Tag Archives: biến chứng

Nguy cơ viêm thanh quản cấp

Viêm thanh quản cấp là một bệnh phổ biến, thường xảy ra vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết chuyển lạnh. Tuy nhiên hiện nay, do kinh tế phát triển cùng với sự nóng lên của trái đất dẫn đến việc sử dụng điều hòa và dùng nước đá giải khát cũng là nguy cơ dẫn đến viêm thanh quản cấp.

Thủ phạm gây viêm thanh quản cấp
Như chúng ta đã biết, họng và thanh quản đem lại tiếng nói cho bạn nhờ sự rung động của hai dây thanh khi luồng không khí đi ra từ phổi. Khi bạn bị mất tiếng hoặc nói khàn tức bộ phận này đã bị tổn thương, y học gọi viêm thanh quản cấp. Qua nghiên cứu, người ta phát hiện nguyên nhân gây viêm thanh quản cấp chủ yếu là do virut: influenza, virut APC, myxovirut, virut cúm, á cúm. Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác như stress (căng thẳng thần kinh, mệt mỏi về thể chất, dị ứng hay hít phải chất lạ nào đó).

nguy-co-viem-thanh-quan-cap

Khởi đầu của viêm thanh quản cấp thường do bị viêm mũi hoặc viêm mũi – họng xuất tiết với dấu hiệu chính là khàn tiếng hay mất tiếng đột ngột. Triệu chứng ban đầu, người bệnh thấy nhức đầu, mệt mỏi, sổ mũi, ngấy sốt sau đó đau họng, có cảm giác nóng và khô hoặc rấm rứt như có dị vật trong cổ họng, kích thích ho (lúc đầu ho từng cơn, ho khan, sau đó ho có đờm nhầy). Tiếp đến, giọng nói bị khàn, đôi khi khàn đặc, thậm chí mất tiếng. Những triệu chứng trên của bệnh thường kéo dài trong vài ngày. Sau đó, các triệu chứng giảm dần, khoảng sau 7 ngày thì khỏi. Ban đầu có thể chỉ khỏi cơn ho, sốt, chảy mũi nhưng khàn tiếng có thể kéo dài thêm một vài ngày nữa mới khỏi hẳn.

Làm gì khi bị viêm thanh quản?
Bệnh diễn biến trong vòng 5 – 7 ngày rồi tự khỏi nếu không có biến chứng. Tuy nhiên, viêm thanh quản cấp có thể gây biến chứng, nhất là những trường hợp bội nhiễm dẫn đến những bệnh nhiễm khuẩn do sức đề kháng chung của cơ thể giảm sút như viêm tai, viêm phổi… Chính vì thế, cần phải theo dõi sát, điều trị đúng và kịp thời, nếu thấy xuất hiện các triệu chứng của biến chứng như đau tai, chảy dịch ở tai, khó thở…, phải đưa người bệnh vào viện ngay. Điều trị toàn thân dùng kháng sinh phòng bội nhiễm: nhóm b lac-tam như amoxilin, taxetil dạng viêm hoặc siro với liều theo cân nặng.

Nếu dị ứng với nhóm kháng sinh này thường được thay thế bằng kháng sinh nhóm macrolid như davercine… Có thể dùng thuốc chống viêm, giảm phù nề bằng liệu pháp corticoid (hít): solumedrol hoặc depersolon hoặc corticoid đường uống, chymotrypsin choay dạng viên nén ngậm dưới lưỡi hoặc uống phối hợp với các thuốc giảm ho, kháng histamin uống.

Dân gian thường sử dụng chanh tươi thái lát mỏng, nghệ tươi, đường phèn hấp cách thủy ngậm nhiều lần trong ngày. Dùng một số thảo dược như húng chanh, mật ong, quất, gừng, tía tô, ngải cứu, bạc hà… trong điều trị viêm thanh quản cũng cho kết quả tốt.

Thuốc ngậm tại chỗ cũng rất hữu ích trong viêm thanh quản, tuy nhiên, thuốc sử dụng, liều dùng cũng như thời gian sử dụng phải theo chỉ định của thầy thuốc, tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra.
Điều trị hỗ trợ viêm mũi họng bằng cách nhỏ mũi, súc họng bằng dung dịch kiềm nhẹ. Khí dung mũi họng cùng với làm thuốc thanh quản thực hiện bởi các thầy thuốc chuyên khoa tai mũi họng.

nguy-co-viem-thanh-quan-cap1

Đối với những bệnh nhân viêm thanh quản, điều quan trọng nhất trong điều trị là kiêng nói để dây thanh có thể phục hồi sớm nhất. Nếu thực hiện được kiêng nói trong vài ngày (thường khoảng 3 – 5 ngày), bệnh sẽ khỏi rất nhanh. Ngoài ra, cần bổ sung vitamin, ăn nhiều hoa quả tươi, nằm nghỉ ngơi, không hút thuốc lá, uống rượu và các gia vị kích thích như ớt, hạt tiêu…

Để phòng viêm thanh quản cấp
Khi đi đường, làm việc trong môi trường bụi, nên đeo khẩu trang, đồng thời tăng cường sức đề kháng cho cơ thể để chống lại sự thâm nhập của virut, vi khuẩn. Trước khi đi ngủ, nên nhỏ mũi, súc miệng bằng nước muối sinh lý. Khi có những triệu chứng sớm của viêm mũi, viêm họng cấp, cần điều trị ngay. Hạn chế tối đa việc hút thuốc, không uống nước đá…

Lời khuyên của thầy thuốc
Có nhiều trường hợp khi bị viêm thanh quản cấp do chủ quan nghĩ chỉ bị viêm họng nhẹ nên không đi khám mà tự điều trị ở nhà, khi bệnh không đỡ mới đến cơ sở y tế. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân tới khám đã bị viêm khí – phế quản, viêm phổi… gây khó thở nặng, có thể nguy hiểm đến tính mạng và cũng do tự điều trị ở nhà, lạm dụng nhiều thuốc, nhất là kháng sinh nên gây khó khăn trong quá trình điều trị. Chính vì thế, khi có những dấu hiệu của bệnh như mất tiếng hoặc giọng khàn, nói khó khăn kèm theo hiện tượng ho, sốt, nhiều đờm; khó thở, hít vào có tiếng rít; tiếng ho khàn, người mệt nhiều và gần như không nói được; khàn tiếng kéo dài dùng thuốc không thấy đỡ (có thể là biểu hiện của chứng ung thư các dây thanh âm)…, cần đi khám chuyên khoa tai – mũi – họng để tìm nguyên nhân và phương pháp điều trị.

Theo sức khỏe đời sống

Các biến chứng nguy hiểm do bệnh tình dục

Có trên 20 bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), nhưng thường gặp là các bệnh lậu, giang mai, trùng roi sinh dục, nhiễm Chlamydia, bệnh hạ cam, hespes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và HIV/AIDS.

cac-bien-chung-nguy-hiem-do-benh-tinh-duc

Biểu hiện của các bệnh LTQĐTD gồm: có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật; hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường; tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới việc hành kinh; trên da có nhiều mụn cóc, hoặc các mụn phỏng rộp, đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, hay các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục hoặc nổi hạch ở vùng bẹn…; đau nhiều khi giao hợp ở các thiếu nữ hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục. Tuy nhiên, một số bệnh LTQĐTD không thể hiện dấu hiệu rõ ràng, chẳng hạn như bệnh do Chlamydia, nhiễm virut viêm gan B và C, nhiễm HIV… Vì thế người mắc có thể không biết mình đã bị mắc bệnh, nhưng vẫn có thể làm lây bệnh cho người khác.

Biến chứng của các bệnh LTQĐTD rất nguy hiểm như: viêm hố chậu, chửa ngoài tử cung (có thể đe dọa tính mạng), gây chết người (HIV hoặc viêm gan siêu vi B, C…), vô sinh, chít hẹp niệu đạo, giang mai bẩm sinh (do mẹ bị bệnh truyền sang con, gây dị hình ở trẻ sơ sinh), viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh, nguy cơ bị ung thư, tổn thương não hoặc phá hủy gan… Vì thế, nếu nghi ngờ bị mắc bệnh cần lập tức đi khám chuyên khoa da liễu để xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời. Khi đã mắc bệnh, cần dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, tuyệt đối không bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc nên đi khám lại. Trong quá trình điều trị bệnh nên hạn chế quan hệ tình dục (nếu có thì phải sử dụng bao cao su). Hãy khuyên bạn tình của mình đi khám và chữa bệnh để tránh tình trạng lây chéo giữa hai người.

Để phòng bệnh, quan trọng nhất là mọi người, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên phải có những hiểu biết cần thiết về tình dục, về sức khỏe sinh sản và các bệnh LTQĐTD để tự phòng cho bản thân và tránh làm lây bệnh ra cộng đồng. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là sống chung thủy lành mạnh. Dùng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng bệnh Rubella bẩm sinh

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do virut sởi gây ra, bệnh rất dễ lây và gây thành dịch. Mọi trẻ em chưa có miễn dịch phòng bệnh sởi đều có thể mắc bệnh. Bệnh có thể gây nên các biến chứng như viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, mù loà thậm chí có thể tử vong. Qua nhiều năm triển khai tiêm chủng vắc-xin sởi trong tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh sởi vẫn có nguy cơ bùng phát thành dịch nếu không duy trì tỷ lệ chủng cao trong cộng đồng.

Bệnh Rubella là bệnh bệnh truyền nhiễm do virut Rubella gây ra. Bệnh Rubella ở trẻ em thường nhẹ, ít biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây ra sẩy thai, thai chết lưu, trẻ sinh ra có thể mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (bao gồm các dị tật tim, đục thuỷ tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển… thậm chí đa dị tật). Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên toàn cầu có khoảng 110.000 trẻ em sinh ra mắc hội chứng Rubella bẩm sinh. Ở Việt Nam, từ năm 2004 – 2011 liên tục ghi nhận các vụ dịch Rubella với tổng số trên 3.500 trường hợp. Trong số các trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có tới trên 90% trẻ mắc các dị tật phức tạp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như các dị tật về tim, 45% trẻ bị đục thủy tinh thể, 37 % lách to, 15% vàng da nhân, 12% trẻ chậm phát triển…

Tiêm vắc-xin sởi - Rubella.

Tiêm vắc-xin sởi – Rubella.

Bệnh sởi và Rubella không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tiêm vắc-xin là cách phòng bệnh chủ động và hiệu quả

Với sự hỗ trợ của Liên minh Toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng (GAVI), được sự đồng ý của Chính phủ, trong năm 2014 – 2015 tất cả trẻ từ 1 tuổi đến 14 tuổi trong toàn quốc được tiêm 1 mũi vắc-xin sởi – Rubella miễn phí trong chiến dịch tại các điểm tiêm chủng trong trường học hoặc trạm y tế xã/ phường.

Chiến dịch này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm gánh nặng bệnh sởi, Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh trong cộng đồng và hướng tới mục tiêu Loại trừ bệnh sởi trong tương lai.
Vắc-xin sởi – Rubella là vắc-xin có tính an toàn cao. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tiêm chủng trước khi tiêm các bà mẹ hãy cho trẻ ăn no và chủ động thông báo với cán bộ y tế tiêm chủng về tình trạng sức khỏe của con mình nếu trẻ đang bị sốt, đang mắc bất cứ bệnh nào hoặc đã bị phản ứng với lần tiêm chủng trước.

Tiêm vắc-xin sởi-Rubella là cách tốt nhất để phòng bệnh sởi, Rubella.
“Đừng bỏ lỡ cơ hội được tiêm vắc-xin sởi – Rubella trong chiến dịch dành cho trẻ em từ 1 – 14 tuổi trong toàn quốc”.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng biến chứng từ bệnh sởi

Bệnh sởi ở trẻ tại nhiều địa phương đang diễn biến rất phức tạp và có khả năng gây biến chứng nặng, nguy hiểm, do đó các phụ huynh không được chủ quan, cần cảnh giác cao với bệnh này.

Diễn biến của bệnh sởi ở nước ta trong thời gian gần đây
Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương, trong tháng 3 có tới 345 bệnh nhi nhập viện vì bệnh sởi, nhiều nhất là trẻ biến chứng mắc viêm phế quản phổi. Trong mấy ngày gần đây số trẻ bị sởi có biến chứng nặng vào viện rất đáng kể (trên 200). Theo các nhà chuyên môn thì đặc điểm khác biệt của dịch sởi năm nay là có nhiều trẻ dưới 9 tháng tuổi (độ tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên), thậm chí có bé 4 ngày tuổi đã bị mắc sởi (ở tuổi này đang có kháng thể của mẹ truyền cho).

Năm nay, theo thống kê thì trong thời gian vừa qua, tình hình dịch sốt phát ban nghi bệnh sởi đang có diễn biến tăng cao tại một số quận nội thành Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Theo đó, số người mắc bệnh sởi ở Hà Nội tập trung ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 80%, trong đó trẻ dưới 9 tháng tuổi chiếm 22,9% (đây là những đối tượng chưa đến tuổi tiêm vaccin phòng bệnh sởi); 31 trẻ lớn hơn 9 tháng tuổi mắc bệnh sởi không có trẻ nào được tiêm đủ 2 mũi vaccin sởi; 37,8% trẻ được tiêm 1 mũi vẫn mắc bệnh, số còn lại chưa được tiêm chủng. Trong khi mầm bệnh sởi đang lây lan, nếu trẻ chưa được tiêm phòng vaccin sởi thì nguy cơ mắc bệnh là rất cao, bởi vì, sởi là một bệnh lây lan rất nhanh, bệnh lây qua những giọt tiết của đường hô hấp khi bệnh nhân ho, hắt hơi. Thời gian lây bệnh cho người lành là giai đoạn viêm long hô hấp trên và thời kỳ phát ban.

phong-bien-chung-tu-benh-soi

Biểu hiện của bệnh sởi
Khoảng 10-12 ngày sau khi tiếp xúc với người bệnh thì bắt đầu có các triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Đối với bệnh sởi thì thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên và có thể gặp ở những trẻ lớn mà chưa có miễn dịch chống virut sởi. Thời kỳ nung bệnh của bệnh sởi khoảng từ 7 – 10 ngày. Bệnh khởi phát sốt đột ngột trên 38oC, mắt ướt, nhiều ghèn làm cho mắt bị kèm nhèm, chảy mũi nước, ho và có thể bị rối loạn tiêu hoá (tiêu chảy). Đặc biệt, khi bệnh toàn phát thì sốt rất cao có khi thân nhiệt lên tới 39-40oC, thể trạng li bì, mệt mỏi nhiều. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên ở mặt trong má, đây là một dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai rồi lan ra mặt, mắt, cổ, thân mình và tứ chi trong vòng từ 1 – 2 ngày.

Khi hết sốt thì ban sởi bắt đầu mất dần (sởi bay) và sau khi sởi bay có để lại các nốt thâm trên da trong một thời gian làm cho da bị loang lổ trông giống da hổ. Các ban của sởi mất dần theo tuần tự, tức là nơi nào xuất hiện trước thì ban bay trước (sau tai, mặt). Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng, thậm chí biến chứng đe dọa đến tính mạng người bệnh.

Cách ngăn chặn bệnh sởi lây lan

phong-bien-chung-tu-benh-soi1
Các chuyên gia khuyến cáo, phụ huynh cần đưa trẻ đi tiêm phòng để vừa phòng bệnh cho trẻ vừa tạo miễn dịch bền vững để khi thế hệ này trưởng thành, đến tuổi sinh đẻ có đủ miễn dịch truyền cho con (nữ giới). Vì vậy, đợt tiêm vét vaccin sởi này các phụ huynh cần cho trẻ đi tiêm phòng không nên chậm trễ.

Tại gia đình có trẻ bị sởi thì không cho trẻ tiếp xúc với trẻ lành và trẻ bị sởi phải nghỉ học để tránh lây lan cho trẻ khác trong lớp học, trong trường. Cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với trẻ bệnh sởi và người nghi bị sởi (nếu trẻ lớn có thể đeo khẩu trang để hạn chế mầm bệnh lây sang người khác). Rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với trẻ bị sởi và người nghi bị bệnh. Trẻ mắc sởi nhẹ có thể chăm sóc tại gia đình nhưng phải theo dõi thật cẩn thận, không được chủ quan, khi thấy trẻ sốt trở lại hoặc bất thường cần cho trẻ đi bệnh viện ngay.

Cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ bệnh (uống nhiều nước, ăn thêm trái cây hoặc uống nước ép trái cây, ăn lỏng, đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa và không nên kiêng khem quá mức).

Theo sức khỏe đời sống

Biến chứng của các bệnh truyền nhiễm qua tình dục

Có trên 20 bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), nhưng thường gặp là các bệnh lậu, giang mai, trùng roi sinh dục, nhiễm Chlamydia, bệnh hạ cam, hespes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và HIV/AIDS.

Biểu hiện của các bệnh LTQĐTD gồm: có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật; hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường; tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới việc hành kinh; trên da có nhiều mụn cóc, hoặc các mụn phỏng rộp, đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, hay các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục hoặc nổi hạch ở vùng bẹn…; đau nhiều khi giao hợp ở các thiếu nữ hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục. Tuy nhiên, một số bệnh LTQĐTD không thể hiện dấu hiệu rõ ràng, chẳng hạn như bệnh do Chlamydia, nhiễm virut viêm gan B và C, nhiễm HIV… Vì thế người mắc có thể không biết mình đã bị mắc bệnh, nhưng vẫn có thể làm lây bệnh cho người khác.

bien-chung-cua-cac-benh-truyen-nhiem-qua-tinh-duc

Biến chứng của các bệnh LTQĐTD rất nguy hiểm như: viêm hố chậu, chửa ngoài tử cung (có thể đe dọa tính mạng), gây chết người (HIV hoặc viêm gan siêu vi B, C…), vô sinh, chít hẹp niệu đạo, giang mai bẩm sinh (do mẹ bị bệnh truyền sang con, gây dị hình ở trẻ sơ sinh), viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh, nguy cơ bị ung thư, tổn thương não hoặc phá hủy gan… Vì thế, nếu nghi ngờ bị mắc bệnh cần lập tức đi khám chuyên khoa da liễu để xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời. Khi đã mắc bệnh, cần dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, tuyệt đối không bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc nên đi khám lại. Trong quá trình điều trị bệnh nên hạn chế quan hệ tình dục (nếu có thì phải sử dụng bao cao su). Hãy khuyên bạn tình của mình đi khám và chữa bệnh để tránh tình trạng lây chéo giữa hai người.

