Tag Archives: bệnh trẻ em

Viêm phổi ở trẻ em

Cha mẹ có thể dễ dàng quan sát nhịp thở của trẻ bằng cách vén áo để quan sát sự di động của lồng ngực hoặc bụng. Phải quan sát lúc trẻ nằm yên hoặc ngủ, không được quan sát lúc trẻ đang quấy khóc. Nếu trẻ có thở nhanh thì thấy sự di động đó nhanh hơn những ngày trẻ bình thường.

Dấu hiệu thứ nhất: Nhịp thở nhanh . Tại nhà, không có dụng cụ y tế, có thể lấy đồng hồ với kim giây, ta có thể để đồng hồ gần bụng hoặc ngực của trẻ và đếm nhịp thở trong vòng 1 phút. Một trẻ có tình trạng thở nhanh là dấu hiệu sớm của trẻ bị viêm phổi cụ thể như sau: Đối với trẻ từ 1-5 tuổi, nếu thở từ 40 lần trong 1 phút trở lên; Đối với trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi, nếu thở từ 50 lần trong 1 phút trở lên; Đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi, nếu thở từ 60 lần trong 1 phút trở lên.

viem-phoi-o-tre-em

Nếu không thể đếm được nhịp thở của trẻ hoặc không thể phân biệt được trẻ có thở nhanh hơn ngày thường hay không, bà mẹ có thể vén áo trẻ lên và quan sát lồng ngực. Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc khi thở phát ra một tiếng bất thường nào đó, cũng có thể trẻ đã bị viêm phổi.

Dấu hiệu thứ 2 là co rút lồng ngực : Vén áo trẻ lên và nhìn vào phần ranh giới giữa ngực và bụng xem có dấu hiệu lõm vào khi trẻ hít vào hay không? Ðể quan sát dấu hiệu này dễ dàng và chính xác, hãy bế trẻ nằm ngang trên lòng mẹ hoặc đặt trẻ nằm ngang trên giường. Hiện tượng này phải thấy thường xuyên ở bất kỳ nhịp thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên hoặc ngủ mới có giá trị, còn nếu chỉ thấy lúc trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu thì không được coi là co rút lồng ngực. Một trẻ có co rút lồng ngực chứng tỏ đã bị viêm phổi nặng, cần được đưa đến bệnh viện điều trị ngay.

Viêm phổi là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, bệnh diễn biến nặng rất nhanh và dễ gây tử vong, nhưng nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh sẽ khỏi hoàn toàn. Vì vậy, khi nghi ngờ một trẻ bị viêm phổi, cần đưa trẻ đến khám tại các trạm y tế hoặc cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn điều trị cụ thể. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống kháng sinh khi chưa có hướng dẫn của thầy thuốc.

Nguồn sức khỏe

Phòng và điều trị bệnh viêm xoang cho trẻ

Tăng cường miễn dịch

Cha mẹ cần bổ sung cho con một số chất quen thuộc như sắt, kẽm, DHA, omega 3,… trong bánh mì, một số loại nấm, hạt ngũ cốc… Nên cho bé ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi để giúp hệ miễn dịch của bé được tăng cường.

Trong tiết trời lạnh, cha mẹ nên mặc ấm cho bé. Cho bé tiêm chủng đầy đủ theo lịch tiêm phòng của Quốc gia.

Thường xuyên vệ sinh chân tay cho bé. Không nên cho bé ăn đồ ăn lưu cũ từ lâu vì khả năng có vi khuẩn trong đó là rất cao.

Khi trẻ có dấu hiệu bị viêm xoang cha mẹ cần đưa trẻ tới cơ sở chuyên khoa để khám. Tuyệt đối cha mẹ không tự bắt bệnh, tự kê đơn cho trẻ, không cho trẻ dùng thuốc dành cho người lớn. Việc sử dụng thuốc cần có sự tư vấn của chuyên gia.

