Tag Archives: bệnh xương khớp

Dấu hiệu và triệu trứng viêm đa cơ

1. Dấu hiệu và triệu trứng của viêm đa cơ

Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thường diễn biến từ từ, vì vậy rất khó biết nó bắt đầu từ khi nào. Những triệu chứng hay gặp nhất là:

Yếu cơ tăng dần, nhất là những cơ gần với thân mình, như các cơ ở vùng háng, đùi, bả vai, cánh tay và cổ, đối xứng hai bên.

Khó nuốt, sưng nề cơ hoặc khớp nhẹ, mệt mỏi

2. Nguyên nhân gây viêm đa cơ

Chưa rõ nguyên nhân chính xác gây bệnh. Nhiễm trùng do vi khuẩn, ký sinh trùng hoặc virus có thể gây viêm đa cơ nhưng trong phần lớn các trường hợp không thể xác định được nguyên nhân gây bệnh.

Có giả thuyết cho rằng viêm đa cơ là một bệnh tự miễn, vì một lý do nào đó hệ miễn dịch của cơ thể sản sinh ra kháng thể tấn công và làm tổn thương mô cơ khỏe mạnh. Nhiều người bị viêm đa cơ có nồng độ tự kháng thể cao trong máu. Tuy nhiên chưa rõ liệu những tự kháng thể này có thực sự gây viêm đa cơ hay không.

dau-hieu-va-trieu-trung-viem-da-co

3. Chẩn đoán viêm đa cơ

Tiền sử gia đình. Tiền sử bệnh cơ trong gia đình và tuổi khởi phát bệnh sẽ giúp phân biệt giữa viêm đa cơ và teo cơ. Teo cơ là một bệnh di truyền thường biểu hiện sớm khi còn nhỏ.

Đo cơ điện đồ, xét nghiệm máu
Tăng nồng độ các enzym của cơ như creatine kinase (CK) và aldolase báo hiệu tổn thương cơ.

Phát hiện các tự kháng thể trong má
Sinh thiết cơ có thể thấy những bất thường ở cơ như viêm, tổn thương hoặc nhiễm trùng.

Chụp cộng hưởng từ có thể giúp phát hiện viêm ở cơ.

4. Điều trị viêm đa cơ

Khi bệnh nhân cảm thấy yếu sức cơ từ từ tăng dần, nhất là khả năng leo cầu thang càng ngày càng yếu hơn, khám tổng quát không thấy có bệnh tim hay bệnh phổi, thì các bác sĩ sẽ cho chẩn đoán điện cơ để xác định nguyên nhân gây yếu cơ, kết hợp làm một số xét nghiệm khác để được chẩn đoán là bệnh viêm đa cơ hay là bệnh cơ khác để điều trị ngay.

Phần lớn các trường hợp bị viêm đa cơ nếu được phát hiện và điều trị sớm thì hiệu quả điều trị càng cao, khả năng phục hồi tốt. Khoảng 1/2 số bệnh nhân sẽ phục hồi hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn. Có một số trường hợp để lại di chứng yếu cơ vùng vai hoặc háng. Chỉ có một số ít tử vong do biến chứng tim – phổi. Tuy nhiên người bệnh cần lưu ý, khi đã được khám và xác định bệnh cần tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ. Việc điều trị phải rất kiên trì. Khi triệu trứng bệnh giảm, có dấu hiệu phục hồi cần điều trị duy trì để tránh tái phát sẽ khó điều trị hơn. Việc thực hiện các bài tập vật lý trị liệu theo hướng dẫn của bác sĩ có hiệu quả rõ rệt trong việc hỗ trợ điều trị bệnh, giúp duy trì và cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt của cơ.

Các thuốc hộc trợ điều trị:

Corticosteroid.
Các thuốc ức chế miễn dịch khác như azathioprine hoặc methotrexate.
Vật lý trị liệu. Các bài tập vật lý trị liệu có thể giúp duy trì và cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt của cơ.
Những biện pháp vẫn đang được nghiên cứu gồm

Lọc huyết tương nhằm loại kháng thể ra khỏi máu
Chiếu xạ hạch lympho ức chế hệ miễn dịch
Tiêm tĩnh mạch globulin miễn dịch
Fludarabine (Fludara) có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành và phát triển của các tế bào ác tính.
Tacrolimus (Prograf). Thuốc có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Tacrolimus thường được dùng ở dạng bôi để điều trị viêm da cơ và một số bệnh da khác.
Kháng thể đơn dòng như infliximab và rituximab có tác dụng phá huỷ một số loại tế bào miễn dịch đặc hiệu.

Điểm danh các bệnh dân công sở hay mắc phải

Ngồi tại chỗ nhiều, ít vận động, thường bỏ ăn sáng hoặc ăn các món chế biến sẵn… là nguyên nhân nảy sinh một loại bệnh ở giới này: bệnh văn phòng.

Cùng với các cao ốc văn phòng mọc lên ngày càng nhiều, số nhân viên làm việc tại các cao ốc này cũng gia tăng nhanh. Ngồi tại chỗ phần lớn thời gian, ít vận động, thường bỏ ăn sáng hoặc ăn các món chế biến sẵn, thực đơn buổi trưa không đa dạng… là nguyên nhân nảy sinh một loại bệnh ở giới này: bệnh văn phòng.

Điểm danh bệnh văn phòng

Các nhóm bệnh về cơ xương khớp: mỏi cổ, đau lưng, đau khớp, hội chứng vai gáy hoặc hội chứng ống cổ tay. Nguyên nhân do tư thế ngồi, tư thế làm việc không phù hợp. Nhóm bệnh này ban đầu có mức độ nguy hiểm thấp, nhưng gây khó chịu và giảm khả năng vận động, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc. Nếu để lâu có thể gây các biến chứng nặng nề hơn, thậm chí là tàn phế.

phong-benh-van-phong

Các nhóm bệnh về tiêu hoá: hội chứng dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hoá. Nguyên nhân chính là áp lực công việc, căng thẳng trong môi trường làm việc và thói quen ăn uống không hợp lý về giờ giấc, ít uống nước. Nhóm bệnh này, khi khởi phát, cần điều trị ngay, nếu không diễn tiến sau này có thể nặng nề: viêm loét dạ dày tá tràng, tiêu chảy mạn, suy dinh dưỡng…

Nhóm bệnh đường hô hấp: cảm cúm, viêm hô hấp trên, dưới. Nguyên nhân thường do sự phân phối mật độ nhân viên trong phòng làm việc chưa hợp lý (quá đông), không khí trong phòng bị ô nhiễm, chênh lệch nhiệt độ giữa phòng máy lạnh và bên ngoài quá lớn… Nhóm bệnh này thường diễn ra cấp tính, gây nhiều khó chịu, cần được điều trị sớm để cơ thể phục hồi và giảm khả năng lây lan trong môi trường làm việc.

Nhóm bệnh mạn tính không lây liên quan đến lối sống: thừa cân – béo phì, đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đột quỵ… Nguyên nhân chính là lối sống tĩnh tại (ngồi tại chỗ, ít vận động, đi lại), chế độ dinh dưỡng không hợp lý (chế độ ăn không đa dạng, hoặc dư năng lượng, nhiều béo ít rau, bỏ bữa ăn bù…) gây mất cân bằng về năng lượng ăn vào và năng lượng sử dụng, dẫn đến ứ đọng mỡ trong cơ thể gây rối loạn chuyển hoá. Thêm vào đó, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoặc áp lực công việc gây nên sự căng thẳng thường xuyên, lâu ngày dẫn đến các rối loạn chuyển hoá. Nhóm bệnh này diễn tiến âm thầm nên khi phát hiện thường có biến chứng đi kèm. Hậu quả của nhóm bệnh lý này khá nặng nề: suy tim, thận, mù loà, tàn phế thậm chí tử vong!

Phòng được không?

Để khắc phục và phòng ngừa các chứng bệnh văn phòng, chúng ta cần có những hành động sau:

Xây dựng môi trường làm việc trong lành (trong khả năng của mình), sắp xếp lịch làm việc hợp lý, tránh để dồn làm tăng áp lực công việc lên mình.

Xây dựng lối sống năng động trong môi trường công việc: năng vận động tại chỗ hoặc đi lại (đi lấy đồ, photo tài liệu, lấy giấy in, nước… trong khu làm việc, đi cầu thang bộ thay cho thang máy khi phải lên xuống vài tầng lầu). Hạn chế ngồi liên tục hai giờ; ít nhất sau mỗi hai giờ nên tranh thủ đứng lên, đi lại, vận động tay chân 10 – 15 phút. Tranh thủ thời gian ăn trưa để ra ngoài tản bộ…

Lên lịch tập thể dục định kỳ, lựa chọn hình thức thể dục phù hợp với điều kiện sức khoẻ, thời gian và tính khả thi. Duy trì lịch tập luyện, tránh bỏ tập.

Hạn chế dần rồi từ bỏ những thói quen có hại: hút thuốc lá, uống rượu bia, ăn vặt, xem phim, chơi game…

Thiết lập chế độ ăn uống lành mạnh, khoa học: lựa chọn bữa ăn đa dạng nhưng cân đối và hợp lý với nhu cầu năng lượng của cơ thể. Hạn chế ăn các loại thực phẩm nhiều chất béo (dầu mỡ): thức ăn nhanh (fast–food), thức ăn dạng chiên xào; nên chọn ăn thức ăn dạng hấp, luộc. Thay đổi thói quen ăn mặn, không dùng thêm nước chấm (nước mắm, nước tương) khi ăn. Tăng cường ăn thêm rau, củ, quả để tăng cường chất xơ cho cơ thể. Nếu bữa ăn trưa tại văn phòng ít rau, thì bữa chiều nên tranh thủ “ăn bù”. Ăn nhiều rau rất có lợi cho sức khoẻ vì ngoài tác dụng nhuận trường phòng chống táo bón (bệnh lý hay gặp ở giới văn phòng), cũng góp phần giúp giảm cân, phòng tránh được các bệnh mạn tính không lây.

Nếu có thói quen ăn bữa phụ, thì nên chọn những loại thực phẩm như sữa tươi tách béo, trái cây ít ngọt, yaourt. Ăn đủ bữa, thu xếp thời gian cho bữa ăn sáng vì đây là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày, nó giúp cung cấp và tăng cường năng lượng cho cả một ngày làm việc và hoạt động dài. Tránh tình trạng bỏ bữa rồi ăn bù. Tránh tự ép mình vào một chế độ ăn kiêng không hợp lý để giảm cân mà không tham vấn chuyên gia dinh dưỡng vì dễ gây tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng cho cơ thể như vitamin và muối khoáng.

Uống đủ nước để cơ thể duy trì được các hoạt động và giúp thanh lọc cơ thể. Mỗi ngày nên uống 1,5 – 2 lít, tuỳ thuộc thời tiết và mức độ vận động, công việc. Tập thói quen uống nước thường xuyên, tránh đợi đến khi có cảm giác khát hay khô miệng mới uống vì lúc đó cơ thể đã bị thiếu nước rồi.

Nguồn giáo dục

Đối phó bệnh xương khớp của người già

Người cao tuổi (NCT) do quá trình lão hóa nên vào mùa đông sẽ rất khó tránh khỏi việc nhức mỏi tay chân, đau xương khớp. Nguyên nhân là do sự thay đổi của thời tiết như nóng lạnh thất thường, lúc khô hanh, lúc lại ẩm ướt… kéo theo hàng loạt sự thay đổi của các yếu tố bên trong cơ thể như độ nhớt của máu, độ nhớt dịch khớp, sự kết tủa của các muối, thay đổi nồng độ các hóa chất trung gian thay đổi vận mạch…

Những sự thay đổi này góp phần làm xuất hiện các đợt đau xương khớp. Ngoài ra, trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn làm cho các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn khiến cho các khớp trở nên khô cứng, đau mỏi, khó cử động. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm…

Để đối phó với căn bệnh này khi mùa đông đến, NCT nên thực hiện 3 phương pháp sau:

1. Chế độ ăn phù hợp

doi-pho-benh-xuong-khop-cua-nguoi-gia

Để hạn chế tình trạng viêm, giảm đau khớp người già nên ăn các loại thực phẩm giàu axit béo omega-3 (thường có trong các loại hạt). Các rau lá xanh, như rau bina, cải xoăn, cũng có thể giúp hạn chế tình trạng viêm và đau đớn. Các loại quả như cam, ớt đỏ, cà chua… chứa nhiều vitamin C cũng có thể giúp làm giảm, ngăn chặn sự mất sụn và giảm đau ở người già.

Bên cạnh đó, người già nên tránh dùng các thực phẩm giàu axit béo omega-6 (chẳng hạn như dầu bắp), vì loại axit này có thể gây ra viêm đau đớn. Hãy thay thế các loại ngũ cốc tinh chế cho ngũ cốc nguyên hạt. Các nghiên cứu trước đây cho thấy ngũ cốc tinh chế có thể làm tăng viêm khớp, trong khi chất xơ ngũ cốc nguyên hạt có thể giúp giảm viêm.

2. Các chất bổ sung

Để giúp đỡ nuôi dưỡng sụn và bôi trơn nhiều hơn ở các khớp xương của người già có thể bổ sung các chất như: Glucosamine sulfate và chondroitin. Một nghiên cứu quy mô lớn của Viện Y tế Quốc gia Mỹ tìm thấy một sự kết hợp hàng ngày nếu bổ sung 1.500mg glucosamine và 1.200mg chondroitin có thể giúp dễ dàng hạn chế các triệu chứng phát tác ở những người bị đau khớp từ trung bình đến nặng.

Ngoài ra, phải bổ sung nhiều vitamin D (từ ánh sáng mặt trời) để giúp giữ cho xương mạnh mẽ, ngăn ngừa đau khớp. Trường hợp nếu thấy bị đau khớp bởi vì một số chất bổ sung có thể tương tác một số thuốc khiến tình trạng đau khớp tăng thêm thì đến bác sĩ để kiểm tra.

3. Vận động đúng cách, vừa sức

Thời tiết lạnh liên quan đến đau khớp là do ít làm việc, ít vận động dưới trời lạnh. Tập thể dục giúp bôi trơn các khớp xương để ngăn chặn cơn đau. Các chuyên gia về xương khớp đều thống nhất, hoạt động cơ bắp là phương pháp then chốt để phòng ngừa các bệnh ở cơ quan vận động của cơ thể. Đi bộ hằng ngày, đó là sự sống còn. Nhưng để giúp ích được cho sức khỏe, cần tiến hành đi bộ đúng cách: Mỗi tuần 3 lần, mỗi lần 1h là mức thấp nhất.

