Tag Archives: cao huyết áp

Ngăn ngừa đột quỵ

Theo khuyến nghị của Tổ chức Đột quỵ Thế giới – WSO, những người có nguy cơ bị đột quỵ hay đã từng bị đột quỵ nên thực hiện 6 hành động sau

ngan-ngua-dot-quy

1. Biết các yếu tố nguy cơ cá nhân của bạn: cao huyết áp, tiểu đường, và cholesterol trong máu cao.

2. Vận động cơ thể và tập thể dục thường xuyên.

3. Tránh béo phì bằng cách giữ một chế độ ăn uống lành mạnh.

4. Hạn chế uống rượu.

5. Tránh khói thuốc lá. Nếu bạn hút thuốc, hãy tìm sự giúp đỡ để ngăn chặn ngay bây giờ.

6. Tìm hiểu để nhận ra những dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ và làm thế nào để hành động.

Theo ANTĐ

Cao huyết áp ở trẻ

Cao huyết áp thường được xem là căn bệnh chỉ có ở người lớn tuổi. Tuy nhiên, trẻ em cũng có thể bị cao huyết áp, thậm chí ở giai đoạn nhũ nhi.

Điều này có thể khiến các bậc phụ huynh lo lắng, bởi cao huyết áp có thể không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe và lối sống của bệnh nhân mà còn đe dọa tính mạng nếu không được điều trị.

Vấn đề ở đây là quan niệm lầm lẫn cho rằng cao huyết áp chỉ biểu hiện muộn, ở thời kì trưởng thành. Thậm chí đa số người lớn bị cao huyết áp không nghĩ rằng nguồn gốc của bệnh có thể có liên quan đến thời thơ ấu của họ. Họ cũng không suy nghĩ về những tác động nguy hiểm của cao huyết áp có thể ảnh hưởng đến con cái mình.

cao-huyet-ap-o-tre

Từ khi trẻ được 3 tuổi, việc đi khám sức khỏe đều đặn thông thường bao gồm việc đo huyết áp. Nhưng việc xác định một mức cao huyết áp đơn thuần, ít nhất qua các lần đo riêng biệt – lại hiếm khi được thực hiện, đặc biệt ở trẻ con.

Cao huyết áp là gì?

Cao huyết áp được định nghĩa là mức huyết áp tăng lên trên ngưỡng bình thường có thể gây tổn thương cho tim, não, thận và mắt.

Huyết áp thay đổi từng lúc và chịu ảnh hưởng không chỉ bởi sự hoạt động và nghỉ ngơi mà còn do nhiệt độ, chế độ ăn, trạng thái xúc cảm, tư thế và thuốc men. Nhưng một cách chính xác thì huyết áp là áp lực mà máu cố gắng chống lại thành mạch khi tim bơm máu. Áp lực cao hơn khi tim co bóp và thấp hơn khi nó giãn; nhưng luôn có một áp lực nhất định trong động mạch. Áp huyết đó do 2 lực tạo ra – một do tim khi nó tống máu vào động mạch và xuyên suốt hệ tuần hoàn, một do dộng mạch tạo ra khi nó đề kháng lại dòng máu này.

Người ta đo huyết áp, tính bằng milimet thủy ngân (mmHg), sử dụng một dụng cụ y khoa gọi là huyết áp kế. Một cái bao quấn được quấn vòng quanh cánh tay và được bơm lên để tạo áp lực. Khi bao quấn bị căng đầy, nó ép một động mạch lớn ở tay, ngăn dòng máu chảy trong một lúc. Huyết áp được đo khi không khí từ từ được xả ra, điều đó cho phép máu bắt đầu chảy qua động mạch trở lại khi áp huyết trong động mạch cao hơn áp lực trong bao quấn.

Dùng ống nghe đặt trên động mạch giúp bác sĩ nghe được xung động đầu tiên khi máu chảy qua – đó là huyết áp tâm thu (hay huyết áp ở đỉnh của mỗi nhát bóp). Huyết áp tâm trương (huyết áp khi tim nghỉ ngơi giữa các nhát bóp) được ghi nhận khi âm thanh biến mất. Khi đọc một trị số huyết áp, số lớn hơn đại diện cho huyết áp tâm thu và số nhỏ hơn thể hiện huyết áp tâm trương. Ví dụ: 120/80 (120 trên 80) có nghĩa là huyết áp tâm thu là 120 và huyết áp tâm trương là 80.

Huyết áp thấp hơn 120/80 được xem là bình thường đối với thiếu niên và người lớn. Mức huyết áp cao giới hạn tâm thu từ 120 đến 139 hoặc tâm trương từ 80 đến 89 cần được theo dõi sát. Trị số huyết áp bằng hay lớn hơn 140/90 được xem là cao và nên được đánh giá kĩ hơn và có thể điều trị.

Khi đứa trẻ lớn, huyết áp của chúng tiếp tục tăng từ mức huyết áp tâm thu khoảng 90 ở tuổi nhũ nhi đến bằng trị số của người lớn ở tuổi vị thành niên. Ở trẻ em, huyết áp cao được định nghĩa khi huyết áp lớn hơn percentile thứ 95 theo tuổi, chiều cao và giới tính (nói cách khác, 95% trẻ em cùng tuổi, chiều cao và giới tính sẽ có huyết áp dưới trị số này).

Trị số giữa percentile thứ 90 và 95 được xem là “bình thường cao” hay “giới hạn”. Trẻ em có mức huyết áp lớn hơn percentile thứ 90 có khả năng bị cao huyết áp khi lớn gấp 3 lần so với trẻ có mức huyết áp trung bình. Người thầy thuốc sẽ lấy trung bình của ít nhất 3 lần đo khác nhau trước khi xác định có bị cao huyết áp hay không hoặc có nguy cơ bị cao huyết áp hay không.

Điều quan trọng cần ghi nhớ là huyết áp khác nhau tùy mỗi người. Ví dụ, mức huyết áp được xem là bình thường với một phụ nữ có thể là cao với một bé gái.

Nguyên nhân gây ra tăng huyết áp?

Nguyên nhân gây tăng huyết áp đa dạng, tùy thuộc tuổi của trẻ. Tuổi càng nhỏ, cao huyết áp càng có khả năng hướng tới một bệnh lý đặc biệt. Trong đại đa số trường hợp ở tuổi thiếu nhi, nguyên nhân là bệnh lý của thận; mặc dù những bệnh khác như là dị dạng mạch máu hay rối loạn hormone cũng có thể là nguyên nhân của cao huyết áp. Một vài loại thuốc (như steroides hay thuốc ngừa thai) cũng có thể dẫn đến cao huyết áp.

Ngay cả trẻ sơ sinh cũng có thể bị cao huyết áp. Nguyên nhân thường nhất của cao huyết áp ở trẻ sơ sinh là những biến chứng của sinh non như huyết khối trong động mạch thận hay loạn sản phế quản phổi. Nguyên nhân thường gặp khác ở trẻ sơ sinh là bất thường thận bẩm sinh và hẹp eo động mạch chủ – một khiếm khuyết bẩm sinh khá thường gặp biểu hiện là hẹp 1 phần động mạch chủ, động mạch chính đưa máu ra khỏi tim.

Trẻ càng lớn càng nhiều khả năng bị cao huyết áp vô căn, huyết áp cao mà không nhận định được nguyên nhân. Cao huyết áp vô căn phát hiện chủ yếu ở tuổi thiếu niên và người lớn. Đa số thiếu niên cao huyết áp có cùng nguyên nhân như người lớn: tiền sử gia đình, chế độ ăn, căng thẳng, béo phì, thiếu luyện tập thường xuyên. Dùng quá nhiều rượu và chất gây nghiện cũng có thể gây huyết áp cao.

Theo khoa học

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

 Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Những tiến bộ trong điều trị bệnh tim mạch được thực hiện bởi các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Baptist Wake Forest ở Bắc Carolina, Mỹ cho thấy sự khác biệt trong cơ chế gây ra huyết áp cao và nguy hiểm hơn ở phụ nữ so với nam giới.