Để phòng bệnh, quan trọng nhất là mọi người, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên phải có những hiểu biết cần thiết về tình dục, về sức khỏe sinh sản và các bệnh LTQĐTD để tự phòng cho bản thân và tránh làm lây bệnh ra cộng đồng. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là sống chung thủy lành mạnh. Dùng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ðiều trị một số biến chứng tim mạch do đái tháo đường

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây nhiều biến chứng cho tim mạch và thường là những biến chứng nặng nề. Dưới đây là một số phương pháp điều trị các biến chứng tim mạch do đái tháo đường.

Hội chứng động mạch vành cấp

Hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp bao gồm cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên và NMCT có ST chênh lên. Tiên lượng hội chứng ĐMV cấp trên bệnh nhân ĐTĐ thường xấu, do nhiều nhánh ĐMV cũng bị tổn thương và hình thái tổn thương thường phức tạp, khó can thiệp.

Tái lưu thông ĐMV: tái lưu thông ĐMV là điều trị chính đối với bệnh nhân bị hội chứng ĐMV cấp. Có 3 biện pháp tái thông ĐMV là dùng thuốc tiêu sợi huyết, nong ĐMV và phẫu thuật bắc cầu chủ – vành. Trước đây, người ta cho rằng đối với bệnh nhân ĐTĐ, phẫu thuật bắc cầu chủ – vành là biện pháp điều trị chính. Song từ khi có các loại stent phủ thuốc, phối hợp với các thuốc ức chế thụ thể GPIIb/IIIa của tiểu cầu thì nhiều bệnh nhân ĐTĐ bị hội chứng mạch vành cấp đã được cứu sống nhờ các biện pháp điều trị này.

Trước khi có stent và thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa, tỷ lệ tái hẹp sau nong ĐMV trên bệnh nhân ĐTĐ lên tới 47 – 71%. Nhưng khi kết hợp đặt stent phủ thuốc cùng với các thuốc ức chế thụ thể IIb/IIIa và các thuốc chống gây kết tập tiểu cầu khác thì tỷ lệ tái hẹp chỉ còn 8,1% ở bệnh nhân ĐTĐ được can thiệp ĐMV.

dieu-tri-mot-so-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Suy tim

ĐTĐ là yếu tố nguy cơ độc lập của suy tim. Hai nguyên nhân góp phần gia tăng suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ là vấn đề NMCT trong bệnh ĐMV mạn và tình trạng tái cấu trúc thất sau NMCT. Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có tần suất suy tim cao hơn hẳn bệnh nhân không ĐTĐ. Việc kiểm soát tốt đường huyết và chỉ số huyết áp sẽ giúp giảm nguy cơ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ.

Các thuốc sử dụng nhằm phòng ngừa hoặc điều trị suy tim do ĐTĐ thường được sử dụng là: thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, chất đối kháng aldosteron, thuốc chẹn beta giao cảm…

Loạn nhịp tim

Nhiều loại rối loạn nhịp có thể gặp ở bệnh nhân ĐTĐ như: ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, rung nhĩ, bloc nhĩ – thất… Tần suất rung nhĩ trên bệnh nhân ĐTĐ chỉ đứng sau suy tim và tăng huyết áp trong khởi phát rung nhĩ. ĐTĐ cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ. Tần suất đột quỵ do tình trạng huyết khối gia tăng vì vận tốc dòng máu trong tiểu nhĩ hay trong tâm nhĩ giảm. ĐTĐ sẽ làm gia tăng nguy cơ đột tử ở mọi lứa tuổi nhiều hơn gấp 4 lần, ở nữ nhiều hơn nam. Cơ chế của đột tử do ĐTĐ còn chưa thực sự rõ ràng, có thể do nhiều yếu tố phối hợp như: xơ vữa động mạch, tổn thương vi mạch, rối loạn hệ thần kinh tự chủ, hội chứng QT dài.

Khi đường máu càng cao thì nguy cơ đột tử sẽ càng lớn.

Bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu não

Động mạch ngoại vi (ĐMNV) thường thấy rõ nhất các tổn thương là động mạch chi dưới, động mạch thận, động mạch cảnh… Bệnh nhân ĐTĐ có tần suất bệnh ĐMNV gia tăng từ 2 – 4 lần và khoảng 15% bệnh nhân có chỉ số cổ chân – cánh tay bất thường. Tần suất bệnh cũng gia tăng theo tuổi, theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ và bệnh thần kinh ngoại vi. Biểu hiện lâm sàng hay gặp của bệnh ĐMNV là tình trạng thiếu máu cục bộ chi dưới với biểu hiện lâm sàng là các cơn đau cách hồi.

Các biện pháp điều trị bao gồm: giảm yếu tố nguy cơ tim mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, tái lưu thông mạch (nong mạch qua da hoặc phẫu thuật).

Đột quỵ

Nguy cơ tương đối của đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ tăng từ 2,5 – 4,1 lần ở nam và 3,6 – 5,8 lần ở nữ so với người không mắc ĐTĐ. Tương quan giữa tăng đường máu và đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ ít chặt chẽ hơn so với NMCT.

Bệnh nhân ĐTĐ nếu đã có biến chứng có protein niệu, bệnh võng mạc hay bệnh thần kinh tự chủ thì thường cũng bị gia tăng nguy cơ đột quỵ. Đột quỵ thường do tình trạng thiếu máu cục bộ ở não.

Việc kiểm soát tốt đường máu, huyết áp và chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, phục hồi chức năng hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu tối đa những hậu quả do tai biến mạch não gây nên.

Dự án Quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường

Phòng ngừa biến chứng ở chân do tiểu đường

Biến chứng thường gặp của bệnh đái tháo đường là biến chứng bàn chân. Đây cũng là một trong những biến chứng nghiêm trọng, điều trị khó khăn, có thể khiến bệnh nhân thường phải cắt cụt chi dưới. Tuy nhiên, nếu được điều trị và chăm sóc tốt, người bệnh sẽ tránh được biến chứng nguy hiểm này.

Đái tháo đường gây bệnh ở bàn chân
Hàng ngày, bàn chân phải chịu một khối lượng lớn trọng lực của toàn bộ cơ thể nên rất dễ tổn thương. Ở bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), đường huyết cao là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Vì thế, vết thương có thể bị loét, nhiễm khuẩn, có thể tiến triển thành hoại tử nếu không được điều trị đúng và kịp thời. Khi đó, nguy cơ cắt cụt chi là rất cao.

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Thường xuyên kiểm tra định kỳ để phát hiện bất thường ở bàn chân

Tổn thương hay gặp ở bàn chân bao gồm:
Khô da: Ở bệnh ĐTĐ, dinh dưỡng nuôi da kém, do tổn thương thần kinh, thay đổi chuyển hóa khiến da trở nên thô ráp nứt nẻ, hay bị bong vảy.
Nhiễm nấm: Các bệnh nấm có thể gặp là nấm móng, nấm gót chân. Biểu hiện: Móng chân, thường là ngón cái, bị đổi màu, bề mặt móng kém sáng bóng, dày và dễ mủn. Rìa móng xuất hiện các đám tổn thương là các sùi có màu trắng hoặc vàng, đôi khi có mủ.

Viêm dây thần kinh: Bệnh ĐTĐ làm tổn thương lớp màng bọc nuôi dưỡng dây thần kinh ngoại vi đi đến chân gây viêm dây thần kinh. Người bệnh có biểu hiện tê bì, da khô nứt nẻ, có cảm giác lạnh ở bàn chân.

Loét bàn chân: Đường huyết cao làm chậm sự liền vết thương, gây tổn thương mạch máu. Vết thương ở bàn chân dễ dàng “ăn” sâu đến xương, lộ gân có nguy cơ hỏng gân, hoại tử xương, phải cắt cụt chi.

Cách chăm sóc bàn chân để phòng ngừa biến chứng
Giữ sạch chân: Hằng ngày, cần rửa sạch bàn chân nhẹ nhàng với nước ấm và xà phòng trung tính, chú ý rửa sạch kẽ giữa các ngón chân. Không ngâm chân trong nước quá lâu. Sau khi rửa, dùng khăn bông mềm thấm khô chân và các kẽ ngón chân. Nếu da chân khô, có thể dùng kem dưỡng da bôi lên trên mu chân và dưới lòng bàn chân để giữ ẩm cho da, không bôi kem vào kẽ ngón chân.

Cắt móng chân: Thường xuyên cắt móng chân. Nên cắt móng chân theo đường thẳng hoặc theo đường vòng của ngón, không cắt móng quá sát và không cắt sâu vào các góc móng.

Bảo vệ bàn chân: Không được đi chân trần, ngay cả khi đi trong nhà, bởi vì chân có thể bị tổn thương do va đập mà người bệnh không cảm nhận được. Nên đi giày đế bằng, chất liệu mềm, vừa chân. Không đi giày cao gót hoặc các loại giày bó lấy bàn chân và gót chân. Nếu có điều kiện, nên đi giày dành cho người ĐTĐ. Khi đi giày, cần phải mang tất chân và thay tất hàng ngày. Chọn tất có màu sáng, làm bằng cotton hoặc sợi tổng hợp mềm, vừa chân. Không sử dụng các loại tất làm bằng chất liệu nilon hoặc tất bó. Trước khi đi giày và tháo giày, cần kiểm tra mặt trong của giày để chắc chắn không có vật gì trong giày có thể làm tổn thương chân.

Tập luyện bàn chân: Cần giữ cho mạch máu ở chân được lưu thông bằng cách đặt chân lên ghế ở tư thế ngang khi ngồi, không bắt chéo chân trong thời gian dài. Tập cử động các ngón chân trong khoảng 5 – 10 phút, vài lần trong ngày. Các hình thức luyện tập như: đi bộ, nhảy, bơi lội hoặc đạp xe chậm là những bài tập tốt cho chân, giúp cải thiện lưu thông mạch máu.
Thường xuyên kiểm tra bàn chân: Hàng ngày, nên quan sát kỹ xem có sự thay đổi màu da ở chân hay không; xem các kẽ ngón chân; tìm các vết nứt trên da, các vết phỏng rộp, vết thâm, các nốt chai chân và những chỗ đau trên da.

Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường như: Móng chân bị đổi màu, bị rối loạn cảm giác tại bàn chân, hay đau mỏi chân không đi được xa, có nốt sưng phồng, xuất hiện quá nhiều nốt chai chân…, người bệnh cần đi khám lại ngay để có chỉ định điều trị phù hợp, tuyệt đối không tự ý cắt bỏ chai chân.

Theo sức khỏe đời sống

Những biến chứng có thể gặp do sỏi bàng quan

Sỏi bàng quang là một khối bao gồm các chất hóa học khác nhau được hình thành từ thận, niệu quản hay tạo ra ngay ở bàng quang. Khi bị sỏi bàng quang tùy theo kích thước của viên sỏi, số lượng sỏi và một số yếu tố khác mà có thể đưa đến một số biến chứng từ đơn giản đến phức tạp, nguy hiểm.

Tại sao có sỏi bàng quang?
Bàng quang nằm ở vùng hạ vị, được cấu tạo từ các cơ trơn, có tính chất đàn hồi và có hệ thống thần kinh điều khiển trong việc đào thải nước tiểu ra ngoài (tiểu tiện). Sự hình thành sỏi chủ yếu là do hiện tượng ứ đọng nước tiểu trong bàng quang. Có 2 loại sỏi được hình thành, sỏi từ hệ tiết niệu trên (thận, niệu quản) rơi xuống; sỏi sinh ra tại bàng quang bởi các dị vật, đầu ống thông nước tiểu (do bí đái, tắc đái ở bệnh nhân hẹp niệu đạo, u tuyến tiền liệt, chít hẹp cổ bàng quang), túi thừa bàng quang hoặc sau phẫu thuật đường tiết niệu (mổ lấy sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang).

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-soi-bang-quan

Thành phần hóa học của sỏi đường tiết niệu nói chung và sỏi bàng quang nói riêng chủ yếu là chất canxi và amoni – magiê – photphat hoặc photphat canxi hoặc oxalic hoặc xystin, nhưng thường là sỏi hỗn hợp và được bao bọc xung quanh bởi một lớp nhân tơ huyết – bạch cầu. Sỏi bàng quang đôi khi chỉ có 1 viên nhưng cũng có thể là nhiều viên sỏi. Kích thước của sỏi bàng quang cũng khác nhau, đôi khi chỉ nhỏ bằng hạt ngô, đốt ngón tay nhưng có trường hợp to bằng quả trứng gà, đặc biệt có những trường hợp sỏi bàng quang nặng tới 1kg.
Phòng bệnh sỏi bàng quang

Đây là việc làm vô cùng cần thiết, vì nguyên nhân gây bệnh thường là do ứ đọng nước tiểu lâu ngày. Do vậy, hằng ngày cần uống đủ nước (1,5 lít/ngày) và tránh thói quen nhịn tiểu. Ngoài ra khi có biểu hiện của rối loạn tiểu tiện (đái dắt, đái buốt hay đái ra máu cuối bãi) nên đến khám tại cơ sở y tế chuyên khoa tiết niệu để phát hiện và điều trị sớm sẽ mang lại kết quả rất tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những biến chứng không đáng có do bệnh sỏi bàng quang gây ra.

Sự nguy hại của sỏi bàng quang là nếu không phát hiện và xử trí thích hợp thì khi sỏi ở lại bàng quang lâu sẽ làm tổn thương niêm mạc bàng quang do lượng nước tiểu thay đổi liên tục (trước khi đi tiểu và ngay sau khi đi tiểu) và do sự co bóp của thành bàng quang làm cho viên sỏi cọ sát nhiều lần vào niêm mạc gây viêm, loét và nhiễm khuẩn, chảy máu và sẽ biến chứng viêm bàng quang cấp, nếu không được điều trị sẽ dẫn đến viêm bàng quang mạn tính và sau đó có thể là teo bàng quang hoặc rò bàng quang.

Rò bàng quang là một biến chứng rất phức tạp bởi vì nước tiểu sẽ chảy vào tầng sinh môn hoặc âm đạo. Nước tiểu chảy ri rỉ qua âm đạo hoặc hậu môn gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt và lâu ngày gây nhiễm khuẩn. Ngoài ra, sỏi bàng quang còn có thể gây nên các biến chứng rất nguy hiểm là viêm thận do nhiễm khuẩn ngược dòng và suy thận. Các biến chứng này gây khó khăn cho việc điều trị và cũng rất tốn kém về thời gian và tiền bạc, thậm chí có thể gây nguy hiểm tới tính mạng.

Nguyên nhân của sỏi bàng quang

Sỏi được hình thành có thể là do ngay tại bàng quang (viêm nhiễm, thần kinh bàng quang, túi thừa bàng quang…), có thể do rối loạn chuyển hóa, có thể là do sự cản trở lưu thông nước tiểu ở trong bàng quang, niệu đạo (sỏi, u xơ tiền liệt tuyến…). Sỏi bàng quang cũng có thể là do sỏi từ thận, từ niệu quản rơi xuống. Một số trường hợp sự hình thành sỏi bàng quang có thể do áp dụng một số thao tác thủ thuật y tế như nong niệu đạo, thăm dò bàng quang. Tuổi tác và giới tính cũng có liên quan đến mắc bệnh sỏi bàng quang vì hầu hết gặp sỏi bàng quang ở lứa tuổi trên 50 và chủ yếu ở nam giới. Tuy vậy, ở các nước đang phát triển thì người ta thấy sỏi bàng quang có thể gặp ở trẻ em do chế độ ăn thiếu protein.

Biểu hiện của sỏi bàng quang
Một số người bị sỏi bàng quang nhưng không có biểu hiện gì đặc biệt chỉ khi vì một lý do nào đó tình cờ phát hiện (khám bệnh định kỳ). Đa số sỏi bàng quang có đái dắt nhiều lần, nhất là ban ngày do đi lại, vận động nhiều. Có thể đái đục (nhiễm khuẩn), đái máu. Có thể đau bụng dưới, đái khó, đau, gián đoạn tiểu tiện bởi các các nguyên nhân khác kèm theo (u xơ tiền liệt tuyến, chít hẹp niệu đạo…). Trong trường hợp nhiễm khuẩn thì có sốt nhẹ.

Các triệu chứng của sỏi bàng quang có nhiều đặc điểm lâm sàng dễ nhầm lẫn với các bệnh như  u xơ tuyến tiền liệt, u bàng quang, lao bàng quang, ung thư bàng quang (đái máu). Chính vì thế, để chẩn đoán chính xác bệnh và phòng các biến chứng, khi thấy xuất hiện những dấu hiệu của bệnh như đã kể trên, phải đi khám ngay ở các chuyên khoa tiết niệu.

Điều trị có khó?

Sỏi bàng quang nhỏ từ đường tiết niệu trên rơi xuống có thể điều trị kháng sinh chống viêm, giảm đau, giãn cơ trơn để bệnh nhân đái ra sỏi. Việc điều trị sỏi bàng quang bằng nội soi đã giúp ích rất nhiều cho việc điều trị những viên sỏi bàng quang không đái ra được hay sỏi kích thước nhỏ hơn 3cm. Có thể sử dụng máy tán sỏi cơ học, máy tán sỏi sử dụng sóng xung thủy điện lực (Urat 1) hay máy tán sỏi bằng sóng siêu âm, laser. Mục đích điều trị của máy tán sỏi là tán sỏi thành những mảnh nhỏ để bài xuất ra ngoài. Cũng có thể dùng dụng cụ cơ học để bóp nát sỏi dưới sự giám sát của camera đặt ở đầu ống soi.

