Tag Archives: buồng trứng

Những căn bệnh gây nên vô sinh nam

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng…

Trước đây, có nhiều quan niệm cho rằng vô sinh, hiếm muộn chỉ gặp ở phụ nữ và nguyên nhân gây vô sinh chủ yếu là do ăn uống thực phẩm nhiều hóa chất hoặc sử dụng băng vệ sinh kém chất lượng… Nhưng thực tế, những nguyên nhân mang tính tác động từ bên ngoài đó là chưa đủ. Bởi có không ít trường hợp người phụ nữ vô sinh bắt nguồn từ chính cơ thể họ.

benh-vo-sinh-do-nhung-nguyen-nhan-nao

Tức là họ có thể mắc phải những bệnh dễ gây vô sinh mà không được chữa trị kịp thời, dứt bệnh. Các bệnh dễ gây vô sinh nhất bao gồm:

Vô kinh: Trường hợp người phụ nữ đến tuổi trưởng thành mà không có kinh nguyệt thì gọi là vô kinh. Vô kinh có thể là nguyên phát (từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ thấy kinh) hay thứ phát (đã từng có kinh nhưng sau đó không có kinh nữa hay là rất thưa trên 6 tháng mới có một lần).

Vô kinh có thể do rất nhiều lý do như: dị tật bẩm sinh đường sinh dục (không có tử cung, không có âm đạo), không rụng trứng, suy buồng trứng sớm ở phụ nữ còn trẻ nguyên phát hay sau điều trị có mổ cắt buồng trứng hay hóa trị xạ trị do ung thư.

Vô kinh thứ phát có thể là do buồng trứng không rụng trứng. Trường hợp này có thể kích thích trứng rụng để có con. Còn trong trường hợp buồng trứng bị suy thì người phụ nữ không thể có con.

Buồng trứng đa nang: Hội chứng buồng trứng đa nang xảy ra ở khoảng 15% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng không phải ai bị buồng trứng đa nang cũng không thể sinh con.

Hội chứng buồng trứng đa nang được chẩn đoán khi bệnh nhân có 2 trong 3 nhóm triệu chứng sau đây:

– Triệu chứng lâm sàng: Rối loạn kinh nguyệt (kinh thưa, hay vô kinh), béo phì, rậm lông

– Triệu chứng nội tiết: tăng nội tiết tố nam testosterone

– Hình ảnh buồng trứng đa nang trên siêu âm.

Nếu bị hội chứng buồng trứng đa nang và lâu có con thì chị em nên đến cơ sở điều trị hiếm muộn để được điều trị bằng cách sử dụng các thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Tử cung nhi hóa: Kinh nguyệt không đều đặn và dần tắt hẳn có thể là dấu hiệu của bệnh tử cung nhi hóa. Trong trường hợp này, người phụ nữ có thể uống thuốc nội tiết tố để có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, giữ cho tử cung bình thường. Còn khi đã lập gia đình thì phải đến ngay cơ sở điều trị hiếm muộn để được khám, chẩn đoán và điều trị.

Rối loạn phóng noãn: Rối loạn phóng noãn thường gây khó có thai và việc điều trị phải sử dụng các loại thuốc kích thích sự phát triển của nang noãn buồng trứng.

Thông thường tỷ lệ có thai đạt được sau mỗi chu kỳ kích thích buồng trứng khoảng 30%. Kích thích buồng trứng thường không được làm quá nhiều lần trên một bệnh nhân nên không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe sinh sản của mẹ và thai nhi sau khi thụ thai.

Nguồn giáo dục

Ung thư buồng trứng thường bị nhầm lẫn

Có sự nhầm lẫn khá phổ biến trong giới bác sĩ và cả phụ nữ về bệnh ung thư buồng trứng, một tổ chức từ thiện vừa tuyên bố.

Triệu chứng của ung thư buồng trứng bao gồm: đau bụng hoặc khung xương chậu dai dẳng, vòng bụng ngày càng lớn và bụng căng lên dai dẳng, khó ăn hoặc nhanh no. Khoảng 6.800 phụ nữ bị chẩn đoán với bệnh này hàng năm. Tuy nhiên, chỉ có 30% còn sống được 5 năm sau khi phát hiện bệnh.

Tổ chức Target Ovarian Cancer đã khảo sát trên 400 bác sĩ và phát hiện thấy 80% trong số họ hiểu sai rằng phụ nữ ở giai đoạn đầu của ung thư buồng trứng không có dấu hiệu gì.

Khối ung thư buồng trứng màu xanh lục. (Ảnh: BBC)

Khối ung thư buồng trứng màu xanh lục. (Ảnh: BBC)

Khi được yêu cầu chỉ ra những triệu chứng tiềm năng của bệnh, 51% bác sĩ xác định đúng “tăng kích cỡ vòng bụng” là triệu chứng quan trọng nhất, nhưng chưa đầy 2% trong số họ biết rằng còn có triệu chứng “khó ăn” hoặc “nhanh no”.

Và gần 2/3 số bác sĩ được hỏi không nhận thức được rằng nếu gia đình bên bố có tiền sử nhiều người bị ung thư buồng trứng thì nguy cơ mắc bệnh của người phụ nữ sẽ tăng lên.

Dấu hiệu sớm của bệnh cũng thường bị nhầm lẫn với hội chứng ruột kích thích. Các bệnh nhân thường được gửi đi kiểm tra đường tiêu hóa, và đến thời điểm bác sĩ nhận ra đó không phải là nguyên nhân thì ung thư đã tiến triển.

Cuộc khảo sát cho thấy 69% bác sĩ sản không biết rằng ung thư buồng trứng thường gây ra những triệu chứng ruột kích thích thường xuyên, đột ngột và dai dẳng.

Một phát ngôn viên của Hiệp hội bác sĩ sản khoa cho biết “rất khó” để chẩn đoán căn bệnh này ở giai đoạn sớm. Còn trong số 1000 phụ nữ được tổ chức Target Ovarian Cancer phỏng vấn, chỉ có 4% cho biết họ có thể “tự tin xác định” các triệu chứng của bệnh.

Hai phần ba số phụ nữ này nghĩ rằng bệnh không có liên quan đến tuổi tác (trong khi thực tế càng lớn tuổi, khả năng mắc bệnh càng lớn). 80% không biết rằng những phụ nữ không con có nguy cơ cao hơn.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho biết nếu được chẩn đoán sớm, 90% người bệnh có thể sống sót. Hiện tại, 3/4 số người mắc được chẩn đoán khi bệnh đã di căn. Trung bình, từ khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên cho đến khi được chẩn đoán là khoảng một năm.

Theo BBC

Nghiên cứu mới điều trị ung thư vú bằng cách cắt bỏ buồng trứng

Dự án nghiên cứu điều trị bổ trợ cho bệnh nhân ung thư vú còn kinh nguyệt có thụ thể nội tiết dương tính bằng phẫu thuật cắt buồng trứng theo các pha của chu kỳ kinh nguyệt là một thử nghiệm lâm sàng  quốc tế được GS Richard Love và các cộng sự tại châu Á tiến hành từ cuối năm 2003.

Thử nghiệm lâm sàng này sau khi được các cấp có thẩm quyền của Hoa Kỳ chấp thuận, cũng đã được Bộ Y tế Việt Nam thông  qua với 3 cơ sở tham gia là Bệnh viện K, Bệnh viện đa khoa TW Huế và Bệnh viện đa khoa Đà Nẵng, trong đó Bệnh viện K là cơ sở chính.
nghien-cuu-moi-dieu-tri-ung-thu-vu-bang-cach-cat-bo-buong-trung

GS Richard Love tại buổi gặp gỡ với người bệnh tại bệnh viện K

Sau 10 năm, đã có 262 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu, thực hiện được trên 5.000 lượt khám lại cho các bệnh nhân trong chương trình nghiên cứu, cấp hơn 450.000 viên tamoxifen cho người bệnh.

Trong buổi chiều ngày 10/12, GS Love và các thầy thuốc tại Bệnh viện K có gặp gỡ trao đổi với các bệnh nhân ung thư vú đã và đang được điều trị tại Bệnh viện K. Nội dung cuộc gặp mặt xoay quanh những thành tựu về điều trị nội tiết ung thư vú đã và đang được áp dụng trên thế giới và Bệnh viện K. Theo đó việc áp dụng điều trị nội tiết bằng cắt buồng trứng và tamoxifen cho BN tại Bệnh viện K đã nâng tỷ lệ sống thêm không bệnh từ 58% lên 75%.

Điều trị nội tiết là một phương pháp điều trị hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân ung thư vú. Bên cạnh đó, điều hết sức có ý nghĩa là chi phí cho điều trị nội tiết lại tương đối rẻ hơn so với các phương pháp khác, điều rất quan trọng cho bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế còn hạn chế.

Đánh giá về các hoạt động và đóng góp của GS Love, PGS.TS Bùi Diệu, Giám đốc Bệnh viện K cho rằng GS Love đã có những cống hiến quan trọng giúp nâng cao trình độ năng lực chuyên môn tại Bệnh viện K, góp phần đưa việc chẩn đoán và điều trị ung thư vú tại đây ngang tầm với các nước tiên tiến, đồng thời giúp cứu sống hàng nghìn bệnh nhân ung thư vú.

Nguồn dân trí

Điều trị u nang buồn trứng

 U nang buồng trứng là những túi chứa đầy dịch hoặc túi bên trong hoặc trên bề mặt của buồng trứng. Buồng trứng là cơ quan song phương, nằm trên mỗi bên của tử cung.

Định nghĩa
U nang buồng trứng là những túi chứa đầy dịch hoặc túi bên trong hoặc trên bề mặt của buồng trứng. Buồng trứng là cơ quan song phương, nằm trên mỗi bên của tử cung. Trứng (trứng) phát triển và trưởng thành trong buồng trứng và được phát hành theo chu kỳ hàng tháng.

Nhiều phụ nữ có u nang buồng trứng ở một số thời gian trong cuộc sống của họ. Hầu hết u nang buồng trứng hiện nay ít hoặc không có sự khó chịu và vô hại. Phần lớn u nang buồng trứng biến mất mà không cần điều trị trong vòng một vài tháng.

Tuy nhiên, u nang buồng trứng – đặc biệt là những người đã vỡ, đôi khi tạo ra các triệu chứng nghiêm trọng. Cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe là để biết các triệu chứng và các loại u nang buồng trứng có thể báo hiệu một vấn đề quan trọng hơn, và lên lịch kiểm tra định kỳ khung chậu.

u-nang-buong-trung

Các triệu chứng

Không thể phụ thuộc vào một mình các triệu chứng để biết có một u nang buồng trứng. Trong thực tế có thể không có triệu chứng nào cả. Hoặc nếu có, các triệu chứng có thể tương tự như của các điều kiện khác, chẳng hạn như endometriosis, bệnh viêm vùng chậu, thai ngoài tử cung hoặc ung thư buồng trứng. Ngay cả ruột thừa và viêm túi thừa có thể tạo ra các dấu hiệu và triệu chứng bắt chước u nang buồng trứng vỡ.

Tuy nhiên, điều quan trọng cần được theo dõi của bất kỳ triệu chứng hoặc những thay đổi trong cơ thể và để biết những triệu chứng nghiêm trọng. Nếu có u nang buồng trứng, có thể gặp một hoặc nhiều trong những dấu hiệu và triệu chứng sau đây:

Kinh nguyệt không đều.

Đau vùng chậu – hằng số hoặc liên tục, đau âm ỉ có thể lan xuống thấp hơn trở lại và đùi.

Đau vùng chậu ngay trước khi thời gian bắt đầu hoặc ngay trước khi nó kết thúc.

Đau vùng chậu trong (giao hợp đau) giao hợp.

Đau trong khi ruột chuyển động hoặc áp lực lên ruột.

Buồn nôn, nôn hoặc đau vú tương tự như trải nghiệm trong khi mang thai.

No hoặc nặng ở bụng.

Áp lực lên trực tràng hoặc bàng quang – khó khăn hoàn toàn bàng quang.

Đến gặp bác sĩ khi

Tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức nếu có:

Đột ngột, nặng bụng hoặc đau vùng chậu.

Đau đi kèm với sốt hoặc ói mửa.

Những dấu hiệu và triệu chứng – hoặc những cú sốc, chẳng hạn như da lạnh, thở nhanh, hoa mắt hoặc điểm yếu – cho biết trường hợp khẩn cấp và có nghĩa là cần gặp bác sĩ ngay.

Nguyên nhân

Buồng trứng thường phát triển kết cấu giống như u nang gọi là nang mỗi tháng. Nang sản xuất các hormone estrogen và progesterone và giải phóng một quả trứng khi rụng trứng.

Đôi khi bình thường hàng tháng nang giữ lại ngày càng tăng. Khi điều đó xảy ra, nó trở nên như một u nang chức năng. Điều này có nghĩa là nó bắt đầu trong chức năng bình thường của chu kỳ kinh nguyệt.

Có hai loại u nang chức năng:

U nang. Xung quanh điểm giữa của chu kỳ kinh nguyệt, của tuyến yên não phát hành một sự đột biến của luteinizing hormone (LH), tín hiệu các nang trứng nắm giữ để phát hành nó. Khi mọi thứ đi theo kế hoạch, trứng nổ trong nang lông của nó và bắt đầu cuộc hành trình của nó xuống ống dẫn trứng trong sự tìm kiếm của tinh trùng và thụ tinh.

U nang bắt đầu khi tăng LH không xảy ra. Kết quả là một nang trứng không bị vỡ hoặc phát hành trứng của nó. Thay vào đó nó phát triển và biến thành u nang. Nang này thường vô hại, ít khi gây đau và thường tự biến mất trong vòng hai hoặc ba chu kỳ kinh nguyệt.

Corpus luteum u nang. Khi LH không tăng và trứng được phát hành, các nang trứng vỡ bắt đầu sản xuất số lượng lớn của estrogen và progesterone để chuẩn bị cho thụ thai. Nang này thay đổi là bây giờ gọi là thể vàng. Đôi khi, tuy nhiên, việc mở cửa thoát của trứng ra khỏi chất lỏng tích tụ bên trong nang lông, gây ra các thể vàng mở rộng thành các u nang.

Mặc dù các u nang này thường tự biến mất trong một vài tuần, nó có thể phát triển đến gần 4 inches đường kính và có khả năng chảy máu vào chính nó hoặc làm cho buồng trứng xoắn vặn, cắt đứt nguồn cung cấp máu và gây ra đau vùng chậu hoặc bụng. Nếu nó đầy máu, các u nang có thể vỡ, gây xuất huyết nội và đau đột ngột. Các thuốc clomiphene citrate (Clomid, Serophene), được sử dụng để gây rụng trứng, làm tăng nguy cơ u nang thể vàng phát triển sau khi trứng rụng. Những u nang không ngăn chặn hoặc có nguy cơ kết quả mang thai.

Các biến chứng

U nang buồng trứng lớn có thể gây ra sự khó chịu ở bụng. Nếu u nang lớn ép lên bàng quang, có thể cảm thấy cần phải đi tiểu thường xuyên hơn bởi vì khả năng bàng quang giảm.

Một số phụ nữ phát triển các loại ít phổ biến của u nang có thể không có các triệu chứng, nhưng bác sĩ có thể tìm thấy trong một cuộc kiểm tra khung chậu. Khối nang buồng trứng phát triển sau khi mãn kinh có thể là ung thư (ác tính). Những yếu tố quan trọng này cần kiểm tra vùng chậu thường xuyên.

Các loại sau đây của u nang nhiều phổ biến hơn so với u nang chức năng:

U nang da (dermoid). Những u nang có thể chứa các mô như da, tóc hay răng bởi vì chúng hình thành từ các tế bào sản xuất trứng của con người. Hiếm khi ung thư, nhưng có thể trở thành lớn, gây ra buồng trứng di chuyển ra khỏi vị trí bình thường của nó trong khung chậu. Điều này làm tăng nguy cơ đau xoắn buồng trứng, gọi là buồng trứng xoắn.

U nội mạc tử cung (endometriomas). Những u nang phát triển như là kết quả của màng trong dạ con, một tình trạng trong đó các tế bào tử cung phát triển ngoài tử cung. Một số mô có thể đính kèm vào buồng trứng và tạo thành một sự tăng trưởng.

U nang tuyến (cystadenomas). Những u nang phát triển từ mô buồng trứng và có thể được lấp đầy với một chất lỏng nước hoặc nhầy. Có thể trở thành lớn – đường kính 12 inch hoặc nhiều hơn – và dẫn đến xoắn buồng trứng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

U nang buồng trứng có thể được tìm thấy trong khám phụ khoa. Nếu nghi ngờ u nang, bác sĩ thường khuyên thử nghiệm thêm để xác định loại của nó và xem có cần điều trị.

Thông thường, bác sĩ hỏi một số câu để xác định chẩn đoán và để hỗ trợ trong các quyết định quản lý:

Hình dạng. Hình dạng u nang bất thường?

Kích thước. Kích thước nó?

Thành phần. Có chứa đầy chất lỏng, rắn hoặc hỗn hợp? U nang chứa đầy chất lỏng không có khả năng bị ung thư. Đặc hoặc pha trộn, đầy chất lỏng và rắn có thể yêu cầu đánh giá thêm để xác định có thể ung thư.

Để xác định loại u nang, bác sĩ có thể thực hiện các thủ tục sau đây:

Kiểm tra mang thai. Thử nghiệm mang thai dương tính có thể cho thấy u nang là một u nang thể vàng.

Siêu âm vùng chậu. Thủ tục này không gây đau đớn, một thiết bị giống như cây đũa (bộ chuyển đổi) được sử dụng để gửi và nhận sóng âm thanh tần số cao (siêu âm). Đầu dò có thể di chuyển qua vùng bụng và bên trong âm đạo, tạo ra hình ảnh của tử cung và buồng trứng trên một màn hình video. Hình ảnh này sau đó có thể được chụp ảnh và phân tích của bác sĩ để xác nhận sự hiện diện của u nang, giúp xác định vị trí của nó và xác định xem rắn, có chứa nước hay hỗn hợp.

Phẫu thuật nội soi. Sử dụng một ống nội soi, chèn vào bụng thông qua một đường rạch nhỏ – bác sĩ có thể thấy buồng trứng và loại bỏ các u nang buồng trứng.

Xét nghiệm máu CA 125. Mức độ protein máu được gọi là kháng nguyên ung thư 125 (CA 125) thường được nâng lên ở những phụ nữ mắc bệnh ung thư buồng trứng. Nếu phát triển u nang buồng trứng một phần rắn và có nguy cơ cao của bệnh ung thư buồng trứng, bác sĩ có thể kiểm CA 125 trong máu để xác định xem u nang có thể ung thư. CA 125 cao cũng có thể xảy ra trong điều kiện không phải ung thư, như u màng trong dạ con, u xơ tử cung và các bệnh viêm vùng chậu.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị tùy thuộc vào tuổi, loại, kích thước của u nang và các triệu chứng. Bác sĩ có thể đề nghị:

Chờ đợi và theo dõi. Có thể chờ đợi và được tái kiểm tra trong 1 – 3 tháng, nếu đang trong tuổi sinh sản, không có triệu chứng và siêu âm cho thấy có một chất lỏng đầy u nang. Bác sĩ có thể sẽ khuyên nên có siêu âm vùng chậu theo theo định kỳ để xem u nang đã thay đổi kích thước.

