bệnh nhân V. Chỉ sau vài ngày đặt DIAM, bệnh nhân đã giảm đau rất nhiều và đi lại được.

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa Phẫu thuật cột sống cho biết, trước đây đối với các trường hợp này thường được mổ mở giải hẹp, rồi nẹp vít để cố định cột sống. Tuy bệnh nhân cũng hết đau nhưng nẹp vít lại khiến bệnh nhân rất khó cử động, chỉ có ưỡn mà không thể gập được người. Hơn nữa, qua thời gian có thể mòn và gãy dễ gây tai biến, còn các trường hợp bị xẹp do loãng xương hoặc vừa loãng xương vừa chấn thương do thoát vị đĩa đệm… thì phải sống chung với đau đớn suốt phần đời còn lại do xương của bệnh nhân giòn, dễ vỡ. Còn DIAM là loại dụng cụ được đưa vào khe giữa hai mỏm gai sau đốt sống thắt lưng nhằm làm giãn và cố định động 2 đốt sống. Ưu điểm của phương pháp này không những cố định được cột sống và giải ép các nguyên nhân chèn ép thần kinh mà còn đảm bảo độ mềm dẻo của cột sống, giúp bệnh nhân cúi và ưỡn thoải mái. Đặc biệt, DIAM còn có tác dụng hữu hiệu khi phối hợp với vít cố định cột sống hoặc trên các bệnh nhân bị lấy nhân đĩa đệm… giúp bệnh nhân khỏi bị xẹp đĩa đệm, làm chậm quá trình thoái hoá diện khớp và đĩa đệm liền kề chỗ cố định. Với phương pháp này, bệnh nhân hầu như không còn cảm thấy đau, rất ít biến chứng, có thể đi lại sau 1 – 2 ngày phẫu thuật.

Theo TS. Thạch, phương pháp này ít gây tai biến cho bệnh nhân vì silicon tương thích với cơ thể con người, có độ đàn hồi tốt nên hiếm khi gây ra các biến chứng như tuột hoặc đứt…. Hơn nữa, đây là dạng phẫu thuật can thiệp tối thiểu không đụng chạm trực tiếp đến cấu trúc thần kinh vào rễ thần kinh tủy sống nên không gây ảnh hưởng đến chức năng quan trọng của vùng cột sống và phần mềm ít bị phá huỷ. Tuy nhiên, theo TS. Thạch, không phải ai cũng thực hiện được kỹ thuật này. Để tiến hành, cần phải có phẫu thuật viên chuyên khoa, được đào tạo bài bản. Kỹ thuật này không áp dụng được đối với các bệnh nhân bị trượt đốt sống mất vững, gãy đốt sống, khuyết hở eo đốt sống, vẹo cột sống bẩm sinh, khối u vùng cột sống. Trong 1 – 2 tháng đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân cần làm việc nhẹ nhàng, không mang vác nặng.

giai_phap_moi_cho_nguoi_bi_ton_thuong_cot_song

Phẫu thuật cố định cột sống ở BV Việt Đức

TS. Thạch cho biết các bệnh lý cột sống nếu được phát hiện sớm bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kết hợp các bài tập phục hồi chức năng, điều chỉnh những thói quen trong sinh hoạt ảnh hưởng đến bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh thường cố gắng chịu đựng, chỉ khi không thể chịu nổi họ mới tìm đến bệnh viện, khi đó bệnh đã nặng, có thể đã xuất hiện nhiều biến chứng. Việc điều trị nội khoa lúc này không đạt hiệu quả mà phải tính đến giải pháp can thiệp bằng phẫu thuật. Thành công của phương pháp điều trị mới này hy vọng sẽ là một giải pháp tốt cho nhiều người bệnh.

Các bệnh lý cột sống đang ngày càng trở nên phổ biến

Các chuyên gia về cột sống cho hay, các bệnh lý liên quan đến cột sống rất phổ biến, đặc biệt là người luống tuổi, bị loãng xương gây hẹp ống sống. Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn… Trong khi đó, có rất nhiều nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá… Ngoài ra, hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Khi bị hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường đau lưng, đau dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính lan sang 2 bên đùi, xuống chân, gây liệt. Hơn nữa, trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù… Các tổn thương này không chỉ ảnh hưởng đến sự vận động của các bệnh nhân mà liệt và gù còn là gánh năng cho gia đình và xã hội.

Bài và ảnh: Hà Anh
Theo SKĐS

Điều trị khớp bằng nhiệt

Từ lâu, nhân dân ta đã biết sử dụng các biện pháp chườm nóng hoặc chườm lạnh để chữa đau lưng, đau khớp, sưng nề sau chấn thương, hoặc điều trị các vùng viêm tấy.

Trong y học, người ta sử dụng nhiệt nóng và nhiệt lạnh để điều trị.

Trong các khoa vật lý trị liệu người ta sử dụng paraffin, túi silicagen, khay nhiệt điện, túi chườm nhiệt sử dụng điện. Trong dân gian thường dùng cám rang, muối rang, lá cây sao nóng, túi nước nóng, ngâm trong nước nóng để làm các chất trung gian truyền nhiệt. Sử dụng nhiệt để điều trị đã mang lại hiệu quả rất tốt, nhưng nếu dùng không đúng có thể gây thêm tác dụng có hại. Vì vậy, hiểu biết về tác dụng của nhiệt trong chữa bệnh là kiến thức cần thiết đối với mỗi người.