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

Phụ nữ bị Huyết áp cao gặp nhiều nguy hiểm hơn nam giới

TS. Carlos Ferrario, tác giả chính của dự án cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu 100 nam giới và nữ giới ở độ tuổi 53 trở lên mắc cao huyết áp nhưng chưa áp dụng biện pháp điều trị. Kết quả cho thấy, so với nam giới có cùng mức độ cao huyết áp, phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh mạch máu cao hơn 30-40%. Các nhà khoa học cũng quan sát thấy sự khác biệt sinh lý trong hệ thống tim mạch của nữ giới, trong đó bao gồm các cấp, các loại hormon có liên quan đến việc điều chỉnh huyết áp. Theo TS. Ferrario: Quan niệm y khoa trước đây cho rằng triệu chứng cao huyết áp là chung ở cả hai giới nên biện pháp chữa trị cũng áp dụng như nhau nhưng kết quả nghiên cứu này cho thấy cao huyết áp ở nữ giới cần được điều trị sớm và tích cực hơn ở nam giới. Đồng thời, người mắc cao huyết áp nên có lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống khoa học, tập thể dục thường xuyên, tránh hút thuốc, uống rượu để giảm nguy cơ huyết áp cao.

Q.Tuấn
Theo Medical,

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây sa kê

Trong 100g phần quả ăn được có các chất sau: protein 1,2g %, chất béo 0,3g %, chất bột đường 23g %, chất xơ 1,34 %, chất khoáng 0,94 %, gồm kali 296mg %, calci 27mg %, magiê 26mg %, đồng 0,12mg %, sắt 0,8mg %, mangan 0,14mg % và các Vitamin B1, B2, C, PP.

Lá sa kê có tác dụng kháng sinh, tiêu viêm, lợi tiểu, trị tiêu chảy, đái tháo đường, huyết áp cao, sỏi thận, bệnh gút và viêm gan vàng da. Ngày dùng một lá, sắc uống như nước trà, nhưng chỉ dùng một tuần, lại nghỉ một tuần, không nên uống liên tục thay nước trà. Rễ sa kê có tính làm dịu, trừ ho. Vỏ cây Sa-kê có tác dụng sát khuẩn.

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây sa kê

1. Chữa mụn, nhọt

Theo lương y Phạm Như Tá, lá sa kê thường được đốt thành than, tán mịn, phối hợp với dầu dừa và nghệ tươi, giã nát, làm thành bánh để đắp chữa mụn rộp. Hoặc dùng lá sa kê và lá đu đủ tươi, lượng bằng nhau, giã với chút vôi (vôi ăn trầu) cho đến khi có màu vàng dùng để đắp chữa sưng háng, mụn nhọt, áp xe.

mot-so-bai-thuoc-tri-benh-tu-cay-sa-ke
2. Viêm gan

Dân gian sử dụng lá sa kê tươi đem nấu nước uống để chữa phù thũng và dùng cho người bị viêm gan. Chẳng hạn người ta dùng 100 gr lá sa kê tươi, 50 gr diệp hạ châu (chó đẻ) tươi, 50 gr củ móp gai tươi, 50 gr cỏ mực khô đem nấu nước chung để uống.

3. Cao huyết áp

Một số trường hợp có huyết áp cao, người ta dùng 2-3 lá sa kê tươi đã vàng vừa rụng xuống, cùng 50 gr lá chè xanh và 50 gr rau bồ ngót tươi đem nấu nước uống trong ngày.

4. Chữa gout

Với bệnh gút, dùng độ 100 gr lá sa kê tươi, 100 gr dưa chuột và 50 gr cỏ xước khô đem nấu nước uống trong ngày.

5. Chữa tiểu đường

Với bệnh tiểu đường (thể 2) thì lấy 100 gr lá sa kê tươi, 100 gr trái đậu bắp tươi, và 50 gr lá ổi còn non đem nấu nước để uống trong ngày.

6. Viêm gan vàng da

Những người bị viêm gan vàng da, có thể dùng lá sa kê còn tươi chừng 100g, diệp hạ châu tươi 50g, củ móp gai tươi 50g, cỏ mực khô 20-50g. Tất cả đem nấu chung để lấy nước dùng trong ngày.

7. Chữa đau răng

Khi bị đau răng, để chữa cơn đau tạm thời trước khi đến khám ở nha sĩ, có thể lấy rễ cây sa kê đem nấu nước ngậm và súc miệng.

Theo giáo dục

Phụ nữ mang thai dễ tăng huyết áp cao nếu ngủ ngáy

Các bác sĩ tại Trung tâm Nghiên cứu các dạng khủng hoảng liên quan đến hệ thần kinh tại Trường đại học Michigan, Mỹ cho biết: phụ nữ mang thai ngủ ngáy có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp 2 lần so với người bình thường.

Nghiên cứu tập trung vào 1.700 phụ nữ mắc chứng ngủ ngáy khi mang thai (số này chiếm khoảng 1/4 số phụ nữ mang thai thông thường) tại Mỹ. Phần lớn trong số họ có nguy cơ mắc chứng tăng huyết áp cao gấp đôi so với những phụ nữ mang thai bình thường khác. Theo BS. Louise O’Brien, tình trạng này có thể dẫn tới chứng kinh giật nguy hiểm trong quá trình mang thai.  BS. O’Brien còn cho biết thêm: những phụ nữ này còn có nguy cơ sinh ra những đứa trẻ có cân nặng và kích thước nhỏ hơn bình thường.

phu-nu-mang-thai-de-tang-huyet-ap-cao-neu-ngu-ngay

Việc ngủ ngáy khi mang thai là điều rất khó xử lý, bởi nó liên quan đến tình trạng hẹp đường hô hấp ở người mẹ và rất nguy hiểm cho bào thai, thậm chí có thể gây tử vong cho đứa trẻ ngay từ khi còn trong bụng mẹ do thiếu ôxy. Các chuyên gia cho rằng: phụ nữ mang thai nếu mắc phải chứng ngủ ngáy cần hết sức cẩn trọng trước các dấu hiệu về sức khoẻ, bất kỳ một biểu hiện bất thường về sức khoẻ của người mẹ đều có liên quan mật thiết đến tình trạng sức khoẻ của đứa trẻ trong bụng.

Theo y học cổ truyền

Giá đỗ là một thực phẩm tốt cho sức khỏe

Thông tin về lực lượng chức năng TP Hà Nội phát hiện, bắt giữ 80.000 tuýp thuốc kích thích không rõ nguồn gốc có thể khiến giá đỗ lớn thêm từ 1-2cm chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ lại dấy lên nỗi lo về thị trường giá đỗ. Tẩy chay hay vẫn ăn? Tự làm hoặc mua thì cần lựa chọn giá như thế nào?

Độc chất trong giá đỗ là gì?

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), các loại hóa chất kích thích giá đỗ tăng trưởng nhanh thường bao gồm các chất p-chlorophenoxyacetic axit và 6-benzylaminopurine được hòa tan trong dung dịch Na2CO3. Hai hợp chất này đều không có trong danh mục các hóa chất được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định và cũng không có trong danh mục các thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trưởng được phép sử dụng do Bộ NN&PTNT quy định.

Cùng với Hà Nội, Trung tâm Y tế dự phòng quận Bình Thạnh, TPHCM cũng đã lấy mẫu phân tích, rà soát, hóa chất dùng để sản xuất giá đỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc do Công ty TNHH Phú Dung, ở Giang Tô sản xuất. Theo đó, các chất phát hiện gồm hoạt chất 6-benzylaminopurine thuộc nhóm cytokinin và gibberelin A28. Công dụng của các loại hoạt chất trên là giúp giá đỗ chóng nảy mầm. Tuy nhiên, đây là những hoạt chất chưa được nghiên cứu, khảo nghiệm và chưa được phép sử dụng ở Việt Nam.

gia-do-la-mot-thuc-pham-tot-cho-suc-khoe

Vì sao không nên tẩy chay?

