Tag Archives: bệnh ung thư

Ung thư thực quản ở nam giới

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy
UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

ung-thu-thuc-quan-o-nam-gioi

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.
Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?
Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị
Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng chống di căn ung thư bằng lõi dứa

Ăn dứa nhiều người thường có thói quen bỏ lõi vì nó hơi cứng tuy nhiên lõi quả dứa lại là nơi tập trung nhiều bromelin có tác dụng làm giảm di căn của các bệnh ung thư.

Ăn dứa không chỉ giúp giải nhiệt vào mùa hè, dứa còn rất giàu vitamin B1, B2, C, PP, Caroten, acid hữu cơ và các chất khoáng như sắt, canxi, phospho… Đặc biệt, trong dứa có chứa bromelin – một loại enzym giúp thủy phân protein thành các acid amin, có tác dụng tốt trong tiêu hóa.

phong-chong-di-can-ung-thu-bang-loi-dua

Dùng quả dứa nướng với phèn chua để chữa sỏi thận là bài thuốc đơn giản nhiều người đã biết nhưng trong y học cổ truyền và trong dân gian cũng có nhiều bài thuốc sử dụng dứa như dùng rễ dứa làm thuốc lợi tiểu, chữa tiểu tiện khó; dùng dịch ép quả dứa chưa chín làm thuốc tẩy nhuận tràng, dùng nõn lá dứa non đem sắc uống (hoặc giã ép lấy nước) làm thuốc chữa sốt; quả dứa chín nướng cháy, gọt bỏ vỏ, mỗi ngày ăn 1 quả, ăn trong 4 ngày để chữa huyết áp cao…

Muốn sỏi thận tự tan: Mỗi ngày ăn một quả dứa nướng
Đặc biệt, lấy một quả dứa chín để nguyên vỏ, khoét ở cuống quả một lỗ nhỏ, lấy 7-8 g phèn chua giã nhỏ nhét vào, dùng thân dứa vừa khoét đậy lại, đem nướng trên than hồng (hoặc vùi vào lửa) cho cháy xém hết vỏ, thịt quả chín mềm, để nguội vắt lấy nước uống. Mỗi ngày uống nước của 1 quả, sỏi thận sẽ bị bào mòn dần và tan hết, nếu sỏi nhỏ thì có thể tiểu tiện ra được.

Tuy nhiên, loại quả này cũng là nguyên nhân của nhiều vụ ngộ độc. Nguyên nhân là do vi nấm cực độc phát triển ở mắt dứa, nếu dứa bị dập nát, chúng sẽ có cơ hội thâm nhập sâu vào trong quả dứa. Sau khi ăn dứa 30-60 phút, họ thấy khó chịu, mệt mỏi, ngứa khắp người, gãi xước da chảy máu vẫn ngứa, nổi mày đay; đau bụng dữ dội, nôn mửa, ỉa chảy; có thể có mạch nhanh nhỏ, khó thở, huyết áp hạ. Nếu ngộ độc nhẹ, khoảng 3 giờ sau, nạn nhân sẽ khỏi. Nếu nặng, nạn nhân khó thở, trụy tim mạch, mê man và tử vong.

Cần lưu ý: không nên ăn dứa tươi vào lúc đói, vì các acid hữu cơ của dứa và bromelin tác động mạnh vào niêm mạc dạ dày, ruột, dễ gây nôn nao, khó chịu. Những người có bệnh chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu cũng không nên ăn dứa do bromelin có khả năng làm tiêu fibrin dẫn đến khó cầm máu.

Để phòng ngừa tai biến trên, cần chọn dứa tươi và nguyên lành. Không ăn dứa dập nát, gọt dứa phải hết lớp vỏ, cắt sâu cho hết mắt, sau đó xát qua ít muối rồi rửa sạch mới bổ ra ăn. Và không ăn nhiều dứa khi đang đói.

Theo Sức khỏe Gia đình

Có thể chữa Ung thư đầu cổ nếu phát hiện sớm

Đầu-cổ là vùng có nhiều cơ quan trọng yếu như não ở trong và các cơ quan khác: mắt- tai- lưỡi- mũi vừa là ngã tư của đường ăn, đường thở và là cửa ngõ đi vào cơ thể. Chính vì vậy, vùng đầu cổ thường xuyên phải hứng chịu những loại bệnh khác nhau từ một số bệnh viêm nhiễm, đến các khối u lành tính, ác tính.

Ung thư ở vùng đầu-cổ là một trong nhưng loại ung thư chiếm tỷ lệ cao trong những loại ung thư của con người gặp phải. Nếu phát hiện sớm thì việc phẫu thuật cắt khối u phối hợp với xạ trị đem lại kết quả rất tốt, tỷ lệ sống trên 5 năm đạt trên 95%, một số trường hợp sau khi phẫu thuật có thể khỏi hoàn toàn.

co-the-chua-ung-thu-dau-co-neu-phat-hien-som

Tuy nhiên, nếu không được phát hiện kịp thời khi khối u đã lan ra các tổ chức lân cận hoặc di căn, việc điều trị gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ sống trên 5 năm là rất thấp.

Để giới thiệu và chia sẻ những tiến bộ trong tầm soát và điều trị Ung thư Đầu mặt cổ, Cục Quản lý Khám Chữa Bệnh – Bộ Y Tế, Đài TH An Viên, Báo Điện tử Kiến Thức và Trung tâm điều trị Ung thư Hy vọng kết hợp tổ chức hội thảo khoa học: “Những tiến bộ trong Tầm soát & Điều trị Ung thư Đầu mặt cổ”. Thời gian từ 9 – 11h30 ngày 12/4/2014 tại phòng Dimond room, Khách sạn Bảo Sơn (50 Nguyễn Chí Thanh, Ba Đình, Hà Nội).

Hội thảo khoa học lần này sẽ tập trung đưa ra các giải pháp tiến bộ trong việc tầm soát và điều trị thông qua thực tiễn điều trị trong các bệnh viện lớn, có uy tín tại VN.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những hiểu lầm đáng tiếc về ung thư đại tràng

1 – Ung thư đại tràng là bệnh của người da trắng. Thực tế cho thấy đàn ông và phụ nữ trong các sắc tộc có tỷ lệ mắc bệnh tương đương nhau. Số liệu thống kê (2010) tại Mỹ cho thấy trong 102.900 trường hợp mắc ung thư đại tràng thì có 49.470 ca thuộc về nam giới và 53.430 ca là phụ nữ. Vấn đề chủng tộc không ảnh hưởng nhiều đến khả năng mắc ung thư đại tràng mà tuổi tác mới thực sự là yếu tố hàng đầu gây bệnh.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang2

2 – “Không có dấu hiệu nghĩa là tôi không mắc bệnh”. Đây được xem là quan niệm sai lầm phổ biến nhất ở người dân về ung thư đại tràng. Tiến sĩ Emina Huang đến từ Đại hoc Michigan (Mỹ) cho biết, ung thư đại tràng không có dấu hiệu đặc trưng nào cả. Hơn nửa các ca chẩn đoán mắc ung thư đều không có dấu hiệu mắc bệnh sớm. Những thay đổi bất thường như phân có lẫn máu, chảy máu trực tràng, đau bụng, giảm cân không phải là dấu hiệu chắc chăn của bệnh song bạn cần phải tiến hành xét nghiệm sàng lọc để sớm tìm ra chính xác nguyên nhân và có phương pháp điều trị thích hợp.

3 – Chuẩn bị nội soi đại tràng là việc không đơn giản. Trước khi tiến hành nội soi, bạn cần được làm sạch đại tràng bằng các loại đồ uống đặc biệt một đến hai ngày. Tuy nhiên, bạn sẽ có nhiều lựa chọn dễ dàng hơn nếu tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

4 – Nội soi đại tràng là bẩn thỉu và gây khó chịu. Trong quá trình nội soi, bệnh nhân được dùng thuốc an thần để tránh cảm giác đau rát, khó chịu thường trực. Thông thường, nội soi chỉ mất chừng 15 đến 30 phút và hôm sau bạn có thể trở lại với thói quen sinh hoạt bình thường.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang4

5 – Người nào cũng có thể được tiến hành nội soi. Các bác sĩ chỉ khuyến khích thực hiện phương pháp này đối với người từ 50 tuổi trở lên và một số trường hợp đặc biệt khác mà thôi. Nếu còn trẻ nhưng từng có người thân mắc bệnh; thường xuyên hút thuốc lá hoặc từng chịu sự dày vò của viêm loét đại tràng, bệnh Crohn thì bạn nên trao đổi với bác sĩ để tìm cách khống chế nguy cơ mắc ung thư đại tràng.

6 – Nội soi là phương pháp sàng lọc bệnh duy nhất. Trong y học, có nhiều phương pháp giúp sớm phát hiện ung thư đại tràng. Cụ thể, bạn có thể lựa chọn soi đại tràng sigma hay thụt bari chụp X – quang đại tràng. Tuy nhiên, phương pháp nội soi được đánh giá là mang lại hiệu quả hơn cả. Nó giúp kiểm tra toàn bộ đại tràng, sử dụng để sàng lọc, chẩn đoán và loại bỏ các polyp tiền ung thư. Ngoài ra, nội soi còn giúp phát hiện các bệnh ung thư khác trong cùng một lần kiểm tra.

7 – Sở hữu một polyp đồng nghĩa với việc mắc ung thư. Dù có thể biến chứng thành tế bào ung thư nhưng hầu hết các polyp là lành tính. Đồng thời nó có thể dễ dàng được loại bỏ trong khi nội soi đại tràng.

8 – Nội soi đại tràng chỉ có tác dụng sàng lọc phát hiện bệnh. Nội soi không chỉ có tác dụng sàng lọc phát hiện bệnh mà còn có khả năng loại bỏ các polyp và tế bào ung thư nhỏ. Nếu kết quả nội soi cho thấy bạn có polyp trong cơ thể thì bác sĩ sẽ dễ dàng loại bỏ nó bằng một vài thao tác nhỏ. Tuy nhiên, nếu nội soi cho kết quả cơ thể đã mắc ung thư thì bác sĩ buộc phải lựa chọn các phương pháp khác như xạ trị, hóa trị hay phẫu thuật.

9 – Mắc ung thư đại tràng đồng nghĩa với “án tử”. Nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm thì khả năng sống sót đạt khoảng 95%. Tuy nhiên, một khi căn bệnh đã di căn tới gan thì tử vong chỉ là điều sớm muộn.

nhung-hieu-lam-dang-tiec-ve-ung-thu-dai-trang

10 – Phẫu thuật điều trị ung thư đại tràng có thể gây biến dạng. Thực tế, những thành tựu trong công nghệ phẫu thuật mới giúp quá trình xâm lấn chỉ để lại vết sẹo nhỏ trên cơ thể. Bệnh nhân phẫu thuật nội soi nhanh hồi phục hơn so với những người phải thực hiện những vết rạch lớn.

Các dạng ung thư tinh hoàn thường gặp

Đối với seminomas, ung thư này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường xảy ra ở đàn ông lớn tuổi

Nói chung, seminoma không ác tính như ung thư dạng nonseminoma và đặc biệt có hiệu quả với phương pháp xạ trị

Seminomas chiếm tỷ lệ khá cao các trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn. Thống kê cho thấy, khoảng 40 đến 45% các ca mắc bệnh thuộc loại ung thư này

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap

Trong khi đó, nonseminoma gồm những loại ung thư không phải là seminoma, thường được phát hiện ở nam giới khi còn trẻ. Nó có tốc độ phát triển mạnh và di căn rất nhanh

Ung thư tinh hoàn dạng nonseminoma có thể chứa các tế bào như teratoma và một số tế bào ung thư biểu mô embryonal. Thậm chí đôi khi chỉ là một khối u đơn thuần

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap1

Dạng ung thư này cũng tỏ ra có hiệu quả đối với phương pháp xạ trị nhưng nó không “nhạy” như seminoma. Phương pháp hóa trị thường mang lại hiệu quả cao hơn cho nonseminomas, ngay cả khi ung thư đã lan rộng

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap2

Tuy nhiên, việc phân chia như vậy không phải lúc nào cũng có thể được thực hiện một cách rạch ròi. Bởi nhiều trường hợp được chẩn đoán mắc ung thư tinh hoàn bao gồm cả dạng seminoma và nonseminoma

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap3

Một điều bất ngờ nữa là rất hiếm các trường hợp ung thư khác bắt đầu ở tinh hoàn. Cho đến nay, ung thư phổ biến nhất được tìm thấy ở tinh hoàn nam giới trên 50 tuổi là ung thư hạch

cac-dang-ung-thu-tinh-hoan-thuong-gap4

Ung thư tinh hoàn xảy ra khi các tế bào trong tinh hoàn bị thay đổi tính chất, không còn phát triển và phân chia một cách có trật tự. Những tế bào ung thư này tăng trưởng không kiểm soát và tích tụ thành một khối u trong tinh hoàn

Nguồn kiến thức

Phòng chống ung thư bằng cách lạc quan mỗi ngày

Nhiều nhà khoa học trên thế giới tin rằng cảm xúc tiêu cực có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mắc ung thư.

Bác sĩ Shaji Kudiyat người Ấn Độ – người chữa bệnh theo liệu pháp vi lượng đồng căn – khẳng định thể chất và tâm hồn có mối quan hệ ràng buộc, tác động lên nhau.

Theo ông, thái độ sống, xu hướng suy nghĩ là một trong những nhân tố quyết định bản chất kết cấu DNA ở cơ thể con người. Chính vì vậy, khi chúng ta duy trì suy nghĩ tích cực sẽ góp phần duy trì cấu trúc DNA bình thường, khỏe mạnh. Tương tự, suy nghĩ tiêu cực cũng tác động lên cấu trúc DNA, dẫn đến việc chuyển đổi không lành mạnh của DNA; làm suy giảm khả năng kháng bệnh.

phong-chong-ung-thu-bang-cach-lac-quan-moi-ngay

Tinh thần căng thẳng, kìm nén tâm trạng, bi quan ưu phiền sẽ khiến chức năng miễn dịch bị ức chế, tạo cơ hội cho các tế bào ung thư xuất hiện, sinh sôi. Nhưng ngược lại, lạc quan, yêu đời lại có tác dụng rất tốt trong việc khống chế các tế bào ung thư.

Để chứng thực cho nhận định của mình, Kudiyat trích dẫn các trường hợp bệnh nhân mắc ung thư vú trái thường có liên quan đến nỗi đau mất mát người thân. Bệnh nhân bị ung thư vú phải thường có bất mãn hoặc xung đột với người khác giới. Bệnh nhân mắc ung thư ruột non có thời gian trầm cảm kéo dài và người mắc ung thư ruột già trước đây thường hay tức giận, nóng nảy .

