Tag Archives: buồn nôn

Ung thư thực quản ở nam giới

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy
UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

ung-thu-thuc-quan-o-nam-gioi

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.
Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?
Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị
Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh nghề nghiệp của doanh nhân

Mỗi nghề nghiệp trong xã hội đều đáng tôn trọng. Khi gặp ai đó là doanh nhân, chúng ta thường nghĩ họ là những người có năng lực, dám nghĩ, dám làm. Nhưng họ cũng là những người chịu áp lực nặng nề của công việc, thậm chí nếu không giải quyết được, họ có thể mắc những chứng bệnh liên quan đến stress như rối loạn lo âu, trầm cảm và mất ngủ.

Bệnh lo âu là một căn bệnh thường gặp với các biểu hiện bồn chồn, lo lắng, đứng ngồi không yên; tim đập nhanh, cảm giác khó thở, đau vùng ngực; rối loạn tiêu hóa – đau dạ dày, đi ngoài phân lỏng có khi là táo bón; ngủ kém; tăng huyết áp; căng cứng cơ; dễ mệt mỏi; buồn nôn, run chân tay; cảm giác không muốn gần gũi, tiếp xúc với mọi người.

Bệnh trầm cảm cũng thường gặp với biểu hiện buồn chán, bi quan về tương lai; mệt mỏi, không muốn làm việc; ăn không ngon miệng; gầy sút cân; ngủ kém, có trường hợp ngủ nhiều; không muốn tiếp xúc với mọi người; mất hết mọi đam mê, hứng thú trong công việc; giảm khả năng tình dục; cảm thấy mình có nhiều tội lỗi, có ý tưởng thậm chí hành vi tự sát; đau đầu và đau nhiều nơi trong cơ thể; hay quên, kém tập trung chú ý.

benh-nghe-nghiep-cua-doanh-nhan

Vậy chúng ta cần làm gì để khắc phục những chứng bệnh do stress gây ra?

Đã bao giờ các bạn tự hỏi ai gây ra stress cho bạn chưa? Với tôi, mỗi ngày khám khoảng 40 bệnh nhân thì hầu hết những câu trả lời là do các yếu tố bên ngoài, nào là mâu thuẫn với thủ trưởng, đồng nghiệp, mâu thuẫn với bạn bè, gia đình, con cái không ngoan… Tất cả nguyên nhân đều từ bên ngoài! Như vậy rõ ràng chúng ta đã để cho tất cả yếu tố bên ngoài tác động đến cơ thể của mình, đến mức không thể kiểm soát được. Tình trạng này sẽ không có lối thoát nếu chúng ta không biết cách tự điều chỉnh bản thân.

Vậy ứng phó với stress như thế nào? Bạn cần phải cố gắng tuân theo những nguyên tắc sau đây mới có thể cảm thấy thoải mái về thể chất và đặc biệt là tinh thần:

– Hãy làm việc hết mình cho ngày hôm nay, vì ngày hôm nay sẽ không bao giờ quay trở lại, hãy tận dụng hết 24 giờ quý giá của một ngày.

– Tìm ra giải pháp cho vấn đề mà bạn đang gặp phải: Xác định vấn đề khó khăn của bạn là gì, hình dung điều tồi tệ nhất có thể xảy ra và tìm cách đối phó với nó.

– Bạn nên có phương pháp thư giãn hợp lý: Chơi môn thể thao mình yêu thích; giao lưu, tâm sự với bạn bè; đi du lịch… Một số phương pháp để xả stress tốt như bạn không nên quá căng thẳng trước lời phê bình của người khác, hãy học cách tha thứ, luôn luôn cười vì cười giúp con người thư giãn và tăng sức đề kháng cho cơ thể.

Nguồn sức khỏe đời sống

Dinh dưỡng cho người dạ dày mãn tính

Viêm dạ dày mạn tính là bệnh phổ biến với triệu chứng lâm sàng đa dạng nhưng chủ yếu là khó chịu hoặc đau vùng thượng vị, đau âm ỉ, đau nhói hoặc cảm giác rát bỏng, kèm theo các triệu chứng ăn không ngon, ợ hơi, buồn nôn, nôn, mệt mỏi…

Để chữa trị hiệu quả phải kết hợp dùng thuốc và chế độ ăn uống phù hợp. Trước hết người bệnh cần tránh sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê đặc hoặc trà đặc. Ăn uống phải đúng giờ, ăn những thứ dễ tiêu hóa. Không nên ăn chua, ăn nguội, quá nóng, quá cay và đồ khô rắn, tránh để đói hoặc no quá. Khi ăn phải nhai chậm, nhai kỹ. Nên ăn nhiều bữa và số lượng thức ăn trong mỗi bữa có thể ít đi. Hạn chế ăn các thực phẩm ướp hoặc xào rán, ít ăn các thực phẩm mặn và các loại bánh quá ngọt.

dinh-duong-cho-nguoi-da-day-man-tinh

Món ăn, bài thuốc hỗ trợ điều trị viêm dạ dày mạn tính

Bài 1:Tiểu hồi hương 6g, gừng tươi 6g, sắc lấy nước, cho thêm 100g gạo tẻ nấu thành cháo loãng. Dùng cho người bị viêm dạ dày mạn tính, yếu lạnh đau bụng.

Bài 2: Dạ dày lợn 1 bộ, rửa sạch, đậu tương 100g, thêm nước vừa đủ, đun nhừ chia bữa ăn. Dùng cho người viêm dạ dày mạn tính, sức khỏe kém.

Bài 3: Hoài sơn dược 100g, kê nội kim sống 100g, bán hạ ngâm dấm 60g, triết bối mẫu 40g, nghiền thành bột, mỗi lần 3g, uống với nước, ngày 3 lần.

Bài 4: Dạ dày dê một cái hầm với gừng tươi, riềng và nhục quế (lượng vừa đủ), chia ăn vài lần trong ngày.Dùng cho người bị viêm dạ dày mạn tính thể tỳ vị hư hàn.

Bài 5: Một ít hạt súng, hạt sen, hồng táo, hoài sơn dược, ý dĩ nhân, đẳng sâm, bạch truật, phục linh, cam thảo nghiền thành bột, mỗi lần lấy 30g, cho vào nước để nóng hoặc cho vào cháo ăn.

Các món ăn, bài thuốc trên có thể ăn 3 – 5 lần, sau đó nghỉ 1 tuần lại dùng tiếp.

Nguồn giáo dục

Nhận biết bệnh viêm xoang ở con trẻ

Viêm xoang ở trẻ em (VXTE) là một bệnh khá thường gặp. Việc chẩn đoán và điều trị bệnh này ở trẻ em khác với viêm xoang ở người lớn. Trong thực tế, bệnh thường rất dễ nhầm lẫn với bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên.

Hệ thống các xoang ở trẻ phát triển đầy đủ cho đến khi trẻ tròn 10 tuổi. Mặc dù xoang hàm và xoang sàng là nhỏ nhưng đã có ngay sau sinh, do đó viêm hai xoang này thường gặp nhất.

viem-xoang

Phân biệt trẻ bị viêm xoang và nhiễm khuẩn hô hấp trên
Trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trên thường có các triệu chứng: sốt, ho, sổ mũi, quấy khóc. Các triệu chứng này thường giảm và tự khỏi sau 5 – 7 ngày. Bệnh thường do virút nên không cần sử dụng kháng sinh.

Nghĩ đến VXTE khi trẻ có các triệu chứng sau:
– “Cảm cúm” kéo dài 10 – 14 ngày có thể kèm sốt hoặc không.
– Sổ mũi đục, xanh hoặc vàng.
– Chảy mũi sau đôi khi dẫn đến đau họng, ho, khạc đờm, khò khè, khó thở, nôn, buồn nôn.
– Quấy khóc, mệt mỏi.
– Sưng quanh mắt.

Các triệu chứng này thường kéo dài 10 – 14 ngày hoặc hơn. Tuy nhiên, với các triệu chứng trên kéo dài dưới 10 ngày vẫn có thể là viêm xoang nếu các triệu chứng này là trầm trọng và sốt cao trên 4 ngày. Một số trường hợp bệnh kéo dài 10 – 14 ngày nhưng bắt đầu giảm dần, tuy hơi chậm, cũng không hẳn là viêm xoang, đôi khi cũng chỉ là nhiễm khuẩn hô hấp trên do virút.
Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, chẩn đoán VXTE chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng nêu trên, không nhất thiết phải chụp X-quang, đặc biệt ở trẻ em dưới 6 tuổi.

Điều trị như thế nào?
– Viêm xoang cấp tính: hầu hết VXTE đều đáp ứng tốt với kháng sinh, các kháng sinh thường được sử dụng an toàn và hiệu quả cho trẻ là nhóm betalactam. Theo Viện Nhi khoa Hoa Kỳ, việc sử dụng kháng sinh kéo dài ít nhất 7 ngày sau khi các triệu chứng khỏi hoàn toàn.
Các thuốc chống sung huyết mũi dạng phun sương hoặc nước muối sinh lý cũng được sử dụng.
– Viêm xoang mạn tính: khi các triệu chứng của viêm xoang kéo dài trên 12 tuần, hoặc viêm xoang cấp tái phát trên 4 – 6 lần/năm thì cần có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng để có chỉ định điều trị nội khoa hay phẫu thuật.

Khi nào thì cần phẫu thuật?
Phẫu thuật xoang ở trẻ em chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, chỉ định khi trẻ bị viêm xoang nặng, hoặc thường hay tái phát, viêm xoang mạn tính không đáp ứng điều trị nội khoa.

Những tương tác nguy hiểm giữa rượu và thuốc

Rượu là một dung môi hữu cơ. Thuốc cũng phần lớn là các chất hữu cơ, rất dễ hòa tan vào nhau, tạo nên một hỗn dịch có thể là tương hợp hoặc tương kỵ trong cơ thể con người.

Theo các nhà tương tác học thì rượu có tương tác với hàng trăm thuốc và dẫn xuất của nó. Có rất nhiều tương kỵ gây nên nhiều triệu chứng, bệnh lý như ức chế thần kinh trung ương, ức chế hô hấp, tăng hoặc hạ huyết áp, giãn mạch, tim đập nhanh, tăng hoặc hạ thân nhiệt, buồn nôn, ban đỏ, trụy tim mạch, thiểu năng tế bào gan, độc với gan, hạ đường huyết, tăng acid uric máu, xơ hóa gan, kích ứng tiêu hóa gây xuất huyết…

Tùy thuộc vào lượng rượu uống có thể đưa đến những triệu chứng lâm sàng, bệnh lý nặng nề có thể gây tử vong.

nhung-tuong-tac-nguy-hiem-giua-ruou-va-thuoc

Dưới đây là một số tương kỵ thường gặp khi uống thuốc đồng thời uống rượu và ngược lại:

Hiệu ứng antabuse: Rượu tạo nên một tỷ lệ bất thường acetaldehyd tích lũy ở mô (ức chế enzym) kéo theo các dấu hiệu làm tăng như cơn vận mạch, giãn mạch nặng, nhịp tim nhanh, thân nhiệt tăng cao, buồn nôn, nôn, phát ban da, có thể gây hạ huyết áp, trụy tim mạch có thể đưa đến tử vong. Hiệu ứng này xảy ra với các thuốc sau đây:

Các thuốc chống nấm dẫn xuất imidzol, đặc biệt với các loại thuốc uống (ketoconazol, miconazol, tinidazol…).
Các thuốc biguanid và dẫn xuất trị tăng đường huyết như buformin, metformin.
Các cephalosporin có cấu trúc nhân tetrazol như cefamandol, latamoxef, cefoperazon, cefmenoxim…
Các sulfamid trị tăng đường huyết như glibenclamid, gliclazid, glipizid, gliquidon, tolbutamid…
Với các thuốc khác như isoniazid (trị lao), griseofulvin (thuốc trị nấm), nitrofural (kháng sinh tổng hợp nhóm nitrofuran), các phenicol (kháng sinh như chloramphenicol), procarbazin (tác nhân kìm tế bào tân sinh) cũng gây hiệu ứng antabuse.
Ức chế thần kinh trung ương, gây tăng an thần, ngủ sâu đến hôn mê với các thuốc sau đây:

Amantadin, thuốc trị virut cúm típ A2 và trị triệu chứng Parkinson; các chất chủ vận morphin; thuốc trầm cảm 3 vòng; thuốc chống động kinh không barbituric như natri valproat; các thuốc kháng histamin H1 làm dịu; barbituric (thuốc ngủ); các benzodiazepin gây an thần, giải lo âu gây ngủ, giãn cơ chống co giật; các carbamat; carbamazepin (thuốc trị động kinh); dantrolen (thuốc thư giãn cơ); dextropropoxyphen (thuốc giảm đau); fluoxetin (thuốc trị trầm cảm); fluvoxamin (thuốc trị trầm cảm không an thần); glutethimid (an thần, gây ngủ); interferon alfa (thuốc trị virut); mianserin (thuốc trị trầm cảm); medifoxamin (thuốc trị trầm cảm); methyldopa (trị tăng huyết áp); oxaflozan (thuốc trị trầm cảm); primidon (thuốc trị động kinh).

