Tag Archives: bệnh ung thư vú

Liệu pháp châm cứu cho người bị ung thư vú

Theo một nghiên cứu của Anh, châm cứu có thể giúp làm giảm bớt mệt mỏi ở những phụ nữ bị ung thư vú cũng như làm giảm trạng thái lo âu, trầm cảm và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Ung thư và các phương pháp điều trị căn bệnh này có thể gây ra đau đớn kéo dài, căng thẳng thần kinh và thiếu máu, tất cả đều góp phần dẫn đến tình trạng mệt mỏi. Ngoài ra, những người bị nôn sau hóa trị có thể không có được bữa ăn đầu đủ dinh dưỡng nhất để duy trì các mức năng lượng cần thiết.

cham-cuu

Theo Reuters ngày 30/10, trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Ung thư học lâm sàng của Mỹ, ông Alexander Molassiotis tại Đại học Manchester cùng các đồng nghiệp đã theo dõi 227 phụ nữ mắc chứng mệt mỏi vừa phải và nghiêm trọng liên quan đến ung thư được châm cứu sáu lần/tuần, và 75 phụ nữ mệt mỏi khác không châm cứu.

Kết quả là sau sáu tuần, sự mệt mỏi nói chung đã giảm gần bốn điểm trên thang 0-20 ở những phụ nữ được châm cứu, so với mức giảm chỉ một điểm ở nhóm kia.

Trong nghiên cứu, ông Molassiotis và các đồng nghiệp nhấn mạnh: “Châm cứu là biện pháp can thiệp hiệu quả để kiểm soát triệu chứng mệt mỏi liên quan đến hóa trị và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân”. Sự cải thiện này chỉ ở mức độ “nhẹ và vừa phải” không đủ để giúp bệnh nhân liệt giường đứng dậy đi lại, nhưng có thể đủ để giúp những người quá mệt mỏi luyện tập và bắt đầu tham gia một số hoạt động.

Mức độ lo âu và trầm cảm, được đo trên thang điểm từ 0-21, cũng giảm thêm hai điểm nữa trong khoảng thời gian sau châm cứu. Ngoài ra, mức độ khỏe mạnh về thể chất và tinh thần cũng được cải thiện nhờ liệu pháp châm cứu.

Theo một bài báo đăng cùng nghiên cứu trên, nhà tâm lý học Julienne Bower tại Đại học California, Los Angeles (Mỹ) cho biết gần 1/3 số bệnh nhân ung thư bị mệt mỏi triền miên và tình trạng này có thể kéo dài nhiều năm sau điều trị. Các bác sỹ thường khuyến khích bệnh nhân vận động vừa phải và giao tiếp để cải thiện mức năng lượng trong cơ thể họ.

Theo Vietnam+

U tuyến sợi vú

U tuyến sợi vú hay gặp ở phụ nữ trẻ, trong vòng 20 sau tuổi dậy thì (thường là từ 18 – 40 tuổi). Tuy nhiên, u tuyến sợi vú cũng có thể gặp ít hơn ở phụ nữ sau mãn kinh và thường ở những phụ nữ sử dụng đều đặn nội tiết tố thay thế hoặc Estrogen đơn thuần nếu đã cắt tử cung.

Nguyên nhân của bệnh

10 – 15% bệnh nhân có nhiều u tuyến sợi ở một hoặc cả hai bên vú.- Sai lệch trong quá trình hình thành mô đệm có thể gây ra sự phát triển quá mức của tuyến vú hoặc sự phì đại ở tuổi thiếu niên. Tương tự như vậy, một sự sai lệch trong quá trình hình thành tiểu thùy trong những năm đầu của lứa tuổi sinh sản có thể tạo ra u tuyến sợi vú, gây ra bệnh lý với sự hình thành của nhiều thương tổn hoặc thương tổn khổng lồ.- Các khối u đặc, nhạy cảm với nội tiết tố nhất là Estrogen, có nguồn gốc từ các cấu trúc cơ thượng mô nằm lân cận các ống sữa bên ngoài các tiểu thùy. Khối u bành trướng một cách đơn giản vào các mô chung quanh, đẩy những mô này sang một bên mà không xâm lấn chúng.

u-tuyen-soi-vu

Dấu hiệu lâm sàng

U tuyến sợi vú điển hình tròn hoặc phân thùy, hình dạng dài, giới hạn rõ, mật độ chắc, đường kính khoảng 1 – 5cm, di động tương đối nên có thể dịch chuyển đôi chút khi ấn lên vùng da lân cận.Khối u thường được phát hiện tình cờ. Nhưng cũng có trường hợp sau mổ cắt bỏ khối u tuyến sợi vài tháng hoặc vài năm lại phát hiện khối u ở ngay vú đó hoặc vú khác.

Bệnh nhân có thể có vài khối u lớn nhỏ khác nhau ở một vú, cũng có khi ở cả hai vú. Thường không đau nhưng khi tới kỳ kinh, bệnh nhân có thể thấy hơi đau hoặc thấy khối u hơi lớn lên. U tuyến sợi vú thường đáp ứng với những sự thay đổi của hormone và có xu hướng lớn lên khi phụ nữ mang thai và nhỏ lại sau thời kỳ mãn kinh.

Chẩn đoán

Ở những bệnh nhân trẻ, chẩn đoán dựa trên những dấu hiệu trên thường không khó. Ở những phụ nữ trên 30 – 35 tuổi, cần thêm các xét nghiệm để hổ trợ trong việc chẩn đoán phân biệt với u bọc sợi và carcinoma vú.

Siêu âm

Khối tròn hay phân thùy với bờ trơn láng và phản âm bên trong kém hoặc trung bình. Mẫu hình phản âm đồng nhất và sự truyền âm gia tăng hoặc không xác định được.

Nhũ ảnh

u-tuyen-soi-vu1

Giống như u bọc dịch, u tuyến sợi vú là những khối tròn, giới hạn rõ với độ cản quang đồng nhất, có dấu hiệu “hào quang” bao quanh khối cản quang. Những calci hoá lớn (hình dạng giống bắp rang) có thể hiện diện trên hình ảnh của u tuyến sợi vú. Tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ Chất chọc hút của u tuyến sợi vú cho thấy tế bào cơ thượng mô và các tế bào ống kết dính phân nhánh hình gạc hươu.