Một số chuyên gia về ung thư đã bác bỏ nhận định trên. Theo họ, không có bất kỳ nghiên cứu thuyết phục nào về mối quan hệ nguyên nhân – kết quả nào giữa tinh thần và ung thư.

Dù vai trò của tinh thần sống lạc quan có tác động tích cực trong phòng ngừa ung thư còn nhiều tranh cãi, các nhà khoa học vẫn khuyến khích mọi người sống lạc quan, tạo lập các thói quen ăn uống tốt, hạn chế thuốc lá, rượu bia, năng tập thể dục.

Theo Kiến thức

Ăn chay có khả năng chống lại nhiều dạng bệnh ung thư

Có nhiều lý do giải thích vì sao người ta không chọn ăn thịt. Nhưng liệu không ăn thịt có giúp bạn giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư? Một chế độ ăn uống khá phong phú các loại trái cây, rau củ và ngũ cốc đã được chứng minh là có khả năng chống lại nhiều dạng bệnh ung thư, chứ không phải là giảm ăn tất cả các loại thịt mới làm giảm nguy cơ mắc ung thư.

Chế độ ăn không lành mạnh làm tăng nguy cơ ung thư

Bà Kathy Chapman, Chủ tịch Ủy ban hoạt động thể chất và dinh dưỡng thuộc Hội đồng Ung thư Australia (CCA) phân tích: “Nói một cách dứt khoát rằng, ăn nhiều loại trái cây và rau củ sẽ là giải pháp mà mọi người nên nhắm tới. Nếu bạn muốn chọn một thực đơn ăn chay, bạn phải chắc chắn rằng nó là thứ lành mạnh, nhưng để làm giảm nguy cơ ung thư thì không phải là hoàn toàn kiêng thịt”. Theo đó, các nhà khoa học đã ước tính rằng những chế độ ăn uống không lành mạnh là nguyên nhân gây nên khoảng 10 căn bệnh ung thư.

an-chay-lieu-co-ngua-duoc-ung-thu

Bà Kathy Chapman cho rằng, bằng chứng đã khá rõ ràng là trái cây và rau củ đã đóng góp đáng kể trong việc chống lại các bệnh ung thư, chẳng hạn như ung thư miệng, họng, ung thư dạ dày và ung thư ruột. Một nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng những người ăn đa dạng các loại trái cây và rau củ sẽ làm giảm 22% rủi ro hình thành bệnh ung thư miệng hơn những ai ăn ít hoặc ăn cách quãng. Ngoài ra, việc ăn nhiều các loại thịt đỏ – đặc biệt là các loại thịt đã qua chế biến như xúc xích, salami (xúc xích Ý) và thịt xông khói – lại là những thực phẩm làm tăng thêm nguy cơ hình thành căn bệnh ung thư ruột.

Tại sao trái cây, rau củ lại ngừa ung thư?

Bằng việc nghiên cứu những mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và bệnh ung thư đã cho thấy quả là khá nan giải trong việc phân lập ảnh hưởng của việc ăn uống. Ngoài ra cũng có nhiều bằng chứng về lợi ích của các loại trái cây và rau củ dựa trên kết quả của các cuộc nghiên cứu đã kết luận “chế độ ăn uống chay là chiến lược hữu ích để giảm thiểu ung thư”. Thêm nữa, một cuộc nghiên cứu vào năm 2009 dựa trên hơn 61.000 người Anh, bao gồm 20.000 người ăn chay, đã khám phá rằng một số căn bệnh ung thư phát triển chậm hơn ở những người ăn chay so với những người ăn nhiều thịt.

Bên cạnh đó, nhiều người thường xuyên ăn cá cũng cho thấy sự phát triển chậm chạp của bệnh ung thư. Việc tìm kiếm một mối quan hệ nhân quả giữa chế độ ăn uống và bệnh ung thư cũng khá khó khăn vì thực phẩm có chứa nhiều loại dinh dưỡng và các thành phần hóa học khác nhau, do đó đã ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển bệnh ung thư và rất khó để tách biệt những nghiên cứu này ra ngoài. Đơn cử như, một thành phần trái cây và rau củ được cho là bảo vệ chống lại ung thư ruột là chất xơ thực vật, chất xơ khuyến khích sự phát triển của các loại vi khuẩn lành mạnh có trong ruột. Nhưng chất xơ không phải là yếu tố duy nhất và không chắc có các thành phần khác tồn tại trong rau củ, trái cây có thể giảm thiểu nguy cơ ung thư rộng rãi hơn. Nhân tố đặt cược trong vấn đề này là chất chống ôxy hóa. Theo bà Kathy Chapman, các chất chống ôxy hóa đã giúp cho sự hoạt động trơn tru của các tế bào và những rối loạn có thể gây ra ở các tế bào, làm thay đổi cách mà ung thư có thể bị giảm thiểu.

Nhưng một chất chống ôxy hóa đơn lẻ không thể hoạt động hiệu quả bằng khi chúng được gộp lại với nhau; có khả năng là nhiều chất chống ôxy hóa khác nhau đã được tìm thấy từ những loại thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật. Nó cũng rất đáng chú ý, khi bạn ăn nhiều trái cây và rau củ, bạn sẽ có khuynh hướng ăn ít các loại thực phẩm năng lượng cao, điều này giúp duy trì một thể trạng mạnh khỏe.

Những loại trái cây, rau củ rất tốt cho phòng ngừa ung thư

Loại trái cây và rau củ nào là tốt nhất có thể giúp chúng ta phòng ngừa ung thư và những dạng bệnh mạn tính khác? Bà Kathy Chapman khuyên rằng, hành tây và tỏi tây đã được chứng minh là có thể bảo vệ cơ thể chống lại ung thư dạ dày, còn những loại rau họ cải như bắp cải, bông cải và cải Bỉ là những loại rau cực tốt giúp bạn chống ung thư ruột. Tuy nhiên, tất cả các loại trái cây và rau củ đều có một số chất để cung cấp cho bạn và không loại nào là tốt nhất nếu chỉ dùng đơn lẻ. Chẳng hạn như, các chất chống ôxy hóa mà bạn nhận được từ cà chua, cà rốt và các loại rau củ giàu beta-caroten lại khác biệt hoàn toàn với những chất chống ôxy hóa từ những loại quả mọng, hay vitamin C mà bạn nhận được từ các loại cam quýt (những loại trái cây, rau củ có màu sắc khác nhau lại chứa các loại dinh dưỡng khác biệt và việc ăn đa dạng các màu sắc thực vật khác nhau sẽ giúp bạn nâng cao mức độ chống bệnh ung thư). Mặt khác, việc dùng quá nhiều rau củ quả lại phản tác dụng và sẽ gây hại; một vài cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chất bổ sung beta-carotene đã thật sự làm gia tăng rủi ro của bệnh ung thư phổi ở những người hút thuốc lá.

Sách Hướng dẫn chế độ ăn uống Australia (ADG) khuyên rằng, nên ăn các loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật vì chúng là nền tảng của chế độ ăn uống lành mạnh. Mỗi ngày, tất cả chúng ta nên ăn 2 suất trái cây và 5 suất rau. Mỗi suất là 1 tách rau trộn hay trái cây xắt lát, hoặc nửa tách rau củ nấu chín. Những chế độ ăn chay đã thực sự có tác dụng bảo vệ và chắc chắn không làm phát sinh rủi ro gây bệnh ung thư.

Nguyễn Thanh Hải (Theo ABC.AU)

Điều trị ung thư tụy bằng vi khuẩn

Lần đầu tiên phương pháp sử dụng vi khuẩn Listeria, loại vi khuẩn gây ra ngộ độc thực phẩm, để tiêu diệt các tế bào ung thư tuyến tụy đã được thử nghiệm thành công trên động vật, mở ra hy vọng mới trong công tác điều trị ung thư ở người.

Đây là kết quả nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc trường Cao đẳng Albert Einstein công bố trên ấn phẩm Biên bản của Viện Khoa học Quốc gia (Proceedings of the National Academies of Science) số ra ngày 22/4.

Nhà khoa học Claudia Gravekamp, chuyên gia về vi trùng và miễn dịch của trường Cao đẳng Y khoa Albert Einstein thuộc Đại học Yeshiva ở New York, Mỹ đồng thời là tác giả nghiên cứu, cho biết nhóm nghiên cứu của bà đã tiến hành đưa những vi khuẩn Listeria yếu vào cơ thể những con chuột mắc ung thư tuyến tụy.

ung-thu-tuy

Những vi khuẩn này được gắn kèm đồng vị phóng xạ thường được sử dụng trong điều trị ung thư.

Thí nghiệm cho thấy những vi khuẩn phóng xạ này sau khi được đưa vào cơ thể chuột tác động đến các tế bào ung thư nhưng lại không gây ảnh hưởng gì đến các tế bào bình thường.

Sau 3 tuần điều trị bằng phương pháp này, tế bào ung thư ngừng di căn ở 90% cá thể chuột, các phản ứng phụ cũng không được ghi nhận. Thí nghiệm kéo dài 21 ngày, dừng lại sau khi nhóm chuột ung thư không được điều trị bắt đầu chết.

Ung thư tuyến tụy là dạng ung thư phát triển rất nhanh và đặc biệt nguy hiểm, bởi bệnh chỉ có thể phát hiện một khi đã phát triển ra ngoài khu vực tuyến tụy.

Bệnh nhân không được chữa trị thường tử vong chỉ trong vòng từ 3-6 tháng, tỷ lệ sống sót sau năm năm cũng chỉ ở mức 4%.

Các nhà khoa học cho biết hiện vẫn cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu khác để đảm bảo phương pháp này có thể áp dụng cho điều trị ở người cũng như để xem xét khả năng kéo dài thời gian sống của bệnh nhân.

Tuy nhiên, kết quả khả quan này có thể mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị di căn ung thư tuyến tụy.

Theo vietnam +

Ung thư buồng trứng từ bột tan

Hiệp hội người tiêu dùng Malaysia cảnh báo rằng người tiêu dùng nên sử dụng các sản phẩm được sản xuất từ loại bột gạo và ngô truyền thống thay vì dùng bột đá vì loại bột này có nguy cơ gây hại cho sức khỏe.

Hiệp hội trên đã đưa ra lời cảnh báo sau khi tại Mỹ người ta phát hiện 40% số phụ nữ hay sử dụng bột tan có thể bị mắc ung thư buồng trứng. Một cuộc nghiên cứu của Trường Đại học Y khoa Harvard (Mỹ) với trên 3.000 phụ nữ cho thấy 36% những người sử dụng bột tan 1 lần/tuần có nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, trong khi 41% những người sử dụng hằng ngày có nguy cơ mắc căn bệnh này.

ung-thu-buong-trung-tu-bot-tan

Bởi vậy, người phụ trách nhóm nghiên cứu trên khuyến cáo chị em phụ nữ nên tránh dùng bột tan cho vùng kín cho tới khi các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu thêm.

Trong một cuộc họp báo ngày 17/2 tại George Town, Malaysia, Chủ tịch Hiệp hội người tiêu dùng Malaysia, ông Mohd Idris nói rằng bất chấp những nguy cơ do bột tan mang lại, trên thị trường, vẫn rất nhiều loại sản phẩm chứa bột tan được lưu hành, trong số này có cả các sản phẩm dùng cho trẻ nhỏ.

Đa số các sản phẩm bột tan đều do các hãng có tiếng tăm sản xuất và người tiêu dùng mua chúng vì thích cảm giác mềm mượt của làn da khi sử dụng. Loại bột này là một chất hút thấm nước có hiệu quả giúp khử mùi hôi và khiến người sử dụng không có cảm giác ướt át.

Thành phần cơ bản trong bột tan gồm hợp chất silic hydroxit magie và cũng là chất chủ đạo trong các loại bột phấn dùng cho trẻ em, y tế và phấn thơm cơ thể. Các phân tử bột tan có thể thâm nhập qua đường sinh dục và lưu lại trong buồng trứng.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy các phân tử bột tan trong các khối u buồng trứng và họ cũng phát hiện thấy rằng những phụ nữ bị ung thư buồng trứng hay sử dụng bột tan cho vùng kín hơn các phụ nữ không mắc căn bệnh này.

Giờ đây, thông điệp gửi đến chị em phụ nữ đó là hãy cảnh giác đối với các sản phẩm có chứa bột tan và ngừng tiếp thị các loại phấn bột dùng cho trẻ em có chứa chất bột này

Theo Vietnam+

Ung thư thường gặp ở những bộ phận nào

Tỷ lệ mắc ung thư đang ngày một gia tăng. Sau đây là 6 cơ quan trong cơ thể dễ bị tổn thương nhất.

1. Vú – Ung thư phổ biến nhất
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất cho phụ nữ trên thế giới. Nó có thể xảy ra do nhiều yếu tố: ăn nhiều chất béo, thực phẩm calo cao, tinh thần căng thẳng, chẳng hạn như trì hoãn hôn nhân và sinh đẻ…

2. Phổi – dễ bị tổn thương nhất
Cả đàn ông và phụ nữ đều có nguy cơ dễ mắc bệnh ung thư phổi. Tại sao phổi lại mong manh đến vậy? Nguyên nhân phổ biến chính là do hút thuốc, bao gồm cả chủ động và thụ động. Ung thư phổi 90% do hút thuốc lá.

ung-thu-thuong-gap-o-nhung-bo-phan-nao

Ung thư phổi

Theo thống kê, 30% tỉ lệ mắc khối u phổi đều liên quan tới hút thuốc dài hạn. Ngoài ra, do các chất gây ung thư có thể hấp thụ dễ dàng qua phổi, dẫn đến tổn hại hệ thống, và do đó gây ra ung thư thanh quản, ung thư thực quản, ung thư miệng, ung thư bàng quang, ung thư thận, ung thư tuyến tụy.

Thứ hai là do ô nhiễm môi trường. Các dữ liệu cho thấy rằng ô nhiễm không khí là một trong những lý do nghiêm trọng gây ra ung thư phổi. Zhong Nanshan – Chủ tịch Hiệp hội Y khoa Trung Quốc – phát biểu, ô nhiễm môi trường cũng gây tổn hại cho phổi của con người tương tự như tác hại của hút thuốc lá.

3. Ung thư thực quản – do đường ăn
Nguyên nhân chính xác gây ung thư thực quản hiện nay chưa rõ. Nhưng có nhiều nghiên cứu cho thấy các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh ung thư thực quản gồm: Người hút thuốc lá hoặc dùng chế phẩm có thuốc lá là nguy cơ số 1 gây ung thư thực quản. Người nghiện rượu hoặc uống rượu thường xuyên cũng có nguy cơ cao bị ung thư thực quản.