Trong quá trình đi bộ, do bàn chân tiếp xúc với mặt đất tạo ra những kích thích có tác dụng tăng cường sức sống ở các tế bào xương, khả năng vận động ở các khớp, làm cho cơ bắp mạnh lên, giúp cho cơ thể duy trì thế cân bằng ở mức hoàn hảo.

Ngoài cách đi bộ hằng ngày, bơi lội, đi xe đạp cũng như các môn luyện tập đòi hỏi sự bền bỉ, giúp cho sự duy trì chức năng ở các xương – khớp được tốt.

Ngay cả với những người mắc chứng hư khớp, các bác sĩ cũng khuyến cáo không để những bệnh nhân đó hoàn toàn nghỉ ngơi mà nên khuyến khích họ thực hiện những động tác do các chuyên viên chỉnh hình hướng dẫn, nhằm duy trì các gân, cơ bắp ở trạng thái tốt.
Vận động là cách chữa bệnh tuyệt vời nhất đối với bệnh xương khớp ở người già. Tuy nhiên, do sức khỏe yếu, mùa đông lạnh lại nhiều tà khí nên việc vận động cần được thực hiện tùy theo khả năng sức khỏe của người già.

Mạc Vi

Theo gia đình

Biến dạng khớp do viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) có thể ảnh hưởng tới hơn 20 khớp lớn nhỏ trong cơ thể và gây biến dạng khớp. Vì vậy, sau 10 năm khởi phát bệnh, có tới 10-15% bệnh nhân VKDT bị tàn phế, phải cần sự trợ giúp của người khác. Vậy những kiểu biến dạng khớp thường gặp do VKDT là gì?

Biểu hiện đầu tiên và rõ nhất của bệnh VKDT là tại các khớp. Người bệnh thường bị sưng, nóng, đỏ, đau đối xứng tại các khớp và bắt đầu từ khớp nhỏ ở ngoại biên như khớp ngón tay, khớp bàn tay, cổ tay, bàn – ngón tay, bàn – ngón chân,…

khop-bien-dang

Trong giai đoạn khởi phát, khi chưa có dấu hiệu tổn thương “bào mòn” sụn khớp và đầu xương, nếu VKDT được phát hiện sớm, điều trị đúng cách thì sẽ làm chậm được sự tiến triển của bệnh. Bước sang giai đoạn toàn phát, khớp bị tổn thương, biến dạng và khó phục hồi. Cụ thể, khớp cổ tay có thể bị sưng nề ở phía mu bàn tay, khó gấp hay duỗi bàn tay, biến dạng giống “thìa úp” hoặc như “lưng con lạc đà”. Khớp ngón tay có thể bị dính, biến dạng tạo thành ngón tay hình “cổ cò”, các ngón lệch trục về phía xương trụ tạo nên bàn tay gió thổi. Khớp gối sưng đau, hạn chế gấp duỗi, có thể có tràn dịch ổ khớp hoặc bị dính ở tư thế nửa co,… Hậu quả là người bệnh có thể mất khả năng vận động khớp, tàn phế suốt đời.

Hiện nay, bên cạnh các biện pháp điều trị thông thường, nhiều bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn dùng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ. Tiêu biểu cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Hoàng Thấp Linh. Sản phẩm có thành phần chính là hy thiêm với tác dụng chống viêm, giảm đau khớp, kết hợp cùng nhiều dược liệu khác như: sói rừng, bạch thược,… giúp tăng cường hồi phục vận động khớp, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị VKDT, cải thiện triệu chứng và ngăn chặn nguy cơ biến dạng khớp, tàn phế do bệnh.
Để ngăn ngừa nguy cơ biến dạng khớp do VKDT, người bệnh cần phát hiện bệnh sớm, tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ kết hợp uống Hoàng Thấp Linh hàng ngày và thường xuyên xoa bóp khớp.

Theo gia đình

6 nguyên nhân hàng đầu gây bệnh thấp khớp

Đó là các nguyên nhân như: độ tuổi, gien, giới tính, hút thuốc, nghề nghiệp, chế độ ăn uống…

1. Độ tuổi: Theo thống kê có khoảng 1/2 số người từ 65 tuổi mắc bệnh viêm khớp, trong khi đó chỉ có 1 trong 250 trẻ em bị bệnh này.

2. Gien: Nếu gia đình có cha mẹ hoặc họ hàng bị bệnh thấp khớp thì nguy cơ mắc bệnh sẽ cao hơn.

thap-khop

3. Giới tính: Các thống kê đã chỉ ra rằng nam giới có nguy cơ mắc bệnh gout cao hơn nữ giới, trong khi đó nữ giới lại dễ mắc bệnh viêm khớp hơn nam giới.

4. Hút thuốc: Các nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa hút thuốc và bệnh viêm khớp. Các nghiên cứu tại Thuỵ Điển đã chỉ ra rằng những người hút thuốc làm tăng 21% nguy cơ mắc viêm khớp.

5. Nghề nghiệp: Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để tìm ra mối liên quan giữa các dạng của bệnh thấp khớp và nghề nghiệp đã thấy rằng những người làm nghề sơn sửa móng tay chân, thợ sơn, thường xuyên sử dụng acetone và thuốc trừ sâu dễ mắc bệnh viêm khớp hơn. Nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển chỉ ra rằng những người thường xuyên tiếp xúc với các loại xăng dầu tăng 30% nguy cơ mắc bệnh thấp khớp.

6. Chế độ ăn: Cơ thể thừa cân và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp vì thế cần điều chỉnh cân nặng hợp lý. Việc sử dụng thực phẩm giàu chất béo bão hoà, thiếu chất chống ôxy hóa, các vitamin và chất khoáng cần thiết làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Thoát vị đĩa đệm cột sống – Phòng tránh và điều trị

Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể gây tàn phế suốt đời do bị liệt, teo cơ chi, hay chứng đại tiện không tự chủ được do rối loạn cơ tròn, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh.

Khi bệnh nặng, điều trị thường tốn kém và phẫu thuật khá nguy hiểm, vì vậy cần chủ động phòng tránh.

Các biện pháp phòng tránh

Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.
thoat-vi-dia-dem
Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm.

Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay, các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính.

Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị.

Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống.

Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng.

Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực.

Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe.

Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy, người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc.

Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo… Tuy nhiên, bệnh nhân khi có biểu hiện của bệnh cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Các phương pháp điều trị

Điều trị thoát vị đĩa đệm có các biện pháp bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Trong các trường hợp nhẹ có thể chỉ cần uống thuốc và tập thể dục phù hợp là khỏi, nhưng thường người bệnh phát hiện ra muộn, khi có biến chứng như liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, nên phải áp dụng các biện pháp nặng hơn, như trước đây phổ biến là phẫu thuật. Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng sóng radio để điều trị.

“Ưu điểm nổi bật của kỹ thuật bằng sóng radio đó là bệnh nhân chỉ bị gây tê tại chỗ, không mất máu. Đáng nói là thời gian phẫu thuật chỉ khoảng 20 phút và hầu như không gây biến chứng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân sẽ được ra viện trong ngày, thay vì phải nằm viện 3 đến 4 ngày như trước đây và không cần phải chăm sóc đặc biệt sau phẫu thuật”. Cơ sở áp dụng thành công phương pháp này là Phòng khám An Thái, nhưng để xác định phương pháp điều trị phù hợp, người bệnh nên đến khám để được bác sĩ tư vấn phương pháp điều trị cụ thể.

Sông vui khỏe với bệnh viêm khớp

Viêm khớp là một bệnh lý mạn tính của khớp có đặc tính là viêm và đau. Hậu quả là đưa đến hạn chế hoặc mất cử động khớp. Viêm khớp có rất nhiều dạng, thường gặp nhất là viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và viêm khớp dạng thống phong (gout). Một lối sống lành mạnh cũng sẽ góp phần hạn chế bệnh phát triển.

song-khoe-voi-benh-viem-khop

Tập thể dục đều đặn để duy trì hoạt động linh hoạt của khớp, giúp các cơ và khớp khỏe hơn. Trong đó, bơi lội là môn vận động tốt nhất vì ít gây áp lực lên các khớp nhất. Ngoài ra, các bài tập có động tác uyển chuyển như khiêu vũ giúp duy trì cử động bình thường của khớp, giảm cứng khớp và giúp cải thiện sự linh hoạt. Các bài tập kéo giãn như cử tạ giúp giữ hoặc tăng cường sức mạnh của cơ, giúp chống đỡ và bảo vệ khớp bị viêm. Nên hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia cử tạ. Thể dục nhịp điệu hay các bài tập dẻo dai như đạp xe đạp có thể giúp giảm sưng các khớp, giúp tốt cho tim mạch, giảm cân và cải thiện chức năng toàn thân.

– Nên hỏi ý kiến bác sĩ để chọn bài tập thể dục phù hợp nhất có thể hỗ trợ quá trình điều trị. Bất cứ bài tập nào mà không gây đau hay sưng trầm trọng hơn đều có thể thử để làm giảm triệu chứng viêm khớp.

– Chườm nóng và chườm lạnh có thể giúp giảm đau. Chườm nóng có thể làm giảm sưng, còn chườm lạnh làm tê vùng tổn thương. Tắm nước nóng dưới vòi sen cũng giúp bớt căng các cơ và dịu cơn đau.

– Duy trì cân nặng bình thường. Thừa cân làm tăng sức ép lên các khớp, tăng nguy cơ đau khớp gối, khớp hông và đau thắt lưng.

– Cần vận động đúng tư thế. Các hoạt động thường ngày như khiêng vật nặng, đi lại, chạy… không đúng tư thế sẽ gây nén và xé ổ khớp làm căng các khớp gây viêm khớp.

– Duy trì chế độ ăn cân bằng. Một nguyên nhân của bệnh viêm khớp, đặc biệt là bệnh khớp là acid uric. Tránh dùng các thức ăn giàu purine như: bia, thức uống có cồn, cá mòi, cá trích, trứng cá, men bia, thịt, rau đậu, nước thịt, nấm, măng tây, bông cải… gây ứ đọng acid uric.

– Dùng đậu phụ thay cho thịt. Nho đen và một vài loại acid béo có trong cá như dầu cá hồi, dầu ôliu hoặc các loại hạt có chứa những chất hóa học làm giảm chỉ số acid uric và giảm viêm…

– Uống nhiều nước hoặc chất lỏng sẽ giúp làm tan rã acid uric trong máu, nhờ vậy ngăn ngừa sự hình thành các tinh thể acid uric trong khớp.

Bác sĩ  Nguyễn Ý Đức

Theo SKDS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Biểu hiện khớp trong các bệnh tự miễn

Bệnh tự miễn dịch là những bệnh mà những tổn thương bệnh lý gây ra do sự đáp ứng miễn dịch chống lại các tổ chức, cơ quan của bản thân mình. Nói cách khác là trong cơ thể người bệnh xuất hiện những tự kháng thể chống lại các thành phần của các bộ phận trong cơ thể gây nên tổn thương ở các bộ phận đó. Ngoài bệnh luput ban đỏ hệ thống, các bệnh khác trong nhóm này bao gồm: xơ cứng bì toàn thể, viêm da và cơ hay viêm đa cơ, viêm nút quanh động mạch. Các bệnh này có những đặc điểm chung là có tổn thương ở rất nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien01

Viêm khớp đối xứng bàn tay trên phim Xquang

Nguyên nhân của bệnh

Nguyên nhân trực tiếp gây bệnh cho đến nay vẫn chưa rõ ràng. Một số giả thuyết cho rằng có một quá trình nhiễm khuẩn tiềm tàng (vi khuẩn, virut) tác động trên một cơ địa nhất định: bệnh thường xảy ra ở phụ nữ trẻ, trung niên, một số trường hợp bệnh có tính chất gia đình. Trong nhóm bệnh tự miễn (còn gọi là bệnh hệ thống) thì bệnh luput ban đỏ hệ thống là bệnh hay gặp nhất, có biểu hiện vô cùng đa dạng và có thể nhầm với rất nhiều bệnh khác nhau thuộc các chuyên khoa khác nhau.

Những biểu hiện lâm sàng

Rất phong phú từ đau mỏi khớp, đau xương đến viêm khớp, tràn dịch khớp, hoại tử xương… Viêm khớp có đặc điểm gần giống như bệnh viêm khớp dạng thấp như viêm các khớp nhỏ và nhỡ ở bàn tay,bàn chân,viêm khớp mang tính chất đối xứng hai bên… Nhưng bệnh có đặc điểm khác là hầu như không có tổn thương bào mòn đầu xương, dính khớp trên phim Xquang như trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài các biểu hiện ở khớp, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng của các cơ quan bộ phận khác như tổn thương ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương tâm thần, thần kinh; tổn thương cơ quan tạo máu (giảm một hay 3 dòng tế bào máu)… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi… Các bệnh khác trong nhóm như viêm đa cơ và da và cơ, viêm nút quanh động mạch ít gặp hơn hai bệnh kể trên. Ngoài các xét nghiệm thường quy, người ta phải tiến hành các xét nghiệm về miễn dịch để tìm các kháng thể kháng nhân, kháng histon…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_bieu_hien_khop_trong_cac_benh_tu_mien02

Tràn dịch khớp gối

Tiến triển của bệnh

Rất ít trường hợp bệnh khỏi hẳn. Đa số là bệnh có thể thuyên giảm và ổn định khi tuân thủ tốt chế độ điều trị và phối hợp tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân. Nếu không điều trị tốt, bệnh nặng dần khi tổn thương các cơ quan quan trọng như thận, não, tim, thần kinh…

Điều trị như thế nào?

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài.  Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai do đó khi có thai cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Phòng ngừa đau thắt lưng cấp do tư thế

Đau thắt lưng là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Tổ chức Y tế Thế giới cho rằng đau thắt lưng là nguyên nhân hay gặp nhất gây ốm đau và mất sức lao động ở những người dưới 45 tuổi; tỷ lệ đau thắt lưng hằng năm ước tính khoảng 5% dân số; 50% người đau thắt lưng ở trong độ tuổi lao động. Có nghiên cứu cho rằng 60 – 90% người trưởng thành bị đau vùng thắt lưng ít nhất 1 lần trong đời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the

Ai có thể mắc bệnh?

Thắt lưng là vùng được giới hạn từ bờ trên hai xương cánh chậu đến bờ dưới xương sườn 12, hai bên là hai cơ thẳng lưng. Đoạn cột sống thắt lưng có 5 đốt sống từ thắt lưng 1 đến thắt lưng 5 với 6 đĩa đệm (có 2 đĩa đệm chuyển đoạn ngực – thắt lưng và thắt lưng – cùng). Đoạn thắt lưng là đoạn chịu sức nặng của nửa trên cơ thể kháng lại trọng lực nên cấu tạo khỏe, chắc. Vùng thắt lưng có tầm vận động rộng gồm các động tác cúi, ngửa, nghiêng, xoay. Biên độ vận động lớn nhất của vùng thắt lưng là ở thắt lưng 5 (L5)  và cùng 1 (S1); đây là vùng bản lề, đảm nhiệm khoảng 75% vận động cúi, ngửa vùng thắt lưng; còn lại 20% ở thắt lưng 4 (L4) và thắt lưng 5 (L5); và 5% ở các mức khác. Lực đè nén cuối cùng của cột sống cũng dồn cả vào vùng L5 và S1.