dieu_tri_khop_bang_nhiet

Chườm lạnh điều trị thoái hóa khớp đợt cấp

Nhiệt nóng: Gây ra giãn mạch, làm tăng lượng máu đến vùng điều trị. Nhờ việc tăng tuần hoàn và dinh dưỡng cho vùng điều trị sẽ kích thích quá trình tái tạo tế bào, hàn gắn tổn thương. Làm tăng các phản ứng sinh học, tăng quá trình chuyển hóa của mô, làm tăng tái tạo mô. Làm tăng tính thấm của mô, tăng trao đổi dịch giữa khoang máu và khoang kẽ tế bào, do đó làm tăng quá trình hấp thu dịch nề, làm giảm nề, giảm đau. Làm tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, làm phân tán nhanh các chất trung gian gây viêm, do đó làm giảm viêm cả viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn. Nhiệt nóng được dùng rộng rãi để điều trị các vùng viêm do nhiễm khuẩn giai đoạn viêm tấy chưa hóa mủ (như viêm cơ, viêm tắc tia sữa, viêm tổ chức liên kết do răng, mụn nhọt, chắp lẹo); điều trị các trường hợp viêm không do nhiễm khuẩn (như viêm khớp dạng thấp, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống dính khớp); điều trị các vùng thiếu nuôi dưỡng do tổn thương thần kinh, mạch máu (như những vùng đe dọa loét hoặc do đè ép ở người phải nằm bất động lâu, các vùng thiếu nuôi dưỡng ở bàn chân, cẳng chân do bệnh đái tháo đường); điều trị các vùng đau do thoái hóa (như đau cột sống cổ, đau thắt lưng, đau khớp do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp); làm giảm nề, tan khối máu tụ sau chấn thương; làm nhanh liền sẹo vết thương, làm sẹo mềm mại, chống dính và co kéo do sẹo; điều trị dị ứng do lạnh. Thời gian đắp nóng khoảng 20-30 phút, ngày 1-4 lần. Cách dùng: Mỗi lần nóng lên duy trì khoảng 20-30 phút, một ngày có thể đắp nóng 1-4 lần. Mỗi lần đắp nóng không quá 1/6 diện tích cơ thể để tránh gây rối loạn thân nhiệt. Khi đắp nóng cần chú ý tránh để nhiệt độ quá cao > 40o vì có thể gây bỏng.

Chống chỉ định các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, các ổ viêm đã hóa mủ, các vùng có khối u cả u lành và u ác tính, các vùng lao đang tiến triển như lao khớp, lao cột sống, các chấn thương mới trong một hai ngày đầu, những người đang sốt.

Nhiệt lạnh

Nhiệt lạnh gây ra các tác dụng ngược lại so với nhiệt nóng, như làm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm dinh dưỡng, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm của mô. Nếu bị lạnh quá lâu có thể gây ra thiếu dinh dưỡng và hoại tử mô do lạnh. Nhiệt lạnh được dùng để làm giảm sưng nề sau các chấn thương mới, làm giảm chảy máu ở những vùng đang chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu, như chườm lạnh vùng thượng vị trong chảy máu dạ dày, giảm tụ máu, giảm nề trong chấn thương mới (một hai ngày đầu), chườm lạnh để hạ nhiệt độ khi sốt cao, bảo quản mô ghép giúp mô ghép chịu đựng được tình trạng thiếu ôxy kéo dài mà không bị hủy hoại. Người ta thường dùng túi nước lạnh, túi nước đá hoặc ngâm chi trong nước lạnh. Cần chú ý thời gian chườm lạnh cần ngắn vài phút, không kéo dài để tránh gây tổn thương mô do thiếu dinh dưỡng.

BS.CKII. Phan Kim Toàn
Theo SKĐS

Đề phòng những tổn thương khớp gối

Đầu gối rất dễ bị chấn thương vì phải chịu sức nặng cơ thể trong khi lao động, chạy nhảy, đi lại. Động tác chủ yếu của khớp gối là gập và duỗi, còn cử động sang bên hoặc quay thì rất hạn chế. Vì vậy khớp gối dễ bị tổn thương bởi những chấn thương từ hai bên hay từ phía trước hoặc do vặn xoay. Tuy nhiên nếu biết bảo vệ, bạn sẽ có khớp gối chắc khỏe và giữ được vẻ đẹp của hai đầu gối.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_01

Bảo vệ khớp gối

Tổn thương hay gặp ở khớp gối

Đau đầu gối: sau một chấn thương đầu gối bạn bị đau. Có khi người bệnh mô tả là đau buốt “đến tận tim”, hay đau “điếng người”. Dĩ nhiên là bạn phải xoa dầu và uống thuốc mới mong khỏi được sớm.

Lỏng khớp gối: là một chấn thương hay gặp trong thể thao, khi dây chằng chéo trước bị tổn thương, khớp gối sẽ lỏng. Nhưng lúc mới chấn thương, do cơ đùi hỗ trợ nên bạn chưa cảm nhận được bị lỏng gối. Thời gian sau cơ đùi bị teo không còn đủ sức gồng gánh cho dây chằng chéo trước, các dấu hiệu của lỏng gối mới xuất hiện. Bạn sẽ cảm thấy chân bị yếu khi đi lại, khó khăn khi phải đứng trụ bằng chân bị bệnh, đi nhanh trên đường không bằng phẳng dễ bị trẹo gối, cảm giác bất thường khi lên xuống cầu thang, khó điều khiển chân mình như ý muốn.

Trật khớp gối: nếu chấn thương mạnh bạn có thể bị trật khớp gối với các biểu hiện đau, không cử động được khớp gối, biến dạng khớp gối. Tổn thương có thể làm gãy xương, vỡ sụn, rách bao hoạt dịch, đứt rách dây chằng… Khi đó bạn phải điều trị tại bệnh viện bằng cách nắn chỉnh, phẫu thuật phục hồi khớp và dùng thuốc giảm đau, chống viêm.

