Tag Archives: bệnh viêm tinh hoàn

Bài thuốc chữa chứng viêm tinh hoàn

Viêm tinh hoàn thường gặp ở trẻ 4 – 12 tuổi. Nguyên nhân chủ yếu do nấm và vi khuẩn. Trẻ thường có biểu hiện căng tức, sưng một bên hoặc cả hai bên tinh hoàn, có thể đau nhưng ít, sốt nhẹ. Thường bệnh chỉ được phát hiện khi bố mẹ tắm cho con. Nguyên nhân theo Đông y là do hàn thấp, phong thấp, thủy thấp xâm nhập, trong đó do hàn thấp gặp nhiều nhất. Bệnh cần điều trị tích cực và dứt điểm để tránh biến chứng teo tinh hoàn.
Sau đây là một số bài thuốc chữa trị theo từng thể
Viêm tinh hoàn thể hàn thấp: Bé có biểu hiện tiểu ít, tinh hoàn sưng to rắn chắc, thường hai bên không đều nhau (bên to bên bé), trẻ không muốn chơi, ăn uống kém, li bì, chân tay và người lạnh. Phép trị là trừ phong tán hàn hóa thấp, chống viêm, thông tiểu. Dùng một trong các bài:
Bài 1: bạch truật 6g, lệ chi 6g, trần bì 5g, ngũ gia bì 6g, vỏ quế 2g, thiên niên kiện 4g, xa tiền 5g, đỗ trọng 5g, cẩu tích 6g, cam thảo 6g, bồ công anh 5g, sài hồ 3g. Sắc uống ngày 1 thang (uống ấm).

bai-thuoc-chua-viem-tinh-hoan

Bài 2: lệ chi 6g, bồ công anh 6g, uất kim 5g, củ riềng 5g, vỏ cây gạo 6g, tế tân 5g, bạch truật 6g, phòng sâm 6g, bạch linh 5g, cam thảo 5g, tăng ma 4g, sài hồ 5g, vỏ quế 2g, trần bì 5g. Sắc uống ngày 1 thang (uống ấm).
Bài 3: lệ chi 6g, bạch linh 5g, bạch truật 6g, tế tân 5g, xương bồ 5g, củ đợi 5g, ngài diệp 5g, đinh lăng 6g, tất bát 5g, hoàng kỳ 5g, cam thảo 6g, đỗ trọng 5g, khởi tử 5g, vỏ quế 2g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
Viêm tinh hoàn thể phong thấp: Trẻ có biểu hiện đau người, sốt 38 – 390C, tinh hoàn sưng đau, da bìu đỏ bóng, sờ thấy nóng, bí tiểu, bí mồ hôi, chóng mặt nhức đầu… Phép trị khu phong trừ thấp, thanh nhiệt chống viêm. Dùng bài: ngân hoa 6g, liên kiều 5g, chi tử 6g, nam tục đoạn 6g, kinh giới 5g, lệ chi 6g, bạch truật 6g, thương truật 5g, trần bì 6g, đinh lăng 6g, xa tiền 6g, bồ công anh 8g, lá dấp cá 10g, cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
Viêm tinh hoàn thể thủy thấp: Trẻ có biểu hiện tinh hoàn và bìu sưng to, mọng nước, bí tiểu, chân tay phù nhẹ. Phép trị là chống viêm, lợi thủy, ôn tấm tỳ thận. Dùng bài: lệ chi 6g, trần bì 6g, vỏ quế 2g, thiên niên kiện 4g, ngải diệp 6g, cao lương khương 6g, ngũ gia bì 6g, sinh khương 3g, trúc diệp 6g, đinh lăng 8g, hương nhu trắng 6g, bạch truật 6g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Lương y Thanh Ngọc

Theo SKDS

Viêm mào tinh hoàn: Nguyên nhân và cách điều trị

Viêm mào tinh hoàn (MTH) là bệnh khá phổ biến ở nước ta và trên thế giới. Nếu điều trị không kịp thời, viêm MTH cấp tính sẽ biến thành viêm MTH mạn tính và có thể dẫn đến vô sinh ở nam giới. Tuy nhiên, khi đã có bệnh, nam giới không nên tự ti và giấu bệnh. Ở Mỹ hằng năm có tới 60.000 trường hợp mắc bệnh này, ở Pháp tỷ lệ này chiếm 20% tổng số người bệnh trong năm của khoa tiết niệu.

Tại Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ về các trường hợp mắc bệnh, chủ yếu vì lý do người bệnh ngại tới khám bộ phận này. Hơn nữa MTH thường bé, nằm sát tinh hoàn nên ít được quan tâm và thầy thuốc cũng thường ít chú ý nên dễ bỏ sót.

dieu-tri-viem-mao

Nguyên nhân gây viêm MTH

Bệnh có thể xảy ra sau một chấn thương MTH hoặc do nước tiểu trào ngược dòng vào ống dẫn tinh. Phần lớn các trường hợp bị bệnh do nhiễm khuẩn qua các đường:
Nhiễm khuẩn qua đường tình dục.