Có thể nói để dễ nhớ, tương kỵ giữa rượu (kể cả những chế phẩm có chứa rượu) và các thuốc gây nên ức chế thần kinh trung ương đến mức chống chỉ định tuyệt đối là các thuốc gây ngủ, an thần, thuốc trị động kinh, thuốc chống trầm cảm và thuốc kháng histamin H1 làm dịu.

Lại càng phải được chú ý với người đứng máy, người lái xe, người làm việc trên cao hoặc làm việc nơi nguy hiểm, người đang cần tập trung tinh thần, tư tưởng cho công việc.

Độc với gan: Gan là cơ quan có nhiều chức năng đối với quá trình chuyển hóa, tham gia vào nhiều cơ chế duy trì và điều hòa hoạt động của cơ thể để duy trì sự hằng định (tương đối) ở máu, nhất là vai trò thải độc của cơ thể.

Rượu, bản thân nó đã là kẻ thù của gan, nếu dùng cùng lúc với các dẫn xuất imidazol, đặc biệt với ketoconazol (thuốc chống nấm) nguy cơ độc với gan tăng rất cao, với các dẫn xuất biguanid (thuốc trị đái tháo đường) gây thiểu năng tế bào gan. Hầu hết các thuốc gây hiệu ứng antabuse trên đây đều cũng gây độc với gan. Ngoài ra còn methotrexat do cộng hợp tác dụng phụ rất độc với gan gây xơ hóa gan, với paracetamol dùng liều cao và dài ngày làm tăng chất chuyển hóa độc với gan.

Hạ đường huyết quá mức: Nhất là uống rượu lúc đói trong khi có dùng các biguanid (metformin, buformin…) các sulffamid hạ đường huyết (xem trên đây), đặc biệt insulin sẽ gây hạ đường huyết nặng nề biểu hiện toát mồ hôi, chóng mặt, đánh trống ngực, đói cồn cào, run rẩy, bồn chồn, tê tay chân, lưỡi, môi, choáng váng, nhức đầu, lơ mơ, mắt mờ. Có thể bị kích thích bất thường, nặng hơn có thể dẫn đến hôn mê, co giật và nguy cơ tử vong.

Hạ huyết áp: Rượu cùng với các thuốc chủ vận morphin không những gây ức chế thần kinh trung ương, tăng an thần, ức chế hô hấp mà còn gây hạ huyết áp. Các thuốc dẫn xuất nitrat như nitroglycelin và các thuốc trị tăng huyết áp gây giãn mạch, chống đau thắt ngực đều làm hạ huyết áp quá mức. Với guanethidin gây hạ huyết áp thế đứng, có thể ngã, với viloxazin, nicorandil không những gây hạ huyết áp mà còn có thể dẫn tới sốc rất nguy hiểm.

Độc tính với dạ dày: Bản thân rượu cũng đã độc với dạ dày. Thật sai lầm là một số người dùng aspirin để giải những cơn say. Xin lưu ý rằng các dẫn xuất của salicylat (như aspirin) trong môi trường rượu sẽ gây kích ứng tiêu hóa dẫn đến xuất huyết. Với colchicin, một thuốc đặc hiệu trị bệnh gút, cùng với rượu không những độc với dạ dày ruột mà còn làm giảm tác dụng điều trị kèm theo tăng acid uric máu.

Còn khá nhiều thuốc khác nữa nên tránh dùng đồng thời với rượu như thuốc chống đông máu kháng vitamin K (làm giảm tác dụng), với etretinat gây tăng lipid máu, với các thuốc ức chế monoamino oxydase không chọn lọc gây hiệp đồng ức chế thần kinh trung ương, với các thuốc mê bay hơi halogen gây đối kháng tác dụng gây ngủ…

Trên đây là nói tương kỵ giữa thuốc và rượu nhưng là rượu “sạch”. Nhưng nếu lại dùng phải rượu “bẩn”, rượu có nhiều tạp chất như ceton, aldehyd, chất bay hơi, đặc biệt là methanol và các chất khác lạ làm cho nó bốc thì sự nguy hại ấy sẽ tăng lên gấp bội.

Nguồn khoa học

Những phản ứng nguy hiểm do thuốc điều trị tai mũi họng

Do Tai – Mũi -Họng là cửa ngõ đường ăn, đường thở, có hệ mạch và thần kinh rất phong phú nên khi sử dụng thuốc, ngay cả khi tại chỗ cũng có thể gây tai biến, phản ứng nguy hiểm. Ví dụ, cho trẻ sơ sinh nhỏ thuốc nhỏ mũi loại co mạch naphazolin 0,1% đã gây tử vong (theo thông báo của Viện Nhi). Nguyên nhân do độ lan tỏa và co mạch quá mạnh của thuốc làm co thắt các mạch máu não. Hay dùng corticoid qua đường xịt mũi hay khí dung kéo dài sẽ gây xuất huyết đường tiêu hóa ở những người có loét dạ dày, tá tràng, tăng tiến triển các bệnh đường hô hấp ở những người có bệnh đường hô hấp, lao phổi.

Mặt khác, vì TMH có hệ thống thần kinh giao cảm phong phú nên các phản ứng phụ của thuốc thường gặp đều có liên quan đến TMH như chóng mặt, ù tai, buồn nôn. Các phản ứng phụ của thuốc nhiều khi khó tránh khỏi, nếu không được giải thích, căn dặn sẽ có thể gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: kháng histamin (kháng H1) thường được dùng trong viêm mũi xoang nhưng lại có tác dụng phụ là gây buồn ngủ.

nhung-phan-ung-nguy-hiem-do-thuoc-dieu-tri-tai-mui-hong

Nếu người bệnh không biết, hoặc không được giải thích kỹ về thời gian uống thuốc có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng nếu uống thuốc xong lại làm ngay công việc cần sự tỉnh táo như làm việc trên cao, hay lái tàu, lái xe. Ngoài ra, vì TMH là cơ quan giữ nhiều chức năng quan trọng nên cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng các thuốc có ảnh hưởng xấu đến chức năng của các cơ quan này.

Trước hết với chức năng nghe: Nhiều trường hợp do dùng thuốc dẫn đến điếc, nguy hại hơn nếu xảy ra với bà mẹ mang thai dễ làm cho đứa trẻ bị câm điếc sau này. Kháng sinh gây tác dụng phụ loại này phổ biến nhất là nhóm aminozid. Cần nhớ có những người mẫn cảm thì chỉ với một lượng nhỏ như rắc, nhỏ vào tai cũng gây nên điếc tiếp âm, không có khả năng hồi phục. Đối với chức năng ngửi: Các thuốc rỏ mũi có thủy ngân (Hg) sẽ gây mất ngửi, thường không hồi phục.

Sử dụng thuốc không đúng cách hoặc quá lạm dụng thuốc cũng có thể gây tổn hại niêm mạc, bởi niêm mạc mũi xoang với hệ thống lông – nhày hoạt động rất tinh tế. Khi làm thay đổi pH, nhiệt độ, độ nhớt như rỏ mật ong nguyên chất vào mũi sẽ gây tổn hại niêm mạc do độ pH và độ nhớt quá cao. Các thuốc dùng dài ngày cũng gây tác hại lớn như rỏ các thuốc co mạch (ephedrin, naphazolin) tuy đúng hàm lượng nhưng nhiều lần, kéo dài liên tục sẽ gây viêm mũi do thuốc. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống miễn dịch.

Vì thế, việc sử dụng thuốc kháng sinh, hạ nhiệt trong viêm mũi họng cấp thông thường cho trẻ nhỏ làm cản trở việc tạo hệ thống miễn dịch hoặc tạo hệ thống miễn dịch không hoàn chỉnh. Ngược lại rỏ các loại dịch thuốc chưa được nghiên cứu kỹ (các đông dược với hoa lá tươi) có thể sẽ là cách vô hình đưa các dị nguyên vào cơ thể. Nếu rỏ liên tục thì các dị nguyên này sẽ tác động đến hệ thống miễn dịch và là nguyên nhân gây các phản ứng dị ứng sau này.

Nguồn giáo dục

Bệnh rối loạn tiêu hóa

Không phải là bệnh chết người, nhưng rối loạn tiêu hóa đem đến cho bạn nỗi khổ sở, khó chịu thường xuyên và dai dẳng.

Đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện do sự co thắt không đều của các cơ vòng trong ống tiêu hóa chính là tình trạng rối loạn tiêu hóa. Nguyên nhân của rối loạn tiêu hóa được cho là sự bài tiết setoronin, hay việc sinh ra nhiều khí methan trong ruột và liên quan mật thiết đến chế độ ăn uống.

Giảm chất lượng cuộc sống

Hai triệu chứng đặc trưng nhất của rối loạn tiêu hóa là đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện. Cơn đau bụng có thể âm ỉ hoặc dữ dội, đau thành từng cơn, có thể đau ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi cơn đau từ bụng lan ra sau lưng.

roi-loan-tieu-hoa
“Lịch” đại tiện “quy củ’ trước đây hoàn toàn đảo lộn, mất hẳn tính đều đặn, khi thì tiêu chảy, lúc lại táo bón (tùy từng người mà tình trạng táo bón hay tiêu chảy nổi bật hơn).

Phần lớn bệnh nhân thường xuyên bị chướng căng bụng, hay ợ hơi và trung tiện. Ngoài ra, buồn nôn, nôn, hôi miệng, đắng miệng, ợ chua cũng có thể xảy ra.

Với người cao tuổi, rối loạn tiêu hóa là tình trạng phổ biến do sự xuống cấp của cơ quan này theo thời gian. Nước bọt, dịch dạ dày, ruột và dịch mật đều giảm mạnh. Hệ thống men tiêu hóa cũng chỉ còn một lượng nhỏ so với trước.

Rất nhiều bệnh của hệ tiêu hóa có từ trước như viêm loét dạ dày, tá tràng… không được điều trị dứt điểm, làm giảm hiệu quả việc “xử lý” thức ăn. Tất cả những yếu tố này khiến nhiều người cao tuổi dễ bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên.

Rối loạn tiêu hóa không gây nguy hiểm tính mạng nhưng thực sự làm bệnh nhân thấy mệt mỏi, kém thoải mái, thường xuyên trong tình trạng khó chịu. Vì thế, bệnh nhân nên đến bác sĩ để khám và điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Mặt khác, theo các chuyên gia, nhiều triệu chứng rối loạn tiêu hóa trùng với một số bệnh nguy hiểm như ung thư đường ruột, loét đường tiêu hóa, viêm đại tràng, viêm tụy mạn… Do đó, việc đi khám, làm các xét nghiệm là cực kỳ cần thiết.

“Giảm tải” cho đường ruột

Để giúp hệ tiêu hóa hồi phục và cân bằng trở lại, điều quan trọng nhất là thay đổi chế độ ăn. Ngoài việc đảm bảo tối đa vệ sinh thực phẩm để tránh “nhập khẩu” các vi sinh vật gây hại, bạn cần lưu ý tránh những thực phẩm tuy tốt với người bình thường nhưng lại tai hại với những người rối loạn tiêu hóa.

Đó là những thực phẩm gây đầy hơi như tỏi, hành, đậu, bắp cải, húng quế, cần tây, chuối, mận, nho khô… Sữa cũng là thứ bạn không nên dùng nhiều vì đường lactose là thứ “khó nhằn” đối với bộ máy tiêu hóa kém khỏe mạnh. Các món ăn có nhiều mỡ cũng vậy, quá “nặng” với đường ruột đang có vấn đề của bạn.

Bạn cũng cần hạn chế cà phê, kẹo cao su, các loại nước ngọt có gas, các loại hoa quả hay bánh kẹo nhiều đường fructose, thực phẩm chế biến sẵn… Đồ ăn chua và cay cũng không phù hợp với bạn.

Còn thuốc lá và đồ uống có cồn thì dĩ nhiên là bạn nên tránh xa vì chúng làm giảm khả năng làm việc của đường tiêu hóa.

Hãy kiềm chế trước các bữa tiệc thịnh soạn bởi những người bị rối loạn tiêu hóa không bao giờ nên ăn quá no, càng không nên nạp quá nhiều thức ăn giàu đạm và chất béo cùng lúc. Hãy ăn vừa đủ, ăn chậm và nhai kỹ.

Tốt nhất là hãy đảm bảo ăn uống đúng giờ giấc, thức ăn cần nóng sốt. Nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước, nhất là khi triệu chứng táo bón nổi trội ở bạn.