Mô học

U tuyến sợi vú là những khối u có vỏ bọc được bao quanh bởi mô liên kết. Chúng thường phân thùy và có thành phần chủ yếu là trung mô/mô đệm. Bất thường tế bào khu trú tại u tuyến sợi không đưa đến nguy cơ phát triển carcinoma vú trong tương lai cao hơn u tuyến sợi đơn thuần không kèm bất thường tế bào.

Xử trí

– Đối với phụ nữ dưới 35 tuổi: Chẩn đoán thường dễ dàng khi dựa trên những dấu hiệu lâm sàng nhưng có thể xác định bằng một thủ thuật xâm hại tối thiểu như chọc hút bằng kim cho thấy các hình ảnh đặc trưng. Ngoài ra, siêu âm giúp có thêm bằng chứng về u tuyến sợi lành tính.Những phụ nữ 25 tuổi thường không có chỉ định chụp nhũ ảnh. Nếu các u tuyến sợi này nhỏ và không phát triển đáng kể, có thể theo dõi một cách cẩn thận các thương tổn này qua siêu âm, diễn tiến trên lâm sàng và tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ mà không cần phẫu thuật xâm hại để cắt bỏ khối u.

Chỉ định phẫu thuật nếu bệnh nhân trên 30 tuổi, u tuyến sợi vú to ra hoặc u tuyến sợi vú có tế bào học không điển hình.Khối u tuyến phát triển nhanh hoặc thương tổn lớn ở các vú có kích thước nhỏ thì theo phương diện thẩm mỹ, cần được cắt bỏ sớm.

– Đối với phụ nữ trên 35 tuổi:

Cần phải phân biệt với bệnh lý u bọc và carcinoma vú ở phụ nữ trên 35 tuổi. Những carcinoma đa bào đặc đôi khi giống như u tuyến sợi do đó nên lấy đi những khối u mới xuất hiện bất kể loại nào ở phụ nữ sau lứa tuổi 30 – 35, ngay cả khi chúng trông có vẻ lành tính.Nếu bệnh nhân tha thiết muốn được điều trị bảo tồn thì nên sinh thiết lõi để có một đánh giá xác định về mô học.

Ở bệnh nhân lớn tuổi nếu lấy đi các khối u nghi ngờ là u tuyến sợi, sẽ khám phá được 2% ác tính ở khối u hoặc vùng lân cận.

Nguồn thầy thuốc

Ngừa ung thư vú bằng cách ăn đậu nành

Đó là khẳng định của một nghiên cứu thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ được trình bày tại một hội nghị ở Boston trong tuần qua.

Tiến sĩ Larissa Korde và các cộng sự đã phỏng vấn 597 phụ nữ Mỹ gốc châu Á mắc bệnh ung thư vú và 966 phụ nữ khác không mắc bệnh nhằm thu thập những thông tin về chế độ ăn và lối sống trước đây của những người này. Các nhà nghiên cứu đã đặc biệt tìm hiểu về việc tiêu thụ đậu nành của các phụ nữ này trong 3 giai đoạn là thời thơ ấu, tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành.

dau-hu

Kết quả là tác dụng của đậu nành càng rõ rệt khi được ăn thường xuyên từ nhỏ. Các phép tính cho thấy các phụ nữ ăn nhiều đậu nành nhất trong thời gian từ 5 đến 11 tuổi có nguy cơ phát triển bệnh ung thư thấp hơn 58% so với các phụ nữ ăn ít nhất. Nguy cơ này chỉ giảm 25% ở các phụ nữ ăn nhiều đậu nành trong tuổi vị thành niên hay trưởng thành.

Theo Tiến sĩ Karissa, đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá tác động của việc tiêu thụ đậu nành trong thời thơ ấu đối với nguy cơ ung thư vú. Tác động bảo vệ này có thể do sự có mặt của những chất isoflavon trong đậu nành có khả năng làm cho mô vú giảm nhạy cảm với các chất gây ung thư.

Theo Santé

Những điều đơn giản nhưng phòng ngừa ung thư vú hiệu quả

Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ và là bệnh gây ra nguy cơ tử vong cao nhất trong số các bệnh ung thư. Để phòng bệnh ung thư vú, chị em nên thực hiện những điều đơn giản sau đây.

1 Làm việc nhà

Các chuyên gia cho rằng vận động thường xuyên là một trong những cách giúp giảm nguy cơ ung thư vú cho chị em phụ nữ. Hình thức vận động đơn giản nhất là tập thể dục hoặc làm việc nhà mỗi ngày. Vận động làm giảm số lượng các tế bào mỡ. Các tế bào này có nhiệm vụ sản sinh các kích thích tố như estrogen, testosterone và được cho là có tác dụng kích thích phát triển khối u. Vì vậy, nếu chăm chỉ vận động để giảm tế bào mỡ thì nguy cơ phát triển các khối u cũng giảm đi. Chị em phụ nữ nên dành 30 phút mỗi ngày cho những hoạt động thể chất vừa phải, ví dụ như dọn dẹp nhà cửa. Điều này sẽ giảm nguy cơ ung thư vú ít nhất 20%. Vì vậy, làm việc nhà là cách khá hiệu quả để bạn có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú cho mình.

ung-thu-vu

2 Cho con bú

Một nghiên cứu mới đây của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Thế giới cho biết những phụ nữ cho con bú trong vòng một năm, không cần kéo dài liên tục, có thể giảm 5% nguy cơ ung thư vú so với những phụ nữ không cho con bú. Với những phụ nữ cho con bú càng lâu, thì nguy cơ mắc bệnh càng thấp. Các chuyên gia sức khỏe cho rằng cho con bú làm giảm mức độ của kích thích tố liên quan đến bệnh ung thư trong máu của người mẹ. Khi dừng việc cho con bú, cơ thể sẽ loại bỏ các tế bào bị hư hỏng có thể chuyển biến thành ung thư.

