Tag Archives: bệnh viêm kết mạc

Viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt và hay tái phát. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi lượng phấn hoa di chuyển nhiều hơn trong không khí bay vào mắt người có cơ địa dị ứng sẽ gây ra những triệu chứng trên nên được gọi là viêm kết mạc mùa xuân.

Đối tượng dễ mắc bệnh
Bệnh thường gặp ở người bệnh có cơ địa dị ứng phấn hoa, các loại bụi, lông thú vật, côn trùng, hoặc gió, ánh nắng và mỗi khi thay đổi thời tiết. Tuỳ thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị ứng nguyên khác nhau. Vào mùa xuân, lượng phấn hoa khuếch tán nhiều trong không khí là yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhất là những người sống ở vùng rừng núi, nơi có khí hậu ẩm ướt, thảm thực vật phong phú, người trồng hoa, nuôi ong mật,…

vong-mac

Viêm kết mạc mùa xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường thấy ở trẻ em và người trẻ và thường tái phát theo mùa.

Cần đi khám và điều trị sớm

Những triệu chứng của bệnh viêm kết mạc mùa xuân khiến người bệnh hết sức mệt mỏi, khó chịu. Hơn nữa đây là một bệnh hay tái phát nên cần cẩn thận, nếu không điều trị đúng sẽ dẫn đến biến chứng tổn thương giác mạc, gây suy giảm thị lực. Ðã có rất nhiều người bệnh thường xuyên bị dị ứng, khi bị ngứa mắt tự mua thuốc nhỏ mắt có chứa Cortisone nhỏ, thấy hết ngứa nên từ đó thường xuyên dùng kéo dài sẽ dẫn nhiều biến chứng nguy hiểm.

Việc điều trị phải được tiến hành từng bước và tùy từng mức độ bệnh. Thông thường, bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng sẽ được chỉ định dùng thuốc chống dị ứng, thuốc chống viêm và thuốc dinh dưỡng bề mặt nhãn cầu. Người bệnh tuyệt đối phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh,… và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.

Điều quan trọng là khi có triệu chứng của bệnh như đỏ cả hai mắt, ngứa, cảm giác rát mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, có ghèn gỉ, lúc nào cũng muốn lấy tay dụi mắt nhưng càng dụi càng ngứa. Khi lộn mi thấy ở mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ nằm sát nhau,… thì cần đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị sớm.

Để phòng bệnh, những người có cơ địa dị ứng với phấn hoa không nên trồng hoa, cắm hoa trong nhà hay ngửi hoa; Đối với người làm nghề trồng hoa, nuôi ong,… khi làm việc hoặc khi đi ra ngoài nên đeo kính để chống bụi, tránh phấn hoa bay vào mắt; rửa sạch mặt và vệ sinh mắt bằng cách nhỏ nước muối muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về.

Theo sức khỏe đời sống

Tìm hiểu Bệnh viêm mí mắt

Viêm mí mắt là một dạng viêm nhiễm ở mí mắt và các vùng quanh mí. Nó có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào và không thể nhầm với bệnh viêm kết mạc (mắt đỏ và có màng trắng).

tim_hieu_benh_viem_mi_mat

Bệnh viêm mí mắt là gì?

Có 2 dạng viêm mí mắt: viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Viêm phần trước mi xuất hiện ở vùng phía trước mí mắt gây ra do vi khuẩn staphylococcal hay 1 loại gầu của lông mày và da đầu thường không gây dị ứng.

Viêm phần sau mi xuất hiện phía trong mí mắt gần nhãn cầu, do lượng dầu tiết ra không đủ khiến vi khuẩn phát triển. Viêm mí mắt trong thường đi kèm với chứng viêm da và gầu ở da đầu.

Có nhiều nguyên nhân gây nên viêm mí mắt như do nhiễm virút, độc tố, dị ứng hay rối loạn tuyến mi mắt.

