Tag Archives: bệnh về mắt

Tuyệt chiêu giúp dân văn phòng đối phó bệnh về mắt

Cuộc sống hiện đại khiến nhiều công việc hầu như không thể thực hiện được nếu không có sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật số. Làm việc liên tục với máy tính sẽ khiến mắt bạn không chỉ mỏi, nhức, căng thẳng thần kinh mà còn có thể bị khô hoặc chảy nước liên tục. Đó là do mắt phải điều tiết quá nhiều trong một thời gian dài, trong không khí ngột ngạt hoặc trong phòng điều hòa lâu nên đã dẫn đến tình trạng trên.

Sau đây là một vài gợi ý để giúp dân văn phòng chăm sóc đôi mắt đúng cách, để có được một đôi mắt khỏe mạnh, sáng trong.

1. Tư thế chuẩn: Ngồi làm việc thẳng lưng và thỉnh thoảng nên làm nóng lòng bàn tay rồi áp vào mắt để xoa tan sự mệt mỏi và giúp mắt thư giãn. Duy trì khoảng cách 40-60cm so với màn hình để tránh bị mỏi cơ mí mắt.

tuyet-chieu-giup-dan-van-phong-doi-pho-benh-ve-mat

2. Vệ sinh mắt: Rửa mặt bằng nước sạch ít nhất 2 lần một ngày không chỉ giúp làm sạch mặt mà còn có tác dụng tốt đến đôi mắt của bạn. Trong trường hợp mắt bị căng thẳng, dùng nước sạch để rửa sẽ tạo cảm giác sảng khoái, dễ chịu cho đôi mắt ngay. Đừng quên dùng thuốc nhỏ mắt (loại dưỡng mắt) thích hợp để tránh tình trạng khô mắt, đỏ mắt và dị ứng mắt. Đây cũng là cách để ngăn ngừa các bệnh về mắt, giúp mắt sáng, trong và khỏe mạnh hơn. Thường xuyên chăm sóc mắt bằng các loại mặt nạ từ trái cây.

3. Tập thể dục cho mắt: Hãy nhấp nháy thường xuyên khi làm việc với máy tính hay màn hình khác để giữ được mắt được ẩm. Thư giãn, duy trì nguyên tắc 20-20-20, tức là cứ 20 phút thì để mắt thư giảm 20 giây bằng cách nhìn vào một vật bất kỳ cách bạn 20 feet (khoảng 6m).

4. Dinh dưỡng cực kỳ quan trọng: chế độ dinh dưỡng cũng tác động rất lớn tới sức khoẻ thị lực, bởi cũng giống như cơ thể chúng ta, việc tập luyện thể chất cần phối hợp nhịp nhàng với chế độ dinh dưỡng hợp lý. Để tránh mắt bị mệt mỏi, bạn nên hạn chế ăn các đồ ăn nhanh, nên ăn ít nhất 1 tiếng trước khi đi ngủ. Tuyệt đối không sử dụng cà phê hay những đồ uống có chất kích thích vào buổi tối. Uống nhiều nước, nước ép hoa quả có nhiều vitamin C sẽ ngăn cản sự oxy hóa, tốt cho da, cho mắt, cho tiêu hóa, sẽ giúp loại độc tố ra khỏi cơ thể, tăng cường hoạt động trí não cũng như tránh hiện tượng khô mắt.

5. Theo các chuyên gia nhãn khoa, bổ sung vitamin nhóm B như: B1, B2, B3 (PP), B12 cũng là một trong những liệu pháp giúp ngăn ngừa chứng khô mắt, bởi vitamin nhóm B là chất dinh dưỡng của dây thần kinh thị giác. Có thể bổ sung các vitamin này thông qua các bữa ăn với thực đơn nhiều rau xanh đậm màu, rau củ màu đỏ, vàng, cam, tôm, cá, thịt…

Theo sức khỏe đời sống

Phòng tránh chấn thương mắt

Theo Hội Nhãn khoa Hoa Kỳ, trên thực tế có gần 50% các trường hợp chấn thương mắt có nguyên nhân từ tai nạn trong sinh hoạt như sửa nhà, lau dọn nhà, làm vườn, nấu nướng… Chấn thương mắt còn hay xảy ra khi chơi thể thao, ở ngoài nắng quá lâu, tiếp xúc với hóa chất, bụi đường, côn trùng bay vào mắt…

Nguy cơ gây chấn thương mắt ở nhà gồm: sử dụng chất tẩy rửa bếp lò, chất tẩy dùng để lau chùi các đồ vật trong nhà; nấu nướng thức ăn làm văng, bắn dầu mỡ nóng lên mắt; bật nắp chai sâm banh; khoan hay đóng đinh vào tường hay bề mặt cứng như gạch, xi măng làm cho đinh, ốc có thể bị bắn vào mắt, các mảnh vỡ của gạch, vữa, bê tông, cát bị bong ra và văng vào mắt; dùng những đồ vật nóng như máy uốn, sấy tóc để gần mặt nếu vô ý chạm vào mắt có thể gây tổn thương mắt; quét bụi, mạng nhện trên trần nhà rơi vào mắt… Các nguy cơ chấn thương mắt khi làm vườn hay lao động: cắt cỏ, tỉa cành, chặt cây; sử dụng các dụng cụ bằng máy cầm tay như máy mài, máy khoan, cưa, phun sơn, đánh vecni; xay xát lúa gạo, bóc tỉa ngô… chằng buộc đồ dùng, vật dụng bằng những sợi dây thun, lò so bật vào mắt… Đi bộ, đi xe ngoài đường bị bụi, cát, côn trùng bay vào mắt…

Biểu hiện mắt bị chấn thương

phong-tranh-chan-thuong-mat1
Chấn thương mắt có nhiều mức độ, vì vậy biểu hiện bệnh cũng khác nhau, nhưng hậu quả có thể làm ảnh hưởng đến thị lực nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử trí đúng. Do đó, sau một chấn thương vào mắt, dù nhỏ nhưng bạn phát hiện thấy một hay nhiều triệu chứng ở mắt thì phải đi khám ngay: đau nhức hoặc khó nhìn; có vết đứt hoặc rách mi mắt; một bên mắt chuyển động khó hơn mắt kia; mắt bị lồi ra hơn so với mắt kia; kích thước hay hình dạng con ngươi của mắt bất thường; có máu ở giác mạc (phần trong suốt của mắt); có dị vật trong mắt hay dưới mi mắt mà không thể lấy ra dễ dàng; chói mắt, nóng rát trong mắt…
Bạn nên đến khám mắt ở bác sĩ nhãn khoa hay một bác sĩ gần nhất càng sớm càng tốt, dù chấn thương ban đầu có vẻ nhẹ. Bởi một chấn thương mắt nghiêm trọng không phải luôn được phát hiện ngay từ đầu. Mặt khác, nếu điều trị chậm trễ có thể làm tổn thương nặng hơn, hậu quả là mất thị lực vĩnh viễn hay mù lòa.

Xử lý khi bị chấn thương mắt

phong-tranh-chan-thuong-mat

Băng mắt bị chấn thương trước khi đưa đến bệnh viện khám và điều trị.

Ngay sau khi bị chấn thương, nếu bạn phát hiện thấy vết rách hay thủng ở mắt, việc bạn cần làm là: úp nhẹ một vật như cốc nhựa, cốc giấy hay một cái hộp bằng chất liệu nhẹ che lên mắt, rồi dán cố định cái cốc giấy vào phần da lành quanh hốc mắt để tạo thành một vật bảo vệ mắt cho đến khi bạn được điều trị. Việc bạn không nên làm là: không được rửa nước vào mắt; không lấy những vật dính trong mắt ra; không được dụi mắt hay đè ấn lên mắt; không uống các loại thuốc giảm đau như aspirin, paracetamol hay những thuốc giảm đau không steroid khác, bởi những loại thuốc này làm loãng máu và làm chảy máu nặng hơn. Sau khi đã băng bảo vệ mắt xong, đến khám ở bệnh viện ngay.

Trường hợp bạn phát hiện có vật lạ ở trong mắt, bạn nên làm: vén mi mắt trên lên khỏi hàng lông mi của mi dưới; chớp mắt vài cái để cho nước mắt đẩy những dị vật ra ngoài. Nếu đã làm như thế mà dị vật vẫn còn, bạn hãy nhắm mắt lại và đi khám mắt. Trường hợp bị hóa chất văng vào mắt như: vôi tôi, vôi bột, axít, mỹ phẩm, dầu gội đầu, thuốc nhuộm tóc, phân bón, thuốc trừ sâu… Bạn cần rửa mắt ngay lập tức với thật nhiều nước sạch. Đồng thời đến khám ngay ở bệnh viện.

Xử trí khi cát hay bụi nhỏ bay vào mắt: bạn dùng nước muối sinh lý (NaCl 9%o) hoặc nước sạch, nhỏ rửa mắt để trôi cát bụi ra ngoài. Không giụi mắt. Nếu cát bụi không trôi ra được, bạn hãy băng nhẹ mắt và đến khám ở cơ sở y tế gần nhất.

Cách phòng tránh
Cách đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa chấn thương mắt là đeo kính bảo hộ thích hợp khi làm việc hay sinh hoạt. Đeo kính bảo hộ có thể tránh được 90% các tổn thương mắt. Vì vậy, bạn nên đeo kính bảo vệ mắt thích hợp khi lao động, tiếp xúc với các công việc dễ bị bụi, hóa chất văng vào mắt. Bạn cũng cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng của các hóa chất và các dung dịch vệ sinh; bạn không nên tự pha trộn các hóa chất.

Trong nhà, bạn cần bọc hay che chắn các góc nhọn, các cạnh của đồ vật hay các vật dụng cố định trong nhà nếu nhà bạn có trẻ nhỏ hay cha mẹ già. Không cho trẻ nhỏ chơi ở ngoài bãi cỏ, ngoài vườn nếu không có người lớn đi kèm; tránh xem, tiếp xúc gần nơi có hoạt động làm văng ra nhiều bụi hay mảnh nhỏ cát, mạt cưa, máy xay xát lúa… Không để vòi của các bình xịt muỗi hướng thẳng vào bạn hay người xung quanh. Trong bếp, bạn nên dùng những tấm chắn dầu mỡ khi chiên rán để tránh bị bắn vào mắt. Khi đi ngoài đường, bạn nên đeo kính râm để che nắng và che bụi. Bạn cũng nên đeo kính cho trẻ nhỏ khi đi lại. Những người đeo kính cận hay viễn thị nên đeo thường xuyên để tránh bụi hay côn trùng bay vào mắt và không làm tăng độ cận (hoặc viễn). Mọi người không nên cố nhìn thẳng vào mặt trời; không nên nhìn tia lửa hàn vì dễ bị bỏng mắt nghiêm trọng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh thoái hóa điểm vàng

Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ là gì?

Tên viết tắt của bệnh này trong tiếng Anh là MD hoặc AMD. Tên Việt của bệnh này tuy chưa đồng nhất nhưng Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ (hoặc Thoái Hóa Hoàng Điểm) chủ yếu là một tình trạng bệnh lý xảy ra và gây tổn thương ở điểm vàng (“hoàng điểm”) của mắt. Điểm vàng là một điểm nhỏ bằng cỡ chữ o (font chữ 12) nằm tại trung tâm võng mạc ở phần sau nhãn cầu. Bình thường, điểm vàng giúp mắt nhìn rõ ở vùng trung tâm của ngoại vật, và giúp mắt nhìn rõ chi tiết cùng ý thức mầu sắc. Qua ảnh hưởng của tuổi đời, dinh dưỡng, nếp sống, và môi sinh, điểm vàng có thể bị hao mòn (thoái hóa); do đó, thị lực của mắt sẽ suy giảm từ tạm thời đến vĩnh viễn.

‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ còn được phân biệt ra làm hai loại: ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ Khô và ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ Ướt.

Dù Khô hay Ướt, bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ thường xảy ra nhiều hơn ở người trên 55 tuổi. Bệnh này từng được gọi là ‘dịch bệnh thầm lặng’ (‘silent epidemic’) vì đã là nguyên nhân chính và âm thầm đưa đến chứng mất thị lực ở người cao niên.

benh-thoai-hoa-diem-vang

Vì vậy, cần sớm quan tâm đến một số Triệu chứng chủ quan của Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’.

Khi bị Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’, bệnh nhân có thể có những Triệu chứng chủ quan sau đây:
đặc biệt là người bệnh không cảm thấy đau đớn; khi dùng mắt bị bệnh AMD để nhìn thẳng vào trung tâm của cảnh vật, hình ảnh, hoặc trang sách, người bệnh sẽ cảm thấy – ngày càng nặng hơn – các triệu chứng 3 M.

Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ chuyển biến như thế nào?

AMD dù Khô hay Ướt đều có xu hướng tăng dần lên;

AMD đưa đến giảm suy thị lực với những hậu quả như thất nghiệp, ngăn cách với đời sống xã hội, lệ thuộc vào gia đình và xã hội, trầm cảm, sớm vào nhà điều dưỡng (nursing home);

AMD còn làm tăng nguy cơ bị té ngã và gẫy xương.

Vậy thì làm sao tránh nguy cơ bị Bệnh’Thoái Hoá Điểm Vàng’?

Tuy không ai xác định rõ nguyên nhân sâu xa nào đã gây ra bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’, người ta đã chú ý đến một số nguy cơ liên quan đến khả năng bị ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’.

Có những nguy cơ còn tránh được như:

Dinh dưỡng kém thăng bằng: quá nhiều mỡ, nhiều thịt, thiếu cá, thiếu sinh tố, thiếu rau xanh;

Mắc bệnh Cao Huyết Áp;

Thiếu bảo vệ để chống tia cực tím, chống nắng, che mắt khi ra ngoài nắng;

Hút thuốc lá: người hút thuốc lá có nguy cơ bị AMD gấp 3 lần người không hút; người hút thuốc thường bị AMD 10 năm sớm hơn nguời không hút.

Nguy cơ khó thay đổi gồm:

Mang tuổi đời: từ 50 (nửa đời) trở lên có nhiều nguy cơ bị bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ hơn (cứ 7 người thì 1 người bị); từ 75 tuổi trở lên: cứ 3 người thì 1 người bị bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’;
Có Da trắng và mắt xanh;

Có thân nhân đã bị bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’, nguy cơ tăng lên: cứ 2 người thì 1 người bị bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ (50%).

Và làm sao để phòng ngừa Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’?

Việc Phòng ngừa gồm các biện pháp để phát hiện sớm bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’, giảm và tránh các biến chứng của bệnh này:

Khám mắt và đáy mắt định kỳ, nhất là khi trên 55 tuổi hoặc có thân nhân đã từng bị bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’;

Không hút thuốc lá;

Vận động thân thể;

Giữ thăng bằng trong dinh dưỡng: ăn thêm cá 2-3 lần mỗi tuần; ăn một nắm hạt (nuts) mỗi tuần; ăn rau cải xanh và trái cây mỗi ngày;

Hạn chế lên cân;

Bảo vệ mắt bằng kính râm khi ra ánh mặt trời.

Bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ được điều trị như thế nào?

Công tác điều trị chủ yếu nhầm mục tiêu làm chậm hoặc ngăn chận sự phát triển của bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’.

Các biện pháp thường được áp dụng gồm:

Hiện nay chưa có cách nào trị dứt được bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’, tuy nhiên những tiến bộ trong việc điều trị bằng tia laser kèm theo vấn đề ăn uống một số các chất dinh dưỡng có thể giúp làm chậm sự thoái hóa;

Chất Lutein có thể bảo vệ chống ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ thường có trong trái cây tươi và rau cải xanh; do đó nên ăn nhiều loại thức ăn này;

Việc điều trị ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ Ướt có thể dùng tia Laser hoặc một số phương pháp khác do Bác sĩ chuyên môn (Ophthalmologists) chỉ định và thực hiện;

Một số dụng cụ ‘trợ thị’ (optical aids) như kính ‘lúp’, đèn rọi để tăng độ sáng, và chữ in lớn cỡ, cũng có thể phải dùng đến để tăng thị lực.

Tóm lại, chú ý đến việc phòng ngừa bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ với nếp sống lành mạnh và dinh dưỡng thăng bằng là việc chính. Mỗi khi có rối loạn về thị lực, cần sớm chú ý tìm bệnh ‘Thoái Hoá Điểm Vàng’ để chẩn đoán và điều trị ngay. Người trên 50 tuổi nên dùng Mạng Amsler (Amsler Grid) thường để sớm biết có triệu chứng 3 M như: mờ, méo, hoặc mất trung tâm của hình ngoại vật mà đi thăm khám Bác sĩ chuyên khoa ngay.

Hiện tượng cận thị giả ở trẻ em

Thấy con mình than nhìn không rõ, người mẹ đưa con đi khám mắt, kết quả là bị cận thị và phải đeo kính cận. Thời gian ngắn sau, con lại than không nhìn rõ và mỏi mắt, người mẹ đưa đi khám lại và kết quả là con không hề bị cận thị. Đó chính là hiện tượng cận thị giả.

Thạc sĩ Hoàng Cương, Bệnh viện Mắt Trung ương cho biết, những trường hợp bị cận thị giả không phải là hiếm gặp. Ước tính tỷ lệ cận thị giả ở trẻ khoảng 20%.

