Tag Archives: bệnh truyền nhiễm

Viêm não Nhật Bản vào mùa bùng phát

Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là một trong những bệnh ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhân dân, đặc biệt là trẻ em vào mùa hè. Hiện nay đang là giữa mùa của bệnh VNNB, rất nhiều trường hợp đã phải nhập viện.

Nhận biết bệnh VNNB
Bệnh VNNB là bệnh nhiễm virut cấp tính ở hệ thần kinh trung ương do virut VNNB lây truyền từ nguồn bệnh đến người qua muỗi đốt. Bệnh đã được biết từ năm 1871, nhưng mãi đến năm 1935 người ta mới phân lập được virut từ não của người bệnh ở Tokyo, Nhật Bản và năm 1938 Mitamura đã phân lập được virut VNNB ở muỗi vectơ C. tritaeniorhynchus. Đến năm 1959 những nghiên cứu ở Nhật Bản đã xác định ổ chứa virut là chim, lợn và muỗi C. tritaeniorhynchus là vectơ truyền bệnh VNNB giữa các động vật có xương sống và từ đó truyền sang người.

Người bị muỗi nhiễm virut VNNB đốt sẽ trải qua thời kỳ ủ bệnh từ 5-15 ngày. Thời kỳ phát bệnh thường kéo dài từ 1-6 ngày. Tuy nhiên có thể ngắn hơn trong 24 giờ và dài hơn tới 14 ngày. Bệnh bắt đầu đột ngột với triệu chứng sốt, mệt mỏi toàn thân, đau đầu, đau cơ, run, buồn nôn, nôn, sau đó cứng gáy và có dấu hiệu thần kinh.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat

Giai đoạn viêm não cấp tính
Đặc điểm lâm sàng nổi bật trong giai đoạn này là tiếp tục sốt, cứng gáy, có dấu hiệu thần kinh trung ương khu trú, co giật, thay đổi cảm giác và nhiều trường hợp dẫn tới hôn mê. Thường sốt cao từ 38 – 40oC, nhịp tim tương đối chậm, nét mặt của người bệnh được mô tả như xám xịt, thẫn thờ, buồn tẻ, đôi mắt sợ sệt, nhìn chòng chọc (giống như bệnh parkison mạn tính) và giọng nói khàn, lè nhè, nói khó, nghe khó.

Dấu hiệu thần kinh như cứng gáy chiếm tới 80% trường hợp. Run là dấu hiệu thường gặp và thường thấy ở ngón tay, lưỡi, mi mắt và mắt. Co giật cũng là một đặc điểm lâm sàng thường gặp ở bệnh VNNB, nhất là ở trẻ em. Có thể có cơn động kinh toàn thân với những cử động run giật lặp đi lặp lại rất dữ dội. Một số trường hợp có cơn cường cơ làm cho trẻ uốn cong người và co đầu lại, hai chân dạng ra và hai tay gập lại ở góc khuỷu. Những cơn co giật cục bộ cũng thường gặp

Giai đoạn sau
Bệnh nhân có thể được hồi phục và thời kỳ này thông thường diễn biến chậm, bệnh nhân có thể được hồi phục các chức năng vận động, nhưng tri thức lại không bình thường. Phần lớn di chứng để lại cho người bệnh là những rối loạn về tinh thần, mất ổn định về tình cảm, cá tính thay đổi, liệt thần kinh vận động ở chi trên hoặc chi dưới. Hiện tượng thất ngôn và loạn tinh thần có hệ thống thường ít gặp. Tỷ lệ tử vong thay đổi từ 0,3-60% tùy theo trình độ kỹ thuật hồi sức cấp cứu chống phù não, suy hô hấp, trụy tim mạch và bội nhiễm vi khuẩn.

Điều trị bệnh VNNB
Cho đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB, vì vậy điều trị trợ sức và điều trị triệu chứng là chủ yếu. Người ta không dùng gammaglobulin và corticosteroid để điều trị vì không có tác dụng. Tỷ lệ tử vong có thể giảm xuống là do việc chăm sóc bệnh nhân đúng đắn. Bệnh nhân phải được chuyển đến bệnh viện để điều trị. Không cần thiết phải cách ly bệnh nhân và khử khuẩn các chất tiết của người bệnh vì virut VNNB không truyền từ người sang người qua chất bài tiết.

viem-nao-nhat-ban-vao-mua-bung-phat1

Đường lây truyền viêm não Nhật Bản

Các biện pháp phòng ngừa bệnh VNNB
Virut VNNB được lây truyền qua muỗi vectơ hút máu súc vật, do đó những súc vật hoang dại và súc vật nuôi trong nhà là vật chủ chính. Người được coi là vật chủ cuối cùng đối với virut VNNB, vì trong máu người virut VNNB tồn tại thời gian ngắn với hiệu giá thấp và muỗi vectơ thích hút máu súc vật hơn là máu người. Bệnh VNNB có thể được dự phòng bởi sự phối hợp của các biện pháp phòng trừ vectơ, ngăn ngừa vectơ, gây miễn dịch cho súc vật và cho người cảm nhiễm.

Phòng trừ vectơ
Việc sử dụng hóa chất diệt vectơ VNNB nói chung là có hiệu quả nhưng chỉ được giới hạn trong một không gian và thời gian nhất định với giá thành rất cao. Ở Hàn Quốc người ta phun fenitrothion với thể tích cực nhỏ bằng máy bay đã có hiệu quả làm giảm mật độ C. tritaeniorhynchus trưởng thành khoảng 80% trong 4 ngày.

Việt Nam là nước nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa nước. Vì vậy việc phòng trừ vectơ VNNB lại càng khó khăn hơn không chỉ vì thiếu tiền mua máy móc, hóa chất mà còn vì những cánh đồng lúa rộng lớn chứa đựng quần thể muỗi vectơ phong phú này. Do đó biện pháp phòng trừ bệnh VNNB bằng phòng trừ vectơ, kể cả dùng hóa chất là hoàn toàn không thực tế và không có hiệu quả.
Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất.

Gây miễn dịch phòng bệnh là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, điều đó đã được chứng minh ở tất cả các quốc gia sử dụng vaccin VNNB để phòng bệnh. Ở Việt Nam những năm qua nơi nào có sự bao phủ của vaccin này ở đó giảm rõ rệt số trẻ mắc bệnh. Chính vì vậy các bậc cha mẹ nên chủ động đưa trẻ đi tiêm chủng phòng bệnh.

Theo sức khỏe đời sống

Cần biết phân biệt bệnh sởi và tay chân miệng

Dịch sởi vừa có dấu hiệu lắng xuống, Bộ Y tế đã lập tức đưa ra những khuyến cáo về dịch tay chân miệng. Hai bệnh này đều có dấu hiệu phát ban, sốt cao… rất dễ làm các bậc phụ huynh nhầm lẫn.

 

soi-chan-tay-mieng

Phòng bệnh Rubella bẩm sinh

Bệnh sởi là bệnh truyền nhiễm do virut sởi gây ra, bệnh rất dễ lây và gây thành dịch. Mọi trẻ em chưa có miễn dịch phòng bệnh sởi đều có thể mắc bệnh. Bệnh có thể gây nên các biến chứng như viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, suy dinh dưỡng, mù loà thậm chí có thể tử vong. Qua nhiều năm triển khai tiêm chủng vắc-xin sởi trong tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc bệnh sởi đã giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bệnh sởi vẫn có nguy cơ bùng phát thành dịch nếu không duy trì tỷ lệ chủng cao trong cộng đồng.

Bệnh Rubella là bệnh bệnh truyền nhiễm do virut Rubella gây ra. Bệnh Rubella ở trẻ em thường nhẹ, ít biến chứng. Tuy nhiên, nếu phụ nữ nhiễm Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây ra sẩy thai, thai chết lưu, trẻ sinh ra có thể mắc hội chứng Rubella bẩm sinh (bao gồm các dị tật tim, đục thuỷ tinh thể, điếc bẩm sinh, chậm phát triển… thậm chí đa dị tật). Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên toàn cầu có khoảng 110.000 trẻ em sinh ra mắc hội chứng Rubella bẩm sinh. Ở Việt Nam, từ năm 2004 – 2011 liên tục ghi nhận các vụ dịch Rubella với tổng số trên 3.500 trường hợp. Trong số các trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh có tới trên 90% trẻ mắc các dị tật phức tạp ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ như các dị tật về tim, 45% trẻ bị đục thủy tinh thể, 37 % lách to, 15% vàng da nhân, 12% trẻ chậm phát triển…

Tiêm vắc-xin sởi - Rubella.

Tiêm vắc-xin sởi – Rubella.

Bệnh sởi và Rubella không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tiêm vắc-xin là cách phòng bệnh chủ động và hiệu quả

Với sự hỗ trợ của Liên minh Toàn cầu về vắc-xin và tiêm chủng (GAVI), được sự đồng ý của Chính phủ, trong năm 2014 – 2015 tất cả trẻ từ 1 tuổi đến 14 tuổi trong toàn quốc được tiêm 1 mũi vắc-xin sởi – Rubella miễn phí trong chiến dịch tại các điểm tiêm chủng trong trường học hoặc trạm y tế xã/ phường.

Chiến dịch này sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm gánh nặng bệnh sởi, Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh trong cộng đồng và hướng tới mục tiêu Loại trừ bệnh sởi trong tương lai.
Vắc-xin sởi – Rubella là vắc-xin có tính an toàn cao. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn tiêm chủng trước khi tiêm các bà mẹ hãy cho trẻ ăn no và chủ động thông báo với cán bộ y tế tiêm chủng về tình trạng sức khỏe của con mình nếu trẻ đang bị sốt, đang mắc bất cứ bệnh nào hoặc đã bị phản ứng với lần tiêm chủng trước.

Tiêm vắc-xin sởi-Rubella là cách tốt nhất để phòng bệnh sởi, Rubella.
“Đừng bỏ lỡ cơ hội được tiêm vắc-xin sởi – Rubella trong chiến dịch dành cho trẻ em từ 1 – 14 tuổi trong toàn quốc”.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những khuyến cáo của bộ y tế về bệnh tay – chân – miệng

Cần tuân thủ khuyến cáo của ngành y tế

Trước tình hình này, ông Phu cho biết cần giám sát phát hiện sớm ca mắc mới và khoanh vùng ổ dịch, triệt để thực hiện rửa tay sạch, vệ sinh các bề mặt bàn ghế, nền nhà, dụng cụ gia đình, đồ chơi… để phòng bệnh. Hiện chưa có vắc-xin và chưa có thuốc đặc trị điều trị TCM nên các gia đình cần tuân thủ các khuyến cáo của ngành y tế để phòng bệnh cho con em mình.

Theo đó, để phòng chống bệnh TCM, nên thực hiện như sau:
Về vệ sinh cá nhân, cả người lớn và trẻ em cần rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày, đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.

nhung-khuyen-cao-cua-bo-y-te-ve-benh-tay-chan-mieng

Về vệ sinh ăn uống, các phụ huynh cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ; thực hiện ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi chưa được khử trùng.

Bên cạnh đó, nhà trường, cha mẹ cần thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng tiếp xúc hằng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà.

Tiếp đến cần quản lý phân của trẻ bằng cách sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, phân, chất thải của trẻ phải được thu gom, xử lý và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.

Theo dõi phát hiện sớm: Trẻ em phải được thường xuyên theo dõi sức khỏe để kịp thời phát hiện, tổ chức cách ly, điều trị các trường hợp mắc bệnh, tránh lây bệnh cho các trẻ khác.

Cách ly, điều trị kịp thời khi phát bệnh: Các nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm trẻ tập trung và hộ gia đình có trẻ dưới 6 tuổi cần chủ động theo dõi sức khỏe của trẻ để kịp thời phát hiện và đưa ngay đến các cơ sở y tế để được điều trị kịp thời. Trẻ bị bệnh phải được cách ly ít nhất là 10 ngày kể từ khi khởi bệnh, không cho trẻ có biểu hiện bệnh đến lớp và chơi với các trẻ khác.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chăm sóc trẻ nhỏ trước mùa dịch thủy đậu

Thủy đậu có tính lây nhiễm rất cao. Có đến 9 trong 10 trẻ sẽ bị bệnh thủy đậu trước 12 tuổi. Đây là căn bệnh truyền nhiễm mà trẻ em rất khó tránh khỏi nếu chưa được chủng ngừa bằng vắc- xin.

Đến hẹn lại lên, mỗi năm vào khoảng tháng 2, thủy đậu trở thành mối lo của các bậc phụ huynh có con nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 1 – 13 tuổi, vì đây là thời điểm dịch thủy đậu xảy ra. Có đến 90% trẻ em mắc bệnh trong giai đoạn 1- 10 tuổi. Bệnh biểu hiện qua các ban sần – mụn nước gây khó chịu và ngứa toàn thân, kèm theo sốt.

Trẻ thường gãi móng tay vào mụn nước khiến chúng vỡ ra gây nhiễm trùng, do đó, lẽ ra con siêu vi trùng này chỉ gây tổn thương nông ở bề mặt da, nay bị các vi khuẩn làm tổn thương sâu da bé, khi lành bệnh tạo thành những sẹo. Lúc ấy, con trẻ sẽ mất tự tin khi lớn lên, đặc biệt là bé gái.

cham-soc-tre-nho-truoc-mua-dich-thuy-dau

Viêm não do thủy đậu là một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh này, xảy ra ở những trẻ suy dinh dưỡng, đề kháng kém. Vi-rút chẳng thèm ở ngoài lớp da bên ngoài, mà chạy thẳng vào máu, tàn phá các cơ quan như thận, não, gan… gây tình trạng sốt dao động, trẻ li bì, quờ quạng tay chân, có thể co giật.

