Tag Archives: cây thuốc

Chữa viêm xoang cực kỳ hiệu quả từ cây giao

Cây giao có nơi lại gọi là cây xương cá, cây nọc rắn, cây càng cua, cây càng tôm, cây xương khô, cây san hô xanh, thập nhị, cây quỳnh cành giao… tên khoa học là Euphorbia Tiricabira L., thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Cây mọc hoang nhiều nơi, ở thôn quê cây có thể dùng làm hàng rào. Công dụng chủ yếu là chữa chứng bệnh viêm xoang mũi.

Toàn cây giao có vị cay, hơi chua, tính mát, hơi có độc, có tác dụng thúc sữa, sát trùng, khử phong, tiêu viêm, giải độc.

Do cây giao thuộc họ xương rồng, có mủ đục có hại cho mắt nên trong mọi thao tác làm thuốc (cắt, bẻ…) nhất thiết phải thật cẩn thận, tránh để mủ này dính vào mắt (có thể mang kính), tránh trường hợp mủ có khả năng làm hại, đui mắt.

cay_giao
Những dụng cụ nhất thiết phải có để chữa bệnh xoang gồm: 1. Một ấm nước nhỏ (bằng kim loại, sành sứ đều được và lưu ý sau này không dùng ấm này để nấu nước uống vì sợ độc). 2. Lấy một tờ lịch treo tường loại lớn quấn xéo lại thành một cái ống dài. Lưu ý ống phải dài khoảng 50cm, nếu ngắn quá thì hơi sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da; còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. Ống phải quấn sao cho một đầu vừa miệng vòi ấm, còn một đầu nhỏ hơn dùng để hít. Nếu có ống tre hay trúc được thông lỗ giữa các đốt cây thì tốt hơn, nhưng không được dùng loại ống bằng nhựa bởi dễ nóng chảy.

Bài thuốc xông mỗi ngày gồm một chén (bát) nước và khoảng 70gr cây. Nếu không có cân thì có thể đếm khoảng 15-20 đốt cây thuốc cho một ngày dùng. Thường buổi sáng dùng phần lớn lượng cây thuốc trong phần thuốc của cả ngày, chừa lại một vài nhánh nhỏ để đến chiều bổ sung lượng thuốc đã bốc hơi.

Nếu dùng một lần một ngày thì trọn phần thuốc đã định vào một lần. Cắt nhỏ các đốt cây thành cỡ một nửa đốt ngón tay rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Sau đó đặt ấn lên bếp, nên sử dụng loại bếp có chức năng tăng giảm lửa như bếp ga mini. Đầu tiên vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi sùng sục. Khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì bớt lửa đến cực nhỏ, canh sao cho hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm. Kế tiếp đưa một đầu ống đã quấn vào vòi ấm, còn một đầu cho vào mũi để hít hơi xông lên.

Thời gian xông là hai lần trong một ngày (nên sử dụng vào sáng và tối). Thuốc đã dùng buổi sáng nên để dành và hâm lại dùng buổi tối. Khi hâm dùng lần hai thì nhớ bổ sung thêm một ít nước cùng vài đốt cây mới. Sau đó đổ bỏ, hôm sau lại làm liều thuốc mới. Hai hôm đầu xông mỗi lần 20 phút, từ ngày thứ 3 – 5 mỗi lần 25 phút, sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến hết bệnh. Khi bệnh đã khỏi, nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hắn. Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn so với người lớn, để khi quen dần mới tăng thời gian lên.

Theo giáo dục

Đằng xay chữa cảm, hậu sản

Cây đằng xay thường gọi là cây cối xay, hay còn gọi nhĩ hương thảo, giàng xay, co tó ép (Thái), phao tôn (Tày)… tên khoa học Abutilon indicum L hay Sida indica L.