Ngoài chuyện ăn uống thì việc vận động thể chất cực kỳ có lợi cho người bị rối loạn tiêu hóa. Đừng tưởng tập thể dục chỉ tốt cho cơ bắp hay tim mạch, mà nó còn giúp cân bằng hoạt động bài tiết các men tiêu hóa cũng như cân bằng nhu động ruột.

Vận động còn giúp bạn giải tỏa sự căng thẳng tinh thần, vốn khiến cho tình trạng rối loạn tiêu hóa trở nên trầm trọng hơn.

Dùng thuốc cũng là một trong các giải pháp khắc phục rối loạn tiêu hóa, nhưng tuyệt đối bạn đừng tự ý uống hay chỉ “tham vấn” người bán thuốc, vì dùng thuốc gì và như thế nào còn tùy thuộc vào tình trạng, đặc điểm của từng bệnh nhân, vốn rất đa dạng.

Mặt khác, trong việc điều trị rối loạn tiêu hóa, thuốc chỉ đóng vai trò nhỏ, càng ít phải dùng càng hay.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biểu hiện của ngộ độc thức ăn

Dấu hiệu ngộ độc thức ăn – Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn, xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh…

dau-hieu-ngo-doc-thuc-an

Tất cả các loại thực phẩm tự nhiên chứa một lượng nhỏ vi khuẩn. Nhưng xử lý thực phẩm không tốt, nấu ăn không đúng cách hoặc lưu trữ không đảm bảo có thể dẫn đến vi khuẩn nhân lên với số lượng đủ lớn để gây bệnh. Ký sinh trùng, vi rút, chất độc và hóa chất cũng có thể làm ô nhiễm thực phẩm và gây ra bệnh tật.

Biểu hiện thông thường bao gồm

Tiêu chảy.
Buồn nôn.
Đau bụng.
Nôn (đôi khi).
Mất nước (đôi khi).
Với mất nước đáng kể, có thể cảm thấy
Choáng hoặc ngất xỉu, đặc biệt là tư thế đứng.
Nhịp tim nhanh.
Cho dù bị bệnh sau khi ăn thực phẩm bị ô nhiễm, tình trạng bệnh phụ thuộc vào cơ thể, lượng ăn vào, độ tuổi và sức khỏe.

Nhóm nguy cơ cao bao gồm
Người cao tuổi. Khi có tuổi, hệ miễn dịch không thể đáp ứng một cách nhanh chóng và một cách hiệu quả với các sinh vật truyền nhiễm như người trẻ hơn.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Hệ thống miễn dịch chưa phát triển đầy đủ.
Người có bệnh mãn tính. Có một tình trạng mãn tính như bệnh tiểu đường hoặc AIDS, hoặc điều trị hóa trị hoặc xạ trị liệu ung thư làm giảm phản ứng miễn dịch.
Nếu bị ngộ độc thức ăn

Nghỉ ngơi và uống nhiều chất lỏng.
Không sử dụng thuốc chống tiêu chảy, vì có thể làm chậm việc loại bỏ vi khuẩn khỏi hệ thống tiêu hóa.
Ngộ độc thực phẩm sẽ cải thiện trong vòng 48 giờ. Gọi bác sĩ nếu cảm thấy ốm dài hơn hai hoặc ba ngày hoặc nếu máu xuất hiện trong phân.
Gọi trợ giúp khẩn cấp y tế nếu
Có triệu chứng trầm trọng, chẳng hạn như tiêu chảy lỏng mà lẫn máu trong vòng 24 giờ.

Nhóm nguy cơ cao.
Ngộ độc thực phẩm có khả năng gây tử vong là kết quả từ một độc tố hình thành bởi các bào tử nhất định trong thực phẩm. Ngộ độc độc tố thường được tìm thấy trong thực phẩm đóng lon, đặc biệt là đậu xanh và cà chua. Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ngộ độc thường bắt đầu 12 – 36 giờ sau khi ăn thức ăn bị ô nhiễm và có thể bao gồm đau đầu, mờ mắt, yếu cơ và cuối cùng là liệt. Một số người cũng có buồn nôn và nôn, táo bón, bí tiểu, khó thở và khô miệng.

Mắc bệnh tâm lý vì ảnh hưởng của thuốc trầm cảm

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

Khảo sát của nhóm nghiên cứu người Anh tại ĐH Liverpool ghi nhận những tác dụng phụ về mặt tâm lý của thuốc chống trầm cảm mà trên thực tế cho thấy nghiêm trọng hơn người ta vẫn tưởng.

thuoc-tram-cam

Trang tin Science Daily dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu, GS John Leed: “Tác dụng phụ về sinh học của thuốc chống trầm cảm như tăng cân, buồn nôn đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng về tâm lý và giao tiếp chưa được nhận biết rõ. Chúng tôi thấy những ảnh hưởng đó phổ biến một cách đáng báo động”. Các nhà khoa học đã khảo sát trên 1.829 người uống thuốc chống trầm cảm theo toa của bác sĩ. Bệnh nhân được yêu cầu điền vào để trả lời bảng câu hỏi về 20 tác dụng không mong muốn có thể xảy ra.

Kết quả cho thấy hơn một nửa cho biết họ có ý định tự sát. Tỉ lệ người cảm thấy trở ngại trong sinh hoạt tình dục là 62%, tê liệt về cảm xúc là 60%, cảm giác không giống như chính mình là 52%, giảm cảm giác tích cực là 42% và ít quan tâm chăm sóc người khác là 39%. Khảo sát cũng cho thấy bệnh nhân ít khai báo những điều nêu trên với thầy thuốc.

Nhóm nghiên cứu khuyến cáo các bác sĩ nên cân nhắc khi ra toa thuốc chống trầm cảm, đồng thời khuyến khích nghiên cứu thêm về lợi ích và khả năng tác hại do có đến 82% người trong số này cho rằng chứng trầm cảm của họ thuyên giảm nhờ dùng thuốc.

Theo người lao động

Sỏi đường tiết niệu gia tăng từng ngày

Sỏi tiết niệu là nguyên nhân thứ ba gây suy thận mạn tính. Thống kê trung bình tại bệnh viện Bạch Mai, khoa Tiết niệu Việt Đức, học viện Quân y cho thấy tỉ lệ tái phát của sỏi thận là từ 10-50%.

Nguyên nhân, triệu chứng của bệnh

Sỏi tiết niệu là những khối tinh thể kết tụ một số thành phần trong nước tiểu ở đường niệu trên (chủ yếu từ can-xi). Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 20 – 60, trong đó, nam dễ mắc bệnh hơn nữ.

Bệnh thường do các dị tật bẩm sinh làm ứ đọng nước tiểu như bệnh Cacchi-Ricci, hẹp khúc nối bể thận – niệu quản, thận đa nang, sa niệu quản, niệu quản đôi… hoặc do nhiễm khuẩn đường niệu; mất mồ hôi nhiều, mắc bệnh tiêu chảy mạn… Bệnh cũng khởi phát từ chế độ ăn uống, nguồn nước uống ,sinh hoạt không hợp lý. Ví dụ như, uống quá ít nước, ăn quá nhiều thức ăn giàu protein, đường, natri, oxalat…

Cơn đau của bệnh này thường đến đột ngột, rất dữ dội và chỉ ở một bên. Đau bắt đầu ở vùng thắt lưng rồi lan sang phía bụng, nách và các cơ quan sinh dục. Có lúc đau giảm đi nhưng sau đó lại xuất hiện cơn khác dữ dội hơn. Bệnh nhân có thể nôn, buồn nôn, ra mồ hôi, mạch nhanh nhưng không sốt; buồn tiểu nhưng lại không cảm thấy dễ chịu sau khi tiểu.

soi-duong-tiet-nieu-gia-tang-tung-ngay

Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Để phòng bệnh, cần bắt đầu từ nguyên nhân gây bệnh mà chủ yếu bắt nguồn từ lối sống, thói quen ăn uống và sinh hoạt. Cụ thể là: Hạn chế chất can-xi, protein, oxalat, purin, thức ăn mặn… Nên uống từ 2 – 3 lít nước mỗi ngày, bảo đảm bài tiết 1,5 lít nước tiểu hằng ngày và nên dành thời gian vận động. Không nên ăn quá nhiều đậu nành vì nó chứa rất nhiều oxalat, ăn quá nhiều sẽ khiến can-xi và oxalate kết dính thành khối gây ra sỏi thận.

Tùy theo nguyên nhân gây sỏi, người bệnh cần có chế độ ăn khác nhau:

Sỏi canxi: Giới hạn lượng can-xi đưa vào <600 mg/ngày, gia tăng chất xơ (từ rau và trái cây). Không nên dùng các loại nước “cứng”.

Sỏi oxalat: Không ăn măng tây, đậu cô ve, củ cải đường, đào lộn hột, rau diếp, đậu bắp, nho, mận, khoai lang và trà. Cảnh giác với thức ăn chua hay các viên vitamin C liều cao.

Sỏi axit uric: Các sỏi này liên quan đến chuyển hóa purin và đôi khi là một biến chứng của bệnh gút. Nên giảm ăn những chất có purin (thức ăn quá nhiều đạm).

Điều trị: Nên sử dụng liệu pháp đến từ thiên nhiên

Các nguyên tắc chính trong điều trị sỏi đường tiết niệu như sau: Điều trị nội khoa (không cần mổ) được áp dụng đối với sỏi không gây bế tắc, không gây triệu chứng, không có nhiễm trùng. Sỏi nhỏ hơn 4-5mm có thể tự ra theo dòng nước tiểu, bệnh nhân được khuyên nên uống nhiều nước. Sỏi niệu quản có kích thước nhỏ hơn 4mm thì 90% sẽ tự tiểu ra. Sỏi lớn hơn 6mm thì khả năng tiểu ra sỏi chỉ khoảng 20%. Sỏi đường tiết niệu gây nhiễm trùng hoặc bế tắc có chỉ định can thiệp ngoại khoa càng sớm càng tốt. Tùy kích thước và vị trí của sỏi trên đường tiết niệu và đặc điểm bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp điều trị khác nhau như: mổ mở, tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL), phẫu thuật nội soi lấy sỏi qua da (PCNL), nội soi bàng quang niệu quản tán sỏi, phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi niệu quản.

Mỗi phương pháp có những chỉ định cũng như ưu nhược điểm khác nhau.

Xu hướng trở về với thiên nhiên trong chữa trị bệnh đã và đang được sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới bởi giá thành điều trị thấp, tránh được các biến chứng xấu của phẫu thuật, giảm tác dụng phụ so với các thuốc sử dụng nguyên liệu tổng hợp nhưng vẫn đạt hiệu quả mĩ mãn.

Nguồn dân trí

Tiêu chảy phân mỡ

Bệnh tiêu chảy phân mỡ là gì?

Bệnh tiêu chảy phân mỡ hay bệnh ruột nhạy cảm gluten là tình trạng phản ứng miễn dịch quá mức với gluten trong thức ăn. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, đại mạch, lúa mạch đen, một số người bị mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ còn phản ứng với cả yến mạch. Điều trị bằng cách loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Bệnh có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng hơn như loãng xương, vô sinh và ung thư ruột nếu không điều trị. Các triệu chứng thay đổi tùy người nhưng có thể bao gồm mệt mỏi, thiếu máu, tiêu chảy, bụng ấm ách khó chịu, sụt cân, nôn và loét miệng. Bệnh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và tăng trưởng của trẻ.

Không dung nạp gluten gây phản ứng viêm làm tổn thương ruột. Các vi nhung mao trong lòng ruột trở nên bị viêm và dẹt lại (teo nhung mao) làm giảm bề mặt hấp thu các chất dinh dưỡng từ thức ăn. Khi đó cơ thể không thể hấp thu tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết từ thức ăn. Vì thiếu các chất dinh dưỡng nên những bệnh nhân mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán có thể có rất nhiều các biểu hiện dạ dày ruột và có thể bị thiều các chất dinh dưỡng.

tieu-chay-phan-mo1

Các biểu hiện của tiêu chảy phân mỡ

Các triệu chứng thay đổi từ nhẹ đến nặng, bao gồm: đầy bụng, tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi, táo bón, loét miệng, đau đầu, sụt cân, rụng tóc, các vấn đề về da, tầm vóc thấp, trầm cảm, vô sinh, sẩy thai nhiều lần và đau xương khớp. Một số triệu chứng có thể lẫn với các biểu hiện của hôi chứng ruột kích thích hoặc không dung nạp lúa mì trong khi các triệu chứng khác lại được cho là do stress hoặc quá trình lão hóa.