phong-va-dieu-tri-benh-viem-xoang-cho-tre

Theo Tiến sĩ Dược Nguyễn Hoàng Phong tư vấn: Cơ thể trẻ non yếu, sức đề kháng kém hơn người lớn và dễ bị tác động bởi các loại thuốc gây phản ứng phụ, vì vậy cần sử dụng cho trẻ loại thuốc tiêu chuẩn cao, được kiểm nghiệm lâm sàng lâu năm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều các loại thuốc nhỏ mũi, xịt mũi dành cho trẻ em, tuy nhiên hầu hết các sản phẩm này đều gây ra những phản ứng phụ không mong muốn. Các bậc cha mẹ có thể tin tưởng sử dụng sản phẩm XyloBalan cho con em mình, vì XyloBalan là một thương hiệu nổi tiếng của Ba Lan về chăm sóc điều trị viêm mũi, và hỗ trợ điều trị viêm xoang đã được tin dùng trên toàn thế giới hơn 50 năm nay, đặc biệt an toàn với trẻ, chưa nhận được phản hồi tiêu cực nào. Với thành phần Xylometazoline hydrochloride thuốc có công dụng đặc trị viêm mũi dị ứng, viêm mũi cấp do virut hoặc vi khuẩn, hỗ trợ điều trị viêm xoang cấp hoặc mãn tính, viêm mũi do dị ứng, viêm tai giữa cấp, giảm tắc vòi nhĩ. Đặc biệt sản phẩm có loại 0.05% dành riêng cho trẻ em từ 3 tháng tuổi trở lên.

Thời tiết thay đổi

Thời tiết trở lạnh hoặc buổi trưa hanh khô… Đây là điều kiện tốt cho vi khuẩn phát triển. Những lúc giao mùa như thế này, đối tượng trẻ em thường bị viêm mũi với các triệu chứng: hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi… và nếu không chữa kịp thời, dứt điểm bệnh sẽ tiến triển thành viêm xoang.

Bệnh viêm xoang đối với người lớn đã khổ, nhưng đối với trẻ em còn đáng quan tâm hơn nhiều. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên giám đốc Viện Tai Mũi Họng TƯ chia sẻ, đau là triệu chứng thường gặp nhất của viêm xoang. Tùy thuộc vị trí xoang bị viêm mà vị trí đau thay đổi: đau vùng trán, đau vùng má hay hàm trên, đau sau hốc mắt, đau ở đỉnh đầu. Cơn đau tăng khi bệnh nhân nghiêng người về phía trước. Bệnh nhân cũng thường bị nghẹt mũi, chất tiết mũi trở nên đặc và đục, ho vì nước mũi chảy xuống họng gây ngứa. Tùy theo tình trạng viêm mà bị nghẹt một hay cả hai bên mũi, nghẹt từng lúc hay liên tục, có khi mất khứu giác. Người bệnh có thể sốt, đau nhức, mệt mỏi, đau răng, ngủ không yên giấc…

Làm bậc cha mẹ ai cũng lo lắng cho sức khỏe của con cái. Tuy nhiên không ít bà mẹ đã tự ý mua thuốc kháng sinh điều trị viêm xoang cho trẻ. Song, các bác sĩ khuyến cáo, tự ý điều trị như vậy, không những không thuyên giảm bệnh, mà còn nặng hơn, bởi lẽ có thể gây kháng kháng sinh và một số thuốc không thể dành cho trẻ em. Mặt khác, với các thuốc giúp thông mũi, chống nghẹt mũi khi dùng cần cẩn trọng vì có thể ảnh hưởng đến huyết áp, tim mạch hay gây chảy mũi bù trừ hoặc khô mũi quá mức. Không tự ý sử dụng các thuốc này kéo dài mà không có ý kiến bác sĩ.

Chế độ dinh dưỡng

Nên uống nhiều nước (2 lít nước/ ngày) và ăn nhiều các loại hoa quả chứa vitamin A, C. Giai đoạn đầu có thể bị “công thuốc”, các triệu chứng có thể nặng lên ở một vài người. Nhưng qua giai đoạn này, các triệu chứng sẽ giảm dần và hết hẳn…

Ngoài ra, theo PGS Dinh việc giữ gìn vệ sinh là khá cần thiết trong điều trị. Cha mẹ cần dạy cho trẻ cách giữ sạch môi trường xung quanh, không để trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá, bụi và các chất ô nhiễm. Đeo khẩu trang khi ra đường, vệ sinh cơ thể, rửa tay thường xuyên….

Theo tổng hợp

Phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ

Thời tiết thay đổi thất thường, giai đoạn chuyển giữa mùa nóng và lạnh và ngược lại, đặc biệt là nắng nóng oi bức của mùa hè làm cho nhiều loại bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi nhưng đáng lo ngại nhất là trẻ em; Bởi đây là nhóm đối tượng có hệ miễn dịch còn non nớt, sức đề kháng của trẻ chưa cao. Bệnh viêm đường hô hấp cấp tính, đặc biệt là đường hô hấp dưới là một bệnh đang có xu hướng gia tăng làm cho số trẻ mắc bệnh ngày càng nhiều.