Là loại cây mọc hoang khắp các tỉnh đồng bằng và trung bộ, trên các đồi núi thấp. Cây ưa ẩm, ưa ánh sáng, hơi chịu bóng. Mùa ra hoa của cây đằng xay vào tháng 2 – 3, mùa quả tháng 4 – 6 hằng năm.

dang-xay-chua-cam-hau-san
Đông y cho rằng, đằng xay có vị ngọt, tính mát, có công hiệu giảm đau do cảm gió, thanh huyết nhiệt, giải độc, lọc máu, khai khiếu, hoạt huyết, chữa mụn nhọt, thông tiểu tiện, chữa sốt, chữa tiểu đỏ… Liều dùng trung bình cho dạng thuốc sắc là  4 – 6g. Bị mụn nhọt thì lấy lá tươi giã nhỏ đắp mụn nhọt không kể liều lượng.
Sau đây là một số cách chữa bệnh đơn giản từ cây đằng xay.
* Chữa cảm sốt (kể cả đau đầu, ù tai, bí tiểu tiện): Rễ hoặc lá cây đằng xay  4 – 8g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.
* Chữa vàng da hậu sản: Lá đằng xay 12 – 16g, nhân trần 15g, sắc lấy nước uống thay nước trong ngày. Cần uống 5 – 7 ngày liền.
* Làm tăng lượng tinh dịch: Hoa đằng xay 15 – 20g, sắc hãm lấy nước uống hằng ngày.
BS Hoàng Xuân Đại (nguyên chuyên viên Bộ Y tế)

Nguồn kiến thức

Tác dụng của Hạt sen : dưỡng tâm, an thần, ngon, mát, bổ

Hạt sen dùng cho các trường hợp: tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược.

Tất cả các bộ phận của cây sen đều được dùng làm thuốc trong y học cổ truyền. Đặc biệt, hạt sen có nhiều dưỡng chất (tinh bột, protein, lipid, bêta-amyrin, anpha-amyrin, stigmasterol, bêta-sitosterol, campestola, Ca, P, Fe…), không những là nguyên liệu để chế biến nhiều món ngon trong ngày hè như chè hạt sen, cháo gà hạt sen, cơm chiên hạt sen… mà còn là vị thuốc quý cho sức khỏe.
7d7hatsen

Hạt sen tên thuốc là liên nhục, có vị ngọt, chát, tính bình; vào các kinh: tâm, tỳ và thận. Có tác dụng dưỡng tâm an thần, ích thận, bổ tỳ, sáp tràng, an thai, lợi thủy. Dùng cho các trường hợp di tinh đái hạ, tỳ hư tiết tả (tiêu chảy), tiêu chảy lỏng, lỵ dài ngày, hồi hộp mất ngủ, cơ thể suy nhược. Hằng ngày có thể dùng 12g – 20g dưới dạng nấu, hầm, tán bột, làm mứt…

Một số cách dùng hạt sen làm thuốc

Dưỡng tâm, an thần:toan táo nhân 12g, hạt sen 12g, viễn chí 12g, phục thần 12g, hoàng kỳ 12g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, trần bì 6g. Sắc uống. Trị chứng hư lao tâm phiền không ngủ được, tim đập hồi hộp, đầu váng, mắt hoa…

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy:hạt sen 16g, hoàng liên 6g, đảng sâm 12g. Sắc uống. Dùng trị chứng tỳ hư tiết tả, lỵ lâu ngày không khỏi.

Ích thận, cố tinh: hạt sen, ba kích, bổ cốt chỉ, sơn thù, long cốt, phụ tử, phục bồn tử. Các vị liều lượng bằng nhau. Nghiền chung thành bột mịn, dùng hồ nếp làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, vào lúc đói, chiêu với nước muối loãng. Dùng trị chứng thận hư, di tinh, băng lậu, đới hạ…

Một số món ăn – bài thuốc có hạt sen

Chè bột trứng gà hạt sen:hạt sen 30g, đường 30g, rượu 30ml, trứng gà 1 quả. Nấu hạt sen chín nhừ, cho đường, rượu và lòng đỏ trứng, khuấy tan. Đun sôi lại, cho ăn trước khi đi ngủ. Dùng cho các trường hợp bị bệnh lâu ngày, người cao tuổi, sau đẻ, cơ thể suy nhược.