Cảnh giác chờ đợi, trong đó có giám sát thường xuyên với siêu âm, cũng là một lựa chọn điều trị thông thường được đề nghị cho phụ nữ sau mãn kinh nếu u nang chứa đầy chất lỏng và ít hơn 2 cm đường kính.

Thuốc tránh thai. Bác sĩ có thể khuyên nên dùng thuốc tránh thai để giảm nguy cơ u nang mới phát triển trong chu kỳ kinh nguyệt trong tương lai. Uống tránh thai cung cấp các lợi ích bổ sung giảm đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng.

Phẫu thuật. Bác sĩ có thể đề nghị loại bỏ u nang, nếu nó quá lớn, không giống như một u nang chức năng, đang phát triển hay vẫn còn tồn tại qua hai hoặc ba chu kỳ kinh nguyệt. U nang gây đau hoặc các triệu chứng khác có thể được gỡ bỏ.

Một số u nang có thể được loại bỏ mà không cần loại bỏ buồng trứng trong một thủ tục gọi là cystectomy. Bác sĩ cũng có thể đề nghị loại bỏ buồng trứng bị ảnh hưởng và để lại nguyên vẹn thứ khác trong một thủ tục gọi là oophorectomy. Cả hai thủ tục có thể cho phép duy trì khả năng sinh sản nếu vẫn còn khả năng sinh con. Để lại ít nhất một buồng trứng còn nguyên vẹn cũng có lợi ích của việc duy trì một nguồn sản xuất estrogen.

Nếu một khối u nang là ung thư, tuy nhiên, bác sĩ sẽ tư vấn cắt bỏ tử cung để loại bỏ cả hai buồng trứng và tử cung. Sau khi mãn kinh, nguy cơ của tìm thấy nang buồng trứng tăng nguy cơ ung thư. Kết quả là, các bác sĩ thường khuyên nên phẫu thuật khi một khối u nang buồng trứng phát triển sau khi mãn kinh.

Phòng chống

Mặc dù không có cách nào xác định để ngăn chặn sự phát triển của u nang buồng trứng, khám phụ khoa thường xuyên là một cách để giúp đảm bảo rằng những thay đổi trong buồng trứng được chẩn đoán càng sớm càng tốt. Ngoài ra, phải cảnh giác với những thay đổi trong chu kỳ hàng tháng, bao gồm các triệu chứng có thể đi kèm với kinh nguyệt mà không phải là điển hình vẫn tồn tại trong suốt hơn một vài chu kỳ. Hãy chắc chắn để nói chuyện với bác sĩ về bất kỳ vấn đề liên quan đến kinh nguyệt.

Những căn bệnh đe dọa khả năng làm mẹ của người phụ nữ

Đúng là theo các chuyên gia sức khỏe, các cặp vợ chồng có quan hệ tình dục không sử dụng bất kì biện pháp tránh thai nào liên tục trong 1 năm mà không đậu thai thì có thể được xếp vào diện hiếm muộn, vô sinh. Thông thường, sau khoảng thời gian này, các cặp vợ chồng nên đi khám để biết nguyên nhân từ ai và nguyên nhân đó là gì.

– Tắc vòi trứng: Tắc vòi trứng, có thể do nhiễm khuẩn hoặc do lạc nội mạc tử cung và chiếm tỷ lệ khoảng 40-50% trường hợp hiếm muộn, vô sinh. Bệnh thường được phát hiện chính xác nhất nhờ chụp tử cung – vòi trứng. Tắc vòi trứng khiến cho nhiều khi trứng đã gặp tinh trùng ở vòi trứng nhưng không thể di chuyển về tử cung để làm tổ mà phát triển ngay tại vòi trứng, gây ra chửa ngoài tử cung.

Một số triệu chứng có thể gặp khi bị tắc vòi trứng bao gồm: Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, khí hư nhiều hơn bình thường, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, lao động làm việc không tập trung, những triệu chứng tâm lý hay ức chế tâm lý…

nhung-can-benh-de-doa-kha-nang-lam-me-cua-nguoi-phu-nu

– Bệnh viêm vùng chậu: Bệnh viêm vùng chậu (PID) là một bệnh nhiễm trùng cơ quan sinh sản nữ. Nó thường xảy ra khi vi khuẩn lây lan qua đường tình dục từ âm đạo vào tử cung và đường sinh dục trên.

Nhiều phụ nữ phát triển bệnh viêm vùng chậu có thể không gặp triệu chứng nào đặc biệt hoặc là có các dấu hiệu sau: Đau vùng bụng dưới, sốt, tiết dịch âm đạo bất thường kèm có mùi, đau khi giao hợp, ra huyết âm đạo giữa chu kỳ…

Bệnh viêm vùng chậu có thể dẫn đến vô sinh hoặc thai ngoài tử cung. Bệnh chỉ được phát hiện sau khi gặp vấn đề mang thai hoặc nếu phát triển đau vùng chậu kinh niên.

– U xơ tử cung: U xơ tử cung là bệnh khá phổ biến ở chị em. Đây là loại u lành tính thường thấy nhất trong tử cung, nó có thể nằm ở thành hoặc trong lòng dạ con.

Mặc dù là bệnh phổ biến và không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung nhưng u xơ tử cung lại có thể làm cho chị em rất khó chịu và gây khó khăn cho việc trứng gặp tinh trùng. Đặc biệt, bệnh không có biểu hiện rõ ràng nên trong nhiều trường hợp, người bệnh có những triệu chứng có thể nhầm với mang thai.

Nếu u ở vị trí gần niêm mạc thì có thể gây chảy máu, băng huyết… Trong trường hợp này cần được can thiệp để xử lý kịp thời, tránh ảnh hưởng đến các khu vực lân cận, cản trở việc thụ thai.

– Bệnh viêm răng lợi: Các bệnh liên quan đến răng miệng xảy ra khi vi khuẩn trong miệng tạo thành một ổ viêm nhiễm quanh một chiếc răng và có thể lây lan vào hệ tuần hoàn. Bệnh này cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của người phụ nữ. Theo nhiều nghiên cứu thì phụ nữ bị bệnh răng lợi phải mất trung bình 7 tháng mới có thai, dài hơn 2 tháng so với những phụ nữ không mắc bệnh này.

– U nang buồng trứng: Buồng trứng có chức năng sản xuất trứng. U nang buồng trứng hình thành bên trong buồng trứng và là bao nang chứa đầy dịch. Cũng giống như nhiều bệnh phụ khoa khác, u nang buồng trứng có các triệu chứng rất mơ hồ, khó phán đoán từ sớm. Đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Khi bị u nang buồng trứng, chị em có thể gặp các triệu chứng như: Đau vùng bụng, kinh nguyệt thất thường, cảm giác đầy bụng, khó chịu ở âm đạo…

90% u nang buồng trứng là u lành nhưng cũng có tới 10% là ác tính. Nếu không kịp thời chữa trị có thể chuyển sang ung thư buồng trứng, đe dọa rất lớn đến khả năng phát triển và rụng trứng, từ đó gây khó khăn trong quá trình thụ thai và có con của chị em.

Mặc dù với mỗi bệnh lại có phương pháp điều trị khác nhau nhưng các bệnh lại có triệu chứng tương tự nhau nên các bác sĩ cũng có thể chẩn đoán nhầm nếu chỉ được nghe qua mô tả chứ không khám xụ thể. Vậy nên, để biết nguyên nhân chính xác thì bạn nên đi khám.

Theo afamily

Nguyên nhân phổ biến gây vô sinh nữ : Dị tật buồng trứng

Dị tật buồng trứng ảnh hưởng trực tiếp đến thiên chức làm mẹ, thậm chí có thể “cướp” mất khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Buồng trứng là một bộ phận quan trọng không chỉ thực hiện chức năng nuôi dưỡng tế bào trứng mà còn sản xuất hormone sinh dục điều khiển hoạt động tình dục và sinh sản ở phụ nữ. Các dị tật buồng trứng có thể gặp là buồng trứng bị suy thoái sớm hoặc tắc ống dẫn trứng…

Buồng trứng “nghỉ hưu” sớm

Kết hôn 2 năm, vợ chồng chị Tâm 27 tuổi, giáo viên một trường THCS ở Thanh Hóa rất sốt ruột, mong ngóng có em bé. Mỗi lần chậm kinh trong lòng chị phấp phỏng hy vọng nhưng kết quả thì vẫn không có gì.

di-tat-buong-trung-nguyen-nhan-pho-bien-gay-vo-sinh-nu

Ngày mới cưới, chị luôn tâm niệm vợ chồng còn trẻ tập lo sự nghiệp ổn định, còn chuyện con cái cứ để tự nhiên, trời cho lúc nào biết lúc đó. Dù vợ chồng chị không sử dụng biến pháp tránh thai nào nhưng vẫn chưa thấy “tin vui”.

Thời gian gần đây, chu kỳ kinh nguyệt của chị còn có những biểu hiện bất thường, tháng có, tháng không, thậm chí mấy tháng mới có một lần khiến vợ chồng chị vô cùng lo lắng. Đi khám bác sĩ để tìm hiểu nguyên nhân, chị mới biết mình chỉ có một buồng trứng, nhưng buồng trứng này có những dấu hiệu suy thoái sớm dẫn đến hiếm muộn, cần có sự can thiệp kịp thời để tránh vô sinh.

Trao đổi với bác sĩ chuyên khoa sản Lê Thị Kim Dung, Trung tâm y tế lao động Thái Hà, chị cho biết, buồng trứng là bộ phận quan trọng không chỉ thực hiện chức năng nuôi dưỡng tế bào trứng mà còn sản xuất hormone sinh dục điều khiển hoạt động tình dục và hoạt động sinh sản ở phụ nữ. Những dị dạng ở buồng trứng hoàn toàn có thể gây hiếm muộn, vô sinh như không có buồng trứng, có một bên, buồng trứng bị suy thoái sớm…

Hiện nay, có rất nhiều phụ nữ trẻ hiếm muộn, vô sinh do buồng trứng ngưng hoạt động sớm hay còn gọi là mãn kinh sớm. Trường hợp bệnh nhân trên đây, khả năng có con vô cùng khó bởi buồng trứng ngưng hoạt động sẽ không có sự rụng trứng dẫn đến mất cân bằng nội tiết, ảnh hưởng đến cơ chế thụ thai và vô sinh nữ.

Dị tật ống dẫn trứng

Vòi trứng là cơ quan nối giữa các buồng trứng với tử cung, nơi noãn gặp, kết hợp với tinh trùng tạo thành hợp tử và phát triển những bước đầu tiên. Nếu ống dẫn trứng bị tắc, chit hẹp có thể dẫn đên chửa ngoài tử cung, vô sinh.

Với trường hợp của chị Vân ở Hà Tĩnh, lấy chồng khi tuổi đời mười tám đôi mươi. Sau khi sinh cô con gái đầu lòng, chị mải mê tập trung lo ổn định kinh tế trước khi sinh cháu thứ 2. Xa gia đình đi lập nghiệp, mọi chi phí sinh hoạt trang trải cuộc sống đều dựa vào đồng lương công nhân ít ỏi của hai vợ chồng. Muốn đi làm để phụ giúp chồng, chị cai sữa cho con sớm và gửi ông bà ngoại chăm sóc.

Hai vợ chồng kế hoạch bằng phương pháp xuất tinh ngoài nhưng chị vẫn có thai ngoài ý muốn. Quyết định đến một phòng khám nhỏ phá thai, sau khi bỏ thai, chị bị đau bụng kéo dài, kèm theo sốt, đến bệnh viện bác sĩ cho biết bị sót nhau thai phải xử lý lại.

Bảy năm sau, khi có ít vốn liếng, vợ chồng tính về quê làm ăn tiện chăm sóc con cái. Lúc này, vợ chồng Vân mới tính chuyện sinh con để nhà “có chị có em”. Vậy nhưng, “thả” cả nửa năm nhưng anh chị vẫn chưa đạt được mong muốn.

Sốt ruột, chị đến chuyên khoa sản khám tư vấn, bác sĩ kết luận ống dẫn trứng chị bị tắc dẫn đến việc khó thụ thai do tình trùng không thể gặp trứng thụ tinh.

Bác sĩ Dung cho biết, bệnh lý ở vòi trứng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây vô sinh nữ, chiếm tỉ lệ 25 -35%. Tổn thương ở vòi trứng có thể là tạm thời nhưng cũng có khi là vĩnh viễn không hồi phục. Những trường hợp như bệnh nhân trên không hiếm, mấy năm gần đây tỉ lệ vô sinh nữ do tắc ống dẫn trứng ngày càng gia tăng.

Nguyên nhân chính là do sau khi phá thai bị viêm nhiễm, từ đó để lại những tổn thương ống dẫn trứng, gây tắc hoặc gây dị tật ống dẫn trứng. Viêm nhiễm phụ khoa, viêm vùng chậu mãn có thể dẫn đến hẹp ống dẫn trứng, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến mất khả năng sinh sản. Dính vùng chậu do buồng trứng và ống dẫn trứng dính nhau hoặc ống dẫn trứng và các tổ chức khác dính vào với nhau.

Ngoài vấn đề tắc, dính ống dẫn trưng hoặc ống dẫn trứng bị chít hẹp, vòi trứng còn có thể xuất hiện những dị tật bẩm sinh như không có vòi trứng, loa vòi trứng…  Bình thường mỗi buồng trứng chỉ có một vòi trứng, mỗi vòi trứng chỉ có một loa nhưng có một số trường hợp bất thường có thể có hoa vòi trứng một bên buồng trứng hoặc hai loa trứng ở mội vòi trứng.

Để phòng tránh dị tật ở buồng trứng và ống dẫn trứng, chị em nên tham khảo những biện pháp sau đây:

– Nên dùng những thực phẩm giàu lượng Phytoestrogen như đậu nành, ngũ cốc, lúa mì, đậu đỏ, đậu đen… để bổ sung lượng estrogen cần thiết.

– Nên dùng những loại sữa giàu lượng canxi phòng chống suy giảm chức năng buồng trứng do bệnh loãng xương.

– Giảm lượng muối, rượu và cà phê phòng tránh loãng xương, không nên hút thuốc lá, tránh khói thuốc.

– Tăng cường tập thể dục như yoga, chạy bộ, bơi… tránh những căng thẳng về thể chất, tinh thần, đây cũng là phương pháp quan trọng nuôi dưỡng buồng trứng và tăng mật độ xương.

– Bổ sung lượng vitamin E cần thiết. Theo chứng minh vitamin E không chỉ phòng chống lão mà còn tăng cường chức năng buồng trứng.

– Giữ vệ sinh “vùng kín” cẩn thận để tránh mắc các bệnh viêm nhiễm.

Trong trường hợp bệnh là bẩm sinh, chị em nên đến các cơ sở sản khoa có uy tín để được tư vấn về cách thức chữa trị hoặc biện pháp có thể thay thế.

Kích thích buồng trứng trong sinh sản

Tỷ lệ thành công của việc điều trị hiếm muộn phụ thuộc nhiều yếu tố. trong đó, đáng lưu ý là sự kích thích buồng trứng nhằm làm tăng số lượng và chất lượng nang noãn. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều bệnh nhân (BN) bỏ dở việc điều trị do tiêm thuốc kích thích buồng trứng kéo dài, tốn thời gian cũng như ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày của họ.

Liên quan đến vấn đề này, PV báo SK&ĐS đã có cuộc trao đổi với ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan, giảng viên Bộ môn Phụ sản Đại học Y Dược TP.HCM nhằm giúp người bệnh tiếp cận các thông tin mới và tuân thủ việc điều trị tốt hơn cũng như vượt qua những trở ngại để đến gần hơn với khát khao làm cha làm mẹ.

kich_thich_buong_trung

Kích thích buồng trứng và chọc hút trứng

Th- PV: Thưa BS, được biết tình hình vô sinh hiếm muộn ngày càng gia tăng. Đâu là nguyên nhân thường gặp nhất?

ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan: Tỷ lệ vô sinh có khuynh hướng ngày càng gia tăng ở các nước trên toàn thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cứ 6 – 7 cặp vợ chồng thì có 1 cặp có vấn đề về hiếm muộn. Tùy mỗi quốc gia, dân số, vùng miền mà nguyên nhân vô sinh có tần suất thay đổi. Tại Việt Nam, nguyên nhân thường gặp nhất ở nam giới là bất thường tinh trùng. Ở nữ giới, hai nguyên nhân vô sinh thường gặp nhất: tắc ống dẫn trứng và rối loạn rụng trứng. Trong nhóm rối loạn rụng trứng, nguyên nhân thường gặp nhất là hội chứng buồng trứng đa nang (HCBTĐN).

– PV: Với nhiều hiện tượng bị đa nang, nang buồng trứng buộc phải kích thích noãn mới có thể sinh em bé. Nhưng đa số sau khi kích noãn thường gặp đa thai. Liệu có cách nào để giảm hiện tượng đa thai này không?

ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan: Tỷ lệ phụ nữ bị HCBTĐN chiếm khoảng 5 – 10% dân số. Những phụ nữ này bình thường khó rụng trứng, khiến cho kinh nguyệt không đều và khả năng sinh sản giảm. Có những phụ nữ mỗi năm chỉ có kinh 1 – 2 lần. Ở những phụ nữ này khi điều trị vô sinh phải dùng thuốc gây rụng trứng. Tuy nhiên, khi được kích thích, do buồng trứng có nhiều nang, nên khả năng nhiều trứng rụng sẽ xảy ra cao hơn những phụ nữ không bị đa nang khác. Nhiều trứng rụng sẽ dẫn đến hậu quả đa thai.

Những trường hợp đa thai từ 3 thai trở lên, nguy cơ sinh non sẽ rất cao, có thể lên đến 70%, và tuổi thai vào thời điểm sinh non lại rất thấp, thường dưới 28 tuần, nên rất khó nuôi sống trẻ, nếu nuôi được cũng dễ để lại di chứng lâu dài cho trẻ như: mù, điếc, chậm phát triển tâm thần vận động…

Để tránh sinh non, khi kích thích rụng trứng, các bác sĩ thường dùng thuốc theo các phác đồ để làm thế nào chỉ có 1 – 2 nang phát triển. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, kiểm soát sự phát triển nang noãn của buồng trứng khá khó khăn, BN có thể có nhiều hơn 2 nang phát triển và rụng trứng. Đối với  những trường hợp này, nguy cơ đa thai có thể xảy ra. Để phòng ngừa sinh non cho những trường hợp có nhiều hơn 2 thai, hiện nay chúng tôi đã áp dụng thường quy phương pháp giảm thai qua siêu âm đầu dò ngả âm đạo. Phôi thai sẽ được hút ra ngoài vào tuần thứ 7 – 8 thai kỳ. Số phôi thai để lại trong buồng tử cung là 2 phôi. Phương pháp này hiện nay an toàn và hiệu quả. Tỷ lệ biến chứng rất thấp: sảy các thai còn lại <1%, xuất huyết, nhiễm trùng < 1%.