Triệu chứng của viêm mí mắt

Phát hiện ra triệu chứng của viêm mí mắt để kịp thời điều trị là rất quan trọng. Viêm mí mắt thường có những triệu chứng cơ bản sau:

Mí mắt sưng đỏ, ngứa với việc xuất hiện các vảy cứng ở vùng mi mắt và lông mi khiến có cảm giác như có cát trong mắt, chảy nước mắt.

Mắt hay chảy nước, nhìn mờ.

Điều trị chứng viêm mí mắt?

Theo Hiệp Hội Thị Lực Mỹ, viêm mí mắt là bệnh không lây truyền, không gây mù và hỏng mắt nếu được điều trị đúng và kịp thời bởi bác sĩ chuyên khoa.

Viêm mí mắt trái nếu không được điều trị có thể gây rụng lông mi, làm dày mí mắt, mao dẫn giãn nở và làm mòn tầng dưới của giác mạc.

Tuy  nhiên viêm mí mắt khó điều trị khỏi hẳn vì bệnh có thể trở lại nếu vệ sinh vùng mắt kém. Những cách chăm sóc và giữ vệ sinh mắt sau là rất cần thiết:

– Vệ sinh mắt đúng cách: Với bệnh viêm mí mắt, việc giữ vệ sinh mắt và vùng quanh mắt sạch là yếu tố quan trọng.

– Đắp gạc ấm: Đắp gạc ấm lên vùng mắt để giảm vảy đóng ở vùng mắt.

– Rửa nhẹ: Tuỳ thuộc vào hướng dẫn của bác sĩ, nên rửa vùng mi mắt nhẹ nhàng với nước muối ấm pha loãng hay bằng dầu tắm của trẻ em.

– Tiếp tục chăm sóc mắt: Chế độ làm sạch mắt nên được lặp lại 4 lần mỗi ngày để giữ vệ sinh mắt, thúc đẩy vùng mí mắt mau lành. Với những người bị gầu nên sử dụng dầu gội trị gầu để giảm ảnh hưởng đến bệnh. Những người bị viêm mí mắt trước nên massage vùng mí mắt để loại bỏ dầu thừa của tuyến mắt.

– Tránh làm nhiễm bệnh: Nên giữ vệ sinh mắt để tránh việc lây truyền các vi khuẩn làm bệnh trầm trọng hơn.

– Nhỏ thuốc nhỏ mắt: Nên tra thuốc nhỏ mắt hay thuốc mỡ chống khuẩn nếu để giảm vi khuẩn có hại vùng mắt.

Ngừa bệnh viêm mí mắt?

Bệnh viêm mí mắt và các bệnh về mắt khác có thể được ngăn ngừa bằng việc luôn giữ sạch mặt và tay, không dụi tay hoặc khoăn giấy bẩn vào mắt vì vi khuẩn có thể dễ dàng lây sang mắt gây nên các bệnh về mắt.

Với phụ nữ nên tẩy trang vùng mắt kỹ càng trước khi đi ngủ, để mascara qua đêm có thể làm tấy vùng mi mắt, gây sưng tấy và viêm mắt.

Nếu thấy bất kỳ triệu chứng khó chịu nào ở mắt nên đi khám bác sĩ chuyên khoa giúp xác định kịp thời nguyên nhân gây bệnh để điều trị sớm nhất có thể.

Quỳnh Liên
Theo SK
Theo Dân Trí

Bệnh viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh

Viêm kết mạc là bệnh thường gặp khi trẻ mới sinh được vài ngày, với các triệu chứng hai mi sưng nề, đỏ, chảy nước mắt kèm dử mắt, trẻ khó mở mắt thậm chí không mở được mắt,… Nếu không được điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến thị lực của trẻ, nặng hơn có thể dẫn đến mù lòa.

Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh là do trẻ bị nhiễm khuẩn từ đường sinh dục của người mẹ khi sinh (hay gặp nhất là do lậu, chlamydia,…), do nhiễm khuẩn từ trong bụng mẹ (thường gặp trong những trường hợp vỡ ối sớm) hoặc do trẻ không được chăm sóc, vệ sinh tốt trong những ngày đầu sau sinh…

Triệu chứng

Ngay trong 1-2 ngày đầu sau sinh, trẻ có biểu hiện: hai mi mắt sưng nề, đỏ, trường hợp nặng mi sưng nhiều làm trẻ khó mở mắt hoặc không mở được mắt; mắt đỏ rực; chảy nhiều nước mắt, kèm theo ghèn (dử mắt), nặng hơn mủ nhiều,… Thường bị cả hai mắt, ít khi một mắt trước sau đó lan sang mắt kia. Đối với viêm kết mạc do lậu rất nguy hiểm với các triệu chứng là sưng mi mắt, đỏ mắt, chảy mủ mắt lượng nhiều,… nếu không điều trị ngay có thể gây loét giác mạc, để lại sẹo, dẫn đến mù lòa.

benh_viem_ket_mac_o_tre_so_sinh

Chăm sóc trẻ sơ sinh tại Bệnh viện Từ Dũ 9TP.HCM). Ảnh: H.Cát

Ðiều trị ngay khi trẻ có triệu chứng

Do tính chất cấp tính của bệnh cho nên ngay sau khi sinh trẻ cần được theo dõi, chăm sóc mắt và vệ sinh thân thể tốt. Nếu thấy có biểu hiện viêm kết mạc trẻ cần được điều trị ngay tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh cần phải điều trị dứt điểm ngay bằng thuốc kháng sinh dạng tiêm, dung dịch, mỡ; rửa mắt thường xuyên bằng nước muối sinh lý theo chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Người chăm sóc trẻ cần chú ý khi vệ sinh, tra thuốc, nhỏ thuốc mắt cho trẻ sơ sinh phải hết sức cẩn thận, nhẹ nhàng, tránh gây xước da, niêm mạc mắt trẻ. Trước khi vệ sinh, tra thuốc mắt cho trẻ cần rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn.

Để phòng bệnh viêm kết mạc, ngay sau khi sinh trẻ cần được tra thuốc mỡ tetracyclin 1% hoặc nhỏ mắt bằng dung dịch cloramphenicol 0,4%, argyrol 1% theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Trẻ mắc bệnh này chủ yếu do bị nhiễm khuẩn qua đường âm đạo của mẹ khi sinh (do bệnh nhiễm khuẩn sinh dục của người mẹ) nên trước khi mang thai người mẹ cần khám phụ khoa và điều trị dứt điểm các bệnh viêm nhiễm sinh dục để phòng bệnh cho trẻ khi sinh.

Bác sĩ Thu Lan
Theo SKDS

Điều trị bệnh viêm kết mạc – Dùng thuốc nhỏ mắt

Bệnh viêm kết mạc (VKM, còn gọi là bệnh đau mắt đỏ) thường gây ra cảm giác khó chịu ở mắt và ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt hàng ngày.

Bệnh VKM là một bệnh thông thường hay gặp ở nước ta, nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc.

dieu_tri_benh_viem_ket_mac_dung_thuoc_nho_mat

Tùy theo nguyên nhân gây viêm kết mạc để lựa chọn loại thuốc nhỏ mắt

Các nguyên nhân gây viêm kết mạc

– Do nhiễm khuẩn bởi các loại vi khuẩn trong điều kiện vệ sinh kém.

– Do nhiễm virút với các chủng virút như: adenovirus, enterovirus.

– Do dị ứng với phấn hoa, bụi, phấn trang điểm…

– Do kích ứng với các hóa chất như: chất chlorine trong hồ bơi, khói thuốc lá, dầu gội đầu…

Bệnh VKM do nhiễm khuẩn và nhiễm virút thường lây lan rất nhanh từ người này sang người khác.

Các triệu chứng

– Kết mạc đỏ (kết mạc là màng niêm mạc bao phủ phía trước của mắt và phía bên trong của mi mắt).

– Xuất hiện ghèn dính chặt hai mi mắt lại với nhau sau khi ngủ dậy.

– Chảy nước mắt nhiều.

– Ngứa mắt.

– Xốn mắt.

– Mắt mờ.