Viêm khớp: có thể do các nguyên nhân chấn thương, nhiễm khuẩn hoặc không nhiễm khuẩn, bệnh tự miễn gây ra. Khớp gối bị sưng, nóng, đỏ đau, hạn chế vận động. Tùy nguyên nhân mà bạn phải điều trị bằng thuốc chống viêm, kháng sinh…

Thoái hóa khớp gối: là tình trạng lão hóa của khớp. Ở người cao tuổi, sụn khớp bị lão hóa trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ, mòn, khuyết… Mức độ lão hóa từng người có khác nhau, tùy thuộc điều kiện sống của mỗi người. Ba triệu chứng thường gặp ở bệnh thoái hóa khớp gối là đau khớp, sưng khớp và hạn chế cử động. Điều trị cần dùng các loại thuốc: giảm đau, chống viêm; bổ sung chất nhày cho khớp; thuốc tăng dinh dưỡng sụn khớp như glucosamin; các thuốc bôi, xoa ngoài; các thuốc bổ gân, xương.

de_phong_nhung_ton_thuong_khop_goi_02

Tổn thương khớp gối trên phim Xquang

Chăm sóc đầu gối

Đầu gối quan trọng đối với sức khỏe và cả thẩm mĩ nên chúng ta cần phải biết cách chăm sóc để bảo vệ “sức khỏe” và vẻ đẹp cho đầu gối. Chúng tôi xin chia sẻ với các bạn những “bí quyết” sau đây:

Do đầu gối chỉ được che phủ bằng một lớp da, thiếu sự bảo vệ của bắp cơ và mỡ, nên không được cung cấp đầy đủ nhiệt trong điều kiện thời tiết lạnh giá của mùa đông. Vì vậy chúng ta cần giữ ấm cho đầu gối bằng cách mặc quần dài với chất liệu vải thun hay cotton dày, đi giầy tất để thường xuyên giữ ấm chân và đầu gối.

Để phòng tránh khớp gối bị xơ cứng, bạn cần thường xuyên tập cử động bằng các động tác như đứng lên, ngồi xuống, xoay tròn khớp gối theo chiều kim đồng hồ và ngược lại để đầu gối được tưới máu nuôi dưỡng đầy đủ, dịch khớp tiết đều đặn, giúp mọi hoạt động được nhịp nhàng. Buổi tối trước khi ngủ bạn có thể tập động tác duỗi gấp gối bằng cách ngồi tựa lưng ghế, kê một cái gối mềm cao chừng 10 – 15cm dưới khoeo chân, tập duỗi thẳng chân rồi lại hạ cẳng chân xuống ở tư thế vuông góc với đùi từ 15 – 20 lần.

Trước khi luyện tập thể dục thể thao hay tập quân sự, bạn nhất thiết phải tập khởi động toàn thân và khớp gối để khi vận động cơ thể nói chung và khớp gối nói riêng được trơn tru, thuận lợi. Bạn không nên đá chân cao một cách đột ngột để tránh tổn thương khớp gối. Trong tập luyện một số môn thể thao dễ gây chấn thương, bạn nên bó khớp gối bằng băng thun để bảo vệ.

Bạn cũng nên tránh các tư thế gây hại cho khớp gối như: tránh ngồi gác chéo chân; bỏ thói quen ngồi xổm vì gập gối quá mức tạo lực ép rất lớn lên mặt sụn khớp và sụn bánh chè, mặt sụn dễ mòn, dập, sẽ thoái hóa sớm. Động tác quỳ gối hay tập cử tạ mà gánh tạ quá thấp cũng gây hại khớp gối nặng hơn ngồi xổm. Khuân vật nặng hay đứng lâu, khớp gối chịu lực không thẳng trục gây đau vùng trước gối và làm cho khớp gối nhanh bị thoái hóa.

Bạn chỉ nên đi giầy dép có đế rộng, độ cao vừa phải, khoảng 3cm. Nếu đi giầy dép cao gót sẽ tăng áp lực lên khớp gối. Tránh thừa cân, vì thừa 1kg thì khớp gối phải chịu đựng sức nặng tăng gấp 5 lần. Nếu bạn bị dị dạng chi dưới như chân chữ O, chữ X cũng cần phẫu thuật chỉnh hình cho trục đầu gối được thẳng.

Khớp gối được tạo thành bởi 3 xương: xương đùi, xương chày và xương bánh chè. Giữa mặt khớp lồi cầu đùi – mâm chày có cấu trúc sụn gọi là sụn chêm. Sụn chêm nằm chêm giữa mặt sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày có tác dụng giảm sóc khi sụn khớp lồi cầu đùi và mâm chày tiếp xúc khi vận động và giữ cho khớp gối được vững vàng. Hệ thống dây chằng bên trong, bên ngoài và hai dây chằng chéo trước và chéo sau nhằm giữ cho khớp gối vững chắc. Dây chằng chéo trước có tác dụng chính là giữ không cho mâm chày trượt ra trước và dây chằng chéo sau giữ cho mâm chày không bị trượt ra sau. Dây chằng bên ngoài giúp gối không bị vẹo trong, dây chằng bên trong giúp cho gối không bị vẹo ra ngoài. Toàn bộ khớp gối được bao bọc bởi một lớp màng hoạt dịch có tác dụng tiết ra dịch khớp để bôi trơn trong quá trình vận động.

ThS. Nguyễn Hoàng Lan
Theo SKĐS

Điều trị và dự phòng bệnh thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp (hư khớp) là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, người trẻ tuổi cũng bị do chấn thương. Đặc điểm của thoái hóa khớp là đau và hạn chế cử động, hậu quả là biến dạng khớp, có khi tàn phế. Việc điều trị đã có nhiều tiến bộ nhưng cũng còn không ít khó khăn do các thuốc dùng trong điều trị thoái hoá khớp có nhiều tác dụng phụ. Hơn nữa, nếu thay khớp nhân tạo nhưng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ.

dieu_tri_va_du_phong_benh_thoai_hoa_khop_01

Khoảng 12% người thay khớp gối phải thay lại lần 2, lần 3.

Việc điều trị tập trung vào những mục tiêu

– Giảm đau tại khớp bị thoái hoá.

– Duy trì và cải thiện chức năng của khớp, dự phòng biến chứng hạn chế cử động.

– Làm chậm tổn thương cũ và ngăn ngừa tổn thương mới.