– PV: Được biết, hiện nay Việt Nam đã tiếp cận được phương pháp mới trong kỹ thuật kích thích buồng trứng. Điều này đem lại lợi ích gì cho BN? Và có chỉ định hạn chế trên những đối tượng BN cụ thể không, thưa BS?

ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan: Sự ra đời của loại thuốc kích thích buồng trứng mới đã làm giảm đáng kể gánh nặng điều trị cho bệnh nhân do tiêm thuốc mang lại. Bình thường, trong một chu kỳ kích thích buồng trứng, trung bình một BN phải tiêm 15 – 35 mũi tiêm, tùy theo phác đồ kích thích buồng trứng được sử dụng. Tuy nhiên, với phương pháp mới này, số mũi tiêm thuốc giảm xuống đáng kể, chỉ còn khoảng 7 mũi tiêm trong 1 chu kỳ điều trị. Điều này sẽ làm tăng sự thoải mái và thuận tiện cho BN khi điều trị.

Phương pháp mới này hiện chỉ được nghiên cứu sử dụng trên những BN có tiên lượng đáp ứng bình thường với kích thích buồng trứng. Những BN có khả năng đáp ứng kém (thường là những người có dự trữ buồng trứng giảm) hoặc đáp ứng quá mức (thường là những phụ nữ có buồng trứng đa nang hoặc nhiều nang) không được khuyến cáo sử dụng.

Riêng BN bị các bệnh nan y hoặc tim mạch hay bất kỳ bệnh mãn tính nào khác như: cường giáp, đái tháo đường, suy gan, suy thận… vẫn có thể được kích thích buồng trứng bằng phương pháp này để có con. Tuy nhiên, trước khi điều trị hiếm muộn, BN cần được khám bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo tình trạng bệnh hiện tại đang được kiểm soát tốt và sức khỏe hiện tại đủ khả năng để mang thai.

Một số bệnh đặc biệt như: ung thư, đặc biệt là các loại ung thư phụ thuộc nội tiết estrogen như ung thư vú, cần ưu tiên điều trị ung thư và có thể áp dụng các phương pháp bảo tồn khả năng sinh sản như: trữ lạnh trứng, phôi, tinh trùng để sau khi điều trị ung thư ổn định thì có thể điều trị hiếm muộn.

– PV: Trong quá trình điều trị kích thích buồng trứng, theo BS, BN cần lưu ý về mặt sức khỏe như thế nào? Và cần chuẩn bị những gì trước khi thực hiện?

ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan:  Kích thích buồng trứng sẽ làm cho hai buồng trứng to hơn, gây cảm giác trì nặng ở bụng dưới. Trong thời gian này, BN vẫn có thể sinh hoạt và đi làm bình thường, nhưng nên đi lại nhẹ nhàng, tránh làm việc nặng, không tập thể dục thể thao để tránh nguy cơ xoắn buồng trứng và vỡ nang buồng trứng. Kích thích buồng trứng làm tăng nội tiết tố estrogen, khiến 2 vú căng tức và có thể thấy buồn nôn. Tuy nhiên, những cảm giác này chỉ xảy ra vào 2 – 3 ngày cuối cùng của quá trình kích thích buồng trứng và sẽ nhanh chóng mất đi sau khi chọc hút trứng. Vì vậy, khi xảy ra những triệu chứng này, BN không nên lo lắng. Tuân thủ đúng những hướng dẫn của bác sĩ sẽ giúp BN dễ dàng vượt qua những triệu chứng khó chịu kể trên.

– PV: Hiện đã có 63 BN được ứng dụng kích thích buồng trứng theo kỹ thuật mới, BS có thể cho biết tình trạng đáp ứng có gì khả quan không?

ThS.BS.Vương Thị Ngọc Lan: Chúng tôi đã thực hiện kích thích buồng trứng ứng dụng tiến bộ mới cho hơn 60 trường hợp có chỉ định thụ tinh trong ống nghiệm do tinh trùng chồng yếu, tắc 2 ống dẫn trứng, bệnh lý lạc nội mạc tử cung. Đáp ứng  buồng trứng của BN khá tốt với số lượng trứng trung bình thu được là 15. Hơn nữa, BN chỉ thực hiện tiêm thuốc ít ngày do đó, thuận tiện cho việc làm và đi lại của BN. Kích thích buồng trứng với ứng dụng mới này đặc biệt thuận tiện và hiệu quả cho các chu kỳ điều trị bằng phương pháp xin trứng vì số mũi tiêm thuốc ít và đáp ứng buồng trứng của người cho trứng thì tốt.

Theo suckhoevadoisong

Vô sinh chỉ vì những lý do rất tự nhiên

Chị em có thể vô tình khiến mình trở thành vô sinh chỉ vì những lý do rất… tự nhiên như: tự nhiên tắt kinh, kinh nguyệt thất thường hoặc viêm nhiễm kéo dài.

“Không lên” thì thôi

Có kinh từ năm 15 tuổi nhưng đến năm 20 tuổi, chị L.T.T (Nam Định) bỗng nhiên thấy kinh nguyệt có dấu hiệu ít dần và sau đó ngưng hẳn. Cứ nghĩ kinh nguyệt thất thường, chưa ổn định mà thôi nên chị L.T.T. không mấy bận tâm.

Hơn nữa, chị T. còn thản nhiên nghĩ rằng “không có càng đỡ bận tâm, khi nào cần thì uống thuốc cho nó xuất hiện trở lại là được”. Bẵng đi mấy năm sau, đến khi lập gia đình và gặp khó khăn trong chuyện quan hệ vợ chồng chị T. mới bắt đầu lo lắng.

Đến khám ở bệnh viện Phụ sản, chị T. mới giật mình khi biết buồng trứng của chị bị teo do bị tắc kinh quá lâu, không được chữa trị kịp thời, khả năng có con của chị là rất thấp.

“Đều đặn” là được

Chị Hoàng T. X. (28 tuổi, Đà Nẵng) lập gia đình được 2 năm. Với tư tưởng “vợ chồng son một con thành bốn” nên vợ chồng chị X. quyết định “ăn chơi” vài năm đã rồi mới tính đến chuyện con cái.

Vậy là, cho dù chu kì kinh nguyệt khá thất thường, có tháng kéo dài 10 ngày mới hết, có tháng chỉ có 1-2 ngày, thậm chí 3-4 tháng mới thấy kinh một lần nhưng chị X. không hề bận tâm. Chị nghĩ, do ăn uống, chế độ sinh hoạt của vợ chồng thì chuyện “đèn đỏ” trồi, sụt là bình thường.

Có ai khuyên nên đi khám và chữa trị thì chị X. đều tỏ ra rất tự tin: “Khi nào cần sinh em bé thì uống thuốc cho kinh nguyệt đều đặn là được”.

Thế nhưng, dù đã uống nhiều thuốc, kinh nguyệt đã đều trở lại hơn 1 năm nay nhưng tin vui thì vẫn… bặt vô âm tín. Chỉ đến khi đi khám ở một phòng khám sản khoa ở Đà Nẵng, chị X. mới biết mình đã bị dính buồng trứng, chứ́c năng của buồng trứng bị suy giảm nghiêm trọng, khả năng thụ thai là rất thấp.

Viêm nhiễm là chuyện… đương nhiên

Ai cũng biết huyết trắng (khí hư) thường tiết ra quanh ngày rụng trứng, có thể kéo dài 3-5 ngày và nó là hiện tượng bình thường. Nhưng trường hợp huyết trắng kéo dài cả tháng như chị Thanh Thúy (27 tuổi, Hà Nội) là điều hết sức không bình thường.

Vì không thấy có mùi hôi nên chị Thanh Thúy chủ quan cho rằng do chị thường xuyên thức khuya nên mới bị vậy. Hàng ngày, chị tích cực dùng các loại thuốc, nước rửa vệ sinh phụ nữ mà chị tự mua ở hiệu thuốc.

Đến khi thường xuyên bị đau bụng dữ dội, chị Thúy mới quyết định đi khám. Trong lúc ngồi chờ những xét nghiệm cuối cùng tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, chị Thúy nước mắt ngắn dài khi những kết luận trước đó của bác sĩ đã khẳng định chị bị viêm nhiễm âm đạo, cổ tử cung lên đến vòi trứng làm tắc hai vòi trứng và đe dọa khả năng làm mẹ của chị.

Theo các chuyên gia tư vấn sức khỏe sinh sản của Tổng đài tư vấn Ánh Dương thì yếu tố kinh nguyệt bất thường và viêm nhiễm âm đạo đều có thể dẫn đến hậu quả là vô sinh ở nữ giới.

Về trường hợp của chị L.T.T, sự tắc kinh bất thường có thể liên quan đến nhiều biến cố hoặc do suy buồng trứng và các mạch máu nuôi buồng trứng bị ảnh hưởng. Hiện tượng này diễn ra từ từ như một người mãn kinh cho dù người phụ nữ vẫn còn rất trẻ.

Tuy nhiên, hầu hết các nguyên nhân bất thường ở cơ quan sinh dục đều có thể phát hiện được nhờ siêu âm, xét nghiệm máu để đo nồng độ nội tiết và có những giải pháp điều trị khác nhau. Vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Còn trường hợp của chị T.X., có thể nguyên nhân lại chính là do thuốc uống nội tiết. Chị X. cho rằng chỉ cần uống thuốc cho kinh nguyệt đều đặn là có thể mang thai nhưng quan niệm này hoàn toàn sai lầm.

Thuốc có thể làm cho người phụ nữ có kinh trở lại, nhưng không có nghĩa là trị được nguyên nhân chính liên quan đến chức năng của buồng trứng. Thậm chí, đa số những thuốc làm cho ra kinh còn ức chế hoạt động của buồng trứng.

Theo một khảo sát tại BV Đa khoa trung ương Cần Thơ trên 408 phụ nữ, công bố vào năm 2010 thì tỷ lệ viêm âm đạo do nhiễm khuẩn là 25,7%, viêm âm đạo do nấm Candida là 10% và viêm âm đạo do trùng roi Trichomonas vaginalis là 2,7%.

vo_sinh_vi_lu_do_troi_oi

Để tránh hậu quả đáng tiếc, chị em nên vệ sinh hàng ngày bằng nước sạch.

Một trong những yếu tố chính liên quan đến viêm âm đạo chính là thói quen thụt rửa âm đạo, âm hộ bằng dung dịch sát khuẩn không theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ. Ngày nay, có rất nhiều loại thuốc diệt khuẩn, chống viêm âm đạo được bày bán ở các hiệu thuốc mà không rõ chất lượng và độ an toàn khi sử dụng ra sao.

Vì vậy, để tránh hậu quả đáng tiếc, chị em nên vệ sinh hàng ngày bằng nước sạch. Dung dịch rửa chỉ nên dùng vào những ngày có nguy cơ nhiễm trùng, như trong kỳ kinh nguyệt và theo chỉ định của bác sĩ. Việc sử dụng dung dịch thường xuyên sẽ làm khô âm hộ – âm đạo, đồng thời việc thay đổi môi trường âm hộ sẽ tạo điều kiện cho viêm nhiễm.

Theo afamily/24h

Ung thư buồng trứng diễn biến âm thầm ở phụ nữ

Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Thống kê cho thấy, ở Việt Nam, tử vong do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ ba sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ có kết quả tốt nhưng hiện nay hầu hết các bệnh nhân nhập viện điều trị đều đã ở giai đoạn muộn do các biểu hiện của ung thư buồng trứng thường diễn biến âm thầm, không rõ ràng.
Buồng trứng là một trong các cơ quan sinh dục của người phụ nữ có chức năng phóng noãn và tiết ra các chất nội tiết (estrogen, progesteron) từ lúc dậy thì cho đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ có 2 buồng trứng, mỗi cái ở mỗi bên của tử cung. Ung thư buồng trứng là khi tế bào buồng trứng phát triển một cách bất thường, tạo ra những khối u ác tính ở một hoặc 2 bên buồng trứng.

Nguyên nhân gây ung thư thư buồng trứng đến nay vẫn chưa được xác định rõ nhưng có thể xác định những yếu tố nguy cơ như: Sự thay đổi về gen di truyền, tiền sử gia đình có người bị ung thư buồng trứng (những người đã có mẹ, chị em gái hoặc con gái từng mắc thì có đến 5% nguy cơ mắc bệnh này), độ tuổi ( thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh và tăng lên khi tuổi càng cao), phụ nữ mất khả năng sinh sản, u nang buồng trứng ( nang hình thành sau khi mãn kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư),…

nguyen-nhan-gay-ung-thu-buong-trung-1

Diễn biến âm thầm

Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường diễn biến âm thầm, không có dấu hiệu đặc biệt. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ có ý thức quan tâm đến sức khỏe của mình sẽ phát hiện ra những dấu hiệu có thể đã mắc ung thư buồng trứng như: Rối loạn kinh nguyệt, đau hoặc nặng ở vùng bụng dưới, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiểu (tiểu khó, són tiểu), mệt mỏi kéo dài, giảm cân, chán ăn, rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đại tiện táo hoặc tiêu chảy),…  Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu trên sẽ kéo dài và nặng hơn, thậm chí sờ được khối u ở vùng bụng dưới, di căn tới những bộ phận khác như tử cung, vòi trứng, màng bụng, hạch bạch huyết trong ổ bụng, các cơ quan ngoài ổ bụng,…

Điều trị như thế nào?

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám âm đạo, tử cung,… siêu âm để phát hiện khối u, làm các xét nghiệm khác như chụp Xquang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,… để chẩn đoán ung thư. Điều trị ung thư buồng trứng bao gồm phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất. Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh sớm hay muộn bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Ở giai đoạn sớm khi tế bào ung thư khu trú ở buồng trứng chưa lan ra lớp vỏ của buồng trứng thì có thể sẽ phẫu thuật cắt tử cung và hai phần phụ. Ở giai đoạn muộn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn vì tế bào ung thư đã di căn sang rất nhiều các cơ quan khác, tỷ lệ phẫu thuật thành công và thời gian sống sau phẫu thuật là rất ít. Do đó, khi thấy có những biểu hiện bất thường của cơ thể nghi ngờ ung thư thư buồng trứng như đã nêu trên cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm.

Bác sĩ Thu Lan

Theo SKDS

Đa nang buồng trứng có thể gây vô sinh

da_nang_buong_trung

Buồng trứng bình thường (trên) – Buồng trứng đa nang (dưới).

Không phải ai bị buồng trứng đa nang cũng bị vô sinh nhưng hầu như nếu không phát hiện sớm thì buồng trứng đa nang là một trong những nguyên nhân gây nên sự hiếm muộn về đường con cái. Khi testosteron sinh ra trong buồng trứng quá nhiều, trứng phát dục chậm hoặc dừng phát triển khi ở giai đoạn chưa chín. Người bị mắc bệnh buồng trứng đa nang có thể kinh nguyệt ít, ít dần, không đúng chu kỳ, không thấy hiện tượng trứng rụng hằng tháng, kết hôn sau 3 năm vẫn chưa có con. Buồng trứng đa nang có một lớp vỏ dày, chắc và không có sẹo phóng noãn. Nếu không được điều trị, các nang trứng không to lên được, không vỡ được, nằm dưới lớp vỏ dày của buồng trứng. Khi siêu âm, đặc biệt là siêu âm bằng đầu dò qua đường âm đạo, sẽ thấy nhiều nang trứng kích thước dưới 10mm, phân bố như chuỗi hạt đeo cổ nằm ngay lớp vỏ buồng trứng. Phẫu thuật ổ bụng có thể phát hiện thấy vỏ màng bao quanh buồng trứng dày lên, mặt cắt cho thấy có nhiều bọc rỗng với kích thước khác nhau. Để điều trị bệnh đa nang buồng trứng có rất nhiều phương pháp nhưng trước hết là phải gây phóng noãn. Đối với phụ nữ chưa lập gia đình, chưa quan hệ tình dục, chưa muốn sinh con thì được dùng thuốc kích thích phóng noãn. Tùy thuộc vào độ dày của vỏ buồng trứng và sự đáp ứng thuốc của từng cơ thể, trứng sẽ phát triển to lên và tự vỡ. Đối với phụ nữ hiếm muộn, trước hết cho dùng thuốc kích thích phóng noãn, tiếp theo là can thiệp ngoại khoa bằng việc cắt bỏ một phần hoặc chọc thủng vài vị trí bề mặt buồng trứng bằng nội soi. Ngoài việc chọc vài điểm trên bề mặt buồng trứng để phá vỡ bức tường dày, bác sĩ thường chọc bớt một vài nang noãn phát triển dở dang trước kia để làm thay đổi nội tiết, làm tăng tác dụng của thuốc kích thích phóng noãn. Động tác này cũng giúp các nang noãn có cơ hội phát triển và lách vào những khoảng trống vừa tạo để to lên và vỡ ra ngoài. Bị mắc bệnh buồng trứng đa nang mà có thai thì cũng phải cẩn thận vì rất dễ bị sảy thai. Vì vậy, nếu có thai, hãy thông báo với bác sĩ về bệnh tật của mình để được hướng dẫn cách giữ gìn và bảo vệ thai nhi.

Theo suckhoevabuongtrung

Nguyên nhân và điều trị viêm vùng chậu

Viêm vùng chậu (VVC) là bệnh lý phụ khoa thường gặp ở nữ giới trong tuổi sinh đẻ. Đây là một hội chứng lâm sàng gây nên bởi tình trạng nhiễm trùng của tử cung, tai vòi, buồng trứng, phúc mạc chậu và các cơ quan lân cận. Phần lớn các trường hợp VVC là do sự phát tán một tình trạng nhiễm trùng trước đó ở âm đạo, cổ tử cung.

Những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân

Các yếu tố nguy cơ gây nên VVC bao gồm: phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, có quan hệ sớm và quan hệ với nhiều bạn tình, đã có tiền căn viêm cổ tử cung nhầy mủ điều trị không triệt để, tái phát nhiều lần. Ngoài ra các thủ thuật nạo hút thai, các thủ thuật trên âm đạo, cổ tử cung, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây bệnh. Đa số trường hợp mà nguyên nhân gây bệnh là những loại vi khuẩn lây lan qua đường tình dục như neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp nguyên nhân gây bệnh có thể do các loại vi khuẩn khác có mặt trong âm đạo như gardnerella vaginalis, haemophilus influenzae, mycoplasma hominis, ureaplasma urealyticum Group A streptococci, Peumococci và các loại trực trùng trong đường ruột.