Nhiều người quá lo lắng độc chất có trong giá đỗ nên đã tẩy chay luôn món ăn này. Tuy nhiên, giá đỗ (làm từ các loại đỗ) là một thực phẩm tốt cho sức khỏe. Trong Đông y, giá đỗ xanh có tác dụng giải độc đa năng, kể cả thạch tín là một khoáng vật rất độc. Đỗ tương sau khi ngâm thành giá đỗ không những giữ nguyên được toàn bộ giá trị dinh dưỡng vốn có mà còn làm tăng thêm lượng vitamin C và amino axit, có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn bệnh tim mạch. Giá đỗ tương có những enzym có thể kháng lại carcinogens (các tác nhân gây ung thư). Nếu bổ sung giá đỗ tương trong khẩu phần ăn hằng ngày còn có tác dụng phòng chống hiệu quả bệnh ung thư trực tràng và một số bệnh ung thư khác do trong thành phần của giá đỗ tương có chứa lục diệp tố. Giá đỗ tương là một loại thực phẩm rất tốt cho những người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ, người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol trong máu cao…

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, trong quá trình nảy mầm hạt đỗ xanh, hàm lượng vitamin E tăng cao, protein, đường, canxi, phốt pho, sắt, caroten, vitamin K, beta caroten, vitamin C, các vitamin nhóm B cũng tăng theo, gia tăng sự tổng hợp enzym SOD là chất chống ôxy hóa mạnh nhất hiện nay. Ngoài ra, giá đỗ xanh tốt với nam giới. Vitamin C trong giá đỗ xanh là chất chống ôxy hóa giúp tinh trùng không bị vón cục, dính kết, vì vậy làm tăng cơ hội thụ thai.

Cách chọn giá đỗ sạch

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, một mẻ giá đỗ làm theo đúng quy trình sẽ mất từ 4-5 ngày còn giá ngậm thuốc kích thích chỉ mất từ 1-2 ngày. Vì vậy, giá ngậm thuốc có rất ít rễ. Bạn chỉ cần nhìn vào rễ của giá là có thể phân biệt được giá sạch hay không. Cụ thể:

– Giá ngậm thuốc có thân dài, ít rễ hoặc không có rễ, màu trắng bắt mắt.

– Giá sạch có rất nhiều rễ, thân cong queo.

Ngoài ra, bạn không nên chọn những cọng giá dài vì càng dài, lượng protein và các khoáng chất càng ít. Lượng vitamin trong giá đạt cao nhất khi bắt đầu nảy mầm. Nếu cọng giá dài 10cm thì chất dinh dưỡng bị tổn thất đến 20%, trong đó có 74% lượng vitamin C bị mất. Vì vậy, bạn nên chọn cọng giá có độ dài khoảng 2-3cm.

Bạn có thể tự làm giá đỗ xanh bằng cách:

– Đỗ xanh: 300g (sẽ cho khoảng 3kg giá đỗ thành phẩm).

– Nồi đất (hoặc chõ đồ xôi bằng nhôm); Lá tre (hoặc vải màn), que gài.

Cách làm:

– Ngâm đỗ xanh trong nước chừng 2-3 giờ. Sau đó rửa sạch, cho đỗ xanh vào nồi đất, phủ lá tre hoặc vải lên trên, lấy que gài như đan phên trên miệng nồi sau đó úp nồi xuống đất, kênh một miệng nồi lên cho thoáng. Nên để nồi ủ giá ở nơi thoáng mát.

– Ngày đầu tiên ủ không cần phải ngậm nước. Những ngày sau, mỗi ngày cho nước vào nồi ủ giá 3 lần, mỗi lần từ 15-20 phút, sau đó lại úp nồi ủ giá xuống cho ráo nước, nhớ kênh miệng nồi để giá khỏi bị ủng.

– Cuối ngày thứ 4 hoặc ngày thứ 5 là bạn có thể dỡ giá.

Theo news.go

Những tác dụng do dư thừa mỡ bụng

Thêm một động lực cho bạn tích cực giảm mỡ bụng vì lượng mỡ thừa này đã được chứng minh là có liên quan tới tình trạng giảm trí nhớ và suy nghĩ kém hiệu quả.

Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã cảnh báo chúng ta rằng mỡ thừa ở vùng bụng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, tiểu đường và ung thư. Ngày nay, càng có nhiều nghiên cứu cho thấy sự nguy hiểm mỡ bụng khi xét đến các tác động tiêu cực của nó lên bộ não của chúng ta.

1. Giảm kích thước bộ nhớ của não

Trung tâm đóng vai trò ghi nhớ trong não bao gồm một nhóm các tế bào thần kinh hình móng ngựa đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và gợi nhớ về các sự kiện bạn đã trải qua.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học California đã sử dụng MRI não để xem xét tác động của mỡ thừa ở vùng eo lên não, kết quả cho thấy mỡ nếu bạn có vòng eo càng lớn (so với chiều cao và vòng ba) thì vùng não dùng để ghi nhớ càng giảm.

beo-bung

Thậm chí kết quả nghiên cứu còn cho thấy một mối tương quan trực tiếp giữa một vòng eo lớn và sự suy giảm khả năng học từ ngữ.

2. Làm tổn hại các sợi thần kinh

Các tế bào não của bạn giao tiếp với nhau thông qua một hệ thống các dây thần kinh vô cùng phức tạp. Các nhà khoa học ví von chúng như cáp thông tin. Khi tiến hành quét não của những người có vòng eo lớn, các nhà khoa học nhận thấy có một vài điểm trên các sợi thần kinh bị tổn thương.

Những tổn thương tương tự thường được tìm thấy ở các bệnh nhân bị chứng mất trí. Do đó, nhiều nhà nghiên cứu đã cảnh báo về mối liên hệ chặt chẽ giữa mỡ thừa ở bụng và khả năng mắc bệnh mất trí khi cao tuổi.

3. Gây ra các bệnh ảnh hưởng đến tư duy
giam-can
Mỡ bụng là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với các hội chứng chuyển hóa bao gồm cao huyết áp, thừa cholesterol… Hội chứng chuyển hóa được xem là con đường dẫn tới bệnh tiểu đường và bệnh tim. Và ngày nay, hội chứng này nó cũng đã được chứng minh có liên kết với các bệnh gây ra chứng tư duy kém.

4. Làm tăng lượng đường trong máu

Khi vòng hai của  bạn bị mỡ thừa tấn công, các tế bào mỡ này sẽ kích thích sản sinh một loại hóa chất làm cho cơ thể ít nhạy cảm với insulin, một hormone cho phép hỗ trợ đưa  đường trong máu vào tế bào. Khi điều đó xảy ra , nồng độ insulin không được điều chỉnh phù hợp sẽ tăng cao quá mức và cuối cùng làm cho lượng đường trong máu vượt ngưỡng cho phép.

Khi lượng đường trong máu vượt mức cho phép, nó sẽ gây tác hại nghiêm trọng lên não bộ. Trong thực tế, đây cũng là một lý do khiến những người có bệnh tiểu đường loại 2 có trí nhớ kém hơn và dễ bị tổn thương não hơn so với những người không bị tiểu đường.

5. Khiến não bị ảnh hưởng do các chứng viêm nhiễm

Viêm là một phản ứng của cơ thể với các chấn thương trên cơ thể chúng ta. Trong một nghiên cứu công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ , các chứng viêm làm tăng nguy cơ suy giảm nhận thức đến 66%.

Đáng lo ngại nhất là những người có vòng 2 ngoại cỡ thường bị các chứng viêm nhiễm tấn công hơn so với những người có số đo vòng 2 cân đối phù hợp với vóc dáng.

Bạn có thuộc nhóm người có vòng hai đáng báo động?

Để tìm hiểu nguy cơ của bạn đối với các tác hại trên, bạn cần tiến hành đo vòng eo để xác định nguy cơ. Theo Viện Y tế quốc gia Hoa Kỳ, những người có nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cao bao gồm phụ nữ có vòng eo từ 81m và nam giới với vòng eo từ 94cm trở lên.