Nên làm gì khi nghi ngờ mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ

Nếu bạn có các biểu hiện trên có thể bạn bị tiêu chảy phân mỡ và nên tiến hành các bước chẩn đoán sau đây:

Bước 1: đầu tiên là nói với bác sĩ những triệu chứng và lo lắng của mình. Không nên làm trong bước này là loại gluten ra khỏi chế độ ăn vì các xét nghiệm sẽ cho kết quả không chính xác. Tiếp tục ăn uống như bình thường và nếu bạn đã loại gluten ra khỏi chế độ ăn thì phải ăn lại ít nhất trong vòng 6 tuần trước khi làm xét nghiệm.
Bước 2: bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm máu để kiềm tra kháng mô bọc sợi cơ và/ hoặc kháng thể transglutaminase mô.
Bước 3: sinh thiết ruột qua nội soi ống mềm để lấy một mẫu mô quan sát dưới kính hiển vi tìm những bất thường.

Các nguy cơ đối với sức khỏe là gì?

Rất may là các nguy cơ đối với sức khỏe liên quan đến bệnh tiêu chảy phân mỡ là rất ít khi bạn có thể loại khỏi gluten ra khỏi chế độ ăn. Tuy nhiên có thể có các ảnh hưởng nghiêm trọng kéo dài nếu không được chẩn đoán cho tới giai đoạn muộn của cuộc đời vì có nguy cơ cao bị ung thư ruột, loãng xương và các vấn đề vô sinh.

Nguy cơ loãng xương tăng lên ở những người được chẩn đoán muộn do giảm hấp thụ calci vì vậy điều trị hiệu quả là rất cần thiết để tránh các biến chứng của loãng xương như gãy xương.

Tăng nguy cơ mắc bệnh ác tính như u lympho ruột là biến chứng nghiêm trọng nhất, tuy nhiên nguy cơ sẽ giảm về bình thường nếu loại gluten ra khỏi chế độ ăn trong vòng 3-5 năm.

Nguy cơ vô sinh và các biến chứng thai nghén tăng lên nhưng cũng sẽ giảm đi khi được chẩn đoán và loại ra khỏi chế độ ăn.

tieu-chay-phan-mo

Các tình trạng liên quan với bệnh tiêu chảy phân mỡ?

Có mối liên quan giữa bệnh tiêu chảy phân mỡ và các bệnh tự miễn dịch khác, thường là đái tháo đường typ 1 (đái tháo đường phụ thuốc insulin) và giảm năng tuyến giáp.

Hầu như bệnh nhân viêm da dạng herpes đều có những mức độ khác nhau của bệnh tiêu chảy phân mỡ vì vậy điều trị thường bắt đầu bằng cách loại gluten ra khỏi chế độ ăn mặc dù nhiều bệnh nhân cần phải bắt đầu điều trị bằng thuốc.

Không dung nạp lactose là hiện tượng phổ biến hơn ở những người mắc bệnh tiêu chảy phân mỡ không được chẩn đoán hoặc mới được chẩn đoán. Nguyên nhân là do ruột không thể phân hủy lactose trong khi đang bị tổn thương dẫn đến các triệu chứng như đầy bụng, khó chịu. Nếu bạn cảm thấy không dung nạp lactose ra khỏi chế độ ăn sẽ ảnh hưởng đến lượng calci. Một khi ruột lành lại thì vấn đề thường được giải quyết.

Sự khác nhau giữa dị ứng và không dung nạp

Không dung nạp thức ăn thường được mô tả chung chung là phản ứng với thức ăn bao gồm dị ứng thức ăn thật sự và bệnh tiêu chảy phân mỡ mà cả hai loại này đều ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Tiêu chảy phân mỡ là bệnh tự miễn dịch do không dung nạp gluten, bệnh kéo dài và có các phương pháp chẩn đoán đặc hiệu liên quan đến nội soi và sinh thiết. Chẩn đoán dị ứng thức ăn dựa vào tiền sử ăn uống, phát hiện kháng thể và các xét nghiệm khác. Các triệu chứng bao gồm sưng miệng và họng, nôn, đau bụng, ban da, ho, giảm huyết áp và có thể dẫn đến sốc phản vệ.

Không dung nạp thức ăn không ảnh hưởng đến hệ miễn dịch và vấn đề thường chỉ là tạm thời. Các triệu chứng có thể bao gồm tiêu chảy, táo bón, các vấn đề da và hen phế quản và cách duy nhất để chẩn đoán là loại chất đó ra khỏi chế độ ăn.

Nguồn sức khỏe

Ngộ độc thịt cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Hiện nay Tây Y không còn dùng cóc và nhựa cóc để chữa bệnh vì độc tính của nhựa cóc rất cao. Tuy nhiên, Đông Y lại dùng cóc trong chữa một số bệnh hiểm nghèo: nhựa cóc là 1 trong 6 vị của đơn thuốc “Lục thần hoàn”. Trong nhân dân dùng nhựa cóc chữa giảm đau, tán thuỷ, dùng chữa phát bối, đinh độc, yết hầu sưng đau, đau răng. Thịt cóc khô dùng với liều 2 – 3g tán bột uống hoặc làm thành thuốc viên, chữa gầy còm, chậm lớn, kém ăn, suy dinh dưỡng,…

Giá trị dinh dưỡng của thịt cóc

Thịt cóc rất giầu dinh dưỡng, cao hơn thịt bò, thịt lợn (53,37% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit), đặc biệt có nhiều a xít amin cần thiết (Asparagine, Histidine, Tyrosine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tryptophan, Cystein, Threonine..) và nhiều chất vi lượng (Mangan, Kẽm…)

Thịt cóc được dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người già; hỗ trợ, tăng cường dinh dưỡng sau ốm dậy; hỗ trợ điều trị trẻ em suy dinh dưỡng, chán ăn, chậm lớn, còi xương, cam tích, lở ngứa… dưới dạng ruốc, bột hoặc thịt tươi dùng để nấu cháo, làm chả cóc…

Trong cơ cóc  hay còn gọi là thịt cóc không có chất độc.

ngo-doc-thit-coc

Độc tố trong thịt cóc

Độc tố chỉ có một số bộ phận cơ thể như nhựa cóc (ở tuyến sau tai, tuyến trên mắt và các tuyến trên da cóc), trong gan và buồng trứng.

Độc tố của cóc là hợp chất Bufotoxin gồm nhiều chất như 5-MeO-DMT, Bufagin, Bufotaline, Bufogenine, Bufothionine, Epinephrine, Norepinephrine, Serotonin…

Tác động sinh học của độc tố tùy theo cấu trúc hoá học: Bufagin tác động đến tim mạch như nhóm Glycoside tim mạch; Bufotenine gây ảo giác; Serotonin gây hạ huyết áp… Thành phần độc tố thay đổi tuỳ theo loài cóc. Độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ra ngộ độc cấp tính. Độc tố hấp thu qua da bình thường, nhưng gây ra dị ứng, bỏng rát ở mắt, niêm mạc người.

Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc cóc

Do thiếu hiểu biết về tác hại của cóc nên ăn cả gan và trứng cóc. Không biết cách chế biến để loại bỏ hết da, nội tạng cóc, làm cho độc tố lẫn vào cơ cóc nên ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố gây ngộ độc.

Triệu chứng ngộ độc

– Thời gian nung bệnh từ 1-2 giờ sau khi ăn cóc.

– Hội chứng tiêu hoá: Buồn nôn, nôn, mửa, đau và chướng bụng.

– Hội chứng tim mạch: Lúc đầu bệnh nhân cảm thấy hồi hộp, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, sau đó rối loạn nhịp: Ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh thất, rung thất đôi khi có bloc nhĩ thất, nhịp nút, dẫn đến truỵ mạch. Với người bị nặng: sự dẫn truyền ở tâm thất bị ngưng trệ, rung tâm thất, huyết áp tụt, chân tay lạnh.

– Hội chứng rối loạn thần kinh-tâm thần: chất Bufotenin trong nhựa cóc có thể gây ảo giác, ảo tưởng, rối loạn nhân cách, chảy rãi, thèm ngủ, mồm miệng và tứ chi tê dại, đổ mồ hôi. Năng hơn nữa có thể gây ức chế trung khu hô hấp dẫn tới ngừng thở và tử vong.

Ngoài ra, còn gây tổn thương thận, vô niệu, viêm ống thận và gây tróc da, viêm da.

Chất độc ở cóc chỉ có ở nhựa cóc và nội tạng (gan, trứng).

Xử lý ngộ độc thịt cóc

Chủ yếu là điều trị triệu chứng, nếu phát hiện sớm thì gây nôn và chuyển nhanh đến bệnh viện.

– Thải trừ chất độc: Rửa dạ dày bằng dung dịch thuốc tím 1/5.000, uống tanin 4g, lợi tiểu bằng Furosemid.

– Chống loạn nhịp tim: Nhịp nhanh dùng Propranolon, nhịp chậm dùng isoproterenon. Tốt nhất là đặt máy tạo nhịp tim có xông điện cực buồng tim.

–  Chống tăng huyết áp: Cho ngậm Adalat.

– Chống rối loạn thần kinh và tâm thần: Dùng Diazepam, Phenobacbital.

– Chống rối loạn hô hấp: Thở máy, thở oxy.

– Chống suy thận cấp: Lọc ngoài thận (thận nhân tạo hoặc lọc màng bụng).

Đề phòng ngừa ngộ độc thực phẩm do cóc: Tốt nhất và an toàn nhất là không ăn cóc và sản phẩm tự chế biến từ cóc. Nhưng nếu vẫn muốn sử dụng cóc làm thực phẩm thì tuyệt đối không ăn trứng và gan cóc. Trong quá trình chế biến, tuyệt đối không để  da cóc, nội tạng cóc, nhựa cóc lẫn vào cơ cóc hay thịt cóc. Đặc biệt cho đến nay, khoa học chưa chứng minh được nuốt cóc sống có thể điều trị được bệnh ung thư.

Suy thận kéo dài có thể gây tử vong

Quá trình suy thận diễn biến kéo dài, âm ỉ với những triệu chứng mơ hồ ở giai đoạn đầu như sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần… Chính vì thế, bệnh rất khó chẩn đoán sớm nếu không thực hiện những xét nghiệm cụ thể về máu và nước tiểu. Theo PGS.TS – Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Nguyên Khôi – Nguyên Trưởng Trung tâm thận nhân tạo (Bệnh viện Bạch Mai), bệnh nhân suy thận, rất dễ bị chẩn đoán sai, 67% vào viện phải lọc máu ngay vì nhiều biến chứng nguy hiểm.

Một người bị suy thận nếu không được phát hiện sớm và điều trị bảo tồn thì chỉ 4 năm sau có thể tử vong. Thực tế đáng buồn là ở nước ta hiện nay, cứ 10 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối thì đến 9 người tử vong vì không được lọc máu. Nguyên nhân là do số lượng bệnh nhân quá lớn, nhưng chưa đủ điều kiện kinh tế, kỹ thuật và nhân lực để có thể tiến hành lọc máu cho tất cả bệnh nhân. Trong khi đó, nếu được phát hiện và điều trị bảo tồn từ giai đoạn đầu thì có thể kéo dài thời gian bệnh nhân không cần chạy thận tới vài chục năm. Các biện pháp điều trị bảo tồn được áp dụng bao gồm chế độ ăn uống, điều trị các bệnh nguy cơ có thể làm suy thận nặng thêm như đái tháo đường, tăng huyết áp, các bệnh thận bẩm sinh… Do đó, phát hiện sớm suy thận có ý nghĩa lớn trong việc phòng ngừa bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn, bảo vệ, cải thiện chức năng thận, chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu chạy thận.

Hình minh hoa

Hình minh hoa

Để làm chậm tiến triển của suy thận mạn tính, người bệnh cần có chế độ ăn hạn chế đạm, ít muối, ngăn chặn hoặc kiểm soát các yếu tố thúc đẩy tiến triển bệnh như thuốc lá, các bệnh lý đái tháo đường, tăng huyết áp… Đồng thời, hiện nay, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên để giúp bảo tồn chức năng thận, giảm nhu cầu chạy thận, hiệu quả bền vững, tiết kiệm chi phí, không gây tác dụng phụ khi dùng lâu dài, tiêu biểu trong số đó là thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Sản phẩm có thành phần chính là cây dành dành có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với các dược liệu quý khác như: đan sâm, hoàng kỳ, trầm hương, râu mèo, mã đề, linh chi đỏ,… nên giúp thận tăng khả năng đào thải các chất độc ứ đọng ra ngoài cơ thể, hỗ trợ kiểm soát triệu chứng và biến chứng của suy thận, làm chậm tiến trình suy thận, từ đó ngăn chặn nguy cơ tử vong do suy thận mạn.

Để hỗ trợ điều trị và giảm nguy cơ tử vong do suy thận, bên cạnh việc duy trì sử dụng Ích Thận Vương, những đối tượng có nguy cao như người cao tuổi, tiền sử gia đình bị bệnh thận mạn tính, béo phì, bị bệnh lý cầu thận, tăng huyết áp, đái tháo đường… cần được thường xuyên kiểm tra để phát hiện và điều trị sớm nguy cơ bị suy thận.