Các bệnh lý gây viêm loét thực quản như trào ngược dạ dày – thực quản, uống phải axít. Bệnh thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi. Nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ…
Tuy nhiên ở một số người có từ một hay nhiều yếu tố nguy cơ nhưng lại không bị ung thư thực quản. Ngược lại một số khác bị ung thư thực quản nhưng không có bất cứ yếu tố nguy cơ nào.

4. Dạ dày dễ bị bỏ qua nhất
Ung thư dạ dày là một trong bốn loại ung thư đầu tiên, phổ biến nhất trên thế giới. Muối, thực phẩm ướp muối, hạt tiêu đỏ, thịt chế biến sẵn, thực phẩm hun khói hay thức ăn nướng là những yếu tố trực tiếp gây ra sự thay đổi niêm mạc dạ dày và viêm dạ dày dẫn đến ung thư.
Ngoài ra, ăn uống tập thể, ăn uống chung cũng là một trong những yếu tố góp phần truyền tải vi khuẩn Helicobacter pylori, loại vi khuẩn vốn được xác định là thủ phạm gây ra chứng bệnh loét và ung thư dạ dày ở người.

5. Ung thư gan – do đường uống
Ung thư gan là 1 trong 8 ung thư hay gặp nhất trên toàn thế giới, bệnh chiếm 4% trong tổng số các ung thư ở người. Có nhiều yếu tố thuận lợi giúp phát triển ung thư gan, bao gồm cả tuổi, phái tính, gia đình. Phái nam bị ung thư nhiều hơn nữ và tỉ lệ tăng dần sau 60 tuổi.

Ngoài ra có cả yếu tố di truyền. Hiện nay, có bằng chứng rằng vi rút viêm gan B, tiêu thụ độc tố aflatoxin trong ngũ cốc và đậu đỗ, uống rượu thường xuyên… là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ung thư gan.

6. Tuyến tụy – bệnh của người đàn ông giàu có
Sự ra đi của Steve Jobs có liên quan đến chứng bệnh gọi là ung thư tuyến tụy. Viện Ung thư Quốc gia ước tính trong năm 2010 đã phát hiện thêm 43.000 ca mắc ung thư tuyến tụy mới và gần 37.000 người đã không qua khỏi. Khoảng 20% số bệnh nhân có tuổi từ 55-64.

Vậy nhóm người nào có nguy cơ cao mắc bệnh này? Không một ai biết chính xác nguyên nhân. Các bác sỹ cũng hiếm khi giải thích tại sao người này lại mắc mà người kia thì không. Tuy nhiên mỗi nhà khoa học đều đúc kết được một số yếu tố ảnh hưởng thông quan nghiên cứu của mình.

Khả năng phát triển bệnh ung thư tuyến tụy đi kèm với tuổi tác của mỗi người. Hầu hết các trường hợp ung thư tuyến tụy xảy ra ở những người có độ tuổi trên 60. Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 2-3 lần so với những người không có thói quen này.
Nguy cơ bị ung thư tuyến tụy ở những bệnh nhân tiểu đường cũng cao hơn so vói người bình thường. Ngoài ra, nam giới có khả năng mắc ung thư tuyến tụy cao hơn nữ giới.

Nguồn sức khỏe gia đình

Ung thư gan đã có thể điều trị

Hóa học trị liệu là phương pháp giúp nhanh chóng tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh như tế bào ung thư, nhưng phương pháp này cũng gây ảnh hưởng xấu tới những bộ phận khỏe mạnh khác trong cơ thể.

Nguyên nhân là do thuốc hóa học trị liệu thường được tiêm thẳng vào ven, vì thế nó không chỉ tác động lên khối u mà còn có tác động lên toàn cơ thể. Hậu quả là bệnh nhân sẽ thấy mệt mỏi, ốm yếu, rụng tóc và mất khả năng sinh sản. Tuy nhiên, các bác sỹ ở bệnh viện đa khoa Southampton(Anh) cho biết nếu chỉ dùng phương pháp này tác động vào một cơ quan trên cơ thể sẽ thể hạn chế được tác động phụ của thuốc.

phuong-phap-dieu-tri-moi-cho-nguoi-ung-thu-gan-2

Hiện có 2 bệnh nhân ung thư tại Anh đang thử nghiệm phương thức điều trị mới này. Cả 2 đều bị một chứng bệnh ung thư mắt hiếm gặp, sau đó tế bào ung thư lan xuống gan.

Sau 3 tháng điều trị bằng phương pháp trên, sức khỏe của hai bệnh nhân này đều tiến triển tốt, đặc biệt, khối u ác tính trong gan của họ dường như đã bị thu nhỏ lại.

Tiến sỹ Stedman, một bác sỹ X-quang nói: “Những cơ quan có thể tách khỏi các mạch máu một cách dễ dàng, như thận, phổi, tụy đều có thể dùng phương pháp điều trị này”.

Tuy nhiên ông cho biết đây mới chỉ là giai đoạn đầu của phương pháp điều trị này và ông không đảm bảo rằng phương pháp này sẽ giúp điều trị khỏi hẳn bệnh ung thư.

Theo Báo Đất Việt

Triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi

Tuy ung thư lưỡi không nhiều như các thể ung thư khác, tuy nhiên bạn không nên đánh giá thấp những dấu hiệu ban đầu và mức độ nguy hiểm của chứng bệnh này.

Theo trích dẫn của tạp chí điện tử Tongue Cancer Symptoms, những mảng hoặc đốm màu trắng gây đau và loét xuất hiện trên lưỡi, giống như vết loét trên miệng, thường là dấu hiệu đầu tiên của ung thư lưỡi. Tuy nhiên, đôi khi các mảng hoặc đốm này không phải là màu trắng mà là màu đỏ.

dau-hieu-nhan-biet-ung-thu-luoi

Theo các chuyên gia, dưới đây là một số triệu chứng điển hình của bệnh ung thư lưỡi:

1. Xuất hiện những mảng hoặc đốm màu trắng hay màu đỏ trên bất kỳ phần nào của lưỡi. Theo thời gian, những đốm này không lành mà ngày càng phát triển lớn hơn.

2. Phần trung tâm của các mảng hoặc đốm này thường mềm và dễ chảy máu, gây loét. Nguyên nhân gây chảy máu thường là do sự chà xát trong khi nhai hoặc nuốt thức ăn. Triệu chứng loét này là dấu hiệu phổ biến nhất, cảnh báo sớm bệnh ung thư lưỡi.

3. Đôi khi triệu chứng ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng đau cổ họng khi nuốt nước miếng hoặc thức ăn.

4. Lưỡi và miệng có cảm giác tê, thay đổi giọng nói, lưỡi trở nên khó khăn khi di chuyển và gặp trở ngại khi há miệng.

5 . Một số bệnh nhân ung thư lưỡi đôi khi cũng bị đau ở tai và có một vết sưng trên phần mặt sau của cổ họng.

Lưu ý: Một số trường hợp ung thư lưỡi có thể đi kèm với tình trạng sụt cân. Vì thế, trong trường hợp nhận thấy những dấu hiệu trên, đặc biệt là vết loét trên lưỡi không lành và tiếp tục phát triển sau hai tuần, bạn phải đến bệnh viện kiểm tra ngay lập tức để được điều trị kịp thời.

Theo afamily

Đi bộ ngừa ung thư vú hiệu quả nhất

Những phụ nữ lớn tuổi đi bộ mỗi ngày một giờ có thể giúp giảm 14% nguy cơ phát triển ung thư vú. Hiệu quả bảo vệ tăng lên 25% nếu họ tập thể dục với cường độ cao. Đây là kết quả của nghiên cứu đánh giá trên hơn 73.000 phụ nữ tuổi mãn kinh được Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) tài trợ.

di-bo-ngua-ung-thu-vu-hieu-qua-nhat

Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân của mối liên hệ này có thể chủ yếu do nội tiết tố. Nguy cơ ung thư vú bị ảnh hưởng bởi “phơi nhiễm” với estrogen trong suốt cuộc đời. Nguy cơ càng tăng nếu tiếp xúc với estrogen càng nhiều. Ở những phụ nữ thường xuyên vận động thì nồng độ estrogen thấp hơn so với những người lười vận động.

Được biết ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Theo thống kê tại Mỹ, cứ tám phụ nữ thì có một người phát triển bệnh ung thư vú. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này là một thông điệp tốt cho cộng đồng. Chỉ cần đi bộ thong thả mỗi ngày đã giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

BS NGUYỄN TẤT BÌNH

Nguồn tuổi trẻ

Ung thư dương vật ở nam giới

Về chức năng sinh lý, dương vật có khả năng cương cứng, nhờ có các cấu trúc của thể cương, mỗi thể cương có vỏ bọc sợi đàn hồi tức bao trắng, có tên khoa học là Tunica Albuginea, bao bọc xung quanh. Có ba thể cương, các thể này được bó chặt vào nhau bởi một tổ chức rất dày và chắc, có tên y học là cân Buck. Ngoài chức năng bó chặt các thể cương, cân Buck còn góp phần vào để duy trì hình dạng của dương vật và cố định chặt dương vật vào xương mu. Khi dương vật đang ở trạng thái cương cứng, bao trắng căng ra, vì lý do nào đó làm tăng áp lực rách bao trắng, như bẻ dương vật, giao hợp không đúng tư thế… thì gọi là gãy dương vật. Bao trắng bị thương tích – rách, máu từ các thể cương nhất là thể hang sẽ tràn ra ngoài, nếu xử trí không kịp thời, sẽ chảy máu kéo dài, gây thuyên tắc các hang huyết mạch đưa đến cương đau dương vật và xơ hóa các thể hang sau này.

Về triệu chứng, do bị gập bẻ bởi một lực mạnh, làm rách nên bệnh nhân thấy đau chói ở gốc dương vật, sau đó dương vật xẹp xuống và có những vết bầm, vết bầm lớn dần, ngả đậm màu sang tím đen, lan khắp dương vật làm dương vật sưng to và có thể lan xuống bìu. Sau đó, bệnh nhân sẽ không đau nhiều lắm, vẫn đi tiểu được, nhưng do ảnh hưởng tâm lý, hoảng sợ vì thấy có sự biến dạng của dương vật nên vội đến bệnh viện.

Về xử trí, tại bệnh viện mổ dẫn lưu máu tụ và khâu lại thể hang, người bệnh thường xuất viện với vết mổ lành, chức năng sinh dục phục hồi, ngoại trừ một vài trường hợp hơi lệch và hơi đau khi cương.

Về phòng bệnh, tuyệt đối không nên tự bẻ dương vật, giao hợp đúng tư thế.

BS.CKI. TRẦN QUỐC LONGUng thư dương vật chiếm 6 – 8% tổng số các bệnh ung thư. Ung thư dương vật xuất hiện ở nhiều lứa tuổi, nhưng hay gặp ở tuổi trung niên (40 – 60 tuổi). Bệnh dễ phát hiện, ở giai đoạn sớm việc chẩn đoán, và điều trị không quá khó khăn. Tuy nhiên, do tâm lý còn e ngại nên nhiều người đến bệnh viện muộn (khi đã có các biến chứng: tắc đường niệu đạo, lở loét, đau đớn, nhiễm khuẩn tại vùng hạch di căn, chảy máu…), dẫn đến kết quả điều trị kém, phải cắt bỏ dương vật
Ung thư dương vật thường phát sinh trong rãnh qui đầu hoặc trên quy đầu rồi nhanh chóng làm cho bao quy đầu không kéo lên được. Ung thư di căn theo đường bạch huyết vào các hạch ở bẹn và sau bìu. Các hạch thường sưng tấy rất to, lúc đầu mềm và đau do nhiễm khuẩn. Sau đó hạch to, cứng và không di động. Hạch có thể ăn lan ra ngoài da và bị loét, có khi ăn sâu xuống dưới, vào mạch máu, gây chảy máu nhiều. 70 – 80% trường hợp bị ung thư dương vật phải cắt bỏ.

ung-thu-duong-vat

Những yếu tố thuận lợi dẫn tới ung thư

Hẹp bao quy đầu: Hầu hết bệnh nhân ung thư dương vật có tật hẹp bao quy đầu. Hẹp bao quy đầu không gây ung thư trực tiếp nhưng tạo điều kiện viêm mạn tính niêm mạc bao quy đầu và quy đầu. Viêm kéo dài nhiều năm làm biến dị tế bào niêm mạc chuyển biến thành ung thư.

Bệnh sùi mào gà đường sinh dục do nhiễm virus Human Papilloma (HPV): Ở nam giới, sùi mào gà thường gặp ở rãnh quy đầu, bao da và thân dương vật, có khi thấy ở miệng sáo, phần đầu của niệu đạo trước, da bìu. Thông thường bệnh không biểu hiện nhanh lại không gây đau đớn cho người bệnh nên rất khó tự phát hiện. 15% trong số những người mắc bệnh này có các khối u phát triển theo hướng loạn sản tế bào, phá vỡ màng đáy có nguy cơ trở thành tiền ung thư là rất cao.

Ngoài ra, các nguyên nhân như có các khối u lành tính ở dương vật (như u mạch máu), các bệnh lây truyền qua đường tình dục (như bệnh, giang mai …) cũng là những yếu tố có thể dẫn đến ung thư dương vật.

Dấu hiệu nhận biết

Công trình nghiên cứu của ThS-BS Phạm Hùng Cường trên 171 bệnh nhân bị ung thư dương vật đã điều trị tại khoa Ngoại 2, Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 đến 2009 cho thấy: Ðộ tuổi bị ung thư dương vật cao nhất là 41-52; thời gian khởi bệnh nhiều nhất là 9-13 tháng; 86% bệnh nhân nhập viện muộn; 66% người bệnh bị cắt một phần dương vật khi điều trị, 18% bị cắt bỏ hoàn toàn và 9% bệnh nhân buộc phải cắt bỏ hoàn toàn cơ quan sinh dục; tỉ lệ sống sau điều trị trên 2 năm là 77%.

Dấu hiệu phát hiện sớm ung thư dương vật là: nốt sùi nhỏ, dễ chảy máu khi vệ sinh hoặc khi quan hệ tình dục, hoặc có dạng một mảng màu trắng hoặc hồng ở dương vật. Những dấu hiệu này dễ nhầm lẫn với các bệnh lây truyền qua đường tình dục, do đó khi phát hiện dương vật có những dấu hiệu này, bệnh nhân nên đi khám ở các bác sĩ chuyên khoa. Việc điều trị phụ thuộc nhiều vào giai đoạn bệnh.  Ở giai đoạn sớm, sang thương nhỏ, chủ yếu ở bao qui đầu thì có thể được cắt rộng và bảo tồn được dương vật mà chi phí điều trị ung thư dương vật thấp. Còn ở giai đoạn muộn, khi có di căn hạch bẹn bắt buộc phải xạ trị, chi phí sẽ tăng cao hơn rất nhiều, chưa kể ảnh hưởng đến việc duy trì khả năng sinh sản và ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng.