Chè hạt sen củ súng:hạt sen 30g, củ súng 30g, đường liều thích hợp. Nấu chè cho ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng. Dùng cho các trường hợp di tinh, tảo tiết, đái hạ huyết trắng, kinh nguyệt quá nhiều, tiểu đêm nhiều.

Hạt sen hầm thịt lợn: hạt sen 30g, thịt lợn nạc 150g, thêm gia vị hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp doạ sẩy thai, sẩy thai liên tiếp, phụ nữ có thai đau lưng.

Cháo hạt sen:hạt sen 30g, gạo tẻ 150g. Nấu cháo, thêm đường hoặc muối. Dùng cho các trường hợp suy nhược cơ thể, tiêu lỏng dài ngày.

Kiêng kỵ: Hạt sen tính bình không độc, không có cấm kỵ đặc biệt nhưng các trường hợp đầy bụng, không tiêu, táo bón nên hạn chế.

Theo Sức khoẻ & Đời sống

Thiên ma – thực vật chữa hoa mắt nhức đầu rất tốt

Thiên ma là một loài thực vật đặc biệt có tác dụng chữa trị hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, chân tay tê dại….

Thiên ma thuộc họ lan, tên khoa học là: Rhizoma Gastodiae. Thiên ma còn gọi là định phong thảo, thần thảo, vô phong tự động thảo, chân tiên thảo, minh thiên ma, hợp ly… Thiên ma là một loài thực vật đặc biệt, kỳ lạ không có chất diệp lục, toàn thân màu vàng đỏ, trông xa như một mũi tên, rễ thẳng đứng giống hình chân người, lá hình vẩy cá, vì vậy còn được gọi là “cây mũi tên đỏ”.
thien-ma
Theo y học cổ truyền, thiên ma có vị ngọt, tính bình, vào kinh can. Công dụng: bình can tức phong, định kinh, trấn kinh, an thần, chỉ thống.

Chữa trị: hoa mắt, chóng mặt, đau đầu, chân tay tê dại, chứng yếu nửa người, các chứng co giật ở trẻ em, các chứng động kinh. Ngoài làm thuốc trị bệnh, thiên ma còn được dùng để ngâm rượu, pha trà uống, làm canh dưỡng sinh, nấu cháo… để điều trị các chứng tê nhức, đau mỏi hay bồi dưỡng cơ thể có kết quả rất tốt, phương pháp làm lại giản đơn. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Rượu xoa bóp: Thiên ma, ngưu tất, phụ tử, đỗ trọng mỗi thứ 60g ngâm với 5lít rượu tốt, xoa bóp điều trị các chứng tê nhức, đau mỏi tại chỗ hoặc toàn thân.

Trà thiên ma: Làm giảm huyết áp, bổ huyết, sáng mắt; điều trị chứng hoa mắt, chóng mặt đối với bệnh nhân tăng huyết áp. Thiên ma 10g, cúc hoa 10g, kỷ tử 10g, tang thầm 20g dùng nước sôi pha trà uống hàng ngày.
Thịt gà nấy thiên ma, món canh giúpcơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chống được phong hàn…

Canh thiên ma – thịt gà: Thiên ma tươi: 250g, gà trắng 1 con, nấm tươi 250g, dầu ăn 1 thìa canh nhỏ, muối, nước sạch lượng vừa đủ. Rửa sạch thiên ma, cắt từng miếng mỏng; thịt gà rửa sạch, chặt miếng; nấm tươi rửa sạch thái sợi. Cho dầu ăn vào rồi cho nấm, thịt gà, muối vừa đủ đảo cho ngấm kỹ rồi cho thêm nước, thiên ma vào đun chín là có thể dùng được. Công dụng: bình can, tức phong, trừ phong, giảm đau; tư bổ can âm, ích tinh, sáng mắt; làm cho cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, chống được phong hàn…

Thuốc sắc có thiên ma: Điều trị chứng đau, tê do thoái hóa đốt sống cổ, gai đôi:cát căn 36g, thiên ma 12g, uy linh tiên 15g, bạch thược 15g, tử đan sâm 15g. Nếu cổ vai đau nhiều gia ô tiêu xà, ngô công; nếu tay tê nhiều gia tang chi, tần giao; đau đầu nhiều gia xuyên khung, mạn kinh tử; hoa mắt chóng mặt nhiều gia thạch quyết minh, câu kỷ tử. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, trong 2 tuần.