3 Uống ít rượu

Thường xuyên tiêu thụ các chất kích thích sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú, và tất nhiên bạn uống càng nhiều thì nguy cơ mắc bệnh càng cao. Đó là do rượu can thiệp vào sự chuyển hóa estrogen và tác động theo nhiều cách, ảnh hưởng đến nồng độ hormone và thụ thể estrogen. Lượng rượu bạn tiêu thụ có mối liên hệ tỉ lệ nghịch với folate (axit folic hay còn gọi là vitamin B9), mà folate lại có tác dụng ngăn ngừa các tế bào ung thư. Vì vậy, lượng rượu bạn tiêu thụ càng tăng thì hiệu quả của folate càng giảm, nguy cơ ung thư vú càng cao. Nếu là người thích uống rượu, bạn hãy cố gắng tìm cách giảm dần, từ uống ít đến không uống để tránh bị bệnh.

4 Hạn chế làm việc ca đêm

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch cho rằng: những phụ nữ làm việc mỗi tuần 3 ca đêm trong 6 năm có khả năng bị bệnh ung thư vú gấp hai lần so với những phụ nữ không làm việc ca đêm. Tuy nhiên, kết luận này cần được nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu Đan Mạch cũng cho rằng: làm việc buổi đêm sẽ không tốt cho sức khỏe vì nó khiến bạn có thể ăn uống kém, hoạt động không điều độ – đó có thể là nguyên nhân dẫn đến rối loạn hormone, thay đổi sự cân bằng của estrogen, từ đó dẫn đến bệnh ung thư vú – chứ không phải bản thân công việc. Vì vậy, nếu không nhất thiết phải làm ca đêm thì chị em cũng nên hạn chế làm việc đêm và thức khuya.

5 Tránh sử dụng các hóa chất không tốt cho sức khỏe

Không sử dụng thực phẩm đóng hộp, không sử dụng đồ uống, thức ăn trong các hộp nhựa để quay trong lò vi sóng, vì chúng chứa các chất hóa học hoạt động giống như oestrogen, làm tăng nguy cơ ung thư vú. Thịt nướng, thịt chiên ở nhiệt độ cao sẽ kích hoạt việc sản xuất ra acrylamide – cũng là chất làm tăng nguy cơ ung thư vú. Vì thế, bạn hãy nấu các món ăn ở dạng luộc, hấp… thay cho rán, nướng và không nên dùng các chất bảo quản thực phẩm là tốt nhất.

6 Tiếp xúc với ánh mặt trời

Ánh sáng mặt trời là cách tốt nhất để tăng cường vitamin D cho cơ thể, giúp giảm nguy cơ ung thư vú. Các kiểm tra trong phòng thí nghiệm cho biết: các tế bào vú có thể chuyển đổi Vitamin D để một hoocmon có chứa các đặc tính chống ung thư. Tuy nhiên, khi phơi nắng bạn cần biết cách phơi nắng đúng cách, bởi điều này lại liên quan tới nguy cơ phát triển ung thư da khi da tiếp xúc quá lâu với ánh nắng mặt trời, đặc biệt là trong điều kiện ánh mặt trời gay gắt.

Nguồn sức khẻo

Những dấu hiệu không phải ung thư vú

Hầu hết phụ nữ đều có nỗi lo tiềm ẩn về bệnh ung thư vú, nhất là khi nhận thấy một vài thay đổi bất thường. Trước khi đi kiểm tra, hãy nắm chắc kiến thức về một số biểu hiện lành tính, mặc dù có thể khiến mọi người lo lắng nhưng dễ nhầm lẫn là dấu hiệu ung thư.

U nang: Phát hiện ra một khối u vùng ngực ai cũng sợ, nhưng nhiều cục u đơn giản là u nang, hoàn toàn lành tính và tương đối dễ điều trị. Là túi chứa chất lỏng có kích thước từ vài milimét đến một quả bóng golf, u nang có liên quan đến việc mở rộng các ống dẫn sữa và phổ biến nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 30 – 40. Chúng có thể gây đau, nhất là quanh kỳ kinh. Để đánh giá chính xác đòi hỏi phải siêu âm, quan trọng là u nang không liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú, cũng không biến thành ung thư vú.

Nóng phát ban. Các chuyên gia da liễu cho biết, phụ nữ có bộ ngực lớn, đặc biệt là những người tránh né mặc áo ngực rất dễ bị nóng phát ban. Điều này tạo điều kiện cho nhiễm trùng nấm men, bởi nấm men phát triển mạnh trong môi trường ẩm. Phát ban do nhiệt sẽ làm cho vùng da có màu đỏ, đôi khi một chút có vảy, có thể gây đau hoặc ngứa. Điều trị thường liên quan đến thuốc bột kháng nấm, đặc biệt luôn giữ khu vực này sạch, khô và mặc một chiếc áo ngực bằng vải cotton để da thoáng thở hơn.
ung-thu-chuan-xac
Núm vú ngứa: Ngứa núm vú có thể xảy ra đối với cả nam và nữ giới, do một số nguyên nhân như dị ứng (do bột giặt quần áo, hoặc thành phần hóa chất có trong áo lót), do eczema, thời kỳ mang thai và cho con bú.  Lưu ý là hãy đi gặp bác sĩ nếu cảm giác khó chịu kéo dài, nhất là hiện tượng chỉ xảy ra ở một bên chứ không phải cả đôi.

Viêm vú: Vừa bắt đầu cho con bú, nhiều bà mẹ thấy ngực sưng, đỏ và đau khi chạm vào, cùng với đó là hiện tượng sốt, người ớn lạnh. Đó là dấu hiệu nhiễm trùng các mô vú, hay còn gọi là viêm vú. Tình trạng này là do tắc tuyến sữa hoặc vi khuẩn xâm nhập vào ống dẫn, thường xảy ra trong 3 tháng đầu sau sinh nhưng cũng có thể là sau khoảng thời gian đó đối với những bà mẹ không cho con bú thường xuyên. Cùng với điều chỉnh việc cho con bú, bà mẹ có thể phải uống kháng sinh hoặc phẫu thuật loại bỏ áp-xe.