Những trường hợp này nếu tích cực hồi sức, chữa trị khỏi thì cũng để lại di chứng thần kinh như: điếc, động kinh, trí tuệ chậm phát triển.

Một biến chứng khác không kém phần nguy hiểm là bị viêm phổi do thủy đậu. Nếu trẻ sốt cao, ho nhiều thì coi chừng. Một con siêu vi tưởng như chỉ hoành hành ngoài da rồi hô biến nhưng chúng vẫn không từ bỏ cơ hội để chui vào trong cơ thể của bé mà gây hại, để lại di chứng cay đắng suốt cuộc đời.

Bệnh xuất hiện chủ yếu tại các trường học, cơ quan hay xí nghiệp và thường gây thành dịch vì siêu vi có tốc độ lây lan nhanh chóng qua đường hô hấp khi tiếp xúc với người bệnh ở những nơi đông người; qua tiếp xúc với dịch tiết của các bong nước vỡ ra; và từ mẹ sang con khi bị nhiễm thủy đậu trong thai kỳ; bệnh còn có thể lây lan từ những người bệnh trong giai đoạn ủ bệnh chưa có triệu chứng.

Nguy hiểm và dễ lây lan nhưng không ít người vẫn cho rằng thủy đậu là bệnh nhẹ, nên chủ quan và không chú ý đến việc phòng ngừa.

Rất nhiều trường hợp cha mẹ chỉ khi nhìn thấy đứa trẻ bên cạnh nhà bị thủy đậu mới hốt hoảng mang con đi chủng ngừa, nhưng con vẫn bị thủy đậu cho dù đã chích ngừa. Kiểu nước đến chân mới nhảy này vô tình khiến con em họ phải gánh chịu những hậu quả không mong muốn do thủy đậu gây ra.

Nên chủng ngừa thủy đậu

Ngoài việc cách ly, vệ sinh và chăm sóc cẩn thận cho trẻ khi trẻ bệnh, chủng ngừa vắc-xin là chính là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ trẻ và cả người lớn tránh khỏi thủy đậu.
Tốt nhất là thực hiện tiêm ngừa cho trẻ trước mùa trước khi mùa bệnh xảy ra. Nếu con bạn chưa được chủng ngừa thủy đậu, đây chính là lúc tốt nhất để chủng ngừa cho con bạn. Hãy đưa trẻ đến các bệnh viện và trung tâm y tế dự phòng để chủng ngừa trước khi mùa dịch bắt đầu.

Lưu ý khi tiêm chủng ngừa

Chủng ngừa 2 liều vắc-xin cho cả trẻ em và người lớn để bảo vệ tối ưu nhất.
Vắc-xin có thể áp dụng cho cả trẻ em từ 12 tháng trở lên, thanh thiếu niên và người lớn chưa nhiễm bệnh. Phụ nữ có thai thì không chích ngừa vắc-xin này, và chỉ nên có thai tốt nhất là 3 tháng sau khi chủng ngừa.

Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh chân tay miệng đang có xu hướng bùng phát trở lại

Nhờ các biện pháp quyết liệt từ Bộ Y tế đến chính quyền cơ sở, dịch sởi ở các tỉnh phía Bắc đang bắt đầu chững lại, số bệnh nhân mắc mới đang giảm dần. Tuy nhiên, bệnh tay – chân – miệng (TCM) đã bắt đầu xuất hiện ở một số tỉnh phía Nam. Điều này cho thấy, phòng chống dịch phải là công việc thường xuyên không được lơi là ở cả Trung ương và địa phương.

Theo báo cáo của Sở Y tế Cần Thơ, 4 tháng đầu năm trên địa bàn thành phố có 304 trường hợp mắc bệnh TCM, 130 trường hợp mắc sốt xuất huyết (SXH), 12 trường hợp mắc bệnh sởi, tăng 9 trường hợp so với cùng kỳ năm 2013, chưa có trường hợp tử vong. Hiện nay, ngành y tế của thành phố đã thiết lập mạng lưới bệnh viện vệ tinh để giảm tải cho Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ; đẩy mạnh công tác giám sát, xử lý các ca bệnh sởi, TCM và SXH khi mùa mưa đang đến, nhất là ở những nơi đông người, nhà trẻ, mẫu giáo, đồng thời quản lý thực hiện tiêm chủng đầy đủ cho trẻ.

Trong khi đó, tại Cà Mau, bệnh TCM đã diễn biến phức tạp từ tháng 3/2014, thống kê chưa đầy đủ trên địa bàn tỉnh này đã ghi nhận hơn 700 ca mắc bệnh, chủ yếu là trẻ em từ 3 – 5 tuổi, tăng 20,13% so với cùng kỳ năm 2013, không có ca tử vong. Ngành y tế Cà Mau đã kịp thời khống chế và xử lý 38 ổ dịch tập trung cao tại các huyện: Đầm Dơi, Thới Bình, Cái Nước và TP. Cà Mau, đạt yêu cầu 100%. BS. Nguyễn Thanh Dân, Giám đốc Trung tâm YTDP Cà Mau cho biết, trong cả dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5 năm nay, ngành đã tổ chức ứng trực tiếp nhận thông tin để kịp thời xử lý các ổ dịch nếu có tình huống bất ngờ; tập trung tăng cường công tác chỉ đạo tuyến cơ sở và nâng cao chất lượng tuyên truyền trong nhân dân, chủ động đề ra kế hoạch giám sát các loại dịch bệnh. Đặc biệt, chú ý các bệnh thường xảy ra vào đầu mùa mưa có nguy cơ bùng phát thành dịch lớn như: SXH, TCM, viêm não, cúm A/H5N1, H1N1…

benh-chan-tay-mieng-dang-co-xu-huong-bung-phat-tro-lai

BS. Huỳnh Thanh Tân – Phó Giám đốc Trung tâm YTDP tỉnh Vĩnh Long cho biết, sắp tới sẽ tập trung vào 3 nội dung quan trọng là: phòng chống bệnh SXH, TCM và bệnh cúm trên người… khi các bệnh này đang có số mắc cao, nguy cơ lây lan nhanh khi thời tiết chuyển mùa. Thống kê của ngành y tế tỉnh này cho thấy, từ đầu năm đến nay đã có gần 600 ca mắc TCM, trong đó, Long Hồ và Vũng Liêm là hai địa phương có số ca mắc bệnh nhiều nhất. Ngành y tế Vĩnh Long đặc biệt lưu ý đến các điểm trường mầm non, các nhóm trẻ gia đình cần tăng cường các biện pháp vệ sinh phòng bệnh. Khi thấy trẻ có những biểu hiện như: sốt, nổi bóng nước ở miệng hay lòng bàn tay, nên đưa trẻ đến cơ sở y tế để được theo dõi, điều trị kịp thời.

Thời điểm giao mùa, bệnh TCM ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và thủy đậu cũng gia tăng, tập trung ở trẻ em. Toàn tỉnh đã ghi nhận 997 ca mắc bệnh TCM, trong đó có 1 trường hợp tử vong (tại phường 6, TP.Vũng Tàu), so với cùng kỳ năm 2013, tăng 38%. TP.Vũng Tàu là địa phương có số ca mắc bệnh TCM cao nhất, với 742 ca (chiếm 74,4% toàn tỉnh), huyện Côn Đảo là địa bàn thấp nhất, chỉ chiếm 0,1%. Ngành y tế Bà Rịa Vũng Tàu đã xử lý 47 ổ dịch, trong đó có 4 ổ dịch tại trường học và 43 ổ dịch tại cộng đồng. Trong khi đó, bệnh thủy đậu cũng có xu hướng tăng cao, gấp 4,9 lần so với cùng kỳ năm 2013, hiện đã có 769 trường hợp được ghi nhận và TP.Vũng Tàu là địa phương có số ca mắc cao nhất, với 545 ca. Đa số các ca TCM và thủy đậu đều điều trị ngoại trú, số ít ca ở mức độ nặng phải điều trị nội trú. Ghi nhận tại Bệnh viện Bà Rịa, mỗi ngày có từ 5 – 6 ca điều trị nội trú TCM, thời điểm hiện tại không có ca nào đang điều trị nội trú bệnh thủy đậu. Tại Bệnh viện Lê Lợi, bệnh nhi TCM điều trị nội trú khoảng từ 15 – 30 em.

Cách ly triệt để, đề phòng lây nhiễm chéo
Trước tình hình diễn biến phức tạp của bệnh TCM, ngay trước kỳ nghỉ lễ kéo dài 5 ngày, Bộ Y tế đã có văn bản chỉ đạo Giám đốc Sở Y tế các địa phương tăng cường công tác phòng chống dịch, bệnh TCM. Bộ Y tế cho biết, từ đầu năm đến nay cả nước ghi nhận 17.410 trường hợp mắc bệnh TCM tại 62 địa phương, giảm 20% so với cùng kỳ năm 2013. Do tính chất lây truyền và hiện chưa có vaccin phòng bệnh, Bộ Y tế dự báo dịch bệnh TCM có xu hướng gia tăng trong thời gian tới đây. Để tiếp tục tăng cường công tác phòng chống dịch, bệnh TCM, Bộ đề nghị Giám đốc Sở Y tế các địa phương tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, tổ chức các chiến dịch tuyên truyền vệ sinh cá nhân và vệ sinh nơi sinh hoạt. Chỉ đạo các đơn vị y tế tăng cường giám sát, phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh, thực hiện cách ly, kịp thời xử lý triệt để ổ dịch, không để bùng phát dịch trong cộng đồng. Thực hiện điều tra, đánh giá để xác định các đối tượng nguy cơ để đưa ra các biện pháp phòng chống phù hợp với tình hình dịch bệnh. Tổ chức tốt việc thu dung điều trị bệnh nhân, lưu ý đối với các bệnh nhân nặng, hạn chế thấp nhất các trường hợp tử vong. Thực hiện tốt phòng tránh lây nhiễm chéo trong các cơ sở điều trị, đặc biệt phòng lây nhiễm chéo giữa bệnh TCM với bệnh sởi, viêm phổi và viêm đường hô hấp khác.

Ngoài ra, Bộ Y tế yêu cầu các Sở Y tế phải chủ động chuẩn bị đủ kinh phí để đảm bảo nhu cầu về thuốc, vật tư, hóa chất, trang thiết bị cho các hoạt động phòng, chống dịch bệnh. Tổ chức tập huấn cập nhật kiến thức về giám sát phát hiện bệnh và điều trị ở tất cả các tuyến để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ y tế…

Nguồn sức khỏe đời sống

Nhận biết và chăm sóc trẻ bị sởi

Nguyên nhân mắc bệnh
Tác nhân gây bệnh sởi là virút thuộc giống morbillivirus của họ Paramyxoviridae. Bệnh sởi là tình trạng nhiễm virút cấp tính.
Sởi lan truyền do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Sự lan truyền từ người bệnh đến người lành có thể xảy ra khi người lành hít phải những giọt không khí có virút sởi sau khi người bệnh xả ra 2 tiếng đồng hồ.
Người bệnh có thể lây nhiễm cho người khác trước và sau vài ngày xuất hiện triệu chứng của bệnh.

nhan-biet-va-cham-soc-tre-bi-soi1

Triệu chứng bệnh sởi
Khi bị nhiễm sởi, sau giai đoạn ủ bệnh kéo dài khoảng 7 ngày – 2 tuần, bệnh nhân thường có những triệu chứng thường gặp sau đây:
– Lúc mới khởi bệnh trẻ thường bị sốt cao, khi dấu hiệu sốt thuyên giảm sẽ bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phát ban đặc trưng của sởi.
– Ban sởi rất đặc trưng: lúc đầu ban nổi ở sau tai, sau đó lan ra mặt, rồi lan dần xuống ngực bụng và lan ra toàn thân. Khi ban sởi biến mất cũng mất dần theo thứ tự đã nổi trên da, đặc điểm ban sởi là ban dạng sẩn (ban gồ lên mặt da), khi bay sẽ để lại những vết thâm trên da rất đặc trưng thường gọi là “vằn da hổ”.
– Ngoài ra, trẻ bị mắc sởi thường có một số triệu chứng kèm theo như: chảy nước mũi, ho hay đỏ mắt, đôi khi trẻ bị tiêu chảy vì tình trạng viêm long đường tiêu hóa.