Những nguyên tắc cơ bản trong điều trị

Xu hướng điều trị hiện nay gồm:

– Điều trị không dùng thuốc: Thường chỉ định cho bệnh nhẹ, sử dụng những phương pháp vật lý trị liệu như chườm nóng hoặc chiếu đèn hồng ngoại, hoặc máy phát sóng ngắn, máy siêu âm. Xung điện giảm đau cũng có tác dụng rất tốt. Để bảo đảm hiệu quả và tránh tai biến khi thực hiện, cần có ý kiến bác sĩ chuyên môn. Ngoài ra, trong  giai đoạn thuyên giảm đau, liệu pháp vận động cũng có tác dụng rất tốt. Còn lúc đau nhiều thì nên nghỉ ngơi để khớp không phải hoạt động nhiều.

– Điều trị dùng thuốc: Khi những biện pháp trên không đạt kết quả như ý, bác sĩ cho dùng thêm thuốc kháng viêm giảm đau và thuốc giãn cơ. Những thuốc này thường có tác dụng phụ trên dạ dày, có nguy cơ gây viêm loét, xuất huyết hoặc thủng dạ dày nhất là đối với người cao tuổi, vì vậy phải hết sức chú ý.

Những chú ý trong điều trị thoái hóa khớp

Trong đợt cấp: Đối với thoái hoá khớp chủ yếu là vận động liệu pháp, nhưng trong các đợt cấp phải nằm bất động trong suốt thời gian bệnh cấp tính. Sử dụng các thuốc chống viêm, giảm đau, tuy nhiên cần chú ý tác dụng phụ của thuốc với nguy cơ gây loét dạ dày hoặc đau đầu, chóng mặt. Tiêm vào  vùng đau khi cần thiết có thể làm giảm cơn đau, nhưng cần được vô khuẩn tốt để tránh viêm khớp mủ và không nên tiêm nhiều lần vào trong khớp.

Lý liệu pháp: Trong các đợt cấp nếu chườm nóng sẽ làm đau tăng lên. Vì vậy hãy chườm lạnh, có khi đắp nước đá làm giảm đau khớp nhất là khi có viêm nặng. Chú ý: trong đợt cấp, khi có suy tim hoặc có bệnh mạch vành, không nên điều trị bằng tắm ngâm. Các suối nước nóng không thích hợp với người già thể trạng kém.

Đau kinh diễn: Nếu đau kinh diễn do thoái hoá khớp, chỉ nên dùng thuốc khi đau kéo dài, các thuốc phải tránh tác dụng phụ. Nếu bệnh nhân không có loét, viêm dạ dày có thể dùng phối hợp aspirin với indometacin. Có thể dùng các thuốc tác động tâm thần nhất là các thuốc chống trầm cảm. Trong thoái hoá khớp cổ có thể dùng quang tuyến liệu pháp cũng làm bệnh nhân bớt đau.

Lý liệu pháp: có tác dụng tốt đối với thoái hoá khớp chung, nhất là với thoái hoá cột sống. Có thể dùng sóng ngắn, điều trị điện châm, tắm đắp bùn hoặc paraphin. Nếu điều kiện cho phép thì phối hợp với vận động liệu pháp.

Phẫu thuật điều trị thoái hóa khớp: Những năm gần đây, phẫu thuật chỉnh hình đã có những tiến bộ rất lớn, có thể thay hẳn khớp bằng khớp nhân tạo. Khớp nhân tạo phổ biến hiện nay là khớp háng, khớp gối, tiếp theo sau là khớp vai, khớp cổ chân, ngón tay, khuỷu. Đa phần các loại khớp làm bằng chất liệu hợp kim, một số thành phần làm bằng sứ, polyethylen. Ở nước ta, thay khớp gối và khớp háng đã trở nên phổ biến ở nhiều trung tâm, bệnh viện trong cả nước. Chỉ định mổ thay khớp chỉ đặt ra khi bệnh nhân quá đau đớn mỗi khi cử động khớp bị hư do một nguyên nhân nào đó như ở khớp háng: có thể hay gặp là tình trạng hoại tử chỏm xương đùi ở người trẻ, hoặc gãy cổ xương đùi ở người cao tuổi do khả năng lành xương kém; thoái hóa khớp háng do nguyên nhân chấn thương hay tuổi tác với mặt sụn khớp bị hư hoàn toàn. Đối với khớp gối là di chứng của chấn thương làm hư mặt sụn, tình trạng thoái hoá khớp gối ở người cao tuổi. Một số bệnh lý như viêm đa khớp dạng thấp làm huỷ hoại mau chóng mặt sụn khớp. Phẫu thuật thay khớp sẽ giúp bệnh nhân đỡ đau, tự đi lại được, cải thiện chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, thay khớp nhân tạo cũng có những nguy cơ tiềm ẩn như: nhiễm khuẩn trong và sau mổ, tuổi thọ của khớp nhân tạo chỉ được 10 – 15 năm. Có khoảng 12% những người được thay khớp lần đầu sẽ phải thay lại lần hai hay ba do lỏng khớp, hư khớp, nhiễm khuẩn hay bị gãy xương quanh khớp. Các nguy cơ phẫu thuật cũng tăng lên 2-3 lần ở cuộc mổ lần sau. Do vậy thay khớp nhân tạo là biện pháp cuối cùng sau khi mọi phương pháp điều trị khác không còn có tác dụng. Nếu bệnh nhân còn chấp nhận được đau thì sẽ không có chỉ định thay, hay nói đúng hơn chỉ định thay khớp chủ yếu dựa trên triệu chứng đau của bệnh nhân chứ không dựa trên mức độ hư của khớp nên người quyết định thay khớp hay không chính là bệnh nhân.

dieu_tri_va_du_phong_benh_thoai_hoa_khop_02

Khớp háng nhân tạo.

Phòng ngừa thoái hóa khớp

– Người thừa cân, béo phì cần có chế độ ăn uống, tập luyện hợp lý để giảm cân, đỡ sự quá tải  cho hệ xương khớp nhất là khớp gối và cột sống. Các nghiên cứu cho thấy khi cơ thể tăng thêm 1kg thì cột sống phải gánh thêm 4kg.