Đau thắt lưng có thể xảy ra từ từ hoặc đột ngột sau một vận động mạnh hoặc vận động không đúng tư thế; trong trường hợp này chỉ cần nằm nghỉ, dùng thuốc giảm đau thông thường, điều trị vật lý sau một thời gian đau vùng thắt lưng cũng sẽ thuyên giảm, nhưng vấn đề quan trọng là phục hồi lại chức năng vận động của vùng thắt lưng và đề phòng đau thắt lưng cấp và đau tái phát.

Phòng ngừa đau thắt lưng

Ở Việt Nam, ước tính đau thắt lưng chiếm tỷ lệ 2% trong cộng đồng; 6% trong tổng số các bệnh xương khớp. Đau thắt lưng là một vấn đề phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau và cũng có nhiều cách xử trí khác nhau, việc điều trị cơ bản của đau thắt lưng là tìm được nguyên nhân và điều trị theo nguyên nhân.

Đau thắt lưng là một trong những chứng bệnh hay tái phát nhất. Có thể những lần đau sau là do tổn thương thực thể của cột sống hoặc do một tình trạng bệnh lý mới xuất hiện, nhưng rất nhiều trường hợp đau thắt lưng cấp và đau tái phát là do người bệnh vận động ở tư thế không đúng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_phong_ngua_dau_that_lung_cap_do_tu_the02

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp và đau lưng tái phát hiệu quả nhất là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.

Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Nếu cần có thể dùng một gối mỏng kê đỡ vùng thắt lưng để duy trì đường cong bình thường của đoạn cột sống này. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm, hạn chế các tư thế làm gấp cột sống.

Khi bê hoặc nâng đồ vật lên: Khi muốn bê hoặc nâng một vật từ dưới đất lên cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình, khoảng cách giữa đồ vật đó với cơ thể và sự phối hợp nhịp nhàng của động tác, cụ thể như sau:

– Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc.

– Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống.

– Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra.

– Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên.

– Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

– Giữ cho độ ưỡn của đoạn thắt lưng vẫn được duy trì ở mức bình thường.

Khi bê và mang đồ vật đi: Khi muốn bê và mang một vật nào đó đi chỗ khác, chúng ta cũng cần đặc biệt chú ý đến tư thế của cột sống và thân mình cũng như vị trí và khoảng cách của vật đó đối với cơ thể. Một số vấn đề cần chú ý như sau:

– Bê đồ vật cần mang đi như đã hướng dẫn ở trên.

– Ôm chắc đồ vật đó bằng hai tay.

– Giữ đồ vật đó sát vào bụng, ở mức ngang ngực – thắt lưng.

– Giữ cột sống thẳng, giữ đoạn thắt lưng ở độ ưỡn bình thường.

– Bước đi bình thường, thoải mái, không bước xiêu vẹo, xoắn vặn.

PGS.TS. Trần Văn Chương
(Trung tâm Phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: xử lý gãy xương chậu

Gãy xương chậu chiếm tỷ lệ 1-2% trong tổng số gãy xương, là xương xốp nên khi gãy gây chảy máu nhiều. Gãy xương chậu chia ra 3 loại: gãy thành xương cánh chậu: di lệch ít, điều trị dễ; gãy ổ cối: điều trị khó, dễ biến chứng, ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của khớp hông sau này; gãy khung chậu: chảy nhiều máu, dễ sốc, hay kèm tổn thương cơ quan nội tạng trong khung chậu gây nguy hiểm đến tính mạng.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau01

Kết hợp xương bằng nẹp và vít điều trị gãy xương chậu

Đặc điểm giải phẫu khung chậu

Khung chậu có hình như một cái chậu thắt ở giữa, được cấu tạo bởi 2 xương chậu, xương cùng và xương cụt. Xương chậu gồm 3 xương hợp lại là xương chậu, xương ngồi, xương mu, tiếp giáp 3 xương là ổ cối, phía trước là khớp mu, phía sau khớp với xương cùng của cột sống gọi là khớp cùng chậu.

Nguyên nhân gãy xương chậu là gì?

Thường gặp gãy xương chậu do ngã: ngã ngồi gây gãy ụ ngồi, gãy ngành cánh chậu (gãy kiểu Duverney); do chấn thương: xương chậu bị ép lại trong trường hợp xe đè qua hay bị vật nặng đè ép, rơi từ độ cao lớn, do sập hầm, vùi lấp, tai nạn giao thông; vận cơ quá mức thường gặp ở người chơi thể thao, luyện tập võ thuật, động tác đột ngột trong lao động: gãy gai chậu trước trên do cơ căng cân đùi và cơ may kéo mạnh, gãy gai chậu trước dưới do cơ thẳng trước kéo, gãy cánh chậu do cơ mông nhỡ kéo.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_xu_ly_gay_xuong_chau02

Những tổn thương gãy thường gặp

Gãy khung chậu: sau chấn thương bệnh nhân thấy sưng nề, tụ máu vùng gãy xương;  không nâng được chân lên khỏi mặt giường; ép giữa khung chậu thấy đau chói. Triệu chứng tổn thương các cơ quan trong khung chậu và trong ổ bụng: rách, đứt niệu quản, vỡ bàng quang, đứt niệu đạo, tổn thương âm đạo, tử cung, vòi buồng trứng, mạch máu, thần kinh, vỡ thận, gan, lách, thủng ruột non, ruột già. Chụp Xquang thẳng nghiêng thấy hình ảnh gãy xương: gãy cung trước, cung sau, trật khớp mu, trật khớp cùng – chậu.

Gãy thành chậu, rìa chậu: Bệnh nhân không co gấp đùi vào bụng được, bất lực vận động, đau nhiều ở vùng gãy nếu sưng nề lớn; ấn đau tại chỗ: ụ ngồi, gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới, xương cùng, xương cụt; ép khung chậu đau; nếu  gãy xương cùng, ngành mu chậu thì thăm âm đạo, trực tràng đau. Chụp Xquang xác định thể gãy thành chậu: gãy gai chậu trước trên và trước dưới; gãy dọc cánh chậu; gãy ngang cánh chậu kiểu Duverney; gãy ngang xương cùng; gãy ngành mu – chậu; gãy ụ ngồi; gãy ngành ngồi – chậu; gãy ngang xương cụt.

Gãy ổ cối: Bệnh nhân đau nhiều trong khớp háng; không đứng, không cử động được khớp háng; nếu làm cử động khớp háng bệnh nhân sẽ rất đau; vị trí mấu chuyển lớn có thể bị di lệch khi trật khớp háng trung tâm. Chụp Xquang phát hiện gãy rìa trên, rìa dưới ổ cối; gãy rìa ổ cối mảnh lớn gây bán trật khớp háng nhẹ; gãy đáy ổ cối có chỏm xương đùi lọt qua gây trật khớp háng trung tâm.

Chẩn đoán phân biệt: Gãy xương chậu cần phân biệt với các trường hợp: đụng giập phần mềm khung chậu; trật khớp háng; gãy cổ xương đùi.

Biến chứng: Gãy xương chậu có thể có các biến chứng như sốc do bệnh nhân bị mất máu nhiều; viêm phổi do bệnh nhân phải nằm lâu ngày, viêm đường tiết niệu; bán trật khớp háng; trật khớp háng trung tâm; tổn thương các cơ quan trong khung chậu; viêm phúc mạc giả do máu tụ sau phúc mạc; can lệch trong các trường hợp gãy ổ cối, gãy khung chậu di lệch lớn; thoái hoá khớp háng; hoại tử chỏm xương đùi.

Cách xử lý

Sơ cứu: Nếu gãy thành chậu có thể dùng thuốc giảm đau tại chỗ và toàn thân; vận chuyển nhẹ nhàng trên võng đến bệnh viện. Trường hợp gãy khung chậu chỉ dùng thuốc giảm đau tại chỗ, không dùng thuốc giảm đau toàn thân khi chưa rõ tổn thương kết hợp; vận chuyển bệnh nhân nhẹ  nhàng trên ván cứng về cơ sở điều trị.

Điều trị: Nếu bệnh nhân bị sốc phải chống sốc tích cực. Đồng thời  phải điều trị các tổn thương kết hợp.

+ Gãy thành chậu: thường điều trị bảo tồn, bệnh nhân phải nằm bất động trên giường từ 2-4 tuần. Đối với gãy Duverney, do di lệch lớn nên phải nắn chỉnh, băng dính tại chỗ và bất động trên giường 4-6 tuần. Nếu gãy xương cụt: nắn chỉnh qua trực tràng hoặc phẫu thuật. Gãy gai chậu trước trên, gai chậu trước dưới cần phẫu thuật khâu dính lại, kết hợp xương bằng vít. Gãy ổ cối kết hợp xương bằng đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục với trọng lượng 8 – 10kg trong 10 – 14 tuần.

+ Gãy khung chậu: điều trị bảo tồn nếu gãy một cung trước hoặc sau ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động 5-6 tuần. Gãy hai cung, gãy kiểu Malgaigne ít di lệch, cho bệnh nhân nằm bất động trên giường, gác chân trên giá Braun 4-8 tuần. Gãy khung chậu di lệch: nắn chỉnh bằng xuyên đinh Kirschner qua lồi cầu xương đùi kéo liên tục, chân đặt trên giá Braun kéo trọng lượng bằng 1/7 trọng lượng cơ thể liên tục trong 10 -14 tuần. Có thể để người bệnh để mông trên võng vải bắt chéo giúp cho diện  gãy ép vào nhau. Bệnh nhân cần tập vận động khi liền xương. Dùng phương pháp phẫu thuật đối với các trường hợp: gãy cung trước di lệch nhiều như ngành mu – chậu, kết hợp xương bằng nẹp vít, đinh chữ U; gãy toác khớp mu: kết hợp xương bằng buộc vòng dây thép, nẹp vít cố định khung chậu bằng khung cố định ngoài; gãy  thành sau hoặc gãy toác dọc cánh chậu: kết hợp xương bằng nẹp vít.

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Những tổn thương cơ xương khớp thường gặp khi đi xe máy

Những năm gần đây xe máy đã trở thành một phương tiện giao thông quan trọng vì sự tiện lợi, linh hoạt, phù hợp với mức sống của người dân. Song song là tỷ lệ tai nạn giao thông gia tăng, trong đó phải kể đến tổn thương bộ máy vận động liên quan đến tai nạn xe máy, sử dụng xe máy không đúng cách. Có hai dạng tổn thương chính bộ máy vận động là tổn thương cấp tính và mạn tính.

Chấn thương cấp tính bộ máy vận động do tai nạn giao thông

Một số chấn thương cơ hay gặp như căng giãn cơ, cứng cơ, rách cơ, rách gân. Căng cơ là tổn thương cơ và gân do bị co hoặc kéo căng quá mức. Thường hay bị tổn thương ở chỗ nối cơ gân. Tuy nhiên cũng có thể chỉ bị tổn thưong cơ hay gân. Rách cơ là khi cơ bị kéo căng quá mức thì các sợi cơ hay sợi gân có thể bị xé rách gây chảy máu trong cơ và phản ứng viêm. Ngoài ra chấn thương trực tiếp cũng có thể  gây chảy máu trong bao cơ. Khi bao cơ bị rách, máu tràn ra có thể gây xuất huyết dưới da. Một số trường hợp nặng gân hay cơ có thể đứt hoàn toàn gân, thậm chí sờ thấy được lỗ hổng trong cơ, sưng và tạo thành khối máu tụ. Thường hay bị tụ máu ở mặt trước đùi. Về sau có thể phát triển thành viêm cơ vôi hoá, nhìn thấy được trên phim Xquang, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng co duỗi cơ.

Sau một tai nạn ôtô, xe máy, tổn thương vai thường xảy ra khi bị ngã chống tay, vai xuống đất. Khi vùng vai bị chấn thương thì xuất hiện cảm giác đau, có thể khu trú hay lan xuống cánh tay. Ở thời điểm chấn thương có thể có cảm giác có tiếng động của gãy xương hay rách bao khớp. Khi vận động vùng khớp vai có thể có các tiếng cọ, mài xát. Khám khớp vai thấy có biến dạng kèm theo sưng phía trước hõm vai, bờ viền của vai, đường cong phía bên ngoài vai trở nên bất đối xứng so với bên lành. Trong một số trường hợp, đặc biệt khi gãy xương hay trật khớp vai một số cấu trúc thần kinh và mạch máu của vùng vai và tay cũng bị tổn thương như thần kinh nách hay một số thành phần của đám rối thần kinh cánh tay cũng như động mạch nách. Đánh giá sự toàn vẹn của mạch máu bằng cách sờ mạch ngoại vi như mạch quay và trụ.

Khớp vai bị trật. Trong trường hợp trật khớp vai đơn thuần thì có thể nắn chỉnh khớp. Cần làm Xquang để kiểm tra, sau đó cố định cánh tay trong 6 tuần.

– Tổn thương cổ tay và bàn tay như  gãy đầu dưới xương quay khá thường gặp, sau khi ngã chống bàn tay xuống đất. Bệnh nhân thấy đau, sưng vùng cổ tay, đầu dưới xương quay, không thể ngửa cổ tay. Để phát hiện tổn thương phối hợp cần phải khám thêm thần kinh trụ, quay, giữa, cũng như mạch quay, trụ. Bệnh nhân cần được nẹp cố định ngay và đưa đi chụp Xquang vùng cổ tay. Có thể chườm đá để giảm đau và giảm sưng nề phần mềm vùng tổn thương.

Tổn thương gối rất thường gặp trong chấn thương do tai nan. Cơ gân, dây chằng, sụn khớp, sụn chêm thường hay bị nhất. Có trường hợp bị máu tụ ở phía trước xương bánh chè hay thậm chỉ là tràn máu khớp do dập đầu gối xuống nền đường khi bị tai nạn.

– Bong gân cổ chân rất phổ biến. Tổn thương do trẹo chân vào trong thường gặp hơn là trẹo chân ra ngoài. Khi khám có thể thấy đau sưng, cổ chân có thể bị xoắn lại khi vận động, bước hụt, bước vào chỗ trũng. Phụ nữ thường hay đi giày cao gót, nên rất lúng túng khi xử lý tình huống giao thông và khi bị ngã thì thường bị nặng hơn so với người không đi guốc cao gót. Thường thấy đau gót chân. Tải trọng quá lớn, đột ngột có thể làm đứt gân Achilles.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhung_ton_thuong_co_xuong_khop_thuong_gap_khi_di_xe_may

Khớp vai bình thường                                     Trật khớp vai.