700-027212

Quan hệ một vợ một chồng là cách tốt nhất để tránh các bệnh viêm nhiễm qua đường tình dục dẫn đến viêm vùng chậu

Các dấu hiệu nhận biết

Tùy theo tác nhân gây bệnh, mức độ nhiễm trùng và khả năng đề kháng của cơ thể mà các dấu hiệu nhận biết trên lâm sàng trong VVC rất đa dạng từ người này sang người khác. Triệu chứng ban đầu chỉ là một cảm giác trằn nhẹ vùng bụng dưới, trường hợp này ta xếp vào nhóm mức độ nhẹ. Trường hợp nặng, người bệnh than đau vùng bụng dưới, đau từng cơn hay đau âm ỉ, huyết trắng âm đạo ra nhiều hơn và nặng mùi kèm thay đổi màu sắc huyết trắng, màu xanh hay màu vàng. Dấu hiệu sốt trên 38oC, ớn lạnh toàn thân, người mệt. Khi quan hệ, cảm giác đau nhiều, đau nhiều hơn khi ấn vào hạ vị.

Việc xác định VVC dựa vào các triệu chứng sau: đau vùng bụng dưới, đau khi lắc cổ tử cung lúc thăm khám âm đạo và đau khi khám 2 phần phụ (gồm vòi trứng, buồng trứng, hai bên phải và trái). Ngoài ra, xét nghiệm máu, bạch cầu tăng trên 10.000 mm

Diễn tiến của bệnh

Trong những trường hợp VVC không được điều trị hoặc điều trị không đúng mức có thể gây áp-xe vùng chậu, thường là khối áp-xe ở tai vòi buồng trứng, nhưng một số ít trường hợp khác có thể là khối áp-xe ở ruột non, ruột già hay ruột thừa. Khối áp-xe có thể vỡ vào ổ bụng gây viêm phúc mạc.

Một số trường hợp VVC để lại di chứng đau vùng chậu mạn tính dai dẳng nguyên do vi khuẩn neisseria gonorrheae và chlamydia trachomatis đều có phân tử có khả năng kết dính với các receptors của tế bào biểu mô đường sinh dục, đồng thời chúng tiết nội độc tố làm tổn thương hàng loạt lông chuyển của nội mạc vòi trứng gây ra xơ dính làm ảnh hưởng sự thụ thai của người bệnh đưa đến vô sinh và dễ biến chứng bị thai ngoài tử cung về sau.

Điều trị

Việc điều trị viêm VVC chủ yếu là điều trị nội khoa với kháng sinh phổ rộng thích hợp, cần thiết điều trị sớm và liên tục có cơ may tránh được di chứng về sau của VVC. Tất cả các phác đồ điều trị phải hiệu quả đối với cả neisseria gonorrheae lẫn chlamydia trachomatis. Đối với các thể bệnh nhẹ, có thể điều trị tại nhà. Tuy nhiên với các thể bệnh nặng cần phải nhập viện điều trị. Tiêu chuẩn điều trị nội trú tại bệnh viện bao gồm các tình huống sau: người bệnh trẻ dưới 18 tuổi, khi xác định VVC mà chưa loại trừ các bệnh lý ngoại khoa khác như bệnh viêm ruột thừa; người bệnh đang mang thai; người bệnh điều trị ngoại trú không đạt kết quả, có kèm sốt cao 39oC hoặc xét nghiệm máu bạch cầu tăng 15.000mm3 và thăm khám bụng và âm đạo có khối áp-xe phần phụ.

Thuốc điều trị điều trị ngoại trú tại nhà đối với thể nhẹ: ofloxacin 400mg phối hợp flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày hoặc cifixim 400mg phối hợp doxycyclin 100mg và flagyl 500mg, dùng liên tục 14 ngày. Cần kết hợp thuốc giảm đau, trợ sức, chế độ nghỉ ngơi và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Thuốc điều trị nội trú, việc sử dụng thuốc kháng sinh toàn thân liều cao cần theo sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Kết hợp giảm đau, hạ sốt, bù nước điện giải và nâng sức đề kháng cơ thể.

Trường hợp có biến chứng áp-xe vòi trứng và dùng thuốc kháng sinh không đáp ứng phải phẫu thuật cắt bỏ khối áp-xe và dẫn lưu ổ bụng.

Dự phòng

Phần lớn các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục nói chung và VVC nói riêng lây lan qua đường tình dục tùy thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế, xã hội. Vì vậy, để dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục cần thiết lưu ý đến một số các biện pháp sau:

– Tuyên truyền giáo dục và thông tin y tế, nhất là đối tượng thanh thiếu niên về những nguy hiểm của các bệnh lý lây qua đường tình dục.

– Đề cao nền tảng gia đình, tuyên truyền đời sống một vợ một chồng. Đây là cách tốt nhất để phòng tránh các bệnh lây qua đường tình dục.

– Đối với các quan hệ nghi ngờ, phải biết cách phòng bệnh cho mình và cho người tiếp xúc. Sử dụng bao cao su là phương pháp hữu hiệu nhất.

– Phụ nữ khi sử dụng, thuốc rửa phụ khoa phải đúng cách, theo sự chỉ dẫn trên mỗi chai thuốc rửa, lưu ý không thụt rửa vào âm đạo mà chỉ rửa vùng âm hộ mà thôi, việc thụt rửa vào trong âm đạo sẽ làm xáo trộn môi trường âm đạo tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn gây hại phát triển gây nhiễm khuẩn âm đạo. Khi có huyết trắng bất thường cần đến cơ sở chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị đúng cách, không nên tự ý đặt thuốc âm đạo.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Rối loạn kinh nguyệt ở trẻ vị thành niên

Kinh nguyệt là gì?

Kinh nguyệt là biểu hiện sự trưởng thành và bắt đầu hoạt động của buồng trứng và người phụ nữ bắt đầu có khả năng có thai. Tuổi có kinh lần đầu của các trẻ gái thường là 13-16 tuổi. Những năm gần đây, xu hướng có kinh sớm hơn, có trẻ hành kinh lúc 11-12 tuổi. Nếu có kinh trước 10 tuổi gọi là hành kinh sớm và thường là bệnh lý. Nếu có kinh sau 16 tuổi là có kinh muộn. Nếu sau 18 tuổi chưa có kinh thì được gọi là vô kinh nguyên phát. Nếu hành kinh mà thời gian ra huyết kéo dài hơn 7 ngày gọi là rong kinh.

Một vòng kinh hay còn gọi là chu kỳ kinh từ 28-30 ngày. Thời gian hành kinh 3-4 ngày. Lượng huyết kinh thường nhiều vào ngày thứ nhất và thứ hai. Tổng số huyết kinh khoảng 60-80ml.

roi_loan_kinh_nguyet_o_tre_vi_thanh_nien

Muộn có kinh là gì?

Là những trường hợp trên 16 tuổi mới hành kinh lần đầu tiên. Có thể lượng huyết kinh ít hơn so với những người khác. Nguyên do dậy thì muộn, buồng trứng kém phát triển, hoặc do dinh dưỡng kém, người bé nhỏ, gầy yếu hoặc do bệnh tật nên cơ thể kém phát triển.

Rong kinh tuổi dậy thì là gì?

Rong kinh tuổi dậy thì là những trường hợp thời gian hành kinh kéo dài trên 7 ngày, hậu quả làm cho các em xanh xao thiếu máu, người mệt mỏi. Vì ra huyết kéo dài, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên các em dễ bị viêm đường sinh dục. Viêm nhiễm có thể lan tỏa lên hai vòi tử cung (trước đây gọi là vòi trứng) làm hẹp hoặc tắc, dễ bị thai ngoài tử cung hoặc vô sinh sau này. Mặt khác, rong kinh có thể gây rối loạn phóng noãn (rụng trứng) cũng là một nguyên nhân gây vô sinh.

Vô kinh tuổi dậy thì là gì?

Vô kinh tuổi dậy thì là quá 18 tuổi mà vẫn chưa hành kinh. Có hai loại nguyên nhân:

Rối loạn nội tiết: đây là một hội chứng liên quan chặt chẽ từ não đến buồng trứng, rất khó điều trị mà biểu hiện bên ngoài là cơ quan sinh dục phụ không phát triển như: vú nhỏ, không có lông mu, lông nách, âm hộ nhỏ bé. Cũng có thể là do rối loạn nhiễm sắc thể giới tính thường gặp ở những người nam giả nam hoặc nữ giả nữ.Bất thường về phát triển của bộ phận sinh dục: là những trường hợp không phát triển một phần hoặc toàn bộ phận sinh dục. Nếu bộ phận sinh dục không phát triển hoàn toàn thì không có hiện tượng kinh nguyệt, ví như không có tử cung hoặc không có buồng trứng. Nếu bộ phận sinh dục không phát triển một phần thì vẫn có hiện tượng kinh nguyệt, nhưng vì huyết kinh bị ứ lại không chảy ra ngoài được nên gọi là bế kinh.

Những triệu chứng gợi ý bế kinh

Đến tuổi dậy thì có đau bụng vùng dưới đều đặn hằng tháng, mỗi lần đau kéo dài 3-4 ngày, sau đó trở lại bình thường.

Những lần sau đau tăng hơn lần trước.

5, 6 lần đau như vậy sẽ thấy một khối ở trên xương mu, nhiều khi đau căng, quằn quại, các cháu kêu khóc do quá sức chịu đựng.

Nếu bế kinh do màng trinh không thủng thì thấy nặng, căng tức ở âm hộ. Khi khám 2 môi bé ở âm hộ thấy huyết kinh làm giãn màng trinh và có màu tím.

Hậu quả của bế kinh

Do huyết kinh không thoát ra được, ứ đọng lại làm tử cung và vòi tử cung dãn căng, phá hủy niêm mạc của tử cung và vòi tử cung nên không thể có thai được. Là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, có thể làm nhiễm khuẩn rồi vỡ và sẽ gây viêm phúc mạc ổ bụng. Có thể vỡ vòi tử cung do căng giãn quá mức.

Phòng tránh những bất thường kinh nguyệt tuổi vị thành niên

Bố mẹ và các thành viên trong gia đình nên quan tâm đến hiện tượng đau bụng, đặc biệt là đau bụng diễn ra hằng tháng có tính chất chu kỳ mà không hành kinh phải đưa các em đi khám bệnh.

Cho ăn nhiều hoa quả, đủ dinh dưỡng để các cháu phát triển tốt về thể chất.

Nếu các cháu bị rong kinh, phải đưa các cháu đến khám bệnh ở những phòng khám chuyên khoa để điều trị sớm, tránh rối loạn phóng noãn sẽ gây vô sinh.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Vương Tiến Hòa

Cách phòng tránh viêm âm đạo – Âm hộ

Bộ phận sinh dục phụ nữ có chức năng sinh lý đặc biệt để đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ. Bộ phận này có cấu tạo giống một ống đèn xếp mở ra ngoài cơ thể, lại có vị trí gần nơi bài tiết phân, nước tiểu hàng ngày khiến cho âm hộ luôn ẩm ướt. Nếu không vệ sinh tốt sẽ sinh mùi hôi khó chịu làm giảm sự hấp dẫn, giảm khoái cảm, giảm ham muốn của phụ nữ. Đồng thời tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng hoạt động gây ra viêm nhiễm, nấm ngứa tại chỗ hoặc có thể vào sâu, lan rộng đến âm đạo, tử cung, buồng trứng. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sinh khoẻ sinh sản của phụ nữ.

cach_phong_tranh_viem_am_dao_am_ho

Nguyên nhân gây viêm nhiễm âm hộ – âm đạo

Bình thường, ở môi trường âm đạo luôn tồn tại hệ vi khuẩn sống hoại sinh, trong đó phải kể đến 7 loại vi khuẩn lactobacilli giúp cân bằng sinh lý âm đạo. Sự tồn tại của các vi khuẩn có lợi đã ức chế vi khuẩn có hại gây bệnh. Bất cứ tác động nào gây mất cân bằng hệ vi khuẩn này đều tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại gây viêm nhiễm. Do vậy mà bệnh lý thường gặp ở phụ nữ là viêm âm hộ – âm đạo. Bệnh có thể gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào, tuy không gây hại trực tiếp đến tính mạng nhưng gây xáo trộn trong sinh hoạt cá nhân, đời sống tình dục… Một số trường hợp do điều trị muộn hoặc không đúng cách sẽ để lại di chứng như: teo hẹp vòi trứng, gây vô sinh hoặc thai ngoài tử cung… Với người đang mang thai có thể dẫn đến sảy thai hoặc đẻ non.

Có nhiều nguyên nhân gây viêm nhiễm âm hộ – âm đạo, song chủ yếu là do thiếu hiểu biết về vệ sinh sinh dục và vệ sinh tình dục cũng như môi trường nóng, ẩm, dễ ô nhiễm. Mùa nắng nóng mặc quần lót, quần dài quá chật cũng có thể tạo ra một môi trường ẩm ướt thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, gây viêm nhiễm. Ngoài ra việc sử dụng bừa bãi các thuốc kháng sinh, Corticoid, làm thay đổi môi trường acid của âm đạo cũng góp phần làm gia tăng sự viêm nhiễm do vi khuẩn gây bệnh có điều kiện phát triển vượt qua cả sức tự bảo vệ của cơ thể.

Cách phòng tránh viêm nhiễm âm hộ – âm đạo

– Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên trong thời kỳ kinh nguyệt, thai nghén, hậu sản, trước và sau khi quan hệ tình dục.

– Giữ cho vùng kín càng khô ráo càng tốt. Tránh mặc quần áo chật, quần ẩm ướt, không nên mặc đồ lót bó sát ngăn da tiếp xúc với không khí gây rối loạn tuần hoàn máu, thay quần lót thường xuyên.

– Không thụt rửa âm đạo khi không có chỉ dẫn của thầy thuốc, vì việc thụt rửa dễ ảnh hưởng tới độ pH, cân bằng sinh lý âm đạo.

– Không nên dùng xà bông hay các chất tẩy rửa mạnh để vệ sinh vùng kín. Khi sử dụng dung dịch vệ sinh phụ nữ cần chọn lựa sản phẩm phù hợp, không nên sử dụng thường xuyên những dung dịch sát khuẩn mạnh, tránh làm xáo trộn môi trường tự nhiên của âm đạo.

– Không dùng nước bẩn có nhiều vi sinh vật như nước ao hồ, kênh rạch để tắm rửa vệ sinh.

– Nên đi khám phụ khoa định kỳ hàng năm. Khi đã mắc bệnh phải đi khám phụ khoa ngay để xác định nguyên nhân gây bệnh và có biện pháp điều trị kịp thời.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Kiến thức cho tuổi tiền mãn kinh

Trong đời sống sinh lý người phụ nữ, từ lúc sinh ra đến khi xế chiều, thì sự thay đổi của hệ thống cơ thể đều diễn ra nhiều giai đoạn, từ tuổi ấu thơ, tuổi dậy thì, tuổi trưởng thành, tuổi mãn kinh và tuổi già. Tuổi mãn kinh là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động mạnh mẽ sang trạng thái thoái dần rồi kết thúc.

kien_thuc_cho_tuoi_tien_man_kinh

1. Thời kỳ mãn kinh được diễn biến qua ba giai đoạn, thời kỳ tiền mãn kinh, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu mãn kinh.

Trong thời kỳ tiền mãn kinh do nang noãn trong buồng trứng không còn nhạy cảm với nội tiết tố, cho nên nang noãn bị giảm hẳn ít đi và phát dục không đầy đủ, thậm chí không chín được để rụng thành trứng, vì thế chu kỳ kinh nguyệt bị rối loạn, kỳ kinh và lượng kinh cũng biến đổi khác nhau, sau đó chức năng của buồng trứng ngày càng yếu đi, lượng estrogene tiết ra giảm đi đến mức không đủ để làm cho nội mạc tử cung bong ra và dẫn đến tình trạng tắt kinh.

Tuổi mãn kinh thường ở tuổi khoảng 45 đến 50, trung bình là 47, tuy nhiên có người tắt kinh sớm ở độ tuổi 40, cá biệt sớm nhất là 35, cũng có người kéo dài đến tận 55-56, vào cuối thời kỳ tắt kinh, buồng trứng người phụ nữ bị xơ hóa, teo nhỏ và mất hẳn chức năng nội tiết.

Thời kỳ mãn kinh chỉ ghi nhận qua hồi cứu sau 12 tháng liên tục không hành kinh, chịu những xáo trộn của thời kỳ này như mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, hay quên, tê các đầu chi, nôn mửa, giảm thị lực, ù tai hoa mắt, chóng mặt, chán ăn, bốc hỏa, có khi trầm uất diễn đạt tư duy trầm lặng, cảm thấy mình bị suy sụp, bị oan, thất vọng, chán nản, đa nghi phiền muộn, lo lắng…

Niêm mạc sinh dục teo mỏng dần, khô âm hộ – âm đạo, ngứa, rát, giao hợp đau, dễ bị xây xước và nhiễm trùng, dễ sa sinh dục do cơ, dây chằng vùng chậu bị nhão hơn, tiết niệu có thể đi tiểu nhiều lần, đôi khi không đi tự chủ, da, tóc thì kém mềm mại, khô và nhăn, trổ đồi mồi, tóc khô, rụng, dễ gãy, tăng trọng lượng dễ dẫn đến thừa cân hay béo phì, mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng và đùi, dễ bị loãng xương do thiếu nội tiết, mất dần canxi và chất khoáng.

2. Để khắc phục tình trạng trên, với những biểu hiện của một số triệu chứng bất lợi cho cơ thể, trước hết người phụ nữ cần trang bị cho mình kiến thức khoa học nhất định và xem đây là tiến trình diễn tiến bình thường.

Về tâm sinh lý, cần tạo cho mình có một cuộc sống với môi trường vui tươi – thoải mái, tránh những lo âu phiền muộn, xây dựng một kế hoạch làm việc thật khoa học nhằm tạo điều kiện thuận lợi để không ngoài mục đích bảo vệ sức khỏe. Để tránh những cơn bốc hỏa là triệu chứng thường gặp ở tuổi mãn kinh, ta cần uống nhiều nước, đủ lượng nước trong ngày từ 1 đến 2 lít, tránh ăn nhiều chất béo như sôcôla, phô mai, đồ uống có cồn hay cà phê vì chúng làm tăng mức độ khó chịu của cơn bốc hỏa, mặc quần áo thoáng mát.

Về rối loạn kinh nguyệt, có những biểu hiện như vòng kinh ngắn hay dài, đôi khi xuất huyết một cách bất thường, chỉ xử trí khi nào ra huyết nhiều gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Cần cân bằng chế độ dinh dưỡng, ăn uống đầy đủ các chất, nên ăn cơm gạo trắng thường ngày có xen lẫn gạo lức để bổ sung nhiều vitamin nhóm B, bổ sung lượng calcium có trong bơ sữa, yaourt giúp làm giảm thay đổi tính khí, đau đầu, tăng lượng magnesium có trong trái cây, rau quả, đồng thời qua đó tăng lượng serotonin giúp giảm stress. Nên ăn dưa hấu để cung cấp một phần chất xơ và nước sẽ giúp cơ thể chống được táo bón và đặc biệt cơ thể cần một lượng nước cho cơ thể.