Theo gia đình

Tìm hiểu dấu hiệu và nguyên nhân ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

tim-hieu-dau-hieu-va-nguyen-nhan-ung-thu-thuc-quan

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Lưu ý: Ðể dự phòng ung thư thực quản cần tránh các yếu tố nguy cơ như không hút thuốc lá, giảm uống rượu, tránh các thực phẩm có hại, kiểm soát và phòng ngừa các bệnh lý thực quản. Tăng cường các yếu tố bảo vệ bằng cách ăn nhiều rau quả và chất xơ, bổ sung vitamin và yếu tố vi lượng cần thiết đặc biệt là vitamin A, B2, C, E, selen. Với bệnh nhân có bệnh lý khác ở thực quản cần định kỳ 6 tháng – 1 năm nội soi dạ dày thực quản một lần để kiểm soát, phát hiện sớm các biểu hiện của UTTQ, từ đó có phương pháp điều trị sớm đem lại tiên lượng tốt cho bệnh nhân.

Nguồn báo sức khỏe

Bệnh xuất tinh ra máu ở nam giới

son thien Xuất tinh ra máu (XTRM) là hiện tượng trong tinh dịch có lẫn máu, có thể dễ phát hiện khi dùng bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo hay khi thủ dâm. Tinh dịch khi xuất ra thường có lẫn máu màu đỏ tươi, màu nâu hoặc màu gỉ sắt.

Vì sao gặp ở nam giới trẻ?

Nguyên nhân của tình trạng XTRM có thể do tắc túi tinh hoặc các nang túi tinh gây căng giãn túi tinh, lâu ngày làm đứt vỡ các mạch máu dưới thành niêm mạc túi tinh. Hoặc do nguyên nhân từ các loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tinh hoàn, ung thư đường dẫn tinh. Các thủ thuật như sinh thiết tuyến tiền liệt qua trực tràng, chạy xạ trong điều trị ung thư. Các bệnh toàn thân như rối loạn đông máu, bệnh ưa chảy máu, xơ gan, viêm gan hay do giãn tĩnh mạch niệu đạo (trường hợp này trong tinh dịch thường không lẫn máu mà chỉ đái máu một bãi sau cương dương vật).

benh-xuat-tinh-ra-mau-o-nam-gioi
XTRM ở người trẻ tuổi thông thường là lành tính, tự khỏi nhưng thường hay tái phát. Nó có liên quan đến thói quen sinh hoạt tình dục nhiều hơn là tình trạng bệnh lý. Ở nam giới trẻ tuổi thường có thói quen kìm hãm xuất tinh khi quan hệ để thể hiện “bản lĩnh” của mình, mỗi lần kìm hãm như thế khiến túi tinh tăng áp lực, nhiều lần như vậy đã làm tổn thương các mạch máu túi tinh gây giãn, vỡ mạch máu. Ngoài ra, qua thực tế khám bệnh chúng tôi nhận thấy trong số các bệnh nhân nam trẻ tuổi đến khám vì XTRM thì có đến 80% trong số đó tình trạng XTRM xảy ra sau một trận say xỉn. Vấn đề này được giải thích như sau, khi uống một nồng độ rượu cao vào người làm toàn bộ mạch máu của cơ thể bị giãn rất nhiều, trong đó có mạch máu vùng túi tinh, đồng thời nồng độ cồn cao trong máu đã ức chế tế bào thần kinh trung ương làm nó bị trơ và không đáp ứng với các kích thích tình dục, vì lâu không đạt được khoái cảm nên các đấng mày râu vẫn “hùng hục làm việc”,  khi đó túi tinh phải bóp nhiều đến một lúc nào đó áp lực trong túi tinh tăng lên cao làm vỡ các mạch máu (vốn đang bị giãn do rượu) gây hiện tượng XTRM. Tổn thương niêm mạc đường ống dẫn tinh là cơ hội để các vi khuẩn xâm nhập và gây viêm. Quá trình viêm gây kích thích niêm mạc dẫn đến hiện tượng sung huyết và phù nề các ống tuyến của đường ống dẫn tinh, túi tinh, tuyến tiền liệt mà hậu quả là tình trạng xuất tinh ra máu ngày càng nặng nề hơn. Vi khuẩn gây viêm thường gặp là Enterrobacteria (chủ yếu là E.coli), Chlamydia, vi khuẩn gram dương, trực khuẩn lao và một số loại viut.

Chọn lựa thuốc chữa

Trường hợp có viêm và nhiễm khuẩn thì điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ là lý tưởng nhất. Nếu không có kháng sinh đồ thì có thể điều trị theo kháng sinh kinh nghiệm, lựa chọn những kháng sinh nào có phổ tác dụng đối với họ Enterobacteria, đặc biệt ở người trẻ, thuốc phải có tác dụng với cả Chlamydia. Trên thực tế lâm sàng thường dùng kháng sinh nhóm quinolon như: levofloxacin, norfloxacin, ciprofloxacin,… Tùy tình trạng bệnh lý mà có thể dùng thuốc từ 2 tuần đến 1 tháng. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng thuốc như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn, đau xương khớp, giảm tiểu cầu,… Nếu không có nhóm quinolon thì có thể thay thế bằng kháng sinh metronidazone, trimethoprim, kết hợp cùng nhóm doxycyclin để điều trị nhiễm Chlamydia kết hợp.

Ngoài việc dùng kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn cần phối hợp các thuốc chống viêm, giảm phù nề: alphachoay (alpha chymotrypsin) điều trị trong 2 – 3 tuần và thuốc cầm máu transamin, dùng đường uống hoặc tiêm trong 5 – 10 ngày đầu điều trị.

Nhóm thuốc có tác dụng trên tuần hoàn tĩnh mạch như diosmin – hesperidin (daflon) cũng có hiệu quả trong điều trị. Tại tĩnh mạch, thuốc có tác dụng làm giảm tính căng giãn của tĩnh mạch và làm giảm sự ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch. Tại vi tuần hoàn, thuốc có tác dụng làm bình thường hóa tính thấm mao mạch và tăng sức bền thành mạch. Vì thế, thuốc có tác dụng trên mạch máu bị căng giãn, thành mạch kém bền. Thuốc dùng kéo dài 1 – 2 tháng với liều tấn công trong 2 tuần, sau đó dùng liều duy trì. Có thể kết hợp cùng rutin C trong mục đích làm tăng cường sức bền thành mạch. Một số tác dụng phụ gặp phải khi dùng nhóm thuốc này như rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh thực vật nhẹ.

Nếu nguyên nhân XTRM do lao cần điều trị theo phác đồ chống lao.

XTRM trong các trường hợp tắc túi tinh, sỏi túi tinh, giãn tĩnh mạch niệu đạo, ung thư… cần can thiệp ngoại khoa.

Trong thời gian điều trị, bệnh nhân không được quan hệ tình dục hoặc tự ý xuất tinh ra để kiểm tra, điều đó sẽ làm nặng thêm tình trạng tổn thương mạch máu và khiến bệnh dai dẳng hơn. Thói quen kìm hãm xuất tinh hay uống bia rượu nhiều trước quan hệ tình dục không chỉ gây ra tình trạng XTRM mà còn là nguyên nhân của một số rối loạn tình dục như xuất tinh muộn, xuất tinh ngược dòng, giao hợp không xuất tinh, giảm ham muốn tình dục,… vì thế bạn nên từ bỏ thói quen không tốt này.

BS. Nguyễn Thị Hương

Nguồn sức khỏe đời sống

Mẹo cho người làm việc lâu dài với máy tính

Tuy nhiên, cũng giống như tất cả các đồng xu có hai mặt, mặc dù máy tính cung cấp cho những người có rất nhiều lợi thế và tiện lợi, nhưng nó cũng tác động một số hiệu ứng bất lợi cho con người, chẳng hạn như vàng da hoặc dị ứng, hypoimmunity, một số bệnh như chóng mặt, buồn nôn, tinh thần mệt mỏi, tăng tỷ lệ mắc tật cận thị…

Đối với dân văn phòng, những công việc đặc biệt luôn phải làm việc cùng máy tính có thể gây ra nhiều tác hại nguy hiểm. Theo nghiên cứu của các nha khoa học Mỹ, nếu tập hợp tất cả các bức xạ do khoảng 100 triệu chiếc máy tính sinh ra trong một ngày, thì số bức xạ đó tương đương với bức xạ của hai quả bom nổ tại Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh cho thấy, có tới 19 chứng bệnh gây ra do tia bức xạ và điện trường phát ra từ màn hình máy tính, bao gồm các bệnh ngứa mắt, dễ nổi cáu… Ngồi lâu trước mắt tính gây tổn hại lớn tới mắt, làm cho mắt đổ, xuất hiện quầng thâm, khô mắt và giảm thị lực.

meo-cho-nguoi-lam-viec-lau-dai-voi-may-tinh

Màn hình máy tính sản sinh ra một lượng điện tích có thể là chất xúc tác khiến da hấp thụ nhiều bụi bẩn có trong không khí, thậm chí về lâu dài sẽ có thể xuất hiện nếp nhăn, vết tàn nhang. Da bạn có thể gặp tình trạng bị khô, xám xịt do những bức xạ từ máy tính phát ra.

Những gì chúng ta nên chú ý đến là làm thế nào để loại bỏ các tác hại từ bức xạ máy tính. Các phương pháp sau đây có thể giúp mọi người giải quyết những rắc rối gây ra bởi bức xạ máy tính:

Cải thiện môi trường làm việc
Bạn có thể đặt một số cây xanh bên cạnh máy tính của bạn, nó không chỉ có hiệu quả hấp thụ bức xạ của máy tính, mà còn có thể giải tỏa áp lực của bạn và làm mới cuộc sống hàng ngày của bạn. Các loại cây bạn có thể trồng bao gồm cây xương rồng, hoa đá quý, …

Uống nhiều nước và ăn đủ chất

Thứ hai, uống nhiều nước và ăn nhiều thực phẩm có chứa đủ Vitamin A, Vitamin C và protein. Đối với những người có cuộc sống bận rộn và bận rộn, cách đơn giản nhất để ngăn chặn bức xạ máy tính là uống 2-3 tách trà xanh hoặc ăn một trái cam mỗi buổi sáng.

Trà xanh rất giàu tiền vitamin A, có thể được nhanh chóng chuyển thành Vitamin A sau khi nó được hấp thụ bởi cơ thể. Vitamin A có thể tổng hợp thành Rhodopsin, mà có thể giúp chúng ta nhìn thấy mọi thứ rõ ràng hơn trong môi trường tối. Vì vậy, trà xanh có thể không chỉ loại bỏ tác hại từ bức xạ máy tính mà còn có thể bảo vệ đôi mắt của con người. Nếu bạn không uống được trà xanh, bạn có thể thay thế bằng trà hoa vì nó cũng có chức năng ngăn ngừa bức xạ máy tính và điều hòa cơ thể.

Chăm sóc làn da của bạn

Nhiều phụ nữ sẽ sử dụng make-up cơ sở trên khuôn mặt của họ trước khi ngồi trước máy tính. Nó có hiệu quả có thể ngăn chặn sự ô nhiễm bức xạ máy tính. Sau khi sử dụng máy tính trong một thời gian dài, sẽ có rất nhiều các hạt bức xạ điện từ được hấp thụ trên khuôn mặt của bạn, vì vậy bạn nên rửa mặt ngay lập tức. Một thói quen như vậy có thể làm giảm bức xạ máy tính hơn 70%.

Đảm bảo đủ không khí trong phòng

Nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng màn hình máy tính sẽ sản xuất một loại chất gây ung thư được gọi là “brom dibenzofuran”. Vì vậy, rất cần thiết phải có một chiếc quạt thông gió phải được cài đặt trong phòng.

Thư giãn ngắn

Điều này cũng rất cần thiết, bạn có thể nghe một chút nhạc hoặc thực hiện một số bài tập đơn giản ngay tại chỗ để giải tỏa áp lực công việc của bạn và cung cấp cho bạn một tâm trạng vui vẻ.

Ngoài ra, vị trí đặt máy tính cũng rất quan trọng. Hạn chế việc đặt mặt sau của màn hình về hướng có người bởi vì bức xạ điện từ của máy tính mạnh nhất là từ mặt sau, sau đó là hai bên, màn hình là nơi mà bức xạ điện từ yếu nhất. Để có thể nhìn rõ mặt chữ ít nhất chúng ta cũng phải đặt máy tính cách 50 – 75 cm. Với vị trí như vậy có thể giảm những ảnh hưởng của bức xạ điện từ.

Theo báo sức khỏe

Không thể chủ quan với viêm loét dạ dày

iêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở nước ta. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, viêm dạ dày, nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm.