Các nhà khoa học cũng cảnh báo dù bạn không thừa cân nhưng nếu tỉ lệ số đo vòng 2 của bạn so với vòng ba vượt mức 0.8 (với nữ giới) và 0.94 (nam giới) thì bạn vẫn nằm trong số những đối tượng có nguy cơ chịu các tác động xấu từ mỡ bụng.

Nguồn afamily

Chữa mất ngủ và cách chữa trị

 Giấc ngủ là nhu cầu không thể thiếu với mỗi người, nó tạo diều kiện cho sự nghỉ ngơi tạm thời của não bộ và tất cả các cơ quan trong cơ thể.
Do vậy, nếu ngủ quá ít sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần, cuộc sống và công việc của chúng ta. Những phiền phức đầu tiên của chứng mất ngủ là sự căng thẳng thần kinh, cảm giác ức chế, khó chịu, hay cáu gắt, giảm tập trung trong công việc… Ban đầu, những triệu chứng này sẽ ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày, nếu không được chữa trị và khắc phục kịp thời, sẽ gây ra những tổn thương về hệ thần kinh như trầm cảm, tâm thần, gây một số bệnh nguy hiểm như tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch, béo phì…

Những nguyên nhân gây mất ngủ cần lưu ý:

1. Mất ngủ do sinh hoạt

– Những lo âu, căng thẳng trong cuộc sống, công việc hàng ngày không được giải tỏa kịp thời sẽ gây cảm giác khó chịu, ức chế cho não bộ, lâu dần dẫn đến khó ngủ và mất ngủ.

– Thói quen hút thuốc lá, uống nhiều cà phê, ăn quá no vào ban đêm gây cảm giác đầy bụng, khó chịu khi ngủ.

– Công việc ca kíp, thường xuyên thức đêm cũng là thói quen không tốt cho một giấc ngủ ổn định và sâu giấc.

– Do phân bổ giờ giấc ngủ không hợp lý, ngủ quá nhiều vào ban ngày, ngủ ít vào đêm.

nhung-phien-phuc-cua-benh-mat-ngu-va-cach-chua-tri

2. Mất ngủ do bệnh lý

– Một số bệnh như viêm xoang, viêm loét dạ dày, đại tràng, zona thần kinh, xương khớp… gây cảm giác đau đớn, ngứa ngáy, khó chịu, làm người bệnh không ngủ được.

– Tác dụng phụ của một số loại thuốc trị bệnh cũng gây ra chứng mất ngủ.

– Ảnh hưởng của các bệnh về hệ thần kinh như trầm cảm, đau đầu kinh niên…

Các cách cải thiện giấc ngủ, hỗ trợ cho chứng bệnh mất ngủ:

Đa số người bệnh khi gặp phải triệu chứng mất ngủ đều tìm đến các loại thuốc ngủ. Phương pháp này có thể cải thiện ngay lập tức giấc ngủ nhưng về lâu dài sẽ gây hiện tượng nhờn thuốc, phụ thuộc vào thuốc và những tổn thương cho hệ thần kinh, có thể gây trầm cảm. Để cải thiện tốt nhất căn bệnh mất ngủ, người bệnh nên thực hiện các phương pháp tự nhiên, giúp cải thiện và nâng cao dần dần chất lượng cũng như thời gian ngủ như:

– Thường xuyên vệ sinh nơi ngủ sạch sẽ.
– Tập thể dục nhẹ nhàng vào buổi tối trước khi đi ngủ.
– Uống 1 ly sữa nóng trước khi đi ngủ: giúp cung cấp axit amin Phenylalanine, Tryptophan giúp ngủ tốt.
– Không ngủ trưa nhiều, tránh tối khó ngủ.

Ngoài ra, một chế độ ăn uống đầy đủ dưỡng chất cũng là một phương pháp lý tưởng giúp bạn cải thiện giấc ngủ của mình. Một bữa ăn cung cấp đầy đủ các vitamin, đặc biệt là vitamin nhóm B, các chất khoáng và axit amin thiết yếu sẽ giúp điều tiết, ổn định giấc ngủ, an thần cho hệ thần kinh, tăng khả năng tập trung, chống mệt mỏi. Cơ thể có thể được bổ sung tất cả các chất dinh dưỡng trên nếu được bổ sung Tảo Mặt trời Spirulina hàng ngày.

Theo các nghiên cứu dinh dưỡng, Tảo Mặt trời là một loại thực phẩm có gần như đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể: lượng đạm chất lượng cao, cấu thành từ 18 trong tổng số 20 axit amin thiết yếu, tập hợp đầy đủ của các vitamin nhóm B từ B1 – B12, các chất khoáng như Sắt, Kẽm, Canxi, Magie… chiếm hàm lượng cao. Tổ Chức Y Tế Thế Giới công nhận: “Tảo Spirulina là thực phẩm bảo vệ sức khỏe tốt nhất của loài người trong thế kỷ 21″.

Nguồn ttvn

Liệu pháp mới điều trị cao huyết áp

Thắt dây thần kinh đến thận là liệu pháp điều trị mới đối với căn bệnh cũ thường gặp là cao huyết áp.

Thông tin này được bác sĩ Joharuddin Bin MdKassim đến từ Malaysia giới thiệu tại Hội thảo và Tư vấn sức khỏe diễn ra ở TPHCM sáng 24/8.

Bác sĩ Joharuddin-người có hai học vị thạc sĩ về y tế và là chuyên gia chuẩn đoán hình ảnh thuộc Trung tâm Y khoa Nilai, nói rằng liệu pháp này đang được thực hiện ở Malaysia, giúp các bệnh nhân cao huyết áp nhưng điều trị bằng thuốc không hiệu quả có thêm lựa chọn mới.

cao-huyet-ap

Để thắt dây thần kinh đến thận, các chuyên gia sử dụng một thiết bị rất nhỏ nên liệu pháp này không được xem là phẫu thuật, có thể thực hiện hoàn tất trong vòng 24h và không gây đau đớn.

Tuy nhiên bác sĩ Joharuddin cũng nói thêm, bệnh nhân cao huyết áp sau khi thực hiện liệu pháp điều trị mới này vẫn sẽ dùng thuốc điều trị trong một thời gian, song lượng thuốc giảm ¾ so với trước đó.
Rất nhiều người cao tuổi tại TPHCM có mặt tại buổi hội thảo quan tâm và tìm hiểu kỹ lưỡng liệu pháp mới này, bởi hiện tại người mắc chứng cao huyết áp tại TPHCM đang ngày càng gia tăng về số lượng và rút ngắn về độ tuổi.

Bác sĩ Fabian Lee, người đến từ bệnh viện phi lợi nhuận chuyên điều trị ung bướu Mount Miriam, đã giới thiệu một cách hóm hỉnh và dễ hiểu những bước tiến trong việc chống chọi căn bệnh ung thư đầy đáng sợ.

Theo bác sĩ Fabian Lee, cứ 4 bệnh nhân thì có 1 bệnh nhân mắc bệnh ung thư và đối chọi với căn bệnh này chỉ có 3 phương pháp: giải phẫu, hóa trị, xạ trị.
Được cộng đồng y tế Malaysia đánh giá là chuyên gia xạ trị nhiều kinh nghiệm, bác sĩ Fabian Lee đã giới thiệu tại hội thảo liệu pháp xạ trị cắt lớp với thiết bị được xem là mới nhất hiện nay với đánh giá đấy chính là lời giải đáp đơn giản cho điều trị ung thư.

Tuy nhiên, vị bác sĩ đến từ một bệnh viện phi lợi nhuận được các ma-sơ thành lập từ năm 1976 tại đảo Penang (Malaysia) nhằm mục tiêu phòng bệnh là chính, dẫn ra thống kê về những nguyên nhân gây ung thư và kêu gọi mọi người nên tránh xa những nguyên nhân ấy.