– Lậu cầu trùng (gonocoque), đây là trường hợp hay gặp nhất.

– Chlamydia trachomatis: từ cơ quan sinh dục nữ sang.
– Escherichia coli: hay xảy ra ở nam giới có quan hệ đồng tính, chủ yếu do quan hệ tình dục qua đường hậu môn.

Nhiễm khuẩn từ đường tiết niệu – sinh dục lan tới.

Thường gặp ở nam giới trên 35 tuổi và trẻ trai trước tuổi dậy thì. Vi khuẩn gây bệnh thường là: vi khuẩn đường ruột E.coli, Pseudomonas, N.Meningitis, Coccidioide imitis…

Các chủng khác ít gặp hơn là trực khuẩn lao, ký sinh trùng giun chỉ, sán lá…

Vi khuẩn từ ống dẫn tinh bị viêm sau phẫu thuật lan tới MTH.

Cũng có khi do các dị tật bẩm sinh, tiết niệu sinh dục bị viêm nhiễm lan tới.

Bệnh khởi phát do viêm tế bào ống dẫn tinh lan tới MTH. Tới giai đoạn toàn phát MTH sưng tấy từ cực dưới lên cực trên. Nếu cắt ngang MTH sẽ thấy nhiều ổ áp-xe nhỏ dẫn tới viêm mủ toàn bộ MTH. Tinh hoàn lúc này cũng sưng to và sung huyết. Nếu điều trị kịp thời thì bệnh sẽ khỏi nhưng các tổ chức viêm xơ có thể làm bít tắc ống dẫn tinh gây nên bệnh vô sinh ở nam giới.

Phát hiện bệnh bằng cách nào?

Thường bệnh nhân đã có viêm niệu đạo hoặc tuyến tiền liệt cũ, nay xuất hiện cơn đau ở một bên bìu lan theo dọc thừng tinh lên vùng hạ vị. Bìu sưng to, lớp da bìu đỏ rực chỉ trong vòng 3-4 giờ, sờ vào thấy rất đau. Mào tinh hoàn to và rắn nhưng vẫn phân biệt được với tinh hoàn. Ranh giới sẽ mất đi và chỉ còn lại một khối phồng to nóng ran và đau. Nắn thừng tinh thấy sưng lên và có thể xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn, nếu thăm trực tràng thấy tuyến tiền liệt bị đau. Toàn thân có biểu hiện sốt cao lên tới 39-40oC hoặc hơn, có khi kèm theo rét run.
Trong chẩn đoán các bác sĩ cần phân biệt xoắn tinh hoàn (xoắn thừng tinh) với chấn thương tinh hoàn, viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị. Bệnh nhân xoắn tinh hoàn thường là trẻ em, khi nâng bìu lên phía bụng thì đau tăng lên trong xoắn tinh hoàn còn nếu đau do viêm MTH thì thấy dịu đi. Điều cần chú ý là nếu xoắn tinh hoàn thì phải mổ cấp cứu tháo xoắn, còn viêm MTH thì điều trị bảo tồn. Bệnh nhân chấn thương tinh hoàn thường có tiền sử chấn thương và tiểu tiện bình thường. Còn bệnh nhân viêm tinh hoàn do biến chứng quai bị thường có tiền sử viêm tuyến mang tai, người bệnh đi tiểu bình thường.

Điều trị viêm MTH cấp

Việc điều trị cho các bệnh nhân này phải khẩn trương kịp thời. Cần cho người bệnh nằm nghỉ ngơi, có gối kê dưới bìu cho êm, có băng treo cố định bìu để tránh di động mạnh. Bác sĩ cần cho xét nghiệm vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để điều trị đúng hướng. Các thuốc thường dùng điều trị bệnh này là tetracyclin, doxycyclin, probenecid, kalecin, uống kéo dài trong 3 tuần. Có thể dùng kết hợp với các loại steroid để ngừa chít hẹp ống dẫn tinh và có thể phóng bế novacain 1% vùng thừng tinh để giảm đau.

Viêm MTH chuyển sang mạn tính khi nào?

Đó là hậu quả biến chứng của viêm MTH cấp. Các tổ chức của MTH bị xơ hóa làm chít hẹp từng đoạn hoặc toàn bộ ống dẫn tinh và MTH. Không sốt và không đau nên người bệnh có thể tự sờ nắn thấy MTH xơ cứng, rắn hơn bình thường; thừng tinh cũng xơ cứng từng đoạn hoặc toàn bộ.

Viêm MTH mạn tính dễ bị nhầm lẫn với một số bệnh như lao MTH và u MTH.

Để điều trị bệnh hiệu quả, bệnh nhân nên đến khoa tiết niệu của bệnh viện để được chẩn đoán bệnh chính xác, làm đầy đủ các xét nghiệm cần thiết thì mới mang lại kết quả như ý.

Nguồn kenh14