Nguyên nhân đa dạng

Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do  nhiễm vi khuẩn HP – đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…

Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thuỷ ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.

khong-the-chu-quan-voi-viem-loet-da-day

Một nguyên nhân nữa phải kể đến là do dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp. Những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do ure máu tăng cao.

Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.

Triệu chứng

Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.

Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường grain có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái. Vì vậy, người bị loét dạ dày – hành tá tràng lâu năm thường gầy, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt.

Hiện nay, nội soi dạ dày có giá trị lớn trong chẩn đoán viêm, loét dạ dày – tá tràng. Ngoài việc xác định được vị trí tổn thương, tình trạng tổn thương… thì trong những trường hợp nghi ngờ bệnh ác tính có thể sinh thiết để tìm tế bào lạ. Sinh thiết còn giúp cho việc lấy bệnh phẩm để nhuộm gram, thử exam ureaza, nuôi cấy phân lập xác định vi khuẩn HP và làm kháng sinh đồ để xác định tính nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn này.

Tuy nhiên, đa số trường hợp triệu chứng mơ hồ rất khó chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng có vị trí hoặc tính chất gần giống với đau bụng do bệnh lý ở dạ dày, đặc biệt cần chẩn đoán phân biệt với những trường hợp đau bụng đòi hỏi phải được bác sĩ chữa trị và can thiệp kịp thời nếu không sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng như viêm ruột thừa, tắc ruột…

Các biến chứng của viêm loét dạ dày

Hẹp môn vị: Biểu hiện đau bụng và nôn ói rất dữ dội, đặc biệt bệnh nhân ói ra thức ăn của ngày hôm trước, có mùi hôi thối.

Thủng dạ dày: Bệnh nhân đột ngột có cơn đau dữ dội như dao đâm, bụng gồng cứng như gỗ, phải được phẫu thuật kịp thời nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Xuất huyết tiêu hóa: Là biến chứng thường gặp nhất, biểu hiện ói ra máu và đi cầu phân máu có thể máu đỏ, hoặc phân có màu đen hôi thối.

Ung thư dạ dày: Ung thư dạ dày là một dạng ung thư rất thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa và cũng là một trong những biến chứng của các bệnh lý lành tính ở dạ dày mà không được điều trị triệt để.

Điều trị bệnh có khó?

Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, highlight kéo dài.

Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.

BS.Nguyễn Thị Phương Anh – skđs

Biến chứng và cách điều trị ruột thừa

Nhiều trẻ em gặp phải bệnh viêm ruột thừa vì vậy cần coi chừng biến chứng của nó.

Viêm ruột thừa là một bệnh khá phổ biến, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3 – 4 tuổi. Có những trường hợp viêm ruột thừa chưa biến chứng, việc xử trí đơn giản, nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, áp-xe ruột thừa, mủ tràn khắp ổ bụng, sau khi mổ, hậu phẫu vẫn còn nhiều phức tạp… Do vậy, việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.

Viêm ruột thừa là gì?

Ruột thừa là một túi nhỏ nhô ra hình con giun của manh tràng (đoạn đầu của ruột già), dài khoảng 5 – 6cm. Ruột thừa nằm ở phần dưới phải của ổ bụng, có thể thay đổi vị trí. Theo các chuyên gia tiêu hóa, ruột thừa không có chức năng gì nên việc cắt bỏ nó không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa của cơ thể.

bien-chung-va-cach-dieu-tri-ruot-thua

Viêm ruột thừa là tình trạng viêm của ruột thừa. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, các vi khuẩn bình thường trú trong lòng ruột thừa bắt đầu xâm lấn vào thành ruột thừa. Cơ thể đáp ứng với hiện tượng xâm lấn này bằng cách tấn công các vi khuẩn. Hiện tượng tấn công các vi khuẩn đó được gọi là viêm.

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa là do lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng bị tắc nghẽn. Hiện tượng tắc nghẽn này là do tích tụ nhiều chất dịch nhầy trong lòng ruột thừa hoặc do phân từ manh tràng đi vào ruột thừa. Chất nhầy hay phân trở nên cứng, giống như đá và làm tắc nghẽn lỗ thông. Hiện tượng phân cứng như đá được gọi là “sỏi phân” (phân có kích thước bằng hạt đậu, cứng và bị canxi hóa gây tắc nghẽn lỗ thông giữa ruột thừa và manh tràng). Có thể có hiện tượng mô bạch huyết của ruột thừa bị phù và làm tắc nghẽn ruột thừa gây viêm.

Những triệu chứng của viêm ruột thừa đôi khi rất mơ hồ, nhất là ở trẻ em và người già nên một số người chủ quan đã tự mua thuốc về cho bệnh nhân uống vì tưởng bị rối loạn tiêu hóa… Điều này càng làm lu mờ các triệu chứng của bệnh, gây khó khăn cho quá trình chẩn đoán. Đây là việc làm hết sức nguy hiểm vì viêm ruột thừa nếu xử lý chậm sẽ bị vỡ, gây viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng và có thể dẫn đến tử vong. Chính vì vậy, việc phát hiện và xử trí bệnh kịp thời là điều vô cùng quan trọng để giảm thiểu những biến chứng nguy hiểm của viêm ruột thừa có thể xảy ra.

Triệu chứng phát hiện bệnh

Các triệu chứng ban đầu của viêm ruột thừa rất dễ nhầm với nhiễm virut đường ruột. Các triệu chứng bao gồm đầy bụng mơ hồ, khó tiêu và đau bụng ít thường được cảm nhận ở vùng quanh rốn. Khi nhiễm khuẩn nặng hơn, đau trở nên nổi bật hơn ở phần phải của bụng dưới. Bệnh nhân thường có buồn nôn, nôn và chán ăn. Ðau thường liên tục và ngày càng nặng. Bệnh nhân có thể tiêu chảy, sốt và lạnh run kèm theo căng cứng cơ bụng.

Mức độ đau tăng lên khi người bệnh di chuyển, ho, ngáy, hắt hơi và thở sâu. Nếu bụng mềm, phía phải bụng dưới (vị trí ruột thừa) bị đau khi ấn vào, thân nhiệt không cao thì chứng viêm còn nhẹ. Nếu viêm nặng, đã có mủ, hoại tử, hoặc đã thủng thì bệnh nhân đau bụng dữ dội, phạm vi bị đau cũng mở rộng kèm theo sốt cao. Khi ấn bụng thì cơ bụng căng cứng hoặc sờ thấy có cục cứng phía bên phải bụng dưới.

Những triệu chứng này tiến triển từ vài giờ đến vài ngày. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân có thể không có đủ các triệu chứng trên. Vì thế việc chẩn đoán viêm ruột thừa chính xác thường gặp khó khăn. Đặc biệt là ở trẻ em và người cao tuổi.

Cần phân biệt viêm ruột thừa với các bệnh cảnh khác có thể giống như viêm dạ dày ruột, sỏi thận, nhiễm khuẩn đường tiểu, u nang buồng trứng và nhiễm khuẩn khung chậu… Nếu viêm ruột thừa không được điều trị, ruột thừa sẽ vỡ hoặc thủng. Ðiều này đưa đến các biến chứng như viêm toàn bộ ổ bụng (viêm phúc mạc), hình thành áp-xe ruột thừa và tắc ruột.

Làm thế nào để phát hiện?

Siêu âm và chụp Doppler cũng là phương tiện phát hiện viêm ruột thừa, nhưng có thể bỏ sót một số trường hợp (khoảng 15%), đặc biệt là ở giai đoạn sớm khi chưa hình thành dịch, siêu âm hố chậu không cho thấy bất thường mặc dù đã có viêm ruột thừa. Tuy nhiên, đây là phương tiện phát hiện cận lâm sàng tốt, không gây hại. Siêu âm có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, thấy được dịch trong ổ bụng… giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là đau bụng.

Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là một công cụ hỗ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa.

Chẩn đoán viêm ruột thừa chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ. Ở những nơi có trang bị CTscan hay chụp cắt lớp, đây là phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng được ưa dùng. Phim chụp cắt lớp CTscan thực hiện đúng quy cách có độ phát hiện (độ nhạy) hơn 95%.

Điều trị thế nào?

Nếu viêm ruột thừa, tốt nhất là phẫu thuật loại bỏ ruột thừa (cắt ruột thừa). Cắt ruột thừa cổ điển được thực hiện với gây mê. Một đường rạch nhỏ ở phần dưới của ổ bụng bên phải và qua đó ruột thừa được loại bỏ. Gần đây, cắt bỏ ruột thừa được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Cả hai phương pháp là những thủ thuật tốt và bác sĩ sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp nhất tùy vào từng đối tượng bệnh nhân.

Nếu ruột thừa viêm không bị vỡ tại thời điểm phẫu thuật, bệnh nhân thường được xuất viện trong vòng 1 – 2 ngày. Nếu ruột thừa bị vỡ, thời gian nằm ở bệnh viện có thể từ 4 – 7 ngày, tùy vào mức độ trầm trọng của bệnh. Kháng sinh đường tĩnh mạch được chỉ định trong khi nằm viện để giúp tránh  nhiễm khuẩn thêm và tạo áp-xe.

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có thể biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp (mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ chưa vỡ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì nguy cơ biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Nguyễn Bá Khang
Theo Bs Sức khỏe đời sống

Một số thực phẩm có thể giúp bạn xua tan cảm giác buồn nôn

Táo

Hàm lượng chất xơ cao trong táo có thể giảm nhẹ hiện tượng buồn nôn. Bên cạnh đó, táo cũng rất tốt cho sức khỏe.

Gừng

Nhai một chút gừng sẽ giúp bạn chống lại cảm giác buồn nôn.
trai-cay
Các loại hạt

Một nắm các hạt như hạnh nhân, đậu phộng có tác dụng phục hồi năng lượng và chống hiện tượng buồn nôn.

Chuối

Tình trạng buồn nôn có thể khiến bạn cảm thấy mệt mỏi. Ăn chuối giúp tăng cường năng lượng và giảm buồn nôn.

Trái cây họ cam quýt

Trái cây họ cam quýt có mùi vị dễ chịu giúp đánh bay cảm giác buồn nôn.

Bạc hà

Với nhiều người, nhai lá bạc hà hoặc kẹo cao su bạc bà có thể là cách tốt giúp họ quên đi cảm giác buồn nôn.

Nước

Buồn nôn thường đi kèm với đau đầu. Để giảm nhẹ tình trạng này, thỉnh thoảng bạn nên uống vài ngụm nước, không nên uống quá nhiều một lúc.

Nguồn gia đình

Công dụng tuyệt vời của thực phẩm có vị đắng

Cân bằng hương vị

Thực phẩm có 5 hương vị đó là chua, cay, mặn, ngọt, đắng. Bạn nên cân bằng 5 vị trong bữa ăn hàng ngày. Tuy nhiên, mọi người có xu hướng thiên về vị mặn và ngọt trong khẩu phần ăn hàng ngày. Điều này sẽ dẫn đến nhiều bệnh, khiến cho sức khỏe thể chất kém và sức đề kháng giảm. Để thay đổi sự mất cân bằng các vị trong bữa ăn, các chuyên gia khuyên mọi người tăng lượng tiêu thụ thực thực phẩm cay đắng.

Thúc đẩy sự thèm ăn

Vị đắng có thể kích thích vị giác của lưỡi, nó gây tác động đến các dây thần kinh vị giác, tăng sự tiết nước bọt, đồng thời cũng gây ra sự tiết dịch dạ dày và đường mật. Sau khi tất cả những hiệu ứng này được kết hợp, nó sẽ cải thiện sự ngon miệng và tăng cường tiêu hóa, và nó là rất có lợi để nâng cao thể lực và cải thiện khả năng miễn dịch.
thuc-pham-dang
Tốt cho tim và não

Thực phẩm cay đắng có chứa hàm lượng lớn các chất theobromine và caffeine, chất này có thể làm cho con người cảm thấy tỉnh táo và thoải mái sau khi ăn. Vì vậy, nó có thể giúp bạn thư giãn thoải mái không chỉ trong mùa hè nóng bức mà nó còn giúp bạn khôi phục lại năng lượng .

Theo y học cổ truyền, thực phẩm cay đắng có thể giảm đi sự căng thẳng về trí não, giúp bạn có một tinh thần minh mẫn, các chức năng não tốt hơn .

Giải phóng nhiệt và thải các độc tố trong cơ thể

Trong y học cổ truyền, thực phẩm cay đắng đóng một vai trò quan trọng trong việc loại bỏ các dysphoria do sức nóng quá mức trong cơ thể. Giải phóng nhiệt độ cơ thể và thư giãn ruột không chỉ có thể làm giảm cơn sốt, nhưng cũng có thể làm cho các chất độc bài tiết ra khỏi cơ thể với các đại tiểu tiện, tránh nguy cơ mắc bệnh trĩ và giảm tỷ lệ mắc của một số khác bệnh .