Điều trị tăng huyết áp tiên phát thể can dương thượng nghịch (đau đầu, chóng mặt, mặt đỏ, phiền táo, hay cáu gắt, miệng đắng, khát nước, mạch huyền); không có biểu hiện suy tim, cơn đau thắt ngực hay suy giảm chức năng gan thận: thiên ma 9g, câu đằng 12g, thạch quyết minh 18g, chi tử 9g, hoàng kỳ 9g, ngưu tất 12g, đỗ trọng 9g, ích mẫu thảo 9, tang ký sinh 9g, dạ giao đằng 9g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, liền trong 4 tuần.

Theo Sức khoẻ & Đời sống

Thuốc bổ mang tên bắp cải

 Bắp cải không chỉ là món rau quen thuộc trên mâm cơm của nhiều gia đình mà còn là một loại thuốc chữa bệnh hiệu quả.

Trong bữa ăn gia đình, bắp cải được các bà nội trợ biến hóa thành nhiều món ăn ngon. Bắp cải luộc thơm ngọt vị gừng, bắp cải xào cà chua thanh mát, dưa bắp cải muối giòn rụm, chấm cùng nước mắm cay thật ngon miệng. Cầu kỳ hơn, nhiều người còn làm gỏi bắp cải, bắp cải cuốn thịt bằm nấu canh. Nhiều người mới chỉ biết bắp cải là loại rau lành, mát, dễ ăn mà chưa biết hết những giá trị y học quý giá của nó.
bap cai 1
Từ xa xưa, ở châu Âu, người ta đã gọi bắp cải là thuốc chữa bệnh của người nghèo. Loại rau dẫn đầu trong các loại rau họ cải này chứa một nguồn dinh dưỡng rất cao: khoảng 90% nước, 1,8% đạm, 5,4% chất bột đường, 1,6% chất xơ và nhiều khoáng chất, vitamin quý như can-xi, phốt-pho, sắt, vitamin C, B1, B2… Với ưu thế đó, người dân đã đưa bắp cải vào làm đẹp, dinh dưỡng và chữa bệnh.

Cách đây hơn 60 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện trong bắp cải tươi có chứa một chất gọi là vitamin U. Đây là chất chống loét, có khả năng chữa lành nhanh chóng các ổ loét nhân tạo gây ra trong bộ máy tiêu hóa của loài chim và chuột bạch. Sau đó, người ta dùng lá bắp cải tươi để làm thuốc điều trị loét, viêm dạ dày và ruột.

Trong sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, giáo sư Đỗ Tất Lợi ghi nhận, có những trường hợp loét tá tràng 14 – 20 năm nhưng cũng có thể chữa lành bằng rau bắp cải.

Tuy nhiên vitamin U là chất không bền vững, tan trong nước, dễ oxy hóa và bị hủy hoại ở nhiệt độ cao. Vì thế, để chữa bệnh, các thầy thuốc Đông y không khuyến khích việc chế biến rau quá kỹ. Muốn tận dụng tối đa vitamin U, bạn nên dùng dưới dạng nước ép rau tươi là tốt nhất.

Hiện nay áp lực công việc, ăn uống không điều độ, uống rượu bia nhiều khiến tình trạng bệnh nhân bị đau, viêm. Loét dạ dày ngày càng gia tăng. Theo thống kê của Hội Khoa học Tiêu hóa Việt Nam, có tới 70% dân số Việt Nam bị bệnh đau dạ dày. Căn bệnh này khiến người bệnh đau đớn, khó chịu, ăn uống kém, rối loạn tiêu hóa và nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến ung thư.