Để phòng ung thư dương vật
Phải giữ vệ sinh tốt cho cơ quan sinh dục, ở trẻ nhỏ cần theo dõi phát hiện sớm hẹp bao quy đầu để có biện pháp can thiệp kịp thời. Nên áp dụng các biện pháp quan hệ tình dục an toàn, nhất là với các đối tượng có nguy cơ mang mầm bệnh HPV cao. Cần điều trị triệt để các vết loét trợt và các khối u lành tính khác ở dương vật.

Bác sĩ  Nguyễn Văn Tuấn

Theo báo công an

Chỉ mất 30 phút để phát hiện ra ung thư não

Ung thư não rất khó phát hiện vì người bệnh chỉ có một vài triệu chứng biểu hiện chính như: đau đầu, mệt mỏi hay ngủ lơ mơ. Tỉ lệ sống sót đối với bệnh nhân ung thư não sẽ tăng lên khi thời gian chuẩn đoán bệnh chỉ mất vài chục phút.

Anh Jay Lynchehaun, 27 tuổi, bệnh nhân ung thư não sống tại Lancs, cho biết: “Từ triệu chứng đầu tiên đến khi tiến hành phẫu thuật phải mất tới 10 tháng. Nếu sớm được chuẩn đoán có khối u trong não thì bệnh tình của tôi giờ đây có lẽ đã không nghiêm trọng”. Nhưng hiện nay các nhà nghiên cứu tại Đại học Central Lancashire chỉ mất không quá 30 phút đã có thể phát hiện chính xác khối u trong não của người bệnh.

chi-mat-30-phut-de-phat-hien-ra-ung-thu-nao
Tiến sĩ Matt Baker, trưởng nhóm nghiên cứu, nói rằng phương pháp phân tích máu bằng tia hồng ngoại giúp tìm ra sự khác biệt giữa các phần tử máu của người bị ung thư não với người bình thường.

Các chuyên gia hy vọng trong thời gian tới phương pháp phát hiện sớm ung thư não của nhóm nghiên cứu tại Đại học Central Lancashire sẽ được ứng dụng trong việc kiểm tra sức khỏe định kỳ.

Thống kê cho thấy mỗi năm ở Anh có khoảng 9.000 người được chuẩn đoán có khối u trong não, trong đó khoảng 5.000 người chết.

Nguồn news.go

Điều trị dứt điểm ung thư hạch

Cơ thể chúng ta được hình thành bởi rất nhiều các bộ phận nhỏ, phân bố rộng nhất là các tế bào hạch, vai trò của hạch là tiêu diệt các tế bào già yếu hoặc bị hỏng cho cơ thể, bảo vệ một cơ thể khoẻ mạnh và sạch. Vai trò của hạch không thể coi nhẹ, cho đến những phút cuối cùng của sự sống thì các tế bào hạch vẫn luôn hoạt động, vì thế khi hạch có biến chứng thành tế bào ác tình và trở thành ung thư hạch, như vậy chúng ta cần điều trị sớm, dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những phương pháp điều trị ung thư hạch.

Về việc điều trị thì hiện nay áp dụng cách điều trị tổng hợp, đó là dựa vào các khối u khác nhau, loại bệnh lý khác nhau và thời kì bệnh khác nhau mà ứng dụng một cách có kế hoạch, hợp lý các phương pháp điều trị hiện có, bảo vệ cơ thể tốt nhất, tiêu diệt tế bào ung thư một cách tốt nhât, đạt hiệu quả điều trị cao, cải thiện chất lượng cuộc sống. Hiện nay, các phương pháp được áp dụng trong việc điều trị u hạch ác tính bao gồm phẫu thuật ngoại khoa, xạ trị, hoá trị, đông y… phẫu thuật kếp hợp với hoá xạ trị có hiệu quả điều trị tốt đối với u hạch ác tính, thuốc đông y có tác dụng tăng cường và hồi phục chức năng miễn dịch của cơ thể, điều chỉnh khả năng kháng bệnh, tăng hiệu quả điều trị và giảm các tác dụng phụ do hoá xạ trị đem lại.

1 Phẫu thuật

Thông thường sẽ làm phẫu thuật cắt bỏ khối u hạch ác tính đới với các hạch ở não, tuỷ, khoang mắt, tuyến lệ, tuyến giáp, phổi, gan, rồi kết hợp với xạ trị, hoá trị. Đối với hạch ác tính ở thận, bang quang, tinh hoàn, buồng trứng, tử cung, da, vú thì sẽ phẫu thuật trước, sau đó kết hợp với hoá trị, xạ trị.

dieu-tri-dut-diem-ung-thu-hach

2 Xạ trị

– Hodgkin: phương pháp chiếu xạ chủ yếu ứng dụng nhiều dạng nón hoặc chữ “Y” ngược , trong khi điều trị cần bảo vệ các cơ quan quan trọng.

– Ung thư hạch non Hodgkin: ung thư hạch non Hodgkin cũng nhạy cảm với xạ trị, nhưng tỷ lệ tái phát cao. Những ổ bệnh nguyên phát của ung thư hạch non Hodgkin như ở amidan, khoang mũi hay tế bào tổ chức xương nguyên phát, sai khi xạ trị cục bộ có thể có được sự thuyên giảm trong một thời gian dài khá lý tưởng.

3 Hoá trị

– Có thể làm giảm số lượng tế bào hạch, và khống chế hạch phát triển trong một thời gian nhất định.
– Làm giảm các triệu chứng của ung thư hạch, làm bớt đau đớn cho bệnh nhân.
– Hoá trị có thể kìm chế tế bào ung thư sinh sản và tiêu diệt tế bào ung thư hạch ở một mức độ nhất định
– Bổ trợ cho phẫu thuật hoặc xạ trị, nâng cao hiệu quả điều trị.

4 Miễn dịch sinh học

Phương pháp điều trị miễn dịch sinh học là lợi dụng tác dụng tương hỗ giữa hệ miễn dịch của cơ thể với các tế bào ung thư, thông qua quá trình làm tăng sức đề kháng của hệ miễn dịch đối với tế bào ung thư để kìm chế hoặc tiêu diệt sự phát triển của khối u.

5 Đông y

Trong quá trình điều trị tổng hợp, đông y chủ yếu có tác dụng tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ, tăng khả năng miễn dịch cho bệnh nhân ung thư hạch. Khi chỉ áp dụng đông y để điều trị ung thư hạch, chủ yếu là khống chế tế bào ung thư, làm giảm các triệu chứng lâm sàng, cải thiện sức khoẻ, nâng cao chất lượng sống và kéo dài sự sống cho bệnh nhân ung thư hạch.

Việc sử dụng đông y cần phải dựa vào đặt điểm trên cơ thể của bệnh nhân ung thư hạch, mà không phải chỉ dựa vào bản thân ổ bệnh ung thư. Điều tiết của Đông y có thể điều chính sự mất cân bằng trong cơ thể, xoá bỏ yếu tố gây tái phát, giảm cơ hội di căn; tiếp theo, đông y làm tổn thương ít đến các tế bào khoẻ mạnh, thông thường sẽ không có những tổn hại mới do việc điều trị gây nên, trong khi có thể có những chuyển biến tốt thì thể lực cũng sẽ dần dần được hồi phục, dần dần tăng khả năng miễn dịch.

Ung thư hạch nếu không được điều trị thì có thể sống được 6 tháng đến 1 năm, nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị tích cực thì có thể nâng cao hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng sống.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những điều đơn giản nhưng phòng ngừa ung thư vú hiệu quả

Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ và là bệnh gây ra nguy cơ tử vong cao nhất trong số các bệnh ung thư. Để phòng bệnh ung thư vú, chị em nên thực hiện những điều đơn giản sau đây.

1 Làm việc nhà

Các chuyên gia cho rằng vận động thường xuyên là một trong những cách giúp giảm nguy cơ ung thư vú cho chị em phụ nữ. Hình thức vận động đơn giản nhất là tập thể dục hoặc làm việc nhà mỗi ngày. Vận động làm giảm số lượng các tế bào mỡ. Các tế bào này có nhiệm vụ sản sinh các kích thích tố như estrogen, testosterone và được cho là có tác dụng kích thích phát triển khối u. Vì vậy, nếu chăm chỉ vận động để giảm tế bào mỡ thì nguy cơ phát triển các khối u cũng giảm đi. Chị em phụ nữ nên dành 30 phút mỗi ngày cho những hoạt động thể chất vừa phải, ví dụ như dọn dẹp nhà cửa. Điều này sẽ giảm nguy cơ ung thư vú ít nhất 20%. Vì vậy, làm việc nhà là cách khá hiệu quả để bạn có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú cho mình.

ung-thu-vu

2 Cho con bú

Một nghiên cứu mới đây của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Thế giới cho biết những phụ nữ cho con bú trong vòng một năm, không cần kéo dài liên tục, có thể giảm 5% nguy cơ ung thư vú so với những phụ nữ không cho con bú. Với những phụ nữ cho con bú càng lâu, thì nguy cơ mắc bệnh càng thấp. Các chuyên gia sức khỏe cho rằng cho con bú làm giảm mức độ của kích thích tố liên quan đến bệnh ung thư trong máu của người mẹ. Khi dừng việc cho con bú, cơ thể sẽ loại bỏ các tế bào bị hư hỏng có thể chuyển biến thành ung thư.

3 Uống ít rượu

Thường xuyên tiêu thụ các chất kích thích sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú, và tất nhiên bạn uống càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh càng cao. Đó là do rượu can thiệp vào sự chuyển hóa estrogen và tác động theo nhiều cách, ảnh hưởng đến nồng độ hormone và thụ thể estrogen. Lượng rượu bạn tiêu thụ có mối liên hệ tỉ lệ nghịch với folate (axit folic hay còn gọi là vitamin B9), mà folate lại có tác dụng ngăn ngừa các tế bào ung thư. Vì vậy, lượng rượu bạn tiêu thụ càng tăng thì hiệu quả của folate càng giảm, nguy cơ ung thư vú càng cao. Nếu là người thích uống rượu, bạn hãy cố gắng tìm cách giảm dần, từ uống ít đến không uống để tránh bị bệnh.

4 Hạn chế làm việc ca đêm

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch cho rằng: những phụ nữ làm việc mỗi tuần 3 ca đêm trong 6 năm có khả năng bị bệnh ung thư vú gấp hai lần so với những phụ nữ không làm việc ca đêm. Tuy nhiên, kết luận này cần được nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Đan Mạch cũng cho rằng: làm việc buổi đêm sẽ không tốt cho sức khỏe vì nó khiến bạn có thể ăn uống kém, hoạt động không điều độ – đó có thể là nguyên nhân dẫn đến rối loạn hormone, thay đổi sự cân bằng của estrogen, từ đó dẫn đến bệnh ung thư vú – chứ không phải bản thân công việc. Vì vậy, nếu không nhất thiết phải làm ca đêm thì chị em cũng nên hạn chế làm việc đêm và thức khuya.

5 Tránh sử dụng các hóa chất không tốt cho sức khỏe

Không sử dụng thực phẩm đóng hộp, không sử dụng đồ uống, thức ăn trong các hộp nhựa để quay trong lò vi sóng, vì chúng chứa các chất hóa học hoạt động giống như oestrogen, làm tăng nguy cơ ung thư vú. Thịt nướng, thịt chiên ở nhiệt độ cao sẽ kích hoạt việc sản xuất ra acrylamide – cũng là chất làm tăng nguy cơ ung thư vú. Vì thế, bạn hãy nấu các món ăn ở dạng luộc, hấp… thay cho rán, nướng và không nên dùng các chất bảo quản thực phẩm là tốt nhất.

6 Tiếp xúc với ánh mặt trời

Ánh sáng mặt trời là cách tốt nhất để tăng cường vitamin D cho cơ thể, giúp giảm nguy cơ ung thư vú. Các kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho biết: các tế bào vú có thể chuyển đổi Vitamin D để một hoocmon có chứa các đặc tính chống ung thư. Tuy nhiên, khi phơi nắng bạn cần biết cách phơi nắng đúng cách, bởi điều này lại liên quan tới nguy cơ phát triển ung thư da khi da tiếp xúc quá lâu với ánh nắng mặt trời, đặc biệt là trong điều kiện ánh mặt trời gay gắt.

Nguồn sức khẻo

Nguyên nhân Ung thư bàng quang

Ung thư bàng quang là loại  ung thư đường tiết niệu thường gặp nhất và chiếm khoảng các loại ung thư. Tuổi thường gặp là 50 – 70 tuổi, nam gấp đôi nữ. Triệu chứng sớm nhất là có máu mà không đau.

Nguyên Nhân

+ Do Tâm hỏa không chuyển nhiệt được xuống Tiểu trường hoặc do thấp nhiệt rót xuống dưới Bàng quang gây nên.

+ Do Thận hư không khí  hóa được, thủy thấp không hóa đi được, ứ tích lại thành độc, thấp  độc hóa thành nhiệt dồn xuống Bàng quang gây nên.

nguyen-nhan-ung-thu-bang-quang

Tiểu ra máu là triệu chứng sớm của ung thư bàng quang, lượng máu ra nhiều hoặc ít không chừng. Bắt đầu tiểu ra máu từng lúc và không đau. Dù khi nghỉ ngơi lượng máu trong ước tiểu cũng không giảm. Nước tiểu có thể đôi khi nhìn thấy trong nhưng nhìn qua kính hiển vi thì lúc nào cũng thấy có máu. Trường hợp khối u to ra hoặc phát ở nhiều nơi, hoặc có nhiễm trùng thì có triệu chứng tiểu gắp, tiểu nhiều lần, tiểu buốt. Nếu khối u ở gần cổ bàng quang sẽ có triệu chứng tiểu khó, vùng bàng quang đau tức.

Nếu trong nước tiểu có huyết khối, có thể đường tiểu sẽ bị nghẽn. Nếu khối u to, dùng tay khám qua trực trường hoặc âm đạo có thể sờ thấy khối u. đến thời kỳ cuối do ung thư di căn, bệnh nhân có cảm giác đau vùng trên xương mu hoặc vùng hội âm, vùng háng, vùng thắt lưng và các triệu chứng thiếu máu, suy mòn.

Chẩn Đoán

Căn cứ chủ yếu :

1- Nam giới tuổi trên 50, nhiều lần tiểu ra máu.

2- Lấy nước tiểu 24 giờ hoặc tiểu lúc sáng sớm, tì m tế bào ung  thư trong cặn lắng.