Một số trẻ cho biết mắt nhìn kém hẳn sau đợt thi cử, có em lại thấy mỏi, nhức mắt khi học nhiều, đeo thử kính cận của người khác thấy sáng hơn. Vì thế, cha mẹ nghĩ con đã bị cận thị, nhưng thực sự trẻ chỉ bị một hiện tượng gọi là cận thị giả.

hien-tuong-can-thi-gia-o-tre-em

“Đây không phải là bệnh lý cố hữu, mà chỉ là những rối loạn thoáng qua rất giống bệnh. Trẻ có thể nhìn xa không rõ, nhưng không phải bị cận thị. Nếu cha mẹ đưa con đi khám đúng lúc này thì trẻ có thể bị đeo kính cận oan”, Thạc sĩ Cương nói.

Cũng theo thạc sĩ, nguyên nhân của hiện tượng này có thể do mệt mỏi thị giác hay khó chịu nhất thời của mắt. Trên thực nghiệm những người tham gia tình nguyện, kết quả cho thấy, khi bắt họ nhìn gần liên tục trong 7 giờ thì có khoảng 60% bị cận thị ít nhất là 0,5 điốp. Thị lực có thể cải thiện nhất thời nếu đeo kính cận.

Với các bác sĩ chuyên khoa mắt, việc phân biệt cận thị thực sự hay cận thị giả không quá khó. Chỉ cần nhỏ thuốc liệt điều tiết, nếu mắt trở lại bình thường thì là cận thị giả.

“Cũng vì thế, khi đo kính cho trẻ cận, loạn thị việc nhỏ thuốc điều tiết mắt để kiểm tra là bắt buộc. Thế nhưng hiện nay nhiều cửa hàng kính thuốc bỏ qua công đoạn này mà chỉ đo mắt, thấy cận là cho trẻ đeo kính cận. Điều này rất nguy hiểm vì trẻ có thể không bị cận thị nhưng đeo kính nhiều lại thành cận thị”, thạc sĩ Cương khuyến cáo.

Khi được xác định là cận thị giả, chỉ cần để cho mắt nghỉ ngơi khoa học, sau một thời gian mắt sẽ tự điều tiết lại như bình thường. Tuy nhiên, nếu không được thì sẽ phải dùng kính mắt chuyên dụng. Bác sĩ sẽ quyết định khi nào ngừng đeo kính.

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý là không phải ai bị cận thị cũng cần đeo kính. Người cận dưới 0,75 điốp thì không cần phải đeo kính, nếu dưới 2,5 điốp có thể bỏ kính khi đọc gần. Đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh, nếu cận dưới 0,75 điốp thì bác sĩ thường không chỉ định đeo kính mà hướng dẫn trẻ cách tập luyện, nghỉ ngơi cho mắt để mắt tự điều tiết trở về bình thường, Thạc sĩ Cương cho biết.
Khi mắt bị mỏi hoặc cứ sau làm việc bằng mắt một giờ, mọi người nên cho mắt nghỉ ngơi 5-10 phút. Khi đó bạn có thể nhắm mắt, nhìn ra xa hoặc massage xung quanh mắt.

Nguồn y khoa

Bảo vệ mắt người cao tuổi

Tuổi tác là yếu tố tác động đến thị lực của bạn, đặc biệt khi cao tuổi. Dưới đây là những điều đơn giản cần lưu ý khi bạn ở tuổi 60 trở lên.

bao-ve-mat-khi-co-tuoi

– Quan tâm đến những thay đổi bất thường của mắt. Nếu bạn bắt đầu nhìn thấy hai hình ảnh cùng lúc, gặp khó khăn trong việc thích nghi với ánh sáng hoặc ánh sáng yếu hoặc nhìn ánh sáng chói hoặc đau mắt, mắt sưng phồng, hãy đến bác sĩ càng sớm càng tốt. Khi có tuổi, những triệu chứng này có thể là bệnh mắt nghiêm trọng và cần được bác sĩ kiểm tra, theo dõi.

– Thường xuyên khám mắt để kiểm tra bệnh cao huyết áp hoặc đái tháo đường. Hai bệnh lý này có thể làm căng một cách bất thường các mạch máu nhỏ xíu của võng mạc khiến chúng bị xoắn lại. Nếu biết kiểm soát tốt bệnh cao huyết áp và đái tháo đường có thể đề phòng bệnh về võng mạc.

– Tìm hiểu xem tiền sử gia đình của bạn có nguy cơ cao mắc bệnh về mắt hay không. Nghiên cứu cho biết, có mối liên quan giữa di truyền và bệnh lý về mắt. Nếu gia đình có tiền sử bệnh đái tháo đường, dĩ nhiên có nguy cơ cao mắc bệnh về võng mạc liên quan bệnh này. Một số bệnh khác như đục nhân mắt, tăng nhãn áp, thoái hóa thời điểm vàng do tuổi tác có liên quan đến tiền sử gia đình.

– Ăn uống khỏe mạnh với nhiều thực phẩm chứa chất kháng oxy hóa và chất béo chứa acid omega-3. Các nhà nghiên cứu khoa dịch tễ học cho biết, khẩu phần nhiều rau lá màu xanh đậm và củ quả màu vàng và cam chứa nhiều beta-carotene, lutein và zeaxathin giúp đề phòng thoái hóa thời điểm vàng do tuổi tác. Bệnh mắt do lão hóa cần tiêu thụ thực phẩm chứa vitamin C và E, selenium và đồng. Các chất kháng oxy hóa có tác dụng ngăn ngừa bệnh tăng nhãn áp.

– Không hút thuốc. Ngay cả chế độ dinh dưỡng khỏe mạnh cũng không thể bù đắp những tổn thất về mắt do khói thuốc lá gây ra và tiếp xúc với khói thuốc. Những thay đổi về sinh lý có thể gây thoái hóa thoái điểm vàng và đục nhân mắt cũng do khói thuốc lá.

– Thường xuyên tập thể dục. Cách này giúp bình ổn lượng đường trong máu và cải thiện tuần hoàn máu cho mắt lão.

(Theo your-eye-sight.org/aging-eyes.html)

ĐỖ QUYÊN

Theo SKDS

Hiện tượng ruồi bay

Đột nhiên bạn nhìn thấy những đốm đen nhỏ, những vòng tròn, đường thẳng hoặc những đám đen như mạng nhện di chuyển trước mắt thì hiện tượng này được gọi là ruồi bay.

Ruồi bay thấy rõ nhất khi bạn nhìn một tấm bảng màu đen hoặc khi nhìn lên trời. Những vật thể di chuyển trước mắt này thực sự là những đám tế bào nhỏ di chuyển bên trong dịch nội nhãn.

hien-tuong-ruoi-bay
Trong mắt có một chất dịch trong suốt giống như lòng trắng trứng gà được gọi là pha lê thể.

Tới tuổi trung niên, pha lê thể dày lên và co lại, tạo thành những cục hoặc những sợi bên trong. Khi bị co kéo, pha lê thể sẽ bong ra khỏi thành nhãn cầu và gây bong pha lê thể, là nguyên nhân thông thường nhất gây hiện tượng ruồi bay. Bong pha lê thể thường gặp trong 4 nhóm người sau: cận thị; đã được phẫu thuật lấy thủy tinh thể đục; đã điều trị bằng phẫu thuật laser; đã có tình trạng viêm nhiễm trong mắt.

Hiện tượng ruồi bay thỉnh thoảng sẽ gây khó chịu, nhất là khi chăm chú đọc sách. Nếu ruồi bay xuất hiện ngay trước mắt cách tốt nhất là nên liếc mắt qua lại để những vật đen này di chuyển ra khỏi tầm nhìn của bạn, bởi khi liếc mắt qua lại, dịch trong mắt di chuyển và do đó những chấm đen sẽ di chuyển ra khỏi mắt. Một vài chấm đen sẽ mờ dần theo thời gian. Trường hợp hiện tượng ruồi bay xuất hiện bất ngờ cần phải được lưu ý đặc biệt và nên đi khám mắt ngay, nhất là với những người đã ở độ tuổi trên 45.

Chớp sáng là hiện tượng giống như khi bạn nhìn thấy hàng ngàn ngôi sao trước mắt sau khi mắt bạn bị một va đập mạnh. Chớp sáng cũng do pha lê thể bị bong. Hiện tượng ruồi bay và chớp sáng bình thường không phải là một tình trạng bệnh lý trầm trọng. Nhưng trong một số trường hợp bong pha lê thể sẽ gây rách võng mạc và xuất huyết pha lê thể. Biến chứng này nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến mù lòa. Vì vậy tốt nhất là thấy hiện tượng ruồi bay, chớp sáng mới xuất hiện và nhất là có hiện tượng mất thị trường thì nên đến bác sĩ nhãn khoa khám ngay, để xác định xem có bong võng mạc không.

Tìm hiểu thoái hóa điểm vàng ướt

Thoái hóa điểm vàng ướt là một trong hai loại thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Loại hình khác thoái hóa điểm vàng khô là phổ biến hơn và ít nghiêm trọng hơn.

Định nghĩa

Thoái hóa điểm vàng ướt là bệnh về mắt mãn tính là nguyên nhân gây mất thị lực ở trung tâm của lĩnh vực tầm nhìn. Thoái hóa điểm vàng ướt được đánh dấu bởi sưng do bị rò rỉ mạch máu ảnh hưởng đến điểm vàng, ở trung tâm của võng mạc – lớp mô bên trong bức thành phía sau của nhãn cầu.

Thoái hóa điểm vàng ướt là một trong hai loại thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác. Loại hình khác thoái hóa điểm vàng khô là phổ biến hơn và ít nghiêm trọng hơn. Thoái hóa điểm vàng ướt hầu như luôn luôn bắt đầu như thoái hóa điểm vàng khô. Không phải rõ ràng những gì gây ra thoái hóa ướt điểm vàng phát triển.

Phát hiện sớm và điều trị thoái hóa điểm vàng ướt có thể giúp giảm mức độ mất thị lực, và trong một số trường hợp, cải thiện tầm nhìn.

tim-hieu-thoai-hoa-diem-vang-uot

Thoái hóa hoàng điểm do tuổi tác

Các triệu chứng

Dấu hiệu thoái hóa điểm vàng ướt và triệu chứng thường xuất hiện và tiến triển nhanh. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Hình ảnh biến dạng, chẳng hạn như đường thẳng xuất hiện lượn sóng hoặc quanh co, dấu hiệu ô cửa hoặc đường tìm kiếm lệch, hoặc các đối tượng xuất hiện nhỏ hơn hoặc xa hơn so với thực.

Giảm thị lực trung tâm.

Giảm cường độ hay độ sáng của màu sắc.

Cũng được xác định tại chỗ hoặc điểm mù trong lĩnh vực tầm nhìn.

Đột ngột khởi phát.

Nhanh chóng xấu đi.

Ảo giác của các hình dạng hình học, động vật hoặc người, trong các trường hợp thoái hóa điểm vàng tiến triển.

Khám bác sĩ mắt nếu

Nhận thấy những thay đổi trong trung tâm tầm nhìn.

Khả năng xem màu sắc và chi tiết bị suy yếu.

Những thay đổi này có thể là dấu hiệu đầu tiên của thoái hóa điểm vàng, đặc biệt nếu lớn tuổi hơn 50.

thoai-hoa

Nguyên nhân

Không phải rõ ràng những gì gây ra thoái hóa điểm vàng ướt. Tình trạng này hầu như luôn luôn phát triển trong những người đã có hình thức thoái hóa điểm vàng khô. Nhưng bác sĩ không thể dự đoán người sẽ phát triển thoái hóa điểm vàng ướt mà nghiêm trọng hơn và tiến triển nhanh hơn so với thoái hóa điểm vàng khô.

Các loại thoái hóa điểm vàng ướt

Thoái hóa điểm vàng ướt có thể phát triển theo những cách khác nhau:

Mất thị lực gây ra bởi sự tăng trưởng bất thường mạch máu loại neovascularization choroidal, thoái hóa điểm vàng nước phát triển khi các mạch máu mới bất thường phát triển từ màng mạch – lớp của mạch máu võng mạc, lớp khoác bên ngoài của mắt được gọi là màng cứng – dưới và thành phần điểm vàng của võng mạc. Những mạch máu bất thường bị rò rỉ chất lỏng hoặc máu giữa các màng mạch và điểm vàng. Chất lỏng cản trở chức năng của võng mạc và gây mờ thị lực trung tâm. Ngoài ra, những gì nhìn thấy khi nhìn thẳng về phía trước trở thành lượn sóng hoặc cong, và điểm trống ngăn một phần của lĩnh vực tầm nhìn.

Tầm nhìn tổn thất gây ra bởi chất lỏng tích tụ ở phía sau của mắt. Một loại thoái hóa điểm vàng ướt, được gọi là bong biểu mô sắc tố võng mạc, xảy ra khi chất lỏng thoát ra từ màng mạch và thu được giữa các màng mạch và một lớp mỏng tế bào được gọi là biểu mô sắc tố võng mạc (RPE ). Choroidal máu bất thường tăng trưởng thường không nhìn thấy khi RPE được tách ra. Thay vào đó, chất lỏng bên dưới RPE gây ra trông giống như vỉ hoặc một vết sưng dưới hoàng điểm.

Phương pháp điều trị và thuốc

Điều trị thoái hóa điểm vàng nước tập trung vào ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

Các loại thuốc để ngăn chặn sự tăng trưởng bất thường của mạch máu

Thuốc có thể giúp ngừng sự tăng trưởng của các mạch máu mới bằng cách ngăn chặn những tác động của tăng trưởng, tín hiệu cơ thể sẽ gửi để tạo ra các mạch máu mới. Những loại thuốc này được coi là điều trị đầu tiên cho tất cả các giai đoạn của thoái hóa điểm vàng ướt.

Các thuốc được sử dụng để điều trị thoái hóa điểm vàng nước bao gồm:

Bevacizumab (Avastin).

Ranibizumab (Lucentis).

Pegaptanib (Macugen).

Các loại thuốc này được tiêm trực tiếp vào mắt. Có thể tiêm lặp lại mỗi bốn tuần để duy trì tác dụng có lợi của thuốc. Trong một số trường hợp, có thể hồi phục thị lực một phần như các mạch máu co lại và dịch dưới võng mạc hấp thụ, cho phép các tế bào võng mạc lấy lại một số chức năng.

Sử dụng tia laser để phá hủy các mạch máu bất thường (quang đông)

Trong thời gian điều trị bằng laser, bác sĩ sử dụng một chùm tia laser năng lượng cao để tiêu diệt bất thường, các mạch máu bị rò rỉ dưới hoàng điểm. Thủ tục được sử dụng để ngăn chặn thiệt hại thêm cho điểm vàng và tiếp tục ngăn chặn mất tầm nhìn càng lâu càng tốt.

Laser điều trị được sử dụng để điều trị thoái hóa điểm vàng ướt trong các tình huống cụ thể. Nó thường không phải là một lựa chọn nếu có mạch máu bất thường thuộc trung tâm của điểm vàng. Ngoài ra, điểm vàng bị hư hỏng nhiều, khả năng thành công thấp hơn. Do những hạn chế, chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ những người có thoái hóa điểm vàng ướt là chỉ định tốt để điều trị laser.

Sử dụng ánh sáng để kích hoạt một loại thuốc tiêm (liệu pháp quang động)

Liệu pháp quang động được sử dụng để điều trị trực tiếp mạch máu bất thường dưới hố mắt. Hố mắt là một phần của mắt nằm ở trung tâm của điểm vàng và mắt khỏe mạnh cung cấp tầm nhìn sắc nét nhất. Quang trị liệu sử dụng tia laser không phải nóng như loại được sử dụng trong điều trị bằng laser.

Ánh sáng từ tia laser được sử dụng trong liệu pháp quang động kích hoạt một loại thuốc gọi là verteporfin (Visudyne), bác sĩ tiêm vào tĩnh mạch ở cánh tay. Thuốc tập trung trong các mạch máu bất thường trong mắt. Khi ánh sáng trực tiếp vào mắt, thuốc sẽ trở nên kích hoạt vào tổn thương bất thường mạch máu.

Quang trị liệu có thể ngăn chặn sự mất mát của tầm nhìn hoặc ít nhất là làm chậm tốc độ mất thị lực. Sau khi thủ tục, sẽ cần phải tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp và đèn sáng mạnh trong một vài ngày, cho đến khi thuốc hết tác dụng.

Lối sống và các biện pháp khắc phục

Điểm vàng bị thoái hóa không ảnh hưởng đến tầm nhìn bên (ngoại vi) và thường không gây mù hoàn toàn. Nhưng nó có thể giảm bớt hoặc loại bỏ tầm nhìn trung tâm – quan trọng đối với lái xe, đọc và nhận ra khuôn mặt của người. Có thể được giúp khi làm việc với một chuyên gia phục hồi chức năng tầm nhìn hoặc nhà trị liệu nghề nghiệp có thể hỗ trợ trong việc thích nghi để thay đổi tầm nhìn.

Cách để đối phó với thay đổi tầm nhìn có thể bao gồm:

Hỏi bác sĩ mắt để kiểm tra kính mắt. Tối ưu hóa tầm nhìn khi nhận được các ống kính theo toa thích hợp nhất. Ống kính hai tròng có thể hữu ích.

Sử dụng kính lúp. Một loạt các thiết bị phóng đại có thể giúp đọc và công việc khác, chẳng hạn như may. Ống kính lúp truyền thống cầm tay là một trong những lựa chọn. Những loại khác, chẳng hạn như ống kính lúp đặc biệt giống như kính, có thể có sẵn từ bác sĩ nhãn khoa, tại các cửa hàng hoặc từ một chuyên gia phục hồi chức năng tầm nhìn. Một tùy chọn khác có thể là hệ thống truyền hình mạch kín sử dụng một máy quay phim để phóng to tài liệu đọc và phát lên một màn hình video.