Tự ra sữa. Hiện tượng đột nhiên có sữa trong khi người phụ nữ không mang thai hay vừa sinh con tên khoa học gọi là galactorrhea. Tình trạng này còn có thể xảy ra ở nam giới và trẻ sơ sinh, nhưng nhìn chung không quá nghiêm trọng, bởi nguyên nhân là sự kích thích quá mức của tuyến vú, do ảnh hưởng của thuốc hay rối loạn về tuyến giáp, tuyến yên. Chỉ nên lo lắng khi thấy chất dịch tiết ra có máu.

Ngực không đều: Một thống kê khá bất ngờ là khoảng 25% ngực của phụ nữ có sự bất đối xứng, mặc dù đôi khi sự khác biệt là không đáng kể. Tình trạng bẩm sinh đã không đồng đều là phổ biến hơn cả. Nhiều phụ nữ cảm thấy mặc cảm nên khắc phục tình trạng này bằng một miếng đệm hoặc phẫu thuật thẩm mỹ. Đi kiểm tra cụ thể nếu nhận thấy sự thay đổi đột ngột trong kích thước hay vẻ bề ngoài của một trong hai bên ngực.

Vú phụ: Một số phụ nữ phàn nàn về kích thước bộ ngực hoặc số lượng vú nhiều hơn bình thường. Theo một báo cáo năm 2007 của Hiệp hội Bác sỹ phẫu thuật Mỹ, Polymastia (hay còn gọi là vú phụ hoặc vú dư) là một bệnh lành tính ảnh hưởng đến 6% dân số, cả nam và nữ. Thường bị chẩn đoán nhầm là u mỡ, thực chất vú phụ là một dị tật bẩm sinh nhỏ, gồm có núm vú hoặc mô có liên quan, hay có ở trên ngực dọc theo đường vú phôi thai. Đường này kéo dài từ ngoài hố nách trên cánh tay đi xuống ngực, bụng, bẹn, vì thế đôi khi vú phụ đi lạc chỗ, không chỉ nằm ở ngực.

Nguồn sức khỏe đời sống

Ung thư vú và thai nghén: Những điều cần biết

Tôi đang chuẩn bị điều trị ung thư vú thì lại phát hiện có thai, có nên giữ thai khi tôi đã 36 tuổi và đang mong có con đầu?  Đó là một trong số nhiều câu hỏi bạn đọc gửi về tòa soạn báo SK&ĐS. Để giúp bạn đọc có thêm thông tin, chúng tôi giới thiệu bài viết của BS. Hồng Ánh.

Ung thư vú khi đang có thai không quá hiếm nhưng ngày càng gặp nhiều hơn ở phụ nữ có tuổi mới mang thai và sinh đẻ. Về phương diện y học, các liệu pháp điều trị đã được chuẩn hóa nhưng chưa đủ các nghiên cứu và đánh giá về mặt cảm xúc đối với những trường hợp còn khá phức tạp này. \

ung-thu-va-thai-nghen-va-nhung-dieu-can-biet

Chiến lược đặt ra với ung thư vú ở phụ nữ có thai phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn nào của thai nghén: 3 tháng đầu, 3 tháng giữa hay 3 tháng cuối?

Chữa ung thư vú khi mang thai như thế nào? Tỷ lệ chẩn đoán ung thư vú khi mang thai ở Pháp khoảng 200 – 300 trường hợp mỗi năm. Tuy nhiên, ngày nay tuổi phụ nữ sinh con lần đầu đã cao hơn và việc quản lý ung thư khi đang mang thai cũng đã có chất lượng hơn.

Thai nghén không làm khó cho việc điều trị, với ung thư vú, ngày nay tiên lượng không có gì khác giữa phụ nữ có thai và không có thai. Điều này liên quan đến biểu hiện ban đầu: đó là loại ung thư của phụ nữ trẻ, nói chung xâm lấn hơn và chẩn đoán thường hơi chậm vì không ở trong môi trường phát hiện mà trong lúc sinh đẻ. Việc điều trị do thầy thuốc chuyên khoa ung thư và thầy thuốc phụ khoa cùng xây dựng và dựa trên giai đoạn mang thai, thể ung thư và kích thước khối u. Rất nhiều khi phải chỉ định hóa liệu pháp nhưng không phải thực hiện giống nhau mà theo từng giai đoạn. Thầy thuốc phải chấp nhận liệu pháp này với điều kiện phải theo dõi sát thai nghén.

Nói một cách giản lược, điều trị ung thư vú ở 3 tháng đầu của thai nghén khác hẳn với 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Trong trường hợp phát hiện ung thư vú khi mới có thai thì vấn đề đình chỉ thai nghén được đặt ra. Việc này có thể trở nên cần thiết nếu như cần phải chỉ định khẩn cấp hóa liệu pháp, chỉ định này có thể làm cho phôi thai bị nhiễm độc vì đang ở giai đoạn tạo thành các cơ quan và tỷ lệ dị dạng bẩm sinh cao. Nếu người mẹ vẫn muốn giữ thai thì có 2 lựa chọn: 1) Chờ đến khi thai đã ở 3 tháng giữa (ngoài 12 tuần thai nghén) mới bắt đầu dùng hóa liệu pháp.  2) Tạm thời bằng lòng với can thiệp ngoại khoa và chờ khi đẻ xong thì bắt đầu điều trị bổ sung. Khi đã ở giai đoạn giữa của thai nghén (ít nhất đã 4 tháng) thì thầy thuốc có thể yên tâm hơn vì đã có thể chỉ định hóa liệu pháp truyền thống. Ở 3 tháng cuối cũng vậy. Điều đáng ngạc nhiên là phụ nữ mang thai bị ung thư vú dung nạp liệu pháp hormon tốt hơn nhiều, không bị nôn, trạng thái sức khỏe tổng thể vẫn ít thay đổi. Hóa liệu pháp nên ngừng trước khi sinh 2-3 tuần và sau khi sinh 2-3 tuần mới lại tiếp tục. Ngày nay, gần như không cần phải làm cho cuộc đẻ diễn ra sớm, chỉ cần thai nghén đã vượt qua tuần 37 hay 38 kể từ khi mất kinh.

