Tag Archives: chậm lớn

Xử lý ngộ độc thịt cóc

Hiện nay Tây Y không còn dùng cóc và nhựa cóc để chữa bệnh vì độc tính của nhựa cóc rất cao. Tuy nhiên, Đông Y lại dùng cóc trong chữa một số bệnh hiểm nghèo: nhựa cóc là 1 trong 6 vị của đơn thuốc “Lục thần hoàn”. Trong nhân dân dùng nhựa cóc chữa giảm đau, tán thuỷ, dùng chữa phát bối, đinh độc, yết hầu sưng đau, đau răng. Thịt cóc khô dùng với liều 2 – 3g tán bột uống hoặc làm thành thuốc viên, chữa gầy còm, chậm lớn, kém ăn, suy dinh dưỡng,…

Giá trị dinh dưỡng của thịt cóc

Thịt cóc rất giầu dinh dưỡng, cao hơn thịt bò, thịt lợn (53,37% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit), đặc biệt có nhiều a xít amin cần thiết (Asparagine, Histidine, Tyrosine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tryptophan, Cystein, Threonine..) và nhiều chất vi lượng (Mangan, Kẽm…)

xu-ly-ngo-doc-thit-coc

Thịt cóc được dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người già; hỗ trợ, tăng cường dinh dưỡng sau ốm dậy; hỗ trợ điều trị trẻ em suy dinh dưỡng, chán ăn, chậm lớn, còi xương, cam tích, lở ngứa… dưới dạng ruốc, bột hoặc thịt tươi dùng để nấu cháo, làm chả cóc…

Trong cơ cóc  hay còn gọi là thịt cóc không có chất độc.

Độc tố trong thịt cóc

Độc tố chỉ có một số bộ phận cơ thể như nhựa cóc (ở tuyến sau tai, tuyến trên mắt và các tuyến trên da cóc), trong gan và buồng trứng.

Độc tố của cóc là hợp chất Bufotoxin gồm nhiều chất như 5-MeO-DMT, Bufagin, Bufotaline, Bufogenine, Bufothionine, Epinephrine, Norepinephrine, Serotonin…

Tác động sinh học của độc tố tùy theo cấu trúc hoá học: Bufagin tác động đến tim mạch như nhóm Glycoside tim mạch; Bufotenine gây ảo giác; Serotonin gây hạ huyết áp… Thành phần độc tố thay đổi tuỳ theo loài cóc. Độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ra ngộ độc cấp tính. Độc tố hấp thu qua da bình thường, nhưng gây ra dị ứng, bỏng rát ở mắt, niêm mạc người.

Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Triệu chứng ngộ độc

– Thời gian nung bệnh từ 1-2 giờ sau khi ăn cóc.

– Hội chứng tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, mửa, đau và chướng bụng.

– Hội chứng tim mạch: Lúc đầu bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, sau đó rối loạn nhịp: Ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh thất, rung thất đôi khi có bloc nhĩ thất, nhịp nút, dẫn đến truỵ mạch. Với người bị nặng: sự dẫn truyền ở tâm thất bị ngưng trệ, rung tâm thất, huyết áp tụt, chân tay lạnh.

– Hội chứng rối loạn thần kinh-tâm thần: chất Bufotenin trong nhựa cóc có thể gây ảo giác, ảo tưởng, rối loạn nhân cách, chảy rãi, thèm ngủ, mồm miệng và tứ chi tê dại, đổ mồ hôi. Năng hơn nữa có thể gây ức chế trung khu hô hấp dẫn tới ngừng thở và tử vong.

Ngoài ra, còn gây tổn thương thận, vô niệu, viêm ống thận và gây tróc da, viêm da.

Chất độc ở cóc chỉ có ở nhựa cóc và nội tạng (gan, trứng).

Xử lý ngộ độc thịt cóc

Chủ yếu là điều trị triệu chứng, nếu phát hiện sớm thì gây nôn và chuyển nhanh đến bệnh viện.

– Thải trừ chất độc: Rửa dạ dày bằng dung dịch thuốc tím 1/5.000, uống tanin 4g, lợi tiểu bằng Furosemid.