3- Chụp và soi bàng quang có thể xác định khối u to nhỏ, vị trí và làm sinh thiết xác  định chẩn đoán.

4- Kiểm tra siêu âm. Các phương pháp kíểm tra cùng kết hợp bệnh  sử

và triệu chứng lâm sàng để xác định chẩn đoán.

Điều Trị

Ung thư bàng quang phát hiện sớm nên dùng phẫu trị sớm, san đó kết hợp dùng đông y điều trị.

Ung thư bàng quang thời kỳ đầu và giữa chủ yếu là thể thấp nhiệt, thời kỳ cuối chủ yếu là âm hư thấp nhiệt hoặc khí âm lưỡng hư kiêm thấp nhiệt.

Thấp Nhiệt Hóa Hỏa: tiểu ra máu từng lúc, màu đỏ tươi hoặc có máu cục, thườngkhông đau, chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, khô, mạch Huyền Sác.

nguyen-nhan-ung-thu-bang-quang1

Điều trị : thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết, chỉ huyết. Dùng bài Tiểu Kế Ẩm Tử giagiảm: Tiểu kế, Bồ hoàng (nửa sống nửa sao ) đều 10g, Sinh địa, Hoàng bá, Bạch mao căn, Ích mẫu thảo, Đơn bì  đều 12g, Đại hoàng 6g, Xích thược, Sinh địa du, Thổ phục linh, Đạm trúc diệp, Bạch vi  Xa tiền thảo tươi, sao chi tử đều l2g, Hoạt thạch 20g.

Gia giảm : Trường hợp nước tiểu có nhiều huyết khối và tiểu đau thêm Huyết dư thán, Đào nhân, Hải ki m sa, bột Tam thất ( hòa thuốc  uống), bột Hổ phách ( hòa uống), Xuyên Ngưu tất. Nhiệt thịnh thêm Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Bồ công anh, Long quỳ, Bạch anh, Thất diệp nhất chi hoa…  để thanh nhiệt giải độc. Sau khi đã cầm máu do xuất huyết thương âm, dùng Lục Vị Địa Hoàng Hoàn thêm Hạn liên thảo, Bạch  thược dể dưỡng âm, hoạt  huyết , mệt mỏi, hơi thở ngắn thêm Hoàng  kỳ, Tiên hạc thảo, Đại táo.

Thấp Nhiệt Ở Hạ Tiêu: Tiểu ra máu hoặc trong  nước tiểu có máu, tiểu tiện khóhoặc đau bụng dưới, đau tức, tiểu vàng, chất lưỡi đỏ  rêu lưỡi nhớt, khô, mạch Huyền.

Điều trị : Thanh lợi thấp nhiệt. Dùng bài: Long Đởm Tả Can Thang gia giảm: Long đởm thảo, Sao chi tử, Hoàng cầm, Sài hồ, Sinh địa, Xa tiền thảo, Trạch tả đều 12g, Mộ c thông, Biển súc, Cù mạch đều 10g, Hoạt thạch 20g, Bạch hoa xà thiệt  thảo, Bán chi líên, Bạch anh, Thổ phục linh đều 12g.

Gia giảm : Nôn, buồn nôn thêm Bán hạ, Xuyên hoàng liên, Tô diệp. Táo bón thêm Đại hoàng. Tiểu ra máu nhiều thêm Ích mẫu thảo, Tiểu kế, Bạch mao căn , bột Tam thất  hòa uống).

Âm Hư  Thấp Nhiệt: Bệnh  lâu ngày, mất máu, phần âm bị tổn thương, chóngmặt, tai ù, lưng gối đau mỏi, lòng bàn chân tay nóng, ra mồ hôi trộm, sốt về chiều, huyết niệu nhìều lần tái phát, lưỡi đỏ, rêu ít vàng, mạch Huyền Tế Sác.

Điều trị : Tư âm thanh nhiệt lợi thấp. Dùng bài Tri Bá Địa Hoàng Hoàn gia giảm: Sinh địa 20g, Hoài sơn l2g, Sơn thù 10g, Bạch linh, Đơn bì, Trạch tả, Tri mẫu, Hoàng bá, Xuyên ngưu tất, Tang ký sinh, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Ích mẫu thảo , Bạch mao căn đều 12g, Quy bản l6g.

Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm

+ Đại tiểu kế, Bán chi liên, Trư linh, Phục linh, Trạch tả, Xa tiền tử, Lục Nhất Tán, Tri rnẫu, Hoàng bá, Sinh địa, Bồ hoàng than, Ngẫu tiết than, Quán chúng than, Hoa hòe (Thượng Hải Trung Y Học Viện).

+ Long Xà Dương Tuyền Thang ( Học Viên Trung Y Triết Giang): Long quỳ, Bạch anh, Xà môi , Hải kim sa, Thổ phục linh, Đăng tâm thảo, Uy li nh tiên, Bạch hoa xà thiệt thảo.

+  Phức Phương Hổ Phách Thang ( Học Viên Trung Y Triết Giang): Khổ sâm, Sinh địa, Ngân hoa, Đại tiểu kế, Trạch tả, Tỳ giải, Hoàng bá, Hổ phách

+  Nhẫn đông đằng, Tiên hạc thảo, Bạch mao đằng, Hổ trượng, Bán biên liên, Bán chi liên, Phượng vĩ thảo, Xuyên luyện tử, Ô dược, Khổ sâm, Bạch  chỉ ( Học Viên Trung Y Triết Giang).

+ Long Xà Dương Tuyền Thang  (Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1982 (4) : 11): Long quỳ, Bạch anh, Thổ phục linh, Bạch hoa xà thiệt thảo đều 30g, Xà độc 15g, Hải kim sa 12g, Ddăng tâm thảo, Uy linh tiên đều 10g. Sắc uống.

TD: Trị ung thư bàng quang.

Đã trị 21 ca, có 19 ca sống hơn 5 năm (90,47% ), 2 ca chết.

+ Ngũ Linh Tán Gia Vị  (Tứ Xuyên trung Y 1989 (4) : 26): Trư linh, Phục linh, Bạch truật, Hoàng kỳ (sống) đều 15g, Trạch tả, Hải kim sa, Hải tảo đều 18g, Quế chi 10g, Địa du (sống), Dĩ mễ (sống), Bạch hoa xà thiệt thảo đều 30g. Sắc uống.

Gia giảm: Tiểu ra máu không cầm, thêm Hổ phách, Tiên hạc thảo. Tiểu đục thêm Tỳ giải, Xạ can. Tiểu ra rỉ rỉ không dứt thêm Đỗ trọng, Thỏ ty tử. Bụng dưới trướng, xệ xuống, đau thêm Huyền hồ, Hương phụ, Ô dược. Tiểu đau không chịu được thêm Thương nhĩ tử , tăng Hải kim sa lên. Di căn vào hạch lâm ba thêm Hoàng dược tử; Di căn lên phổi thêm Ngư tinh thảo, Qua lâu. Di căn vào trực trường thêm Bán chi liên, Xuyên sơn giáp. Di căn vào cổ tử cung thêm Y cát lợi, Thạch yên tử.

TD: Trị ung thư bàng quang thời kỳ cuối

Đã trị 31 ca, đã qua điều trị bằng hóa chất. Kết quả cho thấy các chứng trạng có chuyển biến tốt,  tế bào ung thư bị ức chế hoặc tiêu đi. Có 3 ca sống được 5 năm, 18 ca sống hơn 2 năm.

Bệnh Án Trị Ung Thư Bàng Quang

(Trích trong ‘Thượng Hải Trung Y Dược Tạp Chí 1982 (4)
Trương X, Nam, 40 tuổi. Bệnh viện chẩn đoán là ung thư Bàng quang, thuộc giai đoạn II. Cho dùng bài Long Xà Dương Tuyền Thang. Sau khi uống 7 thang, ăn uống thấy tốt hơn, thể trạng tăng lên, chứng đau nhói ở bàng quang tiêu mất. Uống liên tục 3 tháng, X quang kiểm tra thấy chứng ung thư đã biến mất, niêm mạc bàng quang trở lại bình thường. Theo dõi hơn một năm sau không thấy tái phát.

Nguồn y học cổ truyền

Dấu hiệu sớm của ung thư thực quản

Ung thư thực quản (UTTQ) là bệnh lý ác tính đứng hàng thứ tư sau các ung thư tiêu hóa là ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư đại trực tràng. Phần lớn các trường hợp có biểu hiện lâm sàng nghèo nàn ở giai đoạn sớm, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở thực quản và vùng hầu họng; khi biểu hiện lâm sàng rõ ràng thường đã ở giai đoạn muộn, điều trị gặp rất nhiều khó khăn. Bệnh xuất hiện ở người cao tuổi, thường trên 50 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Vì vậy, việc phát hiện sớm để điều trị hợp lý và kịp thời là rất quan trọng.

Nguyên nhân và các yếu tố thúc đẩy

UTTQ có liên quan nhiều với tuổi tác và giới, thường gặp UTTQ ở người cao tuổi, khoảng 80% bệnh nhân được chẩn đoán UTTQ ở độ tuổi 55-85. Nguy cơ nam giới mắc nhiều gấp 3 lần nữ, căn nguyên của nguy cơ này là do lạm dụng rượu và hút thuốc. Hút thuốc làm tăng rõ rệt khả năng bị ung thư và nguy cơ càng tăng lên khi phối hợp với uống rượu.

Ngoài ra còn có các nguy cơ khác như bệnh hay gặp ở người béo phì; người có bệnh lý thực quản như viêm thực quản trào ngược, bệnh tâm vị không giãn; chế độ ăn ít chất xơ và rau quả, thiếu các vitamin A, B2 và C; thói quen ăn uống thực phẩm có chứa chất nitrosamin như thịt hun khói, rau ngâm giấm…

Một số bệnh lý khác có thể làm tiền đề cho UTTQ phát triển đó là: bệnh Barrett thực quản; ung thư tị – hầu; bệnh ruột non do gluten hoặc bệnh đi ngoài phân mỡ; bệnh sừng hóa gan bàn chân.

Biểu hiện của bệnh như thế nào?

thuc-quan

Nuốt khó là triệu chứng thường gặp nhất, lúc đầu thường thấy nuốt khó nhưng không đau, về sau nuốt khó kèm theo đau, lúc đầu khó nuốt với thức ăn rắn, về sau khó nuốt với cả thức ăn lỏng thậm chí nuốt nước bọt cũng thấy khó và đau.

Chảy nước bọt thường kèm hơi thở hôi, ợ hơi và sặc.

Đau đôi khi biểu hiện dưới dạng khó chịu khi ăn. Khi ung thư lan ra xung quanh, có cảm giác đau ngực.

Gầy sút là triệu chứng quan trọng do chán ăn và khó nuốt. Do không nuốt được nên bệnh nhân có tình trạng mất nước, suy kiệt.

Thiếu máu thường là nhẹ và hay xảy ra chậm nhưng đôi khi có dấu chảy máu rõ gây thiếu máu cấp, nhất là trường hợp ung thư ăn vào động mạch chủ có thể gây chảy máu vào thực quản gây chết đột ngột.

Triệu chứng khác có thể gặp song hành với sự phát triển của khối u như cảm giác vướng, tức nặng, đau âm ỉ đè nén sau xương ức… Về sau, tùy theo ảnh hưởng của khối u tới các cơ quan lân cận có thể gặp thêm các triệu chứng khó thở, khàn giọng, ho khan, khạc đờm; đau thượng vị, buồn nôn, nôn, nấc…

Làm gì để chẩn đoán?

Chẩn đoán sớm UTTQ là vấn đề hết sức quan trọng, việc chẩn đoán sớm liên quan với việc khám sức khỏe định kỳ sàng lọc ở các đối tượng có nguy cơ cao như người cao tuổi, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, người bị béo phì, có bệnh lý thực quản từ trước như viêm trào ngược dạ dày thực quản, tình trạng dị sản, loạn sản niêm mạc thực quản. Khi có bất kể dấu hiệu nghi ngờ, bệnh nhân cần đến thầy thuốc chuyên khoa để được khám và chẩn đoán sớm. Chẩn đoán UTTQ dựa vào triệu chứng của bệnh kết hợp với chụp Xquang thực quản và các xét nghiệm khác. Nội soi kết hợp với sinh thiết, siêu âm là một biện pháp tốt để chẩn đoán sớm và chính xác UTTQ.

Xquang: Chụp nhuộm baryt thực quản cần chụp ở tư thế nằm, baryt có độ nhầy cao có thể thấy hình ảnh cứng một đoạn thực quản hoặc hình ảnh hẹp lòng thực quản, có thể thấy hình ảnh khối u choán chỗ vào lòng thực quản không đối xứng, có bờ gồ ghề không đều.

Chụp cắt lớp tỉ trọng: Giúp chẩn đoán sớm và chính xác hơn chụp nhuộm baryt nhất là thể ăn lan vào vách thực quản. Ngoài ra còn giúp phát hiện di căn vào trung thất.

Nội soi: Nội soi thực quản kèm sinh thiết là một xét nghiệm bắt buộc trong trường hợp hình ảnh nội soi hay chụp nhuộm baryt không xác định được bệnh. Nó còn giúp đánh giá được mức độ lan rộng của ung thư và bản chất học của u. Ngoài ra còn kết hợp nội soi và chải nhuộm tế bào học cho kết quả dương tính ung thư cao trên 90% trường hợp.

Siêu âm qua nội soi: Giúp chẩn đoán nhạy hơn scanner. Nó giúp tiên đoán độ sâu của khối u xâm nhập vào vách thực quản trên 80% trường hợp. Nó cũng giúp đánh giá sự xâm nhập của ung thư vào hạch bạch huyết thực quản tốt hơn scanner.

Điều trị

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, dựa vào bản chất, giai đoạn phát triển của khối u và tình trạng toàn thân để quyết định phương pháp điều trị phù hợp. Hiện nay có 3 biện pháp chủ yếu được dùng để điều trị UTTQ là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Trong đó, phẫu thuật là biện pháp điều trị chính, có thể phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng hóa chất hoặc tia xạ. Ngoài ra, cần điều trị nâng đỡ cơ thể bằng các biện pháp nuôi dưỡng phù hợp, điều trị triệu chứng, làm giảm các phản ứng phụ do điều trị hóa chất và tia xạ.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Theo sức khỏe đời sống

Bí quyết “vàng” giúp bạn phòng ngừa các bệnh ung thư

Tập thể dục thường xuyên giúp duy trì trọng lượng khỏe mạnh. Điều này góp phần tác động tích cực trong việc phòng ngừa các bệnh ung thư.