Những biến chứng thường gặp
Sự nguy hiểm của bệnh sởi chính là những biến chứng do bệnh gây ra. Trẻ em là đối tượng có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao, nhất là khả năng bị những biến chứng nặng nề của bệnh. Những biến chứng thường gặp khi mắc bệnh sởi được ghi nhận tại các cơ sở y tế trong những năm qua cụ thể như sau:
– Biến chứng thường gặp nhất là viêm tai giữa cấp xảy ra ở 1/10 số trẻ bị nhiễm sởi.
– Viêm phổi nặng xảy ra khoảng 1/20 số trường hợp bị mắc sởi, có thể dẫn đến tử vong.
– Viêm não, xảy ra ở khoảng 1/1.000 số người mắc bệnh sởi.
– Tiêu chảy và ói mửa do sởi, thường xảy ra cho trẻ nhỏ, nhất là trẻ nhũ nhi.
– Mờ hoặc loét giác mạc có thể gây mù lòa, một biến chứng rất nguy hiểm của sởi.
– Suy dinh dưỡng nặng ở trẻ em hậu nhiễm sởi, làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ.
– Phụ nữ có thai mắc bệnh sởi có thể bị sảy thai, sinh non hay sinh trẻ nhẹ cân.

nhan-biet-va-cham-soc-tre-bi-soi

Chăm sóc trẻ nhiễm sởi đúng cách tại nhà
Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, điều quan trọng cần chú ý là thực hiện việc cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Người chăm sóc trẻ bệnhphải rửa tay sạch sẽ trước và sau mỗi lần tiếp xúc với trẻ bệnh, rồi mới được chăm sóc trẻ lành.
Do bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao nên việc phòng ngừa bệnh, tránh tình trạng lây lan trong cộng đồng là điều phụ huynh cần chú ý. Mọi người cần giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh nhà cửa và môi trường chung quanh, giữ gìn phòng ốc thông thoáng, sạch sẽ.
Nâng cao sức đề kháng cho trẻ nhỏ bằng chế độ ăn với đầy đủ dưỡng chất cần thiết, đồng thời tăng cường lượng nước uống giàu vitamin nhất là vitamin A để bảo vệ đôi mắt của trẻ mắc bệnh sởi.
Tránh quan niệm cho bệnh nhân kiêng tắm, kiêng gió sẽ làm cho bệnh thêm trầm trọng hơn.
Trong trường hợp đã có tiếp xúc nguồn lây, việc sử dụng globulin miễn dịch có thể phòng ngừa bệnh hoặc làm giảm mức độ nặng của sởi. Tuy nhiên, đây là phương thức phòng ngừa đắt tiền và ít phổ biến.
Ngoài ra, một phương pháp phòng ngừa vô cùng hiệu quả và an toàn là sử dụng vắc-xin để tiêm ngừa cho trẻ.
Thực hiện chủ động việc tiêm ngừa bệnh sởi
Phòng bệnh bằng vắc-xin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, theo chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia (gọi tắt là EPI).

Tuy nhiên theo, các nhà khoa học, việc tiêm một mũi vắc-xin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng vì tỉ lệ trẻ tiêm phòng bệnh bị “sót” cũng như tỉ lệ được miễn dịch của vắc-xin này cũng chỉ đạt ở mức 90%. Do vậy, cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2 lúc trẻ được 18 tháng tuổi, việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch đạt tới 99%.
Vắc-xin sởi đã được chứng minh hiệu quả bảo vệ cao sau khi tiêm ngừa, hơn 90% trẻ tiêm ngừa được bảo vệ phòng tránh căn bệnh nguy hiểm này, đây là một vắc-xin rất an toàn vì rất hiếm hoặc hầu như không có trường hợp nào xảy ra phản ứng nghiêm trọng sau tiêm ngừa.

Theo sức khỏe đời sống

Sự thật về bài thuốc “10 phút khỏi bệnh sởi”

Trên các mạng xã hội hiện đang lan truyền với tốc độ chóng mặt bài thuốc “10 phút khỏi bệnh sởi” nhờ tắm lá, hạt mùi… Tuy nhiên, cả chuyên gia đông y, tây y đều khẳng định, không có cơ sở khoa học với những bài thuốc dân gian truyền miệng này.

Bên lề cuộc họp nóng của Bộ Y tế diễn ra ngày 16/4 tại BV Nhi Trung ương, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi BV Bạch Mai bất ngờ trước thông tin bài thuốc “10 phút khỏi sởi” mà gần đây, nhiều bệnh nhân đưa con vào viện khám đều hỏi các bác sĩ.

“Bệnh nhân hỏi bác sĩ cũng bất ngờ, sau hỏi ra mới biết, bài thuốc “10 phút khỏi sởi” mà mọi người đang lan truyền là sử dụng hạt, lá mùi nấu nước tắm cho trẻ. Theo các mẹ, chỉ cần 10 phút chuẩn bị là có nồi nước tắm lá, hạt mùi thơm phức mà lại hiệu quả phòng, chữa khỏi bệnh sởi. Thế nhưng tôi khẳng định, tắm nước lá, hạt mùi không thể khỏi được sởi”, PGS Dũng khẳng định.

su-that-ve-bai-thuoc-10-phut-khoi-benh-soi

Theo PGS Dũng, đến nay chưa có một bằng chứng khoa học nào về những bài thuốc dân gian như hạt, lá mùi chữa sởi. Tắm lá, hạt mùi chỉ là một biện pháp chăm sóc vệ sinh cơ thể. Không chỉ riêng lá mùi, mà bất cứ loại lá nào có tính sát khuẩn đều có thể dùng để tắm, mục đích là vệ sinh da trẻ sạch sẽ, phòng nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn. Còn nói tắm nước lá, hạt mùi để khỏi bệnh sởi thì không có cơ sở.

“Bình thường trẻ nhỏ mắc sởi nếu nhẹ, không cần chăm sóc, điều trị đặc biệt gì đặc biệt bệnh vẫn tự khỏi. Chỉ cần giữ vệ sinh sạch sẽ, tắm rửa hàng ngày phòng bội nhiễm, dinh dưỡng tốt… sau vài ba ngày sởi sẽ khỏi”, PGS Dũng cho biết.

Cùng quan điểm này, PGS.TS Phạm Nhật An, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết chưa có nghiên cứu khoa học nào về vấn đề này. Chỉ có trong dân gian mọi người truyền nhau dùng lá mùi để tắm gội phòng một số bệnh chứ các bác sĩ không hề khuyến cáo như vậy. Đây cũng chỉ là một biện pháp tắm, sát khuẩn mà bác sĩ tây y hướng dẫn phụ huynh tắm cho con để phòng bội nhiễm vi khuẩn trên da. Tuy nhiên thay vì dùng các loại sát khuẩn, sữa tắm trẻ em thông thường thì dân gian thay bằng các loại lá có tính sát khuẩn nhưng lại mang hương thơm dễ chịu.

“Cách phòng bệnh tốt nhất vẫn là tiêm vắc xin (hiệu quả bảo vệ 95%, còn 5% vẫn có nguy cơ mắc bệnh). Ở thời điểm đang có dịch hạn chế cho trẻ đến nơi đông người. Nước muối sinh lý có tác dụng sát trùng mũi họng chứ không có khả năng loại bỏ vi rút sởi hoàn toàn”, PGS An khẳng định

Chuyên gia đông y, bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng (Nguyên Chủ tịch Hội đông y Việt Nam) cho biết: “Tuyệt đối không lấy hạt mùi và lá mùi đun nước tắm cho trẻ trong khi đang bị sốt, ủ bệnh sởi hay khi trẻ đã mọc ban và thậm chí là ngay khi sởi vừa bay”. Hơn nữa tắm lá mùi, hạt mùi cũng mang tính sát khuẩn chứ không có nghĩa tắm lá mùi là khỏi bệnh sởi”.

Lá mùi, hạt mùi vẫn được dân gian sử dụng làm nước tắm, nhất là vào những dịp cuối năm tắm tất niêm với phong tục “tẩy trần” sạch sẽ đón năm mới, do lá mùi, hạt mùi có mùi hương thoang thoảng rất dễ chịu.

Các chuyên gia cho biết, thời tiết nắng ẩm của miền Bắc hiện tại là điều kiện lý tưởng cho vi rút sởi sinh sôi, phát triển và sống lâu. Vi rút này bị tiêu diệt nhanh khi nắng hanh, thông thoáng. Vì thế, tại mỗi gia đình, việc vệ sinh phòng ốc, nhà cửa thông thoáng là rất quan trọng. Ngoài ra, vệ sinh cá nhân, rửa tay xà phòng thường xuyên cũng giúp giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh đường hô hấp, lây nhiễm sởi. Khi đi ra chỗ đông người nên đeo khẩu trang y tế.

Với trẻ nhỏ, cần tăng cường sức khỏe cho trẻ bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý và luôn nhớ tiêm chủng đúng lịch cho trẻ để phòng bệnh chủ động nhất.

Theo sức khỏe đời sống

Phòng biến chứng từ bệnh sởi

Bệnh sởi ở trẻ tại nhiều địa phương đang diễn biến rất phức tạp và có khả năng gây biến chứng nặng, nguy hiểm, do đó các phụ huynh không được chủ quan, cần cảnh giác cao với bệnh này.

Diễn biến của bệnh sởi ở nước ta trong thời gian gần đây
Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương, trong tháng 3 có tới 345 bệnh nhi nhập viện vì bệnh sởi, nhiều nhất là trẻ biến chứng mắc viêm phế quản phổi. Trong mấy ngày gần đây số trẻ bị sởi có biến chứng nặng vào viện rất đáng kể (trên 200). Theo các nhà chuyên môn thì đặc điểm khác biệt của dịch sởi năm nay là có nhiều trẻ dưới 9 tháng tuổi (độ tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên), thậm chí có bé 4 ngày tuổi đã bị mắc sởi (ở tuổi này đang có kháng thể của mẹ truyền cho).

Năm nay, theo thống kê thì trong thời gian vừa qua, tình hình dịch sốt phát ban nghi bệnh sởi đang có diễn biến tăng cao tại một số quận nội thành Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Theo đó, số người mắc bệnh sởi ở Hà Nội tập trung ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 80%, trong đó trẻ dưới 9 tháng tuổi chiếm 22,9% (đây là những đối tượng chưa đến tuổi tiêm vaccin phòng bệnh sởi); 31 trẻ lớn hơn 9 tháng tuổi mắc bệnh sởi không có trẻ nào được tiêm đủ 2 mũi vaccin sởi; 37,8% trẻ được tiêm 1 mũi vẫn mắc bệnh, số còn lại chưa được tiêm chủng. Trong khi mầm bệnh sởi đang lây lan, nếu trẻ chưa được tiêm phòng vaccin sởi thì nguy cơ mắc bệnh là rất cao, bởi vì, sởi là một bệnh lây lan rất nhanh, bệnh lây qua những giọt tiết của đường hô hấp khi bệnh nhân ho, hắt hơi. Thời gian lây bệnh cho người lành là giai đoạn viêm long hô hấp trên và thời kỳ phát ban.

phong-bien-chung-tu-benh-soi

Biểu hiện của bệnh sởi
Khoảng 10-12 ngày sau khi tiếp xúc với người bệnh thì bắt đầu có các triệu chứng lâm sàng xuất hiện. Đối với bệnh sởi thì thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên và có thể gặp ở những trẻ lớn mà chưa có miễn dịch chống virut sởi. Thời kỳ nung bệnh của bệnh sởi khoảng từ 7 – 10 ngày. Bệnh khởi phát sốt đột ngột trên 38oC, mắt ướt, nhiều ghèn làm cho mắt bị kèm nhèm, chảy mũi nước, ho và có thể bị rối loạn tiêu hoá (tiêu chảy). Đặc biệt, khi bệnh toàn phát thì sốt rất cao có khi thân nhiệt lên tới 39-40oC, thể trạng li bì, mệt mỏi nhiều. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên ở mặt trong má, đây là một dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Ban xuất hiện đầu tiên ở sau tai rồi lan ra mặt, mắt, cổ, thân mình và tứ chi trong vòng từ 1 – 2 ngày.

Khi hết sốt thì ban sởi bắt đầu mất dần (sởi bay) và sau khi sởi bay có để lại các nốt thâm trên da trong một thời gian làm cho da bị loang lổ trông giống da hổ. Các ban của sởi mất dần theo tuần tự, tức là nơi nào xuất hiện trước thì ban bay trước (sau tai, mặt). Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng, thậm chí biến chứng đe dọa đến tính mạng người bệnh.

Cách ngăn chặn bệnh sởi lây lan

phong-bien-chung-tu-benh-soi1
Các chuyên gia khuyến cáo, phụ huynh cần đưa trẻ đi tiêm phòng để vừa phòng bệnh cho trẻ vừa tạo miễn dịch bền vững để khi thế hệ này trưởng thành, đến tuổi sinh đẻ có đủ miễn dịch truyền cho con (nữ giới). Vì vậy, đợt tiêm vét vaccin sởi này các phụ huynh cần cho trẻ đi tiêm phòng không nên chậm trễ.

Tại gia đình có trẻ bị sởi thì không cho trẻ tiếp xúc với trẻ lành và trẻ bị sởi phải nghỉ học để tránh lây lan cho trẻ khác trong lớp học, trong trường. Cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với trẻ bệnh sởi và người nghi bị sởi (nếu trẻ lớn có thể đeo khẩu trang để hạn chế mầm bệnh lây sang người khác). Rửa tay sạch bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với trẻ bị sởi và người nghi bị bệnh. Trẻ mắc sởi nhẹ có thể chăm sóc tại gia đình nhưng phải theo dõi thật cẩn thận, không được chủ quan, khi thấy trẻ sốt trở lại hoặc bất thường cần cho trẻ đi bệnh viện ngay.

Cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ bệnh (uống nhiều nước, ăn thêm trái cây hoặc uống nước ép trái cây, ăn lỏng, đủ chất dinh dưỡng, dễ tiêu hóa và không nên kiêng khem quá mức).

Theo sức khỏe đời sống

Dịch sởi – căn bệnh muôn thuở

Sởi là một bệnh truyền nhiễm do virus gây ra và dễ bùng phát thành dịch, thường gặp ở trẻ em. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi ít khi mắc sởi vì đang có kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai. Sau đó kháng thể của mẹ ở trẻ sẽ giảm dần khi trẻ lớn. Đây là lý do tiêm chủng phòng sởi thường được thực hiện trước 12 tháng.

Các biểu hiện đặc trưng của sởi bao gồm viêm ở kết mạc mắt, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa, sau đó phát ban đặc hiệu ngoài da, thường để lại nhiều biến chứng nặng cho trẻ em nếu không được điều trị kịp thời. Sau khi tiếp xúc với mầm bệnh, người bệnh thường trải qua giai đoạn ủ bệnh kéo dài từ 10-12 ngày mà không hề có biến chứng. Tiếp theo đó là giai đoạn đặc trưng bởi sốt mức độ nhẹ đến vừa, ho khan, chảy nước mũi, viêm kết mạc mắt.