Tổn thương mạn tính bộ máy vận động khi điều khiển xe máy

Đầu tiên là các tổn thương phần mềm bàn cổ tay.  Hay gặp nhất là viêm gân gấp các ngón tay, hay còn gọi là ngón tay lò xo. Người bệnh thấy đau vùng gốc ngón tay phía gan tay, ngón tay khó duỗi thẳng ra, nhiều khi phải gắng sức mới “bật” duỗi thẳng được ngón tay, dường như là lò xo bật ra. Nguyên nhân là do bàn tay thường xuyên ở tư thế co gấp, để điều khiển phương tiện và bóp phanh, đặc biệt ở người dùng xe tay ga. Một tổn thương khác là viêm gân cơ bám vào đầu dưới xương cẳng tay, ở phía mỏm trâm quay hay trâm trụ, thường gặp hơn ở phụ nữ  do phụ nữ thường có gân dây chằng cổ tay lỏng lẻo, khi phải điều khiển xe ở tư thế giữ  thăng bằng khi đi hay rẽ thì phải gắng dùng sức, đặc biệt là ở những người đi xe tay ga, thường có lốp xe rộng bản, gây ma sát lớn trên đường gồ ghề, mấp mô. Bệnh nhân thường đau vùng cổ tay, phía mỏm trâm trụ hay trâm quay, đau tăng lên khi đi xe máy.

Khuỷu tay cũng dễ bị tổn thương khi đi xe máy, đặc biệt là viêm gân vùng mặt ngoài của khuỷu. Khám lâm sàng có thể thấy sưng nhẹ vùng lồi cầu ngoài xương cánh tay, kèm theo điểm đau khu trú, đau tăng lên khi ngửa cổ tay.

Khớp vai cũng dễ bị tổn thương, do bao khớp vai có cấu tạo rất lỏng lẻo, rộng rãi. Chủ yếu là tổn thương các gân cơ quanh khớp vai như gân cơ trên gai, cơ nhị đầu cánh tay. Thường gặp thể viêm quanh khớp vai đơn thuần. Đau vai xuất hiện khi làm một số động tác hàng ngày cần đến khớp vai như chải đầu, gãi lưng, giơ tay lên cao để với đồ vật. Người bệnh thường đau ở mỏm cùng vai. Bệnh nhân cũng không dám duỗi tay, nhấc vai. Vào ban đêm, các triệu chứng đau nhức vai tăng lên khiến bệnh nhân mất ngủ.

Các biện pháp hạn chế tổn thương khi đi xe máy

Thận trọng khi đi xe máy để tránh tai nạn ngã, gây chấn thương. Nên chú ý chọn xe vừa với khổ người, chiều cao của mình, không chọn xe quá to, quá nặng, khó điều khiển khi tham gia giao thông. Chỉ chọn xe tay ga khi có đủ khả năng điều khiển tốt, chứ không nên chọn chỉ vì ý thích hay phô diễn.

Thao tác với xe cũng cần phải chú ý đặc biệt. Không dùng lực để di đuôi xe hay nhấc đuôi xe khi xếp xe ở bãi vì điều đó rất có hại cho tay và cột sống. Không nhấc đuôi xe để dựng xe bằng chân chống giữa, vì cơ thể sẽ phải chịu tải trọng nặng nề của xe máy. Tốt nhất là dùng bàn chân cố định chân chống giữa, sau đó dùng lực toàn thân đẩy xe ra phía sau để dựng chân chống giữa. Người yếu sức hay phụ nữ thi chỉ nên dùng chân chống bên. Khi đưa xe lên nhà qua một số bậc thềm, thì không nên dùng sức mà nên đề xe và điều khiển xe nhẹ nhàng đề dùng sức của máy đưa xe lên. Khi quay chiều xe, đặc biệt khi ở trong ngõ cũng không nên dùng sức rê đuôi xe mà nên dùng chân chống bên để quay xe, hay dùng tay lái trước để điều khiển quay xe nhẹ nhàng.

PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp – Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh khớp trong mùa rét

Thời tiết lạnh là lý do khiến nhiều bệnh lý cơ xương khớp như viêm khớp, thoái hoá khớp tiến triển. Trời rét kèm theo độ ẩm tăng cao do mưa phùn, gây co các mạch máu ngoại vi làm giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp gây các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng. Xin giới thiệu một số bệnh khớp thường gặp và chịu ảnh hưởng nhiều khi thời tiết giá lạnh.

Bệnh thấp khớp cấp hay còn gọi là bệnh thấp tim, hay gặp ở lứa tuổi học đường, xuất hiện sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn bêta nhóm A. Trẻ có biểu hiện ban đầu như viêm họng, sốt cao. Sau vài tuần kể từ khi bị viêm họng, trẻ có thể xuất hiện các viêm khớp cấp do thấp. Viêm khớp có tính chất xảy ra đột ngột, hay gặp ở các khớp to vừa như khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân, hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng thường khỏi nhanh hơn khi dùng thuốc chống viêm. Trong khi biểu hiện ở khớp thường khỏi nhanh, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng thì biểu hiện ở tim thường nặng nề và là biểu hiện nguy hiểm nhất của bệnh. Ngoài các triệu chứng ở khớp, ở tim… trẻ còn có thể có các triệu chứng thần kinh như múa giật, liệt, hôn mê; đau bụng, tiểu ra máu…

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_khop_trong_mua_ret

Tắc mạch đầu chi hay gặp trong mùa lạnh

Viêm khớp dạng thấp là bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, tuổi trung niên, viêm khớp kéo dài với các đợt sưng đau khớp cấp tính, bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, sốt, có thể có các biểu hiện ở các cơ quan khác. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Các khớp thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả hai bên. Ở giai đoạn muộn, thường biểu hiện ở các khớp vai, háng, cột sống cổ. Buổi sáng, khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác cứng tại khớp, khó vận động. Dấu hiệu này rõ nhất ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như gấp, xoay cổ tay… một hoặc vài tiếng, mới giảm bớt cảm giác cứng khớp. Sau nhiều đợt cấp tính hoặc sưng đau khớp kéo dài (vài tháng hoặc vài năm), các khớp có thể biến dạng: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo, khiến cho chức năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Đau vai gáy, đau thắt lưng, viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương trong chứng bệnh đau cân cơ (fibromyalgia). Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính… Do trời lạnh, các cơ thưòng co lại để sinh nhiệt (rét run), tư thế “so vai, rụt cổ” do các cơ vùng gáy co lại để hạn chế tối đa trao đổi nhiệt với môi trường lạnh xung quanh. Các tư thế này phải duy trì trong thời gian dài làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây mệt và mỏi cơ. Có thể đau một hay hai bên bả vai, hạn chế các động tác của cột sống như cúi, ưỡn, nghiêng… Các triệu chứng hay đi kèm là trạng thái mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ…

Co thắt các mạch máu đầu chi trong hội chứng Raynaud, đây là một biểu hiện hay gặp trong bệnh xơ cứng bì toàn thể. Khi tiếp xúc với lạnh, đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức.  Xơ cứng bì là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể, trong đó thường thấy như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hoá, xơ hoá phổi, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi…

Thoái hoá khớp là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hoá của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi và nhuyễn hoá, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động.  Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm.

Phòng bệnh: Ngoài các biện pháp bảo vệ sức khoẻ chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình, các bệnh nhân mắc các bệnh khớp cần lưu ý là khi trời lạnh, nhất là kèm theo mưa phùn thì phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, đội mũ, đeo găng tay, đi tất, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm nước muối ấm bàn tay, bàn chân, sử dụng túi chườm nóng, lò sưởi, điều hoà nhiệt độ (nếu có điều kiện). Một đặc điểm quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng nhiều loại thuốc kết hợp, duy trì lâu dài, hàng năm, có khi suốt đời.

TS.BS. Đào Hùng Hạnh
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Sớm phát hiện bệnh gù lưng ở trẻ em

Đây là một thể thoát vị đĩa đệm đặc biệt thường xảy ra ở trẻ em. Bệnh tiến triển rất từ từ, không gây đau đớn “cấp tính” ở cột sống nên thường bị bỏ qua.

Vì sao trẻ lại bị gù lưng?

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_som_phat_hien_benh_gu_lung_o_tre_em

Giải phẫu cột sống bình thường

Bệnh gù lưng ở trẻ em là bệnh loạn sản sụn của đốt sống và đĩa đệm ở vùng cột sống ngực. Bệnh có gây ảnh hưởng đến cột sống thắt lưng và cần phân biệt với những bệnh lý khác của cột sống thắt lưng. Tổn thương bệnh lý thể hiện đốt sống vẹt ở phần trước, nhân nhầy thoát vị chui vào thân đốt sống ở phía dưới đĩa đệm, mặt trên và dưới của thân đốt sống cong lên chứ không lõm xuống, đĩa đệm hẹp, sụn đĩa đệm lồi lõm không đều. Những tổn thương trên thường xuất hiện ở vùng lưng, từ đốt sống ngực thứ 7 đến thứ 11. Bệnh thường gặp ở nam giới, đa số bệnh nhân bắt đầu ở lứa tuổi 13 – 17.

Trẻ bị loạn sản sụn có thể nhận biết dễ dàng không?

Gù lưng là biểu hiện điển hình của bệnh, cột sống lưng gù cong đều, không có đỉnh gù nhọn. Do gù ở cột sống nên cột sống cổ và thắt lưng uốn cong ra trước (ngược lại cột sống lưng) để bù trừ. Giảm sự giãn nở của lồng ngực khi thở, gây giảm dung tích sống của phổi.

Đau ở cột sống lưng, mức độ thường nhẹ, đau có thể lan lên vùng cột sống cổ và xuống cột sống thắt lưng, về chiều đau nhiều hơn buổi sáng. Cũng có những người bị bệnh này nhưng không đau đớn gì. Không có triệu chứng chèn ép tủy hoặc rễ thần kinh. Trên phim Xquang nếu thấy hình ảnh bệnh lý như mô tả ở trên có thể chẩn đoán xác định bệnh. Cần chú ý phân biệt với viêm cột sống dính khớp, lao cột sống, thoái hoá cột sống.

Cách điều trị bệnh là gì?

Bệnh nhân nên cố gắng đi lại, sinh hoạt bình thường. Khi đau nhiều thì dùng thuốc giảm đau, đeo đai đỡ cột sống, điều trị lý trị liệu.

Trong độ tuổi thiếu niên: nên hạn chế tăng độ gù lưng, bệnh nhân cần phải nằm trên giường cứng, không gối đầu; tránh các gắng sức thể lực và thể thao, riêng môn bơi có thể thực hiện ở mức có giới hạn; phải nằm nghỉ vào buổi trưa ở tư thế nằm ngửa; dùng kết hợp một số thuốc giảm đau thông thường nếu đau lưng nặng lên. Liệu trình này không được áp dụng kéo dài quá 6 đến 9 tháng. Tiếp sau cho tiến hành các biện pháp nắn chỉnh cột sống do các thầy thuốc chuyên khoa chỉnh hình hướng dẫn.

Trong độ tuổi trưởng thành: thường xuất hiện chứng đau lưng khi các tổn thương, hư khớp thứ phát phát triển, nhất là ở những người bệnh có trạng thái tâm lý lo âu, rối loạn thần kinh chức năng. Cần cho chụp Xquang cột sống để làm cơ sở cho việc chỉ định các biện pháp điều trị thích hợp. Bệnh nhân phải nằm nghỉ tại giường, tiến hành các biện pháp: xoa bóp, thể dục liệu pháp. Có thể kết hợp dùng các thuốc giảm đau thông thường aspirin, alaxan… Đôi khi phải cho thêm các thuốc trấn tĩnh thần kinh.

Phòng bệnh cho trẻ bằng cách nào?

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_som_phat_hien_benh_gu_lung_o_tre_em2

Biểu hiện gù lưng ở trẻ em

Để phòng bệnh gù lưng cho trẻ, các bậc cha mẹ cần chú ý ngay từ những bước đi chập chững của trẻ. Cần lựa chọn thời điểm thích hợp dạy trẻ tập đi và thực hiện được theo đúng khả năng của mình, tránh nóng vội, muốn trẻ ngồi, đi, đứng quá sớm khiến cột sống non nớt của trẻ phải gánh đỡ sức nặng của đầu và thân mình, dễ khiến trẻ mắc các bệnh cột sống về sau. Khi trẻ đã biết đi, cần dạy trẻ đi một cách tự nhiên, giữ đầu thẳng, hai vai cân đối, ngực hơi ưỡn ra phía trước. Đây là giai đoạn đầu tiên cũng là một trong những bước quan trọng nhất tránh cho trẻ bị gù hay cong vẹo cột sống sau này. Khi trẻ bước vào tuổi đến trường, cần tạo cho trẻ thói quen ngồi học đúng tư thế. Trẻ em tuổi mẫu giáo nếu phải ngồi học hay xem vô tuyến lâu, cột sống rất dễ bị gù, vẹo do hệ cơ bắp chưa đủ sức đỡ được trọng lượng cơ thể trong thời gian dài. Đối với trẻ lớn hơn, cấp tiểu học hay trung học cơ sở, trẻ thường hay ngồi bò ra bàn, ép ngực vào thành bàn, nghiêng vẹo cổ để viết nên dễ bị biến dạng cột sống. Nhiều học sinh bị cong vẹo cột sống hay gù, vai bị lệch, vai cao vai thấp do cột sống bị xoay. Do đó, trẻ cần được tạo những điều kiện sinh hoạt, vui chơi, hoạt động thoải mái để trẻ có thể thay đổi tư thế cột sống thường xuyên, kết hợp các hoạt động thể lực và nghỉ ngơi một cách hài hòa, hợp lý. Mỗi học sinh cũng cần được sắp xếp một vị trí ngồi trong lớp hợp lý để có thể nhìn rõ bảng mà không phải ưỡn hay dướn, ngó nghiêng người dễ dẫn đến bị cong vẹo cột sống.

Ở gia đình, cha mẹ cũng cần luôn quan sát, nhắc nhở trẻ đi đứng, ngồi học đúng tư thế. Nếu trẻ có những dấu hiệu khác thường thì kịp thời chấn chỉnh, tránh để thành tật do tư thế không đúng.

PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Điều trị và dự phòng thoái hóa cột sống cổ

Cột sống cổ có cấu trúc giải phẫu và chức năng cơ – sinh học đặc biệt nên rất nhạy cảm đau, trong đó phong cách sinh hoạt bất hợp lý, thiếu khoa học thường là yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh. Bởi vậy, cần tạo cho mỗi người một phong cách sinh hoạt đúng theo từng lứa tuổi kể từ thời ấu thơ đến cuối cuộc đời.

Các phương pháp điều trị

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_dieu_tri_va_du_phong_thoai_hoa_cot_song_co

Hình ảnh cắt ngang của thoái hóa cột sống cổ

Trên cơ sở của những hội chứng đau đã được chẩn đoán xác định bằng lâm sàng và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp Xquang thường theo 4 tư thế cột sống cổ (thẳng, nghiêng, chếch 3/4 trái và phải) và chụp cộng hưởng từ trong trường hợp thật cần thiết, thầy thuốc sẽ xây dựng phác đồ điều trị chuyên biệt cho từng loại hội chứng đau. Tùy theo căn nguyên, cơ chế tổn thương và giai đoạn cấp hay mạn, phương hướng điều trị gồm có điều trị bảo tồn, điều trị bằng phẫu thuật và điều trị phục hồi chức năng. Giai đoạn cấp cần nằm nghỉ ở tư thế thích hợp để giảm đau hoặc các biện pháp không dùng thuốc như các bài tập thể dục thích hợp có thể làm giảm đau và giảm co cứng cơ; điều trị lý trị liệu như tia hồng ngoại, sóng ngắn, tắm bùn nóng, tắm suối khoáng nóng, mát-xa, bấm huyệt vùng đau. Cần dùng các thuốc chống viêm giảm đau không steroid kết hợp với các thuốc giãn cơ, thuốc giảm đau đơn thuần trong đợt cấp khi bệnh nhân đau nhiều.

Điều trị bảo tồn bằng các biện pháp

Nhiệt: Biện pháp điều trị bằng nhiệt có tác dụng rất tốt đối với trạng thái cấp. Nhiệt làm tăng tuần hoàn và mềm cơ vùng vai – gáy, đồng thời bằng cơ chế phản xạ tới các đoạn vận động cột sống cổ. Cũng qua tác dụng của nhiệt vào các tổ chức ở sâu mà các quá trình viêm cục bộ ở gân cơ – màng xương đang ở tình trạng bị kích thích bởi thoái hóa đĩa đệm sẽ giảm. Đồng thời nhiệt cũng làm tăng tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh của các dây thần kinh vận động và kích hoạt chức năng vận động của tủy sống, từ đó dẫn đến làm giảm đau đớn và co cứng của các cơ. Các biện pháp dùng nhiệt có nhiều cách, trực tiếp hoặc gián tiếp: bó nến, đắp bùn trực tiếp vào cột sống cổ; dùng nhiệt khô, chiếu tia hồng ngoại, phóng không khí nóng; bệnh nhân tự điều trị tại nhà bằng gối, ấm điện, chai hay túi nước nóng hoặc bồn tắm nước nóng, rồi quấn khăn len ấm quanh cổ; cần chú trọng đề phòng bỏng da khi sử dụng các biện pháp nhiệt, nhất là các biện pháp trực tiếp.

Đai cổ: Đai cổ được làm bằng vải sợi bông có cốt ở giữa các lớp vải bằng các chất liệu tương đối cứng để giữ được khuôn của đai cổ, thường được chế tạo tại xí nghiệp sản xuất dụng cụ chỉnh hình. Đai cổ phải được đo trên cổ của từng bệnh nhân. Nếu đai cổ quá nhỏ sẽ không có tác dụng, trái lại nếu quá to, có thể làm cho cột sống cổ luôn ở tư thế quá ưỡn, không có lợi cho điều trị. Đeo đai cổ nhằm 3 mục đích: cố định cột sống cổ, nhiệt ấm vùng cổ, giảm tải cho cột sống cổ. Nhiệt của cơ thể tại vùng đeo đai cổ có tác dụng giữ mềm và giãn cơ vai – gáy. Đai cổ đúng cỡ sẽ làm cho các cơ đau được nghỉ và đỡ thêm chức năng của cơ đó. Ngoài ra, đai cổ còn có tác dụng kéo giãn với mức nhất định cột sống cổ.

Điều trị phẫu thuật trong các trường hợp chèn ép cột sống cổ gây liệt tứ chi

Chú ý (trong điều trị): Hội chứng cổ do đĩa đệm – cột sống rất phức tạp, đa dạng, tác động đến nhiều bộ phận và cơ quan nội tạng khác nhau. Vì vậy, sử dụng thuốc phải nhằm mục đích điều trị cơ bản theo cơ chế bệnh sinh chủ yếu và điều trị các triệu chứng chủ đạo của từng người bệnh. Khi sử dụng thuốc cần chú ý điều trị theo giai đoạn của bệnh (cấp hay mạn tính); khi sử dụng phối hợp các thuốc cần quan tâm tới tương tác của các thuốc sử dụng; chú trọng các chống chỉ định và tác dụng phụ của thuốc vì phần lớn các thuốc thường có ảnh hưởng tới dạ dày và công thức máu. Thuốc sử dụng thường thuộc các nhóm thuốc tác dụng và chuyên biệt: nhóm thuốc giảm đau, nhóm thuốc chống viêm – chống phù nề.

Phòng bệnh

Giữ phong cách sinh hoạt đúng

Khi ngồi: tránh ngồi cúi gấp cổ quá lâu (xem tivi, đọc sách, báo quá thấp so với bàn…); khi ngồi lâu, ngồi tàu xe đường dài cần có bản tựa đầu và tựa lưng với độ nghiêng thích hợp với từng độ tuổi và từng cỡ chiều dài cột sống cổ và cột sống lưng; đối với nghề nghiệp buộc phải thường xuyên cúi gấp cổ (đánh máy chữ, soi kính hiển vi, máy tính, thợ may, lái xe cơ giới, nghề bàn giấy, nghệ sĩ vĩ cầm, dương cầm, hội họa…) hoặc nghề buộc phải quá ưỡn cột sống cổ (thợ nề, thợ quét vôi, thợ hàn, sơn, diễn viên xiếc…), không nên để cột sống cổ ở tư thế không đổi quá lâu, cần có thời gian nghỉ sau khoảng 1 giờ làm việc, nhưng phải là “nghỉ tích cực”, có nghĩa là phải tập vận động cột sống cổ và cột sống lưng với các động tác tập nhẹ nhàng thích hợp.

Khi nằm: cần có gối đầu với độ dày vừa phải, tránh để tư thế quá ưỡn cổ hoặc cúi gấp cổ. Vì hình thái cột sống cổ có độ cong vồng ra phía trước nên khi nằm ngửa cần có gối đệm đỡ vào khoảng cong lõm của cột sống cổ. Khi nằm nghiêng, độ dày của gối phải bảo đảm cho trục của đoạn cột sống cổ ở trên cùng một trục thẳng của cột sống lưng.

Cần quan tâm tới các bài tập thể dục vận động cột sống cổ: Theo các chiều vận động với các trường vận động sinh lý của cột sống cổ.

Tránh các chấn thương vào đầu và cột sống cổ: Các chấn thương này tuy không quá nặng nhưng nó sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa đĩa đệm – cột sống cổ. Nghề nghiệp nào buộc phải dùng đầu để đội vật nặng quá tải cũng có thể coi như loại vi chấn thương trường diễn.

Khi tuyển lựa nghề nghiệp: phải sử dụng tới độ bền chắc của cổ (vận động viên nhảy cầu đầu lao xuống nước, nghệ sĩ xiếc nhào lộn, uốn dẻo…) cần có tiêu chuẩn khám cột sống cổ.

PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Bệnh “cột sống tre”

Bệnh “cột sống tre” còn gọi là bệnh viêm cột sống dính khớp là một bệnh gây nhiều đau đớn cho người bệnh. Không chỉ thế, bệnh còn ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Để điều trị được căn bệnh này cần có sự kết hợp giữa điều trị bằng thuốc và các phương pháp điều trị chỉnh hình. Bài viết dưới đây của PGS. Vũ Quang Bích sẽ giới thiệu với bạn đọc một số phương pháp điều trị căn bệnh này.

Bệnh “cột sống tre” có biểu hiện như thế nào?

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_benh_cot_song_tre

Viêm khớp cùng chậu gây gù lưng

Bệnh “cột sống tre” còn được đặt tên là bệnh Bechterew. Khi có các biểu hiện về đau cột sống lưng hay vùng thắt lưng, hạn chế vận động cột sống thắt lưng hay độ giãn của lồng ngực khi hít vào giảm, người bệnh cần được hướng tới một chẩn đoán là bệnh viêm cột sống dính khớp. Ngoài ra, trên phim chụp Xquang, có thể chẩn đoán bệnh viêm cột sống dính khớp khi có viêm khớp háng hoặc khớp gối cả hai bên, viêm khớp cùng chậu hai bên ở giai đoạn III hoặc IV. Ở giai đoạn muộn hơn, trên phim chụp Xquang cột sống thấy các cầu xương khoá cứng các đốt sống với nhau tạo hình ảnh cột sống hình “cây tre”, các dây chằng ở cột sống bị đóng vôi. Ở giai đoạn đầu bệnh đang tiến triển, bệnh nhân bị đau ở cột sống nhiều hơn ở giai đoạn đã dính khớp. Khám lâm sàng chủ yếu có hội chứng cột sống, hội chứng kích thích hoặc chèn ép rễ thần kinh nhẹ.

Bệnh “cột sống tre” dễ nhầm với bệnh gì?

Bệnh “cốt sống tre” rất dễ nhầm với bệnh thoái hoá cột sống (spondilose). Tuy nhiên, để phân biệt hai bệnh này có thể dựa vào một số đặc điểm sau:

– Bệnh thoái hoá cột sống chủ yếu xảy ra ở người nhiều tuổi, còn viêm cột sống dính khớp chủ yếu xảy ra ở người trẻ tuổi và nam giới.

– Hình ảnh Xquang trong thoái hoá cột sống chủ yếu là các mỏm xương ở thân đốt sống, không kèm viêm khớp cùng chậu hai bên.

Điều trị bệnh “cột sống tre” như thế nào?

Cho tới nay vẫn chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu nào đối với bệnh viêm cột sống dính khớp mà thường chỉ nhằm xử trí các đợt đau của bệnh. Có hai biện pháp là điều trị chỉnh hình và điều trị bằng thuốc.

Điều trị chỉnh hình: đây là biện pháp cơ bản gồm các biện pháp dự phòng cần được áp dụng thường xuyên, kể cả ngoài các đợt đau: người bệnh nằm trên một phản cứng (đặt xen giữa đệm và giát giường một tấm ván); phải đặt một gối mỏng dưới đầu; tiến hành các động tác duỗi để chống lại xu hướng gù lưng; tập thể dục giữ tư thế: lưng áp sát vào tường, xương bả vai, u chẩm, gai chậu sau- trên và hai gót chân cũng phải áp chạm tường là đặc biệt cần thiết; thực hiện các bài tập thở hàng ngày để tránh sự giảm biên độ thở.

Các biện pháp chữa bệnh trong giai đoạn tiến triển nặng: chủ yếu là để chỉnh lại tư thế do gù lưng vừa hình thành. Bệnh nhân nằm ngửa, đặt hai túi cát (mỗi túi chứa 1 – 1,5kg) lên hai vai bệnh nhân, nếu cột sống cổ có xu hướng gù gập ra trước thì cho đặt một túi cát vào trán; giảm dần bề dày của gối đầu; để duy trì kết quả, cần thiết phải cho bệnh nhân đeo một cái đai mà điểm tựa là xương ức và cột sống lưng được tự do (đai kiểu Swain).

Trường hợp có tổn thương ở các khớp ngoại vi có thể áp dụng các biện pháp chỉnh hình khác.

Điều trị bằng thuốc

Thuốc điều trị có hiệu quả nhất là phenylbutazon, nhưng cần được theo dõi chặt chẽ. Các chống chỉ định phải được tuân thủ nghiêm ngặt và khi có một dấu hiệu phản ứng do ảnh hưởng của thuốc như cảm giác nóng rát dạ dày, buồn nôn hay nôn, ban ngoài da, ngứa, chảy máu da – niêm mạc, protein niệu, giảm bạch cầu trong máu thì phải ngừng thuốc ngay.

Phenylbutazon là thuốc cơ bản cho điều trị một đợt tiến triển theo phác đồ: dùng 3 viên (600mg/ngày) trong vòng 10 ngày, rồi tiếp sau cho từ 1 – 2 viên (500mg/ngày). Trong giai đoạn này cho kèm theo aspirin 2-3g một ngày (aspirin pH8, aspirin sủi bọt…). Tùy theo diễn biến của bệnh, phenylbutazon cho tiếp tục theo liều giảm dần, trung bình từ 1 – 1,5g mỗi tuần, rồi giảm xuống liều tối thiểu hữu hiệu cho tới khi đợt tiến triển kết thúc.

Ngoài đợt tiến triển, tùy theo từng trường hợp có thể áp dụng thích hợp: nhiều bệnh nhân không còn biểu hiện lâm sàng có thể ngừng thuốc; một số bệnh nhân khác có thể duy trì cuộc sống tương đối bình thường với thuốc điều trị củng cố bằng aspirin từ 1-2g một ngày, hoặc với liều nhỏ phenylbutazon theo đường uống hay đặt thuốc đạn hậu môn. Tất cả các trường hợp đều phải áp dụng các biện pháp chỉnh hình.

Các loại thuốc chống viêm khác: nhiều loại thuốc chống viêm khác cũng có tác dụng tương đối tốt như tilcotil, voltaren, profenid… Trường hợp có tổn thương các khớp ngoại vi có thể kết hợp thêm viên dinh dưỡng và vitamin thành phần có glucosamine sulfate 500mg và chondrovitin sulfate 400mg.

Trong quá trình điều trị, tùy theo từng trường hợp và diễn biến của bệnh mà kết hợp với biện pháp chỉnh hình, các loại thuốc giãn cơ như myolastan, mydocalm, coltramyl…

Ngoài ra, người bệnh còn có thể áp dụng một số biện pháp khác như châm cứu, bấm huyệt, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng thích hợp.

PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Nhận biết thoái hóa khớp

Thoái hóa khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn, đệm giữa hai đầu xương, kèm theo phản ứng viêm ở đó và giảm sút lượng dịch nhày giúp bôi trơn, vì vậy gây đau và cứng khớp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở người trên 40 tuổi, nhất là sau 60 tuổi.