Thúc đẩy chức năng tạo máu

Thực phẩm cay đắng có thể duy trì các điều kiện bình thường và cân bằng của các vi khuẩn trong đường ruột. Chức năng này ức chế các vi khuẩn có hại và giúp vi khuẩn có lợi có thể giúp cải thiện chức năng của đường ruột, đặc biệt là chức năng tạo máu của đường ruột và tủy xương để cải thiện tình trạng thiếu máu .

Ngăn chặn và chống ung thư

Nghiên cứu khoa học phát hiện ra rằng thực phẩm cay đắng có chứa một lượng lớn vitamin B17 trong đó có một khả năng mạnh mẽ để tiêu diệt tế bào ung thư.

Giảm đau

Theo Đông Y thì thực phẩm đắng có tính âm, gây ra cảm giác phấn chấn, kích thích quá trình tiêu hóa. Khi tiêu thụ các loại thực phẩm có vị đắng thì sẽ rất tốt vì nó giúp nhuận tràng, giảm sốt, giảm và đào thải các loại độc tố qua nước tiểu.

Mặc dù thực phẩm cay đắng có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe bạn. Tuy nhiên, bạn không nên ăn quá nhiều mỗi lần. Ăn uống quá nhiều thực phẩm cay đắng sẽ dễ dàng gây ra buồn nôn, nôn, dạ dày và khó chịu khác.

Vì vậy, bạn nên kết hợp những loại thực phẩm này với nhiều loại thực phẩm khác nữa để làm phong phú chế độ ăn uống trong bữa ăn hàng ngày.

Theo VnMedia

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ung-thu-thuc-quan

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng và chữa bệnh da bệnh lupus

Ít người ngờ rằng những bệnh nhân lupus (viêm da, ban đỏ) có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu, ung thư hạch, ung thư phổi, và ung thư gan.

Lupus là một bệnh viêm da mãn tính. Viêm da có thể là biến chứng nghiêm trọng do các vấn đề ở hệ thống miễn dịch gây ra. Cũng giống như các tình trạng viêm khác, viêm da không chỉ ảnh hưởng đến các mô và cơ quan trong cơ thể mà nó còn có thể có tác động xấu tới tâm trạng của bạn.

Một người bị lupus sẽ phải đối mặt với khó khăn trong việc tập trung và ngủ nếu bệnh không được điều trị và kiểm soát vào đúng thời điểm. Để ngăn chặn sự thiệt hại nghiêm trọng về tinh thần và các cơ quan trong cơ thể, bạn cần nắm được các vấn đề sức khỏe có thể có liên quan hoặc do bệnh lupus gây ra.

lupus0
1. Vấn đề về thận
Lupus có liên quan đến tổn thương thận và trong một số trường hợp đặc biệt, bệnh có thể gây ra tử vong do bị suy thận. Các dấu hiệu và triệu chứng của vấn đề về thận do lupus gây ra có thể bao gồm ngứa toàn thân, đau ngực, buồn nôn, ói mửa, và sưng chân.
2. Bệnh tim mạch
Lupus ảnh hưởng đến tim và các động mạch. Các triệu chứng phổ biến của các vấn đề tim mạch là cao huyết áp, xơ vữa động mạch, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Những bệnh nhân bị lupus gần như có khả năng phát triển bệnh tim hoặc các vấn đề liên quan đến tim mạch cao gấp 8-10 lần so với người bình thường. Nguyên nhân là do, bệnh lupus có thể dẫn đến tình trạng viêm ở tim và động mạch.
3. Vấn đề về xương
Bệnh nhân bị lupus có nhiều nguy cơ bị gãy, vỡ xương do nguồn máu được cung cấp đến xương không đủ. Khớp hông và khớp gối thường bị ảnh hưởng nhiều nhất.

4. Vấn đề về phổi
Vấn đề về phổi như ho hoặc khó thở có thể phát sinh do viêm niêm mạc màng phổi hay do sự tích tụ của chất lỏng. Tình trạng viêm này cũng rất có thể do bệnh lupus hoặc nhiễm trùng khác gây ra.
Các triệu chứng phổ biến của các vấn đề về phổi là sốt, đau ngực và ho dữ dội. Hơn nữa, trong trường hợp tồi tệ, phổi không làm tốt chức năng cung cấp oxy vào máu gây nguy hiểm cho sức khỏe tổng thể. Khi các mạch máu của phổi bị ảnh hưởng cũng có thể dẫn tới bệnh cao huyết áp.
5. Tổn thương não
Những người bị ảnh hưởng bởi bệnh lupus thậm chí có thể phải đối mặt với tình trạng viêm trong não. Điều này có thể dẫn đến đau đầu, chóng mặt, thay đổi hành vi, ảo giác, và thậm chí cả đột quỵ hoặc co giật. Thông thường, những bệnh nhân lupus còn gặp vấn đề về trí nhớ và khó kiểm soát được suy nghĩ của mình.
6. Phức tạp trong thai kỳ
Lupus không gây ra bất kỳ vấn đề nào trong việc thụ thai, nhưng nó lại có ảnh hưởng đến thai kì. bệnh lupus có ảnh hưởng đến thai nhi đang phát triển, có thể khiến sản phụ sinh non do huyết áp cao hoặc tăng nguy cơ sẩy thai. Do đó, để tránh các biến chứng trong thai kì do bệnh lupus gây ra, người phụ nữ nên trì hoãn mang thai cho đến khi khỏi bệnh hoặc mức độ bệnh có thể kiểm soát được.
7. Thiếu máu
Lupus có thể làm rối loạn việc lưu chuyển máu nên gây ra các vấn đề về máu, bao gồm thiếu máu và tăng nguy cơ chảy máu hoặc đông máu. Nó cũng có thể gây ra viêm các mạch máu.
8. Khô miệng
Đây là một tình trạng rất hiếm, nhưng thực tế, bệnh lupus gây thiệt hại đến tuyến nước bọt và nước mắt là có thể xảy ra. Kết quả là, mức độ sản xuất nước bọt sẽ giảm, dẫn đến khô và ngứa miệng.
9. Ung thư
Những bệnh nhân lupus có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu, ung thư hạch, ung thư phổi, và ung thư gan. Mặc dù nguy cơ này không cao nhưng người mắc bệnh lupus cũng cần chú ý để tránh tình trạng viêm trong các cơ quan này tăng lên, tình trạng viêm càng nặng thì càng dễ dẫn tới ung thư.
10. Nhiễm trùng
Bệnh lupus gây tổn thương hệ thống miễn dịch của con người. Do hệ thống miễn dịch suy yếu là người dễ bị các loại nhiễm trùng như nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng đường hô hấp, nhiễm nấm men, herpes và bệnh zona.

Theo sức khỏe cộng đồng

Dị ứng thuốc biểu hiện như thế nào?

Các phản ứng dị ứng có nhiều cấp độ khác nhau, từ nhẹ nhất là sự kích ứng, các tác dụng phụ ở mức độ nhẹ như: buồn nôn, ói mửa cho đến các trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng, chẳng hạn shock phản vệ… Sau đây là các biểu hiện thường gặp nhất.

Mày đay: Là biểu hiện lâm sàng nhẹ và ban đầu của phần lớn các trường hợp dị ứng thuốc. Sau khi dùng thuốc (nhanh từ 5 – 10 phút, chậm có thể vài ngày), người bệnh cảm thấy nóng bừng, ngứa, trên da nổi ban cùng sẩn phù. Trường hợp nặng có thể có khó thở, đau bụng, đau khớp, chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, mệt mỏi, sốt cao…

di-ung

Phù Quincke: Là tình trạng phù cục bộ, phù thường xuất hiện nhanh sau khi dùng thuốc ở những vùng da mỏng, môi, cổ, quanh mắt, bụng, các chi, bộ phận sinh dục… Màu da vùng phù bình thường hoặc hơi hồng nhạt, đôi khi phối hợp với mày đay. Trường hợp phù Quincke ở họng, thanh quản, người bệnh có thể bị nghẹt thở; ở ruột, dạ dày gây đau bụng; ở não gây đau đầu…

Viêm da dị ứng: Thương tổn cơ bản là mụn nước kèm theo ban đỏ, ngứa, phù da và tiến triển theo nhiều giai đoạn. Viêm da dị ứng có thể xuất hiện nhanh sau một vài giờ, trung bình sau vài ba ngày, có khi hàng tuần sau khi dùng hoặc tiếp xúc với thuốc.

Đỏ da toàn thân: Bệnh xuất hiện từ 2 – 3 ngày, trung bình 6 – 7 ngày, đôi khi 2 – 3 tuần sau khi dùng thuốc. Người bệnh thấy bừng nóng, ngứa khắp người, sốt cao, rối loạn tiêu hóa, nổi ban đỏ toàn thân, trên da có vảy trắng, các kẽ chân tay có thể nứt và chảy nước vàng, đôi khi bị bội nhiễm có mủ.

Bệnh huyết thanh: Thường xuất hiện vào ngày thứ hai đến ngày thứ 14 sau khi dùng thuốc với biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, buồn nôn, đau khớp, sưng nhiều hạch, sốt cao 38 – 390C, gan to, nổi ban mày đay khắp người. Nếu phát hiện kịp thời và ngừng ngay việc dùng thuốc, các triệu chứng trên sẽ dần hết.

Lấy lại “phong độ” sau khi dùng thuốc tránh thai

Nhức đầu, chóng mặt, tức ngực

Theo Hilda Hutcherson, TS-bác sĩ sản phụ khoa tại ĐH Columbia (Mỹ), khi gặp các triệu chứng này hãy kiên nhẫn, không nên lo lắng. Những tác dụng phụ này thường sẽ biến mất sau một thời gian bạn dùng thuốc. Nếu sau đó, triệu chứng này vẫn không hết mà có dấu hiệu nặng thêm thì cách tốt nhất là nên ngừng thuốc và tìm đến bác sĩ.

Buồn nôn

Đây là triệu chứng thường gặp khi dùng thuốc tránh thai, có thể biến mất sau một vài tháng sử dụng. Trong trường hợp vẫn không hết, bạn có thể dùng thuốc kèm với thực phẩm để quên đi cảm giác buồn nôn nếu là thuốc dạng viên. Nếu là vòng hoặc miếng dán tránh thai thì cần phải chuyển sang một phương pháp khác.

tranh-thai

Ra máu

Bác sĩ Hutcherson nói: “Tôi nghĩ rằng đây là tác dụng khiến phụ nữ đau đầu hơn bất kì tác dụng phụ nào khác bởi nó rất khó lường”. Vì vậy, hãy dùng thuốc tránh thai vào một thời điểm chính xác trong ngày. Đặc biệt, bạn cần lưu ý, đối với phương pháp cấy ghép progestin thì nội mạc tử cung mỏng sẽ có khả năng bị bong tróc nên chảy máu (tuy về mặt tích cực, nó có thể khiến cho kỳ kinh nguyệt của bạn nhẹ nhàng hơn).

Giảm ham muốn tình dục

Dùng thuốc tránh thai có thể làm giảm nhu cầu và khoái cảm tình dục, nên thỉnh thoảng bạn hãy tìm cách thay đổi biện pháp tránh thai khác. Phụ nữ có những biểu hiện trên có thể chuyển sang dùng loại thuốc tránh thai có nhiều androgen (giống testosterone), chắc chắn sẽ lấy lại được ham muốn và cải thiện đời sống chăn gối của mình – theo bác sĩ Hutcherson.

Tính tình thay đổi

Bỗng dưng bạn cảm thấy căng thẳng, thất vọng, bồn chồn hoặc thậm chí tính tình thay đổi. Nếu cho rằng thuốc tránh thai là nguyên nhân gây ra hiện tượng này thì tốt nhất bạn nên tìm một phương pháp khác không liên quan đến hormone.

Theo nld

Sai lầm trong ăn uống hàng ngày

Cuộc sống hiện đại, con người ngày càng đặc biệt chú ý chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho cơ thể. Tuy nhiên, không ít người có quan điểm sai lầm trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Điều này gây ảnh hưởng và đe dọa sức khỏe của cơ thể. Dưới đây là một số lỗi thường gặp trong chế độ ăn uống hàng ngày:

Ăn 2 bữa một ngày có thể giúp giảm cân

Để có một ngoại eo thon , một số phụ nữ chỉ ăn hai bữa một ngày và nghĩ rằng nó có thể giúp họ giảm cân. Thực tế, ngược lại nếu chỉ ăn 2 bữa một ngày thì cơ thể dễ dàng tích tụ mỡ. Các chuyên gia dinh dưỡng cho biết, các đô vật sumo Nhật Bản chỉ ăn hai bữa một ngày. Bạn có muốn trở sumo như họ?