Cùng với việc uống thuốc điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ, người bệnh có thể phối hợp tự chữa bệnh ở nhà bằng nước ép rau bắp cải.

Cách chế biến đơn giản như sau: Bắp cải bóc rời từng lá, không bỏ lá xanh, rửa thật sạch nhiều lần dưới vòi nước, ngâm qua nước muối. Sau đó, bạn dùng dao dọc đôi từng lá đều theo sống lá, chần trong nước sôi rồi vớt ra để đến khi ráo nước. Cho rau vào cối sạch, giã nát, đổ ra vải màn hay gạc sạch để vắt lấy nước uống, bã bỏ đi. Với cách này, cứ 1kg rau bắp cải tươi, bạn thu được 350 – 500ml nước ép.

Để dễ uống, bạn có thể cho thêm đường hay muối vào nước ép và uống thay nước. Liều dùng mỗi ngày khoảng 1.000ml, chia thành nhiều lần uống, mỗi lần 200 – 250ml.

Không chỉ tốt cho người bị loét dạ dày, giới nghiên cứu còn công nhận bắp cải có khả năng chống ung thư vú, ung thư ruột kết. Tác dụng tuyệt vời này là do trong rau bắp cải có chứa chất chống ung thư như sulforaphane, phenethyl isothiocyanate và indole – 3 – carbinol.

Tuy nhiên, bạn lưu ý, bắp cải có thể gây bướu cổ. Do đó, người bị rối loạn tuyến giáp hoặc bướu cổ không nên ăn uống nhiều bắp cải. Ngoài ra, những người suy thận nặng, phải chạy thận nhân tạo cũng không nên dùng.

Trước kia, bắp cải có nhiều vào vụ mùa đông xuân. Dưới tiết trời se lạnh, những chiếc bắp cải trên ruộng hay trong vườn bắt đầu đến mùa thu hoạch. Trời càng lạnh, lá bắp cải càng cuộn chặt và ăn ngon hơn.

Hiện nay, với quy trình trồng trọt hiện đại, bắp cải đã có mặt quanh năm trên các sạp rau ở chợ, trong siêu thị. Bạn có thể dễ dàng mua và chế biến theo nhiều cách để phù hợp với khẩu vị gia đình. Để phòng tránh rau nhiễm hóa chất, bạn nên mua rau của các cơ sở sản xuất rau an toàn. Ngoài ra, trước khi chế biến dưới bất kỳ hình thức nào, bạn nên tách từng lá, rửa sạch và ngâm với nước muối khoảng 15 phút. Bạn nên ăn bắp cải ít nhất hai lần/tuần.

Theo sức khỏe

Dược thiện trị viêm phế quản

Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Phong hàn và phong nhiệt xâm phạm vào cơ thể làm phế khí mất khả năng tuyên giáng gây ho, đờm nhiều; khí táo làm tân dịch của phế bị giảm sút, hàn thấp dương hàn sinh đàm ẩm, nhiệt thương phế làm phế thận âm hư, dẫn đến ho, đàm nhiều.

Một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:

Viêm phế quản cấp tính: Thường do phong hàn, phong nhiệt và khí táo gây ra.

Do phong hàn: Gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn, tuyên phế. Dùng 1 trong các bài thuốc:

Bài 1: tía tô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Hạnh tô tán: hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 – 20g chia làm 2 lần.

Do phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Người bệnh ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế. Dùng 1 trong các bài thuốc sau:

Bài 1: Tang hạnh thang gia giảm: tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Tang cúc ẩm gia giảm: tang diệp, cúc hoa, liên kiều, ngưu bàng tử, hạnh nhân, tiền hồ (mỗi vị 12g); bạc hà 6g; cát cánh 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 – 40g.