Thay đổi màn hình hiển thị trên máy tính. Điều chỉnh kích thước phông chữ trong thiết lập máy tính. Điều chỉnh màn hình để hiển thị độ tương phản.

Chọn thiết bị đặc biệt làm cho tầm nhìn thấp. Một số đồng hồ, radio, điện thoại và các thiết bị khác. Các tiện ích khác có thể nói cho biết thời gian hay thông tin quan trọng khác. có thể tìm thấy dễ dàng hơn để xem truyền hình trên TV với một màn hình lớn hơn.

Sử dụng đèn sáng trong nhà. Điều này sẽ giúp đọc sách và các hoạt động khác.

Sử dụng thận trọng khi lái xe. Đầu tiên, hãy kiểm tra với bác sĩ để xem nếu lái xe vẫn an toàn dựa vào thị lực hiện tại. Một số tình huống đòi hỏi phải thận trọng hơn, chẳng hạn như lái xe ban đêm, trong giao thông phức tạp hay trong thời tiết xấu.

Hãy xem xét các lựa chọn đi lại khác. Sử dụng phương tiện giao thông công cộng hoặc yêu cầu các thành viên trong gia đình giúp đỡ, đặc biệt là lái xe đêm.

Phòng chống

Các biện pháp sau đây có thể giúp tránh thoái hóa điểm vàng:

Khám mắt thường xuyên. Hãy hỏi bác sĩ mắt, thường xuyên trải qua khám mắt thường xuyên. Một cuộc khám mắt có thể xác định thoái hóa điểm vàng.

Quản lý bệnh khác. Ví dụ, nếu có bệnh tim mạch hoặc huyết áp cao, uống thuốc và làm theo hướng dẫn của bác sĩ để kiểm soát.

Ngưng hút thuốc lá. Hút thuốc có nhiều khả năng phát triển thoái hóa điểm vàng hơn là không hút thuốc. Hãy hỏi bác sĩ để được giúp đỡ để bỏ hút thuốc.

Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Nếu cần giảm cân, giảm số lượng calo ăn và tăng số lượng tập thể dục nhận được mỗi ngày. Nếu có một trọng lượng khỏe mạnh, làm việc để duy trì nó bằng cách thực hiện hầu hết các ngày trong tuần.

Chọn một chế độ ăn uống giàu trái cây và rau quả. Chọn một chế độ ăn uống lành mạnh, đầy đủ một loạt các loại trái cây và rau quả. Những loại thực phẩm chứa các vitamin chống oxy hóa làm giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng khô.

Bao gồm cá trong chế độ ăn uống. Axit béo Omega-3, được tìm thấy trong cá, có thể làm giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng khô. Các loại hạt, như quả óc chó, cũng có chứa axit béo omega-3.

Cảnh báo đau mắt đỏ và cách phòng tránh hữu hiệu

Theo báo cáo giám sát của các đơn vị y tế từ đầu tháng 9/2013 đến nay tại nhiều địa phương trong cả nước ghi nhận số người mắc bệnh đau mắt đỏ (viêm kết mạc cấp) do vi rút gia tăng so với các tháng 7, 8 năm 2013. Đặc biệt số mắc cao tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định. Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với dịch tiết từ mắt qua bàn tay nhiễm vi rút hoặc dùng chung đồ dùng, vật dụng bị nhiễm mầm bệnh. Bệnh đau mắt đỏ có nguy cơ gia tăng và lan rộng trong cộng đồng ảnh hưởng đến cuộc sống người dân.

Để hạn chế số mắc trong thời gian tới, Bộ Y tế đề nghị đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân quan tâm chỉ đạo Sở Y tế tăng cường giám sát, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các ổ dịch bệnh đau mắt đỏ trên địa bàn; tổ chức hướng dẫn triển khai các biện pháp chống lây nhiễm tại nhà trẻ, trường học, cơ quan, xí nghiệp và cộng đồng; các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh cần tổ chức tốt việc tư vấn, điều trị, thông báo kịp thời cho các đơn vị, địa phương có bệnh nhân để triển khai các biện pháp phòng bệnh; chuẩn bị đầy đủ không để thiếu thuốc, không tăng giá thuốc; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện theo đúng quy định của Bộ Y tế.

Bộ Y tế cảnh báo mạnh về bệnh dịch đau mắt đỏ.

Bộ Y tế cảnh báo mạnh về bệnh dịch đau mắt đỏ.

Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền về bệnh đau mắt đỏ để người dân hiểu được nguyên nhân, đường lây và các biện pháp phòng bệnh tại cộng đồng; thường xuyên phát các thông điệp, khuyến cáo cộng đồng trên phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng bệnh đau mắt đỏ của Bộ Y tế.

Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ sở giáo dục trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng bệnh đau mắt đỏ trong nhà trường và thông báo ngay cho các đơn vị y tế dự phòng khi phát hiện học sinh mắc bệnh để triển khai xử lý ổ dịch sớm, triệt để; các trường mẫu giáo, mầm non cần đảm bảo vệ sinh trường học tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn cho phụ huynh học sinh về các biện pháp phòng bệnh đau mắt đỏ.

Khuyến cáo của Bộ Y tế phòng bệnh đau mắt đỏ trong cộng đồng

Bệnh đau mắt đỏ là bệnh truyền nhiễm cấp tính thường do vi rút nhóm Adeno và Picorna với triệu chứng thường gặp như: sốt nhẹ; cộm mắt, đau, sưng, đỏ mắt; tiết nhiều dịch rử mắt và chảy nước mắt. Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp, gián tiếp với dịch tiết từ mắt qua bàn tay nhiễm vi rút hoặc dùng chung đồ dùng, vật dụng bị nhiễm mầm bệnh. Bệnh có thể lây truyền mạnh trong gia đình, nhà trẻ, trường học, cơ quan, xí nghiệp và những nơi tập trung đông người. Bệnh thường diễn biến lành tính, các biến chứng nặng ít gặp nhưng có thể xảy ra. Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu.

Để chủ động phòng bệnh, cộng đồng cần thực hiện tốt các khuyến cáo sau:

1. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Rửa mặt hằng ngày bằng khăn mặt riêng với nước sạch.

2. Vệ sinh mắt, mũi, họng hàng ngày bằng các thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nước súc họng thông thường.

3. Sử dụng xà phòng hoặc các chất sát khuẩn thông thường sát trùng các đồ dùng, vật dụng của bệnh nhân.

4. Không đưa tay lên dụi mắt, mũi, miệng. Không dùng chung lọ thuốc nhỏ mắt, vật dụng cá nhân dễ bị nhiễm mầm bệnh như khăn mặt, kính mắt.

5. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân hoặc người nghi bị đau mắt đỏ.

6. Người bệnh hoặc người nghi bị đau mắt đỏ cần hạn chế tiếp xúc với người khác và đến cơ sở y tế để được khám, tư vấn, điều trị kịp thời. Không tự ý điều trị khi chưa có hướng dẫn của cán bộ y tế.

Nguồn giáo dục

Biểu hiện nhận biết bệnh phù gai thị

Biểu hiện ở mắt của phù gai thị thường chỉ có thể được phát hiện và đánh giá khi soi đáy mắt. Thường kèm theo các biểu hiện của các bệnh toàn thân gây ra phù gai thị như nhức đầu, buồn nôn trong u não, chấn thương trong xuất huyết não…

Các biểu hiện của phù gai thị khi soi đáy mắt:
Các mao mạch nhỏ trên bề mặt gai thị bị giãn, ngoằn ngoèo, dẫn đến hình ảnh gai thị sung huyết là dấu hiệu sớm nhất của phù gai thị.
Giãn tĩnh mạch trung tâm võng mạc, kèm theo mất nhịp đập tự nhiên của tĩnh mạch.
Bờ gai thị mờ, không nhìn thấy lá sàng và lõm gai sinh lý.
Xuất huyết nhỏ thành tia trên bề mặt gai thị gần mạch máu trong giai đoạn sớm, sau đó hợp lại thành hình ảnh dạng ngọn lửa bao quanh gai thị.

bieu-hien-nhan-biet-benh-phu-gai-thi

Xuất tiết cứng có thể khi gai thị kéo dài.

Giãn rộng điểm mù khi làm thị trường.
Ở giai đoạn muộn, không được điều trị sẽ xuất hiện nhìn mờ, co động mạch võng mạc, bạc mầu gai thị, cuối cùng là teo gai thị và mù không hồi phục.

Điều trị ứ phù gai thị:
Ứ phù gai thị chỉ là triệu chứng của bất cứ bệnh nào gây ra tăng áp lực nội sọ. Các bệnh có thể gây ra tăng áp lực nội sọ dẫn đến ứ phù gai thị, bao gồm:
Các khối u não, đặc biệt là các khối u gây ứ nước trong não.
Tăng huyết áp giai đoạn IV (giai đoạn muộn).
U máu dưới màng cứng sau chấn thương, áp xe não.
Bệnh u não do nhiễm độc, ví dụ như nhiễm độc chì.
Các nguyên nhân trên đều là những bệnh nguy hiểm. Vì vậy, cần phải khám thêm và làm các xét nghiệm cần thiết về nội khoa, thần kinh và mắt để tìm nguyên nhân của ứ phù gai thị và có biện pháp điều trị phù hợp

Theo sức khỏe

Đái tháo đường và bệnh mắt

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây tổn thương rất nhiều cơ quan nội tạng, đặc biệt khi gây tổn thương ở mắt, bệnh nhân (BN) có thể bị mù lòa nếu không được phát hiện và điều trị sớm. Ba bệnh lý hay gặp ở mắt do bệnh ĐTĐ gồm: rối loạn nhìn gần, đục thủy tinh thể, bệnh lý võng mạc (VM) ĐTĐ. Treong ba bệnh lý này thì bệnh lý võng mạc ĐTĐ nguy hiểm nhất. Nhưng nếu được phát hiện và điều trị sớm, BN sẽ tránh khỏi mù lòa. Vì vậy, cách tốt nhất để phòng ngừa mù lòa trên BN ĐTĐ là nên đi khám mắt định kỳ.

dai-thao-duong-va-cac-benh-ve-mat

Ai sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh VM ĐTĐ

Tất cả những BN bị ĐTĐ đều có nguy cơ bị bệnh VM ĐTĐ. Những BN sau sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh VM ĐTĐ: thời gian bị ĐTĐ kéo dài, đường trong máu cao, ĐTĐ đi kèm với cao huyết áp đặc biệt có kèm biến chứng thận, ĐTĐ và thai kì.

Giải phẫu mắt bình thường

Mắt của người có hình dạng và kích thước giống như một trái banh, hơi lồi ra trước. Phía trước là đồng tử (con ngươi), sau con ngươi là thể thủy tinh, giống như là một kính phóng đại. Bên trong mắt chứa một chất giống như lòng trắng trứng gà được gọi là dịch kính. Bao bọc dịch kính là một lớp tế bào thần kinh được gọi là VM.

Mắt giống như một máy chụp hình. Ánh sáng đi qua đồng tử, thể thủy tinh và cuối cùng hội tụ trên VM. VM giống như phim ảnh, có nhiệm vụ thu nhận các hình ảnh hội tụ trên VM và truyền lên não, vì vậy, khi VM bị tổn thương thì ta không nhận biết được hình ảnh.

Trung tâm VM được gọi là điểm vàng là phần quan trọng nhất của thị giác. Vùng này sẽ nhận biết được tất cả hình ảnh ngay trước mắt. VM xung quanh điểm vàng chịu trách nhiệm cho thị giác ngoại biên.

Bệnh lý VM ĐTĐ

ĐTĐ làm cho những mạch máu rất nhỏ trên VM bị hủy hoại. Tổn thương của VM có hai giai đoạn:

Giai đoạn sớm hay còn gọi là giai đoạn không tăng sinh. Giai đoạn này BN thường có rối loạn thị giác. Trong giai đoạn này, những mạch máu nhỏ bị suy yếu, tạo thành những túi phình mạch nhỏ. Máu và những thành phần trong máu như nuớc, các chất mỡ sẽ thoát ra khỏi mạch máu và đi vào VM gây xuất huyết, xuất tiết và phù VM. Nếu như các chất xuất huyết này xảy ra tại điểm vàng, BN sẽ bị giảm thị lực. Nếu BN được phát hiện sớm trong giai đoạn này thì có thể ngăn ngừa được mất thị lực.

Giai đoạn muộn hay còn gọi là giai đoạn tăng sinh. Trong giai đoạn này, những mạch máu nhỏ bị tắc nghẽn dẫn dến sự cung cấp máu cho VM bị thiếu. Để bù đắp cho tình trạng thiếu cung cấp máu này, rất nhiều mạch máu mới được phát triển. Những mách máu mới này rất giòn và dễ vỡ. Khi những mạch máu này vỡ sẽ gây chảy máu trong mắt, vì vậy BN bất ngờ bị giảm thị lực. Nếu máu ít, BN sẽ có cảm giác như một đám mây mù trước mắt. Nếu như chảy máu nhiều, BN sẽ không nhìn thấy gì hết. Máu ở trong mắt phải mất một thời gian dài từ vài tuần đến vài tháng để tan hết, phụ thuộc vào số lượng máu chảy nhiều hay ít. Chảy máu nhiều sẽ dẫn dến sự hình thành các mô sợi trên VM. Các mô sợi co kéo và gây bong VM mà nếu không được điều trị sẽ gây mù lòa.

Các biện pháp phòng ngừa mù lòa do bệnh ĐTĐ

Nên giữ lượng đường trong máu ở mức độ cho phép.

Khám mắt định kì. Nên đi khám mắt định kỳ tại các trung tâm mắt hoặc các bác sĩ chuyên khoa ĐTĐ. Đừng chờ đợi cho đến khi có các triệu chứng ở mắt mới đi khám mắt. Bệnh lý VM ĐTĐ tiến triển rất yên lặng trước khi bạn ghi nhận có hiện tượng giảm thị lực. Càng bắt đầu điều trị sớm càng có nhiều cơ hội phòng ngừa mù lòa. Bao lâu nên đi khám mắt?

dai-thao-duong-va-cac-benh-ve-mat-1 - Copy

BN duới 30 tuổi bị ĐTĐ đang được điều trị với insulin nên đi khám mắt ít nhất là sau 5 năm kể từ khi bắt đầu phát hiện bị ĐTĐ. Sau đó khám định kì 2 năm một lần.

BN trên 30 tuổi nên khám mắt ngay khi được phát hiện ĐTĐ.

BN có cao huyết áp và bệnh thận nên khám thường xuyên hơn. Phụ nữ có thai và bị ĐTĐ nên đi khám mắt. Trong thời gian giữa hai lần khám định kì nếu có bất kì những triệu chứng nào ở mắt phải đi khám ngay, không nên chờ đợi đúng ngày hẹn. Khi BN đã thực sự có bệnh lý VM ĐTĐ rồi thì thời gian khám mắt sẽ phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của bệnh.

Làm thế nào để chẩn đoán được bệnh VM ĐTĐ?

Đến khám tại trung tâm mắt. Kiểm tra VM với đèn soi đáy mắt. Các bác sĩ nhãn khoa với những đèn soi đáy mắt chuyên biệt sẽ kiểm tra VM để phát hiện những tổn thương ở giai đoạn sớm.

Chụp hình màu VM cũng là một phương pháp để phát hiện sớm tổn thương trên VM. Chụp hình VM có tiêm thuốc cản quang giúp trong chẩn đoán và quyết định xem BN có cần điều trị laser hay không?

Phương pháp điều trị bệnh lý VM ĐTĐ

Laser là phương pháp đầu tiên để điều trị bệnh lý VM ĐTĐ. Laser không giúp lấy lại được thị lực tốt cho BN nhưng laser có tác dụng ngăn ngừa bệnh tiến triển. Điều trị bằng laser có thể được thực hiện vài lần, mỗi lần kéo dài khoảng 15 phút. Đầu tiên nhỏ thuốc giãn đồng tử để bác sĩ có thể quan sát rõ VM. Sau đó, nhỏ thuốc tê vào mắt để giúp bác sĩ dễ dàng đặt một vài loại kính đặc biệt lên mắt, sau khi điều trị kính sẽ được lấy ra. Bạn sẽ ngồi trước một kính hiển vi đặc biệt và bác sĩ sẽ bắt đầu điều trị. Thỉnh thoảng có một vài BN không thể ngồi yên để điều trị, khi đó bác sĩ sẽ phải tiêm thuốc tê. Trong những trường hợp bệnh lý VM ĐTĐ nặng có biến chứng bong VM, xuất huyết trong mắt thì khi đó phải can thiệp bằng phẫu thuật. Tiên luợng trong những trường hợp này rất xấu.

BS. Đoàn Hồng Dung

Theo SKDS

Trị đau mắt đỏ bằng phương thuốc nam

Đau mắt đỏ là bệnh thường gặp và dễ lây lan. Nguyên nhân của bệnh là do vi khuẩn, virut…

Đặc biệt, bệnh dễ gây thành dịch ở nơi vệ sinh kém, thiếu nước sạch trong sinh hoạt.

Theo Đông y, đau mắt đỏ chủ yếu do cảm nhiễm độc khí lưu hành trên một diện rộng, hiệp với thấp nhiệt phối hợp với nhau mà gây bệnh.

download

Biểu hiện của bệnh là lúc đầu thấy ngứa, cộm, chảy nước mắt là lúc độc phong tà xâm nhập tại chỗ mà gây ra; sau đó nhanh chóng sưng là quá trình chính khí và tà khí giao tranh nên mắt đau, nhiều dử. Sau đây là một số bài thuốc Nam đơn giản, dễ kiếm có thể trị bệnh này để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Bài 1: Hoà tan 1 thìa canh muối bột (muối tinh không có i-ốt) vào 1 lít nước đun sôi để nguội, đựng vào chai sạch để dùng dần. Hàng ngày, nhất là lúc mới ngủ dậy, dùng bông sạch thấm nước muối trên lau mắt 4 – 5 lần cho sạch. Nhấp nháy mắt cho nước muối lọt vào trong làm tan những hạt li ti cộm lên trong mắt.