Phát hiện ung thư vú khi có thai? Khối u vú thường có thể phát hiện trên lâm sàng. Ngay từ lần khám thai đầu tiên đã có thể phát hiện thấy một u nhỏ và được xác định bằng chẩn đoán hình ảnh và chọc thăm dò. Không có kỹ thuật phát hiện có giá trị nào ở hoàn cảnh này. Nên thực hiện khám vú có hệ thống ngay từ khởi đầu của thai nghén, nếu cần thiết thì thêm cả siêu âm chẩn đoán.

Ung thư vú và thai nghén: Những điều cần biết 2
Kiểm tra, chẩn đoán ung thư vú

Thuốc điều trị ung thư vú có độc hại cho thai? Bao giờ cũng cần lo ngại về mọi thứ thuốc dùng trong khi đang mang thai, chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của hóa liệu pháp đến thai và trẻ sơ sinh. Vì vậy, các thầy thuốc đã sử dụng phương pháp hồi cứu để tiếp cận với những nguy cơ và lợi ích. Kết quả bước đầu cho thấy: Không có những vấn đề nghiêm trọng xét trong thời gian ngắn, chỉ có những tác dụng tạm thời đến tình trạng máu ở trẻ sơ sinh, chưa có nghiên cứu dài hạn ở những trẻ này và cần có nghiên cứu dài hơi hơn với những trẻ bị tác động của thuốc khi còn trong tử cung. Tất nhiên sẽ tốn kém, khó khăn nhưng khả thi. Hiện cũng chưa có nhiều thông tin về taxane như là hóa liệu pháp khi có thai và cơ chế tác dụng, chưa rõ thuốc có vô hại với thai không cho nên không dùng cho phụ nữ mang thai. Với nhiều liệu pháp khác cũng vậy (herceptin, dùng kháng thể). Số lượng bệnh nhân ít cũng gây khó khăn cho nghiên cứu.

Trạng thái tâm lý khi ung thư vú kết hợp với thai nghén: Lo lắng làm cho cuộc sống bản thân nhưng mong muốn đem lại cuộc sống cho con là sức mạnh lớn với người bệnh, có ý nghĩa như một sự nâng đỡ tâm lý. Người bệnh quan tâm đến sự phát triển của con hơn cả bệnh của mình. Đôi khi cần phải đình chỉ thai nghén vì lý do liên quan đến ung thư thì đó là một khó khăn lớn về mặt tâm lý với cặp vợ chồng. Ngược lại cũng có một số người bệnh không lựa chọn giữ thai trong khi chính thầy thuốc lại không thấy có vấn đề gì. Sau đẻ cũng là một thách thức vì mẹ phải tiếp tục điều trị nên không thể cho con bú và một số bà mẹ có cảm tưởng như đã tước đoạt tuổi thơ đầu tiên của con họ.

BS. Hồng Ánh

Theo BSDD

 

Phòng bệnh phụ nữ hiện đại mắc phải

 Loãng xương, ung thư vú, ung thư buồng trứng… là những bệnh điển hình mà phụ nữ hiện nay dễ mắc phải, cần phải phòng ngừa.
Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Khi bị loãng xương, nguy cơ gẫy xương hông, xương đùi, xương cẳng chân và sự chịu đựng đau đớn có nguy cơ xảy ra. Nghiêm trọng hơn, loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu can xi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, sử dụng thuốc có chứa chất steroid, phụ nữ uống rượu mạnh… cũng gây loãng xương.

phu-nu-hien-dai-don-gian

Ung thư vú

Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Ung thư vú là loại ung thư tế bào ác tính ở các mô của vú. Hầu hết phụ nữ đều phát hiện bệnh khi sờ nắn thấy có khối u ở ngực. Tuy nhiên, không phải tất cả các khối u ở vú đều ác tính mà có những khối u lành tính, có thể giữ nguyên hoặc phẫu thuật cắt bỏ là được.

Ung thư vú có thể do gene di truyền. Những phụ nữ có mẹ, chị hay em gái mắc bệnh đều có nguy cơ ung thư vú cao hơn những người mà gia đình không có người mắc bệnh. Phương pháp phòng bệnh là thực hiện lối sống lành mạnh cùng với chế độ ăn uống giảm chất béo. Đặc biệt, hàng năm chị em nên kiểm tra khám vú định kỳ để kịp thời phát hiện khối u khi còn nhỏ, sau đó tiến hành phẫu thuật cắt bỏ sẽ kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đối kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú.

Ung thư buồng trứng

Đa phần phụ nữ bị ung thư buồng trứng nhưng không biết mình mắc bệnh. Một nghiên cứu mới công bố trên tạp chí của Hiệp hội Sức khỏe Mỹ cho thấy, có đến 72% phụ nữ bị ung thư buồng trứng được phát hiện ở giai đoạn muộn và có khoảng 28% phụ nữ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và tiến hành điều trị nên kéo dài cuộc sống từ 5 đến 10 năm. Nếu bệnh được phát hiện vào giai đoạn cuối tỷ lệ sống 5 năm giảm xuống chỉ còn 20%.

Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh, nguy cơ ung thư buồng trứng sẽ giảm xuống sau khi phụ nữ đã sinh con.

Bệnh tim

Bệnh tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở phụ nữ nhiều hơn cả bệnh ung thư. Nguyên nhân dẫn đến các bệnh về tim mạch thường là do chứng stress, do lượng cholesterol trong máu tăng cao, do mắc bệnh tiểu đường, do huyết áp cao. Những phụ nữ bị thừa cân béo phì, phụ nữ hút thuốc lá và uống rượu cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh về tim mạch.

Phòng ngừa bệnh tim mạch bằng cách giữ cho huyết áp ổn định, tránh thừa cân và béo phì, thường xuyên rèn luyện thân thể bằng cách tập thể dục, lao động chân tay đồng thời có lối sống lành mạnh. Ngoài ra, trong cuộc sống gấp gáp và bận rộn ngày nay, tỷ lệ phụ nữ lao động trí óc mắc bệnh đột quị và chứng stress cũng ngày càng tăng cao.