Sữa sẽ làm tăng cholesterol

Theo nghiên cứu, việc tiêu thụ sữa của người dân Trung Quốc là ít hơn 1/ 3 của các nước phát triển. Nhiều người không uống sữa vì họ nghĩ rằng sữa sẽ làm tăng cholesterol. Trong thực tế, điều này hoàn toàn không đúng. Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng lượng cholesterol trong sữa không phải là cao. Thay vào đó, sữa có chứa một số yếu tố mà có thể ức chế cholesterol. Nghiên cứu y học cũng đã xác nhận rằng uống sữa có thể giúp giảm bệnh tim mạch và cao huyết áp.

nhung-loi-khong-ngo-trong-che-do-an-uong-hang-ngay

Thích ăn thực phẩm muối

Các loại thực phẩm muối là món ăn ưa thích của nhiều người bởi vì thực phẩm ướp muối ngon và có thể giúp cải thiện sự thèm ăn, rất nhiều người thích ăn. Tuy nhiên, các loại thực phẩm muối có chứa rất nhiều chất nitrosamine và polycyclic aromatic hydrocarbons và là chất gây ung thư. Vì vậy, tốt hơn là ăn các loại thực phẩm ít muối .

Sữa đậu nành không nên được đun sôi

Chúng ta nên ăn một số sản phẩm đậu nành mỗi ngày, điều này rất có lợi cho sức khỏe của cơ thể. Nhưng sữa đậu nành phải được đun sôi trước khi uống. Nếu sữa đậu nành chưa được nấu chín hoàn toàn hoặc đun sôi, các chất ức chế trypsin chứa trong nó không thể bị phá hủy, sẽ không chỉ làm cho sữa đậu nành khó tiêu hóa, cũng có thể gây ra buồn nôn, nôn và tiêu chảy.

Ăn trái cây có thể làm sạch miệng

Một số người thích và có thói quen ăn một số loại trái cây sau bữa ăn với mục đích làm sạch miệng. Trong thực tế, các loại trái cây có chứa nhiều đường . Những đường và trái cây dư lượng sẽ lên men và acidize trong miệng, sau đó ăn mòn răng, dẫn đến sự hình thành sâu răng. Do vậy, sau khi ăn trái cây, bạn vẫn nên đánh răng hoặc súc miệng.

Không ăn mỡ không tốt cho sức khỏe

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, mỡ động vật vẫn có những tác dụng nhất định với cơ thể nên chúng ta vẫn cần dùng đến trong thực đơn hàng ngày. Mỡ động vật cung cấp lipit để cấu tạo nên các bộ phận trong cơ thể, cung cấp cholesterol cho cơ thể mặc dù số lượng không nhiều. Chúng ta thường nghĩ cholesterol là kẻ thù của sức khoẻ, nhưng điều này chỉ đúng khi nó có quá nhiều trong cơ thể.

Do vậy, nếu ở những gia đình mọi người đều có sức khoẻ bình thường thì khi nấu ăn tốt nhất nên dùng cả dầu thực vật và mỡ động vật để chế biến thức ăn. Với người bị xơ vữa động mạch đã có biểu hiện ra thành bệnh tim mạch thì phải ăn hoàn toàn dầu thực vật. Đối với trẻ em đang độ phát triển thì cần dùng chủ yếu là mỡ động vật.

Để đảm bảo sức khỏe của bản thân và gia đình bạn nên chú ý các lỗi trên và thận trọng hơn trong chế độ ăn uống hàng ngày.

Tín hiệu bệnh từ buồn nôn không rõ lý do

Thường xuyên có cảm giác buồn nôn và bạn không biết nguyên nhân cụ thể do đâu thì bạn nên đi khám bác sĩ. Vì nó không chỉ là dấu hiệu của các bệnh về đường tiêu hóa mà còn là “tín hiệu” của bệnh tim mạch, thần kinh hay một số bệnh nguy hiểm khác.

Viêm dạ dày và loét tá tràng: Với những biểu hiện như buồn nôn sau khi ăn, chướng bụng hoặc có cảm giác ăn xong rất nặng nề, ợ nóng. Đôi khi, bạn cảm thấy có gì nóng rát như lửa đốt ở vùng bụng trên lúc bạn đói và cả ngay sau khi bạn ăn. Bạn phải nội soi dạ dày, xét nghiệm máu và sinh hóa, cũng như làm một thử nghiệm với các kháng thể chống lại virus helicobacter pylori (HP) gây ra bệnh viêm loét dạ dày và tá tràng. Nhưng trước hết, bạn cần phải thay đổi chế độ ăn uống và thực đơn nên tránh xa thực phẩm có chứa chất béo, cay và chua, nó sẽ giúp bạn trung hòa lại axit dư thừa ở dạ dày trong thời gian ngắn nhất.

dd

Vấn đề về túi mật: Bạn cảm thấy buồn nôn ngay cả trong bữa ăn vì bạn đang cảm thấy mình đang rất no và không muốn ăn. Ngoài ra, có cảm giác đau phía bụng trên bên phải  kèm theo vị đắng hay mùi kim loại trong miệng và hay ợ nóng bị đầy hơi. Để giải quyết tình trạng này bạn cần phải siêu âm và phải phụ thuộc vào chẩn đoán của bác sĩ: nó có thể là rối loạn hoạt động của túi mật do có sỏi trong đó, viêm túi mật. Bên cạnh đó, bạn cũng cần phải làm các xét nghiệm về gan. Nếu trong trường hợp xấu có thể phải cắt bỏ cả túi mật.

Viêm tụy: Sau khi ăn bạn cảm thấy dạ dày căng lên một cách bất thường, có thể cảm thấy tưng tức. Sau đó, thấy đau nhức âm ỉ phần bụng trên bên phải, thấy vị đắng trong miệng và cũng thấy khó chịu ở đường ruột. Có thể áp dụng cho cả dạ dày và ruột là xét nghiệm máu và sinh hóa, siêu âm bụng, kiểm tra đường huyết để ngăn ngừa bệnh tiểu đường type 2. Trong trường hợp này các bác sĩ cũng khuyến cáo nên dùng thuốc kháng viêm, và quan trọng nhất là bạn phải chia nhỏ các bữa ăn trong ngày.

Đau ruột thừa: Bạn cảm thấy buồn nôn nhưng không phải do thức ăn, thậm chí khiến bạn muốn nôn thực sự. Đầu tiên, bạn thấy nhâm nhẩm đau phần bụng trên sau đó chuyển dần xuống phần bụng dưới bên phải và hơi sốt. Khi cơn đau bắt đầu tấn công mạnh hơn thì cần gọi ngay cấp cứu, tuyệt đối không được dùng thuốc giảm đau nó sẽ khiến bác sĩ rất khó chẩn đoán. Sau đó, cần phải phẫu thuật để cắt bỏ phần ruột thừa bị viêm.

Vấn đề về hệ thống tiền đình: Bạn cảm thấy buồn nôn và chóng mặt khi thay đổi tư thế đột ngột. Các triệu chứng khác như mất thăng bằng, ù tai và rung giật nhãn cầu. Chứng bệnh này không nguy hiểm và có thể điều trị thành công, cần thiết phải xem lại sự hoạt động của các cơ quan thính giác và tiền đình.

Huyết áp và tim: Cảm giác buồn nôn có thể đeo bám bạn cả ngày, đặc biệt là buổi sáng. Bạn sẽ cảm thấy mệt mỏi tấn công rất nhanh, đau và có thể bị phù mặt, đỏ mặt. Nếu buồn nôn liên tục và đau ở phần bụng trên kèm theo nghẹt mũi, da xanh, hay đau ở ngực và lan ra cánh tay trái, hàm dưới thì bạn hãy chú ý đến các vấn đề về tim. Đối với những người trên 45 tuổi, cần phải hạn chế căng thẳng và suy giảm về thể lực, tinh thần để tránh những nguy cơ về bệnh tim mạch.

Viêm thận: Triệu chứng ban đầu là buồn nôn và nôn. Sau đó có thể sốt cao từ 38-40 độ C kèm theo cảm giác đau. Đầu tiên là đau âm ỉ, rồi đau kịch phát, đau lưng và có thể đi đái rắt và không tự chủ. Để giải quyết vấn đề này bạn cần xét nghiệm nước tiểu, máu và sinh hóa, siêu âm thận hoặc kiểm tra các phần của hệ nội tiết, hệ tiết niệu. Cần phải điều chỉnh lại chế độ ăn uống, được khuyến cáo nên dùng thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm để tránh nguy cơ nhiễm trùng, thậm chí cần phải phẫu thuật để cải thiện tình hình.
(Theo Antd/Menslife)

Trái chanh xanh và những tác dụng của nó

Chanh xanh là một loại quả tuyệt vời mà bạn có thể thưởng thức theo hai hình thức theo nhiều cách: pha nước uống, dùng trong chế biến thực phẩm… Chanh xanh có thể pha nước để trở thành thức uống giải khát tuyệt vời, nhất là sau khi chạy bộ buổi sáng, sau khi tập yoga, hoặc đi bộ miễn là đáp ứng công dụng như một loại quả giải khát tuyệt vời.

Mặc dù loại quả này có thể trông rất giống với chanh vàng, nhưng nó có một hương vị hoàn toàn khác và có hàm lượng axit chanh thấp hơn so với trái chanh vàng. Dưới đây là một vài lợi ích sức khỏe của loại trái cây tuyệt vời này.

1. Ít calo nên rất tốt cho người ăn kiêng và giảm cân

Là loại trái cây rất ít calo cho nên chanh xanh là thành phần hoàn hảo cho chế độ ăn uống ít chất béo. Ví dụ khi bạn tiêu thụ khoảng 94,5g trái chanh xanh thì nó chỉ cung cấp cho cơ thể bạn khoảng chỉ thêm 43 calo. Carbohydrate thành phần chính của loại năng lượng này.

Trái chanh xanh cũng là loại quả có hàm lượng protein thấp, do đó bạn có thể cần phải bổ sung protein trong chế độ ăn uống của mình, cùng với loại quả này. Vì tất cả những lý do trên mà chanh xanh là một lựa chọn tuyệt vời cho người ăn kiêng, giảm cân và đặc biệt là những người hâm mộ bộ môn thể hình khi nó có khả năng giúp bạn hạn chế độ nhão – xệ của cơ bắp.

5-loi-ich-suc-khoe-cua-trai-chanh-xanh

2. Hỗ trợ tiêu hóa

Trái chanh xanh có chứa flavanoids, có tác dụng thúc đẩy việc sản xuất mật, các axit và dịch tiêu hóa. Flavonoids trong trái chanh xanh còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan. Điều này giúp cho hệ tiêu hóa của cơ thể hoạt động tốt.

Bằng cách trung hòa các dịch tiêu hóa, chanh xanh còn hỗ trợ đào thải chất độc của cơ thể ra ngoài. Dùng chanh xanh cũng sẽ làm dịu dạ dày trong trường hợp bạn đang bị ói mửa, buồn nôn, hoặc tiêu chảy .

3 . Bổ sung vitamin C

Một người nam giới trưởng thành cần 90mg vitamin C hàng ngày, và người phụ nữ trưởng thành cần khoảng 75mg. Là loại trái cây rất giàu vitamin C, trái chanh xanh có thể dễ dàng giúp bạn đáp ứng nhu cầu bổ sung vitamin hàng ngày cho cơ thể theo cách tự nhiên.

Trong mỗi trái chanh xanh có chứa tối thiểu 50mg vitamin C, vì thế bạn không cần phải lo lắng về việc phải bổ sung thêm vitamin C hàng ngày của mình nếu trong chế độ ăn uống đã có trái chanh. Ngoài ra, nếu bạn đang mang thai thì đây thực sự là loại trái cây có lợi cho bạn.

4 . Rất giàu khoáng chất

Chanh xanh là loại trái cây giàu khoáng chất. Hàm lượng kali trong một trái chanh xanh rất cao (khoảng 490mg). Ngoài ra, nếu thường xuyên tiêu thụ chanh xanh thì cơ thể bạn cũng được cung cấp một lượng khoáng chất khác như đồng, canxi, sắt và phốt pho. Tất cả các khoáng chất này đều có nhiều lợi ích cho sức khỏe .

5. Có thể được sử dụng như một loại thuốc dân gian

Khi bạn dự trữ trái chanh xanh trong nhà, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang có một phương thuốc dân gian tuyệt vời. Do rất giàu vitamin C cho nên chanh xanh rất tốt để sử dụng khi bạn bị cảm lạnh thông thường. Nó cũng giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.

Ngoài ra, trái chanh xanh còn được cho rằng có thể có đặc tính kháng virus và sát trùng, tăng cường chức năng gan, giảm các vấn đề không tốt cho hệ tiêu hóa.

Theo afamily