Bài 2: Lấy cây sống đời (cây bỏng) rửa sạch, giã nhỏ (dụng cụ cần được tẩy trùng sạch), lấy một miếng gạc đã tiệt khuẩn (hoặc vải màn sạch) đặt lên mắt, đặt dung dịch lá sống đời vừa bào chế lên trên miếng gạc rịt chặt, nhất là về đêm để khi ngủ không rơi. Mỗi tối làm 1 lần cho đến khi khỏi.

Bài 3: Nếu dùng các vị trên chưa khỏi, cần sử dụng các bài thuốc sau: Hạt thảo quyết minh (hạt muồng) sao vàng; bông cúc vàng (cam cúc) mỗi thứ 1 nắm; quả bạch tật lê 10g. Cho tất cả vào đun uống như nước chè.

Bài 4: Có thể cho bạch tật lê 2g đun sôi, sau đó đổ ra cốc để ngay dưới mắt vào dùng hơi nước xông cho đến khi khỏi (lưu ý cẩn thận kẻo bỏng mắt).

Theo SKĐK

Nguy cơ tật khúc xạ ở trẻ em

Theo điều tra của Bệnh viện Mắt trung ương cho thấy, tỷ lệ tật khúc xạ như cận thị, loạn thị, viễn thị… ngày càng gia tăng, từ 2,5% trong năm 2002 lên 25%-30% năm 2007, đặc biệt ở trẻ em lứa tuổi đến trường và tập trung ở các đô thị. Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh có tới hơn 40% học sinh phổ thông mắc các tật khúc xạ…

Tật khúc xạ ảnh hưởng đến 2,5 tỷ người (khoảng 20% dân số) trên toàn thế giới. Ở nước ta tỷ lệ mắc tật khúc xạ ngày càng tăng ở trẻ với khoảng 3 triệu trẻ em trong cả nước cần đeo kính. Đặc biệt, học sinh thành thị mắc tật khúc xạ có tỷ lệ rất cao, chiếm tới 40% – 50% số học sinh, trong khi tỷ lệ học sinh ở nông thôn bị tật khúc xạ chỉ chiếm khoảng 15%. Không có gì ngạc nhiên khi con số thống kê cho biết 79% các em bị tật khúc xạ là cận thị. Nhẩm tính ra tiền kính, tiền thuốc, tiền khám bệnh mỗi cháu cũng gần đến tiền triệu.

nguy-co-tat-khuc-xa-o-tre-em

Chưa kể những bất tiện cho trẻ đeo kính, nguy cơ tiềm tàng về tai nạn do mắt kính, gọng kính và các biến chứng khác. Tính phổ biến của tật khúc xạ, gánh nặng chi phí, nguyên nhân phức tạp, hiệu quả điều trị không cao… đã làm hệ thống y tế và cả xã hội bối rối mà chưa biết tháo gỡ từ đâu. Để kiểm soát được tật khúc xạ, điều quan trọng là chúng ta phải nhìn nhận đúng đắn về trục bệnh lý: tật khúc xạ- lác- nhược thị, mối quan hệ nhân quả và những việc cần làm ngay vì lợi ích của trẻ.

Phát hiện sớm bất thường chức năng nhìn của trẻ

Nhìn chung mắt có tật khúc xạ là mắt có thị lực kém và trẻ thường biểu hiện bằng nheo mắt, nghiêng đầu, vẹo cổ khi nhìn, đôi khi có thể có nhức đầu, nhức mắt… Trong lớp học, trẻ không nhìn rõ trên bảng, hay cúi đầu lại gần sách để nhìn cho rõ, hay chép nhầm bài, đọc nhầm chữ, ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Những trường hợp này cần được phát hiện sớm và có phương hướng điều trị thích hợp.

Chức năng của mắt là giúp cho chúng ta nhìn rõ được những vật ở xung quanh. Mắt bình thường (hay còn gọi là mắt chính thị, mắt không có tật khúc xạ) là mắt có hình ảnh của vật hội tụ đúng trên võng mạc và chỉ khi đó thì vật mới được nhìn rõ. Khi mắt không có khả năng hội tụ một cách chính xác những tia sáng đi từ ngoài vào mắt đúng trên võng mạc thì gọi là mắt có tật khúc xạ. Đây là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, cần nhận biết và có biện pháp khắc phục sớm.

Cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ quá lớn, khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía trước của võng mạc. Người bị cận thị nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn rõ nhờ vào chức năng điều tiết của mắt trừ khi cận thị quá nặng. Cận thị có thể là bẩm sinh hay mắc phải. Điều chỉnh mắt cận thị là đeo kính phân kỳ để giúp cho ảnh của vật rơi đúng vào võng mạc và khi đó vật sẽ được nhìn rõ.

Viễn thị ngược lại với mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường và khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía sau của võng mạc. Người bị viễn thị nhìn xa rõ hơn nhìn gần. Điều chỉnh mắt viễn thị bằng đeo kính hội tụ để kéo ảnh của vật về đúng trên võng mạc. Cần lưu ý là mắt viễn thị thường gây nhược thị và có thể là yếu tố gây ra lác điều tiết nên cần phải được phát hiện và điều trị sớm.

Loạn thị là mắt có các kinh tuyến khúc xạ không đều nhau. Vật nhìn không in hình rõ nét trên võng mạc và người bệnh nhìn mờ cả xa và gần. Trẻ bị loạn thị thường nhìn mờ khi nhìn lên bảng hay đọc nhầm chẳng hạn như chữ H đọc thành chữ N, chữ B đọc thành chữ H, chữ I đọc thành chữ T… Loạn thị có thể là đơn thuần hoặc phối hợp với cận thị hay viễn thị. Điều chỉnh mắt loạn thị bằng cách đeo kính trụ.

Lệch khúc xạ là hiện tượng có sự khác nhau về khúc xạ giữa hai mắt có thể là một mắt cận còn mắt kia viễn hoặc cả hai mắt cùng cận hay cùng viễn nhưng khác nhau về mức độ. Đôi khi là một mắt chính thị còn mắt kia là cận thị đơn thuần, viễn thị đơn thuần hay cận loạn hoặc là viễn loạn.

Những trường hợp này cần được phát hiện sớm và đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt để có phương hướng điều trị thích hợp. Ngoài ra trẻ phải tuân thủ đầy đủ chế độ vệ sinh học đường như tư thế ngồi học, bàn ghế, bảng đen, ánh sáng phòng học, chế độ giải lao vui chơi và dinh dưỡng hợp lí để không bị mắc phải cận thị học đường hoặc nếu có bị những tật khúc xạ bẩm sinh thì cũng không bị nặng hơn.

Nhìn nhận đúng về lác mắt

Lác mắt là hiện tượng lệch trục nhãn cầu biểu hiện bằng độ lác khi quan sát thấy. Đây không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn gây ra nhược thị và rối loạn thị giác hai mắt đi kèm. Lác có thể là lác trong (khi nhãn cầu lệch vào trong), lác ngoài (khi nhãn cầu lệch ra ngoài) hay lác đứng (khi nhãn cầu lệch lên trên hoặc xuống dưới). Khi mắt bị lác, hai mắt sẽ nhìn theo hai hướng khác nhau và sẽ bị nhìn hai hình. Lúc đó não sẽ xoá bỏ hình ảnh của mắt lác ức chế không cho mắt này nhìn và gây ra nhược thị. Vì vậy, người bệnh sẽ mất khả năng nhìn bằng hai mắt đồng thời sẽ không có được thị giác hai mắt. Bất cứ trẻ từ 1 tháng tuổi trở lên xuất hiện lác cần phải coi là nghiêm trọng và phải được đưa đi khám ngay.

Điều trị lác có 3 bước liên quan chặt chẽ với nhau là: điều trị nhược thị, điều trị thẳng trục nhãn cầu để hết lác và điều trị phục hồi thị giác hai mắt. Thời gian điều trị lác càng sớm càng tốt, điều trị sớm không những rút ngắn thời gian điều trị mà còn tăng cường hiệu quả điều trị và nâng cao cơ hội phục hồi thị giác hai mắt. Các phương pháp điều trị khác nhau như: đeo kính, bịt mắt tập chỉnh quang, điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật… Ngoài ra, trẻ sau khi điều trị khỏi lác vẫn cần phải theo dõi lâu dài và duy trì kết quả điều trị đã đạt được.

Nhược thị và khiếm thị

Nhược thị là hiện tượng mắt kém ở một hoặc hai bên do các nguyên nhân khác nhau như: lác mắt, do tật khúc xạ hay một số bệnh lí tại mắt. Tuy nhiên nhược thị có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu như được phát hiện sớm và điều trị đúng. Các phương pháp điều trị nhược thị có thể là đeo kính, bịt mắt lành, tập chỉnh quang hay phẫu thuật…

Khác với nhược thị, khiếm thị là một tình trạng khiếm khuyết về chức năng của cơ quan thị giác gây ra bởi các bệnh mắt bẩm sinh, di truyền hay mắc phải, do chấn thương mắt trong cuộc sống… mà không thể điều trị khỏi được bằng các phương pháp điều chỉnh khúc xạ, bằng thuốc hay bằng phẫu thuật. Phương pháp điều trị đối với trẻ bị khiếm thị là sử dụng các phương tiện trợ thị thích hợp để giúp cho trẻ có thể tận dụng một cách hữu ích nhất phần thị lực còn lại để có thể hoà nhập với cuộc sống cộng đồng.

Trong lúc chờ đợi những phương pháp điều trị hiệu quả hơn, triệt để hơn thì việc quan tâm sát sao đến những bất thường thị giác của trẻ, có những hiểu biết nhất định để phối hợp tốt với các bác sĩ mắt khắc phục tật khúc xạ bằng kính thông thường thiết nghĩ vẫn là phương châm tốt cho tất cả mọi người.

Theo  BS. Đỗ Quang Ngọc – BS. Hoàng Cương

Sức khỏe đời sống

Nguyên nhân và giải pháp của bệnh cận thị

Các bậc làm cha mẹ hãy vì đôi mắt trong sáng của các con mà chú ý đến góc học tập của các cháu đã đủ ánh sáng chưa? Bàn ghế đã đúng chưa? Các cháu ngồi học như thế nào? Thời gian các cháu xem tivi bao lâu? Có sử dụng các phương tiện điện tử trong ngày học không? Đừng bắt các cháu ngay từ lớp 1 đã phải đi học thêm để rồi tiếp tục tình trạng trên cho những năm sau thì chẳng những con mình phải mang thêm đôi kính cận nặng chịch mà còn có thể bị rối loạn tâm thần một khi các cháu quá căng thẳng trong quá trình học tập.

nguyen-nhan-va-giai-phap-cua-benh-can-thi1

Cận thị thường xuất hiện và tiến triển nhanh ở lứa tuổi thanh thiếu niên, tuổi đến trường học. Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3 này, cận thị học đường đang có chiều hướng ngày càng tăng lên ở lứa tuổi học sinh các cấp học.

Tỷ lệ học sinh bị cận thị tăng lên theo cấp học. Học sinh các trường chuyên bị cận thị cao hơn học sinh các trường không chuyên; Học sinh đầu cấp học (lớp 1) đã bị cận thị (tỷ lệ từ 1-5%); Các cháu ở lứa tuổi mầm non đã xuất hiện cận thị; Trước đây, tỷ lệ học sinh nam bị cận thị cao hơn học sinh nữ, nhưng bây giờ tỷ lệ này đã ngang bằng, thậm chí có trường, học sinh nữ bị cận thị còn cao hơn học sinh nam; Những năm trước, tỷ lệ học sinh bị cận thị ở các thành phố, thị xã cao hơn học sinh nông thôn rất rõ, nhưng nay, sự chênh lệch này đã không còn lớn lắm.

Do môi trường học tập của học sinh chưa tốt được thể hiện ở các điểm sau: chiếu sáng nơi học (phòng học, góc học tập) của các em chưa đủ sáng. Bàn ghế học tập không phù hợp với tầm vóc của học sinh.

Do tư thế khi ngồi học của học sinh sai trong các giờ học, nhất là khi viết bài hay làm bài tập, các em để mắt gần sát mặt bàn mà không được nhắc nhở.

Do các em quá “say mê” đọc những cuốn sách tranh hoặc truyện có cỡ chữ quá nhỏ hay vừa đi vừa đọc, vừa nằm vừa đọc, vừa học làm cho mắt chóng bị mỏi.

nguyen-nhan-va-giai-phap-cua-benh-can-thi
Do chương trình học tập chính khóa quá tải so với lứa tuổi các em như thời gian học tại lớp trong 1 ngày, 1 tuần tại trường quá dài (từ 6 – 7 giờ trong ngày hoặc 30 – 36 giờ trong tuần). Ngoài ra, các em còn  phải học thêm từ 1 – 2 buổi trong 1 tuần, do đó mắt càng bị căng thẳng thêm.

Hiện nay, học sinh từ nhỏ tuổi cho đến lớn tuổi đang có xu hướng sử dụng các loại thiết bị vi tính ngày càng nhiều và càng tăng cho nên con mắt vốn đã bị mỏi mệt trong quá trình học tập nay lại tiếp tục mệt mỏi thêm.

Nói tóm lại, đôi mắt của học sinh ngày hôm nay phải sử dụng quá nhiều trong học tập mà rất ít được nghỉ ngơi, trong lúc nhà trường và bố mẹ lại rất ít quan tâm hoặc quan tâm không đúng. Từ đó đôi mắt trong sáng của các em đang từ tinh nhanh sẽ  chuyển dần sang mệt mỏi dẫn tới tình trạng “cận thị giả” rồi chuyển tới cận thị thật. Đến lúc đó e rằng đã muộn và đôi mắt của con cháu mình bắt đầu phải “mang theo đôi mục kỉnh”.

Cần có biện pháp hữu hiệu

Trước hết, nhà trường cần phải có cán bộ y tế trường học để sớm phát hiện những học sinh có dấu hiệu suy giảm thị lực qua sự hướng dẫn các em tự kiểm tra thị lực của bản thân trên bảng thị lực treo tại phòng học và sớm có biện pháp đề phòng.

Thực hiện việc chiếu sáng (chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo) đầy đủ tại các phòng học, đặc biệt là bảng treo tường phải đầy đủ ánh sáng. Trang bị, cải tạo hoặc sắp xếp lại bàn học và ghế ngồi tại các phòng học sao cho kích thước của bàn và ghế phù hợp với tầm vóc của học sinh các cấp học.

Nhà trường cần sắp xếp chương trình học tập cho từng cấp học sao cho phù hợp với từng độ tuổi. Sắp xếp thời khóa biểu trong ngày, trong tuần hợp lý và xen kẽ giữa những môn học cần phải sử dụng mắt trong thời gian dài, ngắn trong một buổi học và tuần học. Tuyệt đối không tổ chức học thêm hay luyện thi khi các em đang còn phải tập trung học những môn chính khóa.

Trong những giờ đứng lớp, thầy cô giáo nhắc nhở các em khi ngồi học phải ngay ngắn để tránh cận thị.

Theo SKDS

Phương pháp điều trị căn bệnh mù lòa

Hội đồng nghiên cứu y học của Anh (MRC) ngày 21/7 thông báo các nhà khoa học nước này đã thành công trong nỗ lực khôi phục thị lực cho những con chuột bị mù. Đây được coi là bước tiến mới trong việc điều trị bệnh võng mạc.

Nhóm nghiên cứu do nhà khoa học Robin Ali, thuộc Viện nghiên cứu về mắt – Đại học London và Viện mắt Moorfields, đứng đầu đã sử dụng tế bào gốc ở giai đoạn đầu, dễ bị thay đổi, lấy từ phôi thai chuột và cấy vào các ống nghiệm để chúng phát triển thành các tế bào nhận kích thích ánh sáng ban đầu hay còn gọi là các tế bào cảm thụ ánh sáng trong võng mạc.

Sau khi tiêm khoảng 200.000 tế bào trên vào võng mạc của các con chuột, các nhà nghiên cứu phát hiện một số tế bào đã “hòa nhập” tốt với các tế bào sẵn có trong võng mạc để khôi phục thị lực. Sau đó, các con chuột thí nghiệm được thử sức trong “mê cung nước” và kiểm tra bằng phương pháp đo thị lực để khẳng định chúng có phản xạ với ánh sáng.

chua-mu-loa

Theo MRC, trong tương lai, tế bào gốc trong giai đoạn đầu sẽ là nguồn cung vô hạn tế bào nhận kích thích ánh sáng cho phẫu thuật võng mạc để điều trị bệnh mù ở con người.

Ở người, việc mất khả năng cảm nhận ánh sáng thường do các bệnh về mắt như viêm võng mạc sắc tố và bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (AMD).

Trước đó, nhóm nghiên cứu của Anh này cũng phát hiện ra rằng, thị lực của các con chuột bị mù có thể được khôi phục bằng cách cấy ghép các tế bào nhận kích thích ánh sáng hay còn gọi là các tế bào hình que được lấy từ võng mạc của các con chuột khỏe mạnh.