Việc điều trị phẫu thuật được chỉ định cho những trường hợp sỏi to – sỏi không thể tán được hay sỏi bàng quang có kèm theo hẹp niệu đạo, xơ cứng cổ bàng quang, u xơ tiền liệt tuyến, túi thừa bàng quang. Mổ bàng quang lấy sỏi là phẫu thuật đơn giản, ít tốn thời gian nhưng thời gian hậu phẫu thường kéo dài hơn nhiều so với phương pháp tán sỏi nội soi.

Nguồn báo sức khỏe

Những biến chứng có thể gặp do uống nhiều thuốc kháng sinh

Khi uống thuốc kháng sinh, bạn hy vọng, sẽ chữa khỏi bệnh hoặc ngăn ngừa nó, song sử dụng thuốc kháng sinh cũng gắn liền với nguy cơ nhất định.

Trong thực tế đièu trị bằng kháng sinh có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh, nhất là khi khuẩn Clostridium difficile (viết tắt: C.diff.) sắm vai thủ phạm. Mặc dù các bác sĩ tích cực tìm cách hạn chế các bệnh đường ruột gây ra bởi C. diff., song tình trạng nhiễm bệnh vẫn ngày càng nhiều, ngày càng nghiêm trọng và khó chữa trị.

Những cư dân của ruột

Cơ thể con người tràn ngập vi khuẩn. Thân thể mỗi người bao gồm khoảng 10 ngàn tỷ tế bào, trái lại số lượng vi khuẩn ký sinh trong cơ thể lên tới 100 ngàn tỷ. Đa số vô hại, thậm chí những đặc tính hắc ám cũng cư xử “có tình”, nhất là khi chúng cộng sinh với những mô đã “thích nghi” với chúng.

nhung-bien-chung-co-the-gap-do-uong-nhieu-thuoc-khang-sinh

Đường tiêu hóa là thí dụ mẫu mực của sự cộng sinh của con người với những vi sinh vật ký sinh. Trung bình ở đó định cư từ 500 đến 1.000 loài vi sinh vật khác nhau. Đa số tuyệt đối sống ở bộ phận thấp của đường tiêu hóa, trong ruột già. Thành phần chủ yếu của phân và vi sinh vật.

Cư dân đông đảo nhất của đường tiêu hóa là khuẩn E. coli, Proteus, Klebsiella, Enterococcus và Bacteroides. Tất cả đều có thể gây bệnh nguy hiểm, nếu thâm nhập vào máu hoặc tấn công mô. Tuy nhiên sống trong ruột già chúng vô hại, thậm chí còn hữu ích. Bình thường vi khuẩn ruột già tạo ra vitamin K, kích thích hệ đề kháng và giúp xác lập trạng thái cân bằng giữa các thành phần của nó và vô hiệu hóa những hợp chất hóa học độc hại. Vai trò quan trọng khác của các loài vi sinh vật thông thường là chống lại và loại bỏ những nhân tố gây bệnh tiềm tàng, trong đó có khuẩn C. diff.

Số liệu thống kế trong vai chính

C.diff là nguyên nhân chính nhiẽm bệnh tiêu chảy, song nó chỉ đóng vai phụ trong các vi khuẩn đường ruột. Chỉ có từ 1 đến 3% người trường thành khỏe mạnh có C. diff. trà trộn trong các vi khuẩn đường ruột thông thường. Thậm chí khi ấy C. diff. cũng hiện diện với số lượng không nhiều và thường vô hại.

Chuyện gì xảy ra, khiến kẻ sắm vai phụ trở thành một trong những nhân tố gây bệnh chính? Thật phi lý, bởi tất cả vì lỗi của thuốc kháng sinh. Nhiệm vụ của thuốc kháng sinh là kìm hãm hoặc tiêu diệt vi trùng. Một khi sử dụng đúng, mục đích đánh phá của kháng sinh là những vi trùng hung hãn gây bệnh. Tuy nhiên thậm chí nếu như hoàn thành nhiệm vụ, cũng không tránh khỏi tình trạng thuốc kháng sinh gây tổn hại vi khuẩn vô tội sống trong cơ thể. Một khi thiếu hụt đội quân bình thường “vô tội”, khoảng trống này sẽ được C. diff. nhanh chóng tranh thủ thay thế. – Nhất là ở những bệnh nhân phải nằm viện, trong đó nhiều người đã suy nhược và khó sống với tình trạng tiêu chảy và sốt cao.

Nhận dạng C. diff.

Các nhà khoa học đã phát hiện chân tướng C.diff. từ năm 1935, song mãi đến năm 1978 người ta mới nhận ra nó là nguyên nhân chính dẫn đến tiêu chảy liên quan đến thuốc kháng sinh. Sự gia tăng các ca mắc bệnh trong những năm 70 thế kỷ XX liên quan với việc sử dụng phổ biến thuốc kháng sinh: clindamycyn. Suốt 20 năm tiếp theo sự bành trướng của C. diff. càng được kích động bởi việc sử dụng tràn lan các thuốc kháng sinh có phạm vi tác dụng rộng thuộc gia đình penicylin và cefalosporyn, còn đầu thế kỷ này fluorochinolon là tác nhân gây ra sự xuất hiện biến thể C.diff. nguy hiểm mới.

Clostrodium difficile được xếp loại vi khuẩn yếm khí, bởi nó phát triển trong điều kiện thiếu oxy. Các bào tử (mầm bệnh) C. diff. bất động và không tích cực về mặt trao đổi chất, vậy nên không gây bệnh. Nhưng đồng thời chúng có khả năng đề kháng cao, rất khó tiêu diệt bằng các biện pháp khử trùng và thậm chí cả thuốc kháng sinh mạnh nhất.

Nạn nhân C. diff. đào thải mầm bệnh trong phân ra khỏi cơ thể. Nếu không chú ý, mầm bệnh có thể dính vào tay, dụng cụ gia đình và thực phẩm, và tiếp theo có thể thâm nhập vào người khác. Mầm bệnh hồi sinh trong đường tiêu hóa người xa lạ, tuy nhiên trong những tình huống cơ thể khỏe mạnh những vi khuẩn thông thường khác kiểm soát sự bành trướng của chúng và bệnh không phát triển. Tuy nhiên C. diff sẽ giành ưu thế – nếu vi khuẩn hữu ích bị thuốc kháng sinh tiêu diệt. Chúng sinh sôi và phát triển, sản xuất độc tố gây tổn thương niêm mạc ruột già, dẫn đến tiêu chảy, viêm ruột và thậm chí tử vong. Các chủng C.diff. thông thường sản xuất hai độc tố gây tổn thương ruột có tên là độc tố A và B; những chủng C.diff. biến thể tạo ra tới 16 lần lớn hơn độc tố A và 23 lần lớn hơn độc tố B.

Ai mắc bệnh?

Đa số nạn nhân là bệnh nhân trong các bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão – chủ yếu điều trị bằng thuốc kháng sinh. Thực tế tất cả thuốc kháng sinh đều có thể mở đường cho C. diff. phát triển, song nhiều nhất là các kháng sinh mạnh sử dụng trong điều trị bệnh đường tiêu hóa. Tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm bệnh ngoài việc sử dụng clindamycyn, còn có penicylin phổ rộng, cefalosporyn và fluorochinolon. Đối tượng đặc biệt bị đe dọa là bệnh nhân những bệnh nghiêm trọng và nằm viện dài ngày, người cao tuổi (trên 65). Bởi lẽ axit dạ dày trợ giúp vi khuẩn hữu ích tiêu diệt C.diff., những thuốc đau dạ dày mạnh thuộc gia đình ức chế nhu động của cơ quan này cũng có thể làm gia tăng khả năng nhiễm bệnh.

Triệu chứng

Người khỏe mạnh có thể là vật mang C. diff. song không hề biết. Trong một số trường hợp vì lý do biến thể C. diff. không tạo ra độc tố, trong những trường hợp khác – số lượng cá thể C. diff. chưa đủ để gây bệnh và có thể vì trong máu vật chủ có sẵn kháng thể vô hiệu hóa độc tố A và B.

Một khi C. diff đã gây rắc rối, triệu chứng xuất hiện từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể đe dọa tính mạng. Người ta gọi tắt chứng bệnh nguy hiểm là CDAD (viêm màng nhầy ruột già).

Nhẹ nhất CDAD tiến triển dưới dạng tiểu chảy nước, tối thiểu ba lần/ngày kèm với tình trạng đau thắt bụng dưới. Không ra máu, không sốt, bệnh nhân có số lượng bạch cầu bình thường.

Nặng hơn, nạn nhân bị tiểu chảy nhiều hơn, đau bụng và sốt. Thường xuyên buồn nôn. Cho dù mắt thường không nhìn thấy máu trong phân, song qua xét nghiệm có thể phát hiện dấu tích ruột chảy máu. Xét nghiệm máu cho kết quả số lượng bạch cầu vượt chuẩn.

Trường hợp CDAD nghiêm trọng, thân nhiệt và số lượng bạch cầu của nạn nhân rất cao, áp huyết tụt (có thể nguy hiểm), bởi tiêu chảy cấp dẫn đến tình trạng cơ thể mất nước. Tình trạng ruột mất máu có thể nguy kịch. Ở dạng bi đát nhất, CDAD gây ra biến chứng có tên nhiễm độc ruột già mở rộng, hậu quả có thể dẫn đến ruột thủng nhiều chỗ.

Kìm hãm và kiểm soát

Có thể ngăn ngừa lây nhiễm C. diff., nếu chẩn đoán nhanh CDAD. Nếu có thể, nên lập tức chuyển bệnh nhân vào phòng cách ly có toa-lét. Các bác sĩ, hộ lý và nhân viên hỗ trợ cần rửa tay, đeo găng tay và sử dụng áo choàng trước khi tiếp xúc với người bệnh. Cần cởi găng tay, áo choàng và vứt bỏ trong thiết bị an toàn thích hợp – sau khi ra khỏi phòng bệnh.

Hầu hết các cơ sở y tế sử dụng cồn để rửa tay, tuy nhiên bào tử C.diff. đề kháng với cồn. Vì thế sau khi tiếp xúc với vi trùng này, sau khi rửa tay bằng cồn nên dùng thêm xà phòng. Cho dù không giết được bào tử C. diff., song xà phòng có thể làm sạch tay.

Bởi lẽ bào tử C. diff. có thể tồn tại trên bề mặt khô nhiều tháng, để khử trùng phòng ở bệnh nhân tốt nhất nên dùng podchloryn.

Một khi CDAD tấn công gia đình, việc thường xuyên rửa tay bằng xà phòng là việc làm cần thiết cả với người bệnh và những ai tiếp xúc với họ. Những bệnh nhân tiêu chảy không nên chuẩn bị món ăn cho người khác, nếu có điều kiện – nên sử dụng dụng cụ và toa-lét riêng.

Cẩn thận với thuốc kháng sinh

C.diff. là vi trùng cũ, song dịch bệnh CDAD vẫn còn mới mẻ. Chính thuốc kháng sinh đã biến chi tiết y học thú vị thành mối đe dọa nghiêm trọng.

Kháng sinh là tân duợc kỳ diệu, song các bác sĩ nên hướng dẫn người bệnh sử dụng hợp lý. Vấn đề là chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết, cần lựa chọn loại thuốc đơn giản nhất, phạm vi tác dụng hẹp và ngừng ngay – khi đã khỏi bệnh.

Khuê Minh
Tri Thức Trẻ

Tìm hiểu về bệnh ung thư lưỡi

 1 Ung thư lưỡi: loại ung thư phổ biến Ung thư lưỡi là bệnh thường gặp, phát sinh từ sự biến đổi ác tính biểu mô phủ lưỡi hoặc các mô liên kết cấu trúc lưỡi. Mỗi năm, ở Pháp có khoảng 20.000 ca mắc mới và hơn 5.000 ca tử vong vì ung thư lưỡi. Nghiện thuốc lá và rượu được xem là những nhân tố chính gây ung thư lưỡi. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi.

2 Những ai dễ mắc bị ung thư lưỡi? Có một thực tế là, đàn ông dễ bị ung thư lưỡi và các bệnh lý về lưỡi khác hơn phụ nữ. Lý do muôn thuở vẫn là rượu và thuốc lá. Theo số liệu ước tính của Pháp, có tới 80-90% ca ung thư lưỡi có liên quan đến thuốc lá và rượu. Ngoài ra, chúng ta vẫn có nguy cơ mắc ung thư lưỡi (dù không sử dụng thuốc lá hay rượu bia) nếu vệ sinh răng miệng không được đảm bảo. Tầng lớp trung niên (40-66 tuổi) dễ mắc loại ung thư này hơn những người khác.

benh-ung-thu-luoi

3 Biểu hiện của ung thư lưỡi như thế nào? Biểu hiện thường thấy của bệnh ung thư lưỡi là những vết loét lâu ngày, màu trắng hoặc đỏ ở hai bên lưỡi, có thể hơi đau hoặc không đau. Ngoài ra, nếu cảm thấy khó khăn trong quá trình chuyển động của lưỡi khi nói, nhai, ho,…; ngứa hoặc đau rát lưỡi khi uống rượu hoặc ăn các loại thức ăn có tính axit, cay; hôi miệng; chảy máu lưỡi; đau tai;… thì hãy đến gặp bác sĩ ngay để được khám và điều trị kịp thời.

4 Phòng tránh bệnh ung thư lưỡi bằng cách nào? Vệ sinh răng miệng đều đặn, thường xuyên. Sử dụng nước súc miệng chuyên dụng hoặc nước muối để súc miệng ngừa sâu răng và nhiễm trùng nướu răng. Hạn chế rượu, đồ uống có cồn và thuốc lá. Cuối cùng, nếu thấy vết loét lâu ngày không khỏi, và đặc biệt là có sự hiện diện của các khối u hạch bất thường ở cổ thì phải đến khám bác sĩ ngay.

5 Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư lưỡi Việc chẩn đoán ung thư lưỡi dựa trên kết quả sinh thiết vùng bị tổn thương trên lưỡi. Nếu phát hiện sớm, bệnh nhân có thể được điều trị bằng các phương pháp đơn giản như súc miệng bằng dung dịch Chlorhexidine gluconate 0,2%, bôi thuốc và uống các loại thuốc kháng viêm. Nếu phát hiện muộn, bệnh nhân buộc phải phẫu thuật triệt căn (cắt bỏ một phần lưỡi hoặc toàn bộ lưỡi, tuỳ theo kích thước và vị trí khối u) và được hỗ trợ trị xạ. Quá trình chăm sóc, điều trị hậu phẫu khá phức tạp vì ung thư lưỡi có nguy cơ tái phát và biến chứng rất cao. Hơn nữa, giống như các loại ung thư khác, bệnh ung thư lưỡi có thể di căn đến phổi, gan hoặc xương,

Nguồn sức khỏe

Biến chứng viêm đường hô hấp ở trẻ em

Viêm đường hô hấp là một trong những bệnh lý rất hay gặp ở trẻ nhỏ. Tỷ lệ mắc bệnh do virut là 70% và vi khuẩn là 30%. Các loại virut hay mắc phải là virut hợp bào, virut cúm, adenovirut, myxovirut. Hai vi khuẩn hay gặp nhất gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em là Heamophilus influenza và Strepcococcus pneumoniae. Nhóm vi sinh vật gây bệnh còn có các loại nấm ký sinh trong mũi, họng, phổi. Những dấu hiệu khởi phát như viêm long đường hô hấp trên gây sổ mũi, ho, hắt hơi, biếng ăn, quấy khóc, sốt là biểu hiện thường gặp của nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em. Hầu hết các trường hợp nặng đều dưới 1 tuổi, sau 1-2 ngày trẻ có thể biểu hiện triệu chứng rõ rệt hơn như sốt cao lên, ho nhiều hơn, tiếng thở khò khè. Nếu trẻ khó thở nặng hơn có thể xuất hiện dấu hiệu tím tái quanh môi, tím đầu chi, vật vã kích thích, vã mồ hôi thậm chí ngừng thở.

viem-ho-hap-o-tre-so-sinh

Nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em có thể biểu hiện thành các thể bệnh: viêm tiểu phế quản cấp, viêm phế quản cấp, viêm phế quản phổi. Nếu những bệnh lý này không được phát hiện, điều trị xử trí sớm và đúng thì có thể sẽ xảy ra những biến chứng như: suy hô hấp cấp, áp-xe phổi, tràn khí, tràn dịch màng phổi và có thể dẫn đến tử vong. Đối với các trường hợp trẻ bị viêm đường hô hấp do vi khuẩn thì biện pháp điều trị tốt nhất là dùng kháng sinh, tuy nhiên phải rất thận trọng vì nếu điều trị không dứt điểm, không đúng sẽ dẫn đến nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc, bệnh kéo dài, không xử trí được các biến chứng. Đối với nhóm bệnh do virut, chỉ sử dụng kháng sinh khi có tình trạng bội nhiễm, mà tập trung chăm sóc trẻ, khai thông đường thở, hạ sốt, chế độ ăn đủ chất dinh dưỡng.

BS. Nguyễn Thanh Châu

Theo suckhoedoisong

Nguyên nhân Tai biến cao huyết áp

 Tai biến cao huyết áp bắt nguồn từ đâu và làm thế nào để ngăn chặn được những tai biến nguy hiểm của căn bệnh này?

Sau 2 năm sống chung với bệnh cao huyết áp, cô Minh (Đống Đa, Hà Nội) phải nhập viện trong trường hợp khẩn cấp. Các bác sĩ cho biết bệnh nhân này bị xuất huyết não (do vỡ mạch máu máu khi huyết áp đột ngột tăng cao), một dạng của tai biến mạch máu não. Sau trận tai biến này, cô Minh bị liệt 2 chân, không còn khả năng đi lại.

Giống như trường hợp Cô Minh, bác Thắng (Q.3; TPHCM) đang khỏe mạnh bỗng nhiên đầu óc quay cuồng ngã vật ra trước cửa. Bác cũng được cho biết là bị tai biến mạch máu não nhưng ở dạng nhồi máu não (do cục máu đông gây tắc mạch máu).
Nguyên nhân Tai biến cao huyết áp

Theo GS. BS Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội tim mạch học Việt Nam tai biến mạch máu não là một trong những tai biến nguy hiểm, thường gặp nhất ở bệnh nhân cao huyết áp. Tai biến mạch máu não gồm 2 loại: 80% là nhồi máu não (do các cục máu đông gây tắc mạch máu não) và 20% là xuất huyết não (do vỡ mạch máu trong não). 2 nguyên nhân này cũng chính là “ngọn nguồn” dẫn đến mọi tai biến của bệnh cao huyết áp.