Thoái hóa võng mạc ngoại vi ở phụ nữ mang thai

Có thể gây bong võng mạc ở bệnh nhân cận thị nói chung, và phụ nữ mang thai cận thị nói riêng thường xảy ra. Bong võng mạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù và là một trong những bệnh lý phức tạp nhất trong ngành nhãn khoa.

Ở bệnh nhân cận thị, do trục nhãn cầu bị kéo dài nhiều năm, võng mạc bị dãn mỏng và thoái hóa, đặc biệt là vùng ngoại vi. Do đó võng mạc trở nên yếu ớt trước những tác động cơ học . Một trong những tác động đó chính là quá trình sinh nở của người phụ nữ. Quá trình này làm tăng nguy cơ bong võng mạc ở sản phụ cận thị lên nhiều lần. Nếu những tổn thương võng mạc được phát hiện sớm, bệnh nhân chỉ cần trải qua một lần điều trị gia cố võng mạc bằng la-de trong thời gian 15 phút, không đau, không chảy máu, giúp ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ bong võng mạc và bệnh nhân xuất viện ngay sau khi việc điều trị kết thúc.

Theo Thế giới phụ nữ

Yếu tố nguy cơ, phát hiện và phòng ngừa bệnh ung thư vú

Mặc dù số người mắc bệnh không co như các nước phát triển, tuy nhiên ung thư (UT) vú vẫn chiếm vị trí hàng đầu ở UT phụ nữ với tỷ lệ bệnh mới xuất hiện ngày càng tăng.

Nguồn gốc và sự phát triển của tuyến vú

Tuyến vú có chung nguồn gốc với tuyến mồ hôi, xuất phát từ lớp ngoại bì. Từ lúc mới sinh đến trước tuổi dậy thì, mô tuyến vú chưa phát triển, không có sự khác biệt giữa nữ và nam. Khi bé gái bước vào giai đoạn dậy thì, dưới tác động nội tiết, mô vú có sự phát triển mạnh về lớp mô đệm và ống tuyến, các ống tuyến giãn rộng, phân nhánh. Hệ thống ống tuyến phát triển đầy đủ nhất khi người phụ nữ mang thai và cho bú.

Đến tuổi mãn kinh, mô đệm và ống tuyến thoái hóa chỉ còn lớp mô sợi và mỡ.

yeu_to_nguy_co_phat_hien_va_phong_ngua_benh_ung_thu_vu

Khám để phát hiện ung thư vú

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh

Hiện nay, người ta đã phát hiện thêm nhiều yếu tố nguy cơ gây bệnh, trong đó bản thân giới nữ và tuổi là 2 yếu tố quan trọng nhất. Nguy cơ UT vú ở phụ nữ gấp 100 lần so với nam giới và nguy cơ này tăng dần theo tuổi với trên 90% trường hợp UT xuất hiện ở phụ nữ > 40 tuổi.

Tiền căn bản thân từng bị UT vú cũng là yếu tố quan trọng với nguy cơ cao xuất hiện UT tại vú còn lại. Tiền căn trong gia đình có người thân bị UT vú hoặc UT buồng trứng, nhất là các người thân này thuộc mối quan hệ thứ nhất (mẹ, chị em ruột, con gái) là yếu tố cảnh báo nguy cơ bị bệnh và nên tiến hành tầm soát chặt chẽ hơn. Ngoài ra, có yếu tố khác như:

– Bệnh lý tuyến vú trước đây: nhất là các bệnh tăng sản không điển hình.

– Mang các đột biến gen (BRCA1, BRCA2…): ít gặp, chiếm 5 – 10% tổng số bệnh nhân.

– Có kinh sớm (<12 tuổi).

– Mãn kinh muộn (>55 tuổi).

– Không có con.

– Không cho con bú.

– Béo phì.

– Sử dụng các thuốc nội tiết thay thế kéo dài…

Biểu hiện của bệnh UT vú

Khối u

Phần lớn trường hợp bệnh biểu hiện bằng khối u, có thể do bệnh nhân (BN) tự phát hiện hoặc thông qua khám vì một bệnh lý khác. Với một dáng vẻ ban đầu rất “hiền lành”, u không gây đau, không gây khó chịu nên dễ bị BN bỏ qua. Theo thời gian, nếu không điều trị, khối u lớn dần, xâm lấm các cấu trúc xung quanh, gây lở loét, dính da và cho di căn đến hạch, gan, xương, phổi… Vào giai đoạn cuối, BN rất đau nhức, mệt mỏi, hiệu quả điều trị kém.

Hạch nách

Một số trường hợp do khối u nhỏ nên bệnh có thể biểu hiện bằng các khối hạch ở vùng nách. Thông thường trong giai đoạn đầu, những hạch này cũng không gây đau, giai đoạn trễ hạch xâm lấn gây phù nề đau nhức cánh tay.

Khi bệnh tiến triển hơn, BN có thể biểu hiện khối u và hạch nách cùng lúc, hoặc hạch có thể xuất hiện ở vùng trên đòn.

Mặc dù hiếm gặp, tiết dịch đầu vú, nhất là dịch đỏ cũng là một triệu chứng đáng ngại, báo hiệu khối u kèm theo.

Giai đoạn cuối, tế bào UT di căn đến gan, xương, phổi… làm BN đau nhức, mệt mỏi, khó thở…

Phát hiện sớm

Điều trị hiệu quả nhất là khi bệnh mới xuất hiện, hiện nay điều này có thể thực hiện được thông qua việc tầm soát (sàng lọc bệnh).

Tự khám vú: tất cả phụ nữ sau 20 tuổi nên được hướng dẫn cách tự khám vú.

Thời điểm: sau khi sạch kinh từ 4 – 5 ngày, thời điểm này mô vú mềm, dễ thăm khám.