Bệnh ung thư đang ngày càng trở nên phổ biến trong cuộc sống hiện đại. Bệnh ung thư có thể gặp ở bất kì bộ phận nào trên cơ thể con người và nguyên nhân gây bệnh cũng rất phong phú. Hầu hết các bệnh ung thư đều có khả năng chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất và tốt nhất cho sức khỏe vẫn là phòng bệnh.

tap-the-duc

Có rất nhiều điều bạn cần làm hàng ngày để phòng ngừa các bệnh ung thư. Ngoài chế độ ăn uống lành mạnh, một yếu tố khác vô cùng quan trọng mà bạn không được quên nếu muốn tránh các bệnh ung thư là: có lối sống lành mạnh và thường xuyên vận động thể chất để duy trì trọng lượng khỏe mạnh.

Có nhiều bằng chứng thuyết phục đã chứng minh được rằng tập thể dục thường xuyên có tác dụng phòng bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư đại tràng và ung thư vú. Các nhà khoa học cho rằng tập thể dục cũng có thể đóng một vai trò trong việc giảm nguy cơ tuyến tiền liệt, ung thư phổi, ung thư buồng trứng, tinh hoàn và ung thư tử cung.

Theo afamily

Những bệnh ung thư chị em hay mắc phải

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

Theo Giáo sư Jeff Sisler tại Đại học Manitoba: “Tầm soát ung thư cần thiết cho bất kỳ ai, kể cả những người khỏe mạnh và không có dấu hiệu bị bệnh”. Ông đặc biệt nhấn mạnh việc tầm soát ung thư cần thiết cho cả những người khỏe mạnh, chứ không phải cho những người đã nổi hạch hay ho ra máu, bởi theo ông “đó đã là dấu hiệu chung của người bị bệnh, không cần phải kiểm tra nữa.”

Dưới đây là 5 bệnh ung thư chị em cần hết sức chú ý và đi kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm và điều trị kịp thời nếu có dấu hiệu nghi ngờ.

1. Ung thư vú

Theo Giáo sư Sisler, phụ nữ nên thực hiện tầm soát ung thư vú từ độ tuổi 50 và nên tiếp tục thực hiện 2 năm một lần. Tuy nhiên cũng có một số khuyến cáo cho rằng, bạn nên thực hiện việc tầm soát ung thư khi bạn bước vào độ tuổi 40.

Bạn có nên làm xét nghiệm kiểm tra? “Nhìn chung, với mọi loại ung thư, yếu tố nguy cơ lớn nhất là tuổi tác”, theo quan điểm của giáo sư Sisler, “yếu tố thứ hai là lịch sử gia đình. Bạn sẽ có nguy cơ mặc bệnh cao hơn nếu trong gia đình bạn có người đã bị ung thư”.  Vì vậy, nếu gia đình bạn đã có người bị ung thư vú, thì bạn nên thực hiện xét nghiệm sàng lọc ung thư vú sớm hơn.

2. Ung thư ruột kết và ung thư trực tràng

Cũng như ung thư vú, các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư ruột kết và ung thư trực tràng là tuổi tác, lịch sử gia đình và béo phì. Vì vậy bạn nên làm tầm soát ung thư ruột kết và ung thư trực tràng khi bạn 50 tuổi và nên tiếp thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

5-benh-ung-thu-chi-em-can-het-suc-chu-y

Nhưng hãy nhớ rằng, nếu gia đình bạn đã có người bị hai loại ung thư này, thì bạn nên thực nghiệm xét nghiệm sàng lọc sớm hơn vì như vậy có nghĩa là bạn có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người không có tiền sử bệnh trong gia đình.

3. Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư phổ biến thứ 10 đối với mọi phụ nữ và là ung thư phổ biến thứ 3 đối với phụ nữ từ 29- 40 tuổi. Ung thư cổ tử cung có thể dễ dàng được phát hiện qua việc xét nghiệm sàng lọc tế bào cổ tử cung (pap smear) thường xuyên.

Sàng lọc ung thư cổ tử cung nên thực hiện sớm hơn so với các loại ung thư khác. Bạn  nên bắt đầu thực hiện việc sàng lọc này từ 2-3 năm sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên và nên thực hiện hai năm một lần cho đến khi bạn 70 tuổi.

4. Ung thư phổi

Chụp cộng hưởng từ là phương pháp chính để phát hiện ung thư phổi. Nhưng đến nay, do chi phí và có một số ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe nên phương pháp này đã bị cấm.

Theo Giáo sư Sisler, hiện chưa có phương pháp tầm soát nào đối với ung thư phổi, ngay cả đối với những người nghiện thuốc lá. Vì vậy, biện pháp tốt nhất để phòng ngừa ung thư phổi là không hút thuốc lá, hạn chế tiếp xúc với các hóa chất độc hại.

Nếu bạn thấy có đồng thời có các dấu hiệu như ho, ho ra máu, viêm phế quản, viêm phổi tái diễn nhiều lần, khó thở, đau ngực, khàn giọng, khó nuốt… thì bạn nên đi khám ngay vì đó hoàn toàn có thể là những triệu chứng bất thường ở phổi, nếu không điều trị kịp thời sẽ có nguy cơ dẫn đến ung thư phổi.

Theo afamily

Có thể mắc ung thư vì dùng đũa sai cách

Hầu hết mọi người đều cho rằng, đũa không hỏng thì không cần phải thay. Nhưng thực tế, không nên sử dụng đũa quá nửa năm, nếu không sẽ dẫn tới các vấn đề sức khỏe.

Không ít người đều biết, các vật dụng như bàn chải, khăn mặt đều phải thay định kỳ, nhưng lại không hề nhận ra rằng lâu lắm rồi nhà mình chưa thay đũa ăn, việc sử dụng đũa trong vài năm là chuyện thường thấy. Nhưng dùng đũa thế nào mới là an toàn?

Đũa dùng quá lâu sẽ dẫn tới ung thư gan
su-dung-dua-khong-dung-cach-co-the-dan-toi-ung-thu
Nếu dùng đũa quá thời gian cho phép có thể sinh sản ra nhiều loại nấm mốc, nhẹ thì gây ra các bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy, ói mửa. Nặng thì bị ung thư do trong đũa mốc có sinh sản ra “aflatoxin”, chất này đã được xác nhận có thể gây ung thư gan.

Dùng đũa quá lâu khiến lượng nước trong đũa quá cao. Bởi vì đo đũa được tái sử dụng nhiều lần, rửa nước nhiều lần, rất dễ trở thành nơi cho vi khuẩn sinh trưởng và phát triển như vi khuẩn tụ cầu vàng, E.coli… Cất đũa trong tủ bếp quá lâu có thể khiến nguy cơ biến chất đũa tăng gấp 5 lần.

Tuổi thọ của đũa là 3 – 6 tháng, nếu đũa đổi màu phải thay ngay

Nhiều cuộc khảo sát cho thấy, đũa thông thường được sử dụng trong khoảng 3 – 6 tháng, màu đũa có thể chuyển sang đậm hoặc nhạt theo thời gian và tần suất sử dụng. Ngoài ra, do số lần sử dụng nhiều mà lớp sơn an toàn trên bề mặt đũa bị bong tróc. Chỉ cần đũa bị thay đổi so với lúc mua, đặc biệt là màu sắc thì phải thay ngay lập tức.

Màu sắc của đũa thay đổi cho thấy vật liệu làm ra đôi đũa chắc chắn bị thay đổi. Nhân tố gây đổi màu thường là do được sử dụng trong quá trình nấu, nước rửa chén bát và không khí, bụi bẩn tích tụ trong chạn bát gây ra. Vi khuẩn tích tụ trong thời gian dài cũng là nhân tố chính làm đổi màu đôi đũa.

Nhận biết đũa đã hết hạn sử dụng

Khi mọi người sử dụng đũa, mỗi ngày đều phải quan sát bề mặt đũa có các vết mốc hay không. Đũa tre và đũa gỗ là môi trường sống ưa thích của nấm mốc, hơn nữa chỉ cần môi trường ướt, độ ẩm đạt mức độ nhất định và chỉ cần một thời gian là có thể sinh sôi.

Nếu trên đũa tre hoặc đũa gỗ có xuất hiện các chấm đen, chứng tỏ đũa đã bị nhiễm khuẩn, không còn dùng được nữa; Đũa ẩm là do thấm nước quá lâu, đã quá thời gian sử dụng. Hãy ngửi thử, nếu có vị chua rõ rệt, chứng tỏ đũa bị nhiễm bẩn, hãy bỏ ngay lập tức.

Sấy khô đua để tránh mốc

Đa số mọi người đều dùng đũa tre hoặc gỗ, một số ít dùng đũa inox. Nhưng việc sử dụng hai tre hay gỗ khá đặc biệt, mọi người thường quen sau khi rửa sạch đũa liền cho vào ống đũa hoặc chạn bát.

Đũa không được hong khô hoàn toàn, độ ẩm cao dễ sinh ra nấm mốc, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe. Phải bảo đảm đũa được cất ở nơi khô ráo, thoáng mát, không có lợi cho nấm mốc sinh trưởng.

Hàng tuần nên luộc đũa trong nước sôi khoảng nửa giờ, phơi khô rồi mới sử dụng, như vậy mới có thể sạch khuẩn, loại bỏ vi khuẩn trong đũa một cách hiệu quả.

Đũa mới mua phải được rửa sạch trước khi dùng

Trong quá trình sản xuất và vận chuyển, đũa dễ bị nhiễm virus, vi khuẩn hay một chất hóa học nào đó. Đũa mới mua trước tiên phải rửa sạch bằng nước, luộc trong nước nóng trong nửa giờ, phơi khô rồi mới đem ra sử dụng.

Không chà xát quá mạnh khi rửa đũa

Có khá nhiều người khi rửa đũa thường rất “mạnh tay” chẳng hạn như nắm chặt đũa rồi chà xát, rồi xả dưới vòi nước. Trên thực tế làm như vậy rất dễ khiến đũa đặc biệt là lớp sơn bảo vệ an toàn bị mất đi, sinh ra nhiều rãnh nhỏ, các vết nứt, khiến vi sinh vật lưu trú ở đó.

Ống đũa phải không bị đọng nước và thường xuyên được rửa sạch, khử trùng. Không chọn các chất tẩy rửa có độ axit và kiểm mạnh để tránh lưu lại hóa chất gây hại cho cơ thể.

Ẩn họa từ đũa màu sắc

Theo các chuyên gia hoá học, người sử dụng những đôi đũa màu sắc rất dễ nhiễm độc do lớp sơn trên đũa bị phân huỷ cùng với thức ăn. Bởi vì lớp sơn màu sắc trên những đôi đua dễ bị phôi ra trong một điều kiện nhất định hay nhiệt độ nào đó, nhất là được dùng trong thực phẩm. Những loại hóa chất tạo màu hay tạo độ bóng có hại cho sức khỏe cơ thể, đặc biệt là đối với dạ dày.

Theo afamily

Các phương pháp điều trị và hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư

Cơ thể con người được hình thành từ rất nhiều tế bào. Mỗi tế bào lớn lên, sẽ phân chia thành các tế bào khác. Khi các tế bào xuất hiện quá trình phân chia không đúng quy luật, xâm lấn sang các tế bào bình thường, khối u sẽ hình thành, gây bệnh ung thư.
Nguyên nhân chủ yếu gây ra căn bệnh này đến trực tiếp từ những thói quen không tốt của con người như chế độ ăn uống nghèo nàn, thiếu dinh dưỡng (30%), uống rượu bia, hút thuốc lá (16%), môi trường sống ô nhiễm, nhiều khói bụi (12%).

Hiện nay, ung thư là một căn bệnh có tỉ lệ tử vong rất cao, y học hiện đại vẫn chưa tìm ra phương pháp điều trị đặc hiệu. Các phương pháp hỗ trợ căn bệnh hiện nay như phẫu thuật cắt bỏ khối u, kết hợp hóa trị và xạ trị vẫn là một trong những phương pháp phổ biến nhất trong điều trị ung thư trên thế giới.

cac-phuong-phap-dieu-tri-va-ho-tro-cho-benh-nhan-ung-thu

Hóa trị

Hóa trị là truyền thuốc có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư vào cơ thể người bệnh. Các loại thuốc này có khả năng ngăn cản quá trình phân chia của của các tế bào bệnh, từ đó làm giảm các tế bào ung thư mới hình thành. Một nhược điểm của phương pháp hóa trị là không chỉ nhằm vào các tế bào bệnh mà còn làm tổn thương các mô, tế bào lành như các tế bào tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột, làm hại các cơ quan khác như gan, thận, tim… Vì vậy, khi áp dụng phương pháp hóa trị, người bệnh thường xuất hiện những triệu chứng chán ăn, mệt mỏi, buồn nôn, rụng tóc, giảm sức đề kháng, rất dễ bị bệnh tật tấn công.

Xạ trị

Xạ trị là dùng tia X hoặc chiếu xạ trực tiếp một dạng năng lượng để diệt tế bào ung thư và làm teo nhỏ khối u. Xạ trị làm tổn thương hay hủy hoại các tế bào được điều trị bằng khiến chúng không thể phát triển và phân chia. Mục đích của xạ trị là làm tổn thương nhiều nhất tế bào ung thư và hạn chế thấp nhất việc làm tổn thương đối với các tế bào lành lân cận.

Dù chưa thể chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh ung thư, nhưng các phương pháp điều trị trên cũng phần nào giúp làm chậm quá trình phát triển của khối u và kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên, với người bệnh ung thư, theo được hết cả 3 quá trình điều trị trên là một việc không dễ dàng.

Yếu tố tâm lý, những đau đớn sau phẫu thuật và tác dụng phụ của liệu trình hóa trị lên cơ thể khiến bệnh nhân không ăn được, cơ thể mệt mỏi, chán nản, thêm vào đó là quan niệm ăn để nuôi khối u làm nhiều bệnh nhân tử vong trong quá trình điều trị. Theo TS Từ Ngữ – Tổng Thư ký Hội Dinh dưỡng Việt Nam, 1/3 số bệnh nhân ung thư chết vì đói và suy dinh dưỡng trước khi chết vì căn bệnh. Ngoài ra, khối u trong cơ thể còn không ngừng ngốn chất dinh dưỡng. Nếu không đủ, nó còn tấn công toàn bộ dinh dưỡng dự trữ của cơ thể, làm đẩy nhanh quá trình tiêu hao chất đạm, chất béo, đồng thời khiến cơ thể giảm hấp thu chất.