Do khí táo: Gặp ở viêm phế quản cấp khi trời hanh. Người bệnh ho khan nhiều, ngứa họng, miệng họng khô, nhức đầu, mạch phù sác. Phép trị là hành phế nhuận táo, chỉ khái. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: tang bạch bì, mạch môn, lá tre, sa sâm, thiên môn, hoài sơn (mỗi vị 12g); lá hẹ 8g; thanh cao 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Thanh táo cứu phế thang: tang diệp 12g, thạch cao 12g, cam thảo 16g, mạch môn 12g, tỳ bà diệp 12g, hạnh nhân 8g, gừng 4g, a giao 8g, đẳng sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Viêm phế quản mạn tính: được chia làm 2 thể đàm thấp và hàn ẩm.

Thể đàm thấp: Người bệnh ho hay tái phát, trời lạnh và buổi sáng ho nhiều, đờm dễ khạc màu trắng loãng hoặc cục dính, bụng đầy tức, kém ăn, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoạt. Phép trị là táo thấp hóa đàm, chỉ khái. Dùng một trong các bài:

Bài 1: vỏ quýt sao 10g, vỏ vối sao 10g, hạt cải trắng 10g, bán hạ chế 8g, cam thảo dây 8g, gừng 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nhị trần thang gia giảm: trần bì 10g, bán hạ chế 8g, phục linh 10g, cam thảo 10g, hạnh nhân 12g, thương truật 8g, bạch truật 12g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu đờm nhiều, gia bạch giới tử 8g; tức ngực, gia chỉ xác 12g.
la-dau-cho-vi-thuoc-tang-diep-bc59f
Thể hàn ẩm: Hay gặp ở người bệnh viêm phế quản mạn tính kèm theo giãn phế nang ở người già, người giảm chức năng hô hấp, tâm phế mạn. Người bệnh ho hay tái phát, khó thở, khi trời lạnh ho tăng, đờm nhiều loãng trắng, sau khi vận động, triệu chứng trên càng nặng hơn, người bệnh không nằm được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch tế nhược. Phép trị là ôn phế hóa đàm. Dùng bài thuốc: ma hoàng 6g, quế chi 6g, can khương 4g, tế tân 4g, ngũ vị tử 6g, bán hạ chế 8g, cam thảo 4g, bạch thược 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu ho nhiều, gia tử uyển 12g, khoản đông hoa 8g. Nếu rêu ứ đọng nhiều, gia đinh lịch tử 12g.

Nguồn sức khỏe gia đình

Dùng sả trị bệnh

Hầu như quanh nhà ở vùng nông thôn đều có trồng một số bụi sả để bình thường dùng làm gia vị và dùng để xông giải cảm, diệt muỗi quanh nhà…  sả còn nhiều tác dụng khác mà chúng ta chưa biết đến, trong đó có công dụng làm thuốc trị bệnh.

Mô tả cây

Cây sả còn được gọi là cỏ sả, hương mao, tên khoa học là Cymbopogon citratus (DC.) Stapf., thuộc họ Lúa (Poaceae).

Dung-sa-lam-thuoc

Sả có vị đắng, tính ấm, mùi thơm, tác dụng đánh tan mùi hôi thối, trừ tà khí, giải cảm hàn thấp, nóng sốt, trị đau bụng lạnh, nôn mửa.

Người ta trồng sả để lấy thân rễ làm gia vị ăn sống, làm dưa, ướp thịt cá. Lá sả dùng nấu nước gội đầu, thường phối hợp với một số cây có tinh dầu khác (bạc hà, kinh giới, lá chanh, ngải cứu, lá buởi…) để nấu nước xông giải cảm.

Sả còn được dùng để cất tinh dầu. Củ sả chứa 1 – 2% tinh dầu màu vàng nhạt, thơm mùi chanh mà thành phần chủ yếu là citral (65 – 85%), geraniol (40%). Mỗi lần dùng 3 – 6 giọt pha trong sữa và nước thành nhũ tương, có tác dụng thông trung tiện, chống nôn, giảm đau, chữa đầy bụng, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy.