Các bước:

– Bước 1: ở tư thế đứng trước gương, 2 tay giơ lên cao, đặt sau gáy, quan sát 2 vú xem có thay đổi bất thường như một chỗ lõm vào, đầu vú bị co rút hay không, độ cân xứng…

– Bước 2: chống 2 tay vào hông, nâng nhẹ 2 vai, có thể cúi người ra trước, quan sát độ cân xứng, độ võng của vú.

– Bước 3: bước 3 đến bước 5 nên thực hiện ở tư thế nằm. Dùng lòng bàn tay (không dùng ngón tay bóp vào mô vú) áp vào vú để xem có khối u hay chỗ gồ lên hay không. Khi khám vú (T), tay (T) sẽ giơ lên để sau gáy, dùng lòng bàn tay (P) áp lần lượt từ trung tâm quầng vú theo chiều kim đồng hồ, đi hết mô vú hoặc bạn có thể đi từ ngoài vào trong quầng vú tùy theo thói quen. Khi khám vú (P), đổi tay và thực hiện tương tự.

– Bước 4: tiếp tục di chuyển tay đến hố nách, xem có hạch hay không.

– Bước 5: dùng ngón đè vào quầng vú, đầu vú, xem có tiết dịch hay không.

Siêu âm: Trong bệnh lý tuyến vú, siêu âm có thể giúp xác định có u hay không, bản chất u là đặc hay nang, dưới hướng dẫn của siêu âm tiến hành sinh thiết chính xác. Siêu âm được kết hợp với chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) trong chẩn đoán cũng như tầm soát bệnh lý tuyến vú.

Chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh): phương pháp dùng tia X để khảo sát mô tuyến vú, hiện nay nhũ ảnh đã trở thành phương tiện phổ biến để tầm soát ung thư vú tại các nước Âu – Mỹ.

Tại VN, một số bệnh viện đã trang bị, tuy nhiên số lượng còn ít.

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): dùng kim lấy tế bào từ sang thương, sau đó quan sát dưới kính hiển vi nhằm phát hiện những tế bào bất thường, ác tính.

Sinh thiết: lấy một phần hoặc toàn bộ sang thương nhằm chẩn đoán xác định bản chất sang thương.

Các phương tiện khác: nhờ vào phát triển của khoa học đã có nhiều phương tiện hiện đại giúp chẩn đoán bệnh lý tuyến vú như: chụp cộng hưởng từ (MRI), hoặc PET-CT Scan, tuy nhiê, việc chỉ định cũng như đón nhận kết quả cần sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Theo hướng dẫn của Hội UT Mỹ, cũng như các hiệp hội khác trong tầm soát UT vú phụ nữ từ 20 – 40 tuổi nên được hướng dẫn cách tự khám vú, tầm soát bằng nhũ ảnh không được khuyến khích trừ khi có chỉ định đặc biệt, trên 40 tuổi nên tiến hành tầm soát ít nhất mỗi năm một lần bằng việc đến BS chuyên khoa, chụp nhũ ảnh phối hợp với siêu âm.

Điều trị

Khi bạn mắc bệnh, đừng e ngại đến BS, ngày nay việc điều trị UT vú đạt rất nhiều tiến bộ, có 3 phương pháp chính:

Phẫu thuật: là phương pháp chính trong điều trị UT vú.

Tùy vào từng giai đoạn, phẫu thuật thường dùng hiện nay là cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm nạo hạch nách, BS có thể tiến hành tái tạo lại tuyến vú nhằm trả lại vẻ thẩm mỹ cho BN hoặc chỉ cần cắt rộng bướu kèm xạ trị. Nói chung, các phương pháp phẫu thuật có nhiều cải tiến, giúp đạt hiệu quả mong muốn, vừa ít di chứng nhất.

Dùng thuốc: hiện nay có nhiều loại thuốc mới hiệu quả cao, BN có thể dùng đường tiêm hoặc uống rất thuận lợi.

Xạ trị: cùng với phẫu thuật là phương pháp kiểm soát tại chỗ – tại vùng, giúp hạn chế tối đa nguy cơ tái phát, các phương tiện xạ trị mới giúp tác kích chính xác vào mô bệnh mà không ảnh hưởng đến mô lành xung quanh.

Nhờ vào việc phát hiện sớm cũng như các phương pháp điều trị phát triển hiện nay, tại Mỹ có đến 89% bệnh nhân sống hơn 5 năm và 73% sống trên 15 năm.

Phòng ngừa

Vắc-xin ngừa UT vú: đang thử nghiệm, chưa áp dụng rộng rãi.

Duy trì lối sống lành mạnh: năng vận động, hạn chế chất béo, giảm cân, nuôi con bằng sữa mẹ.

Khám tầm soát định kỳ để có thể phát hiện các bất thường khi vừa xuất hiện nhằm điều trị hiệu quả nhất. UT vú là bệnh UT thường gặp nhất ở phụ nữ. Tại VN, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh chưa cao bằng các nước Âu – Mỹ nhưng tỷ lệ này đang tăng lên trong những năm gần đây. Hiện nay, việc phát hiện sớm cũng như điều trị đã có nhiều tiến bộ và hiệu quả nhưng nhiều BN vẫn đến trong giai đoạn trễ với các biến chứng của bệnh, chủ yếu do tâm lý chủ quan và mặc cảm khi mắc bệnh.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS. NGUYỄN TRIÊU VŨ

Mỹ phẩm có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú

Mỹ phẩm là một trong những công cụ làm đẹp hiệu quả của phái đẹp. Tuy nhiên nhiều chị em khi mua mỹ phẩm lại không để ý đến thông tin hàm lượng các chất có trong sản phẩm. Có rất nhiều mỹ phẩm hay thực phẩm có chứa chất bảo quản mà thành phần của nó có thể gây hại cho sức khỏe. Các nhà khoa học cho rằng nó có thể là nguyên nhân làm tăng nguy cơ các khối u vú ác tính.

my-pham-co-nguy-co-gay-ung-thu-vu

Các nhà khoa học đã phát hiện ra tính chất độc hại của parabens, đó là các phân tử có cấu tạo tương tự như của phân tử nội tiết tố nữ estrogen. Mà lượng estrogen dư thừa trong cơ thể phụ nữ cũng là một yếu tố góp phần mạnh mẽ gây ung thư vú.