Yếu tố thuận lợi gây thoái hóa khớp

Một số yếu tố quan trọng liên quan đến thoái hóa khớp là tuổi tác, tình trạng béo phì, những chấn thương nhẹ và mạn tính ở khớp. Phạm vi thoái hóa khớp bao gồm cả khớp, sụn và cả những tổn thương thoái hóa tại các đĩa liên đốt. Bệnh được đặc trưng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop

Bệnh thoái hóa khớp được chia làm 2 loại:

– Thoái hóa khớp tiên phát, chủ yếu xuất hiện ở khớp ngón xa (hạt Heberden) và sau đó là các khớp ngón gần (hạt Bouchard), khớp bàn ngón và khớp ngón gần của ngón tay cái, khớp háng, khớp đầu gối, khớp bàn ngón chân cái, cột sống cổ, cột sống thắt lưng…

– Thoái hóa thứ phát: xuất hiện ở bất kỳ khớp nào, hậu quả của tổn thương khớp do những nguyên nhân tại khớp (như viêm khớp dạng thấp), hay ngoài khớp. Những tổn thương này có thể là cấp tính, chẳng hạn gãy xương, hoặc mạn tính do khớp phải làm việc quá sức, do một số bệnh rối loạn chuyển hóa (ví dụ cường cận giáp trạng, bệnh nhiễm sắc tố sắt, bệnh nhiễm sắc tố ochronose) hay những bệnh lý thần kinh (bệnh tabet).

Về mặt giải phẫu, ban đầu sụn khớp trở nên thô ráp, cuối cùng là mỏng đi và tạo nên các gai xương ở rìa của diện khớp. Màng hoạt dịch dày lên, các hình lông phì đại. Mặc dù vậy khớp không bao giờ bị dính hoàn toàn và màng hoạt dịch không bị kết dính. Biểu hiện viêm rõ đôi khi có một số bệnh nhân bị tổn thương cấp các khớp liên đốt ngón tay (hạt Heberden).

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_nhan_biet_thoai_hoa_khop_02

Các khớp thường bị thoái hóa trên cơ thể.

Chẩn đoán phân biệt

Vì biểu hiện viêm khớp thường rất nhẹ và không có những triệu chứng toàn thân cho nên bệnh thoái hóa khớp rất ít khi nhầm lẫn với bệnh viêm khớp khác. Vị trí tổn thương các khớp ở bàn tay giúp phân biệt thoái hóa khớp và viêm khớp dạng thấp. Thoái hóa khớp chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ngón xa và dạng thấp lại chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp cổ tay và khớp bàn ngón tay, ít gặp ở các khớp ngón xa. Hơn nữa, trong thoái hóa khớp, khớp to ra do phì đại của xương nên thường cứng và mát (không nóng) trái lại khớp sưng trong viêm khớp dạng thấp thường mềm và nóng. Cũng cần phải thận trọng không nên cho rằng mọi triệu chứng ở xương khớp đều do khớp bị thoái hóa, đặc biệt đối với cột sống, bởi vì đi kèm với thoái hóa khớp có thể có di căn ung thư, loãng xương do u tủy xương hoặc những bệnh khác.

Những khớp nào hay bị thoái hóa?

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Bệnh khởi phát từ từ, ban đầu có dấu hiệu cứng khớp song hiếm khi kéo dài quá 15 phút. Sau đó xuất hiện đau khớp, tăng lên khi vận động kéo dài và giảm khi nghỉ ngơi. Biến dạng khớp thường không có hoặc rất nhẹ, tuy nhiên đôi khi thấy phì đại xương rõ. Tình trạng co gấp hoặc biến dạng khớp gối, ít gặp. Bệnh không gây dính khớp song thường gây hạn chế vận động khớp, đôi khi người bệnh cảm thấy tiếng lạo xạo trong khớp. Tràn dịch khớp và những biểu hiện viêm khớp khác thường nhẹ. Không có triệu chứng toàn thân.

Xét nghiệm: tốc độ lắng máu không tăng, các xét nghiệm viêm thường bình thường. Trên Xquang có biểu hiện hẹp khe khớp, các rìa của diện khớp thường nhọn, mọc gai ở đầu xương, đặc xương dưới sụn. Ngoài ra có thể thấy các hốc nhỏ ở đầu xương.

Khớp nào cũng có thể bị tổn thương thoái hóa nhưng thông thường nhất là thoái hóa khớp háng, khớp gối và khớp cột sống. Hai triệu chứng biểu hiện của thoái hóa khớp là đau tại khớp bị thoái hóa và cứng khớp vào buổi sáng. Mỗi khớp thoái hóa có những triệu chứng khác nhau:

– Cột sống thắt lưng: Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân thấy đau lưng nhiều vào buổi sáng, khi mới ngủ dậy, kéo dài không quá 30 phút. Một thời gian sau, đau lưng sẽ kéo dài cả ngày, tăng khi làm việc nhiều và giảm khi nghỉ ngơi. Thoái hóa cột sống hay gặp từ đốt sống thắt lưng trở xuống, thường ảnh hưởng đến thần kinh tọa làm người bệnh có cảm giác đau từ lưng xuống.

– Cột sống cổ: Rất hay gặp ở người trên 40 tuổi. Biểu hiện chủ yếu bằng đau cơ hạn chế cử động cổ. Có thể gây biến chứng đau vùng cổ và tay do chèn ép hoặc kích thích rễ thần kinh khi khám thấy các cử động tại cổ đều bị hạn chế nhất là động tác nghiêng bên. Chụp Xquang tổn thương thường ở đốt cổ 5 và cổ 6, giữa cổ 6 và cổ 7, gây cảm giác mỏi và đau gáy, lan đến cánh tay bên phía dây thần kinh bị ảnh hưởng.

– Khớp gót chân: Bệnh nhân có cảm giác thốn ở gót vào buổi sáng mới ngủ dậy, khi đi những bước đầu tiên, sau vài chục mét thì giảm đau và đi đứng bình thường.

– Khớp gối: Ngoài triệu chứng đau có thể kèm theo tiếng lạo xạo, lụp cụp khi co duỗi gối, đau nhiều hơn khi đi lại vận động; nhất là khi ngồi xổm thì đứng dậy rất khó khăn, nhiều khi phải có chỗ tựa mới đứng dậy được. Bệnh nặng sẽ thấy tê chân, biến dạng khớp gối. Trong một số trường hợp màng hoạt dịch có thể bị viêm dày lên, khi ấn vào xương bánh chè đồng thời gấp chân lại, có thể gây đau nhói và một tiếng rắc. Đây cũng chính là biểu hiện chứng tỏ có tổn thường khớp đùi – bánh chè. Thoái hóa khớp gối thường có khuynh hướng nặng lên dần. Do đau nên ảnh hưởng nhiều đến mọi hoạt động.

– Khớp háng: Người bệnh đi lại khó khăn do đau ngay từ đầu, vì khớp này gánh trọng lượng cơ thể nhiều nhất. Đau thường ở vùng bẹn và mặt trước trong của đùi. Cũng có khi đau vùng mông, mặt sau của đùi, dễ nhầm với đau dây thần kinh hông to. Đau xuất hiện khi đi, do đó hạn chế việc đi lại biểu hiện bằng việc đi khập khiễng. Nằm nghỉ thì hết đau, những trường hợp thoái hóa khớp nặng, đau cả ban đêm, lúc nghỉ và có thể gặp teo cơ đầu đùi. Bệnh không tự khỏi mà tiến triển từ từ có thể dẫn đến cứng khớp không hoàn toàn.

BS. Nguyễn Thị Lan Anh
Theo SKĐS

Biểu hiện bệnh cơ xuong khớp của luput ban hệ đỏ

Luput ban đỏ hệ thống là một bệnh tự miễn của mô liên kết, có thể ảnh hưởng đến mọi bộ phận cơ thể. Lupus ban đỏ hệ thống gây nguy hiểm nhiều cho khớp. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ nhiều hơn gấp 9 lần ở đàn ông, đặc biệt là ở lứa tuổi từ 15 – 50.

Những biểu hiện điển hình

Đa số những bệnh nhân mắc bệnh luput ban đỏ thường gặp là triệu chứng đau khớp, sưng khớp có nhưng hiếm gặp hơn. Sưng khớp thường đối xứng hai bên cơ thể và không gây tổn thương khớp. Những khớp thường bị nhất là các khớp ở bàn tay, cổ tay và khớp gối.

benh-dau-khop-o-benh-luput-ban-do

Ngoài ra, bệnh nhân còn có nhiều triệu chứng tổn thương ở các bộ phận khác như: ở da, niêm mạc (ban cánh bướm ở mặt, ban dạng đĩa ở thân mình, loét niêm mạc miệng mũi, tăng nhạy cảm của da với ánh sáng); tổn thương thận (protein niệu, hội chứng thận hư, suy thận); tổn thương cơ quan tạo máu (giảm 1 hay 3 dòng tế bào máu); tổn thương tim và phổi (tràn dịch màng tim, rối loạn nhịp, tràn dịch màng phổi, xơ phổi); tổn thương tâm thần, thần kinh;… Trong bệnh xơ cứng bì toàn thể, ngoài viêm khớp nhỏ và nhỡ còn có các tổn thương xơ cứng da và tổ chức dưới da, co thắt mạch đầu chi (hội chứng Raynaud), nuốt nghẹn, xơ phổi…

Đối với những bệnh nhân lupus, đặc biệt là những người phải sử dụng corticoid liều cao, có thể một số dạng tổn thương khớp do giảm máu nuôi gây chết các xương trong khớp. Tình trạng này được gọi là hoại tử vô mạch và thường gặp nhất ở các khớp háng và khớp gối. Thỉnh thoảng, một số cơ có thể bị viêm và rất đau, làm cho bệnh nhân trở nên yếu ớt và mệt mỏi hơn.

Điều trị như thế nào?

Luput ban đỏ hệ thống có thể điều trị được bằng cách điều trị các triệu chứng của bệnh, chủ yếu bằng các corticosteroid và các chất ức chế miễn dịch; nhưng chưa có biện pháp chữa trị triệt để nào. Luput ban đỏ hệ thống có thể nguy hiểm chết người, nhưng với những tiến bộ trong y học hiện nay, tử vong đang trở nên hiếm hơn. Tỉ lệ sống sót ở những bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống ở Hoa Kỳ, Canada và châu Âu là khoảng 95% trong 5 năm, 90% trong 10 năm và 78% ở 20 năm.

Các thuốc có tác dụng ổn định bệnh là các thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphamide, methotrexate; thuốc chống sốt rét tổng hợp, thuốc điều trị triệu chứng như thuốc giảm đau, nâng cao thể trạng… Các thuốc phải dùng kéo dài, có thể suốt đời nên phải có sự hợp tác thật tốt giữa thầy thuốc và bệnh nhân để điều chỉnh thuốc cho thích hợp.

Ngoài dùng thuốc điều trị, người bệnh cần được nghỉ ngơi hợp lý, làm việc nhẹ nhàng, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, bổ sung chất khoáng và sinh tố. Tăng cường vệ sinh răng miệng và phòng các nhiễm khuẩn răng miệng.

Với các bệnh nhân có nhạy cảm da với ánh sáng thì phải đội mũ, đi găng, đeo kính, mặc các quần áo bằng chất liệu chống nắng, dùng các loại kem chống nắng khi buộc phải ra ngoài. Về sức khỏe sinh sản, các bác sĩ thường khuyên người bệnh chỉ có thể mang thai khi trong 6 tháng trước không có các đợt tiến triển bệnh. Vì bệnh có xu hướng nặng lên khi mang thai, do đó, khi có thai, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc chuyên khoa.

BS. Nguyễn Hưng

Theo SKDS

 

Bệnh xương khớp không trừ một ai: Gút – vua của các bệnh

Có hàng trăm bệnh liên quan đến xương khớp, trong đó 35 bệnh khớp, 7 bệnh quanh khớp, 21 bệnh nội khoa có biểu hiện khớp, 40 bệnh xương cũng thuộc chuyên khoa khớp học. Các bệnh hay gặp như thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, gút… ngày càng có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng lớn tới chất lượng sống của người bệnh, đôi khi gây tàn phế, thậm chí có thể gây tử vong do biến chứng. Tuy nhiên, bệnh có thể phòng tránh và hạn chế biến chứng nếu được điều trị đúng và kịp thời.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh

Biểu hiện gút cấp tính ở ngón chân

Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hoá nhân purin của tế bào, có thể hiểu nôm na là rối loạn chuyển hoá đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.

Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút

Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên khó khăn trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu… nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dùng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.

Các hiểu biết giúp chẩn đoán bệnh chính xác

Đối tượng  và lứa tuổi hay mắc bệnh

Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn (rượu, bia ) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới, bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.

benh_xuong_khop_khong_tru_mot_ai_gut_vua_cua_cac_benh02

Biểu hiện gút ở ngón chân

Các biểu hiện chính của bệnh gút

Để phát hiện sớm được bệnh gút cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh. Đó là các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận.  Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái… Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicine thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai  của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như   khớp cổ chân, bàn ngón chân… Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận. Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí  không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.

Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh

Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố  thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu nói: gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia, rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hoá khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như  thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.

Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để  chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

TS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
Theo SKĐS

Dinh dưỡng cho người bệnh xương khớp

Bệnh cơ xương khớp là bệnh của hệ thống vận động, bao gồm cơ, xương, khớp và các tổ chức quanh khớp (đầu xương, bao khớp, màng hoạt dịch, gân cơ và dây chằng). Có hơn 100 bệnh lý khớp, phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis), loãng xương (osteoporosis), gút (gout).

Tầm quan trọng của dinh dưỡng trong bệnh lý khớp

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, gây đau đớn, ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh, có thể dẫn đến tàn phế, mất khả năng lao động mà điều trị lại rất tốn kém. Các biện pháp điều trị chỉ nhằm đẩy lui những đợt bệnh cấp tính, vì vậy nhiều người bệnh đã tự tìm mọi cách để khống chế, nghe mách bảo lẫn nhau từ thuốc men đến cách ăn uống chọn lựa thực phẩm, thậm chí kiêng khem đến mức bị suy dinh dưỡng nhưng bệnh vẫn cứ ngày càng nặng dần.

dinh_duong_cho_nguoi_benh_xuong_khop

Cho đến nay chưa có bằng chứng khoa học chứng minh loại thực phẩm nào có thể điều trị lành bệnh khớp hoặc gây ra bệnh. Ngoại trừ, bệnh gút dễ bị tấn công nếu chế độ ăn chứa quá nhiều chất purin làm tăng lượng acid uric trong máu. Có một số loại thực phẩm có thể gây xuất hiện những đợt viêm khớp cấp trong bệnh viêm khớp dạng thấp và người bệnh cho chúng là nguyên nhân của bệnh, nhưng sự thật với người bệnh khác có thể không xảy ra.