Thứ nhất, cao huyết áp dẫn tới cục máu đông. Trong trường hợp này, cao huyết áp tạo ra áp lực lên thành mạch, tạo các vết nứt trong lòng mạch, dễ hình thành các mảng xơ vữa và tạo các cục máu đông.

Các cục máu này di chuyển đến não gây tắc mạch máu não, di chuyển đến tim thì gây nhồi máu cơ tim. Những biến chứng này diễn tiến âm thầm nhưng thường bất ngờ gây những nguy hiểm chết người đối với bệnh nhân cao huyết áp. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra, cục máu đông chính là “thủ phạm” gây ra 80% tai biến cao huyết áp, nguyên nhân trực tiếp của những bệnh tim mạch nguy hiểm như: bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, suy tim…

Thứ hai, cao huyết sẽ gây áp lực thành mạch, làm nứt, vỡ,

Thứ hai, cao huyết sẽ gây áp lực thành mạch, làm nứt, vỡ,  động mạch. Đây chính là nguyên nhân gây ra khoảng 20% trường hợp bị tai biến mạch máu não.  Hiện tượng chảy máu do nứt, vỡ, động mạch, có thể xẩy ra ở nhiều mạch nhỏ, như hiện tượng chẩy máu mũi (chảy máu cam), chảy máu ở củng mạc, chẩy máu ở võng mạc, gây mờ mắt….

Theo bác sĩ Phạm Gia Khải, xuất phát từ 2 nguyên nhân trên nên trong “chiến lược” điều trị tăng huyết áp hiện nay cần kết hợp việc kiểm soát chỉ số huyết áp để huyết áp dao động từ khoảng 90/60mmHg đến 140/90mmHg, với phòng ngừa biến chứng. Muốn vậy, bệnh nhân cần thực hiện lối sống khoa học, vận động hợp lý, tập thể dục nhẹ nhàng, không hút thuốc, uống rượu bia, tránh thức ăn nhiều đạm, nhiều muối, giảm cân và giữ trọng lượng cơ thể vừa phải, kết hợp sử dụng loại thuốc thảo dược bào chế từ bài thuốc “Giáng Áp Hợp Tễ” vừa có tác dụng ổn định huyết áp, vừa góp phần ngăn ngừa biến chứng.  Thực hiện tốt nguyên tắc điều trị này, bệnh nhân mới có thể yên tâm “chung sống” với bệnh, tránh được những tai biến đáng tiếc từ căn bệnh cao huyết áp.

Nguồn dân trí

Viêm xoang ở trẻ em có gây biến chứng

Trẻ em cũng có thể bị viêm xoang (VX) do hiện tượng viêm nhiễm vi sinh vật (vi khuẩn, virut) ngược dòng từ họng, mũi, phế quản… đi lên. Triệu chứng của VX ở trẻ em khó chẩn đoán hơn rất nhiều so với VX ở người lớn. Vậy chúng ta cần làm gì khi trẻ bị VX?

Xoang là một hệ thống rỗng ở người lớn, bao gồm các xoang hàm, xoang trán, xoang sàng và xoang bướm. Ở trẻ khi mới sinh ra thì đã có sẵn xoang hàm (nằm phía sau má) và xoang sàng (nằm giữa 2 hố mắt). Càng lớn lên, các xoang khác cũng phát triển dần.

viem-xoang-o-tre-co-gay-bien-chung

Một số triệu chứng nghi ngờ trẻ viêm xoang

Đối với bệnh VX cấp tính:

Trẻ sốt nhẹ, chảy mũi, đặc biệt lưu ý ở những trẻ có tiền sử chẩn đoán VA (vegetation adenoide), viêm đường hô hấp trên (viêm họng, mũi…) kéo dài từ một đến vài tuần.

Ho, hắt hơi, đôi khi buồn nôn hoặc nôn.

Trẻ lớn có thể có đau đầu (trẻ cảm nhận được) nhưng trẻ bé hơn ít khi thấy trẻ kêu đau đầu (do trẻ chưa cảm nhận được) mà thường biểu hiện quấy khóc nhiều và ít chịu chơi, trông có vẻ mệt mỏi, thường thường trẻ chán ăn và khó ngủ.

Đối với bệnh viêm xoang mạn tính:

Các triệu chứng ho, sốt nhẹ, chảy mũi nước, đau đầu và nghẹt mũi kéo dài hơn 2 tuần chưa được khám bệnh hoặc điều trị chưa dứt điểm. Bệnh tái đi, tái lại nhiều lần trong một năm.

Khi nghi trẻ bị viêm xoang nên làm gì?

Khi nghi trẻ bị VX hay nói đúng hơn là thấy cháu nghi mắc bệnh về tai, mũi, họng cần đưa cháu đến bác sĩ, tốt nhất là các bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng, để được khám lâm sàng và làm một số xét nghiệm cần thiết.

Đầu tiên, thầy thuốc bao giờ cũng hỏi bệnh, vì người bệnh là trẻ em nên người đưa cháu đi khám bệnh phải hiểu rõ về các biểu hiện bệnh của trẻ như thế nào? Xảy ra từ bao giờ? Đã khám ở đâu? Và điều trị những loại thuốc gì? (Thầy thuốc sẽ xem sổ y bạ của cháu). Hỏi bệnh của thầy thuốc giúp một phần đáng kể trong việc chẩn đoán đúng bệnh, vì vậy, người bệnh hoặc người nhà của người bệnh cần trả lời đúng với thực tế về tình trạng của cháu và những vấn đề mà thầy thuốc muốn biết cụ thể. Ngoài các động tác soi đèn để khám tai, mũi, họng, ấn một số điểm trên mặt người bệnh để xác định điểm đau, sưng tấy… thì khi cần thiết bác sĩ có thể nội soi bằng dụng cụ chuyên khoa đặc biệt để nhìn được vào trong hốc mũi, các hốc rỗng của xoang. Bác sĩ cũng có thể chỉ định làm một số xét nghiệm như cấy mủ, chất nhầy của xoang để tìm vi khuẩn. Hoặc người ta có thể chụp cắt lớp vi tính để nắm rõ về tình trạng các xoang của trẻ và các vị trí tổn thương cụ thể của xoang. Đây là phương pháp có độ chính xác cao hơn phương pháp chụp X-quang thông thường. Tuy nhiên, không phải bất kỳ cháu nào nghi VX cũng chụp cắt lớp vi tính! Đa số các trường hợp được chỉ định chụp X-quang thông thường cũng giúp cho thầy thuốc có thêm thông tin cần thiết để chẩn đoán bệnh.

Vi khuẩn nào hay gây viêm xoang ở trẻ em?

Nói đến VX thì có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó căn nguyên VX do vi khuẩn đóng một vai trò đáng kể. Hệ vi khuẩn thuộc đường hô hấp trên và hô hấp dưới rất phong phú, đa dạng. Những vi khuẩn này bình thường không gây bệnh nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi như sức đề kháng của trẻ bị suy giảm hoặc đang mắc một bệnh nhiễm trùng nào đó (cúm, sởi, viêm mũi…), trẻ còi xương, suy dinh dưỡng… thì các vi khuẩn này trở nên hoạt động, gây bệnh. Một số vi khuẩn như haemophilus influenzae, streptococcus pneumoniae, tụ cầu (tụ cầu vàng, tụ cầu da, tụ cầu hoại sinh), liên cầu, não mô cầu, trực khuẩn mủ xanh, E.coli… là những vi khuẩn hay gặp nhất trong VX nói chung và VX ở trẻ em nói riêng.

Có gây biến chứng không?

VX ở trẻ em nếu không được điều trị đúng cũng có thể gây nên một số biến chứng, có loại biến chứng rất nguy hiểm. Một loại biến chứng hay gặp là đau nhức đầu và những khó chịu khác như luôn có cảm giác chất nhầy chảy ra phía sau thành họng (đối với các trẻ đã lớn luôn cảm nhận được).

Một số biến chứng nguy hiểm tuy ít gặp như: viêm mắt làm cho trẻ sụp mi, giảm cảm giác giác mạc tạo nên hội chứng đỉnh ở mắt gây đau dữ dội. Cũng có trường hợp tạo thành huyết khối trong các xoang hang nếu không phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây mù mắt. Tỉ lệ biến chứng viêm màng não, áp-xe não, viêm xương tuy rất thấp nhưng cũng cần được quan tâm đúng mức

BS. TRẦN QUỐC NINH

Theo SKDS

Biến chứng viêm đường hô hấp trên ở trẻ

Hỏi: Xin chào bác sĩ. Con tôi rất hay bị ho và chảy nước mũi không rõ nguyên nhân do thời tiết hay do ô nhiễm môi trường. Tôi có đưa cháu đi khám thì bác sĩ nói cháu bị viêm đường hô hấp trên. Vậy xin hỏi viên đường hô hấp có những loại nào và có biến chứng gì nguy hiểm? Xin cảm ơn bác sĩ.
bien-chung-viem-duong-ho-hap-tren-o-tre
Trả lời: Viêm đường hô hấp trên được chia làm 2 loại cấp tính và mạn tính.

Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính sẽ diễn biến trong vòng vài ba ngày với các dấu hiệu sốt cao hoặc vừa, ho, hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi, thay đổi giọng, giọng mất đi. Ở trẻ em dưới 1 tuổi đôi khi nôn nhiều, quấy khóc. Khi khám họng lúc đó sẽ thấy niêm mạc họng đỏ rực. Sau đó các dấu hiệu trên mất đi. Khi bị bội nhiễm các vi khuẩn trên, bệnh sẽ diễn biến nặng lên, trẻ hay bị viêm phế quản, viêm phổi.

Khi bị viêm đường hô hấp cấp tính mà không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm thì rất dễ dàng chuyển thành mạn tính. Triệu chứng của viêm đường hô hấp mạn tính là ho húng hắng, rát họng, nuốt thấy hơi vướng như có vật gì nằm trong họng, đặc biệt ở trẻ em là chảy nước mũi thường xuyên (một hoặc cả hai bên mũi).

Một số trẻ em bị VA mạn tính kéo dài mà căn nguyên do vi khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) thì chất nhầy chảy ra ở mũi thường có màu xanh. Ngoài chảy mũi, trẻ ngủ thường thở bằng miệng. Viêm tai giữa cấp cũng là một biến chứng hay gặp của nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính nếu không được phát hiện và điều trị sớm sẽ gây thủng màng nhĩ, giảm thính lực hoặc nặng có thể gây biến chứng nội sọ do viêm tai.

Bạn hãy lưu ý theo dõi chặt chẽ sức khỏe của bé và điều trị kịp thời để tránh các nguy cơ viêm mạn tính và biến chứng.

Theo báo sức khỏe

Biện pháp giảm axit uric ở bệnh nhân gút

Việc áp dụng các biện pháp giảm nồng độ axit uric trong máu sẽ giúp bệnh nhân gút ngăn ngừa được những biến chứng nguy hiểm. Một trong những biện pháp được nhiều bệnh nhân áp dụng là dùng kết hợp Đông – Tây y trong quá trình điều trị bệnh.

Ở bệnh nhân gút, khi lượng axit uric trong cơ thể tăng cao và xuất hiện ở màng hoạt dịch khớp, gây nên phản ứng viêm cấp tính, dẫn đến sưng đỏ, nóng và đau nhức khớp dữ dội, thậm chí làm giảm chức năng đệm đỡ của khớp, gây biến dạng khớp, tổn thương thận,…

bien_phap_giam_axit_uric_o_benh_nhan_gut

Trong quá trình điều trị bệnh gút, để đạt được đồng thời hai mục tiêu: vừa giảm nhanh triệu chứng đau, giúp bệnh nhân nhanh chóng trở lại hoạt động bình thường, đồng thời điều trị căn nguyên bệnh, tránh tái phát cơn gút, nhiều bác sĩ và bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn phương pháp dùng thuốc Tây y để giảm đau, cắt cơn gút cấp trước, sau đó, dùng sản phẩm thảo dược, không gây tác dụng phụ để hỗ trợ điều trị, phòng ngừa tái phát, hạ axit uric máu, dẫn đầu trong số đó là thực phẩm chức năng Hoàng Thống Phong. Sản phẩm có thành phần chính là trạch tả giúp tăng cường đào thải axit uric kết hợp cùng nhiều dược liệu như: ba kích, thổ phục linh, hoàng bá,… nên có tác dụng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gút và ngăn chặn biến chứng của bệnh.

Sản phẩm đã được nghiên cứu tại bệnh viện với trên 27 bệnh nhận nhân gút được sử dụng colchicin phối hợp với Hoàng Thống Phong trong 7 ngày đầu, sau đó chỉ dùng đơn độc Hoàng Thống Phong liên tục trong 6 tháng. Kết quả cho thấy: 88,9% bệnh nhân có axit uric máu trở về giới hạn bình thường; 100% bệnh nhân không bị tái phát trong 6 tháng theo dõi điều trị và không gây tác dụng phụ.

Qua thực tế điều trị, nhiều bệnh nhân gút đã giảm được nồng độ axit uric trong máu nhờ sử dụng Hoàng Thống Phong. Cụ thể như ông Lê Văn B. (Thanh Xuân, Hà Nội) mắc gút hơn 22 năm. Sau khi ông uống Hoàng Thống Phong khoảng 3 tuần, kết hợp với chế độ ăn uống kiêng khem, nồng độ axit uric giảm từ 622 micromol/lít xuống còn 315 micromol/lít và hết đau khớp hoàn toàn.

Để giảm nồng độ axit uric trong máu, bệnh nhân gút nên uống Hoàng Thống Phong thường xuyên kết hợp cùng chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt và uống nhiều nước.

Kiều Mi
Theo SKĐS

Lậu cầu gây viêm khớp

Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) lây qua đường tình dục gây ra bệnh lậu hoặc nhiễm lậu cầu không có triệu chứng. Bệnh lậu điều trị không dứt điểm sẽ trở thành mạn tính, từ đây gây ra nhiều biến chứng, trong đó viêm khớp do lậu cầu là một biến chứng hay gặp.

lau_cau_gay_viem_khop_01

Song cầu lậu nhìn trên kính hiển vi

Viêm khớp do lậu cầu gặp nhiều ở thành thị hơn là nông thôn. Ngược lại với các bệnh viêm khớp nhiễm khuẩn khác thường gặp ở những người yếu, viêm khớp do lậu cầu lại thường gặp ở người khỏe mạnh. Một vài nghiên cứu cho thấy: bệnh gặp ở nữ gấp 2 – 3 lần so với nam, đặc biệt gặp nhiều trong khi hành kinh và thời kỳ mang thai; bệnh cũng hay gặp ở người đồng tính luyến ái nam; viêm khớp do lậu chiếm 70% nhiễm khuẩn khớp ở người lớn dưới 40 tuổi. Những người có nhiều bạn tình, quan hệ với gái mại dâm mà không sử dụng các biện pháp bảo vệ (dùng bao cao su) đều có nguy cơ nhiễm lậu cầu, trong đó 30 – 50% trường hợp bị viêm khớp.

Biểu hiện lâm sàng

Bệnh bắt đầu bằng những đợt đau nhiều khớp, với tính chất di chuyển ở các khớp cổ tay, gối, cổ chân, khớp khuỷu, kéo dài từ 1 – 4 ngày. Diễn biến tiếp theo của bệnh với  hai khả năng: một là viêm bao hoạt dịch gân hay gọi là hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu chiếm khoảng 60%; hai là viêm một khớp mủ hay gọi là viêm khớp thực sự do lậu cầu chiếm 40%, thường gặp nhất là khớp gối. Gần nửa bệnh nhân có sốt và gần 1/4 bệnh nhân có triệu chứng ở đường tiết niệu sinh dục. Hầu hết bệnh nhân có tổn thương đặc trưng là có 2 – 10 mụn mủ hoại tử nhỏ ở các chi, nhất là ở gan bàn tay và gan bàn chân.

Hội chứng nhiễm khuẩn do lậu cầu gồm các triệu chứng: sốt, rét run, ban đỏ, mụn mủ như đã nói ở trên và các biểu hiện tại khớp. Tràn dịch khớp với số lượng dịch ít.

Trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn thực sự do lậu cầu, thường viêm một khớp lớn như khớp háng, gối, cổ tay, cổ chân với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau. Bệnh nhân có sốt cao, rét run.

Xét nghiệm dịch khớp có trên 50.000 bạch cầu/ml. Cấy máu tìm thấy lậu cầu ở 40% bệnh nhân có viêm màng hoạt dịch và gần như không thấy ở bệnh nhân viêm khớp mủ. Cấy bệnh phẩm niệu đạo, trực tràng, họng nên làm ở tất cả bệnh nhân vì kết quả thường dương tính ở những bệnh nhân không có các triệu chứng tại chỗ.

Viêm khớp do lậu cầu cần phân biệt với các bệnh sau đây: hội chứng Reiter cũng gây ra viêm một khớp ở người trẻ, nhưng phân biệt nhờ nuôi cấy âm tính, không đáp ứng với kháng sinh. Bệnh Lyme có tổn thương khớp gối nhưng ít cấp tính hơn, nuôi cấy âm tính, có các ban đặc trưng và có tiền sử bị ve đốt. Để phân biệt với các bệnh: gút, giả gút và viêm khớp nhiễm khuẩn không do lậu… người ta xét nghiệm dịch khớp để phát hiện lậu cầu, trong đó chỉ có bệnh viêm khớp do lậu cầu mới có vi khuẩn lậu.

lau_cau_gay_viem_khop_02

Tổn thương viêm khớp gối do lậu cầu

Điều trị

Mọi trường hợp nghi ngờ viêm khớp do lậu cầu nên nhập viện để chẩn đoán xác định và điều trị kịp thời. Trước khi dùng thuốc kháng sinh cần thực hiện cấy máu, lấy bệnh phẩm đường sinh dục, niệu đạo, họng, lấy dịch khớp làm các xét nghiệm cần thiết. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 4 – 5% trong tất cả các chủng lậu cầu sản xuất được men beta-lactamase kháng penicillin và 15 – 20% các chủng lậu cầu có các chuỗi nhiễm sắc thể gây kháng tương đối với penicillin. Do đó nên bắt đầu điều trị bằng ceftriaxon 1g/ngày trong 7 ngày. Các trường hợp viêm khớp không nên tiêm trực tiếp thuốc kháng sinh vào khớp vì tác dụng không những không tốt hơn, ngược lại còn gây ra tình trạng viêm khớp do tinh thể thuốc. Đối với viêm mủ khớp gối do lậu cầu thường chỉ cần dùng kháng sinh phối hợp và tiến hành hút dịch khớp gối là có kết quả tốt, không cần thiết phải nội soi rửa khớp hoặc phẫu thuật mở khớp để điều trị. Thời gian dùng kháng sinh điều trị viêm khớp do lậu cần kéo dài từ 7 – 14 ngày.