– Tăng sự nhạy cảm với ánh sáng.

Thuốc nhỏ mắt trong điều trị bệnh viêm kết mạc

Thuốc nhỏ mắt là một dung dịch vô trùng, đẳng trương dùng để điều trị hay giúp khám chẩn đoán các bệnh về mắt. Tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh VKM mà các thầy thuốc sẽ chọn lựa loại thuốc nhỏ mắt thích hợp để điều trị:

Thuốc nhỏ mắt kháng khuẩn: loại thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do nhiễm khuẩn, trong thành phần là các kháng sinh phổ rộng như: choramphenicol, neomycin, tobramycin, offloxacin, sulfocetamid, polymycin B… Nên lưu ý với loại thuốc nhỏ mắt kháng sinh không được sử dụng với thời gian quá một tuần.

Thuốc nhỏ mắt kháng viêm: loại thuốc nhỏ mắt mà trong thành phần là các corticoid như: dexamethason, fluoromethason, prednisolon… hay thuốc kháng viêm non-steroid (NSAID) như diclofenac. Do có tính chất kháng viêm hay vừa kháng viêm vừa kháng dị ứng (nhóm thuốc corticoid) nên thuốc nhỏ mắt loại này thường được sử dụng để làm giảm bớt sưng đỏ ở mắt do VKM. Cần lưu ý với loại thuốc nhỏ mắt có corticoid khi dùng trong một thời gian dài sẽ gây ra các biến chứng nguy hiểm như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp…

Thuốc nhỏ mắt kháng dị ứng: loại thuốc nhỏ mắt dùng để điều trị VKM do dị ứng. Trong thành phần là các kháng histamin H1, như: chlorpheniramin, antazoline, diphenhydramin… nên rất hiệu quả để làm giảm triệu chứng ngứa mắt do dị ứng

Thuốc nhỏ mắt kháng kích ứng: thuốc nhỏ mắt mà thành phần là các chất bôi trơn và nước mắt nhân tạo như: glycerin, polyvidon, polyvinyl alcohol… giúp ngăn ngừa tình trạng khô, xốn mắt hay chất co mạch cục bộ như: naphazoline, tetrahydrozoline… có tác dụng chống sung huyết mắt do kích ứng

Thuốc nhỏ mắt kết hợp: trong thành phần là sự kết hợp hai hay nhiều nhóm thuốc với nhau như kháng sinh, kháng viêm corticoid… giúp tăng hiệu quả điều trị.

Trong bệnh VKM cần phòng ngừa bệnh như việc giữ vệ sinh thật tốt: không dùng chung khăn mặt, nước rửa mặt không nhiễm khuẩn, không chạm tay bẩn lên mắt, mang kính để bảo vệ mắt…. là vấn đế rất quan trọng giúp bảo vệ mắt khỏi bị bệnh.

DS. MAI XUÂN DŨNG
Theo SKDS

Làm gì khi bị bệnh đau mắt đỏ

Sau trận lụt lịch sử vừa qua, tại một số địa phương đã xuất hiện nhiều người mắc bệnh đau mắt đỏ. Đây là một bệnh dễ gặp ở các vùng bị ngập lụt do thiếu nước sạch sinh hoạt hoặc do tiếp xúc với hóa chất. Dự phòng và điều trị bệnh đau mắt đỏ bằng cách nào là một trong những vấn đề đang rất được người bệnh quan tâm.

nhung-dieu-nen-lam-khi-bi-dau-mat-do

Đau mắt đỏ (ĐMĐ) còn gọi là viêm kết mạc. Nguyên nhân của ĐMĐ thường là nhiễm vi khuẩn, virut hoặc phản ứng dị ứng… Mặc dù ĐMĐ gây kích thích mắt nhưng hiếm khi ảnh hưởng đến thị lực. Vì ĐMĐ có nguy cơ lây nhiễm cao trong vòng 2 tuần từ khi bị bệnh nên việc chẩn đoán và điều trị sớm là rất quan trọng.

Dấu hiệu nào nhận biết ĐMĐ?