Kết quả của nghiên cứu lần này đã tạo bước tiến mới vì các bộ phận được cấy ghép có các tế bào thần kinh cảm nhận ánh sáng khác nhau và chúng không thể được lấy từ các động vật khác. Thay vào đó, các tế bào này được phát triển trong phòng thí nghiệm và phát triển thành tế bào cần thiết nhờ kỹ thuật mới tái tạo hình dạng của võng mạc – kỹ thuật này được phát triển đầu tiên ở Nhật Bản.

Ông Ali cũng cho biết, trong nhiều năm gần đây, các nhà khoa học đã thành công với tế bào gốc và hướng chúng phát triển thành các loại khác nhau của tế bào và mô trưởng thành. Tuy nhiên, cấu trúc phức tạp của võng mạc đã gây khó khăn trong việc tái tạo trong phòng thí nghiệm.

Với kỹ thuật mới của Nhật Bản, bước tiếp theo sẽ là chắt lọc kỹ thuật này để có thể sử dụng các tế bào của con người trong các thử nghiệm lâm sàng.

Theo TTXVN/Vietnam+

Các triệu chứng và phương pháp điều trị bệnh mù màu

Hầu hết những người có tầm nhìn màu sắc nghèo nàn, không thể phân biệt giữa các sắc thái nhất định của màu đỏ và màu xanh lá cây.

Định nghĩa

Mù màu là không có khả năng phân biệt giữa các sắc thái nhất định của màu sắc. Mặc dù nhiều người gọi nó là không phân biệt màu, không phân biệt màu mô tả thiếu tầm nhìn tổng số màu sắc. Khả năng nhìn thấy sắc thái của màu xám chỉ là hiếm.

Hầu hết những người có tầm nhìn màu sắc nghèo nàn, không thể phân biệt giữa các sắc thái nhất định của màu đỏ và màu xanh lá cây. Ít gặp hơn là những người có tầm nhìn màu nghèo không thể phân biệt giữa các sắc thái của màu xanh và màu vàng.

Tầm nhìn màu sắc nghèo nàn là bệnh di truyền trong nhiều trường hợp. Đàn ông có nhiều khả năng được sinh ra với tầm nhìn màu sắc nghèo. Một số bệnh về mắt và một số loại thuốc cũng có thể gây thiếu màu sắc.

mu-mau

Các triệu chứng

Có thể đã nhìn màu nghèo và không biết điều đó. Cũng có thể không nghi ngờ điều kiện trong các con trẻ cho đến khi tình hình một nguyên nhân gây nhầm lẫn hoặc hiểu sai – chẳng hạn như gặp phải một đèn giao thông hoặc cố gắng để giải mã màu tài liệu học tập.

Người bị ảnh hưởng bởi tầm nhìn màu sắc nghèo có thể không thể phân biệt:

Sắc thái khác nhau của màu đỏ và xanh lá cây.

Sắc thái khác nhau của màu xanh và màu vàng.

Bất kỳ màu sắc nào.

Việc thiếu hụt màu sắc phổ biến nhất là không có khả năng để xem một số sắc thái của màu đỏ và màu xanh lá cây. Thông thường, màu đỏ – xanh lá cây hoặc màu vàng xanh, không phải là thiếu hoàn toàn không nhạy cảm với cả hai màu sắc. Khuyết tật có thể nhẹ, trung bình hoặc nặng. Một người nào đó với sự thiếu hụt màu đỏ – xanh lá cây hoặc màu vàng xanh có thể không thể phân biệt màu sắc của cầu vồng hay nhận ra bầu trời màu hồng vào lúc bình minh hoặc hoàng hôn.

Ngoài ra, những người có tầm nhìn màu sắc nghèo có thể không đúng tên màu sắc khác nhau. Ví dụ, “xanh” có thể là những gì mà người bình thường có tầm nhìn gọi là “màu vàng.” Đó là bởi vì họ đã luôn luôn nghe nói rằng lá có màu xanh, để họ giải thích màu vàng lá họ cho là “màu xanh lá cây.”

Đến gặp bác sĩ khi

Nếu nghi ngờ tầm nhìn màu sắc không thỏa đáng, gặp bác sĩ mắt để thử nghiệm. Ngoài ra, kiểm tra mắt mầm non, đó là một ý tưởng tốt để đảm bảo cho xét nghiệm tầm nhìn màu sắc cũng như cho thị lực. Mặc dù không có điều trị cho tầm nhìn màu sắc kém. Nếu nguyên nhân là một bệnh mắt, điều trị mà bệnh có thể cải thiện tầm nhìn màu sắc.

Nguyên nhân

Nhìn thấy màu sắc trên quang phổ ánh sáng bắt đầu với khả năng mắt phân biệt chính xác các màu cơ bản đỏ, xanh dương và xanh lá cây.

Ánh sáng đi vào mắt thông qua ống kính và xuyên qua cơ thể, thủy tinh thể đến các tế bào nhạy cảm với màu sắc (hình nón) ở mặt sau của mắt. Hóa chất trong các tế bào hình nón phân biệt giữa các màu sắc và gửi thông tin qua thần kinh thị giác đến bộ não.

Nếu mắt bình thường, có thể phân biệt được hàng trăm pha trộn của màu sắc, nhưng nếu võng mạc thiếu một hay nhiều hóa chất nhạy sáng, có thể thấy chỉ hai trong số các màu cơ bản.

Tầm nhìn màu sắc nghèo nàn có nhiều nguyên nhân:

Rối loạn di truyền. Khoảng một trong 12 nam giới gốc Bắc Âu được sinh ra với một số mức độ thiếu của màu xanh – đỏ. Hầu hết phụ nữ có gen chống lại sự thiếu hụt, và hơn 1 phần trăm phụ nữ gốc Bắc Âu có loại thiếu màu sắc. Trong nhóm người khác, tỷ lệ thiếu hụt màu xanh-đỏ thấp hơn.

Thiếu màu Blue – vàng được kế thừa bởi ít hơn một trong 10.000 người trên toàn thế giới, và thừa kế không phân biệt màu thực sự ảnh hưởng ít hơn một trong 30.000 người. Có thể thừa hưởng một mức độ nhẹ, trung bình hoặc nghiêm trọng của chứng rối loạn, và mức độ nghiêm trọng không thay đổi trong suốt thời gian nếu nguyên nhân di truyền.

Bệnh. Một số điều kiện có thể gây thâm hụt màu như bệnh tiểu đường, bệnh tăng nhãn áp, thoái hóa điểm vàng, bệnh Alzheimer, bệnh Parkinson, nghiện rượu mãn tính, bệnh bạch cầu và thiếu máu hồng cầu hình liềm. Mắt có thể có nhiều ảnh hưởng hơn và có thể nhận được tốt hơn nếu các bệnh tiềm ẩn có thể được điều trị.

Một số thuốc. Một số thuốc có thể làm thay đổi nhìn màu sắc, chẳng hạn như một số loại thuốc dùng để điều trị bệnh tim, cao huyết áp, nhiễm trùng, rối loạn thần kinh và các vấn đề tâm lý.

Lão hóa. Khả năng nhìn thấy màu sắc xấu đi từ từ như là một phần của sự lão hóa.

Hóa chất. Tiếp xúc với một số hóa chất mạnh tại nơi làm việc, chẳng hạn như disulfua cacbon, phân bón và styrene có thể gây mất màu sắc thị giác. Nếu làm việc xung quanh các hóa chất này, tầm nhìn màu sắc được đánh giá bởi vì sự mất mát của một số tầm nhìn màu sắc là có thể.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu gặp khó khăn nhìn thấy màu sắc nhất định, bác sĩ mắt nhanh chóng và dễ dàng có thể kiểm tra để xem nếu có thiếu màu sắc. Nhiều chuyên gia được đào tạo sử dụng một cuốn sách có chứa nhiều màu – mẫu xét nghiệm cung cấp đánh giá đơn giản và chính xác của thiếu tầm nhìn màu sắc thừa kế khi sinh. Nếu không có thiếu tầm nhìn màu sắc, sẽ có thể chọn ra số lượng và hình dạng từ bên trong các mẫu. Tuy nhiên, nếu thiếu tầm nhìn màu sắc, hoặc là sẽ thấy khó khăn để xem bất cứ điều gì trong số các dấu chấm, hoặc sẽ không thấy gì cả.

Phương pháp điều trị và thuốc

Không có điều trị đúng kế thừa thiếu tầm nhìn màu sắc.

Nếu có vấn đề sắc thái sáng suốt của màu sắc, bác sĩ mắt có thể xác định loại màu sắc tầm nhìn kém và kiểm tra xem nếu có một bệnh về mắt liên quan. Mắt bệnh không phổ biến là nguyên nhân của tầm nhìn màu sắc nghèo như do di truyền, nhưng phương pháp điều trị là làm chậm lại hoặc đảo ngược quá trình của một bệnh về mắt có thể giúp tầm nhìn màu.

Dùng bộ lọc màu trên kính hoặc dùng một ống kính màu có thể nâng cao nhận thức tương phản. Tuy nhiên, ống kính như vậy sẽ không cải thiện khả năng phân biệt màu sắc.

Cách phòng ngừa bệnh đau mắt đỏ mùa dịch

Các bác sĩ chuyên khoa cho biết, đây là thời điểm bệnh đau mắt đỏ vào mùa, tất cả mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh. Đặc biệt là trẻ em sức đề kháng yếu nên bệnh rất dễ lây. Vì vậy, chúng ta cần phòng ngừa đúng cách để tránh dịch đau mắt đỏ hiệu quả nhất.

Trẻ em sức đề kháng yếu nên bệnh rất dễ lây.

Những ngày gần đây, ở Hà Nội, dịch đau mắt đỏ xuất hiện và lây lan rất nhanh. Theo nhận định của các bác sĩ, dịch này đang còn diễn biến phức tạp nếu người dân không biết cách phòng ngừa.

Sáng ngủ dậy, thấy cậu con trai chưa đầy 2 tuổi dử mắt ra nhiều, đỏ, sưng, cháu bé liên tục đưa tay dụi mắt, quấy khóc, chị Minh (Hà Đông, Hà Nội) vội đưa con đến khám tại nhà một bác sĩ chuyên khoa mắt đã về hưu ngay gần nhà.

Bác sĩ kết luận cháu bị đau mắt đỏ rồi kê đơn thuốc điều trị. Nhỏ thuốc mấy ngày mắt cháu bé vẫn sưng húp, kèm nhèm, quá sốt ruột chị vội đưa con đến Viện mắt trung ương. Chị Minh kể lại trước đó mấy hôm chồng chị cũng bị đau mắt đỏ.

Tương tự trường hợp con trai chị Minh, chị Kim Thư (Cầu Giấy, Hà Nội) cũng phát hiện cô con gái 5 tuổi có những biểu hiện chảy nước mắt, sưng mọng quanh mắt, ngây ngấy sốt… Nghĩ con bị đau mắt thông thường chị ra hiệu thuốc gần nhà mua thuốc về tự chữa cho con.

Tuy nhiên, nhỏ thuốc tới 4-5 ngày mà mắt cháu bé vẫn sưng húp, đỏ hơn và ngứa ngáy. Đưa con đến chuyên khoa mắt khám, bác sĩ cho biết cháu bé bị đau mắt đỏ và dặn chị phải vệ sinh mắt đúng cách cho con thì mới nhanh khỏi bệnh.

dau-mat-do-2

Các bác sĩ chuyên khoa cho biết, đây là thời điểm bệnh đau mắt đỏ vào mùa, tất cả mọi người đều có nguy cơ mắc bệnh. Đặc biệt là trẻ em sức đề kháng yếu nên bệnh rất dễ lây.

Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu, việc khỏi bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng miễn dịch, dinh dưỡng, vệ sinh, có các viêm nhiễm phối hợp hay không… Vì thế bệnh nhân cũng như các bậc cha mẹ không nên quá sốt ruột.

Vệ sinh tốt là cách tốt nhất để kiểm soát lây lan Đau mắt đỏ.

Đau mắt đỏ do virus đang ở thời điểm bắt đầu mùa dịch, dự báo bệnh sẽ còn diễn biến phức tạp trong thời gian tới. Tuy nhiên, các bác sĩ chuyên khoa mắt cũng khẳng định việc phòng bệnh đau mắt đỏ không hề khó khăn.

Với bệnh đau mắt đỏ, việc điều trị cũng phải mất từ 1- 3 tuần mới khỏi. Triệu chứng ban đầu của bệnh là ngây ngấy sốt, mệt, đau họng, sưng hạch trước tai. Từ 5-7 ngày sau thì một bên mắt bị đỏ, chảy nước mắt, 3-5 ngày sau sẽ lây sang mắt còn lại. Bình thường bệnh này chỉ mất 10-15 ngày là khỏi hẳn, nhưng có người đến 6 tháng bệnh mới lành.

Tuy nhiên, điều khó khăn trong phòng tránh là nhiều người dân không phân biệt được bệnh đau mắt đỏ với các bệnh đau mắt thông thường khác, hoặc do vệ sinh kém, sử dụng thuốc không đúng (về thời điểm, cách dùng) nên khiến tình trạng bệnh thêm nặng.

Bác sĩ Phạm Ngọc Đông (Bệnh viện mắt Trung Ương) cho biết: Đau mắt đỏ không gây tử vong nhưng có khả năng phát tán nhanh, rộng. Con đường lây bệnh chủ yếu là do tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh (qua tay, lây qua những vật dụng hàng ngày như khăn rửa mặt, đồ chơi, bát ăn, cốc uống…).

Một nguyên nhân khác là do vi khuẩn hay virus trong nước, bụi bẩn, tay chân, khăn bẩn… xâm nhập vào mắt. Người sống trong khu vực có nhiều vi khuẩn, nếu không vệ sinh đúng cách sẽ dễ bị đau mắt đỏ.

Vì vậy, phòng bệnh tốt nhất là tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ với người đau mắt đỏ và vệ sinh đúng cách như: rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn, đặc biệt là sau khi nhỏ mắt cho người bệnh. Ngoài ra cũng cần chú ý không dùng chung thuốc nhỏ mắt để tránh lây bệnh. Khi bị bệnh thì cần nghỉ ngơi, tránh lây cho người khác.

Khi có biểu hiện như mắt đỏ, chảy nhiều nước, ngứa, nhiều dử mắt, ho, sốt, nóng rát mắt, mi mắt sưng,… thì cần đến bác sỹ để được khám và điều trị kịp thời. Nhất là trẻ nhỏ càng không thể chậm trễ vì sức đề kháng của các bé còn kém. Việc điều trị đau mắt đỏ sớm sẽ không gây tốn kém và làm mất thời gian nếu được điều trị kịp thời. Trường hợp để lâu có thể dẫn đến biến chứng vĩnh viễn cho mắt.

Bác sĩ Đông khuyến cáo: Người dân tuyệt đối không nên tự mua thuốc về điều trị, đặc biệt là những loại thuốc có chứa corticoid nếu không có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa mắt. Những thuốc này sử dụng không đúng giai đoạn sẽ làm giảm khả năng miễn dịch, có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh.

Những người đã khỏi bệnh cũng không nên chủ quan vì tuýp virus gây bệnh có thời gian miễn dịch rất ngắn (chỉ trong vòng hai tháng). Vì thế, nếu không giữ gìn cẩn thận, có người mắc bệnh đến 2 lần trong một đợt dịch.

Theo sức khỏe

Phòng và điều trị bệnh đau mắt đỏ

Trong những tuần gần đây, tại Hà Nội, số bệnh nhân viêm kết mạc (đau mắt đỏ) đang gia tăng. Đây là bệnh có khả năng lây lan rộng gây dịch trong cộng đồng. Trao đổi với phóng viên Báo Thanh Niên về việc phòng lây nhiễm và điều trị, BS Chu Thị Vân, Phó giám đốc Bệnh viện Mắt Hà Nội cho biết:

Để phòng bệnh, chúng ta cần giữ vệ sinh đôi mắt.

– Từ đầu tháng 7 đến nay, số bệnh nhân đến khám viêm kết mạc cấp (trong cộng đồng vẫn quen gọi là đau mắt đỏ) tại Bệnh viện Mắt Hà Nội và các quận huyện khoảng hơn 2.200 trường hợp. Thực tế, số người mắc bệnh có thể cao hơn vì bệnh nhân khám tại các cơ sở khác hoặc tự mua thuốc chữa.

Triệu chứng ban đầu, bệnh nhân thường có cảm giác cộm, nóng rát trong mắt, có cảm giác như có hạt cát trong mắt; kèm theo là sợ ánh sáng, chảy nước mắt ở các mức độ khác nhau. Bệnh thường bắt đầu từ một mắt rồi lây sang mắt thứ hai sau một vài ngày. Mi mắt có biểu hiện sưng nề, kết mạc cương tụ đỏ (mắt đỏ), có thể thấy xuất huyết dưới kết mạc kèm hiện tượng nước mắt cũng có màu hồng chảy ra ngoài khe mi.

dau-mat-do

Mắt đau có dử mắt (ghèn) màu vàng hoặc vàng xanh, cũng có khi màu nâu vì có lẫn máu. Chất này đọng thành cục, rất dính khiến cho bệnh nhân có thể bị dính hai mi vào buổi sáng khi ngủ dậy. Một số trường hợp viêm kết mạc cấp có “giả mạc” (hiện tượng mắt có một lớp tơ huyết cô đặc lại, màu hơi vàng phủ lên kết mạc). Giả mạc mủn và dễ bóc, nhưng có thể xuất hiện lại rất nhanh chóng.