Nếu lậu cầu nhạy cảm penicillin có thể dùng amoxicillin uống 1.500mg/ngày chia 3 lần hoặc dùng ciprofloxacin uống 1.000mg/ngày chia 2 lần.

Ngoài ra cần điều trị triệu chứng: dùng thuốc hạ nhiệt giảm đau chống viêm không steroid để giảm đau và hạ sốt cho bệnh nhân. Nâng cao thể trạng bằng vitamin các loại, nhất là vitamin C. Tăng cường dinh dưỡng bằng chế độ ăn giàu chất bổ như thịt, cá, trứng, sữa, rau xanh và trái cây chín.

Phòng bệnh

Hiện nay chưa có vaccin phòng lậu cầu nên cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh sau đây: sống chung thủy một vợ một chồng; sử dụng bao cao su bảo vệ an toàn trong quan hệ tình dục. Nếu phát hiện viêm niệu đạo do lậu cầu phải điều trị sớm, tích cực ngay từ đầu tránh bệnh tiến triển thành mạn tính. Bệnh nhân cần được tư vấn để họ báo cho bạn tình biết bị mắc bệnh để đi khám và điều trị đồng thời.

ThS. Phạm Nguyễn Hoàng
Theo SKĐS

Nổi lo biến chứng của bệnh gút

Khi mắc bệnh gút acid uric máu tăng và lắng đọng trong màng hoạt dịch khớp gây tổn thương khớp. Ngoài ra acid uric còn có thể lắng đọng ở các cơ quan khác như thận, tổ chức dưới da gây nên sỏi thận và hình thành các hạt tophi. Ở Việt Nam, khi nền kinh tế bắt đầu phát triển, bệnh gút đã trở nên rất phổ biến ở cả thành thị và nông thôn, vươn lên đứng hàng thứ tư  trong 15 bệnh khớp nội trú thường gặp nhất.

Các biến chứng và hậu quả của bệnh gút

Khi bị mắc bệnh mà điều trị không đúng hoặc không được điều trị bệnh để lại những biến chứng, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề, thậm chí tử  vong. Có 4 loại biến chứng của gút. Biến chứng thứ nhất liên quan đến tổn thương xương khớp, là tình trạng hủy hoại khớp, đầu xương, làm bệnh nhân tàn phế. Các hạt tophi bị loét vỡ, khiến vi khuẩn xâm nhập vào trong khớp gây viêm khớp nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết. Biến chứng thứ hai liên quan tổn thương thận: sỏi thận, thận ứ nước ứ mủ, suy thận, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Biến chứng thứ ba liên quan đến chẩn đoán nhầm. Thường chẩn đoán nhầm với viêm khớp nhiễm khuẩn và được điều trị bằng rất nhiều loại kháng sinh khác nhau, có nguy cơ dị ứng thuốc kháng sinh, thậm chí có thể gây tử vong. Một chẩn đoán nhầm khác là viêm khớp dạng thấp, từ đó dẫn đến điều trị tràn lan bằng các thuốc chống viêm không steroid, prednisolon, dexamethason, với hậu quả là biến chứng loãng xương, gãy xương, đái tháo đường, tăng huyết áp. Biến chứng thứ tư liên quan đến tai biến do dùng thuốc. Ngay cả khi chẩn đoán đúng  thì việc điều trị gút cũng có thể gây nên  tai biến. Các thuốc chống viêm không steroid có thể gây tổn thương nhiều cơ quan như máu, thận, tiêu hóa, dị ứng.

noi_lo_bien_chung_cua_benh_gut

Tinh thể acid uric lắng đọng trong khớp ngón chân cái

Khó khăn khi điều trị bệnh gút

Có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gút. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc chữa bệnh gút như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol có thể gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gút bị dị ứng với  nhiều thuốc chữa gút như colchicin và  allopurinol. Một số trường hợp xảy ra sốc phản vệ, có thể dẫn đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời. Thứ ba là sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gút thường chỉ dùng thuốc trong đợt cấp rồi bỏ thuốc, dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần. Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid dẫn đến tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hoá, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân vẫn tiếp tục ăn nhậu quá mức và sinh hoạt không điều độ, do vậy bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Nói chung những người mắc bệnh gút rất hay bị dị ứng thuốc, do đó cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ loại thuốc gì, kể cả thuốc Đông y và Tây y. Tốt nhất là nên tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa.

Nguyên tắc điều trị bệnh gút

Bệnh nhân gút phải xác định tư tưởng điều trị lâu dài, tránh bỏ thuốc khi bệnh thuyên giảm. Khi đó thì mới có thể giữ bệnh khỏi tái phát trong thời gian dài. Bệnh nhân gút cần tích cực hợp tác với bác sĩ trong việc điều trị, ngăn ngừa biến chứng bệnh bằng chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc. Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, chức năng thận. Ngoài ra bệnh nhân cũng cần được chẩn đoán và điều trị các bệnh kèm theo như rối loạn chuyển hoá lipid, đái tháo đường, tăng huyết áp…

Cách phòng tránh bệnh gút

Có thể phòng tránh được bệnh gút bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Bệnh nhân cần nhận thức rằng ăn uống  không khoa học là một yếu tố thức đẩy làm xuất hiện bệnh và làm bệnh tái phát, vì vậy cần phải hạn chế ăn nhậu quá mức. Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gút là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân nếu béo phì và uống nhiều nước, đặc biệt là nước khoáng kiềm. Do vậy bệnh nhân gút cần tuân thủ chế độ ăn kiêng. Thứ nhất, lượng thịt ăn hàng ngày không nên quá 150g, đặc biệt cần tránh ăn phủ tạng động vật (lòng lợn, tiết canh, gan, thận, óc, dạ dày, lưỡi…), các loại thịt đỏ (thịt trâu, bò, chó, dê), các loại hải sản (tôm, cua, cá béo). Có thể ăn trứng, sữa, phomat, thịt trắng như  thịt gia cầm,  cá nạc. Thứ hai là nên ăn thêm ngũ cốc, bánh mì trắng. Thứ ba là ăn nhiều rau xanh, cà rốt, bắp cải, đậu phụ, hoa quả. Thứ  tư là cần tránh ăn những thức ăn chua như nem chua, dưa hành muối, canh chua, hoa quả chua, uống nước chanh… vì chính những chất chua lại làm bệnh nặng hơn. Thứ năm là về các đồ uống. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thậm chí cả rượu vang, rượu thuốc.  Bệnh nhân cần tích cực uống nhiều nước, 1,5-2 lít nước mỗi ngày. Đặc biệt là nên uống nước khoáng kiềm để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu. Bệnh nhân gút cần có chế độ sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mỏi mệt cả về tinh thần lẫn thể chất như: lạnh, lao động quá sức, chấn thương, stress… Ngoài ra bệnh nhân gút cần tránh dùng một số loại thuốc có thể làm tăng acid uric máu như các thuốc lợi tiểu,  corticoid, aspirin.

TS.BS.Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Nhậu nhiều: Coi chừng hư khớp háng

Về khoản nhậu thì có lẽ dân Việt Nam là “Vô địch”. Nhậu mọi lúc mọi nơi và hậu quả thì cũng vô số kể. Một trong số đó là tình trạng hư khớp háng do hoại tử chỏm xương đùi.

nhau_nhieu_coi_chung_hu_khop_hang

Nguyên nhân và triệu chứng

Hoại tử chỏm xương đùi là tình trạng chết của xương do thiếu máu nuôi. Bệnh thường xảy ra ở độ tuổi từ 30-60, xảy ra ở cả 2 chỏm xương đùi với độ nặng khác nhau hay như nhau. Bệnh xảy ra do các bệnh lý gây tắc các mạch máu nhỏ cung cấp máu cho chỏm xương đùi, ví dụ tắc mạch do các chất mỡ gây tắc mạch trên những bệnh nhân có tổn thương gan do rượu.

Nguyên nhân có thể chia làm 2 nhóm chính là có chấn thương hay không chấn thương. Nguyên nhân do chấn thương ví dụ như: té gãy cổ xương đùi, trật khớp háng… nguyên nhân không do chấn thương bao gồm: uống nhiều rượu, bia, dùng corticoide liều cao kéo dài, bệnh lý giảm áp như những người thợ lặn lặn sâu và trồi lên đột ngột, bệnh lý hồng cầu hình liềm, chạy tia xạ và có khoảng 25% không rõ nguyên nhân là gì.

Triệu chứng thường là có cơn đau khởi phát đột ngột mà có lẽ là do thiếu máu nuôi đột ngột. Tuy nhiên, bệnh nhân thường đã có tình trạng hoại tử chỏm trước đó. Cơn đau ngày càng nhiều khi xương chết làm xẹp chỏm xương đùi, đau khi đi đứng và giảm khi nghỉ ngơi. Cơn đau xuất phát từ bẹn lan xuống mặt trong đùi hoặc đôi khi cảm giác đau sau mông. Cơn đau làm hạn chế các vận động của khớp háng và khi khám thấy động tác xoay ngoài và xoay trong háng bị giảm trước. Đôi khi bệnh nhân có cảm giác đau ở vùng gối và khiến cho nhiều bác sĩ chẩn đoán lầm.

Chẩn đoán và điều trị

nhau_nhieu_coi_chung_hu_khop_hang2

Việc chẩn đoán thường dựa trên lâm sàng và X-quang, tuy nhiên ở giai đoạn sớm, X-quang thường qui không phát hiện được, mà phải cần tới phim MRI mới cho phép thấy các tổn thương xương sớm.

Khi đã có chẩn đoán, việc điều trị sẽ bao gồm thuốc kháng viêm giảm đau nhưng kết quả không khả quan mấy. Có rất nhiều phương pháp mổ xẻ nhằm mục tiêu cứu vãn chỏm xương đùi, động tác đơn giản nhất là khoan giải áp, phức tạp hơn có thể ghép xương xốp sau khi khoan, ghép mào chậu có cuống mạch hay xương mác có cuống mạch, nghĩa là bác sĩ sẽ khoan 1 đường hầm giải áp trong chỏm xương đùi, sau đó sẽ dùng một miếng xương có mạch máu nuôi đi theo đặt vào trong chỗ đường hầm với hy vọng là chỏm xương đùi sẽ có máu nuôi và sống lại. Lý thuyết là như thế nhưng kết quả khá hạn chế. Tuy nhiên, người ta vẫn tiến hành vì mục tiêu cứu lấy chỏm xương đùi.

Khi chỏm xương đùi đã hư hoàn toàn thì biện pháp cuối cùng để giải thoát cho bệnh nhân khỏi cơn đau và sự tàn phế là thay khớp háng. Thay khớp háng giúp bệnh nhân đi lại dễ dàng, không đau. Tuy nhiên, việc gì cũng có mặt trái của nó. Điều đầu tiên là khớp háng nhân tạo không thể tốt hơn chỏm xương đùi thật, bệnh nhân sẽ không được phép ngồi xổm hay bắt chéo chân, nguy cơ có thể bị trật khớp háng mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu từ các hãng dụng cụ để giảm thiểu tình trạng này. Thứ đến khớp háng nhân tạo có một tuổi thọ nhất định, sau một thời gian 10-15 năm sau khớp hư thì phải thay lại. Việc thay lại sẽ rất khó khăn và tốn kém do xương bị hư nhiều. Người mang khớp háng nhân tạo cũng giống như mang van tim nhân tạo cũng phải tránh để bị nhiễm trùng ở da, răng, miệng hay những nơi khác, vì khi đó vi khuẩn sẽ bám vào khớp háng nhân tạo gây ra nhiễm trùng và như thế thì rất tồi tệ.

Vì những biến chứng trên mà các bác sĩ cố gắng kéo dài thời gian sử dụng chỏm xương đùi thật càng lâu càng tốt, cho đến khi không còn cách nào khác thì sẽ thay chỏm. Ở nước ngoài, bệnh nhân được bảo hiểm trả nhưng ở Việt Nam thì việc thay khớp háng sẽ là một gánh nặng cho bệnh nhân vì giá khá cao. Tốt nhất có lẽ nên… bớt nhậu để giảm bớt nguy cơ hoại tử chỏm xương đùi và cũng là một trong những cách tiết giảm chi tiêu trong tình hình khủng hoảng kinh tế như hiện nay.

BS. Tăng Hà Nam Anh
Theo SKĐS

Co cứng xương khớp biến chứng tiểu đường ít được quan tâm

“Trước đây 1 năm, các ngón tay bắt đầu không tuân theo sự điều khiển, tôi chỉ ước sao các ngón tay có thể co vào, duỗi ra dễ dàng”.

Trong câu chuyện của mình, chị Nguyễn Thị T. – Đà Nẵng cho biết đã chung sống với bệnh tiểu đường 12 năm. Bạn bè cũng có vài người bị bệnh và đã gặp phải một vài biến chứng, với các dấu hiệu như: đau, tê bì, bỏng rát trên da, da khô và ngứa, dày sừng… Bản thân chị, mặc dù rất ý thức trong việc kiểm soát bệnh nhưng biến chứng vẫn đến gõ cửa. Vẫn biết đây là lẽ tự nhiên khi mắc bệnh tiểu đường, nhưng  khi các ngón tay bị co rút, tê bì và khó cử động, sự lo lắng của chị lớn lên từng ngày.

Trao đổi với chuyên gia Nội tiết – đái tháo đường về vấn đề này, ông cho biết: ở người bệnh tiểu đường lâu năm, có sẵn biến chứng mạch máu nhỏ, biến chứng thần kinh sẽ gây tổn thương mô liên kết dưới da dễ trở thành sẹo xơ làm cho các gân gấp ở lòng bàn tay dày lên, khiến bàn tay, các ngón bị co rút, cong quặp lại như bàn chân chim. Bệnh thường tiến triển âm thầm, lúc đầu không gây đau đớn cho đến khi ngón tay hoàn toàn cong gập và đau buốt. Tổn thương gây xơ hóa và co rút cũng có thể xảy ra ở bàn chân và thể hang bộ phận sinh dục nam. Việc điều trị các trường hợp này tương đối khó khăn và thường cho kết quả không như ý. Để ngăn ngừa và cải thiện biến chứng người bệnh cần điều chỉnh đường huyết thật tốt, đồng thời cần được sử dụng thuốc tác động đến các dẫn truyền thần kinh và lên cơ chế bệnh sinh là stress oxy hóa.

co-cung-xuong-khop-bien-chung-tieu-duong

Hiện nay, nhiều nước Châu Âu sử dụng Alpha lipoic acid (một chất chống oxy hóa mạnh) trong điều trị biến chứng thần kinh do đái tháo đường có hiệu quả. Ở Việt Nam hoạt chất này có trong TPCN Hộ Tạng Đường và được phối hợp với một số dược liệu có khả năng chống oxy hóa như Câu kỳ tử, Hoài sơn nhằm phòng ngừa và cải thiện biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra.

Chị Nguyễn Thị T sau nhiều tháng kiên trì sử dụng thêm Hộ Tạng Đường, tay bắt đầu bớt tê, các ngón cử động thoái mái hơn, đặc biệt tình trạng đau và cứng ở khớp vai, cổ cũng hết, quay cổ không phải xoay cả người nữa. Chị cho biết “điều mơ ước giản dị đã trở thành hiện thực vì bây giờ các ngón tay của tôi cử động không chỉ dễ dàng mà còn có thể múa được nữa”.

Nguyễn Mai

Theo SKDS

Viêm họng cấp ở trẻ em: Thuốc điều trị

Viêm họng cấp là bệnh chiếm tỷ lệ rất cao ở trẻ em với các triệu chứng khởi phát đột ngột, sốt cao 39 – 40°C, kèm theo là nuốt đau, rát họng, có thể kèm theo chảy nước mũi nhầy, ho khan… hay gặp vào mùa lạnh. Nguyên nhân có thể do virut hoặc vi khuẩn. Nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây biến chứng như viêm đường hô hấp trên, và nguy hiểm hơn là gây bệnh thấp tim (do  liên cầu khuẩn, một thủ phạm gây viêm họng kích thích cơ thể sản xuất ra các kháng thể gây ảnh hưởng đến tim, khớp, thần kinh và gây nên bệnh thấp tim).

viem_hong_cap_o_tre_em_thuoc_dieu_tri

Viêm họng cấp nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng. Ảnh: H. Mai

Thuốc điều trị viêm họng cấp do vi khuẩn

Khi xác định viêm họng do vi khuẩn mới cần dùng đến kháng sinh. Một số loại kháng sinh thường dùng như rovamycin (spiramycin), nhóm kháng sinh bezylpenicillin (amoxycyllin, augmentin).

Khi dùng thuốc cần chú ý tới các tác dụng phụ của thuốc: spiramycin hiếm khi gây tác dụng không mong muốn nghiêm trọng. Thường gặp hiện tượng trên tiêu hóa như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, khó tiêu (khi dùng đường uống) hoặc kích ứng tại chỗ tiêm (khi dùng đường tiêm). Amoxycylin, augmentin (amoxycylin + clavulanate) có thể gây ngoại ban da, buồn nôn, nôn, tiêu chảy. Khi xuất hiện mày đay, các dạng ban khác phải ngừng dùng thuốc và thông báo cho bác sĩ biết để có cách xử trí phù hợp.