Theo đó, người hút thuốc và uống rượu có 20-30% nguy cơ ung thư. Người hút thuốc, uống rượu và béo có đến 40% nguy cơ ung thư. Bác sĩ Fabian Lee cũng nói thêm nếu nhiều người tránh hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều thức ăn gây béo và năng tập thể dục, tỷ lệ 1 bệnh nhân ung thư/4 bệnh nhân đến bệnh viện sẽ nhanh chóng được cải thiện.
Hội thảo và tư vấn sức khỏe được tổ chức bởi MHTC (Malaysia Healthcare Travel Council-vốn là một sáng kiến của Bộ Y tế Malaysia nhằm thúc đẩy dịch vụ Y tế phát triển song hành cùng Du lịch) phối hợp cùng Công ty TNHH Insmart Việt Nam. Trước đó, một hội thảo tương tự được tổ chức tại Hà Nội và đã nhận được sự quan tâm của đông đảo người dân.

Những lợi ích cực tốt từ rau cần

Một trong những món rau có lợi cho mùa đông được các nhà dinh dưỡng khuyên dùng là rau cần, đặc biệt là cần ta. Tuy rau cần vị không đậm đà như một số loại rau khác, nhưng chính cái vị này lại giúp cho người cao huyết áp, tiểu đường cải thiện được bệnh.

Nước ép rau cần giúp giải độc cơ thể.

rau-can

Theo Đông y, rau cần ta có tính bình, giúp bổ máu, hạ huyết áp, tốt cho hệ tiêu hóa. Thành phần dinh dưỡng của rau cần có vitamin P, C, abumin, đường, canxi, phốt pho, sắt, axit hữu cơ và nhiều khoáng chất khác. Dưới đây là một số lợi ích của rau cần:

* Hạ huyết áp: Rau cần nhiều chất xơ, không có chất béo, lại ít đường nên là món ăn tốt cho bệnh cao huyết áp. Người bệnh có thể dùng bằng cách nấu ăn đơn thuần và cũng có thể dùng nấu cháo rau cần ăn 1 tuần 2 – 3 bữa trong một thời gian huyết áp sẽ ổn định hơn. Mặt khác, đối với người muốn giảm béo cũng có thể dùng rau cần thường xuyên giúp tăng chất xơ, giảm lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.

* Giúp giải độc cơ thể: Hàm lượng albumin có trong rau cần là một chất rất ít trong các loại rau khác giúp giải độc cơ thể, chống tiêu khát, đặc biệt là ngộ độc kim loại nặng. Trong những trường hợp này bạn có thể dùng nước ép rau cần cả rễ sẽ có tác dụng.

* Cải thiện chứng thiếu máu: Lượng chất sắt, phốt pho có trong rau cần tương đối nhiều giúp cho những người chứng thiếu máu cải thiện được bệnh tật. Bạn có thể dùng rau cần ta xào với thịt bò càng có tác dụng hơn.

* Giúp giảm ho, viêm phế quản: Mùa đông chứng bệnh nay rất hay gặp nhất là đối với trẻ em và người già. Để điều trị bệnh nhẹ, bạn có thể dùng nước ép rau cần thêm chút muối rồi hấp cách thủy cho nước rau nóng uống sẽ có tác dụng. Tuy nhiên, người mắc chứng ngứa hoặc bị bệnh vẩy nên thì không nên dùng  nhiều rau cần, bởi nó chứa arachidon là chất xúc tác cho phản ứng viêm tấy khiến bệnh lâu khỏi hơn.
Theo TS.BS Lê Thị Thanh Nhạn
(Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam)

Phương pháp chữa bệnh bãi não và tự kỷ bằng châm cứu

Bệnh viện Châm cứu Trung ương đang miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc điều trị cho trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc; mở ra cơ hội hòa nhập cho hàng ngàn trẻ em.

Mỗi năm, cả nước có khoảng 200.000 trẻ em bại não. Nhiều em trong số đó đã được Bệnh viện Châm cứu Trung ương mang lại cuộc sống bình thường nhờ phương pháp châm cứu phục hồi chức năng.

80%-90% liệt tứ chi

Di chứng sau một lần viêm não khiến Lê Trọng Huy (4 tuổi, ngụ Hà Nội) từ một cậu bé khỏe mạnh, vui vẻ bỗng liệt toàn thân, nằm bất động và không thể nói được. Sau 2 đợt điều trị bằng điện châm, thủy châm kết hợp với xoa bóp bấm huyệt và tập vận động tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương, Huy đã ngồi dậy và bước đi chập chững. Chị Nguyễn Thanh Hoài, mẹ Huy, không giấu được niềm vui: “Dù cháu chưa nói được, bước chân vẫn run run nhưng thế này là tiến bộ lắm rồi”.

cham_cuu_chua_tu_ky

Châm cứu chữa bại não

TS-BS Nguyễn Thị Tú Anh, Trưởng Khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết mới đây, bé Nguyễn Đức Hoàng (3 tuổi, ngụ Hà Nội) bị liệt tứ chi do viêm đa rễ thần kinh cũng đã khỏi bệnh sau 2 đợt điều trị. Ngoài ra, rất nhiều cháu sau khi điều trị đã trở lại trường học.

Cũng theo bác sĩ Anh, gần 90% bệnh nhân được chữa trị tại đây là bệnh nhân bại não, phần lớn ở thể nặng và rất nặng. Trong đó, trẻ bị liệt tứ chi chiếm khoảng 80% – 90%, liệt nửa người chiếm 5% – 7%, còn lại là liệt hai chân.

18%-21% khỏi bệnh hoàn toàn

Để tạo lập các chức năng vận động, nghe nói, giao tiếp, cải thiện trí nhớ, bệnh nhi được điều trị bằng phương pháp điện châm, thủy châm kết hợp xoa bóp bấm huyệt, tập vận động và giáo dục hòa nhập. Theo các bác sĩ ở Bệnh viện Châm cứu Trung ương, họ sẽ tác động, kích thích các huyệt, dưỡng khí, thông kinh lạc… giúp hệ thần kinh trung ương của trẻ phục hồi và dần vận động, giao tiếp được. Liệu trình điều trị một đợt thường kéo dài từ 25-30 ngày, thời gian nghỉ 3-4 tuần rồi lặp lại đợt tiếp theo. Với trẻ bại não, việc điều trị bằng châm cứu thực hiện khi trẻ được 6 tháng tuổi với cân nặng 7-8 kg.

Kết quả theo dõi, đánh giá trên 4.000 bệnh nhi bại não điều trị trong giai đoạn 2009-2011 tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương bằng phương pháp châm cứu phục hồi chức năng cho thấy: tỉ lệ khỏi bệnh hoàn toàn (đi lại, nói, đi học, hòa nhập tốt) chiếm 18% – 21%; cải thiện rõ rệt (ngồi vững, bò, đứng vịn, đứng, đi men, nói thêm từ, hiểu lời nói) chiếm 60% – 75%. Chỉ còn 1% – 5% trẻ không cải thiện do chịu ảnh hưởng bởi một số bệnh lý khác.

PGS-TS Nghiêm Hữu Thành, Giám đốc Bệnh viện Châm cứu Trung ương, cho biết bệnh viện miễn hoàn toàn viện phí, tiền thuốc cũng như các loại tiền thủ thuật với những trẻ bại não, tự kỷ, câm điếc hoặc có di chứng viêm não. Chính vì thế, đây là cơ hội để hàng trăm ngàn trẻ mắc bệnh bại não được điều trị phục hồi chức năng, sớm hòa nhập cộng đồng.

Dễ bại não do tai biến sản khoa

Trẻ em bị các bệnh liên quan đến não thường có 15% từ các nguyên nhân trước khi sinh. Đó là người mẹ nhiễm virus (cúm, rubella) khi mang thai dưới 3 tháng, ngộ độc, bệnh tiểu đường, cao huyết áp, dùng thuốc hoặc chụp X-quang trong lúc mang thai. Ngoài ra, từ 40% – 60% là do mẹ gặp tai biến sản khoa, đẻ khó phải can thiệp bằng foocxep, đẻ non, chuyển dạ kéo dài khiến não bị ảnh hưởng dẫn đến di chứng điếc, câm, chậm nói. Số còn lại là do di chứng của viêm não, viêm màng não mủ, dị dạng mạch máu não, sang chấn sọ não.