– Hạn chế uống bia, rượu vì uống nhiều bia, rượu có thể gây hoại tử chỏm xương đùi. Không lạm dụng corticoide.

– Tránh các chấn thương gãy cổ xương đùi, trật khớp háng.

– Cần hạn chế các động tác, tư thế làm việc có hại cho khớp như xách nặng, khuân vác nặng, ngồi, đứng, làm việc không đúng tư thế quá lâu.

– Tập đều đặn vào buổi sáng các bài khởi động khớp hay chơi thể dục thể thao ở mức độ vừa phải sẽ có tác dụng tốt cho khớp và cho cả nhiều cơ quan khác như tim mạch, hô hấp.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Biện pháp phục hồi vận động sau gãy xương

Trong sinh hoạt, lao động hằng ngày chỉ vì sơ suất nào đó chúng ta có thể bị chấn thương, mà gãy xương là tai nạn rất hay gặp nhất là tình hình tai nạn giao thông hiện nay. Sau một thời gian bó bột, nẹp đinh người bệnh có thể ít nhiều mất những cảm giác vận động. Vậy phải làm thế nào để cơ thể sớm có được sự vận động bình thường và tránh được sự biến dạng về hình dáng sau tai nạn?

Hậu quả do gãy xương

Khi xương tay, chân bị gãy, có những trường hợp bị giập, như vậy không chỉ xương bị tổn thương mà các cơ, gân, dây chằng cũng bị tổn thương theo. Tùy theo từng mức độ thương tổn, bệnh nhân được bó bột hay phải mổ nẹp đinh trong xương và khâu lại phần mềm bị rách, giập. Sau một thời gian bị cố định, người bệnh hầu như không có sự vận động ở chỗ bị tổn thương cho nên dễ bị mất cảm giác và có biểu hiện teo ở những nơi này. Thậm chí có những trường hợp do đau đớn không chịu vận động đã dẫn đến loét do tỳ đè lâu ngày, thậm chí nhiễm khuẩn hô hấp, tắc mạch chi, giảm phản xạ đại tiểu tiện… đây là biểu hiện hay gặp ở người già. Vì vậy sau mổ, phải bó bột người bệnh phải tự giác, kiên trì, chịu đau, phục hồi cử động khớp, duy trì sức cơ, tỷ lệ liền xương sẽ tăng nhờ vận động.

bien_phap_phuc_hoi_van_dong_sau_gay_xuong

Những biện pháp phục hồi bao gồm

Cử động khớp: Khớp bất động lâu sẽ bị cứng do cơ co ngắn lại, bao khớp bị co rúm, bao hoạt dịch tăng sản mỡ, sụn bị mỏng. Do vậy cử động khớp là cách tốt để bơm cho dịch khớp ra vào, khớp được nuôi dưỡng và trở nên mềm mại, tốc độ cho một lần co duỗi là 45 giây, mỗi lần tập10 – 15 phút, ngày 4 – 6 lần. Có thể tập từ ngày thứ 3 sau mổ hoặc sau bó bột.

Tập duy trì sức cơ: Tập tăng sức căng của cơ (độ dài bó cơ không thay đổi, khớp không cử động), tập co cơ (sao cho khớp cử động, co cơ ngắn lại). Khi khớp cử động còn đau nhiều thì tập căng cơ, khi khớp đỡ đau thì tập co cơ.

Tập đi: Dùng nạng gỗ tập đi khi xương chưa liền. Thanh ngang đầu trên nạng không được tỳ vào nách mà để tựa bên lồng ngực. Dáng đi thẳng, mắt nhìn thẳng ra phía trước, không cúi nhìn xuống chân. Hai vai phải ngang bằng không được lệch cao thấp. Tập bước đi có 3 điểm tựa, không tỳ hoặc chỉ tỳ nhẹ tăng dần lên chân đau. Hai tay chống nạng ngay ngắn, hai mũi nạng và bàn chân lành tạo nên tam giác đế. Đưa 2 nạng ra trước 10 – 30cm một cách tăng dần, lấy thăng bằng trên đôi tay cầm, rồi bước chân lành ra trước, tiếp tục bước khác. Giai đoạn tiếp theo, dùng gậy chống lúc xương đã gần liền vững. Nhiều người thích dùng gậy chống bên chân đau nên đã làm dáng đi bị xấu đi. Phải tập cho quen chống gậy bên chân lành và khi bước chân lành ra trước thì sức nặng trên chân đau và gậy chống sẽ cùng chịu một lúc. Không nên dùng nạng kẹp nách vì như thế dáng đi sau này trông sẽ tàn phế. Thời kỳ xương liền vững tỳ không đau ở ổ gãy xương thì bỏ gậy và tập đi như bình thường.

Dùng nhiệt: Tác dụng của dùng nhiệt là giảm đau, đỡ khó chịu, có lợi ích khi tập cử động chủ động. Dùng túi chườm nước nóng, chườm lên chỗ đau để luyện tập. Chú ý không được dùng nhiệt sóng ngắn cho toàn chi có đinh, nẹp vít vòng thép kim loại nóng lên có thể làm hỏng tổ chức, dễ gây viêm rò.

Tập sinh hoạt thông thường: Cần tập làm động tác trong sinh hoạt bằng lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà, tập ngồi xổm đứng lên. Đối với tổn thương xương tay thì tập nắm, mở bàn tay (dùng hòn đá hình quả trứng để nắm), tập cầm bút, đũa, tránh không để tay bị cong, khoèo. Khi nào không còn đau nữa, không bị hạn chế thì quá trình tập luyện này mới đạt kết quả tốt. Thời gian tập thường từ 6 tháng đến 2 năm, tùy theo mức độ thương tổn.

Biện pháp xoa nắn: Nên xoa nắn thường xuyên ổ gãy xương liền khớp. Chỉ xoa nắn nhẹ nhàng bằng tay mà không được dùng các loại dầu cao, cồn, thuốc xoa bóp nào để xoa vào các khớp, vì như vậy rất có thể làm cho xơ cứng khớp, vôi hóa cạnh khớp.