Để giúp người bệnh ung thư bổ sung dinh dưỡng trong quá trình điều trị, người bệnh nên uống bổ sung Tảo Mặt trời Spirulina Tự Nhiên và Tảo Mặt trời Spirulina Gold Plus. Đây là một loại thực phẩm chứa hơn 100 các chất dinh dưỡng khác nhau: giàu đạm thực vật, các vitamin, các chất khoáng cần thiết, hoàn toàn là dinh dưỡng tự nhiên nên người bệnh rất dễ tiêu hóa và hấp thu. Ngoài tác dụng tăng cường dinh dưỡng cho người bệnh ung thư thường khó bổ sung các chất qua bữa ăn hàng ngày, Tảo Mặt trời còn chứa hàm lượng cao các chất chống oxi hóa như Beta-caroten, phycocyanin, chlorophyll…  làm tăng bạch cầu trong máu giúp tăng cường sức đề kháng, tiêu diệt các gốc tự do – một trong các nguyên nhân gây Ung thư. Chất chống oxi hóa Phycocyanin có trong Tảo Mặt trời Spirulina giúp ổn định quá trình trao đổi chất và tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ hoạt động của gan trong các trường hợp phải điều trị bằng nhiều loại thuốc.

Hàng ngày, người bệnh có thể sử dụng 12 Tảo Mặt trời Tự Nhiên hoặc Tảo Mặt trời Gold Plus sau bữa ăn để cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, tăng cường sức đề kháng, tăng cảm giác thèm ăn và nâng cao sức khỏe tổng thể để chống chọi với bệnh tật.

Lưu ý nên uống kết hợp với tảo Mặt trời Gold Plus là loại tảo có bổ sung Vitamin C hữu cơ chiết xuất từ quả Sơ ri và kẽm để bổ sung dinh dưỡng đầy đủ nhất.

Theo afamily

Ung thư da từ những lý do không thể ngờ

Thay đổi khí hậu, tiếp xúc nhiều với ánh đèn compact hoặc thậm chí đã bôi kem chống nắng rồi mà vẫn có thể bị ung thư da. Bạn đã biết những điều này chưa?

Dưới đây là 3 lý do có thể bạn không ngờ tới cũng có thể làm bạn bị ung thư da.

1. Biến đổi khí hậu

Các nghiên cứu từ Đại học Harvard phát hiện ra rằng trái đất ấm lên cũng góp phần làm mỏng tầng ozon, một phần của tầng bình lưu, làm các tia cực tím (UV) – tác nhân gây ra ung thư da trở nên mạnh hơn. Biến đổi khí hậu làm các cơn bão ngày càng trở nên mạnh hơn, dẫn đến sự tích tụ của hơi nước trong khí quyển.

Hơi nước phản ứng với các yếu tố tự nhiên tồn tại trong không khí tạo ra những phản ứng hóa học và các chất này trong không khí nếu tiếp xúc với nhiều với da có thể gây ung thư da hoặc các bệnh ung thư khác. Tầng ozon mỏng hơn, các tia UV mỏng hơn không chỉ góp phần gây ung thư da mà còn làm tăng tỉ lệ đục thể tinh thủy.

Biết cách bảo vệ mình: Cách tốt nhất để bảo vệ da khỏi tia UV là hãy mặc áo chống nắng khi ra ngoài trời nắng, dùng kem chống nắng và đeo kính mát để bảo vệ mắt của bạn.

3-nguyen-nhan-gay-ung-thu-da-ma-ban-khong-ngo-toi

2. Ánh đèn trong văn phòng và trong nhà

Bạn nghĩ rằng bạn ở trong nhà để tránh ánh nắng mặt trời, có thể bảo vệ được bạn, nhưng điều đó hoàn toàn không phải. Một nghiên cứu trên tế bao da người của Đại học Stony Brook, New York, cho thấy các tế bào da khỏe mạnh phản ứng với ánh đèn huỳnh quang compact (CFL) tương tự như phản ứng với ánh nắng mặt trời.

Khi tiếp xúc với ánh mặt trời hay ánh đèn thì đều làm tăng các gốc tự do và gây nguy cơ ung thư, nhất là ung thư da. Điều đó có nghĩa ánh đèn huỳnh quang cũng có những mối tiềm ẩn gây ung thư da.

Biết cách bảo vệ mình: Bạn không nên ngồi quá gần ánh đèn huỳnh quang. Bạn có thể bạn dùng chụp đèn thủy tinh để giảm sự tiếp xúc của da với ánh đèn. Tốt hơn hết, bạn nên sử dụng ánh sáng tự nhiên càng nhiều càng tốt.

3. Kem chống nắng chứa vitamin A
3-nguyen-nhan-gay-ung-thu-da-ma-ban-khong-ngo-toi1
Thật trớ trêu khi có người nói rằng chính kem chống nắng giúp bạn giảm nguy cơ ung thư da khi ra trời nắng nhưng nếu không cẩn thận, kem chống nắng có thể đẩy bạn vào nguy cơ bị ung thư da. Điều này đúng với kem chống nắng có chứa vitamin A hay retinol. Vitamin A được đưa thêm vào kem chống nắng bởi nó được chứng minh rằng có thể giúp làm chậm quá trình lão hóa da.

Tuy nhiên những nghiên cứu năm 2009 và năm 2011 đã chỉ ra rằng Vitamin A có trong kem chống nắng sẽ làm tăng tốc độ phát triển của các khối u và tổn thương da, nhất là khi da tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Điều đó có nghĩa dùng kem chống nắng có chứ vitamin A khiến bạn có thể có nguy cơ ung thư da cao hơn

Biết cách bảo vệ mình: Hãy đọc các thành phần ghi trên nhãn mác của mỗi hộp kem chống nắng và hãy lựa chọn loại kem chống nắng không chứa vitamin A. Tuy nhiên, bạn vẫn nên bổ sung vitamin A hàng ngày cho cơ thể để có thể tăng cường sức khỏe một cách tốt nhất, nhưng bạn nên bổ sung theo đường ăn uống. Khi cơ thể đủ lượng vitamin A, bạn cũng có thể loại bỏ được nguy cơ ung thư da cũng như các loại ung thư khác.

Theo afamily

Những điều cần biết về ung thư tuyến nước bọt

 Ung thư tuyến nước bọt có thể bắt đầu trong bất kỳ bộ phận nào thuộc tuyến nước bọt như ở cổ, miệng hoặc cổ họng…

Tuyến nước bọt tạo nước bọt, trong đó viện trợ tiêu hóa và giữ ẩm miệng. Có 3 cặp tuyến nước bọt lớn dưới và phía sau hàm – mang tai, dưới lưỡi và dưới xương hàm dưới. Nhiều tuyến nước bọt nhỏ ở trong môi, bên trong má và cả miệng và cổ họng. Tuyến nước bọt của bệnh ung thư thường xảy ra ở các tuyến mang tai, mà chỉ là ở phía trước của tai.

Triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư tuyến nước bọt có thể bao gồm:

+ Sưng trên hoặc gần hàm hoặc ở cổ hoặc miệng.

+ Tê một phần của khuôn mặt.

+ Cơ bắp yếu ở một bên của khuôn mặt.

+ Đau dai dẳng trong khu vực của một tuyến nước bọt.

+ Khó nuốt.

+ Rắc rối khi mở miệng rộng.

nhung-nguoi-can-de-phong-ung-thu-tuyen-nuoc-bot

Nguyên nhân

Chưa rõ yếu tố gì gây ra ung thư tuyến nước bọt. Các bác sĩ biết bệnh ung thư tuyến nước bọt xảy ra khi một số tế bào trong tuyến nước bọt phát triển đột biến DNA. Các đột biến cho phép các tế bào phát triển và phân chia nhanh chóng. Các tế bào đột biến tiếp tục sống khi các tế bào khác sẽ chết. Các tế bào tích tụ thành một khối u có thể xâm nhập vào mô lân cận. Các tế bào ung thư có thể vỡ ra và lây lan (di căn) tới các vùng xa của cơ thể.

+ Người lớn tuổi: Mặc dù nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, ung thư tuyến nước bọt thường được chẩn đoán ở người lớn tuổi (từ 40 trở lên).

+ Phơi nhiễm bức xạ: Bức xạ, chẳng hạn như bức xạ được sử dụng để điều trị ung thư đầu và cổ, làm tăng nguy cơ ung thư tuyến nước bọt. Dưới bức xạ mạnh, chẳng hạn như được sử dụng trong chẩn đoán X-quang, cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến nước bọt. Nơi làm việc tiếp xúc với các chất nhất định.

Những người làm việc với các chất nhất định, chẳng hạn như các hợp kim niken và bụi silica, có thể có tăng nguy cơ ung thư tuyến nước bọt.

Theo bác sĩ Lê Minh Kỳ, u tuyến nước bọt là một nhóm bệnh quan trọng trong bệnh học khối u đầu cổ nói chung và bệnh của tuyến nước bọt nói riêng. Các khối u tuyến nước bọt chiếm vào khoảng 0,2 – 0,6% của tất cả các loại khối u và khoảng 2 – 4% khối u vùng đầu cổ. Ở Việt Nam, ước tính có khoảng 0,6 – 0,7 trường hợp u tuyến nước bọt mới mắc/100.000 dân.

U tuyến nước bọt chủ yếu gặp ở các tuyến nước bọt chính, trong đó tuyến mang tai là khoảng 70%, tuyến dưới hàm là 8%, còn lại 22% gặp ở tuyến dưới lưỡi và các tuyến nước bọt phụ. Có đến 75% u tuyến mang tai là lành tính, 50% u tuyến dưới hàm và 80% u tuyến nước bọt phụ được tìm thấy là ác tính.

Sự phân bố rải rác của các u tuyến nước bọt phụ làm khó khăn cho việc chẩn đoán, bệnh nhân thường đến khám ở giai đoạn muộn. Hơn nữa, triệu chứng của căn bệnh này khá nghèo nàn trong khi đặc điểm mô bệnh học lại đa dạng, phong phú với các tiên lượng khác nhau đòi hỏi chỉ định điều trị phù hợp.

Tại Bệnh viện Tai – Mũi – Họng Trung Ương, qua nghiên cứu hồi năm 2010 trên 65 bệnh nhân u tuyến nước bọt tới điều trị: u tuyến nước bọt phân bố ở mọi lứa tuổi, nhỏ nhất là 9 tuổi và lớn nhất là 70 tuổi, bệnh gặp nhiều ở nhóm 21 – 40 tuổi.

Khối u tuyến nước bọt lành tính thường gặp ở người trẻ trong khi các khối u ác tính thường xuất hiện ở người lớn tuổi. Nhóm tuổi thường gặp u lành là từ 21 – 60 tuổi, còn đối với u ác tính, thường gặp ở nhóm lớn hơn 40 tuổi, chiếm 8/11 trường hợp. Nữ bị ung thư nhiều hơn nam, trong 11 trường hợp thì có 9 là nữ.

Theo eva

Những thói quen có thể gây nên bệnh ung thư

Các chuyên gia chỉ ra rằng, hầu hết các căn bệnh ung thư nguy hiểm đều có nguồn gốc từ thói quen sinh hoạt thiếu khoa học.

Ăn quá nhiều thịt tăng nguy cơ mắc ung thư vú

Một nghiên cứu gần đây của Anh cho thấy, những loại thực phẩm được chế biến từ thịt có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Bởi vậy, để tránh xa căn bệnh ung thư vú, phụ nữ cần cẩn trọng trong việc chế biến và giảm lượng các thức ăn từ thịt động vật.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên nói “không” với tất cả các loại thịt. Các chuyên gia khuyên rằng mỗi ngày chỉ nên ăn 100g thịt và tốt nhất nên hầm hoặc luộc.

Ngồi quá lâu gây ung thư dạ dày
ung-thu-da-day
Tổ chức y tế thế giới chỉ ra rằng mỗi năm có hơn 2 triệu người chết do ngồi quá lâu. Tổ chức này còn dự tính, đến năm 2020, toàn thế giới sẽ có khoảng 70% bệnh tật là do ngồi quá lâu, không vận động.

Những người thường xuyên phải làm việc nhiều giờ với máy tính sẽ bị giảm năng lực hoạt động của gen miễn dịch, tăng nguy cơ gây các bệnh ung thư.

Các nhà y học Nhật Bản phát hiện ra rằng những bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến dạ dày đều có đặc điểm chung là thường xuyên ăn quá no và không vận động nhiều. Thời gian lâu dần, hoạt động của gen miễn dịch trong cơ thể sẽ trở nên chậm chạp và không hiệu quả.

Sử dụng giấy vệ sinh chất lượng kém tăng nguy cơ gây bệnh bạch cầu

Phụ nữ thường không tiết kiệm tiền mua mỹ phẩm, quần áo nhưng đôi khi lại hay ky bo trong việc mua giấy vệ sinh. Có rất nhiều phụ nữ thường lựa chọn những loại giấy rẻ tiền. Nhưng họ không hề hay biết những loại giấy này mặc dù cũng rất trắng nhưng lại gây nhiều ảnh hưởng bởi nó được sử dụng nhiều chất tẩy.

Các chuyên gia cho rằng thường xuyên sử dụng những loại giấy này sẽ tăng nguy cơ gây bệnh bạch cầu. Các loại giấy như vậy sẽ có chứa virus viêm gan và E. coli.

Nguồn vietnam+

4 cách hiệu quả ngăn ngừa ung thư vú ở phụ nữ

Ung thư vú là căn bệnh hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các bệnh ung thư của nữ giới trên thế giới. Đây được xem là bệnh đáng sợ nhất đối với phụ  nữ.

Tuy nhiên, bạn hoàn toàn có thể ngăn chặn căn bệnh này. Theo tiến sĩ Amir Farid Isahak – một nhà một chuyên gia tư vấn y tế cao cấp ở Malaysia, người tiên phong thúc đẩy các liệu pháp tự nhiên cho phụ nữ mãn kinh – mỗi phụ nữ hãy áp dụng 4 hướng dẫn sau để giảm nguy cơ bị ung thư vú.

4-cach-don-gian-ngan-chan-ung-thu-vu

1. Tầm quan trọng của ngủ đủ giấc

Một nghiên cứu gần đây trên 412 phụ nữ sau mãn inh bị ung thư vú cho thấy thiếu ngủ (6 giờ hay ít hơn 6 giờ một đêm) có liên quan đến việc dễ bị ung thư vú hơn và nguy cơ tái phát cao. Kết luận là một giấc ngủ đầy đủ (hơn 6 giờ mỗi ngày) được tiên lượng tốt hơn với bệnh ung thư.

Kết quả này chỉ nghiên cứu trên phụ nữ mãn kinh, các chuyên gia vẫn cho rằng nó có tầm quan trọng với tất cả phụ nữ và kể cả để phòng chống các bệnh ung thư khác. Các chuyên gia kết luận: “Tăng thời gian và cải thiện chất lượng giấc ngủ có thể là con đường đúng để giảm nguy cơ phát triển cũng như tái phát ung thư vú”.