– Chống loạn nhịp tim: Nhịp nhanh dùng Propranolon, nhịp chậm dùng isoproterenon. Tốt nhất là đặt máy tạo nhịp tim có xông điện cực buồng tim.

–  Chống tăng huyết áp: Cho ngậm Adalat.

– Chống rối loạn thần kinh và tâm thần: Dùng Diazepam, Phenobacbital.

– Chống rối loạn hô hấp: Thở máy, thở oxy.

– Chống suy thận cấp: Lọc ngoài thận (thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng).

Đề phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do cóc: Tốt nhất và an toàn nhất là không ăn cóc và sản phẩm tự chế biến từ cóc. Nhưng nếu vẫn muốn sử dụng cóc làm thực phẩm thì tuyệt đối không ăn trứng và gan cóc. Trong quá trình chế biến, tuyệt đối không để  da cóc, nội tạng cóc, nhựa cóc lẫn vào cơ cóc hay thịt cóc. Đặc biệt cho đến nay, khoa học chưa chứng minh được nuốt cóc sống có thể điều trị được bệnh ung thư

Nguồn tổng hợp

Những lưu ý mẹ cần biết khi bé chậm lớn

Những đứa bé chậm lớn thường có khả năng tăng cân và phát triển kém hơn những em bé khác.

Từ ngày đón bé Bông ở bệnh viện về, chị Hòa (Hà Đông, Hà Nội) mừng rỡ lắm. Gia đình chị chuẩn bị cho bé đầy đủ đồ đạc, đồ chơi, chị cũng rất tự tin với số kinh nghiệm mà chị có được từ lần sinh nở đầu tiên. Thế nhưng sau vài ngày, chị lo lắng vô cùng khi thấy con biếng ăn, trong suốt 2 tuần đầu bé không lên cân mà thậm chí tụt cân. Đi khám, chị được biết bé thuộc diện chậm lớn.

Trong những năm tháng đầu tiên, trẻ em thường tăng cân và phát triển trí thông minh nhanh chóng. Đôi khi, có vài trường hợp trẻ không đạt tiêu chuẩn dự kiến như đã đề ra.

Một ngày bạn giật mình nhận ra con mình không cao lớn như chuẩn mà các chuyên gia dinh dưỡng đề ra. Bạn lo lắng và kết luận con bị chậm phát triển, bạn không nên quá lo lắng và có một kết luận sớm như vậy. Để đưa ra được kết quả chính xác thì bạn cần phải đưa bé tới bệnh viện để các bác sĩ thăm khám.

Để chẩn đoán và điều trị một đứa trẻ không phát triển hay còn gọi là bé chậm lớn, các bác sĩ sẽ phải tập trung vào việc xác định vấn đề tiềm ẩn liên quan tới cơ địa của bé.

Chậm phát triển, chậm lớn là một từ để mô tả tình trạng chứ không phải là một căn bệnh cụ thể. Những đứa trẻ không phát triển mạnh thường có khả năng tăng cân và phát triển kém hơn những em bé khác.

nhung-luu-y-me-can-biet-khi-be-cham-lon-

Hầu hết các chẩn đoán về tình trạng này thường xuất hiện ở trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi. Bởi trong những năm đầu tiên của cuộc sống đó là giai đoạn quan trọng của sự phát triển thể chất và tinh thần. Sau khi sinh ra, não của một đứa trẻ phát triển nhiều trong năm đầu tiên, nếu  trẻ hấp thụ dinh dưỡng kém thì điều này vô tình sẽ tác động tiêu cực về tâm sinh lý trong tương lai.

Hầu hết các bé tăng gấp đôi trọng lượng chỉ sau 4 tháng khi ra đời và tăng gấp ba lần trọng lượng đó khi bé được 1 tuổi. Những bé phát triển chậm sẽ không thể đáp ứng được những con số này.

Dấu hiệu bé chậm lớn

Ngoài cân nặng, dấu hiệu để nhận biết con không chịu lớn như sau:

Con thờ ơ với môi trường xung quanh, gọi không chú ý.

Con tránh nhìn trực diện vào người khác.

Bé luôn cáu kỉnh, khó chịu, khóc lóc.

Bé không đạt được các mốc phát triển như những trẻ bình thường khác về ngồi, bò, và nói chuyện.