Theo 24h

Lời khuyên cho người huyết áp thấp

Phần lớn những bệnh nhân đến khám tại các khoa tim mạch của các bệnh viện và các phòng khám đa khoa đều có cao huyết áp. Tuy nhiên, có một số không nhỏ thường xuyên bị huyết áp thấp. Vậy hạ huyết áp có nguy hiểm không?

Câu hỏi này không chỉ đặt ra cho bệnh nhân mà cả nhiều thầy thuốc không chuyên khoa nữa.

Thế nào là huyết áp bình thường?

Huyết áp trung bình của mỗi người dao động trong khoảng từ 110 – 120mmHg đối với huyết áp tối đa và từ 70 – 80mmHg với huyết áp tối thiểu. Khi huyết áp tối đa dưới 100mmHg và huyết áp tối thiểu dưới 60mmHg, bệnh nhân rơi vài tình trạng hạ huyết áp. Có hai tình trạng hạ huyết: hạ huyết áp cấp hay xảy ra với những bệnh nhân cấp cứu vì chấn thương gây mất máu nhiều, tiêu chảy mất nước, suy tim hay bị bệnh nội khoa khác. Những bệnh nhân này phải được nhập viện cấp cứu và tùy theo nguyên nhân gây hạ huyết áp mà thầy thuốc cho chỉ định điều trị phù hợp: truyền dịch, truyền máu, thuốc vận mạch hay thuốc trợ tim…

loi_khuyen_cho_nguoi_huyet_ap_thap

Người huyết áp thấp nên ăn các loại thức ăn giàu năng lượng và giàu vitamine cũng như các yếu tố vi lượng như: vitamin A, kẽm, magne…

Hạ huyết áp mạn tính: ở những người này huyết áp thường xuyên thấp hơn 100mmHg đối với huyết áp tối đa. Bệnh nhân có thể có hoặc không có bất kỳ một sự khó chịu nào. Rất nhiều người chỉ phát hiện tình cờ trong đợt khám sức khỏe định kỳ hay được đo huyết áp khi đi khám một bệnh nào khác không liên quan đến tim mạch.

Hạ huyết áp có nguy hiểm không?

Tất nhiên, nếu bệnh nhân  rơi vào tình trạng hạ huyết áp cấp thì rất nguy hiểm và cần được nhập bệnh viện để điều trị trong phòng săn sóc đặc biệt. Truyền dịch và máu cũng như các dung dịch thay thế máu là phương pháp điều trị đầu tiên được áp dụng cho hầu hết các bệnh nhân.

Còn tình trạng hạ huyết áp mạn tính thì hầu như không có gì là quá nguy hiểm cả. Thậm chí có ngưới còn cho rằng: những người bị huyết áp thấp còn sống thọ hơn những người có huyết áp bình thường. Và thực tế trong thực hành bệnh viện hàng ngày, chúng tôi cũng như nhiều thầy thuốc khác cũng có chung một nhận định như vậy.

Những người thực sự bị huyết áp thấp mạn tính thường phàn nàn với mọi người và với thầy thuốc là hay buồn ngủ, mỏi mệt, chóng mặt, hoa mắt hoặc thỉnh thoảng bị ngất xỉu. Đặc biệt là khi thay đổi tư thế đột ngột. Các triệu chứng này xuất hiện do giảm lưu lượng máu ở não, tim, gan và các cơ quan khác trong cơ thể.

Tình trạng hạ huyết áp mạn tính hay xảy ra ở những người làm việc quá sức, bị stress, rối loạn nội tiết, suy dinh dưỡng, đái tháo đường hay bị bệnh thần kinh ngoại vi… Nếu tình trạng hạ huyết áp mạn tính kéo dài và gây nhiều khó chịu, thậm chí phải nhập bệnh viện cấp cứu thì nên đi khám ở những thầy thuốc chuyên khoa tim mạch và nội tiết để tìm ra nguyên nhân và có phương pháp điều trị triệt để.

Người bệnh hạ huyết áp mạn tính nên ăn gì?

Việc đầu tiên là nên có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Nên ăn các loại thức ăn giàu năng lượng và giàu vitamine cũng như các yếu tố vi lượng như: vitamin A, kẽm, magne… Có người cho rằng, bệnh nhân nên ăn mặn một chút để làm tăng khối lượng tuần hoàn trong cơ thể nhờ tác dụng giữ nước của muối. Tuy nhiên, điều này cũng rất nguy hiểm vì sẽ gây tăng huyết áp khi nằm.

Chọn một môn thể thao phù hợp với sức khỏe như đi bộ, bơi lội hay tập yoga cũng rất tốt cho bệnh nhân bị hạ huyết áp mạn tính. Việc uống đủ nước, nhất là khi trời nắng nóng cũng góp phần làm giảm nguy cơ hạ huyết áp ở một số người.

Và một điều rất quan trọng mà nhiều người trong chúng ta không mấy quan tâm, đó là nên đi khám kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng để phát hiện những trục trặc về sức khỏe để có hướng điều chỉnh ngay từ lúc đầu. Đây là khuynh hướng mới nhằm phòng bệnh tật trong một xã hội hiện đại.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM
Theo SKĐS

Cao huyết áp ở trẻ em – Những điều cần biết

Cao huyết áp ở trẻ em ít được chú ý do quan niệm rằng trẻ em không thể mắc bệnh cao huyết áp. Vì thế khi trẻ em  có những triệu chứng như: nhức đầu, ói, ù tai, hay chảy máu mũi, co giật thì thầy thuốc thường hay nghĩ đến một bệnh khác.

cao_huyet_ap_o_tre_em_nhung_dieu_can_biet

Nguyên nhân:

– Béo phì và thừa cân  làm tăng khả năng cao huyết áp gấp 3 lần, tình trạng béo phì và thừa cân ngày càng gia tăng và kéo theo đó là nguy cơ gia tăng bệnh tim mạch và tiểu đường.

– Mắc các bệnh về thận.

– Bệnh hẹp động mạch thận.

– Bệnh về ĐMC như: Takayashu( hẹp nhiều đoạn của ĐMC).

– Xem tivi hay chơi game vi tính quá lâu sẽ có nguy cơ cao huyết áp.

Phòng bệnh:

– Chú ý lượng muối ăn trong chế độ ăn hàng ngày cho trẻ em từ 4- 8 tuổi là 1,2 g/ngày, trẻ lớn hơn là 1,5 g/ngày. Tránh ăn các loại thực phẩm làm sẳn không ghi rõ lượng muối (sodium, potassium) trên nhãn

– Tăng hoạt động thể lực, tập đi bộ đều đặn 30- 60 phút/ ngày sẽ làm giảm nguy cơ cao huyết áp và bệnh lý tim mạch

– Khuyến khích trẻ bớt ăn ngọt, ăn mặn, tinh bột, chất béo, tăng ăn rau và thực phẩm có nhiều chất xơ.

– Giới hạn thời gian xem tivi hoặc chơi game của trẻ dưới 2 giờ/ ngày.

Đăng bởi: ĐDT. Đặng Thị Phương Nhi
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh cao huyết áp ở trẻ nhỏ

Cao huyết áp thường được cho rằng nó chỉ xuất hiện ở nhóm người lớn hay người cao tuổi có tiền sử mắc bệnh, vì vậy việc bỏ qua hay không phát hiện được căn bệnh cao huyết áp ở trẻ em cũng dễ hiểu. Mặc dù trong thực tế tỷ lệ trẻ em mắc bệnh béo phì, lười vận động ngày càng cao làm cho bệnh này ngày càng phát triển mạnh và là mối nguy hiểm tiềm ẩn đe dọa đến sức khỏe của trẻ em.

benh_cao_huyet_ap_o_tre_nho

Cao huyết áp ở nhóm người trẻ này có thể phòng ngừa và điều trị dễ dàng bằng cách thay đổi lối sống, ăn uống khoa học, trong đó nên chú ý đến 5 khuyến cáo dưới đây:

– Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý: trọng lượng cơ thể được tính bằng công thức BMI

BMI = trọng lượng (tính bằng kg) chia cho bình phương chiều cao( tính bằng mét)

– nếu BMI = 18.5 – 24.9 là bình thường.