Nguyên nhân gây nên viêm kết mạc cấp thường do bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên hoặc do tiếp xúc với người đau mắt. Vì vậy, ngoài biểu hiện viêm ở kết mạc, bệnh nhân có thể viêm họng và nổi hạch trước tai. Bệnh thường xuất hiện vào thời gian mùa hè sau đợt mưa, lụt. Khi trời nắng ráo, đất cát khô, gió bụi bẩn, nguồn nước ô nhiễm là nguyên nhân của đau mắt đỏ. Vì vậy, bệnh này cũng thường xuất hiện ở vùng lũ lụt, từ đó phát tán rộng. Bệnh có thể gây thành dịch trong một vùng dân cư rộng lớn, đặc biệt nơi tập trung đông người như khu tập thể, nhà trẻ, trường học.

* Xin cho biết phương pháp phòng bệnh trong cộng đồng?

– Đây là bệnh dễ lây lan. Để phòng bệnh, chúng ta cần giữ vệ sinh đôi mắt. Tuyệt đối không dùng tay bẩn hoặc khăn bẩn lau dụi mắt. Cần giữ vệ sinh tay sạch sẽ bằng cách rửa xà phòng. Tránh tiếp xúc và không dùng chung đồ dùng: khăn, chậu với người đau mắt đỏ. Trong môi trường tập thể: nhà trẻ mẫu giáo, trường hợp bị đau mắt đỏ cần được nghỉ ở nhà điều trị.

Khi mắc bệnh, có thể chườm lạnh mắt 3-4 lần trong ngày. Có thể sát trùng nhẹ bằng nước muối 9%. Trường hợp khó chịu nhiều, cộm mắt, tra dung dịch kháng sinh như: Tobradex 1%; Maxitrol 1% từ 4-6 lần/ngày. Lưu ý, nếu mắt có giả mạc cần phải bóc đi rồi tra thuốc mới có tác dụng. Bệnh nhân khi đau mắt đỏ nên đến cơ sở điều trị chuyên khoa để được khám, tư vấn điều trị, không tự ý dùng thuốc. Thông thường, đau mắt đỏ có tiến triển lành tính, có thể khỏi trong một tuần. Nhưng bệnh cũng có thể diễn biến nặng gây tổn thương trên giác mạc (lòng đen), ảnh hưởng đến thị lực. Lúc đó, việc điều trị rất dai dẳng.

Theo Liên Châu – TN

Một số kháng sinh tra, nhỏ mắt thường dùng

Kháng sinh là loại thuốc được dùng phổ biến để điều trị các bệnh viêm có kèm nhiễm trùng tại mắt. Kháng sinh có thể được sử dụng tại chỗ, dưới kết mạc, hay toàn thân để điều trị các tổn thương mắt. Một số kháng sinh sau chỉ dùng tại chỗ (nhỏ và tra mắt) là bacitracin, neomycin và polimycin B…

Neomycin

Là kháng sinh nhóm aminoglycosid, dùng dưới dạng thuốc mỡ, dung dịch hoặc hỗn dịch, dùng đơn độc hoặc phối hợp với một số kháng sinh khác như polymixin B, bacitracin… để tra, nhỏ mắt. Nhỏ 1 – 2 giọt vào mắt, 3 – 4 giờ một lần tùy thuộc vào mức độ nhiễm khuẩn và tình trạng bệnh. Không dùng thuốc cho trẻ em dưới 1 tuổi, mẫn cảm với thuốc. Ngoài ra thuốc còn được dùng để bôi ngoài da để điều trị một số nhiễm khuẩn ngoài da, dùng để nhỏ tai… Dùng neomycin nói riêng hay kháng sinh nhóm aminoglycosid cần thận trọng vì chúng gây độc cho thận và tai. Vì vậy, không dùng thuốc trong những bệnh của thị thần kinh vì nó có tác dụng xấu lên thị thần kinh.

nho-mat

Bacitracin

Là thuốc kháng sinh thường được dùng ngoài. Trong chuyên khoa mắt thuốc được dùng dưới dạng mỡ tra mắt, điều trị một số bệnh như chắp, viêm kết mạc cấp và mạn, loét giác mạc, viêm giác mạc và viêm túi lệ. Khi tra mắt, bôi 1 dải mỏng khoảng 1cm thuốc mỡ lên kết mạc, cứ 3 giờ hoặc ngắn hơn bôi 1 lần. Khi dùng chế phẩm này người bệnh có thể bị phát ban do tác dụng không mong muốn của thuốc. Ngừng thuốc khi có biểu hiện trên. Bacitracin thường dùng ở dạng phối hợp với các neomycin và polymyxin B sulfat. Không nên điều trị bằng chế phẩm này quá 7 ngày.

Polymyxin B

Thường dùng bột polymyxin B sulfat để pha dung dịch nhỏ mắt, nồng độ 0,1 – 0,25%, tùy theo lượng dịch pha loãng sử dụng. Polymyxin B được dùng tại chỗ, dùng đơn độc hoặc phối hợp với các hợp chất khác để điều trị viêm kết mạc, viêm mí mắt, viêm giác mạc và loét giác mạc… Cách dùng: Nhỏ vào kết mạc mỗi mắt 1 – 3 giọt, mỗi giờ một lần, sau đó tùy theo mức độ hiệu quả, giảm xuống 1 – 2 giọt, ngày 4 – 6 lần. Tuy nhiên khi dùng thuốc có thể gây kích ứng mắt. Không được dùng chế phẩm polymyxin B kết hợp với coticoid để điều trị nhiễm nấm, nhiễm virut hoặc nhiễm khuẩn có mủ ở mắt.
Cần lưu ý, giống như điều trị kháng sinh toàn thân, việc sử dụng kháng sinh tại mắt cũng có thể gặp nguy hiểm như mẫn cảm hoặc dị ứng với thuốc, tổn hại do độc tính của thuốc, kháng thuốc và thay đổi cân bằng vi sinh vật tại mắt. Sự thay đổi vi khuẩn ở kết mạc thường xảy ra sau khi sử dụng kháng sinh tra mắt kéo dài làm tăng nấm ở túi kết mạc.

Theo sức khỏe đời sống

Để không mỏi mắt khi làm việc

Mắt là một cơ quan có cơ, tức là vẫn bị mỏi mệt như tất cả các cơ khác. Một số lời khuyên giúp bạn bảo vệ tốt đôi mắt:

Có những dấuhiệu báo động nào?

Hiện tượng nhìn mờ ở xa biểu hiện qua khó khăn thích nghi (chuyểncái nhìn từ xa sang cái nhìn ở gần). Mắt bị ngứa,bỏng rát, đau đầu, thậm chí có các cơn đau nửa đầu.Xét nghiệm, đánh giá toàn diện nhãn khoa là việc cầnthiết để phát hiện xem có dạng bệnh tăng nhãn áp haykhông vì bệnh này cũng có các triệu chứng tương tự.

moi-mat-khi-lam-viec

Để tránh mỏi mệt mắt, cần chữa trị các tật rối loạn thị giác(cận thị, loạn thị, viễn thị, lão thị) bằng kínhđeo mắt, kính áp tròng.

Khi làm việc,cần giữ khoảng cách từ mắt đến màn hình máy tính ítnhất một cánh tay, tránh ánh sáng ban ngày chiếu vào mànhình.

Sau mỗi giờ làmviệc, thả lỏng mắt bằng cách nhìn ra xa trong khoảng 10phút.

Bạn nên mang kính chống mỏi mắt, do thầy thuốc khoa mắt kê đơn,với thấu kính có độ hiệu chỉnh nhẹ về cận thị đểtạo tính thích nghi tốt nhất giữa mắt và màn hình. Nhớthường xuyên chớp mắt để loại trừ khô mắt.

Hiệu chỉnhnhư thế nào?

Bằng phươngpháp chỉnh thị, giống như liệu pháp vận động thựcthụ cho mắt. Phương pháp điều trị do thầy thuốc kêđơn và thầy thuốc chỉnh thị thực hiện.

Có thuốc điềutrị không?

Hiện trên thịtrường có một số loại thuốc nhỏ mắt gây kích hoạtcơ mắt thích nghi. Bạn cũng có thể dùng thêm một sốthực phẩm có công dụng hỗ trợ mắt, giảm khô mắt.

Tập thể dụccho mắt

– Với cây bút định vị

Đặt ngay trướchai mắt một cây bút. Sau đó nhìn vào cây bút và kéo nóvề phía mũi. Bạn phải cảm nhận thấy như hai con mắtbị kéo dãn ra.

Tập 2-3phút/ngày, trong 15 ngày, sau đó thực hiện cách quãng 1-2ngày một lần, và sau cùng thực hiện một tuần mộtlần.

– Với tờ giấy

Vẽ hai chấm đen(đường kính 5 mi li mét, cách nhau 5 cen ti mét) thẳng hàngtrên một tờ giấy trắng. Để tờ giấy ở đầu cánhtay và đưa từ từ về phía mũi cho tới khi hai chấm đentrùng khít lên nhau.

Tập 5 phút tronghai hoặc ba ngày, mỗi đợt tập 12 lần, sau đó tập mỗituần một lần.

– Với trò chơi thể dục mắttrên máy Nintendo DS.

Tuy là một tròchơi video nhưng không gây hại cho mắt vì có các bài tậpluyện mắt. Mỗi lần chơi khoảng 10 phút.

Theo BS. NguyễnThu Hà

TBKTSG

Khắc phục chứng mỏi mắt

Biểu hiện mỏi mắt do dùng máy tính

Khi dùng máy tính nhiều giờ, bạn có cảm giác căng, mệt, nóng rát hoặc ngứa mắt, chảy nước mắt, khô mắt, nhìn mờ hoặc nhìn hai hình, đau đầu, mỏi cổ, khó tập trung luân phiên giữa màn hình máy tính và văn bản giấy tờ, nhìn thấy viền xung quanh ảnh vật hoặc nhiều hình khi bạn rời máy tính, tăng nhạy cảm với ánh sáng. Mỏi mắt do dùng máy tính không có hậu quả nghiêm trọng hoặc lâu dài nhưng gây phiền toái. Mặc dù bạn không thể thay đổi tính chất công việc và tất cả các yếu tố có thể gây ra mỏi mắt, nhưng bạn có thể làm theo các hướng dẫn sau để giảm mỏi mắt.

Làm gì để giảm mỏi mắt do dùng máy tính?

Để cho mắt được nghỉ ngơi: Hằng ngày, hướng mắt tập trung vào một cái gì đó hơn là tập trung vào màn hình. Cố gắng theo bài tập sau: Đưa một ngón tay cách mặt bàn vài cm, tập trung vào ngón tay khi bạn từ từ đưa chúng ra xa. Tập trung vào một vật gì đó ở khoảng cách xa sau đó hướng lại về ngón tay, từ từ đưa chúng lại gần trước mặt. Tiếp theo, thay đổi tập trung vào một cái gì đó xa hơn 8m, và giữ mắt ở vị trí đó trong vài giây. Lặp lại bài tập này 3 lần, vài lần một ngày.

khac-phuc-moi-mat

Hãy thư giãn. Giảm sự căng cơ bằng bài tập thư giãn: Đặt khuỷu tay lên bàn, lòng bàn tay úp lên mặt, hãy hướng cả người bạn ra phía trước, cả trọng lượng đầu dồn xuống tay sao cho lông mày ở vị trí trên bàn tay, các ngón tay tỏa ra trên bề mặt trán, nhắm mắt và thở sâu theo đường mũi, hít sâu trong 4 giây sau đó thở mạnh ra. Tiếp tục thở sâu trong 15-30 giây. Thực hiện bài tập đơn giản này vài lần một ngày.

Đeo kính thích hợp: Nếu bạn đeo kính hoặc kính tiếp xúc, hãy chắc chắn là đúng số. Nên đầu tư cho mình một loại kính đeo và kính tiếp xúc được thiết kế chuyên dùng cho máy tính.

Đặt đồ vật trong phòng làm việc đúng chỗ: Bạn hãy sắp xếp bàn làm việc của mình ở vị trí thích hợp và vừa tầm mắt.

Đặt lại máy tính của bạn: Đặt máy tính đối diện bạn, cách mắt khoảng 50 – 70cm. Nhiều người thấy đặt màn hình ở vị trí khoảng một cánh tay là vừa. Nếu bạn cần nhìn gần để đọc loại chữ nhỏ hãy tăng phông chữ lên. Đặt đỉnh màn hình ngang hoặc thấp hơn tầm mắt để nhìn xuống dễ dàng. Nếu quá cao hoặc quá thấp sẽ gây mỏi cổ. Nếu để màn hình ở trên CPU hãy đặt CPU bên cạnh hoặc trên sàn nhà. Nếu bạn đeo kính 2 tròng hoặc kính 3 tròng hãy cảnh giác bạn luôn có tư thế ngả ra phía sau để nhìn phần dưới kính. Vì thế nên đặt màn hình thấp hơn mắt hoặc mua kính chuyên dùng cho máy tính. Đặt bàn phím đúng vị trí. Đặt bàn phím đối diện màn hình. Nếu để ở một góc hoặc bên cạnh màn hình, mắt bạn phải tập trung ở một khoảng cách khác với màn hình sẽ dễ gây mỏi mắt.

Để giá sách đọc và tài liệu tham khảo cạnh màn hình máy tính hoặc ở vị trí mà góc nhìn và khoảng cách đến mắt bạn giống màn hình. Cách này sẽ không làm mắt phải liên tục thích nghi.

Kiểm tra ánh sáng và giảm ánh sáng chói: Tăng ánh sáng nhưng quá chói có thể làm bạn khó nhìn các dữ kiện trong màn hình và gây mỏi mắt. Để kiểm tra ánh sáng chói, bạn hãy ngồi vào máy tính khi màn hình tắt, vị trí này cho phép bạn thấy ánh sáng và hình ảnh phản xạ. Vấn đề hay gặp nhất thường là nguyên nhân từ trên hoặc sau bạn, như ánh sáng huỳnh quang của đèn tuýp và ánh sáng mặt trời. Nên đặt màn hình ở vị trí sao cho nguồn ánh sáng ở bên cạnh và góc phải màn hình. Tắt một số hoặc tất cả nguồn sáng trên đầu. Nếu bạn cần ánh sáng để viết hoặc đọc, chỉ dùng một đèn bàn thích hợp. Che rèm và tránh đặt màn hình ở đối diện cửa sổ hoặc tường trắng. Dùng màn chắn ánh sáng chói để giảm tối thiểu ánh sáng chói từ đèn trên đầu. Cuối cùng là điều chỉnh độ tương phản và độ sáng của màn hình phù hợp sao cho các chữ trên màn hình dễ đọc nhất.

Khi nào cần đến gặp bác sĩ?
Nếu thực hiện những hướng dẫn trên mà bạn vẫn bị mỏi mắt thì đó có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn. Hãy đi khám bác sĩ nếu bạn có các vấn đề sau: Khó chịu mắt kéo dài; thay đổi thị lực rõ; song thị.

Theo SKĐS

Nháy mắt – Tật hay là bệnh

Về mặt định nghĩa tật nháy mắt hay tic mắt được coi là những cử động không có chủ ý, thường xảy ra ở cả hai bên mắt.

Thoạt đầu đó là những co cơ nhẹ nhàng nhưng sau đó là sự co cơ khá mạnh. Ngoài chuyện mắt nháy thì cơ vùng mặt cũng có thể co giật theo. Các cơn co có thể kéo dài trong vài giây đến vài phút.

Tật nháy mắt không hiếm gặp trong chuyên khoa mắt. Nhưng nếu có kèm theo co rút khối cơ mặt hay có các bệnh lý toàn thân khác thì bệnh nhân sẽ phân tán sang chuyên khoa thần kinh, phẫu thuật tạo hình… Trong chuyên khoa mắt thì tic mắt không gây mù lòa nhưng  gây khó chịu, đôi khi rất khó chịu.

120329afamilysknhaymat_d1e2a

Ngoài chuyện “khó coi” về mặt thẩm mỹ thì tic mắt đôi khi làm cho người bệnh không nhìn thấy gì cả, dù chỉ là thoáng qua. Thêm nữa, một số bệnh nhân sẽ có quặm nhất thời do co quắp mi. Nếu không có những hiểu biết nhất định về tic mắt thì chuyện chẩn đoán nhầm hay mổ nhầm sẽ có thể xảy ra tuy chỉ là hi hữu. Biết thêm một chút về tật nháy mắt để giải thích cho bệnh nhân, định hướng cho việc điều trị hay điều trị khỏi tật này thiết nghĩ là điều các bác sĩ nhãn khoa nên chú ý. Sẽ có rất nhiều bệnh nhân đến khám vì tật này.

Nhưng lứa tuổi phổ biến từ 30-50 tuổi nếu bệnh nhân có kèm co rút nửa mặt. Tuổi trên 50 là những bệnh nhân bị nháy mắt cả hai bên. Bệnh có tính chất gia đình nếu nằm trong bệnh cảnh của hội chứng Meige, có tới 1/3 bệnh nhân bị rối loạn trương lực cơ vùng mặt theo nghiên cứu của Jankovic có biểu hiện tic mắt.

Nếu khai thác bệnh sử kỹ càng chúng ta sẽ thấy các cơn tic mắt đầu tiên sẽ rất thầm lặng, kín đáo. Bệnh nhân chỉ hay chớp mắt hơn bình thường hoặc khó khăn để giữ mắt mở to trong một thời gian. Điều kiện để tic mắt lui giảm hay biến mất cũng rất phong phú. Có thể khi bệnh nhân nói, hát, hay nhìn xuống tic mắt sẽ biến mất.

Cơn tic mắt thường xuất hiện khi bệnh nhân gặp stress. Tic mắt nặng lên khi bệnh nhân nhìn tập trung, khi lắng nghe chăm chú hay đi lại. Thời khắc xuất hiện tic mắt cũng thay đổi trong ngày tùy bệnh nhân và được cải thiện nhiều nếu bệnh nhân được nghỉ ngơi.