Tránh các thức ăn có nhiều muối, dùng nhiều thức ăn giàu kali như cam, quýt, chuối, tránh các chất kích thích như rượu, bia, cà phê, thuốc lá. Cần tập thể dục thể thao thường xuyên để duy trì sự dẻo dai của hệ xương cơ và giúp máu tuần hoàn đều khắp cơ thể. Thể dục với các bài tập phù hợp sẽ giúp duy trì vóc dáng gọn gàng, giúp tinh thần minh mẫn, lạc quan…

3. Trong đời sống vợ chồng, có thể dùng các chất bôi trơn như KY để tăng độ cảm giác, tránh được tổn thương niêm mạc gây đau do khô teo ở âm hộ – âm đạo. Hai vợ chồng nên trao đổi thẳng thắn và chân tình về sức khỏe và tâm lý trong giai đoạn này, trên cơ sở đó chồng sẽ có trách nhiệm, cảm thông để cùng chia sẻ về những trạng thái sinh lý nói trên.

Chị em cần khám phụ khoa định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện và xử trí kịp thời khi có các bệnh phụ khoa. Việc dùng nội tiết thay thế phải hết sức thận trọng. Với liệu pháp này, có thể làm giảm những triệu chứng tiền mãn kinh, nhưng bên cạnh đó cũng có những ảnh hưởng không nhỏ như nguy cơ ung thư vú và buồng trứng sẽ gia tăng. Vì vậy, tuyệt đối không được tự ý sử dụng mà khi cần thiết phải được tư vấn bởi thầy thuốc chuyên khoa.

Tóm lại, hội chứng tiền mãn kinh là một phần trong đời sống sinh lý bình thường của người phụ nữ, vì vậy mỗi chúng ta cần trang bị những kiến thức cơ bản này để tự chăm sóc mình, và những biểu hiện của hội chứng tiền mãn kinh là bình thường, mà sống vui, sống khỏe, cuộc sống đầy ý nghĩa.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo BS.CKI. Trần Quốc Long

Tuổi mãn kinh có nên dùng thuốc nội tiết?

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu việc dùng thuốc nội tiết có thể cải thiện đáng kể rối loạn nào ở lứa tuổi mãn kinh không hay chỉ là việc dùng cho có? Nhằm kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ nguy cơ của việc dùng này. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất…

tuoi_man_kinh_co_nen_dung_thuoc_noi_tiet

Lý do chỉ định

Sự thay đổi của thời kỳ mãn kinh mang tính chất rõ nét nhất là sự suy giảm hormon nữ giới trong cơ thể của chị em. Đó là estrogen và progesteron. Để tiện cho việc nghiên cứu và xem xét, người ta thường gọi hormon con gái là estrogen, còn chất progesteron thường được gọi là hormon mang thai.

Điều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Tại sao hormon lại giảm?

Việc giải thích cho câu hỏi tại sao vào thời kỳ mãn kinh hormon lại suy giảm có thể được đơn giản hoá như sau: Estrogen là chất do các tế bào hạt ở “vỏ trứng” tiết ra do tác động của FSH và LH (hai hormon tuyến yên) sẽ được duy trì vào những ngày đầu của chu kỳ kinh nguyệt và đạt đỉnh vào gần ngày rụng trứng. Sự phối hợp của hai hormon này, sự nhạy cảm hoá của buồng trứng là cơ sở thiết yếu tạo nên sự điều hoà hormon estrogen.

Khi con người bước sang độ tuổi mãn kinh, buồng trứng bắt đầu thoái hoá, số lượng các nang trứng giảm, buồng trứng lại bắt đầu trơ ra với các chất FSH và LH. Điều tất yếu này đã đưa đến một hậu quả là estrogen mất nguồn tổng hợp. Chuyện sụt giảm gần như là tất nhiên và không thể tránh. Mặc dù estrogen còn một số nguồn khác tổng hợp song sự bù đắp này chẳng thấm vào đâu.

Bằng những nghiên cứu tỉ mỉ và công phu, người ta thấy trong giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh, sự thay đổi nồng độ estrogen chưa phải là suy giảm ngay mà chính xác là dao động quá mức, gây ra những hậu quả mang tính chất đặc thù chỉ có ở tuổi mãn kinh.

Hệ lụy của sự thay đổi

Lượng estrogen giảm, chị em chúng ta sẽ không còn được thừa hưởng những tác dụng mà estrogen đem lại. Những tác dụng đó là: kích thích tăng tạo mỡ làm da đẹp và mịn màng, kích thích tuyến vú to, kích thích tử cung to, âm đạo nở nang, nang trứng phát triển, kích thích nhu cầu tình dục ở nữ giới… Và tất nhiên, những tác dụng mong muốn này của estrogen sẽ không còn được đầy đủ trong thời kỳ mãn kinh.

Thêm vào đó, sự dao động mạnh mẽ của estrogen đã gây ra cho cơ thể một số triệu chứng khác nữa mà người ta gọi là những triệu chứng đặc thù của thời kỳ mãn kinh. Những triệu chứng đó là sự rối loạn điều hoà vận mạch, lão hoá da, suy giảm hình thể và chức năng của cơ quan sinh dục, thay đổi tính tình, loãng xương, nguy cơ bệnh tim mạch, mất ngủ, mệt mỏi, ra mồ hôi đêm, suy giảm trí nhớ và tập trung…

Những biểu hiện này ở một số người là không rõ ràng nhưng ở một số người lại rất rõ nét. Ví dụ như rối loạn điều hoà vận mạch, nhiều người thấy hồi hộp, nóng bừng mặt, cơn bốc hoả rất đáng ngại. Sự lão hoá da làm da bị teo đi và mỏng xuống, da nhăn nheo và chảy xệ. Loãng xương làm tỷ trọng xương bị giảm, chuyển hoá can xi giảm.. Vì thế mà nhiều khi người ta phải cân nhắc sử dụng liệu pháp hormon nhằm can thiệp.

Dùng liệu pháp hormon như thế nào?

Liệu pháp hormon có tên cũ là liệu pháp thay thế hormon là một liệu pháp quan trọng áp dụng trong thời kỳ mãn kinh. Bản chất của liệu pháp này là sử dụng hormon nữ giới (estrogen) tổng hợp bên ngoài để bù đắp phần hormon thiếu hụt. Việc sử dụng hormon thay thế nhằm hai mục đích: bù trừ hóa hormon thiếu và hoá giải tình trạng dao động của estrogen.

Câu hỏi đặt ra ở đây là liệu sự bổ sung này có những cải thiện đáng kể nào không hay chỉ là việc dùng cho có. Nhằm để kiểm chứng lại điều này người ta xem xét tới các tác dụng và mức độ bệnh tật. Kết quả cuối cùng xem ra không phải là bức tranh đồng nhất.

Nói về tác dụng điều hoà vận mạch thì không có gì cần phải bàn hơn. Vì rằng đồng loạt các dấu hiệu bên ngoài của rối loạn vận mạch như nóng bừng, hồi hộp, đỏ mặt, bốc hoả đều có thể được giải quyết trọn vẹn khi sử dụng liệu pháp hormon. Có lẽ sự dao động hormon quá mạnh đã gây ra những biến đổi này nên chỉ cần được bổ sung một cách phù hợp thì mọi chuyện phức tạp được hoá giáng. Người bệnh không còn cảm thấy xấu hổ quá mức vì tự nhiên mặt đỏ như gấc chín, không còn cảm thấy phiền hà khi tự nhiên thấy người nóng bừng như bốc hoả. Tác dụng tuyệt diệu này của nó đã được người ta ấn định là chỉ định đầu tay khi người phụ nữ có triệu chứng rối loạn điều hoà vận mạch điển hỉnh.

Trên loãng xương, nhiều công trình nghiên cứu có chỉ ra là có sự cải thiện rối loạn này. Cụ thể, năm 2001, Grady và Cummings đã nghiên cứu những phụ nữ mãn kinh có và không có sử dụng hormon thay thế. Các tác giả này đã chỉ ra là những người được sử dụng hormon thay thế thì giảm được 27% nguy cơ loãng xương ở các đốt sống và giảm được 40% tình trạng loãng xương ở xương chậu và xương cổ tay.

Theo những con số tính toán thu thập được, người ta thấy tỷ trọng xương có thể bị hao hụt mất tới 20% trong những năm ở độ tuổi mãn kinh. Người ta không dám chắc là tình trạng này là do sự già hoá của xương hay là do sự rối loạn hormon gây ra nhưng có một điều mà người ta thấy là sử dụng hormon thay thế có thể cải thiện được loãng xương do mãn kinh gây ra.

Trên vấn đề bệnh lý mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh, liệu pháp hormon xem ra cũng có những thành tựu lưu ý. Mặc dù cả nam giới và nữ giới cao tuổi đều có nguy cơ bị bệnh mạch vành như nhau do những tác động của yếu tố tuổi, chuyển hoá và mức độ vận động. Song, cho đến nay khoa học đã công nhận một điều là dù ít hay nhiều, sự suy giảm của hormon đã gây ra những tác động một cách độc lập với tuổi trong tiến trình gây ra bệnh lý mạch vành.

Mặc dù còn nhiều vấn đề tranh cãi về hiệu quả của liệu pháp hormon nhưng nhìn chung người ta đều đồng ý ở một khía cạnh, liệu pháp hormon có thể làm giảm bớt nguy cơ của bệnh mạch vành ở lứa tuổi mãn kinh. Kết luận này được dựa trên công trình nghiên cứu của Viện Điều dưỡng Hoa Kỳ. Họ tiến hành nghiên cứu và rút ra được kết luận là liệu pháp hormon có thể làm giảm 11% nguy cơ bị bệnh mạch vành tiền mãn kinh và sau mãn kinh. Song đây là vấn đề còn khá phức tạp vì bản thân khoa học chưa tìm ra được cách giải thích thoả đáng tác dụng này.

Và những góc tối…

Ðiều người ta phải chú ý đến nhiều nhất là sự suy giảm rõ rệt của estrogen. Trong nhiều trường hợp, sự thay đổi của hormon này liên quan khá chặt chẽ với các biểu hiện phát ra ở lứa tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh. Chính sự thay đổi của hormon này mà trong nhiều trường hợp đã buộc phải sử dụng hormon thay thế.

Những kết quả thú vị trên không thể đủ lớn để xoá đi những góc tối của bức tranh liệu pháp hormon. Những mảng màu tối vẫn tồn tại như một thực thể không thể khắc phục được đã tạo ra những phần không đồng nhất trong tiến trình điều trị.

Điều đáng ngại thứ nhất mà người ta lo lắng đó là nguy cơ ung thư vú. Mặc dù còn nhiều tranh cãi, nhưng một số lượng lớn công trình nghiên cứu đã chỉ ra có một mối liên quan nào đó giữa liệu pháp hormon và ung thư vú ở phụ nữ mãn kinh. Bằng chứng thực nghiệm lý giải điều này thì chưa có nhưng bằng chứng thực tế thì đã có. Những phụ nữ mà có độ tuổi có kinh sớm (trước 12 tuổi) và những người có độ tuổi mãn kinh muộn (sau tuổi 55) là những người có nguy cơ cao bị ung thư. Trên cả hai đối tượng này, thời kỳ có estrogen là kéo dài. Sự kiện này khiến người ta nghi ngại sự kéo dài thời kỳ estrogen đã liên kết với khả năng ung thư của phụ nữ. Do đó mà liệu pháp hormon cần được sử dụng rất thận trọng.

Điều đáng lo ngại thứ hai là gia tăng biến cố tắc mạch trên những người có nguy cơ cao. Dựa trên những dữ liệu lâm sàng người ta thấy rằng estrogen có một tác dụng phụ là gây ra rối loạn đông máu và hình thành những cục máu đông trong lòng mạch. Nguy cơ càng cao khi chúng ta dùng càng kéo dài. Tần suất càng lớn khi chúng ta càng dùng liều cao.

Nhiều ca bệnh nhồi máu não, nhiều trường hợp tử vong do nhồi máu cơ tim đã được báo cáo ở những người lạm dụng estrogen hay dùng bừa bãi liệu pháp hormon. Điều này còn đáng sợ hơn khi bản thân những người dùng estrogen lại có sẵn các nguy cơ nhồi máu như tăng huyết áp, rối loạn đông máu. Vì thế mà việc cân nhắc sử dụng là chuyện không thể không tính đến.

Bên cạnh các tác hại trên, liệu pháp hormon đang bị nghi ngờ là nguyên nhân gây ra hàng loạt các rắc rối như làm tăng chảy máu và kéo dài chảy máu âm đạo, làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh lý viêm gan, làm tăng nguy cơ ung thư tử cung, gây ra ung thư vú ở những người có tiền sử gia đình, sưng phù, đau đầu nghiêm trọng…

Đứng trước những thay đổi cơ thể như trên, liệu pháp hormon chưa có một số phận chắc chắn. Không thể vì nó có một số tác dụng khá tốt trên hệ thống da, xương, mạch vành, các rối loạn vận mạch mà chúng ta cứ chỉ định hết sức thoải mái. Song ngược lại, không thể vì một vài tác hại của estrogen mà chúng ta lại phủ nhận đi những công hiệu của nó trong điều trị.

Liệu pháp hormon từ trước đến nay vẫn được coi là một chỉ định đầu tay với những người có rối loạn điều hoà mạch điển hình như bốc hoả, nóng bừng, đỏ mặt…  Song chỉ định thế nào, dùng dạng ra sao, liều bao nhiêu là đủ là những quyết định hết sức cân nhắc của bác sỹ.  Vì rằng mãn kinh không phải là một bệnh nên việc điều trị không phải là một quy định bắt buộc.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Yên Lâm Phúc

Các rối loạn sau mãn kinh

Mãn kinh là một hiện tượng sinh lý tự nhiên, thường xảy ra ở phụ nữ lứa tuổi từ 50 – 55. Trong quá trình mãn kinh, người phụ nữ thường có những thay đổi về tâm – sinh lý có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, hạnh phúc, cũng như có những nguy cơ mới về sức khỏe có thể xảy ra.

Mãn kinh là gì?

Mãn kinh là giai đoạn chuyển tiếp lần thứ hai trong đời sống sinh dục của người phụ nữ (lần thứ nhất xảy ra ở tuổi dậy thì). Mãn kinh xảy ra do sự suy giảm chức năng dần dẫn đến ngừng hoạt động và ngừng tiết các nội tiết tố nữ của buồng trứng, biểu hiện bằng việc ngừng hành kinh mỗi tháng, và chấm dứt khả năng sinh sản của người phụ nữ.

Mãn kinh diễn tiến từ từ theo tuổi tác, thường qua 2 giai đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh thực sự.

–  Tiền mãn kinh thường xảy ra ở độ tuổi từ 45-50, do hoạt động buồng trứng bắt đầu suy giảm và có sự mất cân bằng các nội tiết tố nữ (Estrogen và Progesteron), dẫn đến kinh nguyệt không đều, kéo dài, dây dưa. Giai đoạn này có thể kéo dài 2-3 đến 5 năm tùy theo từng người.

–  Mãn kinh thật sự, khi buồng trứng ngừng hẳn hoạt động và ngừng tiết nội tiết tố nữ, dẫn đến kinh nguyệt mất hẳn. Mãn kinh thực sự thường ở lứa tuổi từ 50-55 và chỉ được xác nhận khi kinh nguyệt mất hẳn trên 12 tháng. Nếu chỉ mới mất kinh vài ba tháng, phải cẩn thận để tránh có thai ngoài ý muốn.

Ngoài ra có một số trường hợp mãn kinh bất thường có thể là quá sớm hoặc quá muộn.

– Mãn kinh sớm: là mãn kinh trước 40 tuổi. Khi đó, người phụ nữ không còn khả năng có thai được nữa, do không còn có nang noãn chín hoặc noãn không thể phóng được (không rụng trứng). Mãn kinh sớm xảy ra ở những phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, chiếu tia xạ trị bệnh, bị rối loạn miễn dịch, đã được phẫu thuật cắt tử cung nhưng còn chừa 2 buồng trứng…

– Mãn kinh muộn: là mãn kinh sau 55 tuổi.

cac_roi_loan_sau_man_kinh

Phụ nữ tuổi mãn kinh cần khám sức khỏe định kỳ.

Những rối loạn trước và sau mãn kinh

–  Rối loạn kinh nguyệt là biểu hiện chủ yếu nhất trong thời kỳ tiền mãn kinh với các biểu hiện như vòng kinh dài, ngắn và ra huyết bất thường.

– Giảm ham muốn tình dục, âm đạo khô do các tuyến sinh dục giảm tiết dịch, mụn trứng cá, tóc rụng, mệt mỏi kéo dài, da khô, nhám, nhăn nheo do mất dần lớp mỡ dưới da, tuyến vú trở nên mềm nhão, giọng nói bị ồ… âm đạo khô teo gây đau khi giao hợp. Nhiễm trùng tiết niệu và són tiểu do niêm mạc đường tiết niệu cũng bị khô teo. Một số người đi tiểu nhiều lần, tiểu khó vì niệu đạo bị xơ cứng.

– Cơn bốc hỏa thỉnh thoảng xảy ra, do rối loạn vận mạch làm nóng bừng ở ngực, lưng, cổ, đỏ mặt, đổ mồ hôi, nhiều nhất là về đêm, gây khó chịu, mất ngủ. Có thể kèm cảm giác nặng chân, chuột rút…

– Tâm sinh lý thay đổi đa dạng, có người tính tình trở nên trầm mặc, lo âu, băn khoăn, chán nản hay thất vọng, thường không vừa lòng với môi trường xung quanh. Người ta nhận thấy có đến 46% phụ nữ bị mất ngủ, mệt nhọc trong thời kỳ mãn kinh, vận động chậm chạp, mất hứng thú trong quan hệ vợ chồng. Trạng thái dễ kích động, cáu gắt, hay gây gổ.

Các triệu chứng này kéo dài độ vài năm rồi tự hết, do cơ thể đã quen dần với tình trạng thiếu hụt Estrogen. Tuy nhiên, cũng có người thấy những triệu chứng này nặng hơn khi đã chuyển sang giai đoạn mãn kinh thật sự.

Thời kì sau mãn kinh, có thể có nhiều thay đổi nhưng lại diễn tiến trầm lặng, kéo dài nhiều năm trước khi có những rối loạn rõ ràng.

– Niêm mạc sinh dục dần dần teo mỏng, làm âm hộ, âm đạo khô, ngứa, rát, giao hợp đau, dễ bị xây xước và nhiễm trùng.

– Sa sinh dục do cơ, dây chằng vùng chậu bị nhão hơn. Âm đạo, tử cung tụt xuống thấp và có thể lộ ra ngoài.