– BMI = 25 – 30 là thừa cân

– BMI > 30 là béo phì.

– Duy trì chế độ ăn uống cân bằng, khoa học, hợp lý, hạn chế ăn thực phẩm nhiều đường, mỡ, mặn, thức ăn nhanh. Tăng cường chế độ ăn nhiều chất xơ, rau xanh, trái cây…
– Tăng cường hoạt động thể chất cho trẻ như: tập thể dục, vui chơi hoạt động ngoài trời, khuyến khích trẻ năng động. Hạn chế ngồi quá lâu trước màn hình vi tính, chơi game, xem ti vi…
– Giảm thực phẩm giàu chất béo, đường và muối.
– Giúp trẻ đối phó với stress: Theo các chuyên gia nghiên cứu thì stress (căng thẳng) là thủ phạm làm gia tăng bệnh cao huyết áp, kể cả người lớn lẫn trẻ em.

Những dấu hiệu nhận biết trẻ cao huyết áp:

Trẻ bị cao huyết áp thường có biểu hiện nhức đầu, nôn ói, chóng mặt, đỏ bừng mặt, vã mồ hôi, hồi hộp, đánh trống ngực, giảm thị lực, co giật, mệt mỏi, phù…

Nếu trẻ bị cao huyết áp mà không được điều trị sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng như bị suy tim, suy thận, tai biến mạch máu não hay bệnh não do cao huyết áp.

Khi thấy trẻ xuất hiện những dấu hiệu cao huyết áp nói trên, phụ huynh cần bình tĩnh đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được khám, chẩn đoán cao huyết áp và tìm nguyên nhân điều trị.

Đăng bởi: Khoa Hồi sức
Theo benhviennhi.org.vn

Vấn đề ăn uống ảnh hưởng lớn đến bệnh gout

Đón năm mới chắc chắn sẽ có tiệc, có nhiều rượu, có nhiều thức ăn ngon, có những cuộc vui, có những cố gắng, vất vả lo toan… và chắc chắn cũng sẽ có ai đó không may phải chịu đựng sự đau đớn của cơn viêm khớp gout cấp. Trong khi đó, bệnh gout liên quan chặt chẽ đến chế độ ăn uống. Ăn uống điều độ có thể làm giảm bệnh, có thể ngăn ngừa bệnh và ngăn ngừa bệnh tiến triển xấu.

Nguyên nhân và biểu hiện của bệnh gout

benh-gout-va-van-de-an-uong

Mặc dù nguyên nhân của rối loạn purine, gây bệnh Gout, hiện chưa rõ, nhiều khả năng là do những rối loạn tại gen, nhưng bệnh Gout đã được coi là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine ở người, làm tăng tổng hợp acid uric và/hoặc giảm thải acid uric ra ngoài, gây tăng acid uric trong máu, gây thêm một hoặc nhiều biểu hiện sau:

– Viêm một khớp cấp (thường ở ngón chân cái) được gọi là cơn Gout cấp.

– Có các khoảng hoàn toàn khỏi giữa các đợt viêm khớp cấp.

– Xuất hiện các tophy (u cục) ở khớp, quanh khớp, ở vành tai.

– Có sỏi thận (sỏi urate), suy thận mãn.

Ở giai đoạn đầu, bệnh Gout có những đặc điểm lâm sàng khá đặc trưng, đa số dễ nhận biết nếu được chú ý từ đầu:

– Thường gặp ở nam giới (trên 95%), khỏe mạnh, mập mạp.

– Thường bắt đầu vào cuối những năm 30 và đầu những năm 40 của cuộc đời, tuổi bắt đầu làm nên của những người đàn ông thành đạt.

– Khởi bệnh đột ngột bằng một cơn viêm khớp cấp với tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội, đột ngột ở một khớp làm người bệnh rất đau đớn, không thể đi lại được. Hiện tượng viêm thường không đối xứng và có thể tự khỏi sau 3-7 ngày. Trong giai đoạn cấp có thể kèm các dấu hiệu toàn thân như: sốt cao, lạnh run, đôi khi có dấu màng não (cổ cứng, nôn ói…).

– Bệnh diễn biến từng đợt, giữa các cơn viêm cấp có những giai đoạn các khớp hoàn toàn hết đau, người bệnh tưởng mình khỏi bệnh.

– Ở giai đoạn muộn, biểu hiện viêm ở nhiều khớp cả tay và chân, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, bệnh diễn biến liên miên không rõ từng đợt, giữa các đợt viêm cấp các khớp vẫn đau nhức, dần dâ gây biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ… hoàn toàn khỏi (những năm đầu).

Các yếu tố nguy cơ của bệnh gout

Tăng acid uric máu

Nếu chỉ có tăng acid uric máu đơn thuần, không phải là bệnh Gout, đây chỉ là một tình trạng rối loạn chuyển hóa purine, làm tăng acid uric trong máu (trên 7mg% hay trên 420mmol/L) nhưng chưa gây bệnh. Tăng acid uric máu đơn thuần có tỷ lệ khá cao: từ 4- 14% dân số (tùy từng dân tộc, từng quốc gia). Tình trạng này có thể xuất hiện rất sớm, ngay lúc dậy thì. Đa số trường hợp, tình trạng này hoàn toàn không gây triệu chứng gì, thường chỉ được tình cờ phát hiện khi làm xét nghiệm.

Tăng acid uric máu được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh Gout. Lượng acid uric máu càng cao, càng nhiều khả năng trở thành bệnh Gout.

Khoảng 5-10 % số người có tăng acid uric máu sẽ trở thành bệnh nhân Gout vào cuối thập niên thứ 3 trở đi (> 35 tuổi).

Ăn nhiều thức ăn chứa purine

Trên nhóm người có tăng acid uric máu, việc ăn nhiều thức ăn giàu purine sẽ làm tăng thêm tình trạng tăng acid uric máu sẵn có, thúc đẩy họ trở thành bệnh nhân Gout, làm nhanh tái phát các cơn Gout, khó kiểm soát bệnh và sớm trở thành Gout mạn.

Uống nhiều rượu

Việc uống nhiều rượu, rượu mạnh sẽ không những góp phần làm tăng thêm acid uric máu mà còn làm cho acid uric dễ dàng bị lắng đọng tại tổ chức, gây cơn Gout cấp, gây sỏi thận… Uống nhiều rượu còn ảnh hưởng tới gan, thận, dạ dày… tới các bệnh lý đi kèm như: tim mạch, huyết áp, rối loạn lipid máu.

Béo phì, cao huyết áp, rối loạn lipid máu

Các yếu tố này vừa là các yếu tố nguy cơ, vừa là các bệnh lý thường đi kèm với bệnh Gout. Nếu không được kiểm soát tốt, các yếu tố này gây ảnh hưởng xấu tới bệnh và ngược lại nếu các yếu tố này được điều chỉnh tốt sẽ góp phần làm bệnh Gout dễ điều trị hơn.

Tại sao bệnh gout lại gia tăng

Trong vài thập niên gần đây, số lượng bệnh nhân Gout gia tăng rất nhanh trên toàn thế giới. Cùng với sự thay đổi về kinh tế – xã hội, mô hình bệnh tật của nước ta đã có những thay đổi sâu sắc. Cũng như nhiều bệnh lý chuyển hóa khác (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì…) bệnh Gout đã trở nên rất thường gặp trong thực tế lâm sàng. Mới đây, tại Hội nghị Thấp khớp học châu Âu ở Paris tháng 6/2008, tác giả Roddy. E và cộng sự đã nêu ra những nguyên nhân chính làm bệnh Gout gia tăng trên toàn thế giới, điều này cũng hoàn toàn phù hợp với sự thay đổi đáng kể về lối sống và các điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay:

– Tăng tiêu thụ bia và rượu trong cộng đồng.