Nguyên nhân

Yếu tố xã hội: Trong một số trường hợp, các bác sĩ không thể xác định được rõ nguyên nhân nhưng đa số là do các bà mẹ thiếu hiểu biết, bổ sung dinh dưỡng trong thai kỳ kém.

Ví dụ, trong quá trình mang thai và cho con bú, nhiều bà mẹ đã thực hiện chế độ ăn kiêng, dung nạp ít lượng calorie, con không thể nhận được chất béo đủ. Hoặc cha mẹ không quan tâm đến con, bỏ bê con, cuộc sống nghèo đói khiến dinh dưỡng trong con bị ảnh hưởng, còi xương, chậm lớn.
Liên quan tới bệnh tiêu hóa: Chúng bao gồm bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD), tiêu chảy mãn tính, xơ nang, bệnh gan mãn tính và bệnh loét bao tử…

Bị GERD, thực quản của bé có thể bị kích thích, bé bị đau và không thể ăn được. Tiêu chảy kéo dài sẽ khiến các chất dinh dưỡng và năng lượng cơ thể bị hao tổn.

Nếu bị xơ nang, bệnh gan mãn tính, trẻ không thể hấp thụ tối đa chất dinh dưỡng dù ăn rất nhiều.

Khi bé bị bệnh mãn tính: Một đứa trẻ có vấn đề như sinh non, sứt môi hoặc viêm vòm miệng, bé khó có thể ăn và hấp thụ dinh dưỡng như một bé hoàn toàn khỏe mạnh khác. Trong trường hợp này bé ăn ít sẽ càng yếu đi và ảnh hưởng tới sự phát triển của tim mạch, nội tiết tố và dễ bị rối loạn hô hấp.

Bé không thể dung nạp đạm sữa: Điều này có thể gây khó khăn với việc bé hấp thụ các chất dinh dưỡng. Việc không dung nạp được đạm sữa sẽ khiến bé phải ăn kiêng, thực đơn ăn kiêng bao giờ cũng khiến sức khỏe của trẻ không được phát triển toàn diện được.

Nhiễm trùng: nhiễm trùng đường tiết niệu, bệnh lao,…, sẽ khiến lượng dinh dưỡng trong cơ thể trẻ giảm đi nhanh chóng, mất đi cảm giác thèm ăn, ngon miệng.

Rối loạn tiêu hóa: quá trình này sẽ khiến bé kém ăn, lười ăn vì đau bụng, nôn mửa. Hiện tượng này khiến cơ thể bị hạn chế khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng.

Điều trị

Trẻ em chậm lớn cần sự giúp đỡ của cha mẹ và bác sĩ. Nếu trong 2 tháng liên tiếp con có dấu hiệu biếng ăn, chậm tăng cân, bạn cần đưa con tới bệnh viện. Các chuyên gia dinh dưỡng sẽ đánh giá nhu cầu ăn uống của trẻ.

Trong trường hợp thiếu dinh dưỡng, trẻ sẽ được điều trị thường xuyên tại nhà với sự theo dõi thăm khám của bác sĩ. Bác sĩ sẽ khuyên bạn nên sử dụng thực phẩm gì, ăn lượng bao nhiêu cho bé là hợp lý.

Trường hợp nghiêm trọng hơn, các bác sĩ sẽ cho bé được truyền thức ăn qua ống chuyên dụng, đó là một cái ống được chạy từ mũi vào thẳng dạ dày. Thực phẩm dinh dưỡng dạng lỏng được cung cấp một cách đều đặn qua ống, và khi được nuôi dưỡng đầy đủ hơn, đứa trẻ sẽ cảm thấy cơ thể khỏe hơn và có thể sẽ bắt đầu ăn nhiều hơn trong thời gian sau.

Điều trị kéo dài bao lâu tùy vào cơ thể của từng bé. Dù rất muốn con tăng cân nhưng bạn cần hiểu rằng tăng cân cần phải có thời gian. Nếu bị chậm phát triển do một căn bệnh mãn tính hoặc rối loạn, có thể đứa trẻ đó phải được theo dõi định kỳ và điều trị lâu hơn.

Di truyền cũng đóng một vai trò lớn trong việc tăng cân, vì vậy nếu bạn và chồng của bạn thấp bé nhẹ cân, bé nhà bạn có thể sẽ nằm trong diện thấp bé.