– Tiết niệu có hiện tượng tiểu nhiều lần, đôi khi không tự chủ được (tiểu són), tiểu buốt dù nước tiểu vẫn trong, và không có dấu hiệu nhiễm trùng.

– Da  kém mềm mại, khô nhăn, có đốm đồi mồi, tóc khô, rụng, dễ gãy…

– Tăng trọng, do mỡ tích tụ nhiều ở vùng bụng và đùi

– Thiếu nội tiết tố khiến xương mất dần canxi và chất khoáng, dẫn đến loãng xương, xương giòn, dễ gãy. Tuy nhiên, phụ nữ mãn kinh ít có cảm giác về loãng xương cho đến khi bị gãy xương tự nhiên (không có va chạm, chấn thương), thường gặp nhất là gãy đầu dưới xương cẳng tay, gãy cổ xương đùi. Ngoài ra, còn có thể bị vẹo cột sống, đau vùng thắt lưng, đau thần kinh tọa… Nếu cuộc sống kéo dài đến 80 tuổi thì ít nhất đã có 50% khối lượng xương bị mất đi. Thời gian sau mãn kinh càng kéo dài hay buồng trứng bị cắt bỏ quá sớm không được trị liệu gì thì chất xương càng bị mất nhiều.

– Thành mạch máu xơ cứng, gây thiếu máu ở một số cơ quan bộ phận chủ yếu là nguy cơ bệnh mạch vành hay nhồi máu cơ tim.

– Ung thư sinh dục, thiếu nội tiết tố buồng trứng là yếu tố khơi dậy một vài ung thư sẵn có nơi bộ phận sinh dục.

Làm gì để phòng ngừa các rối loạn sau mãn kinh?

Chị em cần được trang bị những hiểu biết cần thiết về tuổi mãn kinh, nên vận dụng những tri thức khoa học hiện đại, tự giác duy trì sức khỏe bản thân, giữ được thái độ lạc quan để giúp cho tinh thần thoải mái, tư duy nhẹ nhàng, trí năng tốt, làm chậm sự suy thoái, lão hóa công năng sinh lý của cơ quan sinh sản nói riêng cũng như cơ thể nói chung, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống.

– Một số ít phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh có những thay đổi về tính cách hoặc hành vi. Bình thường vốn rất hòa nhã, khoan dung, độ lượng, bỗng trở nên nóng tính, nổi cáu bất thường, hoặc suy nghĩ hẹp hòi, hay đa nghi, đố kỵ, lãnh cảm… Có những người lại thích giãi bày tâm sự với người khác. Những biến đổi tâm lý theo hướng tiêu cực này sẽ tạo ra sự cản trở, ức chế chức năng sinh lý bình thường của các bộ phận khác, dẫn đến tiêu hóa không tốt, chán ăn uống, huyết áp tăng, nếu lâu dài có thể gây bệnh. Vì vậy, bản thân người phụ nữ và những người thân trong gia đình cần có những hiểu biết đúng đắn về giai đoạn này và có cách thích nghi phù hợp để giúp người phụ nữ an tâm vượt qua những khó khăn và phòng ngừa tốt những vấn đề sức khỏe của lứa tuổi. Nên có chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi, thư giãn thích hợp để giúp tinh thần được thư thái, bình ổn.

– Rối loạn kinh nguyệt là hiện tượng sinh lý bình thường không gây nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe người phụ nữ, vì vậy chỉ khi nào ra huyết nhiều quá, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt thì mới cần nhờ đến sự can thiệp của nhân viên y tế để cầm máu, nếu không cứ để tự nhiên, giữ gìn vệ sinh kinh nguyệt tốt, sẽ đến lúc kinh ngừng hẳn.

– Các biện pháp ngăn ngừa cơn bốc hỏa: Uống một cốc nước lạnh khi bắt đầu cơn bốc hỏa. Tránh dùng đồ uống có cồn hoặc cà phê vì chúng làm tăng mức độ khó chịu của cơn bốc hỏa.  Giảm lượng rượu vang đỏ (rượu nho), sô-cô-la và phô-mai vì những hóa chất trong đó có thể ảnh hưởng tới thân nhiệt, làm khởi phát cơn bốc hỏa. Không hút thuốc vì nó làm trầm trọng thêm cơn bốc hỏa. Mặc quần áo rộng rãi, thoáng mát làm từ vải sợi tự nhiên. Nên mặc nhiều lớp để có thể tháo bớt khi cơn bốc hỏa xuất hiện.  Lúc ở nhà, hãy hạ thấp nhiệt độ của máy điều hòa.

– Dinh dưỡng: dinh dưỡng tốt ngay khi bước vào giai đoạn tiền mãn kinh: ăn uống đầy đủ, cân đối các chất. Cần ăn nhiều rau quả, đặc biệt là các sản phẩm từ đậu nành hoặc cỏ linh lăng (vì có chứa nội tiết tố Estrogen tự nhiên). Các thức ăn có nhiều canxi (chất vôi) như sữa không béo, thủy hải sản (cá, tôm, cua…), vitamin D có trong sữa, cá hồi, cá ngừ. Axit béo có trong các loại quả, hạt và dầu cá tốt cho những phụ nữ có làn da trở nên khô hoặc có dấu hiệu mỏi các khớp. Axit béo tốt nhất là Omega-3 và Omega-6, có trong hạt vừng, quả óc chó, đậu nành, hạt hướng dương, các loại rau quả họ đậu, các loại cá, rong biển… giúp tránh được tình trạng khô âm đạo và chứng nhiễm trùng đường tiểu, làm tăng thêm sự hưng phấn về mặt tinh thần và năng lượng sống cho cơ thể.

– Ðối với phụ nữ ở tuổi mãn kinh, cần thường xuyên tập thể dục thể thao để duy trì sự dẻo dai của hệ xương cơ và giúp máu tuần hoàn đều khắp cơ thể. Thể dục với các bài tập phù hợp sẽ giúp duy trì vóc dáng gọn gàng, giúp tinh thần minh mẫn, lạc quan.

– Trong quan hệ tình dục, có thể dùng các chất bôi trơn để làm cảm giác đau vì sự khô teo của âm đạo

– Khám phụ khoa định kỳ mỗi 6 tháng một lần để phát hiện và xử trí sớm các bệnh phụ khoa, trong đó có ung thư.

–  Sử dụng thuốc: Dùng bổ sung thuốc có canxi và vitamin D để hạn chế rối loạn loãng xương. Cần dùng vitamin E mỗi ngày. Việc điều trị bằng  sử dụng liệu pháp nội tiết tố thay thế lâu dài phải được bác sĩ chuyên khoa phụ sản khám chọn lọc hướng dẫn và theo dõi phù hợp cho mỗi người, không có công thức chung cho hàm lượng và thời gian sử dụng vì nội tiết tố Estrogen còn có thể gây ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú.

Chị em cần được trang bị những hiểu biết cần thiết về tuổi mãn kinh, nên vận dụng những tri thức khoa học hiện đại, tự giác duy trì sức khỏe bản thân, giữ được thái độ lạc quan để giúp cho tinh thần thoải mái, tư duy nhẹ nhàng, trí năng tốt, làm chậm sự suy thoái, lão hóa công năng sinh lý của cơ quan sinh sản nói riêng cũng như cơ thể nói chung, kéo dài tuổi thọ, nâng cao chất lượng sống.

Về phía gia đình và cộng đồng cũng phải có tránh nhiệm tạo cho họ có một cuộc sống với môi trường vui vẻ lành mạnh, thân ái, tránh những nỗi buồn tủi, lo âu, cảm giác mất mát. Tạo một không khí làm việc phù hợp là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ sức khỏe và đảm bảo một cuộc sống về tinh thần, tình cảm thoải mái cho những người trong độ tuổi xế chiều để họ có thể tiếp tục đóng góp phần có ích cho xã hội.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Vũ Cường

Lạc nội mạc tử cung là bệnh gì?

Nội mạc tử cung là lớp lót bên trong tử cung, lớp này thường bong ra khi hành kinh và được tái tạo lại sau khi sạch kinh. Nội mạc tử cung đóng vai trò như một tấm nệm giúp thai nhi nằm ở đó. Lạc nội mạc tử cung là sự di chuyển của nội mạc tử dung đến một nơi khác ngoài buồng tử cung. Hiện tượng này xảy ra là do máu kinh có lẫn những mảng nội mạc tử cung bong ra khi hành kinh chảy ngược trở lại, chúng có thể đi vào khoang bụng, bàng quang, trực tràng và có thể di chuyển đến buồng trứng. Tại những nơi này, nội mạc tử cung vẫn chịu ảnh hưởng của nội tiết tố sinh dục và tiếp tục phát triển.

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi

Nguyên nhân

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_02

Nguyên nhân chính gây LNMTC vẫn chưa được biết rõ.

Cho đến nay, giới chuyên môn vẫn chưa thực sự hiểu rõ cơ chế gây lạc nội mạc tử cung, nhưng có 3 giả thiết về nguyên nhân gây bệnh.

Giả thiết thứ nhất cho rằng lạc nội mạc tử cung là do hiện tượng hành kinh ngược chiều, máu kinh chảy ngược qua vòi tử cung vào ổ bụng. Các mảnh nội mạc tử cung tiếp tục bám vào các cơ quan khác trong ổ bụng và gây nên chứng lạc nội mạc tử cung. Tất cả những yếu tố làm máu kinh chảy ngược đều có thể là nguyên nhân gây bệnh. Ở các bé gái phụ nữ chưa quan hệ, có thể là do cổ tử cung lẽ ra phải hé mỡ để máu kinh ra ngoài, nhưng lại đóng kín khiến máu kinh chảy ngược. Đối với các phụ nữ đã có chồng, nguyên nhân có thể là do quan hệ trong ngày hành kinh khiến máu kinh bị đẩy ngược vào trong.

Giả thiết thứ 2 cho rằng nguyên nhân gây bậnh là các tế bào phôi còn tồn tại biệt hóa thành tổ chức của ống Muller.

Giả thiết thứ 3 là do tắc nghẽn bạch mạch hay nghẽn mạch khi di chuyển. Trong trường hợp này, có một số yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc bệnh lạc nội mạc tử cung như tắc nghẽn đường sinh dục bẩm sinh, đặt vòng tránh thai…

Triệu chứng

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_03

Đau bụng dữ dội trước và sau khi hành kinh là một trong những triệu chứng của LNMTC.

Khi nội mạc tử cung phát triển trở lại sau khi hành kinh thì những mảnh nội mạc tử cung đi lạc cũng to ra, trương lên và chứa đầy máu, đây là nguyên nhân gây đau trước ngày hành kinh. Khi nội mạc tử cung chảy máu, các mảnh lạc này cũng chảy máu mà không có đường thoát ra, việc này khiến bạn cảm thấy đau dữ dội trong những ngày hành kinh. Máu ứ sẽ tạo thành một môi trường lí tưởng cho các vi khuẩn gây viêm nhiễm phát triển và gây dính các cơ quan này. Khi hết kinh, các mảnh lạc này tạo thành những mô sẹo, và đến chu kì kinh tiếp theo thì tình trạng cũ lại tái phát. Số lượng các mô lạc không có đường ra nên chỉ tăng lên chứ không giảm đi.

LNMTC là căn bệnh thường hay gặp ở người trẻ, bệnh thường gây đau vùng bụng dưới, đau khi giao hợp, đau trước và sau khi hành kinh. Ngoài ra nhhững người bị LNMTC còn có thể gặp phải các vấn đề về tiêu hóa.

Điều trị

lac_noi_mac_tu_cung_la_benh_gi_04

Ảnh minh họa.

Trong trường hợp bệnh nhẹ và trung bình, nếu người bệnh vẫn mong muốn có con thì bác sĩ có thể cho dùng thuốc. Trong các trường hợp bệnh nặng, việc điều trị bằng thuốc không khả quan, người bệnh có thể phải phẫu thuật để cắt bỏ các mảnh nội mạc đi lạc, thậm chí có trường hợp sẽ phải cắt bỏ toàn bộ tử cung và buồng trứng.

Thuốc điều trị LNMTC đều là các loại thuốc nội tiết nhằm làm giảm sự phát triển của các mảnh nội mạc. Và khi các mảnh nội mạc lạc bị ức chế phát triển thì cả lớp nội mạc trong tử cung cũng bị ảnh hưởng nên có thể dẫn đến hiếm muộn, thậm chí vô sinh. Vì vậy việc dùng thuốc phải hết sức thận trong và có sự chỉ định của bác sĩ.

Theo Khỏe mỗi ngày

Nội mạc tử cung lạc chỗ

Lạc nội mạc tử cung là do các tế bào của niêm mạc tử cung đã không chỉ nằm trong lòng tử cung mà còn phát triển ở những nơi khác thuộc hệ thống sinh dục và cả những bộ phận khác trong cơ thể người phụ nữ. Bệnh có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt.

Lạc nội mạc tử cung

Kinh nguyệt ở phụ nữ là kết quả của sự thay đổi có chu kỳ của niêm mạc tử cung dưới tác động của các chất nội tiết buồng trứng. Lạc nội mạc tử cung là tình trạng các tế bào của lớp niêm mạc này, ngoài vị trí trong buồng tử cung còn nằm rải rác ở các vị trí khác trong cơ thể người phụ nữ.

Thường gặp nhất là các tế bào niêm mạc tử cung nằm lẫn trong lớp cơ của tử cung. Có trường hợp các tế bào nội mạc tử cung lại có mặt trong ổ bụng, thường ở vùng tiểu khung (bụng dưới), bám vào màng bụng, các tạng trong ổ bụng như ruột, bàng quang, vòi trứng, buồng trứng.

Lại có trường hợp các tế bào lạc chỗ nằm trong âm đạo hoặc ở vùng tầng sinh môn (phía sau âm hộ và trước hậu môn) thường được giải thích là do bị rách khi sang chấn hoặc khi đẻ, những tế bào niêm mạc tử cung đã “rơi” vào các vết rách đó, tồn tại và phát triển gây nên.

noi_mac_tu_cung_lac_cho

Phẫu thuật nội soi điều trị lạc nội mạc tử cung.

Và những biến chứng

Những đám tế bào niêm mạc tử cung này tuy “lạc chỗ” nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của các nội tiết sinh dục do buồng trứng tiết ra giống như các tế bào niêm mạc nằm trong lòng tử cung nghĩa là cũng phát triển dưới tác động của nội tiết buồng trứng theo chu kỳ và khi các nội tiết này giảm sút thì đám tế bào đó ngừng phát triển và gây chảy máu tại chỗ.

Khác với các niêm mạc trong buồng tử cung khi bong sẽ được tử cung đẩy ra ngoài cùng với máu kinh, các đám “lạc nội mạc” này vẫn nằm nguyên tại chỗ, máu kinh cũng không thoát được ra ngoài vì thế gây nên đau đớn. Lạc nội mạc tử cung là nguyên nhân thực thể rõ nét nhất gây thống kinh (đau bụng kinh).

Triệu chứng thống kinh của lạc nội mạc tử cung là đau bụng kéo dài, có thể xuất hiện sớm trước khi hành kinh (do các tế bào niêm mạc lạc chỗ phát triển) hoặc khi bắt đầu ra máu kinh (do niêm mạc lạc chỗ bong ra, chảy máu) và có thể kéo dài đến cả sau hành kinh (do máu ứ đọng tại chỗ chưa “tiêu” đi được). Thường ở người bị thống kinh do lạc nội mạc tử cung thì những kỳ kinh sau nhiều khả năng mức độ đau bụng kinh tăng hơn trước.

Có trường hợp đau kéo dài tới mức khi giảm được đau hoặc hết đau thì đã lại đến một kỳ kinh mới. Trường hợp người phụ nữ đã mãn kinh nghĩa là không còn kinh nguyệt nữa thì chứng đau bụng do lạc nội mạc tử cung cũng kết thúc.

Trong số phụ nữ bị vô sinh, có tới 30 -50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung là do: biến dạng các tổ chức vùng chậu gây dính, co kéo, ảnh hưởng đến chức năng vòi trứng, buồng trứng, tử cung.

Ðiều trị

Điều trị chứng đau bụng kinh do lạc nội mạc tử cung có thể dùng biện pháp nội khoa bằng cách dùng các loại thuốc progestagen tổng hợp để làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Có thể dùng thuốc tránh thai chứa nhiều progestagen và ít estrogen uống liên tục từ 6 tháng đến một năm. Có khi phải dùng biện pháp phẫu thuật để nạo vét những ổ lạc nội mạc tử cung trong cơ thể.

Với sự ra đời của phẫu thuật nội soi, điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung đã có những bước tiến mới. Phẫu thuật nội soi cho phép gỡ dính, phá hủy các tổn thương, tạo hình vòi trứng, đốt điện lưỡng cực hay đốt laser để phá hủy các tổn thương. Trong các trường hợp lạc nội mạc tử cung nặng, có thể phải cắt buồng trứng, cắt dây chằng tử cung – cùng, thậm chí cắt tử cung. Chỉ định điều trị ngoại khoa trong lạc nội mạc tử cung thường là khối lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; dính nặng; lạc nội mạc tử cung sâu; lạc nội mạc tử cung độ III, IV.

Tóm lại, lạc nội mạc tử cung là một bệnh phổ biến thường gặp ở phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, nguyên nhân còn chưa rõ ràng, liên quan mật thiết đến vô sinh. Vì vậy, chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, triệt để sẽ giúp cải thiện đáng kể khả năng sinh sản của người bệnh, tiết kiệm một phần không nhỏ chi phí chăm sóc y tế, mang lại niềm vui, hạnh phúc cho nhiều gia đình.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.  Phó Ðức Nhuận

Lạc nội mạc tử cung có gây vô sinh?

Em năm nay 19 tuổi, kinh nguyệt của em không đều và rất hay bị đau bụng, đi khám có kết luận là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc. Nhưng em rất lo lắng và nghe nói bệnh này có thể gây vô sinh. Xin bác sĩ cho lời khuyên.

Bùi Thị Bình(Bắc Kan)

Nội mạc tử cung là lớp màng (niêm mạc) phủ mặt trong tử cung (dạ con). Lớp niêm mạc này biến đổi hằng ngày theo các chất nội tiết của buồng trứng tiết ra trong chu kỳ kinh nguyệt. Khi đang có kinh cũng là lúc niêm mạc này bắt đầu tái tạo phát triển dần lên. Đến cuối chu kỳ, lớp niêm mạc này rất dày, lúc này chất nội tiết buồng trứng giảm sút làm cho nó bong ra, gây chảy máu từ tử cung gọi là kinh nguyệt. Lạc nội mạc tử cung là trường hợp các tế bào niêm mạc tử cung đi lạc chỗ, vào sâu trong lớp cơ của thành tử cung (lạc nội mạc trong cơ) hoặc “lạc” cả ra ngoài tử cung như ở buồng trứng, màng bụng (phúc mạc), thành ruột; thậm chí có khi còn ở trong thận hay phổi… Các tế bào này có nguồn gốc là niêm mạc tử cung nên nó cũng biến đổi theo chu kỳ dưới ảnh hưởng của nội tiết buồng trứng và cũng gây chảy máu giống như kinh nguyệt, từ đó gây đau.

lac_noi_mac_tu_cung_co_gay_vo_sinh

Đây là bệnh lý tuy không gây tử vong nhưng có thể dẫn đến tình trạng vô sinh cho người bệnh vì nó có thể gây tổn thương vòi trứng, phá huỷ nhu mô buồng trứng, viêm dính vùng chậu, nếu không điều trị sớm.