Phát ban là giai đoạn điển hình nhất của bệnh sởi với triệu chứng phát ban tuần tự trên da. Ban thường xuất hiện đầu tiên ở vùng chân tóc phía sau tai, sau đó xuất hiện ở mặt và lan dần xuống phía dưới trong vòng 24 – 48 giờ. Ban sởi là những ban dạng dát – sẩn hơi nổi lên trên bề mặt da, sờ mịn như nhung và không đau, không hoặc ít ngứa, không sinh mủ.

dich-soi-can-benh-muon-thuo

Phòng bệnh sởi như thế nào

Các biến chứng thường gặp là viêm phổi, viêm tai giữa, viêm thanh quản, viêm não, cam tẩu mã, viêm ruột kéo dài dẫn đến tình trạng tiêu chảy liên tục, loét giác mạc, suy dinh dưỡng. Tiến sĩ Phạm Nhật An, Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, năm nay sởi có diễn biến rất đặc biệt, biến chứng viêm phổi rất nặng nề. Dù đã điều trị tăng cường miễn dịch, dùng kháng sinh ngay từ đầu nhưng tình trạng bệnh của trẻ vẫn rất nặng.

Khi phát hiện có trẻ mắc sởi, cần cách ly trẻ bệnh với các trẻ lành. Hiện nay có vaccine sởi – quai bị – rubella tiêm phòng cho trẻ mũi đầu khi trẻ được 9 tháng tuổi, mũi thứ hai lúc trẻ lên 4 – 6 tuổi được coi là cách phòng bệnh hữu hiệu nhất.

Để phòng ngừa bệnh hiệu quả người dân cần thực hiện tốt:

– Vệ sinh cá nhân: Đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh và người nghi bị bệnh; Rửa tay bằng xà phòng sau khi tiếp xúc với người bệnh và người nghi bị bệnh; Che miệng khi ho, hắt hơi.

– Vệ sinh môi trường: Tẩy trùng sàn nhà, đồ chơi trẻ em, dụng cụ, vật dụng của người bệnh bằng dung dịch cloramin B.

Theo các bác sĩ chuyên khoa, khi bị bệnh sởi bệnh nhân nên kiêng các loại thức ăn chứa protein gây dị ứng như kiêng dùng các loại thủy sản, cá rô, cá chép, cá hoa vàng, cua, tôm càng, tôm nõn, cá diếc, sò, nghêu, các loại thịt dê, thịt chó, thịt gà, vịt, ngựa, lừa, các loại côn trùng như chấu chấu, kén nhộng, các loại rau kích thích như ớt, rau thơm, các thứ gia vị thơm cay như hoa hồi, bột hạt cải… Ngoài ra, nên kiêng gió, kiêng bẩn, cách ly trẻ, cho trẻ ở phòng thoáng, sáng, tránh gió lùa. Lau người cho trẻ hàng ngày bằng khăn sạch, mềm. Thường xuyên rửa mặt, lau mồm cho bé, thay ga, đệm, quần áo để đảm bảo giữ vệ sinh cho trẻ.

Dịch sởi nặng nhất trong hàng chục năm

Ngày 4/4, cùng với sự tham gia của đại diện Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Saint Paul, Bệnh viện Sản nhi Ninh Bình, Bộ Y tế tiếp tục làm việc với Bệnh viện Nhi Trung ương về vấn đề quá tải bệnh nhân nặng và khó, trong đó có rất nhiều người bị sởi. Bệnh này xảy ra trùng với thời điểm của các bệnh hô hấp do chuyển mùa đang có xu hướng tăng nên tình trạng quá tải càng thêm trầm trọng.

Theo thống kê của Bệnh viện Nhi Trung ương, trong tháng 3 có tới 345 bệnh nhi nhập viện vì bệnh sởi, nhiều nhất là trẻ mắc viêm phế quản phổi. Tiến sĩ Phạm Nhật An cho biết, trước đây ông từng chứng kiến trẻ mắc sởi bị hoại tử, mù lòa, tiêu chảy, suy sinh dưỡng… nhưng năm nay sởi có diễn biến rất đặc biệt, biến chứng viêm phổi rất nặng nề. Dù đã điều trị tăng cường miễn dịch, dùng kháng sinh ngay từ đầu nhưng tình trạng bệnh của trẻ vẫn rất nặng

dich-soi

“Số trẻ bệnh nặng nhiều nên bệnh viện rất đông. Chưa bao giờ Bệnh viện lại dành riêng khoa lây chỉ để tiếp nhận các trẻ mắc sởi”, tiến sĩ An nhấn mạnh.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), đặc điểm khác biệt của dịch sởi năm nay là có nhiều trẻ dưới 9 tháng tuổi – độ tuổi tiêm phòng mũi đầu tiên, thậm chí có bé 4 ngày tuổi đã bị. Khoa của ông tiếp nhận đến 3 bé có diễn biến bệnh đặc biệt (một tử vong) do virus sởi tấn công trực tiếp vào phổi. Trong khi với những ca sởi thông thường, sau khi ban bay, sức đề kháng giảm, trẻ mới bị biến chứng do bội nhiễm vi khuẩn khác (không phải do virus sởi).

Để giảm sự lây lan của dịch sởi, ông Mai Trọng Khoa – Phó Cục trưởng quản lý Khám chữa bệnh Bộ Y tế – đề nghị Bệnh viện Nhi Trung ương làm tốt công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện, phòng lây truyền sởi như phòng cúm. Nhân viên y tế có thể không bị lây nhiễm bệnh nhưng với trẻ dưới 9 tháng tuổi, miễn dịch kém thì nguy cơ này rất lớn.

Các chuyên gia khuyến cáo, cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm phòng để vừa phòng bệnh cho trẻ vừa tạo miễn dịch bền vững để khi thế hệ này trưởng thành, đến tuổi sinh đẻ có đủ miễn dịch truyền cho con. Đồng thời, không phải trường hợp nào mắc sởi cũng cần cho vào bệnh viện, nếu bị nhẹ có thể chữa ở nhà sẽ an toàn hơn. Tương tự, khi trẻ mắc bệnh hô hấp thông thường nên để trẻ chữa ở tuyến dưới vì đã có phác đồ điều trị chung. Thực tế có trẻ viêm phế quản phổi nằm viện điều trị 5 ngày, sau đó lại bị lây sởi và bệnh diễn biến nặng hơn.

Nguồn đọc báo

Biến chứng của các bệnh truyền nhiễm qua tình dục

Có trên 20 bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD), nhưng thường gặp là các bệnh lậu, giang mai, trùng roi sinh dục, nhiễm Chlamydia, bệnh hạ cam, hespes sinh dục, sùi mào gà sinh dục và HIV/AIDS.

Biểu hiện của các bệnh LTQĐTD gồm: có dịch bất thường chảy ra từ âm đạo hoặc đầu dương vật; hậu môn hoặc cơ quan sinh dục bị ngứa, đau, đỏ, rát hoặc có các nốt, các vết loét bất thường; tiểu đau, buốt hoặc rát, hoặc tiểu nhiều hơn bình thường; đau bất thường ở vùng bụng dưới mà không liên quan gì tới việc hành kinh; trên da có nhiều mụn cóc, hoặc các mụn phỏng rộp, đau, chảy nước, hoặc có lốm đốm đỏ, hay các u nhọt quanh miệng hoặc cơ quan sinh dục hoặc nổi hạch ở vùng bẹn…; đau nhiều khi giao hợp ở các thiếu nữ hoặc có ra máu sau quan hệ tình dục. Tuy nhiên, một số bệnh LTQĐTD không thể hiện dấu hiệu rõ ràng, chẳng hạn như bệnh do Chlamydia, nhiễm virut viêm gan B và C, nhiễm HIV… Vì thế người mắc có thể không biết mình đã bị mắc bệnh, nhưng vẫn có thể làm lây bệnh cho người khác.

bien-chung-cua-cac-benh-truyen-nhiem-qua-tinh-duc

Biến chứng của các bệnh LTQĐTD rất nguy hiểm như: viêm hố chậu, chửa ngoài tử cung (có thể đe dọa tính mạng), gây chết người (HIV hoặc viêm gan siêu vi B, C…), vô sinh, chít hẹp niệu đạo, giang mai bẩm sinh (do mẹ bị bệnh truyền sang con, gây dị hình ở trẻ sơ sinh), viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh, nguy cơ bị ung thư, tổn thương não hoặc phá hủy gan… Vì thế, nếu nghi ngờ bị mắc bệnh cần lập tức đi khám chuyên khoa da liễu để xác định nguyên nhân và điều trị kịp thời. Khi đã mắc bệnh, cần dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, tuyệt đối không bỏ thuốc khi thấy đỡ triệu chứng. Khi dùng hết thuốc nên đi khám lại. Trong quá trình điều trị bệnh nên hạn chế quan hệ tình dục (nếu có thì phải sử dụng bao cao su). Hãy khuyên bạn tình của mình đi khám và chữa bệnh để tránh tình trạng lây chéo giữa hai người.

Để phòng bệnh, quan trọng nhất là mọi người, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên phải có những hiểu biết cần thiết về tình dục, về sức khỏe sinh sản và các bệnh LTQĐTD để tự phòng cho bản thân và tránh làm lây bệnh ra cộng đồng. Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là sống chung thủy lành mạnh. Dùng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cảnh báo dịch thủy đậu

Trước những ca nhập viện do mắc bệnh thủy đậu ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM), các bác sĩ lại gióng lên hồi chuông cảnh báo phụ huynh không được lơ là căn bệnh tưởng chừng ít nguy hiểm này.

“Con tôi bị thủy đậu đến bữa nay là sáu ngày rồi nhưng mới nhập viện hôm qua. Năm ngày trước tôi để bé ở nhà, đi khám với uống thuốc bác sĩ tư gần nhà cho tiện. Bé bị lây từ anh, tôi cũng bị lây từ con nhưng nhẹ hơn. Còn bé đến ngày thứ ba thì nổi nhiều, sốt cao, phải đưa vô bệnh viện” – chị Phạm Thị Mộng Tuyền (Q.Bình Tân, TP.HCM) đang vỗ về cô con gái bé bỏng L.A.N. mới ba tháng rưỡi tuổi khóc ngằn ngặt, nói. Bé L.A.N. hiện là bệnh nhi nhỏ tuổi nhất trong phòng nội trú của khoa nhiễm – thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 1.

canh-bao-dich-thuy-dau

Một trẻ ba tháng rưỡi tuổi bị thủy đậu đang điều trị nội trú tại khoa nhiễm – thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 1

Biến chứng nặng suýt tử vong
Chỉ riêng ngày 8-1, Bệnh viện Nhi Đồng 1 đã tiếp nhận sáu trường hợp bệnh nhi bị thủy đậu. Bác sĩ Trương Hữu Khanh (trưởng khoa nhiễm – thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 1) cho biết: “Số bệnh nhi mắc bệnh thủy đậu bắt đầu tăng từ giữa tháng 12-2013 dù chưa phải mùa bệnh. Hiện mới là đầu mùa nhưng đã xuất hiện nhiều so với những năm trước.

Các năm trước thời điểm này chưa có. Tháng 2 mới vào mùa của bệnh và kéo dài đến tháng 6, trong đó cao điểm là tháng 3 và tháng 4. Ngoài ra có trường hợp bị biến chứng rất nặng, nguy cơ tử vong cao và xảy ra ở những trẻ rất nhỏ. Ngày 7-1, chúng tôi vừa tiếp nhận thêm sáu ca. Tất cả các bé khi nhập viện đều bị biến chứng do cơ địa (miễn dịch kém hoặc những bé trên 10 tuổi hay bị biến chứng nặng), cách chăm sóc không đúng khiến bé bị nhiễm trùng da”.

Trong các trường hợp nhập viện, một bé bị biến chứng rất nặng có nguy cơ tử vong. Đó là bé trai 13 tuổi, nhập viện đầu tháng 1-2014. Bệnh nhi này bị thủy đậu đã bảy ngày và khi bị sốt cao biến chứng thành viêm phổi rất nặng, suy hô hấp, khó thở dẫn đến hôn mê thì gia đình mới đưa bé nhập viện trong tình trạng ngưng thở. Bé phải thở máy liên tục 10 ngày cùng kháng sinh liều cao và đã may mắn qua khỏi tình trạng nguy kịch.

10 ngày tuổi đã bị thủy đậu
Đáng lo ngại là bệnh thủy đậu xuất hiện ở những trẻ rất nhỏ, có trẻ mới 1 tháng tuổi và thậm chí mới 10 ngày tuổi do lây từ mẹ. “Trong các nguồn lây thì lây từ mẹ là nguy hiểm nhất vì bé sơ sinh hệ miễn dịch kém, nổi bóng nước nhiều dễ bị nhiễm trùng, dễ bị viêm phổi. Nguyên nhân thứ hai là tiếp xúc với các bạn trong lớp hoặc người khác đang bị thủy đậu” – bác sĩ Khanh cho hay.

Theo bác sĩ Khanh, khi bị thủy đậu trẻ lớn thường nặng hơn trẻ nhỏ, kèm sốt cao, đau nhức mình mẩy rồi sau đó phát bóng nước. Còn trẻ nhỏ đang bình thường, hôm sau nổi bóng nước và trong vòng 24 giờ sẽ nổi toàn thân. Trẻ nào khỏe thì nổi ít, yếu thì nổi nhiều và những trẻ này rất dễ nhiễm trùng da. Khi nhiễm trùng da sẽ để lại sẹo xấu, hoặc nặng nữa là nhiễm trùng huyết và trầm trọng hơn thì gặp biến chứng vào phổi.