Nếu bạn nhận thấy sự bất bình thường trong cân nặng của con, thấy con có dấu hiệu như ở trên, nếu con biếng ăn thì bạn nên gọi điện cho bác sĩ. Trẻ mới biết đi và trẻ lớn hơn có thể trong vài ngày biếng ăn song trẻ sơ sinh thì không, bé sẽ không tự dưng biếng ăn nếu không gặp vấn đề.

Theo afamily

Trẻ thiếu cân nguyên nhân vì đâu

Hiện nay, tình trạng trẻ chậm tăng cân hay tăng cân không đúng tuổi, nhất là trẻ dưới 3 tuổi là mỗi lo của rất nhiều các bà mẹ. Vậy “thủ phạm” khiến trẻ khó tăng cân là gì?

Theo các bác sĩ dinh dưỡng, trẻ dưới 3 tuổi là giai đoạn trẻ bắt đầu tập ăn, mọc răng và cơ thể có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến thói quen ăn uống, nên hay gặp lười ăn ở lứa tuổi này.

Chậm tăng cân ở các bé có một số nguyên nhân, trong đó nhiều trường hợp do chế biến thức ăn chưa phù hợp, mà đáng lưu ý là khá nhiều trẻ được ăn đủ đạm, rau xanh nhưng lại thiếu chất béo trong khẩu phần ăn. Do vậy, trẻ cần ăn đủ lượng chất đạm, bột, béo. Chất béo rất cần cho cơ thể vì nó cung cấp năng lượng và là thành phần tạo nên tế bào, bên cạnh đó còn đóng nhiều vai trò quan trọng khác.
thủ-phạm-khien-trẻ-cham-tang-can
Ngoài ra, có khá nhiều nguyên nhân khiến bé chậm tăng cân như chế độ dinh dưỡng, tiền sử sức khỏe, các hoạt động thể chất hay rối nhiễu về tinh thần.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Viện trưởng, Viện dinh dưỡng Quốc gia, nguyên nhân quan trọng khiến trẻ khó tăng cân là do thiếu kẽm và selen. Thiếu kẽm và selen sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ.

Kẽm giúp duy trì, bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Trẻ thiếu kẽm sẽ biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn.

Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì. Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó khiến trẻ giảm phát triển, tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong. Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ; thiếu ở mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt. Tuy nhiên, nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Đặc biệt, việc thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài có thể gây nguy cơ bị ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.

Kẽm và selen cho cơ thể có trong nhiều loại thực phẩm. Trong đó, thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Đối với trẻ sơ sinh, để không thiếu chất này mẹ nên cho con bú đầy đủ vì chất này trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9 mg/lít. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg một ngày. Do đó, bạn cần ăn nhiều thực phẩm giàu chất này để có đủ cho cả hai mẹ con.

Selen có nhiều trong cá, hải sản và trứng, vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả.

Theo vnmedia

Bố mẹ nhiều tiền con vẫn suy dinh dưỡng: Vì đâu?

“Trong số những đứa trẻ bị suy dinh dưỡng được đưa đến khám, có không ít trẻ là con nhà khá giả. Người mẹ kể rằng, họ đã không tiếc tiền trăm, tiền triệu để mua cho con những hộp sữa ngoại được quảng cáo là tốt nhất vậy mà con họ vẫn còi xương, chậm lớn” – BS. Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi TW cho biết.

Con suy dinh dưỡng vì mẹ thiếu hiểu biết

BS. Lộc cho biết, nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng trẻ em đã cho thấy sự phát triển của trẻ từ 0-6 tháng tuổi ở nước ta so với tất cả các quốc gia trong khu vực là như nhau. Thế nhưng ở khi chuyển sang giai đoạn ăn dặm thì trẻ em Việt Nam đã có sự tụt hậu. Điều này có liên quan đến những thói quen ăn uống truyền thống không tốt của nhiều bà mẹ khiến bé thiếu nhiệt năng và vitamin cần thiết như A, B, C, D, sắt, canxi… ảnh hưởng đến chiều cao, cân nặng và sức khỏe của bé.