Hình thái lâm sàng của tic mắt rất đa dạng. Chúng ta nên ghi nhớ những hình thái chính sau đây:

– Hình thái nháy chủ yếu ở mắt, thường là cả hai bên, đây là dạng phổ biến nhất.

– Hình thái loạn trương lực cơ vùng mặt: các cơ vòng mi, cơ cung này và cơ trán đều bị ảnh hưởng.

– Tic mắt trong hội chứng Meige: thường gặp ở người trên 50 tuổi. Bệnh nhân có biểu hiện rối loạn trương lực các cơ vùng sọ mặt: co rút các cơ vòng mi, co dưới da, cơ nhai, cơ nói, cơ nuốt và các cơ vùng cổ. Bệnh có tính chất di truyền theo nhiễm sắc thể X và là kiểu di truyền trội.

– Loạn trương lực cơ khu trú ở khối cơ vòng mi trước sụn: biểu hiện chủ yếu là các loạn vận động của mi.

– Co rút cơ vùng mặt: đó là hiện tượng co các cơ vùng mặt thuộc chi phối của dây thần kinh sọ não số VII. Nói chung các cơ mi sẽ co rút trước sau đó sẽ lan sang các co cơ khác vùng mặt. Có khoảng 10% các  co cơ xảy ra về ban đêm. Hơn một nửa các trường hợp là bệnh nhân có tiền sử liệt dây VII cùng bên trước đó.

– Quặm nhất thời do co cơ vòng mi trước sụn: thể lâm sàng này được Jankovic nói đến trong loạt nghiên cứu trên 100 bệnh nhân của ông.

Nguyên nhân của tic mắt rất phức tạp, nhiều khi việc tìm kiếm căn nguyên là vô vọng. Trong đó nguyên nhân tại thần kinh trung ương là phổ biến nhất.

Nhóm nguyên nhân tiên phát bao gồm các tổn hại của nhân xám trung ương: nhân củ trên, nhân đen… Một số bệnh lý trong đó nơ-ron bị giảm tính trơ đối với dopamine hay cường kích thích bởi dopamine. Hội chứng Meige như đã trình bày ở trên.

Nhóm nguyên nhân thứ phát: trong một số hình thái động kinh cơn nhỏ, trong các bệnh lý có tổn thương dây V hay dây V bị kích thích: loét giác mạc, viêm màng bồ đào, khô mắt, zona mắt, các dạng bệnh lý có thái hóa nơ-ron: Parkinson, hội chứng Wilson, bệnh xơ cứng mảng… Ngoài ra còn phải kể đến cơn Hysteria hay do việc dùng một số thuốc hướng thần kinh.

Điều trị cơn tic mắt bao giờ cũng bắt đầu bằng việc dùng thuốc, nghỉ ngơi và tâm lý liệu pháp. Các thuốc sẽ hướng vào việc lập lại cân bằng giữa hai hệ: dopamine (chất trung gian thần kinh gây co cơ) và cholinergic (chất trung gian thần kinh gây giãn cơ).

Điều trị phẫu thuật chỉ là “cực chẳng đã” với rất nhiều phương pháp phẫu thuật và thủ thuật: hủy một số nhánh của dây thần kinh số VII bằng nhiệt, cồn hay cắt chọn lọc. Cắt lọc cơ vòng trên sụn và trước sụn, treo mi. Tiêm độc tố gây liệt cơ (toxine botulique) là một phương pháp điều trị mới, đang được phổ biến rộng rãi. Một liệu trình điều trị có thể cải thiện tình hình trong 13-15 tuần, tuy nhiên việc xác định liều lượng tiêm và một số tác dụng phụ của thuốc sẽ làm nhiều bác sĩ ít kinh nghiệm phải chùn tay.

Cuộc sống nhiều stress sẽ làm nhiều người tic mắt hơn. Xác định nguyên nhân để giải thích và tư vấn điều trị cho bệnh nhân sẽ cải thiện được tình hình bệnh nhân bị “bỏ rơi” khi đến các phòng khám mắt. Thiết nghĩ việc phối hợp tốt giữa 3 chuyên khoa: thần kinh, mắt và tạo hình nhất định sẽ tạo ra được bước ngoặt lớn trong điều trị tic mắt.

Theo afamily

Viễn thị bẩm sinh, mổ cũng không khỏi hẳn

Các phương pháp phẫu thuật chỉ giúp bạn không phải đeo kính chứ không giải quyết được căn nguyên gốc.

Tôi bị viễn thị bẩm sinh và hiện đeo kính viễn 10 diop. Xin hỏi bác sĩ có cách nào giúp tôi không phải đeo kính hoặc giảm bớt độ được không? (Nam)

vien-thi-bam-sinh

Viễn thị là bệnh lý trong đó công suất hội tụ của mắt bị thiếu phải trang bị thêm kính hội tụ để nhìn rõ hơn. Viễn thị trên 6 độ được coi là nặng, khả năng phải đeo kính cả đời, có thể gây lác, cần chú ý đề phòng nhược thị hai mắt.

Các phương pháp phẫu thuật chỉ giúp bạn không phải đeo kính chứ không giải quyết được căn nguyên gốc. Có tới trên 90% bệnh nhân không phải đeo kính nữa sau phẫu thuật laser điều trị tật khúc xạ trong đó có viễn thị. Bạn có thể đến các trung tâm nhãn khoa lớn tại Hà Nội, TP HCM, Huế, Đà Nẵng để được tư vấn cụ thể hơn.

Viêm mủ nội nhãn

Viêm mủ nội nhãn là thuật ngữ chỉ tình trạng viêm dẫn đến phá hủy các thành phần ở trong mắt (tổ chức nội nhãn) như võng mạc, dịch kính, hắc mạc… do các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, nấm, virut, ký sinh trùng…

Bệnh thường gặp ở lứa tuổi trẻ trong độ tuổi lao động, nam gặp nhiều hơn nữ, có thể mắc bệnh cả hai mắt. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là cơ hội tốt nhất để bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Tuy nhiên, do tình trạng dân trí chưa cao, chưa ý thức được tính chất nghiêm trọng của bệnh nên bệnh nhân thường đến muộn hoặc được điều trị ở các cơ sở y tế không có chuyên khoa mắt làm cho việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Hậu quả là, mặc dù được điều trị tích cực nhưng thị lực vẫn bị giảm rất nhiều, mất chức năng, thậm chí teo nhãn cầu hoặc phải bỏ nhãn cầu.

Viêm mủ nội nhãn có thể do những tác nhân gây bệnh từ bên ngoài như do chấn thương, sau phẫu thuật (viêm mủ nội nhãn ngoại sinh) hoặc do các tác nhân gây bệnh từ nơi khác đến mắt theo đường máu gọi là viêm mủ nội nhãn nội sinh.

viem-mu-noi-nhan

Biểu hiện của viêm mủ nội nhãn: Có thể đau nhức mắt, thường đau tăng lên khi vận động nhãn cầu, giảm thị lực, chảy nước mắt, đau đầu, đỏ mắt, sợ ánh sáng. Nếu viêm mủ nội nhãn do vi khuẩn thường biểu hiện rầm rộ của một tình trạng viêm cấp tính. Bệnh nhân nhức mắt khó chịu, kích thích, đau tăng lên khi cử động mắt. Bệnh nhân nhìn mờ nhiều, có thể chỉ còn nhận thức ánh sáng hoặc không; kèm theo dấu hiệu chói mắt, cộm mắt, trẻ nhỏ thường lấy tay che mắt hoặc quay mặt vào chỗ tối. Trường hợp viêm mủ nội nhãn do vi khuẩn có độc lực cao hoặc bệnh nhân đến muộn, bệnh có xu hướng trở thành viêm toàn bộ nhãn cầu (viêm toàn nhãn) – tức là viêm cả tổ chức quanh mắt. Triệu chứng của viêm mủ nội nhãn do nấm tiến triển thầm lặng hơn so với các triệu chứng của bệnh do vi khuẩn.

Thăm khám sẽ thấy phù mi mắt, có mủ trong nội nhãn, tăng áp lực ở trong mắt; một số bệnh nhân có thể bị sụp mi, lồi mắt. Mức độ viêm nhiễm phụ thuộc nhiều vào tác nhân gây bệnh. Mi sưng đỏ, sụp mi, co quắp mi; đặc biệt trong trường hợp viêm lan tỏa nặng ở phía trước của mắt. Bệnh nhân có biểu hiện phù kết mạc hoặc hoại tử kết mạc, giác mạc (tròng trắng và tròng đen của mắt), có ánh mủ vàng trong mắt khi quan sát qua lỗ đồng tử. Trường hợp viêm nặng ở phần sau của mắt, siêu âm có thể có bong võng mạc. Kết quả cuối cùng của những mắt này thường là teo nhãn cầu hoặc thậm chí phải bỏ nhãn cầu cho dù được điều trị tích cực.

Đối với viêm mủ nội nhãn nội sinh, bệnh nhân thường có ổ viêm nhiễm đầu tiên như nhiễm khuẩn tai – mũi – họng, răng – hàm – mặt, viêm nội tâm mạc, viêm đường tiết niệu…; kèm theo có thể sốt cao, đau đầu, giảm cân hoặc suy kiệt.
Phương pháp điều trị: Viêm mủ nội nhãn là bệnh tối nguy hiểm trong nhãn khoa, vì vậy việc điều trị cần được tiến hành ngay khi bệnh nhân nhập viện. Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu về viêm mủ nội nhãn, các tác giả đã đưa ra phác đồ điều trị: tiến hành lấy bệnh phẩm là dịch ở trong mắt làm xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh, sau đó tiêm kháng sinh vào trong mắt ngay mà không chờ kết quả xét nghiệm. Kháng sinh được lựa chọn là vancomycin 1mg/0,1ml, phối hợp với fortum 2mg/ 0,1ml.

Tiêm mũi thứ hai được đặt ra khi bệnh đáp ứng tồi với điều trị, hai mũi tiêm cách nhau ít nhất 72 giờ. Mũi tiêm thứ hai thường kết hợp với dexamethasone 0,4mg sau khi kết quả loại trừ viêm mủ nội nhãn do nấm. Nếu do nấm, kháng sinh sử dụng tiêm nội nhãn là amphotericine B. Cắt bỏ khối mủ ở trong mắt (cắt dịch kính) được đặt ra khi điều trị nội khoa đáp ứng kém. Ngoài ra, sử dụng kháng sinh phổ rộng, kháng viêm theo đường toàn thân và tra tại mắt kết hợp với thuốc giãn đồng tử.

Viêm mủ nội nhãn đang là một thách thức trong chẩn đoán và điều trị đối với các nhà nhãn khoa. Việc chẩn đoán sớm và điều trị tích cực đưa đến cơ hội tốt nhất để bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Vì vậy, bệnh nhân cần được đưa đến cơ sở điều trị nhãn khoa ngay khi có các dấu hiệu của bệnh.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng tránh dị ứng mắt

Nhiều người cho rằng, da, mũi mới dễ bị dị ứng chứ mắt do luôn có nước mắt “bảo vệ” nên khó nhiễm bệnh. Nhưng trong thực tế, mắt thuộc nhóm cơ quan có nguy cơ cao bị dị ứng do mắt thường xuyên tiếp xúc với môi trường. Không những thế, do phần bên ngoài của mắt lại luôn ẩm ướt nên khả năng bám dính và kích ứng của các kích thích và dị nguyên sẽ tăng lên. Nhờ có nước mắt, các dị nguyên có thể nhanh chóng bị rửa trôi, nhưng chỉ cần một thời gian rất ngắn, chúng cũng đã có thể gây ra các biểu hiện dị ứng tại mắt.

Người ta chia dị ứng mắt thành nhiều dạng

Viêm kết mạc dị ứng: Là bệnh thường gặp nhất với các triệu chứng chủ yếu là ngứa mắt, chảy nước mắt, tăng tiết rỉ mắt; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm.

Viêm giác mạc: Thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn lao – xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virus Herpes, thủy đậu, zona…

di-ung-mat

Viêm bên trong nhãn cầu: Tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glaucoma do thể thủy tinh.

Các nguyên nhân gây viêm nhiễm tại mắt

Dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm, mất cân bằng dinh dưỡng, hóa chất, dùng mỹ phẩm bừa bãi… trong đó dị ứng mắt theo mùa là bệnh nhẹ, chỉ gây ngứa ngáy, mắt đỏ, chảy nước mắt. Cơ chế dị ứng mắt là phản ứng do tế bào mast cell bị kích thích bởi Immunoglobin E, khởi sự do bụi dị ứng sinh ra. Những chất trung gian từ tế bào mast cells như histamine, prostaglandin, leucotrienes và kinins lần lượt kích thích dây thần kinh, làm nở mạch máu, tiết ra chất nhờn, làm mắt ngứa, cay và đỏ, sưng thành bọng nước trong mắt và ra ghèn.

Dị ứng mắt dễ bị nhầm với các bệnh mắt khác do triệu chứng không rõ ràng. Bởi vậy, cần phân biệt dị ứng mắt với nhiều bệnh mắt khác, nhất là phân biệt thương tích vào mắt, nhiễm khuẩn mắt, dùng kính áp tròng, thuốc rửa mắt không hợp, nhiễm khuẩn mắt, viêm vành mắt, mắt khô, hay đường dẫn nước mắt bị nghẹt…

Ðiều trị và phòng bệnh

Điều trị tùy thuộc bệnh dị ứng mắt nặng hay nhẹ. Nhưng cách hay nhất là phải loại trừ nhanh chóng các dị nguyên ra khỏi mắt. Bệnh nhân không nên dùng tay dụi mắt vì sẽ kích thích tế bào mast cells làm bệnh tăng nặng thêm. Bệnh nhân có thể rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo (nếu dùng nước mắt nhân tạo mà còn bị đau mắt thêm, hay đỏ mắt hơn, hay bị kích thích thì nên ngưng dùng). Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch.

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc để nhỏ. Cần tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng ở mắt. Nếu không may bị dị ứng với các thuốc tra hoặc nhỏ mắt thì phải dừng thuốc lại, sau đó đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán và hiệu chỉnh.
Để phòng dị ứng, bệnh nhân phải tránh tiếp xúc với những dị nguyên, chất kích thích nào có thể gây dị ứng cho mắt. Các yếu tố gây dị ứng phổ biến là: phấn hoa, bụi nhà, bào tử nấm mốc, lông côn trùng và súc vật nuôi, nước hoa, xà phòng thơm, một số mỹ phẩm, thức ăn. Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ mắt. Khi bác sĩ kê đơn thuốc, cần báo cho bác sĩ biết về tiền sử dị ứng của bạn.

Theo sức khỏe đời sống

Viêm kết mạc mùa xuân

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt và hay tái phát. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi lượng phấn hoa di chuyển nhiều hơn trong không khí bay vào mắt người có cơ địa dị ứng sẽ gây ra những triệu chứng trên nên được gọi là viêm kết mạc mùa xuân.

Đối tượng dễ mắc bệnh
Bệnh thường gặp ở người bệnh có cơ địa dị ứng phấn hoa, các loại bụi, lông thú vật, côn trùng, hoặc gió, ánh nắng và mỗi khi thay đổi thời tiết. Tuỳ thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị ứng nguyên khác nhau. Vào mùa xuân, lượng phấn hoa khuếch tán nhiều trong không khí là yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhất là những người sống ở vùng rừng núi, nơi có khí hậu ẩm ướt, thảm thực vật phong phú, người trồng hoa, nuôi ong mật,…

vong-mac

Viêm kết mạc mùa xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường thấy ở trẻ em và người trẻ và thường tái phát theo mùa.

Cần đi khám và điều trị sớm

Những triệu chứng của bệnh viêm kết mạc mùa xuân khiến người bệnh hết sức mệt mỏi, khó chịu. Hơn nữa đây là một bệnh hay tái phát nên cần cẩn thận, nếu không điều trị đúng sẽ dẫn đến biến chứng tổn thương giác mạc, gây suy giảm thị lực. Ðã có rất nhiều người bệnh thường xuyên bị dị ứng, khi bị ngứa mắt tự mua thuốc nhỏ mắt có chứa Cortisone nhỏ, thấy hết ngứa nên từ đó thường xuyên dùng kéo dài sẽ dẫn nhiều biến chứng nguy hiểm.

Việc điều trị phải được tiến hành từng bước và tùy từng mức độ bệnh. Thông thường, bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng sẽ được chỉ định dùng thuốc chống dị ứng, thuốc chống viêm và thuốc dinh dưỡng bề mặt nhãn cầu. Người bệnh tuyệt đối phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh,… và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.

Điều quan trọng là khi có triệu chứng của bệnh như đỏ cả hai mắt, ngứa, cảm giác rát mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, có ghèn gỉ, lúc nào cũng muốn lấy tay dụi mắt nhưng càng dụi càng ngứa. Khi lộn mi thấy ở mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ nằm sát nhau,… thì cần đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị sớm.

Để phòng bệnh, những người có cơ địa dị ứng với phấn hoa không nên trồng hoa, cắm hoa trong nhà hay ngửi hoa; Đối với người làm nghề trồng hoa, nuôi ong,… khi làm việc hoặc khi đi ra ngoài nên đeo kính để chống bụi, tránh phấn hoa bay vào mắt; rửa sạch mặt và vệ sinh mắt bằng cách nhỏ nước muối muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về.