Dùng ngoài, tinh dầu sả phối hợp với nhiều loại tinh dầu khác để xoa bóp làm giảm đau xương, đau mình, nhức mỏi. Bôi trên da hoặc phun trong nhà, dầu sả là thuốc diệt muỗi, bọ chét.

Kinh nghiệm dùng sả điều trị một số bệnh

Ngăn ngừa ung thư: một số nghiên cứu cho thấy mỗi 100g sả chứa đến 24,205µg beta-carotene, những chất chống oxy hóa mạnh mẽ có thể giúp ngăn ngừa ung thư. Năm 2006, một nhóm nghiên cứu do giáo sư Yakov Weinstein và bác sĩ Rivka Ofir thuộc Đại học Ben Gurion (Negev- Israel) cho thấy trong cây sả có chất citral, một hợp chất chính có tác dụng “tiêu diệt các tế bào chết trong các tế bào gây ung thư và giữ lại tế bào bình thường. Cũng theo nghiên cứu này, nồng độ citral có trong sả cũng tương đương với một tách trà. Uống nước sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy, uống một liều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi chứa đủ chất dầu làm cho tế bào ung thư tự tử trong ống nghiệm. Với những người đang chữa bệnh bằng tia xạ thì mỗi ngày uống 8 ly cây sả tươi trụng với nước sôi.

Cải thiện hệ thần kinh: tinh dầu sả được sử dụng để tăng cường và cải thiện các chức năng của hệ thần kinh, thông kinh lạc. Nó hỗ trợ trong điều trị một số rối loạn của hệ thần kinh như bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, co giật, căng thẳng, chóng mặt, run rẩy chân tay, động kinh…

Giúp tiêu hóa: trà từ cây sả và tinh dầu sả (có thể uống 3 – 4 giọt với nước đun sôi để nguội) có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa kém, ăn chậm tiêu, đầy bụng, buồn nôn, nôn mửa, kích thích trung tiện, đau dạ dày, nóng trong, co thắt ruột, tiêu chảy. Nhờ có khả năng thư giãn các cơ dạ dày, trà hoặc tinh dầu sả không chỉ giúp loại bỏ khí từ ruột, mà còn ngăn ngừa sự đầy hơi, kích thích tiêu hóa, khử hôi miệng, tiêu đờm. Uống 3 – 6 giọt tinh dầu chữa đau bụng đầy hơi.

Giải độc: ăn sả cũng có tác dụng giải độc cơ thể bằng cách tăng cường số lượng và tần suất đi tiểu (thông tiểu tiện). Điều này giúp cho gan, đường tiêu hóa, tuyến tụy, thận và bàng quang được sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách hỗ trợ cơ thể để loại bỏ các chất độc hại không mong muốn và acid uric qua đường tiểu bài tiết ra ngoài.

Giải độc rượu: dùng 1 bó sả giã nát, thêm nước lọc, gạn lấy 1 chén, uống hết. Người say rượu uống vào sẽ nhanh chóng tỉnh và đỡ mệt, đỡ nhức đầu.

Giảm huyết áp: bổ sung các tinh chất có trong sả sẽ có hiệu quả trong việc giảm huyết áp. Nó làm tăng tuần hoàn máu và giúp giảm bớt tất cả các vấn đề của huyết áp. Uống một ly nước trái cây có sả có thể làm giảm huyết áp đáng kể.

Giảm đau: tinh chất sả có thể làm giảm đau tất cả các loại viêm và các cơn đau nhức. Vì vậy, nếu bị đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở các bộ phận khác, hãy uống trà sả vì chắc chắn nó sẽ hữu ích cho bạn.

Hỗ trợ da: chất sả là một nguyên liệu không thể thiếu trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì nó có rất nhiều lợi ích cho da. Tinh dầu sả cải thiện chất lượng da như giảm mụn trứng cá và mụn nhọt. Nó cũng có tác dụng làm săn chắc các cơ và các mô trong cơ thể.