Trong năm 2010, Cơ quan nghiên cứu quốc tế về Ung thư (IARC) đã kết luận nhịp sinh học bị xáo trộn có thể làm tăng ung thư vú. Nhịp sinh học quyết định sự tỉnh táo và giấc ngủ của chúng ta, kiểm soát nhiều chức năng sinh học và nó dễ bị xáo trộn ở những người làm việc ban đêm hay làm việc không thường xuyên.

Một nghiên cứu khảo sát trên 3.000 phụ nữ ở Pháp từ năm 2005 đến 2008 đã chỉ ra phụ nữ làm việc về đêm có khả năng bị ung thư vú cao gấp 30% so với chị em chưa từng làm việc vào ban đêm. Tỷ lệ này còn cao hơn ở những phụ nữ có thời gian làm đêm trên 4 năm hoặc thường xuyên làm đêm cỡ 3 ngày mỗi tuần, bởi vì điều này sẽ đẫn đến nhịp sinh học giữa đêm và ngày thường xuyên bị rối loạn.

Giấc ngủ không đủ còn là nguy cơ gây béo phì, tiểu đường và bệnh tim. Đây là thời gian mà cơ thể nghỉ ngơi, phục hồi sau một ngày làm việc bận rộn. Cho nên hãy cố ngủ hơn 6 tiếng mỗi ngày.

2. Kiểm soát cân nặng

Một nghiên cứu cho rằng những phụ nữ thừa cân hoặc béo phì dương tính với ung thư vú có nguy cơ tái phát cao ngay cả khi họ được điều trị ung thư tốt nhất. Nghiên cứu được American Cancer Society thực hiện ở Mỹ, chỉ ra béo phì có liên quan đến khoảng 30 % nguy cơ tái phát và gần 50% nguy cơ tử vong dù nhận được phương pháp điều trị ung thư tốt nhất.

Theo chuyên gia Amir Farid Isahak , ung thư vú là bệnh thường gặp ở phụ nữ lớn tuổi, nhưng không hẳn đến độ tuổi mãn kinh mới sợ mà cần phòng ngừa thừa cân ngay từ khi còn trẻ. Lời khuyên là phụ nữ nên duy trì trọng lượng bình thường ngay khi còn nhỏ để giảm nguy cơ ung thư vú, cũng như để cải thiện chất lượng cuộc sống.

3. Tập thể dục đầy đủ

Một nghiên cứu trên 3.000 phụ nữ (từ 20 đến 98 tuổi) tập thể dục ít nhất 10 tiếng mỗi tuần cho thấy đã giảm khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Phụ nữ mãn kinh là đối tượng được giảm nhiều nhất. Một nghiên cứu khác chỉ ra giảm cân bằng phương pháp tập thể dục có tác dụng hơn nữa với ung thư vú. Tăng cân có thể vô hiệu hóa một số lợi ích thu được từ tập thể dục.

Tiến sĩ Amir Farid Isahak đã chứng minh một người đang thừa cân hoặc béo phì, nếu giảm được 5 kg trọng lượng thì có thể giúp giảm huyết áp, cholesterol và cũng có thể giảm nguy cơ phát triển bệnh tim, bệnh tiểu đường loại 2 đột quỵ và viêm xương khớp. Chưa thể khẳng định giảm được ung thư vú nhưng nó sẽ có nguy cơ thấp hơn so với người không giảm được kg nào.

4. Chế độ ăn nhiều rau củ quả

Có những nghiên cứu đã chỉ ra chế độ ăn nhiều thịt đỏ và chất béo tăng nguy cơ cao huyết áp, đột quỵ và một số bệnh ung thư (chưa chứng minh được tăng ung thư vú). Một nghiên cứu ở Mỹ lại kết luận chất béo không làm tăng cũng không làm giảm nguy cơ bị ung thư vú. Song các chuyên gia vẫn khuyên con người nên có chế độ ăn lành mạnh là rau củ quả, hạn chế chất béo và thịt đỏ để giảm nguy cơ bị ung thư.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy phụ nữ bị ung thư vú giai đoạn đầu mà bị thiếu vitamin D có nhiều khả năng có tái phát hơn.

Theo VnExpress/SKDS

Trẻ có thể mắc ung thư nếu bị đánh đập thường xuyên

Bị đánh đập thường xuyên có thể khiến trẻ tăng nguy cơ mắc ung thư, bệnh tim và hen suyễn.

Nhóm nghiên cứu từ ĐH Plymouth cho biết sự căng thẳng gây ra bởi sự đánh đập hoặc la hét trong thời thơ ấu của một đứa trẻ có thể dẫn đến những thay đổi sinh học gây bệnh.

Các nghiên cứu khác cũng cho rằng những tổn thương nghiêm trọng trong thời thơ ấu như lạm dụng thể xác hoặc tình dục có thể tăng nguy cơ bị bệnh mãn tính sau này.
tre-co-the-mac-ung-thu-neu-bi-danh-dap-thuong-xuyen
Tuy nhiên các chuyên gia cho rằng rất khó để loại trừ các yếu tố khác như nghèo đói và sự cô lập xã hội, có thể gây ra bệnh tật sau này.

Nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn 250 người lớn khỏe mạnh ở Ả-rập Xê-út về thời thơ ấu của mình và so sánh câu trả lời với 150 người lớn bị bệnh tim, 150 người bị các bệnh ung thư và 150 bị bệnh hen suyễn.

Họ được hỏi có bị đánh đập và lạm dụng ở thời thơ ấu hay không, và nếu có thì trong thời gian bao lâu?

Những người mắc bệnh ung thư bị đánh đập nhiều hơn so với nhóm người khỏe mạnh là 70%, những người bị bệnh tim là 30% và những người bị bệnh hen suyễn là 60% .

Giáo sư Michael Hyland, từ Trường Đại học Tâm lý, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: “Trẻ em nếu hay bị căng thẳng, chấn thương và bị lạm dụng thì sẽ dễ dẫn đến nhiều bệnh tật về sau.”

Ở Anh, nếu đánh một đứa trẻ mà để lại sẹo thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và có thể bị phạt tù 5 năm.

Tiến sĩ Andrea Danese, tại đại học King London, cho biết: “Nghiên cứu này bổ sung cho các nghiên cứu về cơ thể đang phát triển về mối liên quan giữa việc bị ngược đãi thời thơ ấu với bệnh tật sau này. Đánh đập con cái không chỉ ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh tâm thần mà còn các bệnh nguy hiểm khác như bệnh hen suyễn, ung thư và bệnh tim.”

Điều này có thể có ý nghĩa lớn đối với chúng ta, hiểu rõ nguồn gốc của bệnh tật để phòng chống dịch bệnh.

Tuy nhiên khảo sát có thể bị sai lệch hoặc phóng đại vì người bệnh thường muốn kể về những điều không hạnh phúc trong tuổi thơ.

“Hiểu được việc đánh đập con cái là ảnh hưởng đến sức khỏe thì rất quan trọng. nếu chúng ta hiểu những thay đổi sinh học và thay đổi các hành vi ngược đãi trẻ em, chúng tôi có thể ngăn chặn các quá trình bị bệnh trước khi chúng khởi phát những triệu chứng lâm sàng”.

Những phát hiện này đã được công bố trên Tạp chí Y học hành vi.

Nguồn st

Phòng bệnh phụ nữ hiện đại mắc phải

 Loãng xương, ung thư vú, ung thư buồng trứng… là những bệnh điển hình mà phụ nữ hiện nay dễ mắc phải, cần phải phòng ngừa.
Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Khi bị loãng xương, nguy cơ gẫy xương hông, xương đùi, xương cẳng chân và sự chịu đựng đau đớn có nguy cơ xảy ra. Nghiêm trọng hơn, loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu can xi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, sử dụng thuốc có chứa chất steroid, phụ nữ uống rượu mạnh… cũng gây loãng xương.

phu-nu-hien-dai-don-gian

Ung thư vú

Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Ung thư vú là loại ung thư tế bào ác tính ở các mô của vú. Hầu hết phụ nữ đều phát hiện bệnh khi sờ nắn thấy có khối u ở ngực. Tuy nhiên, không phải tất cả các khối u ở vú đều ác tính mà có những khối u lành tính, có thể giữ nguyên hoặc phẫu thuật cắt bỏ là được.

Ung thư vú có thể do gene di truyền. Những phụ nữ có mẹ, chị hay em gái mắc bệnh đều có nguy cơ ung thư vú cao hơn những người mà gia đình không có người mắc bệnh. Phương pháp phòng bệnh là thực hiện lối sống lành mạnh cùng với chế độ ăn uống giảm chất béo. Đặc biệt, hàng năm chị em nên kiểm tra khám vú định kỳ để kịp thời phát hiện khối u khi còn nhỏ, sau đó tiến hành phẫu thuật cắt bỏ sẽ kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đối kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú.

Ung thư buồng trứng

Đa phần phụ nữ bị ung thư buồng trứng nhưng không biết mình mắc bệnh. Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí của Hiệp hội Sức khỏe Mỹ cho thấy, có đến 72% phụ nữ bị ung thư buồng trứng được phát hiện ở giai đoạn muộn và có khoảng 28% phụ nữ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và tiến hành điều trị nên kéo dài cuộc sống từ 5 đến 10 năm. Nếu bệnh được phát hiện vào giai đoạn cuối tỷ lệ sống 5 năm giảm xuống chỉ còn 20%.

Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, nguy cơ ung thư buồng trứng sẽ giảm xuống sau khi phụ nữ đã sinh con.

Bệnh tim

Bệnh tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở phụ nữ nhiều hơn cả bệnh ung thư. Nguyên nhân dẫn đến các bệnh về tim mạch thường là do chứng stress, do lượng cholesterol trong máu tăng cao, do mắc bệnh tiểu đường, do huyết áp cao. Những phụ nữ bị thừa cân béo phì, phụ nữ hút thuốc lá và uống rượu cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh về tim mạch.

Phòng ngừa bệnh tim mạch bằng cách giữ cho huyết áp ổn định, tránh thừa cân và béo phì, thường xuyên rèn luyện thân thể bằng cách tập thể dục, lao động chân tay đồng thời có lối sống lành mạnh. Ngoài ra, trong cuộc sống gấp gáp và bận rộn ngày nay, tỷ lệ phụ nữ lao động trí óc mắc bệnh đột quị và chứng stress cũng ngày càng tăng cao.

Thoái hóa võng mạc ngoại vi ở phụ nữ mang thai

Có thể gây bong võng mạc ở bệnh nhân cận thị nói chung, và phụ nữ mang thai cận thị nói riêng thường xảy ra. Bong võng mạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù và là một trong những bệnh lý phức tạp nhất trong ngành nhãn khoa.

Ở bệnh nhân cận thị, do trục nhãn cầu bị kéo dài nhiều năm, võng mạc bị dãn mỏng và thoái hóa, đặc biệt là vùng ngoại vi. Do đó võng mạc trở nên yếu ớt trước những tác động cơ học . Một trong những tác động đó chính là quá trình sinh nở của người phụ nữ. Quá trình này làm tăng nguy cơ bong võng mạc ở sản phụ cận thị lên nhiều lần. Nếu những tổn thương võng mạc được phát hiện sớm, bệnh nhân chỉ cần trải qua một lần điều trị gia cố võng mạc bằng la-de trong thời gian 15 phút, không đau, không chảy máu, giúp ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ bong võng mạc và bệnh nhân xuất viện ngay sau khi việc điều trị kết thúc.

Theo Thế giới phụ nữ

Liều thuốc mới trị bệnh gout và chống ung thư với dâu tây

Câu chuyện sức khỏe tuần này là dâu tây có thể giúp người bệnh chống lại bệnh ung thư và là phương thuốc điều trị gút mới đầu tiên hơn 40 năm nay.

Hiểm họa ung thư? Nghiên cứu trên chuột cho thấy dâu tây có thể ngăn chặn tế bào ung thư phát triển.

Dâu tây: Vũ khí mới nhất chống lại bệnh ung thư.

lieu_thuoc_moi_tri_benh_gout_va_chong_ung_thu_voi_dau_tay

Dâu tây và những loại quả mọng khác đang được dùng để chống lại bệnh ung thư phổi ở phụ nữ.

Các chuyên gia tiến hành thí nghiệm trên loài chuột đã nhận thấy dâu tây ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư.

Ở Mỹ, người ta đang tiến hành thử nghiệm trên người xem những lợi ích có tương tự như loài chuột mà dâu tây mang đến cho người hay không?

Bệnh nhân được cho dùng viên thuốc với liều 40g gồm: dâu tây, quả mâm xôi, dâu xanh…

Nguời ta cho rằng, những tác dụng chống ung thư là nhờ có acid ellagic, là hợp chất tham gia điều chỉnh lượng estrogen (estrogen có liên quan đến sự phát triển của bệnh ung thư).

Trong cuộc thử nghiệm với nhóm những người Canada, các nhà nghiên cứu đang xét xem có phải dâu tây có chứa lượng cholesterol xấu thấp hơn không. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Dâu tây có chứa chất chống oxy hóa thông minh, có thể làm giảm nguy cơ của những căn bệnh kinh niên”.

Viên thuốc trị gút mới có tác dụng làm giảm triệu chứng của bệnh.

Liều thuốc mới trị gút lần đầu tiên hơn 40 năm qua sẽ được bán ra thị trường từ đầu năm tới.

Sự đau đớn: bệnh gút là do acid uric tạo thành các tinh thể trong mô cơ thể gây viêm gút và thường xảy ra ở nam giới. Viên thuốc được xem như là một Febuxostat, khả năng ức chế được xanthin oxidase mới như purin mang tính chọn lọc và như là một Allopurinol, với khả năng giảm được nồng độ urat huyết thanh.

Gần đây hàng triệu người Anh bị mắc bệnh gút, một loại của viêm khớp.

Bệnh gút là do acid uric tạo thành các tinh thể trong mô cơ thể gây viêm gút, là sản phẩm giáng hóa của purin trong thức ăn là hợp chất được tìm thấy trong các loại thịt và hải sản; trong các sản phẩm có chứa cồn như bia, rượu vang đỏ, bia nâu nặng….

Đây là nguyên nhân của sự đau đớn và sưng tấy. Tỉ lệ nam giới bị gút cao hơn phụ nữ vì mức acid uric tự nhiên của nam giới cao hơn phụ nữ.

Uống một viên thuốc này mỗi ngày làm giảm nồng độ acid uric máu, ức chế enzyme xanthinoxidase, là enzyme cò vai trò chuyển các tiền chất hypoxanthin và xanthin thành acid uric.

Theo SKĐS/ Theo The Health Care