Thực tế chỉ có một chế độ ăn hợp lý mới mang lại lợi ích cho người bệnh, giúp người bệnh đủ khả năng chống lại những đợt bệnh tấn công, đồng thời cũng giúp người bệnh phòng một số bệnh mãn tính khác như: đái tháo đường, cao huyết áp, tăng cholesterol máu… góp phần làm nặng nề thêm bệnh khớp.

Thế nào là ăn uống hợp lý?

Đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể để duy trì mức cân hợp lý. Cân nặng cơ thể gọi là hợp lý khi BMI = 18,5 – 23. Nếu BMI dưới 18,5 là thiếu cân, trên 23 là thừa cân.

Nếu bị thiếu cân, cần tăng thêm năng lượng ăn vào để tăng cân. Ngoài 3 bữa chính nên thêm 2 – 3 bữa phụ, chú ý các món ăn giàu năng lượng như: chiên xào, sữa béo, thêm vào sau bữa chính các món ăn như: trái cây ngọt, bánh ngọt, tàu hủ… Lưu ý: sau những đợt viêm cấp sức khỏe bị ảnh hưởng nhiều, mất các chất dinh dưỡng, ăn uống kém do đau đớn, sốt, rất dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể giảm sức đề kháng. Do đó, càng phải ăn uống nhiều hơn.

Nếu bị thừa cân, cần giảm năng lượng ăn vào để giảm cân. Hạn chế các món ăn béo ngọt, chiên xào, không ăn nhiều vào cữ tối, thay vào đó là các món rau, đậu, trái cây. Tăng thời gian vận động thể lực để tăng tiêu hao năng lượng. Đặc biệt người bệnh thoái hóa khớp, loãng xương, gút hay gặp ở tuổi trung niên, có tình trạng thừa cân béo phì kèm theo làm tăng gánh nặng lên các khớp, gây đau đớn, hạn chế vận động có thể dẫn đến xẹp các đốt sống, mòn khớp, cứng khớp, biến dạng khớp. Ngoài ra, thừa cân béo phì còn là nguy cơ của các bệnh lý mãn tính khác như: tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, ung thư… Do đó, giảm cân sẽ giúp giảm gánh nặng cho khớp và giảm nguy cơ mắc bệnh.

Ăn đủ các chất dinh dưỡng cần thiết:

Ăn nhiều các loại rau quả: mỗi ngày nên ăn hơn 300g rau các loại và hơn 200g trái cây, để cung cấp đủ các vitamin nhóm B, C, E, -caroten, khoáng chất kali, magiê là những chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa các bệnh thoái hóa.

Ăn đủ thức ăn giàu đạm: đạm động vật như: thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, nghêu, sò. Đạm thực vật như: tàu hủ, bột đậu nành, các loại đậu đỗ. Mỗi ngày nên ăn trung bình 50g thịt, 50 -100g cá, 100g đậu hủ, 30g đậu đỗ, trứng 3 – 4 quả/tuần. Nếu cholesterol máu cao hoặc có sỏi mật ăn 1 – 2 quả/tuần. Đặc biệt, có nhiều nghiên cứu cho thấy chất béo omega-3 có trong cá có thể giúp giảm viêm khớp.

Sữa: nên uống 2 – 3 ly/ngày. Nếu có thừa cân hoặc cholesterol máu cao thì thay bằng sữa tách béo. Sữa cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất đặc biệt giàu canxi rất cần thiết cho người bệnh xương khớp.

Chất béo: nên ăn vừa phải, chọn các loại dầu thực vật như: dầu mè, dầu nành, dầu phộng… trung bình 20g/ngày. Nếu thừa cân nên giảm thức ăn chiên xào, ăn thịt nạc bỏ da, các món kho luộc hấp. Nếu thiếu cân suy dinh dưỡng, cần tăng thêm chất béo trong thức ăn.

Ăn đủ thức ăn giàu bột: cơm, mì, nui, bắp, khoai, củ… để không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì. Nên ăn gạo lức, thêm khoai củ, bắp để tăng chất xơ và các chất dinh dưỡng khác.

Tránh ăn quá mặn, quá ngọt: lưu ý ở các bệnh nhân tim mạch, đái tháo đường, thận. Một số thuốc điều trị bệnh khớp có tác dụng giữ natri, mất kali hoặc các thuốc tráng dạ dày dùng kèm có tác dụng giữ natri, canxi, magiê.

Tránh dùng rượu và các chất kích thích thần kinh: các chất này thường gây co cứng cơ, giảm tác dụng của thuốc, gây bất lợi trong điều trị.

Ăn uống trong bệnh gút

Bệnh gút là loại bệnh khớp duy nhất mà chế độ ăn đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người bệnh. Nên hạn chế những thức ăn giàu purin, làm tăng acid uric trong máu, đặc biệt trong những đợt bị gút cấp tính. Các thực phẩm dễ làm tăng acid uric trong máu được chia thành 2 nhóm.

Nhóm 1: nhiều purin: gan, cật, óc, lá lách, trứng cá, cá sardine, cá trích, cá hồi, heo, nấm, măng tây, bia, sô-cô-la, cacao…

Nhóm 2: chứa purin trung bình: heo, bò, gà, vịt, hải sản, cua, tôm, đậu đỏ, cải, bó xôi, bông cải.

Nhóm 3: chứa ít purin: ngủ cốc, bơ, dầu mơ, rau quả.

Các thức uống làm tăng acid uric máu: rượu, cà phê, trà, nước uống có coca.

Người bị bệnh gút nên loại bỏ thức ăn nhóm 1, đặc biệt các đợt gút cấp tấn công, hạn chế nhóm 2. Nên ăn thịt nạc, trứng, đậu hủ, sữa giảm béo. Rượu bia 1 – 3 ly/ tuần, nên uống nhiều nước 2 – 3 lít/ngày để tăng thải acid uric theo nước tiểu.

Bệnh xương khớp là một bệnh mãn tính, với những đợt tấn công cấp tính gây đau đớn, điều trị tốn kém nhưng lại hạn chế kết quả điều trị và có khả năng gây tàn phế, giảm chất lượng sống của người bệnh. Muốn điều trị tốt cần phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó ăn uống hợp lý sẽ giúp cho người bệnh đủ sức chống đỡ những cơn cấp tính, phòng ngừa một số bệnh lý mãn tính, đem lại một tinh thần sảng khoái, lạc quan trong cuộc sống.

BS. NGUYỄN THỊ ÁNH VÂN
Theo SKĐS

“Giảm đau” trong bệnh xương khớp

Đau thường là nguyên nhân chính khiến bệnh nhân đi khám bệnh, nhất là đau trong các bệnh về cơ xương khớp. Ngược lại có những thể bệnh gây hủy hoại rất nhiều về cấu trúc và chức năng của xương khớp, nhưng bệnh nhân bị mất hay giảm cảm giác nên không nhận biết được đau.

Các kiểu đau trong bệnh xương khớp

Căn cứ nguyên nhân gây đau người ta chia ra hai loại là đau cơ học và đau do viêm.

Đau cơ học là cơn đau khi người bệnh cử động, bệnh nhân càng sử dụng phần cơ thể bị bệnh để tập thể dục, làm việc… thì càng thấy đau. Bệnh nhân cũng có thể có cảm giác đơ cứng vùng tay chân bị bệnh sau khi nghỉ ngơi một khoảng thời gian, nhưng triệu chứng cứng khớp thường không kéo dài quá nửa giờ.

giam_dau_trong_benh_xuong_khop

Tổn thương viêm khớp dạng thấp bàn tay là những nguyên nhân gây đau kiểu viêm.

Đau kiểu viêm thường xuất hiện vào ban đêm, nhất là khi gần sáng. Đối với dạng bệnh tiến triển nặng thì triệu chứng đau có thể kéo dài suốt ngày đêm. Cơn đau không thuyên giảm khi bệnh nhân nằm nghỉ và đau liên tục khiến bệnh nhân mệt mỏi, mất ngủ, thậm chí bị căng thẳng thần kinh. Đi kèm với triệu chứng đau còn có các dấu hiệu viêm là sưng, nóng, đỏ. Đôi khi có triệu chứng cứng khớp xuất hiện vào sáng sớm, khi thức dậy và kéo dài hàng giờ. Những cơn đau dữ dội về đêm, không thuyên giảm dù đã được điều trị tích cực với nhiều loại thuốc có thể là biểu hiện của bệnh lý ác tính.

Những bệnh xương khớp gây đau kiểu cơ học là: loãng xương và biến chứng (gãy xương); hoại tử xương; thoái hóa các khớp: gối, vai, cột sống, háng…; bệnh lý gân và dây chằng; hội chứng loạn dưỡng đau (thời kỳ loãng xương).

Các bệnh xương khớp gây đau kiểu viêm gồm: nhiễm khuẩn xương khớp; viêm khớp dạng thấp; viêm khớp phản ứng; viêm khớp do gút; thấp khớp cấp; hội chứng loạn dưỡng đau…

Giảm đau xương khớp bằng cách nào?

Biện pháp không dùng thuốc: giảm áp lực ở khớp bằng cách cho các khớp bị viêm được nghỉ ngơi; giảm chịu lực cho khớp: cố định bằng nẹp, dùng nạng chống hoặc các dụng cụ chuyên dùng giúp đi bộ, giúp giảm áp lực ở các khớp bị đau; tập luyện phù hợp với từng bệnh; vật lý trị liệu: xoa bóp, xung điện, tập thụ động và chủ động… bệnh nhân cần thực hiện một chế độ dinh dưỡng đầy đủ chất để giúp cơ xương khớp mau hồi phục: tăng cường chất đạm, vitamin và khoáng chất calci, phospho, magie…

Sử dụng thuốc điều trị: thuốc giảm đau chống viêm thông thường, thuốc bôi ngoài da, thuốc kháng viêm không steroid.

Tuy nhiên cơ bản là điều trị theo nguyên nhân của bệnh chẳng hạn viêm khớp dạng thấp dùng các thuốc chống thấp khớp: methotrexate, cyclosporin A, kháng interleukin; các bệnh tự miễn như viêm đa cơ, viêm da cơ, xơ cứng bì… dùng thuốc điều hòa đáp ứng miễn dịch corticosteroid và các thuốc ức chế miễn dịch như: azathioprin, cyclophosphamide…; thoái hóa khớp dùng các thuốc làm thay đổi cấu trúc của sụn khớp như: glucosamine sulfate, piascledin…; loãng xương thì dùng các thuốc chống hủy xương và tăng tạo xương: calcitonin, SERM, rPTH…; lao xương dùng các thuốc kháng lao; viêm khớp nhiễm khuẩn, dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ.

Ngoài ra còn cần phải điều trị các biến chứng về tiêu hóa, tim mạch và các biến chứng thận, huyết học, xương, sức đề kháng…

giam_dau_trong_benh_xuong_khop02

Viêm khớp dạng thấp khớp gối là những nguyên nhân gây đau kiểu viêm.

Xử trí khi bị đau xương khớp tại nhà

Khi bệnh nhân thấy xuất hiện cơn đau cấp tính ở một vùng cơ xương khớp cần thực hiện: nghỉ ngơi, tránh các cử động không cần thiết nơi đau; tránh cắt lể; có thể sử dụng một số thuốc giảm đau chống viêm trong vài ba ngày đầu bằng các thuốc: paracetamol liều 500-1.000mg đối với người lớn; thuốc bôi ngoài da (không chà sát hay xoa bóp mạnh); thuốc kháng viêm không steroid như diclofenac, oxicam, coxib…; Bệnh nhân nên sử dụng nạng giúp đi lại giảm áp lực lên khớp đau; dùng nẹp cố định khớp đau. Trong khi đau cấp bệnh nhân cần tránh các hoạt động mạnh, nhưng vẫn phải duy trì vận động nhẹ nhàng tuần tự để tránh các hiện tượng co cơ hay teo cơ.

Điểm lưu ý quan trọng là đối với những bệnh nhân có cơ địa dị ứng, hen suyễn, bệnh mạn tính về tim mạch, thận, gan, phụ nữ có thai hay đang cho con bú cần thận trọng khi dùng thuốc để tránh tai biến do thuốc gây ra. Tuyệt đối không nên sử dụng các đơn thuốc của người khác hoặc tự ý mua thuốc uống.

ThS. Minh Phát
Theo SKĐS

Điều trị viêm quanh khớp vai bằng xoa bóp bấm huyệt

Viêm quanh khớp vai là một trong những bệnh xương khớp thường gặp ở lứa tuổi trên 40, là tình trạng viêm vô khuẩn của các tổ chức phần mềm quanh khớp vai như viêm màng hoạt dịch khớp, gân và dây chằng quanh khớp, bao gân cơ nhị đầu…

Nguyên nhân bị bệnh

Theo y học cổ truyền viêm quanh khớp vai gọi là kiên tỷ thống, là chứng bệnh thuộc phạm giảm, phong hàn thấp tà xâm phạm vào kinh lạc gây bế tắc sự vận hành khí huyết gây đau hoặc do can thận quá hư tổn và bệnh nội thương làm bế tắc sự vận hành khí huyết mà gây đau hoặc do sang chấn gây huyết ứ lâu ngày mà sinh bệnh. Viêm quanh khớp vai gồm các thể: đơn thuần, kèm vôi hóa gân, tắc nghẽn, giả liệt.

Biểu hiện nổi bật của viêm quanh khớp vai là tình trạng đau vùng vai và hạn chế vận động vùng khớp vai, đặc biệt là khó nhấc tay lên cao, khó chải đầu, khó gãi được lưng. Chụp Xquang thường không phát hiện được tổn thương. Siêu âm là một thăm dò có giá trị trong chẩn đoán viêm quanh khớp vai. Qua siêu âm chúng ta có thể thấy hình ảnh viêm, xơ hóa, lắng đọng canxi ở những tổ chức quanh khớp vai. Tùy theo từng thể bệnh mà mức độ đau và hạn chế vận động khác nhau.

dieu_tri_viem_quanh_khop_vai_bang_xoa_bop_bam_huyet

Phương pháp xoa bóp bấm huyệt

Có nhiều biện pháp điều trị khác nhau, nhưng nguyên tắc chung là chống viêm, giảm đau, nâng cao thể trạng và trả lại vận động sinh lý của khớp vai bằng cách luyện tập và lý liệu pháp. Đối với thể viêm quanh khớp vai đơn thuần thì biện pháp điều trị và luyện tập đúng cách là nhanh phục hồi nhất, các thể bệnh khác hồi phục chậm hơn (có khi tới hơn 6 tháng) cũng có thể không khỏi hoàn toàn. Với những trường hợp nặng cần thiết thì phải can thiệp bằng phẫu thuật.