Theo sức khỏe đời sống

Phát hiện sớm nguy cơ bong võng mạc gây mù

Võng mạc là màng thần kinh nằm ở đáy mắt, có chức năng chuyển ánh sáng thành tín hiệu thần kinh truyền về não, giúp ta nhìn thấy được. Trong điều kiện bình thường, võng mạc áp sát vào lớp hắc mạc phía dưới.

Bong võng mạc là tình trạng võng mạc bị tách ra khỏi hắc mạc và không thể hoạt động bình thường được nữa. Nếu không được điều trị kịp thời, bong võng mạc sẽ gây mất thị lực vĩnh viễn.

Bong võng mạc do đâu?
vong-mac-bi-bong
Bong võng mạc nguyên phát xuất hiện do dịch kính ở trên bề mặt võng mạc hóa lỏng, chui qua các vết rách võng mạc (xuất hiện do võng mạc bị thoái hóa) gây tách võng mạc khỏi hắc mạc. Bong võng mạc nguyên phát hay gặp ở người cận thị và cao tuổi.

Bong võng mạc thứ phát xuất hiện sau một bệnh lý khác của mắt (như: bệnh võng mạc đái tháo đường, viêm hắc mạc…).

Những dấu hiệu không thể bỏ qua

Người bệnh đột nhiên thấy xuất hiện các đốm đen lơ lửng trước mắt (giống như ruồi bay) hoặc thấy các tia chớp sáng lóe lên.

Người bệnh nhìn mờ dần, thường như một tấm màn đen che một góc nhìn rồi lan dần ra toàn bộ vùng nhìn của một bên mắt.

Các triệu chứng trên có thể xuất hiện dần dần hoặc đột ngột tùy vào tốc độ bong võng mạc. Mặt khác, do mắt bên kia có thể vẫn nhìn được bình thường nên nhiều bệnh nhân không đến khám kịp thời.

Biện pháp điều trị

Phẫu thuật là phương pháp duy nhất để điều trị bong võng mạc nguyên phát. Bệnh nhân càng được phẫu thuật sớm, võng mạc càng áp lại sớm thì thị lực càng phục hồi tốt hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật không phải luôn thành công trong mọi trường hơp. Mặt khác, nhiều trường hợp võng mạc đã áp nhưng thị lực chỉ phục hồi được một phần.

Tùy vào hình thức và mức độ bong võng mạc mà các bác sĩ nhãn khoa có thể áp dụng các phương pháp phẫu thuật khác nhau như: áp võng mạc bàng bơm khí nội nhãn, đai hoặc độn củng mạc, cắt dịch kính…

Phòng bệnh

Cần khám mắt định kỳ để phát hiện sớm các thoái hóa võng mạc và xử trí (điều trị laser quanh vết rách võng mạc…) để ngăn ngừa bong võng mạc.

Đến khám mắt ngay nếu xuất hiện các triệu chứng như nhìn thấy “ruồi bay”,”chớp sáng”, “màn đen che trước mắt” để phát hiện và xử trí sớm bong võng mạc.

theo sức khỏe đời sống

Sụp mi mắt do chấn thương

Sụp mi là bệnh lý mi mắt thường gặp gây ảnh hưởng đến chức năng thị giác và thẩm mỹ của người bệnh. Sụp mi do chấn thương có thể xảy ra sau chấn thương mắt hay chấn thương sọ não. Sụp mi có thể xuất hiện đơn độc hay đi kèm các tổn thương nhãn cầu hay liệt các dây thần kinh vận nhãn khác gây ra lác, song thị.

Có thể phân sụp mi ra làm các loại sau:

– Sụp mi bẩm sinh: Bệnh xuất hiện từ nhỏ, ở một hay cả hai bên mắt với các mức độ từ nhẹ đến nặng. Sụp mi nặng che kín đồng tử, cản trở bệnh nhân nhìn và có thể gây nhược thị hay giảm thị lực. Sụp mi hai bên có thể gây vẹo cổ, do trẻ cố ngửa đầu ra sau để nhìn và gây biến dạng đốt sống cổ. Nguyên nhân có thể do dị dạng cân cơ nâng mi, yếu cơ hay nhược cơ.
sup-mi-2931a
–  Sụp mi mắc phải:Bệnh xuất hiện khi trẻ đã lớn hay ở người lớn do liệt dây thần kinh III hay khối u mi mắt hay chấn thương gây rách cân cơ nâng mi.

Điều trị sụp mi được chỉ định dựa theo mức độ sụp mi, tuổi bệnh nhân, loại sụp mi, nguy cơ sụp mi gây giảm thị lực và khả năng vận động của cơ nâng mi. Trong bài viết này chúng tôi chỉ tập trung bàn về sụp mi sau chấn thương.

Không giống như sụp mi bẩm sinh, sụp mi sau chấn thương thường hoàn toàn, che kín toàn bộ lòng đen và kết quả điều trị rất hạn chế trừ trường hợp do đứt cân cơ nâng mi.

Cũng như khám những trường hợp sụp mi bẩm sinh, cần đánh giá mức độ sụp mi dựa vào độ mở rộng của khe mi, mức độ vận động của cơ nâng mi và đặc biệt là có dấu hiệu Bell hay không (nhắm chặt mắt, nhãn cầu bình thường di chuyển lên trên và ra ngoài). Cần quan sát đánh giá vết thương mi xem có khả năng gây rách cân cơ nâng mi hay không?

Phẫu thuật nối cân cơ nâng mi bị rách mang lại kết quả tốt. Khó khăn là phải bộc lộ được cân cơ này. Để làm được điều đó đòi hỏi phẫu thuật viên phải tôn trọng giải phẫu mi mắt và cầm máu cẩn thận khi phẫu thuật.

Sụp mi sau chấn thương do liệt dây thần kinh III thường đi kèm giãn đồng tử, lác mắt và dấu hiệu Bell (-). Chỉ can thiệp 6 tháng đến 1 năm sau chấn thương và can thiệp lác trước sụp mi. Lý do là nâng mi có thể làm cho cảm giác song thị xuất hiện. Bên cạnh đó, Bell (-) là điều kiện dẫn đến hở giác mạc sau mổ. Cần lưu ý là mức độ sụp mi rất nặng, mi che kín toàn bộ giác mạc cho nên phải áp dụng treo cơ trán. Các chất liệu dùng để treo cơ trán gồm có cân cơ đùi, chỉ nylon và chất liệu sinh học. Lấy cân cơ đùi dễ để lại sẹo xấu ở đùi nên tránh áp dụng với bệnh nhân nữ. Chỉ nylon hay bị nhiễm trùng và tạo u hạt nên ít áp dụng. Chất liệu sinh học phải nhập khẩu đắt tiền. Quyết định được đề ra tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân.

Bệnh nhân cần được tư vấn rằng sụp mi sau chấn thương có thể chữa khỏi nhưng cũng có thể không  nếu nguyên nhân là do liệt thần kinh nặng. Không có chỉ định mổ khi dấu hiệu Bell (-) hay song thị quá nặng do lác.

Theo sức khỏe đời sống

Hiểm họa về bệnh khô mắt

Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A mà hậu quả nặng nề của nó là mù vẫn đang là mối đe dọa đối với trẻ em của nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hằng năm có trên nửa triệu trẻ em các nước bị mù; có tới 6-7 triệu trẻ em khác bị thiếu vitamin A thể nhẹ hoặc vừa làm cho số trẻ em này dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm phổi…

Thiếu vitamin A và bệnh khô mắt là một bệnh thiếu dinh dưỡng hay gặp ở trẻ em nhất là ở các cháu bị suy dinh dưỡng nặng, sau khi mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp… Bệnh thường gặp ở các vùng nông thôn, miền núi do kinh tế chưa phát triển, ăn uống thiếu dinh dưỡng. Một nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh khô mắt với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh khô mắt

Dấu hiệu sớm nhất của bệnh khô mắt là trẻ bị ‘quáng gà’, không nhìn được lúc chập choạng tối, thường đứa trẻ sợ, ít hoạt động, đi hay vấp ngã hoặc va quệt vào đồ vật. Dấu hiệu này khó phát hiện ở những trẻ còn nhỏ và không phát hiện được ở những trẻ chưa biết đi. Các biểu hiện nặng hơn gồm: Khô kết mạc, kết mạc không nhẵn, mất sắc bóng láng, có màu vàng nhạt ở kết mạc nhãn cầu và ở kết mạc mi. Khi kết mạc khô không thấm nước, không trong suốt, có màu đục như sữa do các bọt nhỏ của hiện tượng tăng sừng hóa, các vi kết mạc không nhìn rõ. Kết mạc có thể dày lên, nhăn nheo, sắc tố hóa làm cho kết mạc có màu vàng nhạt xám xẩm, hoặc các hạt nhỏ rải rác, ở góc mi có những chất cặn đọng màu kem nâu.
kho-mat
– Vệt Bitot là triệu chứng đặc trưng của bệnh thiếu vitamin A. Vệt Bitot là đám tế bào dày lên có màu trắng xám nổi lên trên bề mặt nhãn cầu, bề mặt phủ một lớp bọt nhỏ li ti hoặc lổn nhổn nổi lên trên bề mặt nhãn cầu, thường là hình tam giác đáy quay vào rìa giác mạc, hoặc có hình ô van, thường có ở cả hai mắt.

– Khô giác mạc: làm trẻ chói mắt sợ ánh sáng, hay nhắm mắt, nheo mắt. Giác mạc biểu hiện sự mất bóng sáng, sù sì và khô, nặng hơn thì có những chấm thẫm nhiễm tế bào viêm, đục mờ như làn sương phủ, thường xuất hiện ở nửa dưới giác mạc.

– Loét nhuyễn giác mạc: Đây là triệu chứng nặng, đứa trẻ rất sợ ánh sáng, mắt luôn nhắm nghiền, chảy nước mắt. Mức độ loét có thể gặp nhỏ như hạt đỗ, nặng có thể đến 1/3 hoặc toàn bộ giác mạc, màu trắng đục do bội nhiễm. Có khi có hiện tượng phồng màng, hoại tử, có thể thủng giác mạc, phòi mống mắt.

– Sẹo giác mạc: do khô giác mạc, loét giác mạc, sẹo có thể chỉ như những chấm nhỏ, hoặc như khói phủ, có thể toàn bộ giác mạc dẫn tới mù hẳn.

– Tổn thương đáy mắt: Dùng đèn soi đáy mắt chúng ta có thể phát hiện tổn thương đáy mắt do thiếu vitamin A với biểu hiện đáy mắt điểm vàng có những chấm nhỏ thường ở rìa các mạch máu võng mạc.

Phòng chống bệnh thiếu vitamin A như thế nào?

Cải thiện chế độ dinh dưỡng: Khẩu phần ăn hằng ngày cần cung cấp đủ vitamin A và caroten. Vitamin A chỉ có trong thức ăn động vật, nhưng caroten vốn sẵn có ở rau có màu xanh đậm, các loại củ quả có màu da cam. Nên nghiền rau, cà rốt nấu súp hay bột cho trẻ ăn. Các loại thức ăn giàu caroten như rau muống, rau ngót, rau diếp, lá hành, gấc… thường kèm theo nhiều chất dinh dưỡng quý khác như riboflavin, vitamin C, canxi, sắt và các yếu tố vi lượng. Thức ăn cho trẻ có thêm chất béo để hỗ trợ hấp thu caroten.

Bổ sung vitamin A trong thức ăn: Tăng cường vitamin A vào sữa gầy vì loại này hay được sử dụng trong các chương trình dinh dưỡng ở các nước mà bệnh khô mắt đang lưu hành.

– Cho uống vitamin A: Khi đã phát hiện cộng đồng có vấn đề thiếu vitamin A, việc cho uống các viên nang vitamin A liều cao là biện pháp trước mắt có hiệu quả ngay, đồng thời có chương trình lâu dài phòng chống thiếu vitamin A. Thông thường cho trẻ uống dự phòng 1 viên nang 200.000 UI mỗi năm 2 lần. Nếu bệnh đang tiến triển, dùng vitamin A theo phác đồ điều trị của Tổ chức Y tế Thế giới như sau: Ngay sau khi chẩn đoán: 200.000 UI theo đường uống hoặc 100.000 UI tiêm bắp; Ngày hôm sau: 200.000 UI theo đường uống; 2-4 tuần lễ sau, hoặc bệnh nặng thêm trước khi xuất viện 200.000 UI theo đường uống. Đối với trẻ em dưới 1 tuổi dùng nửa liều nói trên. Có thể tiêm bắp bằng chế phẩm vitamin A tan trong nước khi bệnh nhân bị nôn hoặc tiêu chảy nặng. Cần tích cực phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn như viêm họng, viêm phổi, tiêu chảy, nhất là sởi cũng tác động đến mắt, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ thiếu vitamin A. Do đó, công tác phòng chống bệnh thiếu dinh dưỡng và nhiễm khuẩn phải được triển khai trong các hoạt động của chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Theo BS. Nguyễn Bùi Diệu Linh – Sức Khoẻ & Đời Sống

Biểu hiện của viêm kết mạc dị ứng

Viêm kết mạc dị ứng gây khó chịu với các biểu hiện như: nhìn mờ nhất thời, cảm giác khô rát, khó mở mắt buổi sáng, chảy nước mắt, ra gỉ nhiều, mắt bị ngứa, kích thích, cảm giác có sạn trong mắt… người bệnh thường hay có phản ứng dụi hoặc gãi… Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc.

Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh này bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. 80% bệnh nhân là những người trẻ, đang độ tuổi lao động.
viem-ket-mac-di-ung
Sử dụng thuốc trong trường hợp này sẽ giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte loại nhỏ mắt như opconA, allergysal…

Cyclosporine loại nhỏ mắt tỏ ra an toàn và khá hiệu quả đã được dùng khoảng 7 năm nay, dành cho nhóm bệnh nhân khó tính hơn. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glocom, đục thủy tinh thể. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ khi bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương
(suckhoe&doisong)

Lưu ý bảo vệ mắt trong mùa nóng

Các loại rau thơm có tác dụng chữa bệnhMùa hè, nắng gay gắt và bụi bẩn là kẻ thù nguy hiểm với đôi mắt của bạn. Đây là thời điểm thuận lợi để các loại vi khuẩn có hại cho mắt phát triển và gây bệnh. Vậy bạn cần phải làm gì để bảo vệ mắt dưới ánh nắng mùa hè.

Việc tiếp xúc với tia cực tím dưới ánh nắng gay gắt của mùa hè có thể làm tăng nguy cơ mắc những chứng bệnh nguy hiểm về mắt, trong đó có bệnh khô võng mạc… Ngoài ra, các yếu tố nguy hiểm khác như: gió, bụi, không khí ô nhiễm… càng khiến cho vấn đề về mắt trở nên trầm trọng hơn.

Dưới đây là các biện pháp giúp bạn bảo vệ mắt của mình dưới nắng nóng mùa hè:

– Ánh nắng mùa hè đặc biệt có hại cho mắt. Cách làm giảm ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời đó là bạn hãy đeo kính râm, kính chống nắng khi đi ra khỏi nhà. Ngoài ra, kính có có tác dụng ngăn ngừa bụi bẩn, côn trùng bay vào mắt và gây hại cho mắt.

– Nếu phải làm việc thường xuyên ngoài trời, bạn cần có một chế độ chăm sóc và bảo vệ mắt thật chu đáo. Thường xuyên rửa mắt sau khi kết thúc công việc và có biện pháp phòng ngừa lây lan các bệnh về mắt.

– Hạn chế đeo kính áp tròng, việc đeo kính áp tròng luôn cần phải được vệ sinh liên tục, thường xuyên, đặc biệt là trong mùa nóng, bởi đây là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.

– Tránh lạm dụng máy điều hòa nhiệt độ trong mùa hè, bởi đây là một trong những nguyên nhân làm cho không khí bị mất đi độ ẩm cần thiết để duy trì môi trường bình thường cho mắt và da. Không khí quá khô trong phòng có máy lạnh chạy liên tục nhiều giờ có thể gây khó chịu cho mắt. Bạn nên đặt một chậu nước trong phòng ngủ để hạn chế không khí khô có hại cho mắt do dùng máy điều hòa liên tục.

– Bạn nên chọn loại kem trang điểm mắt có chất lượng đảm bảo và có độ ẩm cần thiết cho vùng mắt. Hạn chế trang điểm thường xuyên cho mắt vào mùa hè, vì nó sẽ khiến cho mắt dễ bị viêm nhiễm.

luu-y-bao-ve-mat-trong-mua-nong

Lưu ý khi chăm sóc mắt:
– Tạo thói quen bắt đầu ngày mới bằng việc rửa mắt với nước lạnh. Điều này rất tốt cho mắt và giúp tạo tinh thần sảng khoái cho công việc.

– Sử dụng thuốc nhỏ mắt một cách thường xuyên nhưng sau đã khi tham khảo ý kiến ​​bác sĩ chuyên khoa mắt của bạn.

– Không được đọc sách, báo trong ánh sáng yếu.

– Không nên để mắt làm việc quá căng thẳng (trên 2 giờ liên tục). Hãy để mắt được nghỉ ngơi trong vòng 10 phút trước khi tiếp tục làm việc.

– Không dụi mắt hoặc vùng da xung quanh mắt. Điều này rất dễ làm xước giác mạc và gây tổn thương cho mắt.

– Tuyệt đối tránh để kem dưỡng da hoặc các loại hóa chất rơi vào mắt. Trong trường hợp không may bị hóa chất bắn vào mắt, cần nhanh chóng rửa ngay bằng nước sạch.
– Đảm bảo chế độ ăn uống của bạn có chứa đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho mắt, nhất là vitamin A.

Theo SKDS/Vnmedia