Triệu chứng của ĐMĐ thường là: đỏ một hoặc cả hai mắt; ngứa một hoặc cả hai mắt; cảm giác có sạn ở trong mắt; rỉ dịch ở một hoặc hai mắt; chảy nước mắt. ĐMĐ làm cho bạn có cảm giác như có một vật gì ở trong mắt mà không thể lấy ra được. Khi thức dậy mắt bị dính chặt lại do màng dử mắt.

Viêm kết mạc thường bị cả hai mắt mặc dù bệnh có thể xảy ra ở một mắt sau đó lây sang mắt kia sau một hoặc hai ngày. Bệnh có thể không cân xứng, một mắt nặng hơn mắt kia.

Xử trí khi bị ĐMĐ

Tùy nguyên nhân mà dùng các thuốc phù hợp.

Đau mắt đỏ do virut, vi khuẩn

ĐMĐ do virut hoặc vi khuẩn có thể xảy ra ở một hoặc hai mắt. ĐMĐ do virut hay chảy nước mắt hoặc dịch nhầy. ĐMĐ do vi khuẩn thường tạo ra dử dày hơn, màu vàng xanh và có thể liên quan với nhiễm khuẩn hô hấp hoặc viêm họng. Cả ĐMĐ do virut và vi khuẩn có thể liên quan với cảm lạnh.

ĐMĐ do vi khuẩn được điều trị bằng kháng sinh do bác sĩ khám và kê đơn. Kháng sinh có thể được dùng dưới dạng nhỏ mắt, mỡ hoặc viên uống. Thuốc nhỏ hoặc mỡ cần được tra trong mắt 3-4 lần một ngày trong 5-7 ngày. Thuốc mỡ hay dùng để tra vào mắt trẻ. Nhiễm khuẩn sẽ cải thiện trong vòng 1 tuần. Bạn cần dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ thậm chí cả khi triệu chứng bệnh đã hết.

ĐMĐ do virut không đáp ứng với điều trị bằng thuốc tra mắt nước hoặc mỡ kháng sinh. Giống như cảm lạnh, bạn có thể dùng thuốc không cần kê đơn để giảm triệu chứng vì virut phải tiến triển hết quá trình của nó. Kháng sinh chloramphenicol có thể dùng để phòng nhiễm khuẩn thứ phát. ĐMĐ do virut sẽ thấy các triệu chứng trầm trọng hơn vào 3-5 ngày đầu. Sau đó các triệu chứng giảm dần và bệnh có thể tự khỏi. ĐMĐ do virut và vi khuẩn đều rất dễ lây. Người lớn cũng như trẻ em đều có thể bị hai loại nguyên nhân này nhưng ĐMĐ do vi khuẩn hay gặp ở trẻ em hơn.

ĐMĐ do dị ứng

ĐMĐ do dị ứng thường bị ở cả hai mắt và là một phản ứng dị ứng với chất gây dị ứng. Trong phản ứng dị ứng, cơ thể tạo ra một kháng thể gọi là IgE. Kháng thể này khởi động các tế bào đặc biệt gọi là các tế bào mast trong lớp nhầy của mắt và đường thở để giải phóng các chất kháng viêm là histamin. Việc giải phóng histamin có thể gây ra nhiều triệu chứng dị ứng trong đó có đỏ mắt. Nếu bị ĐMĐ dị ứng bạn sẽ rất ngứa, chảy nước mắt và viêm mắt, hắt hơi, sổ mũi, có thể phù nề kết mạc trông như vết phỏng trong lòng trắng. Bác sĩ có thể kê cho bạn một trong các loại thuốc tra mắt dưới đây: kháng histamin, thuốc thông mũi, ổn định tế bào mast, chống viêm steroid và các thuốc chống viêm khác. Thuốc tra corticoid thường được dùng nhưng cần có sự giám sát của bác sĩ mắt. Quan trọng là phải phát hiện được nguyên nhân gây dị ứng để loại bỏ.