Về quan niệm sai lầm của nhiều cha mẹ trong việc chăm sóc trẻ bị bệnh thủy đậu, bác sĩ Khanh lưu ý: “Ông bà mình cho rằng để bé nổi bóng nước càng nhiều càng tốt, trong khi bệnh này bóng nước nổi càng ít càng tốt và phải điều trị sớm để bóng nước không nổi nhiều. Người lớn cần hiểu sức đề kháng của trẻ tốt thì mới không bị nổi nhiều. Chưa kể người già chữa theo kinh nghiệm dân gian cứ ủ bé lại không cho mụn nước nổi và không tắm cho bé khiến bé bị ngứa, gãi gây nhiễm trùng da.

Cha mẹ không kiêng ăn cho bé hoặc không tắm nước nấu với lá mà phải tắm rửa bằng xà bông như bình thường. Cách phòng bệnh là đeo khẩu trang, rửa tay hằng ngày, cách ly trẻ khi nhà hoặc khu vực xung quanh có người bị thủy đậu và nên cho trẻ chích ngừa”.

Nguồn báo sức khỏe

Viêm phổi ở trẻ sơ sinh

Khi bị viêm phổi, trẻ bị viêm các phế quản nhỏ, các phế nang và các tổ chức xung quanh phế nang. Tổn thương viêm rải rác 2 phổi làm rối loạn trao đổi khí dễ gây suy hô hấp. Triệu chứng bệnh thường sơ sài, không rõ ràng nên khi chuẩn đoán được thì bệnh đã nặng, dễ gây tử vong. Vì vậy, cần cho trẻ đi khám ngay khi có biểu hiện ho, bỏ bú, quyấy khóc…

tre-bi-viem-phoi

Triệu chứng ban đầu
Thường rất nghèo nàn và không đặc hiệu. Cần cho trẻ đến khám ở cơ sở y tế nếu có 1 trong các biểu hiện sau:
Bú kém hoặc bỏ bú.
Sốt trên 37,5oC hoặc hạ thân nhiệt mặc dù đã ủ ấm.
Li bì.
Thở nhanh trên 60 lần trong 1 phút hoặc khó thở.

Triệu chứng điển hình
Triệu chứng toàn thân: Trẻ sốt hoặc hạ thân nhiệt, li bì, đáp ứng kém với kích thích, bú kém hoặc bỏ bú, nôn nhiều, chướng bụng…
Suy hô hấp: Trẻ khó thở, rút lõm lồng ngừng, có thể tím tái, có cơn ngừng thở.
Nghe phổi có thể có ran ẩm nhỏ hạt.
Số lượng bạch cầu và bạch cầu trung tính trong máu tăng cao, trường hợp nặng có thể giảm hơn bình thường do trẻ không còn khả năng đề kháng.
Chụp phổi có thể thấy các đám mờ rải rác ở 2 thể phế trường.

Dầu cá có thể chữa được bệnh cúm

Hiện tại đã có thuốc chích ngừa cúm nhưng do virus biến đổi liên tục, các chủng mới liên tục xuất hiện nên thuốc ngừa cúm hiện tại chỉ có tác dụng bảo vệ khoảng 60%. Các thuốc kháng virus thì không hiệu quả khi chích cho người đã bị nhiễm bệnh được ít nhất hai ngày.

Nhà khoa học Yumiko Imai tại Trường đại học Akita (Nhật Bản) và các đồng nghiệp nghiên cứu để tìm ra loại thuốc hữu hiệu chống lại bệnh cúm. Họ nghiên cứu chất béo PD1 ở tế bào phổi người đã nhiễm nhiều chủng virus cúm. Đây là chất béo tự nhiên có trong axit béo omega-3 ở dầu cá.

Nhóm nghiên cứu phát hiện PD1 có thể ngăn virus sinh sản, bao gồm cả virus cúm gia cầm H5N1.
dau-ca
Các cuộc thử nghiệm khác ở chuột nhiễm cúm cũng cho thấy khi dùng PD1 kết hợp với các thuốc kháng virus khác thì có thể làm tăng tỉ lệ sống sót.

Kết quả cũng tương tự ngay cả khi đối tượng đã nhiễm bệnh được 2 ngày.

Kết quả nghiên cứu hứa hẹn khả năng phát triển được loại thuốc chống lại virus cúm hữu hiệu hơn.

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Cell.

Theo Thanh Niên

Đề phòng dịch bệnh từ bọ xít

Loài bọ xít hút máu sống bằng máu người hoặc động vật, khi không có động vật chúng sẽ tìm đến người để hút máu. Chúng không những chỉ xuất hiện ở các khu nhà ẩm thấp, tối tăm mà còn có mặt cả ở những khu nhà cao tầng, đầy đủ tiện nghi.

Bọ xít hút máu thường sống ở giường, đệm, tủ, khe nứt, trên trần nhà, dưới đống củi…, chúng có thể làm ổ cả trong hoặc ngoài nhà. Ban ngày bọ xít hút máu thường trốn vào các khe tối như khe giường, khe tủ… đêm đến mới hoạt động, nên con người thường không biết sự có mặt của chúng.

Theo các nhà khoa học, bọ xít hút máu là thủ phạm gây ra bệnh kí sinh trùng tại khu vực Mỹ La Tinh và bệnh dịch này chỉ xuất hiện tại các nước khu vực này. Tuy nhiên một trong số loài bọ xít hút máu loài Triatoma rubrofasciata đã và đang phát tán ra khỏi khu vực này từ nhiều thế kỷ trước và đang âm thầm phát tán trên toàn thế giới.

bo-xit

Sự phát tán của chúng qua các phương tiện giao thông đường biển và đường sông và có sự liên quan với vật chủ ưa thích hút máu của chúng là chuột.

Sự xuất hiện ồ ạt của loài sinh vật này tại Việt Nam (đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, vv), và tại Thái Lan (Klong Toei tại Bankok; Phuket), mới đây được phát hiện tại Philippine (Manila, Quezon City), tình trạng này không khác gì so với thực tế tại đảo Reunion (Pháp).

Thực tế lan rộng của loài bọ xít hút máu T. rubrofasciata cho thấy một nghiên cứu quy mô sâu rộng phải được thực hiện để tiếp cận, đánh giá kỹ lưỡng những hiểm họa dịch bệnh đo loài bọ xít hút máu T. rubrofasciata  gây ra trên phạm vi toàn cầu.

Chính vì vậy, từ ngày 17 đến 21/6, Hội thảo quốc tế về “Thực trạng vai trò dịch tễ của bọ xít hút máu tại Việt Nam” sẽ diễn ra tại Hà Nội sẽ là một cơ hội tốt để các chuyên gia đầu ngành về côn trùng trên toàn thế giới ngồi lại với nhau cùng nhìn nhận về hiện trạng sinh trưởng, phát tán lan rộng của loài côn trùng này bằng phân tích cơ sở khoa học, chuyên sâu, thấu đáo của các chuyên gia đầy kinh nghiệm từ Mỹ La Tinh.

Đặc biệt, các thông tin của các nước có kinh nghiệm theo dõi dài hạn với những người đã bị bọ xít đốt hoặc đã tiếp xúc với loài côn trùng này sẽ giúp ích cho những nước như Việt Nam có cơ hội phòng chống dịch bệnh trong trường hợp mầm bệnh theo chuột, bọ xít sang tới những nước mới.

Cách phòng chống bọ xít hút máu

Trước tình hình bọ xít hút máu xuất hiện ở nhiều nơi và có thể đốt người, nên người dân cần có một số biện pháp như sau:

– Người dân có thể nhận biết loại bọ xít này, khi nhìn thấy nó với các biểu hiện như: Bọ xít hút máu có chiều dài từ khoảng 1-3,5 cm,phần bụng rộng và dẹp, ở rìa thân có sọc màu vàng, thân có màu nâu đặc trưng. Nếu thấy chúng xuất hiện trong nhà, khe tủ, dưới đệm, giường tốt nhất là dùng vải ẩm chụp lên, giữ chặt cho côn trùng chết hẳn rồi bỏ vào thùng rác. Ngoài ra cũng có thể ngăn cản sự sinh sôi, phát triển của loài côn trùng này trong nhà bằng cách vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, khô ráo, thường xuyên vệ sinh các nơi ẩm thấp như khe giường, gầm tủ, gầm giường, dưới đệm.

– Nếu bị bọ xít hút máu người đốt, người dân nên rửa ngay vết đốt bằng xà phòng, không gãi tại chỗ vết đốt để tránh gây xước, viêm nhiễm và đến ngay cơ sở y tế chuyên về da liễu để được khám, điều trị chống dị ứng và chống viêm nhiễm tại chỗ. Không nên gãi hay đánh chết bọ xít ngay trên tay mình, vì sẽ làm vết đốt trở nên nghiêm trọng hơn. Người dân chú ý dọn dẹp vệ sinh giường, tủ… để loại trừ trứng nở thành ổ bọ xít hút máu phát tán.

– Để diệt loại bọ xít hút máu, ngoài việc giết chúng bằng phương pháp thủ công, có thể sử dụng các hóa chất dùng trong y tế như: Fendona 10SC, ICON 10 WP (các loại hóa chất diệt côn trùng thuộc nhóm pyrethroid), phun trong nhà và xung quanh nhà. Ngoài ra nên chú ý đến trứng để diệt tận gốc, bằng cách thu lại cho vào túi và đốt chúng.

– Để phòng, chống bọ xít hút máu, mỗi người nên thường dọn dẹp nhà cửa, gầm giường, phòng ngủ, mở cửa cho ánh nắng chiếu vào. Nếu phát hiện trong nhà có bọ xít hút máu thì nên tìm diệt chúng bằng cách dọn dẹp nhà cửa, gầm giường, dưới đệm phòng ngủ hoặc ban đêm thì tắt đèn và dùng đèn pin soi tìm diệt bọ xít và trứng bọ xít. Ở vùng đã phát hiện có bọ xít đốt hút máu thì nên ngủ màn và giắt màn cẩn thận để bọ xít không thể chui vào đốt người.

Theo Vnmedia

Lưu ý khi điều trị lỵ trực khuẩn

Lỵ trực khuẩn là một bệnh thường gặp ở mùa hè. Đây là bệnh truyền nhiễm lây bằng đường tiêu hóa do Shigella gây nên. Biểu hiện với tình trạng nhiễm độc toàn thân, nhiễm độc thần kinh và viêm đại tràng ở các mức độ khác nhau. Bệnh dễ phát thành dịch, diễn biến thường lành tính, tuy nhiên với thể nặng và thể tối độc, nếu điều trị không đúng và không kịp thời dễ dẫn tới tử vong hoặc để lại những di chứng nặng nề.

Biểu hiện như thế nào?

Biểu hiện lâm sàng đa dạng tùy theo sức đề kháng của bệnh nhân, týp huyết thanh, các bệnh mạn tính khác kèm theo. Thông thường, sau khi mắc bệnh 1 – 3 ngày, bệnh nhân đột ngột xuất hiện sốt cao, sốt nóng có gai rét, đôi khi có rét run. Kèm theo sốt là đau đầu nhiều, đau toàn bộ đầu, mệt mỏi, bơ phờ, thờ thẫn, mất ngủ, da xanh, tái, chán ăn, khát nước, môi khô, tiểu ít…

luu-y-khi-dieu-tri-ly-truc-khuan

Đau bụng âm ỉ dọc theo khung đại tràng, nhất là vùng hố chậu trái, đôi lúc đau quặn thành cơn làm bệnh nhân xuất hiện cảm giác mót rặn. Sau mỗi lần đi ngoài, cảm giác đau xu hướng giảm sau đó lại xuất hiện trở lại. Đại tiện xuất hiện sau mỗi lần đau quặn bụng, đi ngày nhiều lần, từ vài lần đến vài chục lần, khi đại tiện luôn có cảm giác mót rặn. Phân lỏng, sệt lúc đầu, sau đó phân toàn nhầy máu lẫn lộn, nhầy mủ, nước phân như nước rửa thịt, tanh và thối.

Điều trị như thế nào?

Bù nước và điện giải là vấn đề quan trọng nhất, đặc biệt nếu lỵ trực khuẩn cấp xảy ra ở trẻ em, phải cho trẻ uống bù nước ngay vì ở trẻ em thể trọng cơ thể nhỏ, khi tiêu chảy, sốt cao rất dễ bị mất nước, điện giải, sẽ nhanh chóng gây giảm khối lượng tuần hoàn và rối loạn nước điện giải.

Ngay tại nhà, cần bù nước bằng dung dịch oresol hoặc viên hydrite. Cần chú ý, pha dung dịch bù nước phải theo đúng hướng dẫn sử dụng, không được chia nhỏ gói oresol hoặc viên hydrit để pha làm nhiều lần. Dung dịch bù nước đã pha nếu quá 12 giờ không uống hết phải bỏ đi.

Kháng sinh: Có nhiều loại kháng sinh có thể sử dụng trong điều trị lỵ trực khuẩn như nhóm bactrim, nhóm beta lactam, quinolon… tùy theo tình hình thực tế. Hiện nay, hay sử dụng và hiệu quả nhất là nhóm quinolon.

Nhóm thuốc cũ (bactrim, tetracyclin, clorocid): Nhóm này đã bị Shigella kháng rất cao, hiệu quả chữa bệnh kém. Bên cạnh đó, các thuốc này còn gây ra các tác dụng không mong muốn như bactrim gây bí tiểu, hại thận; tetracyclin làm hỏng men răng trẻ dưới 12 tuổi; clorocid gây hại tủy xương, làm thiếu máu… Mặc dù thuốc rất sẵn nhưng hiện nay ít được dùng.

Các kháng sinh nhóm beta lactam như amoxylin, ampicilin, các cephalosporin hiện nay vẫn còn được sử dụng, tùy vào điều kiện thực tế của bệnh nhân và cơ sở y tế hiện tại, thuốc dùng khá an toàn, tuy nhiên hiệu quả không bằng nhóm quinolon.