Khi bị chấn thương, để chóng lành, người bệnh cần kiên trì tập luyện, cần kết hợp các biện pháp tập luyện khác nhau để trở lại hình dáng ban đầu.

BS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS

Tạo hình dây chằng chéo trước khớp gối

Tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là một chấn thương thường gặp trong sinh hoạt, lao động. Khó khăn nhất cho người tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối là vận động bị hạn chế, sưng nề, đau đớn, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nhiều biến chứng phức tạp. Vì vậy phẫu thuật tạo hình lại là biện pháp điều trị cần thiết.

Hậu quả của tổn thương dây chằng chéo trước khớp gối

Sự vững chắc của khớp gối là sự vững chắc của mối quan hệ giữa xương đùi và xương chày, theo chiều trước sau rất quan trọng và được bảo đảm bởi hai dây chằng trong của khớp gối, đó là dây chằng chéo trước (DCCT) khớp gối và dây chằng chéo sau khớp gối. Nhờ có sự vững chắc này mà chúng ta có thể thực hiện được các động tác vận động nhanh, mạnh và dứt khoát. Trong hai dây chằng này thì DCCT khớp gối dễ bị tổn thương nhất và phẫu thuật phục hồi dây chằng này cũng là phẫu thuật phổ biến nhất trong các phẫu thuật vùng khớp gối.

tao_hinh_day_chang_cheo_truoc_khop_goi

Khi DCCT bị tổn thương, khớp gối của bệnh nhân sẽ mất đi sự vững chắc theo chiều trước sau, quan hệ giữa xương đùi và xương chày bị lỏng lẻo, do đó vận động của bệnh nhân sẽ gặp khó khăn, nhất là các động tác nhanh và liên tục. Ở một số bệnh nhân mà nhu cầu vận động không cao (phụ nữ, người ít chơi thể thao…) khả năng đi lại của bệnh nhân gần như bình thường do đó một số bệnh nhân chỉ cảm thấy là khớp gối của mình có vấn đề gì đó “không bình thường” nhưng chưa thật sự cảm thấy phiền toái. Tuy nhiên, những hậu quả lâu dài do đứt DCCT gây nên thì thật sự cần được quan tâm một cách thích đáng. Đó là những hậu quả gì?

Khi DCCT bị đứt, quan hệ động học giữa xương đùi và xương chày thay đổi, sự phân phối và truyền lực từ đùi xuống cẳng chân không bình thường, từ đó dẫn đến hai tổn thương thứ phát là rách sụn chêm và thoái hóa khớp.

Tổn thương sụn chêm thứ phát: Sụn chêm trong lúc đầu có thể còn nguyên vẹn và gắn chặt vào mâm chày. Do tổn thương DCCT, mâm chày bị di động ra trước và sụn chêm bị kẹt dưới lồi cầu trong xương đùi và khi gối gấp, nó bị nghiền và do đó sẽ bị rách ở sừng sau. Sự lặp đi lặp lại của hiện tượng này có thể làm cho đường rách lan rộng thêm ra sừng trước và sừng giữa. Hiện tượng này cũng có thể gặp ở sụn chêm ngoài nhưng ít hơn vì sụn chêm ngoài di động hơn so với sụn chêm trong.

Tổn thương thoái hóa khớp: Do sự thay đổi về động học của khớp gối nên dẫn đến những tổn thương thoái hóa do tổn thương xương sụn ở khoang trong, khoang ngoài hoặc khớp bánh chè lồi cầu đùi.

Xử trí đối với chấn thương gối và tổn thương đứt DCCT

Chấn thương gối rất thường gặp, đặc biệt là trong hoạt động thể thao thường ngày. Khi chấn thương gối mà không bị gãy xương, người bệnh và các bác sĩ thăm khám ban đầu rất dễ bỏ qua và để sót các tổn thương dây chằng của khớp gối. Việc thăm khám để phát hiện các triệu chứng của đứt DCCT khớp gối ở giai đoạn này tương đối khó khăn vì phần mềm xung quanh bị chấn thương. Ở giai đoạn này, sau khi đã loại trừ các tổn thương xương khác, có thể bất động cho bệnh nhân bằng nẹp đồng thời sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng như giảm đau, chống viêm, giảm phù nề. Việc thăm khám lại sau 2 tuần là cần thiết để có thể phát hiện các triệu chứng lâm sàng và chỉ định chụp cộng hưởng từ khớp gối để đánh giá các tổn thương dây chằng trong khớp.

Khi đã có chẩn đoán xác định đứt DCCT khớp gối, chỉ định phẫu thuật là cần thiết để phục hồi lại cơ năng khớp gối cho bệnh nhân và ngăn ngừa các tổn thương thứ phát như rách sụn chêm, thoái hóa khớp. Với sự phát triển của phẫu thuật nội soi, điều trị đứt DCCT đã đạt được những tiến bộ vượt bậc, trả lại chức năng khớp gối của bệnh nhân gần như bình thường.

Hiện nay, tạo hình DCCT khớp gối được thực hiện hoàn toàn qua nội soi và thu được những kết quả tốt đẹp. Đối với tạo hình DCCT khớp gối, vật liệu để tạo hình có 2 nguồn chính: Vật liệu tự thân: gân bánh chè, gân bán gân và gân cơ thon; Vật liệu đồng loại: gân Achille, gân bánh chè…

Khi DCCT trước đứt, không có khả năng khâu nối lại vì hai đầu đứt rời xa nhau, các bác sĩ sẽ sử dụng một đoạn gân khác để thay thế cho dây chằng đã bị đứt. Đoạn gân dùng để thay thế sẽ được cố định hai đầu vào xương đùi và xương chày tương ứng ở vị trí bám của dây chằng trước đây và sẽ đóng vai trò của dây chằng chéo trước khớp gối.