ĐMĐ do nhiễm hóa chất

Triệu chứng kích thích do nhiễm hóa chất hoặc dị vật cũng có liên quan đến ĐMĐ. Đôi khi việc rửa để loại bỏ hóa chất hoặc dị vật có thể gây đỏ mắt. Triệu chứng thường bao gồm dử nhày mắt, không có mủ, thường tự khỏi trong vòng một ngày. Dùng nước ấm rửa mắt trong vòng 5 phút. Mắt bạn có thể dễ chịu hơn trong vòng 4 tiếng sau rửa chất kích thích, nếu không đỡ bạn cần gặp bác sĩ.

Những lưu ý khi bị ĐMĐ

– Bạn có thể làm dịu khó chịu bằng cách đắp khăn ấm lên mắt bị đau. Ngâm một miếng vải sạch trong nước ấm và vắt nước trước khi đặt nó nhẹ nhàng lên mắt đau.

– Rửa mặt và mắt bằng xà phòng nhẹ hoặc dầu gội đầu trẻ em, rửa với nước để loại bỏ chất kích thích.

– Với ĐMĐ dị ứng, tránh dụi mắt vì làm thế bạn không giảm được ngứa. Thay vì việc đó bạn nên đắp một miếng gạc lạnh để làm dịu. Cũng có thể dùng thuốc tra mắt không kê đơn như Naphcon-A hoặc Opcon-A, chứa kháng histamin và tác nhân gây co mạch.

– Thuốc không cần kê đơn có thể giúp bạn giảm ngứa và bỏng rát mắt do chất kích thích. Cần chú ý là thuốc tra mắt cũng có thể gây kích thích mắt do đó cần dừng thuốc đó ngay.

Phòng bệnh

Vệ sinh tốt là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan ĐMĐ. Một khi đã được chẩn đoán là đau mắt đỏ bạn cần thực hiện các bước sau:

– Không dụi mắt bằng tay.

– Rửa tay kỹ và thường xuyên với nước ấm, điều này rất quan trọng.

– Lau rửa dịch dử mắt 2 lần một ngày bằng khăn giấy hoặc cotton ẩm, sau đó vứt ngay.

– Giặt ga giường, vỏ gối, khăn tắm trong nước tẩy và ấm.

– Tránh dùng chung các vật dụng như khăn mặt, chậu rửa.

– Rửa tay sau khi tra thuốc mắt.

– Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

BS. Hà Thị Thu Hà

Tìm hiểu về viêm kết mạc thường gặp

Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là bệnh thường gặp quanh năm và ở mọi lứa tuổi. Nguyên nhân gây đau mắt đỏ là do vi khuẩn, virut, nấm… Đặc biệt, đau mắt do nấm nếu điều trị không đúng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc, thủng giác mạc… dẫn tới mù lòa. Báo Sức khỏe&Đời sống xin giới thiệu bài viết của BS. Hoàng Sinh về bệnh nấm mắt và cách điều trị.

benh-viem-ket-mac-la-benh-gi

Các loại nấm gây bệnh ở mắt

Có trên 50 loài nấm mốc trong môi trường quanh ta. Tùy địa phương, tùy nhiệt độ, độ ẩm, môi trường, trình độ vệ sinh mà số mắt lành mang nấm chiếm từ 3-28%. Hàng rào biểu mô giác mạc kín, tốt, sạch là tấm chắn tốt nhất ngăn chặn không cho nấm xâm nhập mắt. Châu Âu không dùng từ nấm mắt (oculomycoses) mà họ dùng từ nấm giác mạc (kératomycoses). Bởi vì họ thấy phải qua tổn thương giác mạc nấm mới vào sâu được màng bồ đào và nội nhãn để gây bệnh nấm nặng cho con mắt. Nước ta á nhiệt đới, nóng, ẩm, nghề chính là nông nghiệp nên tỉ lệ bệnh nấm mắt cao. Nguồn nhiễm nấm chủ yếu là từ thảo mộc mà nấm sợi là chủ yếu. Nấm sợi Aspergillus gặp nhiều hơn nấm sợi Fusarium. Nhưng nếu bị nấm sợi Fusarium thì tổn thương sẽ nặng hơn là với nấm Aspergillus. Nhiễm nấm men tại mắt ít gặp hơn là nấm sợi. Tổn thương mắt do nấm men thường trên cơ địa mắt đã có các tổn thương trước đó (viêm giác mạc biểu mô dài ngày, chứng khô mắt, Herpes mắt, đeo kính tiếp xúc nhiều sau ghép giác mạc, người tra rỏ mắt bằng cortisol hoặc dùng cortisol đường toàn thân). Khi vào mắt, các loại nấm sợi và nấm men đều phát sinh các độc tố hoạt hóa các men phân hủy protein làm hủy hoại các màng mắt.