bo_me_nhieu_tien_con_van_suy_dinh_duong_vi_dau

Chị Lê Thị Hà, (tập thể Trung Tự) kể: Chị cai sữa cho con sau 6 tháng nhưng hàng ngày vẫn ninh bột bằng rất nhiều xương ống và cho cháu uống thêm sữa ngoại tốt nhất. Vậy mà con chị vẫn rất chậm lớn, đã 16 tháng tuổi mà chưa biết đi lại hay ra mồ hôi trộm và có hiện tượng rụng tóc. Đi khám chị mới biết rằng con mình bị suy dinh dưỡng. Các bác sĩ ở đây cho biết, loại xương mà chị hầm cho con chỉ có mỡ và đạm chứ rất ít canxi, trong khi đó mỗi ngày bé chỉ được ăn gần 300ml sữa, còn kém xa lượng sữa bé cần ăn mỗi ngày là 500-700ml theo khuyến cáo của các nhà dinh dưỡng học.

Theo BS. Lộc, sai lầm hay mắc phải của các bà mẹ nuôi con trong thời kỳ ăn dặm là thường xuyên cho trẻ một chế độ ăn quá nghèo nàn về chất dinh dưỡng. Vì sợ con khó ăn rất nhiều người không cho trẻ ăn thêm các loại rau, củ, quả nên chỉ ninh xương, thịt lấy nước mà không biết rằng chất thôi ra từ xương, thịt chỉ là một phần dinh dưỡng không đáng kể, nếu cứ ăn như vậy kéo dài, bé bị suy dinh dưỡng là điều dễ hiểu. Để tránh tình trạng này, người mẹ cần xay nhuyễn tất cả các loại rau, củ, thịt lẫn vào bột để trẻ ăn hằng ngày. Nên thay đổi thường xuyên các loại rau để trẻ không bị ngán.

Sữa tốt không phải là tất cả

BS. Nguyễn Tiến Dũng, Phó khoa Nội tiết, Bệnh viện Nhi TW cũng cho hay: Có không ít bà mẹ hiện nay nghĩ rằng, cứ cho trẻ ăn những loại sữa đắt tiền, được quảng cáo là cung cấp đầy đủ tất cả các loại vitamin và chất dinh dưỡng cần thiết. Theo  nhiều bà mẹ, các thực phẩm “xịn”, có giá trị dinh dưỡng cao, cần cho sự phát triển của trẻ phải là sữa ong chúa, đường gluco, bánh kẹo dinh dưỡng có chứa lysinne, nhân sâm, mật ong… và bỏ qua những thức ăn thông thường như rau củ quả có sẵn trong khi đó mới là những loại thực phẩm tươi có nguồn dinh dưỡng cao vừa dễ dàng cho việc hấp thụ của trẻ.

Theo BS. Dũng, việc lạm dụng hàng ngoại vừa tốn tiền vừa ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của trẻ, lại gây thêm một số bệnh có hại cho con như khó tiêu, táo bón, lười ăn. Không chỉ sai lầm trong việc cho con ăn, uống một số người khi thấy con có hiện tượng suy dinh dưỡng đã tự động đi mua các loại vitamin tổng hợp và cốm canxi pha với sữa cho con uống nhằm cải thiện tình hình của con mình. Đây lại là một sai lầm tiếp theo bởi việc sử dụng bừa bãi, không đúng liều lượng các loại vitamin và canxi chẳng những không có lợi mà còn khiến trẻ có nguy cơ ngộ độc hay để lại những di chứng khó lường sau này. Ví như, cốm canxi và sữa dùng kết hợp sẽ thành sữa vón cục gây khó tiêu và làm rối loạn chức năng tiêu hóa của trẻ biếng ăn. Tương tự vậy, lysin là một trong những axit amin cần thiết cho trẻ nhỏ tăng nhanh về chiều cao và cân nặng nhưng nếu dùng không đúng quy cách sẽ làm ảnh hưởng đến cân bằng, axit amin sinh ra các tác dụng phụ đối với trẻ như ăn uống giảm sút, không tăng cân, đề kháng kém.

“Thiếu khoa học và thiếu hiểu biết trong quá trình nuôi con, dù có nhiều tiền, con bạn vẫn suy dinh dưỡng” – BS. Dũng nói.

Theo SKĐS