Để bảo đảm quá trình hồi phục sau phẫu thuật tốt, bệnh nhân nên tuân thủ đầy đủ các bài tập phục hồi chức năng mà bác sĩ phẫu thuật hướng dẫn, vì dây chằng sẽ bị lỏng nếu quá trình tập phục hồi chức năng không bảo đảm đúng như chương trình. Bệnh nhân cũng đặc biệt chú ý không nên vận động nhanh, mạnh quá sớm (trong 2 tháng đầu) vì có thể bị đứt lại dây chằng. Nên sử dụng một băng gối chức năng để bảo vệ trong thời gian 1-2 năm sau phẫu thuật.

ThS. Trần Trung Dũng (Bệnh viện đại học Y Hà Nội)
Theo SKĐS

Tổn thương tủy sống: Phải làm gì?

Thật kinh khủng nếu bạn đang khỏe mạnh, có một cuộc sống dễ chịu thì một tai nạn bất ngờ ập đến, khiến bạn không thể cử động và làm việc như trước, mọi sinh hoạt thậm chí là đơn giản nhất cũng phải có người giúp đỡ. Tổn thương tủy sống đặt con người vào tình trạng như thế. Ở những nước đang phát triển, bệnh nhân tổn thương tủy sống thường chỉ được chú ý điều trị trong giai đoạn cấp mà chưa hề được quan tâm toàn diện.

Tổn thương tủy sống là những tổn thương gây liệt hai chân hoặc liệt cả hai chân và hai tay kèm theo những rối loạn khác về cảm giác, dinh dưỡng, bàng quang, ruột, sinh dục. Các bệnh lý như gù, vẹo, gai đôi cột sống hay viêm tủy cắt ngang, viêm màng nhện tủy, xơ tủy rải rác, u tủy cũng gây ra tổn thương tủy sống. Nhưng chấn thương do tai nạn (đặc biệt tai nạn giao thông) là nguyên nhân hàng đầu trong các nguyên nhân chấn thương gây tổn thương tủy sống, sau đó là tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, tai nạn thể thao, bạo lực, chiến tranh.

ton_thuong_tuy_song_phai_lam_gi

Tai nạn giao thông là một nguyên nhân gây tổn thương tủy sống.

Trong các nguyên nhân do chấn thương, không phải tất cả các chấn thương cột sống đều gây nên tổn thương tủy sống, trong nhiều trường hợp cấp cứu ban đầu do cố định cột sống bị tổn thương và vận chuyển bệnh nhân không đúng nên rất có thể làm cho tủy sống bị tổn thương.

Biến chứng và thương tật thứ phát thường gặp

Ngay sau tai nạn, xảy ra giai đoạn cấp (choáng tủy) kéo dài vài giờ cho đến vài tuần. Biểu hiện chính trong giai đoạn này là mất toàn bộ chức năng tủy ở dưới mức tổn thương, đó là liệt mềm, mất tất cả phản xạ, đại tiểu tiện không tự chủ. Sau khi được điều trị xuất hiện các phản xạ tự động tủy ở dưới mức tổn thương, đặc biệt là co cứng. Một số trường hợp nặng, tổn thương tủy hoàn toàn, tiên lượng thường nặng cả trong điều trị và phục hồi chức năng. Các biến chứng thường gặp sau khi tủy bị tổn thương là:

Rối loạn vận động: Giảm hoặc mất vận động chủ động hai chân (tổn thương đoạn lưng, thắt lưng) hoặc cả hai chân và hai tay (tổn thương đoạn cổ). Rối loạn trương lực cơ, co cứng, co rút, teo cơ, cứng khớp, cốt hóa lạc chỗ, loãng xương, rỗng tủy sau chấn thương làm nặng thêm tình trạng vận động của bệnh nhân.

Rối loạn cảm giác: Giảm hoặc mất cảm giác dưới vùng tủy sống bị tổn thương, đau do bệnh lý thần kinh. Rối loạn cảm giác làm cho các biến chứng và thương tật thứ phát như loét do đè ép dễ xảy ra và trở nên ngày càng trầm trọng nếu không có sự chăm sóc đặc biệt.

Các rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn phản xạ tự động, hạ huyết áp tư thế, tăng tiết mồ hôi, rối loạn điều nhiệt, rối loạn đại tiểu tiện, biến chứng hô hấp, biến chứng tiết niệu, viêm tắc tĩnh mạch do huyết khối sẽ làm cho tình trạng bệnh nhân nặng thêm nếu không được chăm sóc và phục hồi chức năng kịp thời.

Cần phục hồi chức năng một cách toàn diện

Mục tiêu chính của phục hồi chức năng là làm cho người bị tổn thương tủy sống có thể độc lập tối đa trong các hoạt động sống hằng ngày, tái hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Về tâm lý: Hầu hết người bệnh tổn thương tủy sống đều mặc cảm với tình trạng sức khỏe của mình, nhiều người thay đổi hẳn tính nết từ một người vui vẻ sang trầm lặng, khép kín và bi quan, tự ti. Chính vì vậy, người thân và bạn bè phải quan tâm động viên họ, tạo điều kiện cho họ tham gia kết bạn với người cùng hoàn cảnh mà đã vươn lên, cũng cần có sự tham gia của nhân viên tư vấn đồng đẳng, nhóm những người khuyết tật và cán bộ xã hội.

Về tình trạng cơ thể: Phòng chống loét da do đè ép là một việc rất quan trọng, cần sử dụng đệm chống loét (đệm hơi hoặc đệm nước), thay đổi tư thế bệnh nhân 2 giờ một lần bằng các kỹ thuật vị thế để loại bỏ đè ép, giữ cho da vùng dễ bị loét luôn khô ráo và sạch sẽ, phát hiện sớm các vùng da có nguy cơ loét để kịp thời xử lý, chăm sóc và điều trị loét. Hướng dẫn cho bệnh nhân và người nhà một số kỹ thuật cần thiết để họ có thể tự làm.