Dấu hiệu nhận biết khi nấm mắt

Ngoài cảm giác kệnh, nhói, chói mắt (của loét giác mạc nói chung), bệnh nhân còn cảm giác đau đớn thường xuyên rất khó chịu.

Khám mắt thấy tổn thương là các ổ loét bờ lên, đáy loét có các đám xuất tiết trắng vàng. Nếu có mủ tiền phòng thì là mủ quánh đặc, không có ngấn nằm ngang mà bám leo sau nội mô giác mạc. Nói chung, triệu chứng không điển hình lắm.

benh-viem-ket-mac-la-benh-gi-1

Chẩn đoán xác định:

Lấy bệnh phẩm qua nước mắt thì ít hiệu quả. Phải nạo giác mạc tổn thương để lấy bệnh phẩm, có khi phải nạo mấy lần. Ngoài soi trực tiếp còn phải nuôi cấy nấm trên thạch sabouraud. Có khi phải nuôi cấy chuyển tiếp nhiều lần.

Những chú ý trong điều trị nấm mắt:

– Thuốc nấm da không được đưa vào mắt (do không phù hợp về pH, độ thẩm thấu muối và độ kích ứng đối với mắt).

– Chủ yếu là điều trị tại chỗ, có khi mỗi giờ phải rỏ mắt 1 lần, trong nhiều ngày, nhiều tuần.

– Có 4 loại thuốc chính đang được dùng điều trị nấm mắt:

+ Nhóm polyester (amphotéricin B, natamycin).

+ Nhóm zimydazon (5 fluoro  tiroxin).

+ Nhóm sulfamid trộn bạc (cụ thể là sulfadiazin trộn bạc, vừa diệt nấm, vừa diệt khuẩn).

+ Natamycin 5% là loại thuốc rỏ nước, rất tốt với nấm sợi Aspergillus.

Nếu khó xác định loại nấm thì cứ dùng amphotéricin B, dùng thêm fluconason cho đường toàn thân. Nên làm kháng nấm đồ, xem loại nấm gây bệnh mắt đó đặc hiệu với thuốc gì nhất để điều trị cho hiệu quả. Nhiều khi phải nạo biểu mô giác mạc để thuốc ngấm được nhanh và nhiễm vào các lớp tổn thương sâu.

Đề phòng nấm mắt: Tác nhân chính là nấm mốc từ thảo mộc nên khi lao động có tiếp xúc với cây cỏ cần phải tránh để chúng va quệt, rơi bắn vào mắt. Khi đang làm việc có va chạm với chúng thì phải rửa tay bằng xà phòng sạch, rồi rửa mặt, giặt thật sạch khăn bằng xà phòng ngay sau khi rửa. Đừng để khăn rửa mặt mọc nấm mốc. Năng giặt khăn bằng xà phòng và năng phơi khăn ra chỗ nắng; Tránh phơi khăn mặt và quần áo trên dây mây, sào tre nứa, dễ tiếp xúc với nấm mốc; Không được tùy tiện dùng cortisol khi đau mắt vì sẽ giải phóng bào tử nấm, làm bệnh nấm mắt nặng thêm; Bị đau mắt sau khi bị va quệt với cỏ cây (dù là tươi hay khô, mục) đều phải cảnh giác với nhiễm nấm mắt, đi khám sớm để được điều trị sớm.

BS. Hoàng Sinh

Theo TTVN