Trường hợp của bạn đã đi khám được xác định là lạc nội mạc tử cung và đang dùng thuốc điều trị. Việc dùng thuốc được áp dụng trong các trường hợp bệnh nhẹ, chủ yếu là các thuốc nội tiết có tác dụng làm thoái triển và làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Do đó bạn không nên lo lắng, chỉ cần dùng thuốc và tái khám theo đúng hướng dẫn của bác sĩ để có kết quả tốt nhất.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Bác sĩ  Trọng Nghĩa

U nang buồng trứng đe dọa tính mạng bệnh nhân

U nang buồng trứng là tên thường gọi để chỉ một khối phát triển bất thường trên buồng trứng. U nang buồng trứng có thể phát triển từ các mô của buồng trứng hay từ mô của các cơ quan khác trong cơ thể. U nang buồng trứng tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau với nhiều biến chứng khác nhau, trong đó xoắn u nang buồng trứng là dạng biến chứng nguy hiểm, đe dọa tính mạng người bệnh, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là phụ nữ lứa tuổi 30 trở lên.

u_nang_buong_trung_de_doa_tinh_mang_benh_nhan

Để phát hiện sớm u nang buồng trứng

Khi chưa có biến chứng, khối u nang buồng trứng thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Các triệu chứng có thể gặp:

– Sờ thấy khối u trên bụng.

– Đau bụng.

– Rối loạn kinh nguyệt.

– Rối loạn đi tiêu hay đi tiểu.

Các triệu chứng này có thể là triệu chứng của một bệnh lý khác như bệnh phụ khoa (viêm nhiễm, u xơ tử cung) hoặc khối u của một bệnh lý khác ở vùng bụng. U nang buồng trứng có thể dẫn tới biến chứng xoắn u với các triệu chứng như đau quặn bụng cấp tính, đau thành từng cơn, diễn biến ngày càng dồn dập và gia tăng về cường độ, thường kèm nôn mửa, nhiều khi trầm trọng dẫn đến mất nước và các chất điện giải hoặc dẫn tới suy thận. Khám phụ khoa định kỳ có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein (CA 125).

Các diễn biến tự nhiên có thể xảy ra

– Khối u không gia tăng thêm kích thước: thường hiếm gặp.

– Khối u biến mất: thường xảy ra đối với những khối u cơ năng sau theo dõi từ 2-3 tháng.

– Khối u ngày càng to ra: bụng ngày càng to, có thể kèm thêm các biến chứng do chèn ép như đau bụng dưới, bí tiểu, rối loạn tiêu hóa, trướng bụng…

Điều trị u nang buồng trứng

Điều trị u nang buồng trứng phụ thuộc vào kích thước của khối u, có thể uống thuốc, chích nang, mổ nội soi hay mổ mở. Trong trường hợp khối u nang quá lớn, xâm lấn toàn bộ cả hai bên buồng trứng phải phẫu thuật cắt bỏ cả hai bên. Nếu là khối u cơ năng thì nên chờ vài tháng để có chẩn đoán rõ ràng trong khi một khối u thực thể (do bệnh lý) thì cần được xử trí sớm nhằm xác định rõ tính chất lành hay ác, cũng như tránh các biến chứng có thể xảy ra. Một khối u nếu để quá to sẽ gây khó khăn cho phẫu thuật, gây mất nhiều máu và có nhiều nguy cơ tổn thương đến các cơ quan lân cận.

Phương pháp điều trị chủ yếu đối với u nang buồng trứng là phẫu thuật. Có thể phẫu thuật qua nội soi ổ bụng hay mổ bụng hở tùy theo kích thước và tính chất của khối u. Thuốc chỉ được dùng trong một vài trường hợp đặc biệt hoặc trong thời gian chờ đợi làm phẫu thuật đối với các trường hợp đã có chỉ định mổ.

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp

Nang lạc tuyến buồng trứng

 Xoắn cuống nang là một biến chứng thường gặp của xoắn u nang, hay xảy ra ở u có cuống dài, đường kính khoảng 8 – 10cm. Vì khối u nhỏ lại có cuống dài nên dễ di động và bị xoắn. Xoắn hay vỡ là tình trạng cấp cứu cần phải được phẫu thuật ngay. Dễ xoắn nhất là u nang bì, nếu được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời, tiên lượng sẽ tốt. Nếu muộn, khối u hoại tử vỡ, bệnh nhân có nguy cơ tử vong. Ngoài ra, không có hiện tượng một khối u nang buồng trứng để lâu ngày sẽ trở thành ung thư buồng trứng mà chỉ có tình trạng ung thư buồng trứng không được chẩn đoán và xử trí sớm để khối ung thư ngày càng phát triển trầm trọng thêm.

Hay gọi đúng hơn là lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng. Nội mạc tử cung là lớp màng trong của tử cung, gồm 2 phần, phần nền hầu như không thay đổi và phần tăng trưởng là phần sẽ thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt, trong quá trình mang thai và khi sinh nở. Thông thường, theo chu kỳ kinh nguyệt, phần tăng trưởng này sẽ phát triển ngày càng dày lên, tích tụ nhiều chất dinh dưỡng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để trứng thụ tinh sẽ đến làm tổ khi có thai. Gần hết chu kỳ kinh, do thay đổi nội tiết tố sinh dục nữ, lớp tăng trưởng này sẽ bong ra và tạo ra hiện tượng hành kinh, sau đó phần này lại tiếp tục tăng trưởng vào chu kỳ kinh sau và cứ thế duy trì suốt giai đoạn tuổi sinh sản. Trong bệnh lý lạc nội mạc tử cung, nội mạc tử cung sẽ hiện diện ở nhiều nơi khác ngoài lòng tử cung như trong ổ bụng, tại vòi trứng, tại buồng trứng hoặc bám trên thành ruột… Mặc dù nằm lạc chỗ nhưng các phần nội mạc này vẫn bị ảnh hưởng bởi nội tiết tố sinh dục nên vẫn phát triển dày lên, cương tụ rồi bong ra và gây xuất tiết vào ngày hành kinh. Tuy nhiên, dịch xuất tiết và xuất huyết từ đám nội mạc này sẽ không được tống ra ngoài như máu kinh mà bị tích tụ lại tại chỗ và ngày càng nhiều lên. Khối lạc chỗ sẽ ngày càng to ra và tạo thành các khối nang chứa dịch, máu và nội mạc tử cung. Nguyên nhân của bệnh cho tới nay vẫn còn chưa rõ ràng, được giải thích là do nội mạc tử cung khi sinh ra đã có mặt ở các vị trí bất thường, hoặc do hiện tượng nội mạc bong ra khi hành kinh đã đi ngược dòng từ lòng tử cung trở ngược ra vòi trứng và có mặt tại các nơi khác trong ổ bụng.

Triệu chứng của tình trạng này là xuất hiện cơn đau bụng kinh ngày càng gia tăng kèm một khối u vùng bụng ngày càng to ra. Điều trị thuốc được ưu tiên chỉ định khi khối u còn nhỏ hoặc trước và sau khi phẫu thuật nhằm tiêu diệt triệt để các khối lạc chỗ. Tuy nhiên, bệnh rất thường hay tái phát.

U bì buồng trứng

Đa số là u lành. Tổ chức u là tổ chức phát triển từ mô thượng bì trong thời phôi thai. Khi phẫu thuật sẽ thấy bên trong khối u có chất bã đậu vàng, nhiều lông tóc, xương, răng…

Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng cũng được xếp vào trong các dạng đặc biệt của u nang vì tính chất ung thư chỉ biết được sau khi phẫu thuật, còn trước đó, khi thăm khám vẫn chẩn đoán là u nang. Ung thư buồng trứng có thể phát triển trên mọi độ tuổi và thường được phát hiện muộn do triệu chứng của khối u buồng trứng thường rất mơ hồ. Hơn nữa, vị trí của buồng trứng tiếp xúc nhiều với ổ bụng, do đó thường có di căn xa từ rất sớm. Điều trị ung thư buồng trứng gồm phẫu thuật và hóa trị bổ sung sau đó. Tùy theo mức độ bệnh, có khi đòi hỏi phẫu thuật lấy hết cả 2 buồng trứng và cả tử cung, dù tuổi đời bệnh nhân còn rất trẻ.

U nang buồng trứng là một bệnh hay gặp của phụ nữ. Có thể đây chỉ là khối u cơ năng do hoạt động nội tiết của cơ thể hoặc cũng có thể là khối ung thư cần được phát hiện sớm và xử trí kịp thời nhằm bảo toàn mạng sống và duy trì chức năng cho người phụ nữ.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ TS. Trần Văn Việt

U nang buồng trứng ảnh hưởng đến khả năng có con

U nang buồng trứng là bệnh phổ biến gặp ở các chị em. Giai đoạn dễ bị mắc bệnh nhất là khi chị em ở trong độ tuổi sinh đẻ. Nếu không được phát hiện sớm, u nang có thể biến chứng thành ung thư buồng trứng, ảnh hưởng đến khả năng có con, thậm chí nguy hại đến tính mạng của phụ nữ.

Có rất nhiều nguyên nhân, nhưng các bác sĩ phụ khoa đưa ra 5 nguyên nhân cơ bản dẫn tới căn bệnh này đó là: do người phụ nữ đã từng bị sẩy thai, do có kinh sớm hơn bình thường, do nội tiết bị phá huỷ, do chức năng của tuyến giáp bị giảm và có thể các nang trứng đã chín vì lý do gì đó bị “tiêu hủy”.

Một số dấu hiệu của u nang buồng trứng: Đau đớn là dấu hiệu lớn đầu tiên của u nang buồng trứng. Tiếp đó, bệnh còn có các biểu hiện như chu kỳ kinh nguyệt bất thường, âm đạo bị đau và có nổi nốt đốm. Một dấu hiệu khác có thể là một cảm giác áp lực hoặc đầy bụng, đặc biệt gần khu vực xương chậu, cảm giác đó rất có thể là do u nang gây ra.

u_nang_buong_trung_anh_huong_den_kha_nang_co_con

Những dấu hiệu khác nhau của u nang buồng trứng cũng khá phổ biến, không phức tạp, và có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với một số bệnh khác. Tuy nhiên, khi những triệu chứng này xuất hiện cùng nhau, thì rất có thể chị em đã bị u nang và nên đi khám bác sĩ để xác định rõ ràng.

U nang có thể biến chứng thành ung thư buồng trứng, ảnh hưởng đến khả năng có con

Các dạng u nang buồng trứng thường gặp là u nang cơ năng, nang bọc noãn, u nang buồng trứng, nang hoàng tuyến, u nang thực thể, u nang nước buồng trứng, u nang nhày buồng trứng, u nang bì buồng trứng hay lạc nội mạc tử cung dạng u nang…

Khi các dạng u nang kể trên không được phát hiện điều trị, có thể gây biến chứng thành các dạng xoắn u nang, vỡ nang. Khi bị u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, kéo dài, có triệu chứng buồn nôn, choáng vì đau.

Khi khối u phát triển lớn, gây chèn ép các tạng xung quanh cũng gây đau, gây phù nề, u vỡ có thể dẫn đến các triệu chứng ung thư.

Có rất nhiều cách để chữa u nang buồng trứng. Đối với u nang buồng trứng lành tính, thường là sau phẫu thuật bệnh sẽ dứt điểm, cách phẫu thuật này không làm triệt sản. Đối với phụ nữ lớn tuổi (đã có đủ con, hay sau tuổi mãn kinh) bác sĩ sẽ áp dụng khuynh hướng cắt bỏ khối u lẫn tử cung và phần phụ còn lại.

Còn với nhóm u nang buồng trứng ác tính, bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ trọn khối u, đồng thời làm xét nghiệm tìm tế bào ung thư di căn được áp dụng cho phụ nữ trẻ, hoặc chưa có đủ số con. Đối với phụ nữ lớn tuổi (đã có đủ con), ngoài việc cắt bỏ khối u, còn cắt cả tử cung và cả phần phụ của bên còn lại.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo Người đưa tin

U nang buồng trứng, chớ xem thường!

U nang buồng trứng (UNBT) chiếm tỷ lệ khoảng 80% các khối u buồng trứng nói chung, là loại khối u rất hay gặp ở phụ nữ, đặc biệt phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, đại đa số là u lành tính, chỉ có một tỷ lệ nhỏ có biến chứng ung thư hóa. Khi phát hiện UNBT nên được điều trị sớm để tránh trường hợp bỏ sót ung thư buồng trứng – một trong những nguy cơ gây tử vong cao cho phụ nữ.

u_nang_buong_trung_cho_xem_thuong

Các dạng UNBT thường gặp

U nang cơ năng: Là những khối u phát sinh do rối loạn hoạt động nội tiết của buồng trứng, về mặt giải phẫu bệnh tổ chức buồng trứng không có thay đổi.

Nang bọc noãn: nang trứng chín không vỡ, không rụng trứng. Nang này tiếp tục lớn lên, có thể to trên 10cm, tiếp tục chế tiết oestrogen làm bệnh nhân chậm kinh. Khi nang vỡ đôi khi có thể gây chảy máu nhiều trong ổ bụng cần phải mổ cấp cứu.

Nang hoàng tuyến: Hay gặp ở những bệnh nhân chửa trứng, ung thư nguyên bào nuôi, đa thai, bệnh nhân điều trị vô sinh.

U nang thực thể: Ở những khối u này thực sự có biến đổi về tổ chức học buồng trứng, vì vậy đây là những khối u có nguy cơ ung thư hóa:

U nang nước buồng trứng: là dạng hay gặp nhất, chiếm khoảng 40% các khối UNBT. Nếu trên bề mặt u có các mạch máu tăng sinh hình lược, hay có các nhú trên bề mặt hoặc trong lòng u là những dấu hiệu nghi ngờ ung thư hóa.

U nang nhày buồng trứng: chiếm khoảng 20% các khối u buồng trứng, u thường to, có thể đến vài chục kg, thường hay dính vào các tổ chức xung quanh.

U nang bì buồng trứng: chiếm khoảng 25%, thường gặp u quái, tổ chức u rất đặc biệt, thành khối u có cấu trúc tương tự như da, có lớp sừng, tuyến bã.., bên trong nang thường chứa tóc, răng, bã đậu…

Lạc nội mạc tử cung dạng u nang: Tổ chức nội mạc tử cung phát triển ngay trên bề mặt buồng trứng, gây phá hủy tổ chức buồng trứng lành. Nang thường nhỏ, vỏ mỏng, dính vào các tổ chức xung quanh, bên trong chứa đầy dịch màu chocolate. U thường gây đau, dính nhiều làm tắc vòi trứng gây vô sinh.

u_nang_buong_trung_cho_xem_thuong02

Các biến chứng của UNBT

Các biến chứng này có thể xuất hiện sớm hay muộn tùy thuộc từng bệnh nhân, nhiều trường hợp biến chứng là cơ hội chẩn đoán bệnh:

Xoắn u nang: Có thể xảy ra với bất kỳ loại u nào, những u nhỏ, có cuống dài, không dính là những u dễ bị xoắn. Khi u xoắn bệnh nhân đau bụng dữ dội, liên tục, có thể buồn nôn, nôn, đôi khi có thể choáng vì đau. Bụng trướng, ấn đau hạ vị và hai hố chậu, có phản ứng thành bụng. Thăm âm đạo thấy khối u rất căng, ít di động, ấn đau chói.

Vỡ nang: Bệnh nhân thường đau bụng đột ngột, liên tục, hạ vị và hai hố chậu ấn đau, có phản ứng. Một số trường hợp vỡ nang gây chảy máu trong, bệnh nhân có thể choáng mất máu. Thăm âm đạo thấy khối u khó xác định, di động tử cung đau, cùng đồ sau đầy, đau. Thường xảy ra sau khi vỡ nang, bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, bụng trướng, có thể có cảm ứng phúc mạc, thăm âm đạo thấy u dính, ít di động, ấn đau.

Chèn ép các tạng xung quanh: Biến chứng này thường muộn, khi u đã phát triển lâu, kích thước lớn. U chèn ép bàng quang gây đái rắt, chèn ép trực tràng gây táo bón, đôi khi chèn ép niệu quản gây ứ nước bể thận, thậm chí có những khối u buồng trứng rất lớn chèn ép tĩnh mạch chủ dưới gây tuần hoàn bàng hệ, phù hai chi dưới, cổ trướng. Ung thư hóa có thể xuất hiện ở nang nước.

Các biểu hiện bệnh ít đặc hiệu

Khi chưa có biến chứng, khối UNBT thường có các triệu chứng rất mơ hồ, đa số trường hợp chỉ phát hiện được khối u buồng trứng một cách tình cờ khi siêu âm bụng kiểm tra hay khi khám phụ khoa định kỳ.

Một số bệnh nhân có thể chậm kinh, rối loạn kinh nguyệt, một số khác có cảm giác tức nặng ở vùng bụng dưới, nhưng các triệu chứng đều mơ hồ và không đặc hiệu. Trong đa số các trường hợp, thăm âm đạo sẽ thấy một khối u biệt lập với tử cung, thường căng, ấn không đau, di động. Khối u có thể dính trong một số ít trường hợp như u nang nhày, u nang dạng lạc nội mạc tử cung, u nang có biến chứng ung thư hóa.. Kích thước khối u to nhỏ tùy trường hợp, nói chung thường dưới  10cm.

Phát hiện sớm u nang buồng trứng

Siêu âm tiểu khung là phương pháp khá đơn giản, độ chính xác cao, có thể cho phép xác định loại u nang và phát hiện các yếu tố nghi ngờ ác tính. Chụp cắt lớp, cộng hưởng từ thường chỉ áp dụng trong những trường hợp khó, u quá to, để chẩn đoán phân biệt với các khối u khác của tiểu khung như u trực tràng, u mạc treo… Khám phụ khoa định kì có thể giúp phát hiện được khối u buồng trứng, kết hợp với siêu âm bụng sẽ cho biết thêm tính chất khối u. Ngoài ra, có thể làm thêm một số xét nghiệm máu để giúp định hướng tính chất lành hay ác của khối u như xét nghiệm máu đo lượng chất Alpha Feto Protein.

Phẫu thuật u nang khi nào?