Chăm sóc chức năng tiết niệu bao gồm cho bệnh nhân uống đủ nước (khoảng 1,5 – 2 lít mỗi ngày), đặt thông tiểu lưu trong giai đoạn choáng tủy, sau đó là thông tiểu ngắt quãng 4 giờ một lần, hướng dẫn người bệnh tự thông tiểu sau khi ra viện, tập phục hồi chức năng bàng quang, phát hiện và điều trị sớm nhiễm khuẩn tiết niệu.

Phục hồi chức năng tiêu hóa: ăn đủ chất dinh dưỡng với lượng chất xơ phù hợp, uống đủ nước, tập đại tiện theo giờ cố định, tập thể dục thường xuyên, hướng dẫn bệnh nhân tự kiểm soát đại tiện.

Người bệnh phải kiên trì vận động sớm có thể ngăn ngừa được nhiều biến chứng và thương tật thứ cấp đối với người bị tổn thương tủy sống như loét da do đè ép, nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn tiết niệu, huyết khối tĩnh mạch sâu, teo cơ, cứng khớp, co rút biến dạng… Chương trình tập bao gồm cả tập thở, tập ho, tập vận động đúng tư thế, tập theo tầm vận động, tập di chuyển tại giường, tập di chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại, tập làm mạnh cơ, tập thăng bằng ngồi tĩnh và động, tập đi, tập với các dụng cụ trợ giúp.

Trở lại công việc: Là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với những bệnh nhân này, làm việc và có thu nhập mang lại ý nghĩa rất lớn về tâm lý và giúp họ kiên trì các biện pháp luyện tập phục hồi các chức năng. Chỉ một số rất ít có thể trở lại công việc cũ, còn hầu hết phải tìm một công việc mới phù hợp. Bệnh nhân cần được liên hệ với các tổ chức xã hội để được hướng dẫn và tạo điều kiện. Kể cả những gia đình có điều kiện kinh tế vẫn nên cho người bệnh cơ hội tìm việc làm phù hợp.

BS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS

Chấn thương bàng quang

Thủng bàng quang có 2 loại: trong phúc mạc và ngoài phúc mạc.  Cơ chế vỡ bàng quang trong phúc mạc trong trường hợp chấn thương? – Vỡ bàng quang trong phúc mạc thường xảy ra trong những trường hợp chấn thương kín vào vùng bụng dưới, nhất là khi bàng quang căng đầy. Áp lực trong bàng quang bị tăng lên đột ngột làm cho bàng quang vỡ ở điểm yếu nhất là vùng đỉnh.

chan_thuong_bang_quang

Giải thích cơ chế vỡ bàng quang ngoài phúc mạc:  Có 2 giả thuyết giải thích cơ chế vỡ bàng quang ngoài phúc mạc đã được chấp nhận:

– Trong trường hợp có gãy khung chậu đi kèm với chấn thương, nhất là gãy ở cung trước. Hai đầu xương gãy hoặc các mảnh xương vụn rất dễ đâm thủng bàng quang, làm thủng bàng quang gần vùng cổ bàng quang.

– Giả thuyết này cho rằng khi bàng quang không chứa nước tiểu, một chấn thương nặng nề vào vùng bụng dưới cũng có khả năng xé rách bàng quang tương tự nhu làm rách bàng quang ở vùng đỉnh lúc bàng quang căng đầy nước tiểu.

Những bệnh nhân gãy khung chậu kèm tiểu máu vi thể thì có cần phải đánh giá tình trạng của bàng quang hay không? – Một số nghiên cứu cho thấy nếu không có tiểu máu đại thể thì tần suất vỡ bàng quang rất thấp nên không cần chụp bàng quang có cản quang trong trường hợp này.

Cách chụp bàng quang có cản quang? – Dùng một thông Foley 12Fr vào bàng quang, bơm vào ống thông 200ml thuốc càn quang pha với nước muối sinh lý. Sau đó bơm thêm 10 ml thuốc cản quang đậm đặc. Kẹp ống thông và chụp. Sau đó phải chụp thêm một phim đã rút hết thuốc cản quang.

Hình ảnh của chụp bàng quang có cản quang trong trường hợp vỡ bàng quang ngoài phúc mạc? – Bàng quang có hình giọt nước do bị khối máu tụ ở vùng chậu chèn ép kèm với sự thoát thuốc cản quang ra ngoài vùng chậu. Ở phim xả thuốc, vẫn còn thấy có thuốc cản quang ở vùng tiểu khung.

Hình ảnh vỡ bàng quang trong phúc mạc khi chụp bàng quang có cản quang? – Khi chụp phim đầy thuốc, vỡ bàng quang trong phúc mạc có hình ảnh thoát thuốc cản quang vào trong ổ bụng. Thuốc cản quang có thể đọng lại ở vùng tiểu khung làm xoá mờ đường viền trên của bàng quang gây ra hình ảnh “kính mờ”. Thuốc cản quang có thể nằm ở rãnh cạnh đại tràng

Ðiều trị vỡ bàng quang trong phúc mạc? – Bắt buộc phải mở bụng để khâu bàng quang

Ðiều trị vỡ bàng quang ngoài phúc mạc? – Còn nhiều tranh cãi. Nếu bệnh nhân có các tổn thương khác trong ổ bụng đi kèm cần phải can thiệp ngoài khoa thì trong lúc mở bụng sẽ tiến hành khâu bàng quang luôn. Nếu bệnh nhân chỉ có đơn thuần một thương tổn vỡ bàng quang ngoài phúc mạc thì có thể điều trị nội khoa bằng cách đặt thông niệu đạo lưu và dùng kháng sinh phổ rộng. Từ ngày thứ 7- 14 sau chấn thương sẽ tiến hành chụp bàng quang có cản quang trước khi rút thông niệu đạo. Nếu bệnh nhân vẫn còn tiểu máu cục kéo dài, nhiễm trùng, chụp bàng quang cản quang thấy có hình ảnh thoát nước tiểu thì lúc đó có chỉ định can thiệp ngoại khoa để khâu lại lổ thủng.

Đăng bởi: Ths.Bs.Phạm Ngọc Thạch – Khoa Niệu
Theo benhviennhi.org.vn