Xoa bóp bấm huyệt là một trong những phương pháp góp phần điều trị viêm quanh khớp vai đạt hiệu quả tốt. Tùy theo những thể bệnh, tình trạng người bệnh mà có phương pháp xoa bóp bấm huyệt thích ứng. Phải tuân thủ đúng nguyên tắc: tác động từ xa đến gần vùng đau, điểm đau, từ chậm đến nhanh, từ nông đến sâu, từ nhẹ đến nặng.

Đối với các bệnh nhân đau và hạn chế vận động khớp vai ít cần tiến hành xoa bóp, lăn, day vùng quanh khớp vai 5-10 phút để cho các cơ mềm ra, sau đó chuyển sang bấm các huyệt: đại chùy (chỗ lõm trên mỏm gai đốt sống lưng 1, dưới mỏm gai đốt sống cổ 7. Đốt cổ 7 là đốt lồi cao nhất trên các đốt sống cổ), a thị (chính là chỗ đau), kiên tỉnh (chỗ lõm, điểm giữa đường nối đại chùy và kiên ngung), kiên ngung (chỗ lõm ở đỉnh vai ngay dưới mỏm cùng vai), phong trì (chỗ lõm dưới xương chẩm, trên góc chân tóc nửa tấc), hợp cốc (góc giữa xương đốt bàn tay ngón cái và ngón trỏ). Bấm mạnh huyệt a thị, kiên ngung, sau đó xoa vuốt nhẹ nhàng rồi kéo rung tay có tác dụng giảm đau nhanh.

Đối với các bệnh nhân đau và hạn chế vận động khớp vai nhiều phải xoa bóp, lăn, day nhẹ nhàng 5-10 phút, miết dọc từ vai xuống cánh tay và tiến hành bấm các huyệt: a thị huyệt (bấm mạnh), kiên tỉnh, kiêng ngung, khúc trì, ngoại quan, cực tuyền. Bấm từ từ tăng dần đến mức tối đa mà bệnh nhân chịu được, thời gian trung bình 15-20 phút. Sau đó vận động nhẹ nhàng theo sinh lý của khớp vai ở mức độ bệnh nhân chịu đựng. Thời gian điều trị 1-2 lần/ngày trong 7-10 ngày.

Đối với các bệnh nhân nặng có đau nhiều và gần như không vận động được khớp vai thì phải tổng hợp các thủ thuật xen kẽ của 1 liệu trình điều trị, có thể khác nhau như day, lăn, kéo rung, bấm huyệt và vận động khớp vai là chính, sau đó hướng dẫn cho bệnh nhân tự tập luyện. Tiến hành xoa bóp, day, lăn, kéo rung vai tay, làm mạnh dần và bấm các huyệt: phong trì, phong thủ (chỗ lõm giữa gáy trên chân tóc 1 tấc), phong môn (hai bên đối xứng, ngang mỏm gai đốt sống lưng 2 ra 1,5 tấc), a thị, thiên tăng (chỗ lõm xương bả vai), kiên trinh (cánh tay khép, huyệt ở trên điểm đầu sau nếp nách 2 tấc), kiên ngung, hợp cốc, khúc trì (cẳng tay gấp 90o, huyệt ở đầu ngoài của nếp lằn khuỷu tay), ngoại quan (chính giữa cẳng tay, giữa mu bàn tay trên lằn chỉ cổ tay 2 tấc). Sau đó chuyển sang vận động khớp vai cho bệnh nhân theo sinh lý vận động của khớp vai, lưu ý chỉ được phép tác động tới ngưỡng mà bệnh nhân chịu đựng được. Thời gian điều trị 1-2 lần/ngày trong 10-20 ngày/liệu trình, có thể phải làm 2-3 liệu trình.

Cần hướng dẫn cho bệnh nhân tập nhẹ nhàng hằng ngày tại nhà theo sinh lý vận động của khớp vai 2-3 lần/ngày như dang tay, giơ tay, khép tay, đưa tay ra trước và ra sau, quay tay.

Tóm lại, xoa bóp bấm huyệt là một trong những phương pháp điều trị không dùng thuốc kết hợp luyện tập vận động của bệnh nhân đem lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân, giúp phục hồi tốt chức năng vận động của khớp vai và giúp bệnh nhân trở lại lao động, sinh hoạt bình thường.

Theo SKĐS

Biến chứng của chứng bệnh tràn dịch khớp gối

Bao hoạt dịch khớp gối khi bị tổn thương sẽ gây ra một số bệnh như u nang bao hoạt dịch, bệnh Hoffa, nếp gấp bao hoạt dịch (plica) mà chúng tôi đã giới thiệu trên trang 4 số báo 167. Để bạn đọc có thêm thông tin, chúng tôi giới thiệu tiếp bài tràn dịch khớp gối là bệnh lý gặp nhiều nhất so với các bệnh của bao hoạt dịch khớp gối.
Tràn dịch khớp gối là tổn thương gây ra tình trạng dịch trong khớp gối quá nhiều làm cho khớp gối bị phù nề, sưng to, giảm chức năng vận động, đau khi vận động… Tràn dịch khớp gối do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó thường gặp nhất là do chấn thương, nhiễm khuẩn ở khớp gối và một số bệnh lý. Nếu bị chấn thương, bệnh nhân sẽ bị đau và tràn dịch khớp gối.

Các chấn thương thường gặp là: gãy xương, rách sụn chêm khớp gối, đứt các dây chằng khớp gối như dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau, chấn thương do quá tải khớp gối, thường gây tổn thương sụn khớp. Do nhiễm khuẩn và bệnh lý gồm: nhiễm khuẩn khớp gối, thoái hóa khớp gối, viêm khớp dạng thấp ở khớp gối, bệnh gút ở khớp gối, viêm bao hoạt dịch khớp gối, viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính, các dạng nang bao hoạt dịch khớp, u ở khớp gối…

bien-chung-cua-tran-dich-khop-goi

Biểu hiện của tràn dịch khớp gối

Các yếu tố nguy cơ đến tràn dịch khớp gối

Tuổi cao trên 50 tuổi, hoạt động thể thao cường độ cao như bóng đá, bóng rổ, béo phì: trọng lượng cơ thể quá lớn dồn xuống khớp gối gây quá tải khớp gối, gây vi chấn thương cho các thành phần của khớp gối.

Tràn dịch khớp gối nếu không được điều trị sẽ dẫn đến biến chứng hạn chế vận động khớp; khi phải chọc hút dịch khớp nhiều lần sẽ tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, nếu bị nhiễm khuẩn sẽ dẫn đến phá hủy khớp, ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân.
Thông thường, một người bị tràn dịch khớp gối có các triệu chứng như: sưng nề một bên gối to hơn bên lành, đánh giá bằng cách dựa vào các mốc xương để so sánh hai bên đầu gối. Hạn chế vận động khớp: khớp gối bị tràn dịch sẽ hạn chế vận động do lượng dịch trong khớp cản trở vận động của khớp. Đau nhiều hoặc ít tùy thuộc vào nguyên nhân gây tràn dịch khớp, có thể do đau mà bệnh nhân không thể đi lại được.

Chụp Xquang có thể thấy các tổn thương như: gãy xương, trật khớp hoặc bệnh lý u xương, thoái hoá khớp… Chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện các tổn thương xương và phần mềm của khớp gối như sụn chêm, dây chằng, gân hay sụn khớp. Các xét nghiệm máu có thể xác định được tình trạng nhiễm khuẩn, viêm, viêm khớp dạng thấp, bệnh ưa chảy máu, gút… Chọc hút dịch khớp để xác định bản chất của dịch khớp: có máu hay không, liên quan đến chấn thương hoặc bệnh lý ưa chảy máu, vi khuẩn gây tình trạng nhiễm khuẩn, các tinh thể gây bệnh gút hoặc giả gút. Tràn dịch khớp gối nhiều sẽ làm hạn chế cử động của khớp gối và gây đau khi bệnh nhân đi lại.

Điều trị  và phòng bệnh
Các phương pháp điều trị tràn dịch khớp gối gồm: điều trị giảm đau, sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.Thuốc kháng sinh được chỉ định  khi có nguy cơ hoặc đang bị nhiễm khuẩn. Thuốc kháng viêm corticosteroid có thể sử dụng đường uống hoặc tiêm trực tiếp vào khớp gối. Do thuốc corticoid có một số tác dụng phụ, vì vậy phải được bác sĩ chuyên khoa kê đơn và theo dõi điều trị.

Các can thiệp xâm lấn: tràn dịch nhiều gây đau cho bệnh nhân nên việc chọc hút dịch có thể sẽ làm cho bệnh nhân dễ chịu, nhưng tốt nhất vẫn là xác định được chính xác nguyên nhân để điều trị triệt để. Chọc hút dịch khớp nhằm giảm áp lực đồng thời có thể kết hợp điều trị tiêm corticoid vào trong khớp. Nội soi khớp vừa giúp chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch khớp vừa có thể kết hợp điều trị như sửa chữa các thương tổn sụn, dây chằng hay tổn thương thoái hóa khớp. Phẫu thuật thay khớp sử dụng khi có tổn thương thoái hóa khớp gối.

Bệnh nhân có thể tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gối như sau: xắp xếp để được nghỉ ngơi, tránh việc đi lại để trọng lượng dồn xuống gối vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau. Chườm đá và kê cao chân có tác dụng rất tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương, kê chân cao giúp cho tuần hoàn ở dưới chân được tốt, tránh hoặc giảm được tình trạng sưng nề.
Tràn dịch khớp gối thường gặp do bệnh lý mạn tính hoặc chấn thương. Vì vậy, để phòng bệnh và phát hiện sớm tràn dịch khớp gối, cần thực hiện một số biện pháp như sau: thăm khám định kỳ khoảng 6 tháng/lần để phát hiện và điều trị tích cực các bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp hay gút. Dùng thuốc điều trị các bệnh lý là nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối, đeo nẹp gối khi cần thiết theo yêu cầu điều trị.

Bệnh nhân cần chú ý luyện tập khỏe khối cơ đùi vì cơ đùi khỏe là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho vận động khớp gối, nếu cơ đùi yếu thì  gối nhanh bị mỏi, dễ chấn thương. Tập các bài tập mềm dẻo cho gối theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Những người béo phì hoặc thừa cân cần tập luyện để giảm cân và thực hiện chế độ ăn ít năng lượng, nhiều rau và chất xơ.

BS. Trần Văn Phong

Theo SDKS

Khắc phục loãng xương ở phụ nữ

Có phải sau khi mãn kinh, phụ nữ nào cũng bị loãng xương không? Có cách gì để khắc phục tình trạng này?

Hoàng Thu Hiền (Việt Trì)

Xương và các tổ chức khác luôn ở trong trạng thái thay đổi liên tục. Từ nhỏ cho đến khi thanh niên, lượng xương trong cơ thể tăng dần, đến 25 – 30 tuổi thì đạt đến đỉnh cao. Ở phụ nữ sau 30 tuổi, lượng xương dần thoái hóa, mỗi năm giảm 0,25 – 1%. Sau khi mãn kinh (trong vòng 15 năm đầu) do lượng estrogen giảm nên tốc độ thoái hóa xương cao, mỗi năm giảm 1 – 5%, trong đó 3 – 5 năm đầu sau khi mãn kinh, tốc độ thoái hóa xương cao nhất, với ảnh hưởng chủ yếu là xốp xương. Bước sang tuổi 60 – 70, xương phụ nữ yếu hẳn, xuất hiện hiện tượng gù lưng, mỏi vai…

khac-phuc-loang-xuong-o-phu-nu

Đó là về mặt lý thuyết, còn thực tế không phải người phụ nữ nào sau khi mãn kinh cũng đều mắc chứng loãng xương. Theo thống kê, 30% phụ nữ đã mãn kinh mắc bệnh loãng xương. 40% phụ nữ trên tuổi 50 mắc các chứng bệnh về xương như: đau lưng, đau vai, mỏi gối, gãy xương… Loãng xương là một chứng bệnh làm cho xương bị yếu và giòn. Bị chứng này, xương dễ bị gãy hơn bình thường. Chỉ cần một va chạm nhẹ hoặc ngã cũng có thể làm xương bị gãy.

Những nhân tố sau đây quyết định tới chất lượng và sự phát triển của xương: di truyền – chiếm tới 80%, 20% còn lại là do chế độ ăn uống, vận động, nội tiết tố, thuốc, thể trọng, bệnh mạn tính và mãn kinh quá sớm. Vì thế, để giảm thiểu sự loãng xương khi mãn kinh, ngay từ khi còn nhỏ, cần bổ sung cho cơ thể lượng canxi thích hợp. Việc bổ sung này kéo dài suốt cuộc đời. Bên cạnh đó, cần năng tập thể dục thể thao, chọn những môn thể dục đòi hỏi nhiều vận động để xương cứng cáp hơn, thí dụ đi bộ, chơi tennis, nhảy múa…

BS.Cẩm Nga

Theo SKDS

Người bụng bia dễ bị bệnh loãng xương

am giới có “bụng bia” càng lớn thì nguy cơ mắc chứng loãng xương càng cao, đó là kết luận rút ra từ cuộc khảo sát của các chuyên gia Mỹ ở trường Đại học Harvard.

nguoi-co-bung-bia-co-nguy-co-mac-benh-loang-xuong
35 người đàn ông béo phì với độ tuổi trung bình là 34 đã tham gia cuộc khảo sát này. Họ được chia thành 2 nhóm: nhóm một là những người có chất béo được phân bố khắp cơ thể, còn nhóm hai là những người có quá nhiều chất béo dư thừa ở vùng bụng. Để đo khối lượng chất béo, cơ và xương các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp chụp cắt lớp. Tiến sĩ Miriam Bredella cho biết xương đã giảm đáng kể ở những người “bụng bia”. Và nhờ việc tìm ra mối liên hệ giữa số lượng cơ và tình trạng của các mô xương thì rõ ràng những người có càng nhiều cơ thì tỉ lệ mắc chứng loãng xương càng thấp. Để chắc chắn, các chuyên gia đã lặp lại thử nghiệm này với 30 tình nguyện viên khác và kết quả không có gì thay đổi.

Theo các nhà khoa học có 2 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này ở nam giới, thứ nhất là việc giảm hormone ở tuyến yên, thứ hai là việc các chất béo dư thừa cùng tham gia đẩy mạnh quá trình viêm gây tác động tiêu cực tới tình trạng của xương.

Cần phải lưu ý rằng với các nghiên cứu trước đây thì loãng xương là bệnh thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, còn nam giới thuộc diện an toàn, nhưng ngày nay tỉ lệ mắc bệnh này ở nam giới cũng gia tăng đáng kể.

Theo An ninh Thủ đô / infox.ru