Các quinolon như acid nalidixic, ciprofloxacin, ofloxacin: Hiệu quả chữa bệnh cao, rút ngắn được khoảng một nửa số ngày dùng thuốc so với dùng nhóm thuốc cũ.

Acid nalidixic là thuốc thuộc nhóm quinolon thế hệ l. Trong cấu trúc không có nhân piperidin và không có nguyên tử fluor. Nhóm thuốc này có phổ tác dụng hẹp, chỉ tác dụng trên vi khuẩn gram âm và chủ yếu dùng điều trị nhiễm khuẩn tiết niệu hoặc nhiễm khuẩn tiêu hóa do gram âm. Hiện nay chỉ còn sử dụng điều trị cho trẻ em dưới 16 tuổi. Nhưng thuốc không được sử dụng cho người mang thai, thời kỳ cho con bú, trẻ em dưới 3 tháng tuổi, bệnh nhân suy thận, rối loạn tạo máu, động kinh, tăng áp lực sọ não.

Các quinolon thế hệ thứ 2, hấp thu nhanh và dễ dàng qua đường tiêu hóa. Nói chung, nhóm này nên dùng cho các nhiễm khuẩn nặng và các nhiễm khuẩn đã kháng các thuốc thông thường. Tuy nhiên, khi dùng thuốc, một số tác dụng không mong muốn có thể xảy ra như rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy); gây đau nhức xương khớp, kém phát triển xương khớp nhất là ở tuổi đang phát triển; ngoài ra có thể có các biểu hiện khác như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, có trường hợp kích động, động kinh nhất là khi dùng cùng theophylin, tăng bạch cầu ưa acid, giảm bạch cầu lympho, giảm bạch cầu đa nhân, giảm tiểu cầu, thiếu máu. Do vậy, thuốc không được dùng cho người mẫn cảm với thuốc, người mang thai, thời kỳ cho con bú và trẻ em dưới 16 tuổi.

Tuy nhiên, theo khuyến cáo, chỉ sử dụng kháng sinh với các trường hợp ở thể vừa trở lên, không dùng cho thể nhẹ. Dùng thuốc gì, liều dùng bao nhiêu và dùng như thế nào cần có ý kiến của bác sĩ, bệnh nhân không nên tự ý sử dụng.

Ths. Nguyễn Bạch

Theo SKDS

Đi bơi dễ lây bệnh tay chân miệng

Môi trường hồ bơi cũng dễ lây một số bệnh truyền nhiễm khác như bệnh nhiễm não mô cầu, bệnh mắt hột…

Hỏi: Tôi có hai con 7 và 8 tuổi, những ngày nghỉ các cháu rất thích đi bơi nhưng tôi rất sợ bị lây bệnh ở hồ bơi. Xin hỏi, đi bơi phải lưu ý những gì để không bị lây bệnh, nhất là bệnh tay chân miệng (TCM)? Nguyễn Nam Phương (quận 7, TPHCM).
120613afamilyskdiboi_4d8fb
Trả lời:

TS.BS Trần Phủ Mạnh Siêu, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng TPHCM trả lời: Bệnh TCM lây qua dịch tiết mũi họng của trẻ bắn trực tiếp qua trẻ khác nếu tiếp xúc gần hoặc dính lên tay chân của trẻ khác, sau đó dùng tay đưa thức ăn vào miệng.

Hồ bơi là nơi các trẻ tập trung mật độ cao, nếu tiếp xúc trực tiếp thì nguy cơ lây nhiễm cao hơn, virus TCM có thể nhiễm vào nước rồi đi vào miệng trẻ khác nhưng khó khăn hơn vì nước hồ bơi luôn có chứa chất sát khuẩn.

Tuy nhiên, môi trường hồ bơi cũng dễ lây một số bệnh truyền nhiễm khác như bệnh nhiễm não mô cầu, bệnh mắt hột… do đó khi đưa trẻ đi bơi, khó tránh được các bệnh trên nếu mật độ người bơi quá nhiều…

Theo afamily

80% bệnh truyền nhiễm lây từ bàn tay

Ông Nguyễn Huy Nga, cục trưởng cục Y tế dự phòng và môi trường (bộ Y tế) cho biết, có 80% những bệnh nhiễm khuẩn thông thường (tiêu chảy, tả, lỵ, giun sán…) thường lây lan qua hai bàn tay.

Các nghiên cứu y tế cũng cho thấy việc rửa tay với xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh hay đến những nơi không đảm bảo vệ sinh sẽ giảm 50% các bệnh truyền nhiễm, đồng thời hạn chế tỷ lệ tử vong.

Kết quả điều tra “thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn Việt Nam” mới đây cho thấy, tỷ lệ không rửa tay thường xuyên của người dân cả nước khá cao: không rửa tay trước khi ăn (69,7%), không rửa tay sau khi tiểu tiện (79,6%) và sau khi đại tiện (68,1%). Tỷ lệ rửa tay thường xuyên với xà phòng cũng rất thấp (12,8% trước khi ăn, 15,5% sau khi tiểu tiện và 16,9% sau khi đại tiện). Đa phần người dân quan niệm chỉ cần rửa khi tay có mùi hôi hoặc bị bẩn.
benh-truyen-nhiem
Một điều tra xã hội học khác của ngân hàng Thế giới, qua theo dõi cách rửa tay của các bà mẹ có con dưới năm tuổi ở Việt Nam, cũng cho thấy các bậc phụ huynh còn khá thờ ơ với công việc rất đơn giản này khi có đến 64% bà mẹ “quên” rửa tay trước khi cho trẻ ăn. Sau khi làm vệ sinh cho trẻ, chỉ có 23% bà mẹ rửa tay với xà phòng, số còn lại chỉ rửa nước hoặc… không cần rửa tay (13%).

“Thông thường, mọi người thường chỉ xát một ít xà phòng vào lòng bàn tay rồi rửa qua loa, không chú ý đến rửa sạch mu bàn tay, các kẽ tay và kẽ móng tay, nơi tập trung chủ yếu của mầm bệnh và vi khuẩn gây hại. Chính việc rửa không đúng cách đã khiến cho tay không sạch hết xà phòng, vừa gây khô da, lại không mang lại hiệu quả cao trong diệt trừ vi khuẩn”, ông Nga lưu ý.

Theo afamily

Phòng tránh bệnh truyền nhiễm ở trẻ

Bé chuẩn bị đi lớp và bạn đang có rất nhiều điều băn khoăn về vấn đề này. Con sẽ ra sao khi tới lớp và bé có dễ bị mắc các bệnh truyền nhiễm không? Phòng tránh thế nào…

Khi tới nhà trẻ hay đi mẫu giáo trẻ sẽ phải sinh hoạt trong một môi trường tập thể có rất nhiều trẻ khác và vì thế nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm thường rất cao. Thông thường trẻ bắt đầu đến lớp mầm non khi được 2 tuổi. Sự thay đổi môi trường đột ngột này ít nhiều làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, trong đó việc mắc các bệnh truyền nhiễm là nguy cơ lớn nhất.

Đặc điểm miễn dịch của trẻ ở tuổi mầm non

Qua giai đoạn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, trẻ hết dần các kháng thể thụ động do mẹ truyền cho. Hệ miễn dịch lúc này mới bắt đầu hoàn thiện, trong khi cơ thể lại phải tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh từ môi trường. Do đó, ở tuổi này trẻ hay mắc các bệnh như: cúm, nhiễm khuẩn hô hấp, bệnh tai mũi họng…Đặc biệt đối với các bệnh như: viêm họng do siêu vi, sốt virus, viêm phổi, nhiễm giun, dị ứng… là nhóm bệnh mà trẻ có nguy cơ mắc phải và lây nhiễm nhanh. Muốn phòng bệnh cho trẻ, trước tiên bạn cần tìm hiểu kỹ về nơi sẽ cho trẻ đến học.
Student in Line
Các bệnh dễ gặp ở tuổi mầm non

1. Sốt virus:
Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa… Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Các loại virus thường gây sốt gồm: myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản… Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hóa, có thể gây thành dịch.

Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là: trẻ bị sốt cao, thường từ 38 -39°C, thậm chí là 40 – 41°C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol… Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã.

2. Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa. Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn. Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn. Ngoài ra một số trẻ có biểu hiện phát ban, viêm hạch, đau mắt…

Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3 đến 5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại bình thường.

Tuy nhiên, sốt virus dễ gây thành dịch vì thế khi trẻ bị nhiễm bệnh cần cách ly ngay, không nên cho trẻ đến trường. Một số bệnh do virus đã có vaccin như: viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, rubella… Vì vậy cha mẹ cần quan tâm đến việc tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ.

3. Viêm phổi: Đây là một dạng viêm đường hô hấp cấp – nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Trên thế giới mỗi năm có khoảng 2 triệu trẻ tử vong vì căn bệnh này. Phần lớn các ca viêm phổi đều có thể được chữa trị hiệu quả bằng kháng sinh, song vấn đề ở đây là một khi đã nhiễm bệnh, trẻ nhỏ thường không thể chống đỡ lâu.

Triệu chứng: Biểu hiện của bệnh là khó thở, sốt, ho, trẻ bỏ ăn, bỏ chơi, có thể kèm theo triệu chứng viêm đường hô hấp trên. Bệnh thường diễn biến nhanh nếu không được điều trị kịp thời.

Do đó, cần phải đưa trẻ đến bệnh viện khám và điều trị khẩn cấp ngay khi phát hiện các triệu chứng điển hình như thở gấp và co rút lồng ngực.

4. Nhiễm giun: Giun đũa, giun kim là loại ký sinh trùng trẻ dễ bị nhiễm nhất trong lứa tuổi này. Tay trẻ thường bẩn bởi động tác di chuyển cần sự hỗ trợ của tay, sàn nhà nếu không được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên sẽ có rất nhiều trứng giun đũa, giun kim. Một bên cạnh đó thói quen mút tay của trẻ trong thời kỳ này cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm giun.

Những trẻ nhiễm giun thường tăng cân chậm, suy dinh dưỡng, bụng trướng to. Tình trạng này được khắc phục tốt sau khi tiến hành tẩy giun cho trẻ. Lưu ý chỉ nên tấy giun cho trẻ khi trẻ đã được 24 tháng.

5. Dị ứng: Trẻ ở giai đoạn này rất dễ mẫn cảm với các yếu tố lạ của môi trường. Trong điều kiện ẩm thấp, các loại dị nguyên như: nấm mốc, bọ nhà, lông thú vật… rất dễ làm trẻ bị dị ứng, mẩn ngứa, thậm chí lên cơn hen suyễn. Vì vậy, tùy từng mùa, cần cho trẻ mặc trang phục thích hợp và vệ sinh nhà, phòng, lớp học đầy đủ để trẻ có môi trường thực sự sạch sẽ.

6. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và bệnh nhiễm siêu vi.

Đây là dạng bệnh mà trẻ cũng có thể mắc phải, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp bao gồm viêm hô hấp trên và viêm phế quản phổi. Viêm họng do siêu vi, hay kết hợp với viêm kết mạc rất hay gặp ở các nhà trẻ, có thể gây thành dịch.

Bệnh bắt đầu đột ngột với các dấu hiệu sốt trong vài ngày, kèm theo chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ, có khi kèm theo đau họng, nuốt khó, nuốt đau. Nhưng trẻ vẫn chơi bình thường. Hầu hết các trường hợp viêm họng do siêu vi đều có thể tự khỏi trong vòng 4 đến 5 ngày nếu không có bội nhiễm vi khuẩn.

Để trẻ tránh nguy cơ nhiễm siêu vi, cần giữ ấm cho trẻ, không cho trẻ dầm mưa, chơi ngoài nắng. Môi trường sống thoáng mát, sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh ăn uống cho trẻ… Không cho trẻ chơi những nơi góc nhà, kẹt tủ, chỗ tối để tránh trẻ bị muỗi cắn. Khi trẻ bị sốt cao, sau 2 ngày dùng thuốc hạ sốt mà trẻ vẫn còn sốt phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để phát hiện sớm bệnh sốt xuất huyết.

Cách phòng bệnh cho trẻ

Bên cạnh việc chuẩn bị kỹ càng cho trẻ về mặt tâm lý cha mẹ còn phải đặc biệt chú ý đến quyền được tiêm chủng đầy đủ những loại vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Và nếu có điều kiện nên cho trẻ tiêm thêm những loại vaccine phòng bệnh mà trẻ có thể mắc như: Rubella, thủy đậu, cúm, quai bị… Các vaccine này hiện nay chưa được miễn phí.

Tỉ lệ mắc bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi còn cao, không thể tránh được trường hợp có trẻ mắc bệnh vẫn đến trường và sinh hoạt cùng các bạn, sau đó lây nhiễm cho nhau. Các nhà trẻ cũng cần quan tâm đến yếu tố vệ sinh phòng ốc, phòng  học, ngủ cần thoáng mát sạch sẽ vì trẻ còn nhỏ sẽ không tự thực hiện vệ sinh cá nhân cho mình.
Vì thế điều đầu tiên và cấp thiết nhất mà bố mẹ phải làm đó là quan tâm đến sức khỏe của trẻ thường xuyên. Nâng cao sức đề kháng cho trẻ và kịp thời điều trị ngay từ khi trẻ có các triệu chứng nhiễm bệnh.

Theo afamily

Cách đơn giản xử lý chắp lẹo

Chắp lẹo thường tái đi tái lại nhiều lần với biểu hiện cộm hoặc ngứa mí mắt rồi bờ mi mắt sưng đỏ, sau vài hôm có thể thành mủ, nếu không được điều trị sẽ vỡ mủ và để lại sẹo xấu.