Có thể dùng phương pháp xông họng, khí dung bằng các loại thuốc kháng sinh hoặc kháng viêm. Một số trường hợp viêm họng mạn tính có thể đốt họng bằng  laser CO2 hoặc nito bạc…

Thuốc điều trị viêm họng cấp do virut

Trường hợp viêm họng do virut không cần dùng thuốc kháng sinh. Một số nhóm thuốc có thể dùng trong trường hợp này:

– Thuốc hạ sốt: paracetamol, efferalgan, aspegic… chỉ dùng khi nhiệt độ trên 38°C và sau mỗi 4 – 6 giờ mới được dùng lại thuốc.

– Thuốc giảm ho: có thể dùng siro phenergan, ho bổ phế, atussin, theralen…

– Nhóm thuốc có tác dụng giảm ngứa, giảm rát họng như viên (hoặc siro) rhinathiol, các loại thuốc ngậm như lysopaiin, súc họng bằng nước muối sinh lý.

– Thuốc làm giảm phù nề chống viêm, tan đờm như alpha-chymotrypsin, mucomyst, mucosoval…

Ngoài ra, có thể nâng cao thể trạng bằng cách bổ sung vitamin như vitamin C…

Lưu ý: Với trẻ dưới 1 tuổi khi bị sốt, có thân nhiệt trên 38oC cần cho trẻ  đi khám, vì trẻ sốt cao dễ dẫn tới co giật. Khi dùng thuốc cần cho trẻ uống đúng thuốc, đủ liều, đúng thời gian theo đúng chỉ định của bác sĩ. Không được tự ý mua kháng sinh điều trị. Vì điều trị không đúng sẽ để lại tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh, làm cho các lần điều trị sau này sẽ gặp nhiều khó khăn.

Dược sĩ Hoàng Thu Thủy
Theo SKĐS

Chịu đựng cơn tức ngực coi chừng ung thư thực quản

Tức ngực, có cảm giác nghẹn khi ăn uống, đến khi không thể nuốt được ông Minh 52 tuổi mới đến bệnh viện khám, phát hiện một khối u to trong thực quản.

chiu-dung-con-tuc-nguc-co-nguy-co-ung-thu-thuc-quan

Bệnh nhân vào khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP HCM) trong tình trạng nôn ra máu. Hai tháng trước, người bệnh thấy tức ngực, nuốt nghẹn khi ăn uống nhưng không đi khám vì cho là không quan trọng.

Nghi ngờ có khối u, bác sĩ nội soi cấp cứu cho bệnh nhân và phát hiện khối u thực quản cứng, trên bề mặt khối u có vết loét sâu đang chảy máu tươi. Đây là một trường hợp ung thư thực quản có biến chứng xuất huyết tiêu hóa.

Ông Minh không phải là trường hợp duy nhất nhập viện khi bệnh đã diễn tiến nặng. Nhiều bệnh nhân khi đến bệnh viện thì khối u đã quá to, gây biến chứng, thậm chí di căn khiến việc điều trị trở nên khó khăn.

Ung thư thực quản là bệnh lý có khối u ác tính trong lòng thực quản (ống nối từ họng xuống dạ dày có nhiệm vụ đưa thức ăn từ miệng xuống dạ dày). Bệnh không phổ biến như ung thư dạ dày nhưng tỷ lệ tử vong cao.

Loại ung thư này thường gặp ở đàn ông trung niên (trên 50 tuổi). Bệnh nhân thường không có triệu chứng, hoặc chỉ nuốt đau, nuốt vướng hay đau ngực khi ăn uống. Các triệu chứng này không rõ ràng và thoáng qua, nên rất dễ bị bỏ qua. Bệnh nhân ít chú ý các triệu chứng này và thường không đi khám bệnh, thậm chí một số trường hợp bác sĩ phải hỏi kỹ, bệnh nhân mới nhớ ra các triệu chứng này đã có từ vài tháng trước.

Bệnh nhân thường cảm giác mắc nghẹn, không thể nuốt thức ăn vào được hoặc có cảm giác có cục gì chặn lại giữa cổ họng rất khó chịu. Nếu cố gắng nuốt sẽ cảm giác bị ngạt thở, tức ngực, thậm chí bị ọe ngược ra. Triệu chứng ban đầu có thể chỉ là nghẹn với thức ăn to, cứng, sau đó sẽ đến thức ăn mềm hơn cũng nghẹn, khi bệnh tiến triển thì thức ăn lỏng như cháo cũng nghẹn, thậm chí nước uống cũng mắc. Khi có triệu chứng nuốt nghẹn là bệnh đã tiến triển, khối u đã lớn và làm hẹp lòng thực quản ít nhất 50%.

Biến chứng của ung thư thực quản chủ yếu là suy kiệt dần do không ăn uống được. Ung thư thực quản có thể chèn ép xâm lấn khí phế quản nằm bên cạnh gây khó thở. Ung thư thực quản có thể xâm lấn tạo một đường dò từ thực quản sang khí phế quản (đường dẫn khí từ mũi họng xuống phổi) làm bệnh nhân bị ho sặc thường xuyên hoặc gây viêm phổi.

Biến chứng xuất huyết tiêu hóa thường rất ít gặp, triệu chứng chủ yếu là đi cầu phân đen hoặc ói ra máu. Cuối cùng bệnh càng ngày càng tiến triển và di căn phổi, di căn xương, di căn gan.

Hiện không xác định rõ ràng nguyên nhân gây ung thư thực quản. Các yếu tố nguy cơ như uống nhiều rượu, hút nhiều thuốc lá, ăn thức ăn có nhiều chất nitrates (trong thành phần của đồ hộp, thịt nguội), thói quen ăn uống đồ nóng, nhất là uống trà nóng, chế độ ăn thiếu một số chất vi lượng như kẽm, vitamine A. Người bị viêm loét thực quản do tự tử bằng hóa chất trước đó (nhất là thuốc tẩy); người bệnh trào ngược dạ dày thực quản kéo dài.

Điều trị triệt để ung thư thực quản giai đoạn tiến triển có kết quả rất hạn chế do người bệnh nhập viện muộn. Các phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt đoạn thực quản ung thư, hóa trị và xạ trị hỗ trợ trước phẫu thuật có thể làm tăng tỷ lệ thành công của điều trị. Trong trường hợp bệnh đã tiến triển quá giai đoạn phẫu thuật, việc điều trị chỉ giúp giải quyết triệu chứng bằng cách đặt ống thông (stent) trong thực quản qua nội soi làm bớt hẹp lòng quản giúp bệnh nhân ăn uống được.

Nếu phát hiện ở giai đoạn sớm, điều trị bằng phẫu thuật sẽ cho kết quả tốt. Có thể dùng phương pháp mới là nội soi cắt bỏ lớp bề mặt trên cùng của vùng ung thư khi khối u còn nhỏ và chưa ăn sâu vào các lớp bên dưới. Phương pháp này được gọi là “Cắt hớt niêm mạc qua nội soi”.

Để phòng tránh ung thư thực quản, mọi người nên bỏ rượu và thuốc lá, tránh ăn nhiều đồ hộp, bỏ thói quen ăn thức ăn còn quá nóng, uống trà quá nóng, ăn nhiều rau xanh. Người đã có tiền sử mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản, nên tuân thủ điều trị của bác sĩ và tái khám theo định kỳ.

Nội soi dạ dày là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán bệnh. Khi có bất kỳ triệu chứng khó chịu như đau bụng, khó tiêu, đầy hơi, ợ chua, ợ ngược, nóng rát ngực hay cảm giác vướng cổ, nuốt vướng nên đi khám bệnh và nội soi. Người đã có tiền sử mắc bệnh trào ngược dạ dày thực quản kéo dài càng nên đi khám sớm.

Thạc sĩ – Bác sĩ Trần Ngọc Lưu Phương
Phó khoa Nội tiêu hóa – Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Theo giadinh

Dậy thì sớm ở trẻ em

Thời còn làm nội trú ở Pháp, tôi đã gặp trường hợp một bé gái sáu tuổi nhập viện vì bụng to. Ban đầu các bác sĩ cho rằng bé đang mang khối u trong bụng. Nhưng sau khi siêu âm, bác sĩ và gia đình bé thật sự bất ngờ khi phát hiện bé đang mang thai. Sự thật, đứa bé trên đã bị dậy thì  trước tuổi thông thường, và bé đã bị lạm dụng tình dục nhưng không hề hay biết hay nhận thức về những chuyện đã xãy ra với cháu…

day_thi_som_o_tre_em

Dậy thì sớm – nhiều nguyên nhân dẫn đến…

Bình thường ở trẻ gái (10-13 tuổi) và trẻ trai (11- 14 tuổi), cơ thể có sự thay đổi để chuyển sang giai đoạn dậy thì. Nhưng, một bé gái chỉ mới 2, 3 tuổi đã có những phát triển bất thường như ngực to, xuất hiện kinh nguyệt, lông vùng mu, vùng nách thì rõ ràng là dấu hiệu đáng lo. Hầu hết người bố, người mẹ nào khi nhận thấy những thay đổi đột ngột ở cơ thể của con mình, đều bàng hoàng, lo lắng, chạy khắp nơi tìm cách chữa trị bệnh cho con. Có nhiều trường hợp đưa đến bệnh viện trong tình trạng muộn màng vì không thể chẩn đoán đúng bệnh cho trẻ.

Bệnh dậy thì sớm có rất nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân có thể được gọi là ngoại biên như khối u buồng trứng, u tinh hoàn, u hoặc tăng sinh tuyến thượng thận. Nguyên nhân trung ương có thể là u não, hoặc do quá trình xạ trị, phẫu thuật trước đó gây nên, hoặc sau nhiễm trùng hệ thần kinh.

Ngoài ra, dậy thì sớm chưa xác định được nguyên nhân, hay còn gọi là vô căn, cũng được xếp trong nhóm do nguyên nhân trung ương.

Biến chứng cũng không ít.

Thông thường, dậy thì sớm khi xuất hiện các dấu hiệu dậy thì trước tám tuổi (bé gái), và trước chín tuổi (bé trai). Bệnh cần được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, do các sụn tăng trưởng tăng hoạt động, trẻ sẽ phát triển rất nhanh nhưng sẽ sớm ngừng tăng trưởng. Đây cũng là lý do làm cho trẻ bị lùn sau này.

Bên cạnh những biến chứng nặng do nguyên nhân gây ra như trong bệnh cảnh khối u ở não, u buồng trứng, u tuyến thượng thận…, trẻ còn có thể bị ức chế tâm lý do các bất thường xảy ra ở lứa tuổi mà trẻ cùng lứa không có như ngực to, có kinh sớm, xuất hiện lông ở mu, nách, giọng nói bị vỡ (trẻ trai)…Trẻ có thể lo lắng, rụt rè do bị tách biệt, cô lập bởi bạn bè.

Tuy có sự phát triển sớm về thể chất, nhưng trẻ chưa đủ lý trí để nhận biết và ý thức được những hành động quấy rối, nên có thể bị lạm dụng tình dục. Trẻ gái có nguy cơ mang thai mà cha mẹ, người lớn không hề hay biết.

Điều trị nguyên nhân là chủ yếu.

Chữa trị cho một đứa trẻ bị dậy thì sớm phụ thuộc vào nguyên nhân gây nên. Các bác sĩ sẽ tiến hành làm xét nghiệm để chẩn đoán nguyên nhân và tùy theo nguyên nhân mà chữa trị. Cần xem xét từng trường hợp một.

Đặc biệt đối với những trường hợp do nguyên nhân trung ương, thì có thể dùng thuốc LH – RHa làm chậm quá trình dậy thì của trẻ.

Thuốc LH-RHa cần có chỉ định của các bác sĩ chuyên khoa. Không nên lạm dụng thuốc khi không đúng chỉ định do các biến chứng có thể có về sau này. Việc xác định bệnh, cũng như quyết định điều trị cần được cân nhắc kỷ lưỡng.

Đăng bởi: TS.BS.Trần Thị Mộng Hiệp – Trưởng khoa Thận nội tiết
Theo benhviennhi.org.vn

Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ nhỏ

Xuất huyết giảm tiểu cầu (XHGTC) là một trong những bệnh lý thường gặp ở trẻ em, nhất là ở lứa tuổi từ 2 – 9 tuổi. Vì thế những hiểu biết về bệnh này sẽ rất cần thiết cho các bậc cha mẹ có con nhỏ.

xuat_huyet_giam_tieu_cau_o_tre_nho

Bệnh biểu hiện như thế nào?

Bệnh thường biểu hiện bằng tình trạng xuất huyết dưới da (dạng chấm, dạng mảng bầm, có thể rải rác ở tay chân hay lan rộng toàn thân), xuất huyết niêm mạc (chảy máu mũi, máu chân răng), trường hợp nặng có thể xuất huyết nội tạng (đi tiêu ra máu) hoặc xuất huyết não tuy tỷ lệ thấp (1%) nhưng rất nguy hiểm.

Bệnh gây ra do tình trạng phá hủy tiểu cầu trong máu lưu hành, làm giảm số lượng tiểu cầu. Số lượng tiểu cầu < 150.000/mm3. (bình thường từ 150.000 – 300.000/mm3 máu) mà tiểu cầu là yếu tố quan trọng trong việc cầm máu và đông máu.

XHGTC do nguyên nhân nào gây ra?

Rất phức tạp. Các nguyên nhân xác định được như:

1/ Giảm sản xuất :

Do bẩm sinh,

Do di truyền

Hoặc do mắc phải : suy tủy, xâm lấn tủy.

Xét nghiệm tủy đồ là cách xác định chính xác nhất.

2/ Tăng hủy tiểu cầu :

Các bệnh tự miễn (ban đỏ rải rác, viêm nút động mạch, viêm đa khớp dạng thấp). Hội chứng tán huyết tăng urê huyết.

Đông máu nội mạch lan tỏa. Bướu máu, cường lách ..

3/ Phối hợp :

Do bị các bệnh nhiễm trùng nặng, Nhiễm trùng huyết, thương hàn.nhiễm ký sinh trùng (sốt rét…), nhiễm siêu vi trùng (cúm, sởi, quai bị, viêm gan siêu vi…).

Nhiễm độc.

Ngoài ra, còn phải kể đến các trường hợp giảm tiểu cầu do thuốc sinh, thuốc kháng viêm không-steroid, sau chủng ngừa.

Nhiều trường hợp giảm tiểu cầu không xác định được nguyên nhân còn gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn. Ngày nay, có nhiều bằng chứng kết luận do nguyên nhân tự miễn, nên còn gọi là giảm tiểu cầu miễn dịch (PTT).

Triệu chứng

Nhẹ: Xuất huyết dưới da dưới dạng chấm nhỏ li ti, dạng nốt như muỗi đốt hoặc thành đám, mảng lớn, khu trú ở một vài nơi hoặc rải rác khắp người; xuất huyết niêm mạc như chảy máu nướu răng, chảy máu cam, giác mạc.

Nặng: Có thể xuất huyết bất kỳ nơi nào như chảy máu đường tiêu hóa; tiết niệu, sinh dục…

Biến chứng nguy hiểm nhất là xuất huyết não – màng não.

Ở trẻ em, nguyên nhân nhiễm siêu vi là chủ yếu, do đó bệnh thường tự giới hạn trong khoảng 1 – 2 tuần, nhiều trường hợp không cần điều trị đặc hiệu.

Tuy nhiên có một số trường hợp nếu không được nhập viện điều trị, số lượng tiểu cầu trong máu giảm nặng, sẽ có nguy cơ xuất huyết ồ ạt, nguy hiểm nhất là xuất huyết não, có thể gây tử vong hoặc đưa đến những di chứng suốt đời.

Do đó, đứng trước các biểu hiện xuất huyết mô tả ở trên, phụ huynh cần sớm đưa trẻ tới cơ sở y tế, để trẻ được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Điều trị :

– Khi làm các thủ thuật chọc dò, phẫu thuật, nhổ răng phải có sự chuẩn bị kỹ.

Tại bệnh viện, tùy theo mức độ nặng của bệnh (căn cứ vào vị trí xuất huyết, số lượng tiểu cầu thực tế) để có hướng điều trị thích hợp.

– Truyền tiểu cầu chỉ là phương thức điều trị thay thế, tạm thời để cầm máu hoặc đề phòng biến chứng xuất huyết nặng, nguy hiểm có thể xảy ra.

1. Các trường hợp có căn nguyên: Ðiều trị chủ yếu theo căn nguyên.

2. Các trường hợp không có căn nguyên (PTI): Các loại corticoides là thuốc lựa chọn

Tùy theo độ nặng của bé mà dùng thuốc.

– Ở những trường hợp nhẹ hơn, thường dùng Prednison liều 1 – 2 mg/kg/ngày trong 5 – 10 ngày, sau đó giảm liều dần và ngưng hẳn. Có thể sử dụng thêm các thuốc làm bền thành mạch như Dicynone, Madécassol, vitamin C.

Ở trẻ em, đa số các XHGTC hồi phục hoàn toàn, không để lại di chứng sau thời gian điều trị, nhưng vẫn có một tỉ lệ nhỏ (10%) có thể diễn tiến sang mãn tính (kéo dài trên 6 tháng dù được điều trị). Những trường hợp này, trẻ cần được theo dõi và điều trị ở trung tâm chuyên khoa sâu, có thể phải sử dụng các biện pháp điều trị mạnh hơn như thuốc ức chế miễn dịch, cắt lách.

Một điều phụ huynh cần lưu ý ở những trẻ bị bệnh này là cần tránh tiêm bắp, cắt lể, sử dụng các thuốc làm giảm chức năng tiểu cầu như Aspirin, thuốc kháng viêm không steroid.

Đăng bởi: BS Nguyễn Văn Tân Minh – Khoa Huyết Học
Theo benhviennhi.org.vn

Tìm hiểu bệnh thoát vị bẹn ở trẻ em

Một bệnh lý đơn giản ở trẻ em, nhưng có thể gây những biến chứng nguy hiểm cần được phụ huynh lưu tâm.

Bé T.H.T., 9 tháng tuổi, được cha mẹ đưa vào viện cấp cứu vì một khối phồng căng cứng và đau ở vùng bẹn trái. Các bác sĩ chẩn đoán bé bị thoát vị bẹn trái có biến chứng nghẹt ruột và chỉ định mổ cấp cứu, đẩy ruột lại vào ổ bụng, kèm cột cắt ống phúc tinh mạc là chỗ ruột sa xuống.