Cần phân biệt u nang cơ năng và u nang thực thể vì 2 loại u này có cách xử trí rất khác nhau. Các u nang cơ năng thường không cần điều trị, tự mất đi sau vài vòng kinh. Cũng có thể cho bệnh nhân  dùng thuốc tránh thai kết hợp để điều trị u nang cơ năng, tuy nhiên hiệu quả chưa rõ ràng. Đôi khi các u nang cơ năng cũng có biến chứng như xoắn nang, vỡ nang chảy máu… đòi hỏi phải phẫu thuật cấp cứu, nhưng thường hiếm gặp. Ngược lại các u nang thực thể khi được phát hiện cần mổ càng sớm càng tốt để tránh biến chứng. Tùy theo kích thước và tính chất khối u cũng như nguyện vọng sinh đẻ của bệnh nhân mà chọn phương pháp phẫu thuật triệt để cắt bỏ toàn bộ khối u và buồng trứng bên bệnh hay chỉ bóc tách khối u để lại phần buồng trứng lành, mặc dù bóc tách khối u có thể làm tăng nguy cơ tái phát UNBT.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. Lê Hoàng

Phương pháp mới điều trị ung thư buồng trứng

pp_dieu_tri_ung_thu_buong_trungCác chuyên gia thuộc Trung tâm Nghiên cứu ung thư Endinburgh (ECRC) của Anh vừa phát hiện ra một loại thuốc mới điều trị bệnh ung thư buồng trứng, thuốc avastin có thể kéo dài cuộc sống cho nhóm người này tới 8 tháng. Đây là phát hiện mang tính đột phá trong vòng 2 thập kỷ trở lại đây trong lĩnh vực trị bệnh ung thư buồng trứng. Phát hiện được rút ra từ nghiên cứu trên 1.500 phụ nữ châu Âu mắc bệnh ung thư buồng trứng giai đoạn cuối đã qua phẫu thuật cắt bỏ khối u và hóa trị liệu, nhưng khi dùng avastin, khối u bị bỏ đói do không có nguồn máu cung cấp và không di căn phát triển tiếp. Tuổi thọ trung bình của nhóm dùng avastin kéo dài thêm 7, 8 tháng so với nhóm đối chứng. Với phát hiện trên, trong tương lai, việc điều trị ung thư buồng trứng sẽ hiệu quả hơn. Ngay sau khi phát hiện trên được công bố, hãng sản xuất đã đệ đơn lên Cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMA) xin phép cho lưu hành, dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng cuối năm 2011 này.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ KHẮC NAM (Theo MDN, 6/2011)

Phát hiện sớm ung thư buồng trứng

Như chúng ta vẫn biết, phần lớn những trường hợp bị mắc bệnh ung thư buồng trứng thường được phát hiện khi đã quá muộn. Nếu như căn bệnh này được phát hiện sớm thì tỷ lệ chữa khỏi rất cao, có khi tới hơn 90%.

Lâu nay, các bác sĩ vẫn thường chẩn đoán bệnh này dựa trên mức độ thay đổi của các chất có tên: CA-125 trong máu của bệnh nhân. Tuy vậy một tỷ lệ chẩn đoán sai khi áp dụng phương pháp này là rất cao. Trong môt số người thì lượng chất CA-125 thay đổi thất thường, nhưng trên thực tế, họ lại không hề bị ung thư. Thế nhưng ở một số người khác, mặc dù lượng CA-125 tăng cao nhưng họ lại không ung thư buồng trứng mà đã mắc một bệnh ung thư khác…

phat_hien_som_ung_thu_buong_trung

Theo như bản báo cáo y khoa mới nhất của Trung tâm Ung thư M.D. Anderson thuộc Đại học Texas tại Houston, đã nói tới phương pháp mới giúp phát hiện căn bệnh này một cách hiệu quả hơn hẳn so với những phương thức truyền thống khác. Đó là phương pháp dùng máy vi tính xử lý một thuật toán rất phức tạp, kết hợp cùng những yếu tố như: tuổi tác, lượng CA-125 tăng cao trong máu và thời gian diễn ra thay đổi của những lượng CA-125 tăng cao. Công trình nghiên cứu y học này luôn chú ý đến việc chẩn đoán bệnh của giai đoạn đầu mới hình thành và phát triển, nghĩa là lúc ung thư vẫn còn chưa di căn và lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Thời gian nghiên cứu theo dõi của công trình diễn ra trong 9 năm và dựa trên dữ liệu áp dụng từ hơn 3.200 phụ nữ, trong độ tuổi từ 50 – 74. Trong số này có khoảng 1/3 số phụ nữ trên bị chẩn đoán có nguy cơ rất cao và sau khi phẫu thuật được xác định bị ung thư buồng trứng. Theo GS. Karen Lu, một chuyên gia về ung thư phụ khoa, đồng thời cũng là một thành viên của nhóm nghiên cứu, thì đây là một kết quả dự báo cực kỳ chính xác. Khi công trình này hoàn thiện và đi vào thực tế, nó sẽ giúp cứu sống được nhiều người mắc bệnh ung thư buồng trứng, vì khi chẩn đoán sớm và chính xác thì việc chữa trị sẽ hiệu quả…

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Theo Health News

Ngừa ung thư buồng trứng bằng thuốc tránh thai

Một trong những nguyên nhân tử vong thường gặp nhất ở phụ nữ là ung thư buồng trứng, tuy nguyên nhân phát sinh chưa rõ nhưng nhiều dữ liệu cho thấy nguy cơ phát triển loại ung thư này giảm ở những phụ nữ dùng viên thuốc tránh thai (TTT).

Thực tế có tới gần 40 thể ung thư buồng trứng khác nhau. Tuy nhiên, có tới 9 trong số 10 bệnh nhân ung thư buồng trứng bị khối u thể liên bào (phát triển từ mô bề mặt của buồng trứng). Hầu hết ung thư buồng trứng gặp ở phụ nữ ngoài 50 tuổi, nguy cơ cao nhất gặp ở phụ nữ ngoài 60. Phụ nữ chưa bao giờ sinh đẻ dễ bị ung thư buồng trứng.

dung_thuoc_tranh_thai_ngua_ung_thu_buong_trung

Sử dụng viên thuốc tránh thai giúp phòng ngừa ung thư buồng trứng.

Ung thư buồng trứng thường được xem là “bệnh giết người thầm lặng” vì phần lớn phụ nữ khi đã có những triệu chứng thì đã ở giai đoạn tiến triển, nghĩa là tế bào ung thư đã lan vào ổ bụng. Tuy nhiên ngày nay, người ta biết rằng giai đoạn sớm của bệnh (I và II) không phải là thầm lặng và khi đã xuất hiện những triệu chứng thì đã ở giai đoạn tiến triển (III và IV). Những triệu chứng thường gặp nhất là: có cảm giác bụng như to ra – quần áo như chật hơn – đau nhẹ hay khó chịu ở ổ bụng vùng tiểu khung – có triệu chứng về tiêu hoá như chướng bụng, đau lưng, mệt mỏi. Nếu những triệu chứng này kéo dài hàng tuần thì cần đi khám phụ khoa (chỉ để loại trừ không có ung thư buồng trứng vì nhiều bệnh khác cũng có triệu chứng tương tự).

Nguyên nhân cụ thể thì chưa rõ nhưng người ta nhận thấy rằng số phụ nữ bị ung thư buồng trứng tập trung nhiều ở những nước công nghiệp phát triển, hành vi của phụ nữ tại những nước này có gì khác so với phụ nữ ở những nước nghèo. Có nhiều giả thiết: chế độ ăn nhiều mỡ hơn – dù ng bột talc trong các khăn vệ sinh kinh nguyệt – vô sinh – sử dụng thuốc kích thích rụng trứng (clomird, perganon). Chưa có giả thiết nào được công nhận. Có lẽ yếu tố duy nhất được công nhận là có kết hợp giữa tỷ lệ ung thư buồng trứng gia tăng với tiền sử gia đình (bà con họ hàng gần) có người đã từng bị ung thư buồng trứng. Nguy cơ ung thư buồng trứng ở những phụ nữ này là 50% so với 1,8% phụ nữ không có mối liên hệ gia đình nào với bệnh nhân ung thư buồng trứng.

Cơ chế bảo vệ của TTT có lẽ do ức chế sự rụng trứng. Tác dụng bảo vệ bắt đầu ngay trong 6 tháng đầu dùng thuốc. Dùng TTT từ khi còn trẻ và kéo dài hơn 10 năm thì ít bị ung thư buồng trứng hơn so với những phụ nữ bắt đầu dùng TTT khi đã lớn tuổi nhưng tác dụng bảo vệ này có thể hết sau khi ngừng uống TTT khoảng 20 năm.

Vì muốn xác định lại giá trị phòng bệnh ung thư buồng trứng của TTT nên các nhà khoa học Đại học Y Harvard, Mỹ đã tiến hành một nghiên cứu lớn trên 107.900 người, thời gian theo dõi kéo dài đến 28 năm, dài chưa từng có về ảnh hưởng của TTT đến sự phát triển ung thư buồng trứng (đã đăng trên Am J Epidemiol 2007;166:894 – 901.)

Kết quả cho thấy, nếu dùng viên TTT ít nhất 10 năm thì giảm 38% về tỷ lệ nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng. Nếu chỉ dùng viên TTT từ 5 năm trở xuống thì không có sự phối hợp với giảm nguy cơ ung thư buồng trứng. Nghiên cứu cũng cho thấy thời gian uống TTT càng dài thì càng giảm nguy cơ bị ung thư buồng trứng. Không thấy tác dụng bảo vệ với những phụ nữ đã bỏ uống TTT ít nhất 20 năm.

Các nhà nghiên cứu cho rằng dùng viên TTT uống là cách tốt nhất để giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, có thể coi là một lựa chọn để phòng bệnh, nhất là với những phụ nữ có nguy cơ cao. Tuy nhiên còn cần nghiên cứu tiếp để tìm ra phương pháp phòng bệnh cho phụ nữ khi tuổi đã cao.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.Xuân Anh

Mối liên quan giữa béo phì và ung thư buồng trứng

beo_phi_va_ung_thu_buong_trungVề mặt y học thì việc phụ nữ tránh béo phì có những lợi thế nhất định của nó, bao gồm việc giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, ung thư vú, ngưng thở khi ngủ và hàng loạt các vấn đề sức khỏe khác. Và bây giờ, có thêm một lý do để duy trì cân nặng ổn định, đó là mối liên kết giữa bệnh béo phì ở phụ nữ mãn kinh và bệnh ung thư buồng trứng. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đối với hơn 95.000 phụ nữ ở độ tuổi 50-71, có chỉ số BMI từ 30 trở lên trong thời gian 7 năm. Kết quả cho thấy, những phụ nữ này có khả năng mắc ung thư buồng trứng cao hơn 26% so với những phụ nữ có cân nặng bình thường. Một điều thú vị đó là những phụ nữ đã sử dụng liệu pháp hormon thay thế cho các triệu chứng của mãn kinh có thể không phải đối mặt với nguy cơ tăng lên này.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Hoàng Dương (Theo Healthnews.com)

Liệu pháp hormon làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú và buồng trứng

Các nhà khoa học Anh và Mỹ mới đây vừa cho biết: Liệu pháp hormon có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú và có liên quan tới việc phụ nữ mắc ung thư buồng trứng.

lam_tang_ung_thu_buong_trung

Theo các con số thống kê tại Mỹ, tỷ lệ mắc ung thư vú ở phụ nữ đã giảm hẳn sau khi hàng triệu phụ nữ nước này dừng việc sử dụng hormon hoặc liệu pháp điều trị bằng hormon trong việc làm đẹp. Trước đó, các nhà khoa học cũng đưa ra cảnh báo về việc sử dụng liệu pháp hormon có liên quan đến nguy cơ tăng tỷ lệ mắc bệnh tim, đột qụy và ung thư. Một nghiên cứu còn cho thấy sự phát triển những dạng phổ biến nhất hiện nay của các khối u ung thư là do có liên quan tới hormon. Sau khi giảm bớt việc điều trị bằng liệu pháp      hormon, tỷ lệ ung thư đã giảm xuống khoảng 15% đối với phụ nữ lứa tuổi 50-69 (nhóm tuổi sử dụng nhiều thuốc chiết xuất từ hormon nhất tại Mỹ). Cùng lúc, tại Anh, gần 1 triệu phụ nữ đang sử dụng liệu pháp điều trị bằng hormon sau thời kỳ mãn kinh có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng và nguy cơ tử vong cao hơn 20% so với những người bình thường không dùng thuốc.

Với căn bệnh ung thư buồng trứng, kết quả điều tra tại Anh cũng cho thấy trong 1.000 người sử dụng liệu pháp hormon, có 2,6% trong số họ bị mắc ung thư buồng trứng trong thời gian là 5 năm.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ Diệu Hoa (Theo Science daily 6/2009)

Giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, buồng trứng bằng đậu nành

Theo kết quả nghiên cứu mới đây, những phụ nữ ăn nhiều thực phẩm nguồn gốc đậu nành sẽ giảm nguy cơ bị ung thư buồng trứng và nội mạc tử cung.

Người ta đã biết, ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng tác động bởi các hormon như estrogen. Trong khi một số hợp chất trong đậu nành có tác động như estrogen liên quan tới tỷ lệ ung thư vú cao thì nghiên cứu này cho thấy chúng giúp làm giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng.

dau_nanh_giam_ung_thu

Tiến sĩ Kwon Myung và cộng sự thuộc Trung tâm ung thư Quốc gia (Hàn Quốc) đã phân tích 7 nghiên cứu gồm hơn 169.000 phụ nữ, trong đó 3.516 người bị 1 trong 2 ung thư. Hầu hết các nghiên cứu này đánh giá mức độ ăn đậu nành hoặc chế phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành, protein đậu nành. Kết quả, tỷ lệ bị ung thư giảm 40% ở nhóm phụ nữ ăn nhiều nhất những thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.

Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, cần nghiên cứu thêm để xác định hàm lượng tối ưu thực phẩm có nguồn gốc từ đậu nành.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống – Đức Trọng
(Theo International Journal of Obstetrics and Gynaecology, 12/2009)

Tìm hiểu bệnh Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Thống kê cho thấy, ở Việt Nam, tử vong do ung thư buồng trứng đứng hàng thứ ba sau ung thư cổ tử cung và ung thư vú. Nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ có kết quả tốt nhưng hiện nay hầu hết các bệnh nhân nhập viện điều trị đều đã ở giai đoạn muộn do các biểu hiện của ung thư buồng trứng thường diễn biến âm thầm, không rõ ràng.

Buồng trứng là một trong các cơ quan sinh dục của người phụ nữ có chức năng phóng noãn và tiết ra các chất nội tiết (estrogen, progesteron) từ lúc dậy thì cho đến tuổi mãn kinh. Phụ nữ có 2 buồng trứng, mỗi cái ở mỗi bên của tử cung. Ung thư buồng trứng là khi tế bào buồng trứng phát triển một cách bất thường, tạo ra những khối u ác tính ở một hoặc 2 bên buồng trứng.

Nguyên nhân gây ung thư thư buồng trứng đến nay vẫn chưa được xác định rõ nhưng có thể xác định những yếu tố nguy cơ như: Sự thay đổi về gen di truyền, tiền sử gia đình có người bị ung thư buồng trứng (những người đã có mẹ, chị em gái hoặc con gái từng mắc thì có đến 5% nguy cơ mắc bệnh này), độ tuổi ( thường gặp nhất ở phụ nữ sau mãn kinh và tăng lên khi tuổi càng cao), phụ nữ mất khả năng sinh sản, u nang buồng trứng ( nang hình thành sau khi mãn kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư),…

07

Diễn biến âm thầm

Ung thư buồng trứng ở giai đoạn sớm thường diễn biến âm thầm, không có dấu hiệu đặc biệt. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ có ý thức quan tâm đến sức khỏe của mình sẽ phát hiện ra những dấu hiệu có thể đã mắc ung thư buồng trứng như: Rối loạn kinh nguyệt, đau hoặc nặng ở vùng bụng dưới, đau khi quan hệ tình dục, rối loạn tiểu (tiểu khó, són tiểu), mệt mỏi kéo dài, giảm cân, chán ăn, rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, khó tiêu, đại tiện táo hoặc tiêu chảy),…  Ở giai đoạn muộn, các dấu hiệu trên sẽ kéo dài và nặng hơn, thậm chí sờ được khối u ở vùng bụng dưới, di căn tới những bộ phận khác như tử cung, vòi trứng, màng bụng, hạch bạch huyết trong ổ bụng, các cơ quan ngoài ổ bụng,…

Điều trị như thế nào?

Khi có biểu hiện nghi ngờ các bác sĩ sẽ khám âm đạo, tử cung,… siêu âm để phát hiện khối u, làm các xét nghiệm khác như chụp Xquang, chụp cắt lớp, cộng hưởng từ,… để chẩn đoán ung thư. Điều trị ung thư buồng trứng bao gồm phẫu thuật kết hợp điều trị hóa chất. Tùy thuộc vào giai đoạn của bệnh sớm hay muộn bác sĩ sẽ có chỉ định điều trị phù hợp. Ở giai đoạn sớm khi tế bào ung thư khu trú ở buồng trứng chưa lan ra lớp vỏ của buồng trứng thì có thể sẽ phẫu thuật cắt tử cung và hai phần phụ. Ở giai đoạn muộn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn vì tế bào ung thư đã di căn sang rất nhiều các cơ quan khác, tỷ lệ phẫu thuật thành công và thời gian sống sau phẫu thuật là rất ít. Do đó, khi thấy có những biểu hiện bất thường của cơ thể nghi ngờ ung thư thư buồng trứng như đã nêu trên cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm.

Bác sĩ Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Dấu hiệu nhận biết u nang buồng trứng

Theo các chuyên gia, u nang buồng trứng là bao nang chứa đầy dịch hình thành trong buồng trứng của người phụ nữ.

06

Hình ảnh u nang buồng trứng.

Cơ quan Quản lý sức khỏe và con người (Mỹ) cho biết ở một số trường hợp, u nang buồng trứng rất khó phát hiện và không biểu hiện dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Tuy nhiên, có một số triệu chứng đáng chú ý khi bị u nang buồng trứng, bao gồm: đau hoặc tức vùng bụng, hoặc cảm giác đầy bụng; đau mơ hồ ở vùng thắt lưng và đùi; đi tiểu khó; đau khi giao hợp; tăng cân không rõ nguyên nhân; đau nhức vú, buồn nôn hoặc nôn; đau hoặc ra huyết bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt.

Khi có một số triệu chứng trên, bệnh nhân nên khẩn trương tới cơ sở y tế để khám kiểm tra. Đặc biệt cần khám cấp cứu trong trường hợp có một trong những triệu chứng sau: đau kèm sốt và nôn; đột ngột đau bụng dữ dội; hoa mắt, chóng mặt hoặc suy kiệt; thở nhanh nông không rõ nguyên nhân.

Anh Tú (Theo HealthDay News, 4/6/2008)
Theo Sức Khỏe & Đời Sống