Đông y chữa chắp lẹo bằng nhiều biện pháp xử trí như chích lể, giác…

cach_don_gian_xu_ly_chap_leo

Chích lể huyệt phế du

Nếu có điều kiện, nên dùng kim tam lăng. Đây là loại kim đầu nhọn có ba cạnh vát nên khi chích nhẹ vào huyệt sẽ rất dễ dàng nặn được máu. Huyệt phế du được xác định khi tay bạn vắt ngang qua đầu, đầu ngón trỏ với ra sau lưng, đầu ngón tay chạm đến đâu thì đấy là huyệt cần thiết có thể chích lể được.

Phế du là huyệt thuộc kinh Túc thái dương Bàng quang, nằm cách gai đốt sống lưng thứ 3 ngang ra hai bên 1,5 thốn (bằng 1/2 khoảng cách từ chính giữa cột sống đến bờ trong xương bả vai). Theo y học cổ truyền, chắp lẹo là do nhiệt tà xâm phạm vào bì mao. Phế du là du huyệt của tạng Phế. Khi chích nặn máu, phế du có tác dụng thanh tiết nhiệt độc. Theo kinh nghiệm thực tiễn, có thể chỉ cần chích nặn máu huyệt phế du cùng bên với mắt bị bệnh là được.

Cách chích lể: Dùng kim tam lăng chích nhẹ vào huyệt, sau đó nặn ra chút máu. Nếu có điều kiện, có thể dùng bầu giác giác ngay trên huyệt sau khi đã chích lể. Đây là cách giác ướt, tức là giác để cho ra máu.

Chích lể huyệt nhĩ tiêm

Nhĩ tiêm là huyệt nằm ngay trên đỉnh vành tai. Khi xác định huyệt, lấy ngón tay ép cho vành tai gập lại, huyệt nằm ở đỉnh của vành tai. Dùng kim chích lể và nặn chút máu. Ở huyệt này, không áp dụng phương pháp giác trên huyệt được.

Giác ướt

Là phương pháp có thể áp dụng một cách dễ dàng. Trường hợp cần thiết có thể dùng cốc thủy tinh nhỏ để giác. Trước tiên, phải sát trùng vùng da cần giác, dùng kim tam lăng hoặc kim tiêm chích nhẹ vài điểm trên vùng huyệt phế du, tiếp đó tiến hành giác. Có thể chỉ cần giác một vài lần là đạt kết quả tốt.

Chú ý: Trước khi chích lể, phải dùng cồn hoặc dung dịch Betadine, iod sát trùng vùng da tại huyệt. Nếu không có các thuốc sát trùng nói trên, có thể dùng một nhánh tỏi cắt lát ngang xát lên huyệt để sát trùng. Trường hợp không có kim tam lăng, có thể dùng kim khâu, kim tiêm… để chích lể.

Nên chích lể, châm cứu sớm ngay khi chắp lẹo mới hình thành để đạt hiệu quả điều trị tốt, làm chắp lẹo tiêu nhanh. Trường hợp để muộn vẫn có thể áp dụng các phương pháp điều trị như trên. Tuy nhiên, nếu chắp lẹo đã thành mủ thì nên đến thầy thuốc hoặc cơ sở y tế để làm thủ thuật chích tháo mủ, nạo ổ viêm…

Không nên dùng chung kim để chích lể cho nhiều người nhằm tránh lây lan các bệnh truyền nhiễm. Tốt nhất là dùng kim riêng cho từng người.

Theo VnExpress

Tìm hiểu viêm gan do siêu vi

Viêm gan là một dạng tổn thương của gan có thể gây ra bởi nhiều yếu tố trong đó nhiều  nhất là viêm gan siêu vi. Các loại siêu vi này xâm nhập vào tế bào gan gây tổn thương chủ yếu là viêm và hủy hoại tế bào gan. Viêm gan siêu vi là môt trong những bênh truyền nhiễm phổ biến nhất trên thế giới. Viêm gan có thể gây ra do rượu, thuốc, bệnh tự miễn, bệnh chuyển hóa và virus.

tim_hieu_viem_gan_do_sieu_vi

Viêm gan do siêu vi thường gặp và cơ chế…lây

Các loại viêm gan do siêu vi thường gặp là viêm gan A ( ký hiệu là HAV), B (HBV), C (HCV), D (HDV), E (HEV) và G (HGV) Ngoài ra, gan còn có thể bị viêm do các loại siêu vi khác như  Adenovirus, Cytomegalovirus, Epstein-Bar virus, Herpes simplex virus, virus Dengue.

Viêm gan siêu vi A lây lan chủ yếu qua đường tiêu hóa do thức ăn và nước uống bị hoại nhiễm bởi phân người có chứa vi rút viêm gan siêu vi A. Ở các nuớc đang phát triển như nước ta hơn 90% dân số đều đã có nhiễm vi rút viêm gan siêu vi A. Ða số trường hợp nhiễm HAV không có triệu chứng, bệnh diễn tiến nhẹ thường tự giới hạn, không ghi nhận thể mạn tính hoặc tình trạng mang mầm bệnh mạn tính do siêu vi A.

Viêm gan siêu vi B lây chủ yếu bằng những đường máu và các sản phẩm từ máu bị nhiễm vi rút, từ mẹ sang con, do lây qua vết trầy sướt và qua đường sinh dục. Giai đoạn cấp tính bệnh nhân có thể không có triệu chứng hoặc mệt mỏi, đau khớp, chán ăn, khó tiêu, sốt nhẹ, vàng da, tiểu vàng.Khi xét nghiệm cho thấy AST, ALT, Bilirubin tăng cao, HBsAg dương tính, IgM antiHBc dương tính. Bệnh thường tự giới hạn, khoảng 10% sẽ chuyển sang bệnh mãn tính, trẻ em tuổi càng nhỏ nếu bị bệnh viêm gan siêu vi B tỉ lệ chuyển sang mạn tính càng cao.

Viêm gan siêu vi C cũng lây truyền bằng những con đường giống như siêu vi B (lây chủ yếu bằng những đường máu và các sản phẩm từ máu bị nhiễm vi rút, từ mẹ sang con, do lây qua vết trầy sướt và qua đường sinh dục),  bệnh thường gặp ở người sử dụng ma túy hay truyền máu hay các sản phẩm của máu không an toàn. Bệnh viêm gan siêu vi C có thể không có triệu chứng hoặc mệt mỏi, đau khớp, chán ăn, khó tiêu, sốt nhẹ, vàng da, tiểu vàng. Khi xét nghiệm cho thấy AST, ALT, Bilirubin tăng cao, antiHCVdương tính và một số trường hợp bệnh nhân bị nhiễm  Viêm gan siêu vi B kèm theo HBsAg dương tính, IgM antiHBc dương tính. Có đến 50% bệnh nhân bị bệnh viêm gan siêu vi C chuyển sang bệnh mãn tính và trong trong đó có đến 10-25 % viêm gan siêu vi C sẽ bị biến chứng xơ gan.

Viêm gan siêu vi D chỉ gặp ở bệnh nhân có nhiễm siêu vi B, bệnh chủ yếu gặp ở vùng Trung Phi, Trung Ðông, miền Nam nước Ý, ít gặp ở Ðông Nam Á.

Viêm gan siêu vi E và G  chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, thường gặp ở các nước đang phát triển như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Pakistan, Trung Phi, Bắc Phi, Việt Nam, bệnh có thể diễn tiến nặng ở phụ nữ có thai.

Làm sao để biết bị viêm gan do siêu vi?

Sau thời gian ủ bệnh tùy theo loại viêm gan siêu vi bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng nhiễmsiêu vi cấp như:sốt,mệt mỏi, uể oải, chán ăn, nôn ói, ăn khó tiêu,những triệu chứng này có thể kéodài 3-10 ngày kế đến vàng mắt,vàng da (thường thì sốt giảm),tiểu vàng sậm kèm đau nhẹ và lâmrâm dưới sườn phải có thể đi tiêu phân bạc màu.Một số trường hợp có thể đau cơ, đau khớp, phát ban có thể gây ngứa. Một số trường hợp có thể gay viêm gan tối cấp hoặc viêm gan cấp như rối loạn tri giác(lơ mơ,hôn mê, rối loạn hành vi); Rối loạn đông máu:xuất huyết dưới da,xuất huyết tiêu hóa(nôn ra máu, đi tiêu phân đen); Gan teo nhỏ dần. Thông thường thời kỳ vàng da,vàng mắt kéo dài 2-3 tuần các triệu chứng trên giảm dần và bước sang giai đoạn hồi phục bệnh nhân có cảm giác khỏe hơn,ăn uống ngon hơn, tiểu bớt vàng hơn.

Bác sĩ sẽ dựa vào tiền sử tiếp xúc với nguồn lây của người bệnh, qua khám lâm sàng bác sĩ sẽ phát hiện các dấu hiệu cơ năng,thực thể và xét nghiệm máu các chỉ số sinh hóa nhưAST(SGOT),ALT(SGPT) thường tăng>10 lần trị số bình thường, bilirubin trực tiếp và gián tiếp đều tăng trong giai đoạn cấp, phophotase kiềm(PAL),gama GT(gama glutamyl-Transferase)gia tăng  tương đối ít thường từ 1-3 lần trị số bình thường, taux de Prothrombine (đông máu toàn bộ) bất thường vàAlbuminemáu giảmtrong trường hợp suy tế bào gan,NH3 tăng và đường máu giảm.

Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm để phát hiện các bệnh lý gây vàng da tắc mật như sỏi mật,…và các xét nghiệm miễn dịch nhưIgMAntiHAV, HBsAg, IgMantiHBc, HBeAg, AntiHBe, AntiHCV, AntiHEV, AntiHGV để chẩn đoán nguyên nhân.

Ngoài ra bác sĩ có thể chỉ định thêm xét nghiệm đo tải lượng virus để quyết định điều trị thuốc kháng virus ở bệnh nhân viêm gan mạn tính. Ở giai đoạn nặng (xơ gan, ung thư gan) bác sĩ còn chỉ định thêm các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, fibroscan, CT scan, sinh thiết gan, AFP, … để có hướng điều trị phù hợp.

Điều trị có khó không?

Trong giai đoạn cấp bệnh được điều trị chủ yếu bằng cách nghỉ ngơi, không dùng thuốc hại gan. Bệnh nhân được chỉ định nhập viện điều trị nội trú khi có dấu hiệu nặng như nôn ói nhiều, bụng chướng to, xuất huyết, vàng da nặng, suy gan, hôn mê gan.

Giai đoạn mạn tính một số thuốc ức chế sự phát triển của siêu vi được sử dụng ở bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B hay C. Tuy nhiên hiệu quả của các thuốc này cũng còn giới hạn và chi phí khá đắt. Khi được bác sĩ chỉ định bệnh nhân cần phải tuân thủ thật tốt để tránh hiện tượng kháng thuốc dẫn đến thuốc không có hiệu quả.

Trong giai đoạn cuối là xơ gan hay ung thư gan thì không có thuốc điều trị, chỉ có cách là phải ghép gan, tuy nhiên do không có nguồn tạng nên hiện nay chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng đỡ cơ thể kéo dài cuộc sống cho bệnh nhân.

Trong các loại bệnh viêm gan siêu vi, hiện nay mới có vắc xin phòng ngừa bệnh viêm gan siêu vi A và viêm gan siêu vi B (hiện nay, tiêm ngừa viêm gan siêu vi B đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng của quốc gia nên trẻ em dưới 6 tuổi được tiêm ngừa miễn phí tại các trạm y tế phường/xã). Ngoài ra, các nguyên nhân khác thì phải dựa vào cách thức lây truyền mà phòng bệnh như vệ sinh bàn tay, không sử dụng ma túy, tiêm chích an toàn

Đăng bởi: BS.CK2.Huỳnh Trọng Dân – Khoa Dịch vụ 3
Theo benhviennhi.org.vn

Biến chứng sẹo do xóa xăm bằng hóa chất

Xăm (Tattoo – Tatouage) là hình thức ghi dấu vĩnh viễn bằng mực, làm thay đổi sắc tố da theo những hình dạng đặc biệt để làm đẹp hoặc vì những mục đích khác.

Ngoài vấn đề xăm các hình vẽ trên da, với tiến bộ của nghệ thuật thẩm mỹ, gần đây người ta phát triển thêm hình thức “trang điểm vĩnh viễn” (permanent make-up): xăm màu chân mày, viền mắt, môi. Tuy nhiên, với thời gian, khi tuổi tác, trào lưu hay sở thích thay đổi sẽ có lúc muốn xóa bỏ hoặc thay đổi các hình xăm nhưng điều này thật không dễ dàng.

Chỉ mất vài giờ để có một hình xăm như ý nhưng cần tìm hiểu và suy nghĩ thật kỹ trước khi quyết định xăm. Việc đưa một hình xăm lên cơ thể sẽ phải đối diện với nhiều nguy cơ về sức khỏe cũng như các vấn đề xã hội khác.