Các nhà khoa học Anh đã tiến hành một nghiên cứu về các mối nguy hiểm tiềm năng của parabens. Họ đã nghiên cứu 160 mẫu mô vú của các bệnh nhân sau khi phải cắt bỏ vú trong đó có 40 phụ nữ đã được chẩn đoán bị ung thư vú. Kết quả của nhóm nghiên cứu cho thấy có ít nhất một loại parabens trong 99% số bệnh phẩm và 60% trong số đó có 5 loại parabens khác nhau. Tỷ lệ phần trăm này của parabens trong các mẫu mô vú được các nhà khoa học tìm thấy đa phần có trong dầu gội đầu, các chất khử mùi, mỹ phẩm như: kem dưỡng da, bột phấn, mascara, và nhiều sản phẩm khác.

Giáo sư Darbre, người đứng đầu công trình nghiên cứu này cho biết: “Chúng tôi đã tìm thấy dấu vết của parabens trong đại đa số các mẫu nghiên cứu, và nó cũng là một trong những nguyên nhân gây ra ung thư vú. Tuy nhiên, trong tương lai chúng ta cần nghiên cứu chi tiết để tìm ra giải pháp chữa trị cho các bệnh nhân có khối u vú”.

(Theo Antd/Medforme.ru)

Phụ nữ thiếu ngũ dễ tăng nguy cơ ung thư vú

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản, những phụ nữ ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao.

thieu-ngu-de-tang-nguy-co-gay-ung-thu

Các nhà khoa học Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu với 24.000 phụ nữ ở độ tuổi 40 trở lên trong 8 năm về các thói quen ăn, ngủ, nghỉ.

Kết quả cho thấy, những phụ nữ ngủ 6 tiếng hoặc ít hơn có nguy cơ ung thư vú tăng 60% so với những phụ nữ khác. Ngoài ra, những phụ nữ ngủ hơn 9 tiếng mỗi đêm có nguy cơ bị ung thư vú thấp hơn 28%.

Trước đó, theo một cuộc nghiên cứu năm 2008 được đăng trên chuyên san British Journal of Cancer cho thấy phụ nữ ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm dễ mắc bệnh ung thư vú. Một cuộc nghiên cứu khác năm 2010 đăng trên cùng chuyên san cho thấy người ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm dễ bị bướu đại trực tràng vốn có thể dẫn đến ung thư ruột kết. Việc thiếu ngủ đã được chứng minh làm tăng mức độ viêm sưng trong cơ thể và can thiệp vào các phản ứng miễn dịch, cả hai đều liên quan đến bệnh ung thư.

Ông Henry Scowcroft, Trung tâm nghiên cứu bệnh ung thư của Anh cho rằng, việc mất ngủ và làm việc đêm quá ức có tác động không nhỏ tới khả năng phòng chống ung thư vú. Các nghiên cứu mới nhất ở Anh cũng chỉ ra rằng, việc ngủ 9 tiếng mỗi ngày còn làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Biện pháp ngăn ngừa ung thư vú

Nuôi con bằng sữa mẹ: Bạn nên biết rằng, nuôi con bằng sữa mẹ cũng có hiệu quả trong việc giảm mức độ rủi ro của bệnh ung thư vú bởi nó làm giảm khả năng xuất hiện những khối, cục u xơ và các lắng đọng có hại cho sức khỏe ở bầu vú người phụ nữ.

Kiểm tra ngực thường xuyên: Cách đơn giản nhất, sớm nhất là tự kiểm tra hàng ngày khi bạn tắm. Nếu thấy xuất hiện u cục ở ngực, nách bạn hãy đến các cơ sở chuyên khoa để khám và điều trị kịp thời.

Không ăn vặt: Ăn vặt là một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư trên cơ thể người. Bạn hãy thay đổi cách ăn uống hàng ngày, nên thay thế đồ ăn vặt bằng các loại rau và hoa quả.

Sống lành mạnh: Với lối suy nghĩ tích cực, sống lành mạnh sẽ giúp hệ thống miễn dịch tự động sẽ làm giảm nguy cơ phát triển bệnh.

Theo vnmedia

Chất độc làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ

Các nhà khoa học cho rằng có mối liên quan giữa ung thư vú ở những phụ nữ có công việc phải phơi nhiễm với các chất hóa học độc hại.

phoi-nhiem-chat-doc-hai-se-gay-ung-thu-vu

Kết luận trên được rút ra từ một nghiên cứu bao gồm 1005 phụ nữ bị ung thư vú và 1147 phụ nữ không mắc căn bệnh này. Các nhà khoa học thấy rằng những phụ nữ có công việc làm phải tiếp xúc nhiều với các chất hóa học trong 10 năm sẽ tăng trung bình 42% nguy cơ bị ung thư vú.
Tiến sĩ James Brophy thuộc Đại học Stirling, Scotland và tiến sĩ Margaret Keith thuộc Đại học Windsor, Canada cho biết những phụ nữ làm nông nghiệp tăng 36% nguy cơ bị ung thư vú vì họ thường xuyên bị phơi nhiễm với một số thuốc trừ sâu tác dụng như các tác nhân gây ung thư vú.
Ngoài ra, nghiên cứu còn phát hiện thấy những phụ nữ làm việc trong lĩnh vực thực phẩm đóng hộp hay sản xuất đồ nhựa cũng bị tăng gấp đôi nguy cơ ung thư vú. Thậm chí, trong giai đoạn tiền mãn kinh, nguy cơ này còn tăng gấp 5 lần.
Những phụ nữ làm trong ngành chế tạo khí cụ thậm chí còn tăng tới 73% nguy cơ bị ung thư vú. Trong khi đó, những phụ nữ làm việc tại các quán bar, sòng bạc thì tăng gấp đôi nguy cơ mắc căn bệnh này, nguyên nhân được cho là do họ bị phơi nhiễm với khói thuốc lá thụ động.

Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Environmental Health.

Theo Antd/UP/SKDS