Khai thác bệnh sử cho thấy khi bé khóc hay cười to kèm vận động mạnh thì người nhà cũng ghi nhận có khối phồng ở bẹn nhưng nghĩ chắc không sao nên bỏ qua triệu chứng này. Qua trường hợp này, bác sĩ Vũ Trường Nhân, khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết thêm các thông tin về bệnh lý này.

tim_hieu_benh_thoat_vi_ben_o_tre_em

* Thoát vị bẹn là gì?

– Trong thời kỳ phôi thai, vào khoảng tháng thứ bảy, khi tinh hoàn di chuyển xuống bìu sẽ kéo theo nếp phúc mạc tạo thành một túi dạng ống gọi là ống phúc tinh mạc. Bình thường khi trẻ sinh ra, thì ống này đóng lại, nếu ống này không đóng lại sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan trong ổ bụng (thường là ruột) chui xuống ống làm thành một khối phồng ở vùng bẹn, gọi là bệnh lý thoát vị bẹn ở trẻ trai và thoát vị ống nuck ở trẻ gái.

* Tỉ lệ trẻ bị thoát vị bẹn là bao nhiêu và thường gặp ở giới nào?

– Bệnh chiếm 0,8-4,4% bệnh lý ở trẻ em. Ở trẻ sinh non tần suất còn cao hơn, đến 30% tùy theo tuổi thai.

Bệnh gặp ở cả hai giới nhưng bé trai có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn bé gái 3-10 lần.

* Bệnh lý này có ở một bên hay hai bên bẹn?

– Bệnh có thể xảy ra ở một bên hoặc cả hai bên bẹn của trẻ, thường gặp ở bên phải (60%) hơn so với bên trái (25%), hoặc có khi bé bị cả hai bên (15%).

* Bệnh có thể tự hết? Nếu không điều trị sẽ gây biến chứng gì?

– Thoát vị bẹn ở trẻ con là bệnh lý bẩm sinh, không tự hết. Nếu không điều trị sẽ xảy ra biến chứng nghẹt dẫn đến các hậu quả sau:

– Ruột, buồng trứng (ở trẻ gái) trong ổ bụng có thể chui vào ống phúc tinh mạc gây nghẹt dẫn đến hoại tử ruột, buồng trứng nếu không được mổ kịp thời.

– Tổn thương tinh hoàn: mạch máu nuôi tinh hoàn bị chèn ép do nội tạng bị nghẹt.

* Các dấu hiệu nhận biết bệnh lý này?

– Thoát vị bẹn biểu hiện bằng một khối phồng vùng bẹn bìu ở trẻ trai và vùng gần âm môi ở trẻ gái. Khối phồng này thường xuất hiện to hơn khi bé khóc, rặn đại tiện hay sau vận động mạnh như chạy nhảy, thể dục. Khi trẻ nghỉ ngơi hay nằm thì khối thoát vị có thể tự chui vào ổ bụng trở lại, lúc đó nhìn bé lại như bình thường.

* Làm sao biết được thoát vị bẹn bị nghẹt?

– Vùng bẹn của trẻ có một khối phồng căng cứng, sờ đau và có thể bé không cho sờ. Đa số các bé nhập viện với tình trạng bứt rứt, quấy khóc than đau (với trẻ lớn) và bỏ bú, nôn ói (trẻ nhỏ). Thường thì ghi nhận có khối phồng lên xẹp xuống ở vùng bẹn trước đó ở trẻ, nay khối phồng căng và không xẹp lại như mọi khi.

* Độ tuổi nào thì phẫu thuật được? Sẹo mổ có to, thời gian lành bệnh?

– Cho đến nay phẫu thuật là phương pháp duy nhất giải quyết bệnh lý này. Khuynh hướng hiện nay là giải quyết sớm khi phát hiện bệnh để đề phòng biến chứng nghẹt. Nghĩa là mọi lứa tuổi (trừ trường hợp bé sinh non hoặc có bệnh lý nặng đi kèm) đều có thể phẫu thuật thoát vị bẹn. Đường mổ nhỏ khoảng 3-4cm ở vùng nếp gấp bẹn, rất khó thấy và đảm bảo tính thẩm mỹ. Thông thường vết mổ sẽ lành và được cắt chỉ sau bảy ngày.

* Thế còn thủy tinh mạc thì sao?

– Thủy tinh mạc hay dái nước cũng là một dạng giống thoát vị bẹn, nhưng thay vì các tạng chui xuống ống phúc tinh mạc thì ở đây chỉ là nước. Bệnh có thể tự khỏi khi trẻ được 12-18 tháng nên không cần điều trị trong giai đoạn này. Sau hai tuổi, nếu bìu vẫn còn nước thì có chỉ định mổ và cách thức mổ cũng như thoát vị bẹn.

* Điều trị bệnh ở đâu?

– Các bệnh viện nhi có khoa ngoại như Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2. Đây là một bệnh lý tương đối đơn giản nên có thể thực hiện phẫu thuật và về trong ngày tại hai bệnh viện nói trên.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại Nhi Đồng 2
Theo benhviennhi.org.vn

Những điều cần biết về viêm ruột thừa

Bé gái N.T.D, 13 tuổi, đau bụng 1 ngày vùng bụng dưới kèm theo sốt nhẹ, tiêu lỏng. Vì gần ngày hành kinh nên bé tưởng mình bị đau bụng kinh, ráng chịu đựng và không nói với cha mẹ. Đến khi hết chịu nổi, bé mới nói và được gia đình đưa đi khám phát hiện ra bé bị viêm ruột thừa hóa mủ. Bé trai T.T.L, 5 tuổi, đau bụng vùng quanh rốn 2 ngày nay , có sốt, buồn nôn và tiêu chảy 2-3 lần/ngày, gia đình tưởng bé bị rối loạn tiêu hóa nên có tự dùng thuốc ở nhà. Sau uống thuốc 1 ngày mà bé vẫn còn đau bụng đồng thời sốt nhiều hơn, bụng gồng cứng, gia đình đưa bé vào khám mới hay bé bị viêm ruột thừa vỡ gây tình trạng nhiễm trùng khắp ổ bụng. Cả 2 bé đều được nhập viện và phẫu thuật cấp cứu kịp thời trong đêm.

Viêm ruột thừa ở trẻ em là 1 bệnh lý khá phổ biến, gần như ngày nào khoa ngoại cũng tiếp nhận và phẫu thuật cho 2-3 trường hợp viêm ruột thừa. Trong đó, có những trường hợp viêm ruột thừa chưa có biến chứng, mổ xong bé hồi phục rất nhanh; nhưng cũng có những trường hợp viêm ruột thừa khi nhập viện đã có biến chứng như vỡ, abces ruột thừa, mủ lan tràn khắp ổ bụng, mổ xong hậu phẫu còn nhiều sóng gió, thời gian nằm viện lâu, gây nhiều thắc mắc cho thân nhân của bé.  Nhiều cha mẹ của bé thắc mắc tại sao không mổ sớm, tại sao để ruột thừa vỡ, tại sao phải mổ lại …Bài viết nhỏ sao nhằm trả lời 1 phần nào các thắc mắc hầu làm cho công tác điều trị giữa nhân viên y tế và thân nhân được tốt hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_01

Ruột thừa là gì và ở đâu?

Ruột thừa là một bộ phận nhỏ như ngón tay cái nằm ở phía dưới bên phải của bụng, có 1 đầu bịt kín, đầu kia thông với manh tràng(đoạn đầu tiên của ruột già).

Nguyên nhân gây viêm ruột thừa?

Nếu vì 1 nguyên nhân nào đó làm cho lòng ruột thừa bị tắt nghẽn ( do sỏi phân, quá sản tổ chức limpho ở thành ruột thừa, dị vật..) sẽ khiến cho ruột thừa bị sưng lên và nhiễm trùng, tạo thành ruột thừa viêm.

Biến chứng của viêm ruột thừa?

Nếu không điều trị, ruột thừa có thể bị hoại tử, vỡ ra, vi khẩn tăng sinh làm mủ lan tràn ổ bụng gọi là  viêm phúc mạc gây nhiễm khuẩn huyết (nhiễm trùng máu), suy đa cơ quan và cuối cùng là tử vong.

Viêm ruột thừa xảy ra ở lứa tuổi nào?

Viêm ruột thừa có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, thậm chí cả trẻ 3-4 tuổi. Những trường hợp này rất khó chẩn đoán vì trẻ chưa có khả năng diễn đạt rõ ràng tình trạng đau của mình và không dễ phân biệt với các bệnh lý có triệu chứng đau bụng khác. Đặc biệt, viêm ruột thừa ở trẻ tiến triển rất nhanh và có thể vỡ dễ dàng . Do vậy việc phát hiện và chẩn đoán sớm viêm ruột thừa để phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa bị viêm là rất cần thiết nhằm tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra. Đồi với các trường hợp ruột thừa khó, đau không điển hình, khi không loại trừ được viêm ruột thừa, đôi khi bác sĩ phải quyết định mổ thám sát , tránh trường hợp xấu nhất là ruột thừa vỡ gây biến chứng viêm phúc mạc.

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa?

Triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa là đau vùng bụng dưới bên phải ( còn gọi là hố chậu phải). Kiểu đau của viêm ruột thừa thường bắt đầu ở vùng quanh rốn trước khi khu trú ở hố chậu phải.Tuy nhiên với trẻ em, điểm đau rất khó xác định vì trẻ đa phần gặp bác sĩ là sợ, kêu khóc, không miêu tả được là đau ở đâu, thậm chí khám bụng chỗ nào cũng kêu đau. Trẻ bị viêm ruột thừa  thường có môi khô, lưỡi dơ biểu hiện tình trạng nhiễm trùng. Phần lớn trẻ có sốt nhẹ, giao động 38-38,5 độ C nhưng có khi trẻ không có triệu chứng này, chỉ khi đoạn ruột thừa viêm bị vỡ thì mới sốt. Ngoài ra, bé sẽ có tình trạng mệt mỏi, chán ăn, bụng chướng do ruột bị kích thích kèm theo buồn nôn, nôn ói. Tiêu chảy có thể có hoặc không, nhưng nếu có sẽ làm tăng khả năng chẩn đoán. Biểu hiện nôn và tiêu chảy ở trẻ viêm ruột thừa cũng dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa.

Siêu âm có giúp chẩn đoán viêm ruột thừa?

Siêu âm là 1 cận lâm sàng tốt, không xâm lấn và không gây hại. Siêu âm với tay nghề tốt của người đọc có thể thấy được hình ảnh ruột thừa to hơn bình thường, có khả năng là viêm, thấy được dịch trong ổ bụng, thấy được buồng trứng ở bé gái…giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt nhiều loại bệnh lý khác nhau có cùng triệu chứng là  đau bụng. Nhưng các biện pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu âm không phải lúc nào cũng phát hiện tổn thương viêm ruột thừa mà tùy thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. Do đó, siêu âm nên được xem là 1 công cụ hổ trợ trong công tác theo dõi viêm ruột thừa chứ không phải là tiêu chuẩn vàng quyết định viêm ruột thừa. Chẩn đoán viêm ruột thừa cần chủ yếu dựa vào lâm sàng (các triệu chứng của bệnh ) kết hợp với nhiều lần thăm khám bệnh của bác sĩ và siêu âm hỗ trợ.

Trường hợp nào nên nghi ngờ trẻ bị viêm ruột thừa

Đúc kết lại, bác sĩ lưu ý các dấu hiệu sau ở 1 trẻ có khả năng bị viêm ruột thừa:

– Đau bụng vùng quanh rốn, hố chậu phải.

– Sốt nhẹ.

– Buồn nôn và nôn.

– Tiêu lỏng.

– Bụng chướng.

Các triệu chứng này có thể xuất hiện không đầy đủ. Do đó các bậc phụ huynh cần đưa con  khám nếu trẻ đau bụng nhiều, không giảm sau 1-2 giờ, kèm theo nôn, đi lỏng hoặc sốt để được theo dõi tại bệnh viện vì việc theo dõi ở nhà rất nguy hiểm. Ngoài ra, các bậc phụ huynh không nên tự ý dùng thuốc giảm đau cho trẻ nếu trẻ đau bụng mà chưa xác định được nguyên nhân vì thuốc có thể làm mất các triệu chứng bệnh và gây khó khăn cho việc chẩn đoán của bác sĩ.

Mổ viêm ruột thừa xong là ổn?

Tùy thuộc vào mức độ viêm của ruột thừa mà sau khi mổ xong có còn các biến chứng gì khác không. Nếu là viêm ruột thừa cấp ( mới chớm viêm trong vòng 6 tiếng), viêm ruột thừa mủ thì khả năng biến chứng sau mổ là rất thấp. Nhưng đối với các trường hợp viêm phúc mạc ruột thừa thì do mủ lan tràn khắp ổ bụng nên biến chứng tắc ruột do các dây dính tạo thành sau mổ là rất cao. Nhiều trường hợp tắc ruột phải mổ lại để gỡ các dây dính này.

Thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa?

Rất khó có 1 thời gian biểu chung cho thời gian nằm viện của trẻ bị viêm ruột thừa vì đôi khi còn tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của trẻ trước đó và các bệnh lý đi kèm của trẻ. Nhưng tựu chung thì các viêm ruột thừa cấp và hóa mủ thì thời gian nằm viện khoảng 1 tuần, còn viêm phúc mạc ruột thừa thì khoảng 2 tuần.

Mổ ruột thừa nội soi hay mổ mở tốt?

Nhiều nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa mổ nội soi và mổ mở về mặt biến chứng. Nhưng mổ ruột thừa nội soi là 1 bước tiến mới trong tiếp cận mổ viêm ruột thừa, nhất là đối với các trẻ có thể trạng mập. Trẻ sau mổ sẽ bớt đau hơn mổ thông thường do ít phải cắt cơ, quan sát được toàn thể ổ bụng, thời gian hồi phục nhanh hơn và sẹo mổ thẩm mỹ hơn.

nhung_dieu_can_biet_ve_viem_ruot_thua_02

Hình ảnh ruôt thừa viêm qua ống kính nội soi.

Đăng bởi: BS Trương Anh Mậu, khoa ngoại
Theo benhviennhi.org.vn

Thuốc trị viêm kết mạc dị ứng

Viêm kết mạc dị ứng gây khó chịu với các biểu hiện như: nhìn mờ nhất thời, cảm giác khô rát, khó mở mắt buổi sáng, chảy nước mắt, ra gỉ nhiều, mắt bị ngứa, kích thích, cảm giác có sạn trong mắt… người bệnh thường hay có phản ứng dụi hoặc gãi… Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc.

thuoc_tri_viem_ket_mac_di_ung

Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh này bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. 80% bệnh nhân là những người trẻ, đang độ tuổi lao động.

Sử dụng thuốc trong trường hợp này sẽ giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte loại nhỏ mắt như opconA, allergysal…

Cyclosporine loại nhỏ mắt tỏ ra an toàn và khá hiệu quả đã được dùng khoảng 7 năm nay, dành cho nhóm bệnh nhân khó tính hơn. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glocom, đục thủy tinh thể. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ khi bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương
Theo SKDS

Viêm kết mạc – họng – hạch: Dễ nhầm với đau mắt đỏ và gây biến chứng

Bệnh đau mắt đỏ năm nay xảy ra sớm hơn và đang bùng phát mạnh trong cộng đồng nhưng nhiều người vẫn chủ quan, cho rằng bệnh tự khỏi, đã dẫn đến những biến chứng khó lường.

Bùng phát bệnh đau mắt đỏ

Bệnh đau mắt đỏ thường xảy ra vào tháng 4-7 hàng năm. Tuy nhiên, năm nay dịch bệnh này đến sớm hơn. Hiện nay, trung bình mỗi ngày khoa Khám bệnh (Bệnh viện Mắt T.Ư) tiếp nhận 60-100 bệnh nhân, trong đó 30% bị đau mắt đỏ. Bệnh lây lan nhanh, chỉ qua tiếp xúc trực tiếp như bắt tay, quan hệ tình dục, hoặc tiếp xúc với những vật đã bị nhiễm mầm bệnh như dùng chung đồ sinh hoạt, khăn mặt, nước bể bơi… hay qua đường hô hấp như ho, hắt hơi…

viem_ket_mac_hong_hach_de_nham_voi_dau_mat_do_va_gay_bien_chung

Khi bị đau mắt đỏ, cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Ảnh: Hoàng Hà

Khi có những triệu chứng mắc bệnh, bệnh nhân không được tự ý điều trị, cần đến thăm khám tại các bệnh viện chuyên khoa để được bác sĩ tư vấn cách điều trị. Bệnh nhân cũng có thể sử dụng nước muối sinh lý để rửa mắt và tra thuốc kháng sinh loại nhẹ để phòng bội nhiễm.

Cẩn trọng với viêm kết mạc – họng – hạch

Bệnh đau mắt đỏ nếu gặp phải virut adenovirut có thể gây những biến chứng nguy hiểm. Bệnh có sự liên kết của nhiều bộ phận như viêm kết mạc ở mắt, đau họng và lên hạch trước tai nên được gọi là viêm kết mạc – họng – hạch. Rất nhiều người nhầm lẫn với bệnh viêm kết mạc thông thường, nên khi thấy mắt đỏ chỉ nghĩ bị đau mắt hoặc thấy khan giọng thì nghĩ đau họng.

Người bị viêm kết mạc – họng – hạch có thể thấy xuất hiện một số triệu chứng như toàn thân sốt nhẹ, viêm mũi – họng, nổi hạch trước tai. Thông thường khi bị viêm kết mạc – họng – hạch thì virut có thể tấn công cùng lúc ở cả mắt, họng và làm nổi hạch.

Người bệnh sẽ có cảm giác khó chịu, chảy nước ở mắt, sợ ánh sáng, mỗi khi nuốt nước bọt họng lại đau và nổi hạch luôn. Đồng thời vành mi trên, đặc biệt là mi dưới xuất hiện nhiều hột to mọc thành dãy, xuất hiện nhanh và thoái hoá phát triển nhanh trong vòng 6 ngày không để lại sẹo.