Và khi muốn rũ bỏ các kỷ niệm và dấu ấn ấy đi thì không thể đơn giản muốn xóa là được. Khi xăm hình, kim đã đưa mực xăm vào sâu đến lớp hạ bì, để xóa hình xăm phải tìm cách hủy bỏ số mực ấy đi. Như thế, chắc chắn ít nhiều cũng để lại sẹo mà nhẹ nhất cũng là những vết sẹo mờ, nặng hơn là những sẹo lồi lõm, xấu xí. Ngoài ra, việc cắt, đốt, mài da… để xóa xăm cũng là những tác nhân gây tổn thương da, dễ có biến chứng ung thư hóa sau này.

bien_chung_seo_do_xoa_xam_01

Xăm hình là hình thức ghi vĩnh viễn

Nguy cơ thường gặp khi xăm mình

Trong quá trình xăm, người ta phải dùng dị vật đâm vào da, phá hủy lá chắn bao bọc, bảo vệ cơ thể. Do đó, nhiễm khuẩn da là chuyện rất dễ mắc phải. Mực xăm cũng là một loại hóa mỹ phẩm, chất màu trong mực xăm phải an toàn cho sức khỏe và không gây kích ứng với làn da. Xăm phải được thực hiện xuyên qua da, vì thế có thể mang đến nhiều hiểm họa tiềm tàng cho sức khỏe của bạn sau này.

Các nguy cơ thường gặp khi xăm mình

Các bệnh lây lan qua đường máu: Nếu các dụng cụ dùng để xăm mình bị nhiễm bẩn bởi máu của những người mang bệnh, bạn chắc chắn sẽ bị truyền nhiễm một số bệnh như: viêm gan siêu vi B – C, Herpes, uốn ván, lao, bệnh phong, giang mai và HIV.

Nhiễm khuẩn da

Sau xăm, trên cơ thể có thể xuất hiện những vết loét hay sưng đau, tạo thành khối u hạt xung quanh vết xăm. Sau khi điều trị khỏi, các vết loét có thể để lại sẹo lồi trên da gây mất thẩm mỹ.

Các bệnh truyền nhiễm qua da

Xăm mình có thể dẫn đến bội nhiễm vi khuẩn. Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là nổi mẩn đỏ, nóng, sưng đau ở vị trí xăm. Nhiều trung tâm phòng chống và kiểm soát dịch bệnh đã cảnh báo về một số bệnh truyền nhiễm qua da khá nghiêm trọng có liên quan đến việc xăm mình, có thể dẫn đến viêm phổi, hoại tử, nhiễm khuẩn máu.

Dị ứng

Các chất nhuộm màu trong mực xăm có thể gây ra tình trạng dị ứng mà dấu hiệu dễ thấy nhất là xuất hiện phát ban ngứa ở vùng da có vết xăm. Triệu chứng này có thể kéo dài trong nhiều năm sau khi xăm.

Biến dạng hình ảnh cá nhân: Những vết sưng và biến dạng do việc xăm hay xóa xăm có thể ảnh hưởng đến hình ảnh cá nhân, đặc biệt đối với những hình xăm ở mắt, môi, mặt.

Việc điều trị sau xăm là điều cần thiết nếu người xăm gặp phải biến chứng. Trong một số trường hợp ngoài sự tự nguyện, phẫu thuật tẩy những hình xăm là điều bắt buộc phải thực hiện để bảo vệ sức khỏe.

Vấn đề xóa xăm

Hiện nay, các cơ sở y tế và thẩm mỹ thường xuyên tiếp nhận nhiều thanh niên, đa số là người chuẩn bị lập gia đình hay tìm việc làm, muốn xóa đi những hình ảnh mà họ đã xăm trong lúc cao hứng nhất thời. Tuy nhiên, không phải hình xăm nào cũng có thể xóa hết được. Có người từng tự hào về con đại bàng tung cánh ở bụng, ở lưng, nay muốn xóa cấp tốc để làm hồ sơ xuất khẩu lao động hay đi làm việc ở cơ quan nhà nước nhưng việc xóa bỏ các hình xăm quá lớn là không thể cho dù họ sẵn sàng chấp nhận đau đớn và tốn kém để trở lại sắc vóc ban đầu.

bien_chung_seo_do_xoa_xam_02

Biến chứng sẹo do xóa xăm bằng hóa chất

Hiện nay có nhiều phương pháp để xóa hình xăm, chẳng hạn: cắt bỏ vết xăm, mài da, dùng acid, chiếu laser Nd:YAG Q- Swich KTP, laser Ruby Q-Switch, ghép da… Tuy nhiên, việc xóa xăm trên thực tế không dễ dàng, phải thực hiện nhiều lần rất tốn kém và kết quả cũng không được như ý, bệnh nhân phải chịu đau đớn và để lại sẹo xấu.

Với phương pháp ghép da, y học có thể xóa hình xăm cho bệnh nhân mà không để lại sẹo bằng cách lấy da của chính bệnh nhân để ghép vào vùng da bị xăm. Tuy nhiên, kỹ thuật này cũng chỉ áp dụng được cho hình xăm có diện tích giới hạn dưới 20 cm2, không thể ghép nếu vùng da xăm quá rộng. Các kỹ thuật hiện nay cũng rất khó xóa hết những vết xăm chồng lên vết cũ, vết xăm bằng máy hoặc dùng mực xăm màu vàng, cam, xanh lá cây.

Tóm lại, xăm vốn là một nét văn hóa nghệ thuật lâu đời và không ai có thể phủ nhận tính nghệ thuật của việc xăm mình. Tuy nhiên, vì những hình xăm quái dị kết hợp với thái độ thiếu ý thức của một bộ phận thanh niên có xăm mình nên loại hình này đã phần nào trở thành phi nghệ thuật, gây nên sự phản cảm trong xã hội. Ngoài ra, nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường máu, các bệnh ngoài da, các biến dạng cơ thể không mong muốn khi xăm và xóa xăm… là những vấn đề rất đáng quan tâm đặt ra cho ngành y tế và cho những ai đam mê loại hình nghệ thuật này.

Theo suckhoevadoisong/24h

Phòng thủy đậu mùa đông xuân

Thủy đậu có nguyên nhân từ một loại virus gọi là varicella zoster. Nó là bệnh truyền nhiễm bé dễ mắc phải ở nhiều độ tuổi, thường phổ biến ở giai đoạn 2-8 tuổi. Đặc biệt có thể khiến nhiều bé cùng mắc bệnh trong một thời điểm.

Mùa của thủy đậu thường là mùa xuân hoặc mùa đông. Với phần lớn các bé, thủy đậu là một mối phiền toái chứ không đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, tỷ lệ nhỏ các bé có thể nguy hiểm tính mạng vì thủy đậu.

phong_thuy_dau_mua_dong_xuan

Dấu hiệu đầu tiên

Triệu chứng ban đầu là sốt nhẹ, giảm cảm giác thèm ăn trong một vài ngày trước khi các nốt thủy đậu xuất hiện. Nốt ban lúc đầu nhìn giống như nhiều vết đỏ nhỏ hợp lại, luôn nổi ở mặt, da đầu trước khi lan tới các nơi khác trên người. Nốt ban sau đó chuyển thành như nốt phồng da chứa chất lỏng có màu hồng. Vết phồng này sẽ bị vỡ, trở lên khô và đóng vảy màu nâu. Bệnh kéo dài 7 tới 10 ngày.

Thời điểm cần lo lắng

Thủy đậu có thể gây nhiễm khuẩn da, viêm não và viêm phổi. Nếu bé bị sốt cao, ho và nổi ban, bạn cần đưa bé đi khám ngay lập tức. Những bé có hệ miễn dịch yếu dễ bị nhiễm virus và phát triển bệnh nặng hơn.

Điều cha mẹ nên làm

Để bé ở nhà nếu nghi mắc bệnh, nhằm ngăn ngừa lây bệnh sang những bé khác. Cần đưa bé đi khám để bác sĩ chỉ định thuốc bôi và thuốc uống cho bé (thường là kem như Calamine hay Eurax), có thể thêm dầu tắm (Pinetarsol) và thuốc kháng histamine uống. Bé cũng có thể được bác sĩ dùng paracetamol giúp hạ sốt.

Hiếm khi mắc lại

Nếu đã từng mắc thủy đậu, cơ thể bạn sẽ miễn dịch với nó và hiếm ai bị mắc lại lần 2. Tuy nhiên, virus có khả năng “nằm ngủ” trong hệ thần kinh, phục hồi rất lâu sau đó gây bệnh zona (xuất hiện các nốt ban ở một bên người hoặc mặt). Các nốt ban phát triển tương tự như bệnh thủy đậu nhưng gây đau. Triệu chứng gồm sốt, ho khan và đau họng.

Ngăn ngừa

Văcxin ngừa thủy đậu được dành cho bé trên 9 tháng tuổi. Văcxin này nhìn chung là an toàn với các bé. Các phản ứng có thể khi tiêm văcxin thủy đậu gồm đau, sưng quanh mũi tiêm, sốt nhẹ và rất hiếm trường hợp gây nổi ban nhẹ.

Theo SKDS/ Theo Mevabe

Bệnh lậu lây truyền gây hại cho sức khỏe sinh sản

Bệnh lậu do vi khuẩn neisseria gonorrhea, song cầu trong tế bào. Vi khuẩn lậu có thể sinh sôi nảy nở nhanh trong môi trường nóng và ẩm ướt của đường sinh sản như cổ tử cung, buồng trứng, vòi trứng và cả đường tiết niệu (niệu đạo).

Vi khuẩn cũng có thể phát triển ở miệng, họng, mắt và hậu môn. Các triệu chứng ở nam và nữ thay đổi tùy thuộc vào bộ phận nào của cơ thể bị nhiễm lậu cầu. Nếu không được điều trị, bệnh lậu ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ.

benh-lau-anh-huong-rat-nhieu-den-suc-khoe-sinh-san

Bệnh lậu lây truyền như thế nào?

Bất cứ ai có quan hệ tình dục đều có thể bị bệnh lậu. Lậu lây truyền do tiếp xúc với dương vật, âm đạo, miệng, hay hậu môn, không cần phải có xuất tinh thì bệnh lậu mới lây truyền hay bị nhiễm. Lậu có thể truyền từ mẹ sang con khi sinh đẻ. Người đã chữa khỏi bệnh lậu nhưng lại có quan hệ tình dục với người bị bệnh thì có thể tái nhiễm. Thời gian ủ bệnh: 4 – 7 ngày (đôi khi chỉ ngắn có 24 giờ và có khi dài tới 1 tháng).

Triệu chứng khi bị bệnh

Mặc dầu một số nam giới bị bệnh lậu không bộc lộ triệu chứng gì nhưng với một số khác thì các dấu hiệu và triệu chứng vẫn bộc lộ trong vòng 14 ngày sau khi nhiễm bệnh; các triệu chứng có thể tới 30 ngày mới bộc lộ như có cảm giác bỏng rát khi đái hay xuất tiết có màu trắng, vàng hay xanh ở dương vật. Đôi khi nam giới bị bệnh lậu thấy đau hay sưng ở tinh hoàn.

Ở nữ, các triệu chứng thường nhẹ hơn nhưng hầu hết nữ bị nhiễm bệnh lại không bộc lộ triệu chứng gì. Ngay cả khi phụ nữ có triệu chứng thì cũng đặc hiệu và thường lầm là viêm bàng quang hay âm đạo. Các triệu chứng và dấu hiệu ban đầu ở nữ là đau hay nóng rát khi đi tiểu, tăng xuất tiết ở âm đạo hay ra máu giữa kỳ kinh. Phụ nữ bị bệnh lậu có nguy cơ phát triển biến chứng nghiêm trọng, bất kể bệnh cảnh như thế nào.

Triệu chứng nhiễm vi khuẩn lậu ở trực tràng với cả 2 giới là xuất tiết, ngứa hậu môn, ra máu hay nhu động ruột đau. Nhiễm khuẩn ở trực tràng cũng có thể không gây ra triệu chứng gì. Nhiễm khuẩn ở họng có thể gây đau họng nhưng thường không bộc lộ triệu chứng.

Gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Bệnh lậu không được điều trị có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe vĩnh viễn và nghiêm trọng cho cả nam và nữ. Với phụ nữ, bệnh lậu là một nguyên nhân thường gặp gây bệnh viêm tiểu khung nhưng không phải bao giờ cũng thể hiện triệu chứng; nếu có triệu chứng thì có thể rất nghiêm trọng như đau bụng và sốt. Viêm tiểu khung có thể dẫn đến sự tạo thành túi mủ trong ổ bụng và gây đau kéo dài, mạn tính ở vùng tiểu khung. Viêm tiểu khung có thể làm cho vòi trứng bị tổn thương để gây ra hiếm muộn hay tăng nguy cơ bị chửa ngoài tử cung. Phụ nữ có thai bị bệnh lậu có thể lây bệnh cho con khi đi qua âm đạo và có thể làm cho trẻ bị mù, nhiễm khuẩn khớp hay máu đe dọa sinh mạng trẻ. Nếu được điều trị sớm thì giảm nguy cơ có biến chứng nên khi có thai cần được thầy thuốc khám, làm test và điều trị nếu nghi ngờ bị nhiễm lậu cầu.

Điều trị như thế nào?

Có nhiều loại kháng sinh điều trị hiệu quả bệnh lậu nhưng cần dùng đủ liều mới có thể khỏi hẳn. Dù thuốc có thể chấm dứt nhiễm khuẩn nhưng không sửa chữa được tổn thương vĩnh viễn do bệnh gây ra. Ngày nay, người ta nhận thấy chủng vi khuẩn lậu kháng thuốc đang gia tăng ở nhiều nước trên thế giới nên việc chữa khỏi hẳn đang trở thành vấn đề khó khăn hơn. Vì nhiều người đồng thời bị nhiễm cả chlamydia cho nên thường cho kháng sinh phối hợp để chữa cả 2 bệnh. Bệnh nhân lậu cũng cần làm test để phát hiện các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác. Người đã từng bị bệnh lậu và đã từng được điều trị vẫn có thể tái nhiễm nếu có quan hệ tình dục với người bị bệnh lậu. Nếu các triệu chứng vẫn dai dẳng sau khi đã điều trị thì cần gặp thầy thuốc để khám lại.

BS. ĐÀO XUÂN DŨNG