– Tăng sử dụng thiazide và liều nhỏ aspirin cho các bệnh lý tim mạch.

– Tăng sử dụng các thức ăn giàu purine.

– Gia tăng các bệnh lý chuyển hóa (đái tháo đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…) và béo phì.

– Gia tăng tuổi thọ, tăng tỷ lệ người trên 65 tuổi trong cộng đồng (người ta nhận thấy, có mối liên quan giữa sự lắng đọng các tinh thể urate và sụn khớp bị thoái hóa, vì vậy nguy cơ bị bệnh sẽ gia tăng theo tuổi).

– Gia tăng và kéo dài thời gian sống của các bệnh nhân suy thận mãn.

Chế độ ăn uống của người tăng acid uric máu và bệnh gout

benh-gout-va-van-de-an-uong-1

Không dùng

Không ăn phủ tạng động vật.
Không uống nhiều rượu mạnh. Không ăn các thức ăn chứa nhiều purine như: phủ tạng động vật: tim, gan, thận, lá lách, óc…, hột vịt, gà lộn, trứng cá, cá trích, cá đối, cá mòi. Không ăn mỡ động vật, không ăn đường.

Dùng hạn chế

Hạn chế protid (<1g protein/kg/ ngày tương đương < 200g thịt nạc mỗi ngày).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) đồ biển (tôm, cua…).

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) các loại đậu hạt, măng tây.

Không ăn nhiều (vừa phải, điều độ) chocolate, cacao, trà, cà phê.

Dùng nhiều

Các loại rau xanh, trái cây tươi.

Uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá xakê.

Các loại ngũ cốc.

Sữa, trứng.

Chế độ sinh hoạt

Chống béo phì.

Tăng cường vận động.

Tránh stress, tránh gắng sức, tránh lạnh đột ngột…

Chế độ ăn uống có thay thế được thuốc không?

Đối với bệnh Gout

Trong đa số trường hợp, chế độ ăn uống góp phần điều trị cho bệnh Gout và các bệnh kèm theo (cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu…) chứ không thể thay được thuốc. Thực hiện tốt chế độ ăn uống có thể giảm bớt số lượng thuốc, số loại thuốc cần dùng, giảm bớt các hậu quả xấu của bệnh.

Chế độ ăn uống được sử dụng để thay thế thuốc trong một số ít trường hợp, người bệnh không dùng được các thuốc làm hạ acid uric (dị ứng thuốc, suy thận, suy gan…).

Đối với tình trạng tăng acid uric máu

Chế độ ăn uống và chế độ sinh hoạt sẽ giúp phòng ngừa bệnh Gout, làm giảm số người trở thành bệnh nhân Gout.

Như vậy, chế độ ăn uống không thể thay thế được các thuốc điều trị bệnh Gout, nhưng có một vai trò quan trọng trong điều trị, góp phần làm bệnh Gout và các bệnh kèm theo dễ kiểm soát hơn, giảm bớt liều thuốc phải dùng, giảm bớt số thuốc phải dùng. Chế độ ăn uống càng quan trọng hơn khi người bệnh bị dị ứng với các thuốc làm giảm acid uric máu, hoặc vì một lý do nào đó không sử dụng được các thuốc này. Chế độ ăn uống còn là biện pháp chính, không thể thiếu được trong việc phòng ngừa bệnh Gout cho các đối tượng có tăng acid uric máu đơn thuần.

Các bệnh rối loạn chuyển hóa ở người thường đi kèm với nhau, ngày càng gia tăng và đang là một hiểm họa lớn cho loài người trong thế kỷ 21. Hội chứng chuyển hóa kinh điển gồm 4 biểu hiện: béo phì, cao huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu. Nay thêm một biển hiện thứ 5 là tăng acid uric máu, nói cách khách, các bệnh nhân béo phì, cao huyết áp, bệnh mạch vành… rất dễ bị gout và ngược lại, bệnh nhân gout thường mắc bệnh các bệnh béo phì, xơ mỡ động mạch, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh mạch vành

TS.BS. Lê Anh Thư
Theo SKDS

Chế độ ăn ảnh hưởng đến huyết áp

Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày, chế độ ăn có thể làm ảnh hưởng đến hay giảm huyết áp. Kiểm soát chế độ ăn hợp lý sẽ điều chỉnh được chỉ số huyết áp một cách hợp lý để chủ động phòng tránh các bệnh lý liên quan có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến sức khỏe, kể cả tính mạng.

Đối với thức ăn có muối natri

Một trong các nguyên nhân làm tăng huyết áp thường được nói đến là việc sử dụng lượng muối natri trong khẩu phần thức ăn hàng ngày. Muối natri được cung cấp bằng 2 nguồn chính là phần cho thêm vào thức ăn như: muối, nước mắm, mì chính (bột ngọt)… phụ thuộc vào khẩu vị của từng người và phần có sẵn trong thực phẩm được cơ sở sản xuất cho thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến, bảo quản như: các loại thực phẩm đóng hộp, hun khói, sấy khô, ướp muối… hay nguồn sẵn có tự nhiên trong thực phẩm.

che-do-an-uong-anh-huong-den-huyet-ap

Tính thấm của màng tế bào đối với muối natri có thể có yếu tố di truyền, do đó có người nhạy cảm với muối, có người không nhạy cảm với muối. Hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo chế độ ăn không nên quá 6g muối mỗi ngày là giới hạn hợp lý để phòng bệnh tăng huyết áp.

Trong thực đơn ăn hàng ngày, cần bớt các thức ăn nhanh, các thực phẩm chế biến sẵn vì các loại thực phẩm này thường chứa nhiều muối natri.

Đối với thức ăn có kali

Chế độ ăn giàu chất kali có lợi cho người tăng huyết áp. Kali được phân bố rộng rãi trong thực phẩm và có thể thay đổi hàm lượng khác nhau tùy theo nhóm thực phẩm. Một khẩu phần thức ăn trung bình có khả năng cung cấp khoảng từ 2,5 – 3g chất kali mỗi ngày. Các thức ăn có nguồn gốc thực vật như: khoai củ, đậu đỗ, chuối và các loại rau quả khác đều có nhiều chất kali. Nhóm rau quả cung cấp nhiều chất kali nhất là khoai tây, su hào, bí đao, đậu đỗ, chuối và các loại rau khác. Sữa cũng chứa nhiều chất kali, tiếp đến là thịt, trứng và sản phẩm ngũ cốc.

Chế độ ăn giàu kali với khoảng 4 – 5g chất kali mỗi ngày có thể giảm huyết áp ở những người có tiền sử gia đình tăng huyết áp.

Một số chất khác có tác dụng giảm huyết áp

Một số chất khác như canxi, sữa và các chế phẩm từ sữa, chất xơ và tỏi cũng có tác dụng làm giảm huyết áp.

Canxi trong khẩu phần thức ăn hàng ngày tăng có tác dụng ảnh hưởng làm giảm huyết áp. Tác dụng làm giảm huyết áp của chế độ ăn có nhiều chất canxi có thể còn phụ thuộc vào tình trạng muối như chế độ ăn có chất canxi thấp làm tăng tác dụng tăng huyết áp với chế độ ăn nhiều chất muối trên một cơ thể có nhạy cảm với muối và một khẩu phần thức ăn nhiều chất canxi có tác dụng ngăn chặn gây tăng huyết áp của chế độ ăn nhiều muối đặc biệt trên những người tăng huyết áp có nhạy cảm với muối. Sử dụng thực phẩm giàu chất canxi còn có tác dụng dự phòng tăng huyết áp ở phụ nữ có thai.

Sữa và các chế phẩm từ sữa là nguồn thực phẩm có chất canxi khá dồi dào.

Chất xơ có nhiều trong chế độ ăn hàng ngày cũng có thể làm giảm huyết áp. Nên ăn khoảng 20g chất xơ mỗi ngày sẽ có tác dụng tốt.

Tỏi có tác dụng làm giảm huyết áp một cách vừa phải.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Theo SKDS