Khác với đau mắt đỏ thông thường, bệnh này thường lây nhiễm chủ yếu qua đường hô hấp như ho, hắt hơi vì vậy người bệnh cũng cần phải đeo khẩu trang tránh lây nhiễm cho người khác.

Thường bệnh chỉ diễn ra từ 5-7 ngày, nhưng sau một thời gian nếu không được điều trị kịp thời có thể gây nhiều biến chứng về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi… Do đó, khi thấy có triệu chứng bệnh cùng lúc ở mắt, họng và nổi hạch cần đến ngay các cơ sở chuyên khoa về mắt và họng để khám và có cách điều trị kịp thời.

BS. Hồng Hạnh
Theo SKDS

Điều trị bệnh viêm kết mạc – Dùng thuốc nhỏ mắt

Bệnh viêm kết mạc (VKM, còn gọi là bệnh đau mắt đỏ) thường gây ra cảm giác khó chịu ở mắt và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.

Bệnh VKM là một bệnh thông thường hay gặp ở nước ta, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc.

dieu_tri_benh_viem_ket_mac_dung_thuoc_nho_mat

Tùy theo nguyên nhân gây viêm kết mạc để lựa chọn loại thuốc nhỏ mắt

Các nguyên nhân gây viêm kết mạc

– Do nhiễm khuẩn bởi các loại vi khuẩn trong điều kiện vệ sinh kém.

– Do nhiễm virút với các chủng virút như: adenovirus, enterovirus.

– Do dị ứng với phấn hoa, bụi, phấn trang điểm…

– Do kích ứng với các hóa chất như: chất chlorine trong hồ bơi, khói thuốc lá, dầu gội đầu…

Bệnh VKM do nhiễm khuẩn và nhiễm virút thường lây lan rất nhanh từ người này sang người khác.

Các triệu chứng

– Kết mạc đỏ (kết mạc là màng niêm mạc bao phủ phía trước của mắt và phía bên trong của mi mắt).

– Xuất hiện ghèn dính chặt hai mi mắt lại với nhau sau khi ngủ dậy.

– Chảy nước mắt nhiều.

– Ngứa mắt.

– Xốn mắt.

– Mắt mờ.

– Tăng sự nhạy cảm với ánh sáng.

Thuốc nhỏ mắt trong điều trị bệnh viêm kết mạc

Thuốc nhỏ mắt là một dung dịch vô trùng, đẳng trương dùng để điều trị hay giúp khám chẩn đoán các bệnh về mắt. Tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh VKM mà các thầy thuốc sẽ chọn lựa loại thuốc nhỏ mắt thích hợp để điều trị:

Thuốc nhỏ mắt kháng khuẩn: loại thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do nhiễm khuẩn, trong thành phần là các kháng sinh phổ rộng như: choramphenicol, neomycin, tobramycin, offloxacin, sulfocetamid, polymycin B… Nên lưu ý với loại thuốc nhỏ mắt kháng sinh không được sử dụng với thời gian quá một tuần.

Thuốc nhỏ mắt kháng viêm: loại thuốc nhỏ mắt mà trong thành phần là các corticoid như: dexamethason, fluoromethason, prednisolon… hay thuốc kháng viêm non-steroid (NSAID) như diclofenac. Do có tính chất kháng viêm hay vừa kháng viêm vừa kháng dị ứng (nhóm thuốc corticoid) nên thuốc nhỏ mắt loại này thường được sử dụng để làm giảm bớt sưng đỏ ở mắt do VKM. Cần lưu ý với loại thuốc nhỏ mắt có corticoid khi dùng trong một thời gian dài sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…

Thuốc nhỏ mắt kháng dị ứng: loại thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do dị ứng. Trong thành phần là các kháng histamin H1, như: chlorpheniramin, antazoline, diphenhydramin… nên rất hiệu quả để làm giảm triệu chứng ngứa mắt do dị ứng

Thuốc nhỏ mắt kháng kích ứng: thuốc nhỏ mắt mà thành phần là các chất bôi trơn và nước mắt nhân tạo như: glycerin, polyvidon, polyvinyl alcohol… giúp ngăn ngừa tình trạng khô, xốn mắt hay chất co mạch cục bộ như: naphazoline, tetrahydrozoline… có tác dụng chống sung huyết mắt do kích ứng

Thuốc nhỏ mắt kết hợp: trong thành phần là sự kết hợp hai hay nhiều nhóm thuốc với nhau như kháng sinh, kháng viêm corticoid… giúp tăng hiệu quả điều trị.

Trong bệnh VKM cần phòng ngừa bệnh như việc giữ vệ sinh thật tốt: không dùng chung khăn mặt, nước rửa mặt không nhiễm khuẩn, không chạm tay bẩn lên mắt, mang kính để bảo vệ mắt…. là vấn đế rất quan trọng giúp bảo vệ mắt khỏi bị bệnh.

DS. MAI XUÂN DŨNG
Theo SKDS

Viêm tai giữa ứ dịch

Từ trước tới nay, mọi người luôn quan niệm rằng viêm tai giữa là phải có chảy mủ tai. Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của thiết bị nội soi và máy đo nhĩ lượng, người ta đã phát hiện được ngày càng nhiều một loại viêm tai mà không hề có chảy mủ tai cũng như không có thủng màng nhĩ. Loại viêm tai này gọi là viêm tai giữa ứ dịch.

Viêm tai giữa ứ dịch là gì?

Viêm tai giữa ứ dịch (VTGƯD) là sự ứ dịch của tai giữa phía sau một màng tai không thủng, không có các triệu chứng viêm cấp. Dịch tai giữa có thể là thanh dịch, có thể là dịch nhầy, có thể là keo.

VTGƯD có thể dần dần tiến triển thành viêm tai giữa nguy hiểm, từ đó gây ra các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân. Vì vậy, tất cả các trường hợp VTGƯD cần phải được điều trị và theo dõi nhằm phục hồi lại sức nghe đồng thời ngăn ngừa các biến chứng và di chứng gây điếc nặng ở giai đoạn sau.

viem_tai_giua_u_dich_01

Cấu tạo tai giữa.

Nguyên nhân gây VTGƯD

Căn nguyên gây VTGƯD là đa yếu tố bao gồm nhiễm khuẩn, rối loạn chức năng vòi, dị ứng, giảm khả năng miễn  dịch và các yếu tố về xã hội và môi trường. Có lẽ yếu tố quan trọng nhất gây viêm tai giữa là do sự chưa trưởng thành về cấu trúc, chức năng của vòi nhĩ ở lứa tuổi và do sự chưa trưởng thành về hệ thống miễn dịch của chúng.

Những rối loạn chức năng vòi nhĩ có thể gây ra VTGƯD là tắc vòi hay sự mở vòi bất thường. Tắc vòi nhĩ có thể là chức năng hay cơ học hoặc do cả hai. Tắc vòi chức năng gây ra do vòi nhĩ xẹp kéo dài, do vòi nhĩ quá mềm, do cơ chế mở vòi không bình thường hoặc do cả hai. Tắc vòi thường gặp ở trẻ nhũ nhi và trẻ bé do sụn vòi mềm hơn làm cho hoạt động mở vòi khó khăn. Hơn nữa, dường như có sự khác nhau giữa đáy sọ mặt trẻ em và người lớn làm cho cơ căng màn hầu hoạt động kém hiệu quả hơn ở trẻ em.

Nhận diện VTGƯD

VTGƯD là một bệnh đa hình thái, có thể có nhiều dạng lâm sàng rất khác nhau. Thường gặp nhất, VTGƯD chỉ biểu hiện bằng nghe kém, không có các dấu hiệu khác về bệnh học tai. Do vậy, bệnh thường tiềm tàng và bị bỏ qua trong nhiều tháng, nhiều năm. Sự giảm thính lực đại đa số gặp cả hai tai ở trẻ em. Trái lại, ở người lớn thường gặp nhất là bị một bên.

Mức độ suy giảm thính lực rất thay đổi, trung bình khoảng 28dB ở tần số tiếng nói. Sự suy giảm thính lực 30dB hoặc hơn ở cả hai tai có thể gây ra những hậu quả đáng lo ngại về sự phát triển tiếng nói, về việc học tập. Trong dạng tiềm tàng những triệu chứng khác hiếm gặp: cảm giác đầy tai, ít gặp và chỉ thấy ở người lớn; một số bệnh nhân phàn nàn có cảm giác dịch chuyển chỗ trong tai hoặc sự thay đổi về mức độ điếc theo vị trí của đầu.

Bệnh nhân thường nghe rõ hơn khi nằm nghiêng sang bên tai lành; trong một số trường hợp có thể có chóng mặt; đau tai là triệu chứng hiếm gặp và thường thấy trong hoặc ngay sau giai đoạn viêm cấp. VTGƯD có thể làm nền cho những đợt bội nhiễm tai tái phát làm người ta nghĩ rằng đó là viêm tai giữa cấp tái phát thông thường.

Ngoài những đợt viêm cấp, bệnh có tính chất tiềm tàng. Vì vậy, trước tất cả các viêm tai giữa cấp tái phát cần phải thăm khám tỉ mỉ màng nhĩ, nhĩ lượng trong một thời gian dài sau viêm tai giữa cấp. Việc phát hiện ra VTGƯD cho phép chỉ định điều trị và tránh được những viêm tai giữa cấp tái phát.

Ngoài ra, để chẩn đoán chính xác, cần thực hiện thêm một số phương pháp cận lâm sàng như đo thính lực, đo nhĩ lượng (một xét nghiệm bắt buộc trong chẩn đoán VTGƯD).

Hậu quả do VTGƯD

VTGƯD kéo dài nếu không được điều trị hoặc có khi dù đã được điều trị sẽ tiến triển đến túi co kéo, xẹp nhĩ, VTGƯD với màng nhĩ xanh vô căn, xơ nhĩ, viêm tai giữa mạn tính có cholesteatoma… VTGƯD là hậu quả của viêm nhiễm đường hô hấp trên bởi vi khuẩn và virut, chủ yếu là hậu quả của viêm tai giữa cấp. 65 – 78% bệnh nhân bị VTGƯD có nhiễm khuẩn đường hô hấp trên trong những ngày trước đó.

viem_tai_giua_u_dich_02

Đo thính lực và đo nhĩ lượng giúp chẩn đoán viêm tai giữa ứ dịch.

Người bệnh VTGƯD cần được điều trị như thế nào?

Điều trị VTGƯD nhằm 3 mục đích: phục hồi lại thính lực; ngăn chặn sự tiến triển đến bệnh lý mạn tính không hồi phục như: viêm tai dính, xơ nhĩ, túi co kéo màng nhĩ hay xẹp nhĩ, cholesteatoma, viêm tai giữa mạn tính; ngăn ngừa các viêm tai giữa cấp tái phát và biến chứng. Để đạt những mục đích này, tùy thuộc vào tình trạng bệnh cụ thể mà người bệnh có thể được điều trị nội khoa hoặc ngoại khoa.

Các thuốc được sử dụng điều trị nội khoa bao gồm kháng sinh, kháng histamin, thuốc chống phù nề, thuốc nhỏ mũi, corticoid; bơm hơi vòi nhĩ (biện pháp này thường cho phép cải thiện thính lực ngay nhưng chỉ được một thời gian rất hạn chế, không quá 1 giờ).

Do vậy, để thực hiện sự thông khí hiệu quả cho tai giữa, cần phải nhắc lại thường xuyên nghiệm pháp này, đó không phải là việc dễ dàng và có thể gây chấn thương loa vòi khi dùng ống thông cứng Itard hoặc gây nhiễm khuẩn ngược dòng. Đối với điều trị ngoại khoa, người bệnh được tiến hành nạo VA; cắt amidan khi có viêm amidan và viêm mũi họng tái đi tái lại; đặt ống thông khí là giải pháp điều trị hiệu quả nhất hiện nay.

PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài An
(Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương)
Theo SKDS

Nên cảnh giác với biến chứng do viêm amidan

Viêm amidan hay còn gọi là viêm amidan khẩu cái là bệnh lý thường gặp ở cả người lớn và trẻ em, nhưng bệnh chiếm một tỷ lệ cao ở trẻ. Bệnh tiến triển thành từng đợt, có thể tự khỏi, có thể đưa đến biến chứng tại chỗ hoặc toàn thân, có khi rất nguy hiểm như thấp tim.

Biểu hiện khi viêm amidan

Viêm amidan cấp: Là tình trạng viêm sung huyết hoặc làm mủ của amidan khẩu cái. Đa số do virut (70%), hay gặp ở trẻ em và lứa tuổi thiếu niên, chiếm 10-15% nhiễm khuẩn hô hấp trên. Bệnh biểu hiện với các dấu hiệu như sốt cao, hơi thở hôi, đau mỏi mình mẩy, cảm giác đau nhói tại chỗ tương ứng hai bên góc hàm, đau lan lên tai, đau tăng khi nuốt, ho từng cơn do kích thích và xuất tiết, ở trẻ em thường khò khè, ngủ ngáy. Các nguyên nhân gây viêm amidan cấp gồm có:

Viêm amidan do virut: Toàn bộ niêm mạc họng đỏ, 2 amidan sưng to, đỏ, bề mặt phủ một lớp tiết nhầy, không có giả mạc, không có chấm mủ; thành sau họng các tổ chức lympho viêm đỏ.

nen_canh_giac_voi_bien_chung_do_viem_amidan

Viêm amidan do vi khuẩn: Niêm mạc đỏ rực, 2 amidan to, trên bề mặt có chấm mủ, có thể có giả mạc mềm, dễ bóc, không chảy máu. Phản ứng hạch góc hàm, hạch to, đau. Đôi khi có thể kèm theo ngạt mũi và khàn tiếng do viêm nhiễm đường hô hấp trên phối hợp.

Viêm amidan cấp do liên cầu bêta tan huyết nhóm A: Bệnh thường gặp ở trẻ em tuổi học đường 7-14 tuổi. Chữa khỏi dễ dàng nhưng cũng có khi gây biến chứng nguy hiểm như: viêm cầu thận cấp, viêm khớp, thấp tim gây tổn thương van tim: Hẹp van 2 lá: bệnh tự miễn, xuất hiện sau viêm họng 10-30 ngày. Bệnh thường biểu hiện với các dấu hiệu như: trẻ sốt, mệt mỏi, đau họng, đau đầu, hạch góc hàm sưng to, đau. Xét nghiệm có liên cầu beta tan huyết nhóm A.

Viêm amidan mạn tính: Là tình trạng viêm quá phát hoặc xơ teo amidan khẩu cái sau nhiều đợt viêm bán cấp. Người bệnh thường có cảm giác vướng họng, đôi khi đau nhói trong họng, thỉnh thoảng ho khan, khàn tiếng, hơi thở hôi. Đối với thể viêm amidan quá phát, bệnh nhân ngủ ngáy thường xuyên hoặc tăng lên trong đợt viêm amidan, một số trường hợp còn phát hiện cơn ngừng thở khi ngủ thể bệnh này hay gặp ở trẻ em. Khi thăm khám thấy 2 amidan to chạm nhau, trên bề mặt có nhiều khe, hốc có thể đọng lại ít mủ nhầy hoặc chất bã đậu. Với thể xơ teo thấy 2 amidan nhỏ nằm trong hốc amidan, bề mặt xơ, có nhiều hốc chứa chất bã đậu, hai trụ amidan viêm dày đỏ, sẫm màu.

Viêm amidan có nguy hiểm không?

Viêm amidan là bệnh lý thường gặp, có thể tự khỏi nhưng có trường hợp gây biến chứng tại chỗ, kế cận hoặc toàn thân.

Biến chứng tại chỗ: Viêm tấy và áp-xe quanh amidan: Thường xảy ra với viêm amidan cấp không được điều trị, nhiễm khuẩn lan dần và thành mủ giữa amidan và bao amidan, bệnh nhân thường đau tăng, đau lan lên tai, nuốt đau, không nuốt được, nước bọt chảy ra, miệng há khó khăn. Điều trị bằng kháng sinh đường tiêm và dẫn lưu áp-xe.

Biến chứng kế cận: Viêm tai giữa, viêm mũi xoang, viêm thanh quản, viêm phế quản…

Biến chứng toàn thân: Nhiễm khuẩn huyết, viêm cầu thận cấp, thấp khớp cấp, thấp tim hay gặp do liên cầu tan huyết nhóm A.

nen_canh_giac_voi_bien_chung_do_viem_amidan_02

Viêm amindan cấp do liên cầu có thể gây biến chứng nguy hiểm.

Điều trị tùy nguyên nhân

Viêm amidan do virut: Chủ yếu điều trị triệu chứng: nằm nghỉ ngơi, ăn nhẹ, uống đủ nước; dùng thuốc hạ sốt, giảm đau; vệ sinh mũi họng bằng dung dịch sát khuẩn hoặc nước muối sinh lý; kiêng rượu, bia, chất kích thích.

Viêm amidan do vi khuẩn: Dùng kháng sinh đường toàn thân: tùy mức độ có thể dùng thuốc đường uống hoặc đường tiêm; điều trị triệu chứng giống như viêm amidan do virut.

Khi nào cần cắt amidan?

Amidan được chỉ định cắt trong các trường hợp sau: viêm amidan quá phát gây tắc nghẽn đường hô hấp, ngừng thở khi ngủ; viêm amidan tái phát nhiều lần (7 lần/năm; 5 lần/năm trong 2 năm; 3 lần/năm trong 3 năm); viêm amidan mạn tính, gây thở hôi kéo dài; amidan to một bên, nghi ngờ ác tính ; viêm amidan gây biến chứng: áp-xe, viêm tấy quanh amidan, viêm mũi xoang, viêm thanh quản, viêm tai giữa, viêm cầu thận, viêm khớp, viêm màng tim.

Lưu ý: Không được cắt amidan khi: amidan đang viêm cấp hoặc có biến chứng tại chỗ; bệnh nhân đang có bệnh toàn thân, bệnh mạn tính chưa điều trị ổn định; bệnh nhân đang trong vùng dịch; phụ nữ trong thời kỳ mang thai, kinh nguyệt.

ThS. Lê Anh Tuấn
Theo SKDS