Tốt cho tóc: phụ nữ thường nấu nước sả để gội đầu cho trơn tóc, sạch gầu, ít rụng tóc và có thể tránh được một số bệnh về tóc.

Trị ho do cảm lạnh, cảm cúm: củ sả 40g, gừng tươi 40g. Hai thứ rửa sạch, giã nát, nấu với 650ml nước, sôi khoảng 10 phút, bỏ bã, thêm đường vào nấu cô lại thành cao, ngậm nuốt dần trong ngày.

Trị cảm sốt do phong hàn, nhức đầu, không ra mồ hôi: lá sả, lá chanh, lá bưởi, hương nhu, húng chanh, bạc hà, ngải cứu, kinh giới… một lần dùng 4 – 6g mỗi loại nấu nước xông cho ra mồ hôi.

Giải cảm:

– Kinh giới, tía tô, trắc bách diệp, bạc hà, chanh, ngải cứu, lá tre, lá ổi (mỗi nồi dùng 5 loại lá)… đun sôi, dùng để xông giải cảm rất hiệu nghiệm.

– 15 – 30g củ sả hoặc lá tươi nấu nước xông.

– Lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu, thêm 3 – 4 củ tỏi (thiếu một thứ cũng không được), nấu nước xông sẽ trị được nhức đầu (do thời tiết).

– Lá sả, lá tre, lá bưởi (hoặc lá chanh), lá tía tô, lá ổi, nấu nước xông, trước khi xông nên múc sẵn một chén để riêng, xông xong uống rồi đắp chăn mằm một lúc sẽ đỡ.

Giảm cảm giác buồn nôn khi có thai: củ sả băm nhỏ hãm với nước sôi uống hàng ngày.

Giải nhiệt, thông tiểu, tiêu thực: lá sả tươi 30 – 40g nấu với 1 lít nước, đun sôi khoảng 5 phút, uống.

Trị nhức đầu: lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu với vài củ tỏi nấu nước xông.

Trị ho: rễ sả, trần bì, sinh khương, tô tử, mỗi vị 250g (4 vị này giã nát, ngâm rượu 40oC vừa đủ để được 200ml); bách bộ bỏ lõi, thái nhỏ, sao khô 500g; mạch môn bỏ lõi 300g; tang bạch bì tẩm mật, sao vàng 200g (3 vị này sắc và cô đặc lại thành 300ml cao lỏng), trộn lẫn cao lỏng và rượu thuốc, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10ml.

Sạch răng miệng: củ sả non rửa thật sạch, xắt nhỏ, phơi hoặc sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 10g, ngâm với nước nóng, dùng để súc miệng.

Trị đau răng: sắc sả lấy nước súc miệng hàng ngày.

Trị hôi nách: củ sả, giã nát, hợp với phèn phi, bôi ngày 1 lần. Dùng liên tục 7 – 10 ngày giúp cải thiện mùi hôi đáng kể.

Trị ăn uống không tiêu, đầy bụng:   củ sả giã nát, ép lấy nước cốt, phối hợp với mạch nha uống.

Trị đau dạ dày, tiêu chảy do lạnh:  củ sả 12g, gừng nướng sém vỏ ngoài 6 – 12g, củ riềng (sao) 12g, hương phụ (sao) 12g, sắc với 750ml nước, còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Trị tiêu chảy:

– Rễ sả 10g; củ gấu, vỏ rụt, mỗi vị 8g; vỏ quít, hậu phác, mỗi vị 6g; sắc uống.

– Rễ sả 10g, búp ổi 8g, củ riềng già 8g, thái nhỏ, sao qua, sắc đặc uống.

Trị đau khớp:tinh dầu sả trộn với dầu dừa bôi vào chỗ đau hoặc sưng.

Trị phù nề chân, tiểu ít, thấp thũng: lá sả 100g, rễ cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề, mỗi thứ 50g. Rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Dùng 3 – 4 ngày.

Trị hai chân tự nhiên phù: củ sả 12g, lá và bông mã đề 12g, sắc uống thay nước trà.

Nguồn sức khỏe đời sống