Nguyên nhân viêm đường hô hấp cấp tính do virus thường chiếm tỷ lệ cao. Đặc điểm của viêm đường hô hấp cấp tính do virut thường khởi phát rất rầm rộ như sốt cao, trẻ vật vã, có thể có rối loạn tiêu ho. Hơn nữa viêm đường hô hấp cấp tính do virut dễ gây biến chứng nguy hiểm, nếu không có phương án điều trị kịp thời dễ để lại những biết chứng ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống của trẻ sau này.

phong-benh-viem-duong-ho-hap-cho-tre

Khi trẻ mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp tính còn liên quan đến thời tiết, đặc biệt là thời tiết thay đổi đột ngột hoặc nắng nóng kéo dài. Chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, tình trạng sức khỏe của trẻ như trẻ bị còi xương suy dinh dưỡng cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng làm trẻ dễ bị mắc bệnh.

Làm gì để phòng bệnh viêm đường hô hấp cho trẻ?

Khi thời tiết thay đổi đột ngột, nắng nóng, các bậc phụ huynh cần quan tâm chăm sóc trẻ, không cho trẻ ra ngoài khi trời nắng, nhất là lúc nắng gay gắt.

Đối với trẻ lớn, không cho trẻ chơi hoặc không cho trẻ đá bóng ngoài trời lúc còn nắng nóng. Không cho quạt xoáy thẳng vào trẻ khi trẻ chơi hoặc đang nằm ngủ. Không cho trẻ ở trong phòng máy lạnh có nhiệt độ chênh lệch vượt quá xa nhiệt độ trong nhà và ngoài trời (ngay cả trẻ lớn) và cần có chế độ dinh dưỡng tốt cho trẻ. Hạn chế cho trẻ ăn kem hoặc uống nước có đá. Khi nghi trẻ bị sốt cần cặp nhiệt độ cho trẻ, không nên dùng tay của người lớn sờ vào trán của trẻ rồi dự đoán trẻ sốt hay không. Tốt nhất là cặp nhiệt độ ở khoé miệng của trẻ (cần cẩn thận không để trẻ làm vỡ cặp nhiệt độ rất nguy hiểm vì có thủy ngân là một chất rất độc hại) hoặc cặp nhiệt ở hậu môn. Hiện nay cố một số loại nhiệt kế điện tử rất phù hợp với trẻ, cho kết quả nhanh, các bậc phụ huynh có thể lựa chọn dòng sản phẩm này cho gia đình.

Xử lý khi trẻ bị viêm đường hô hấp?

Khi nhiệt độ vượt quá 37,5 độ C cần làm giảm thân nhiệt cho trẻ bằng cách lau nước ấm (nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ của trẻ khoảng 2 độ) ở trán, nách, bẹn và cần cho trẻ uống nhiều nước. Nước uống tốt nhất là nước cam, chanh tươi, dung dịch orezol, tùy theo độ tuổi mà cho uống liều lượng thích hợp.

Nếu thấy nhiệt độ của trẻ không thuyên giảm nhưng chưa thể đưa trẻ đi khám bệnh ngay được thì có thể cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt loại paracetamol theo liều dùng trung bình là 10 – 15mg/1kg cân nặng của trẻ/lần, cứ sau 4 giờ cho uống 1 lần. Tốt nhất là dùng thuốc paracetamol loại đầu đạn đặt vào hậu môn cho trẻ theo liều lượng: trẻ từ 1 – 4 tháng/tuổi dùng 80mg/lần, trẻ từ 5-24 tháng/tuổi dùng 150mg/lần và cũng sau 4 giờ đặt lại nếu thân nhiệt của trẻ chưa giảm xuống.

Cần theo dõi nhiệt độ của trẻ bằng cách cặp nhiệt độ, nếu nhiệt độ vẫn không thuyên giảm, thậm chí còn tăng lên; trẻ mệt mỏi, quấy khóc nhiều thậm chí có khó thở, môi tím tái và có thể có rối loạn tiêu hoá như nôn, buồn nôn, tiêu chảy thì nguy cơ trẻ có thể mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp tính, cần khẩn trương cho trẻ đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất càng nhanh càng tốt và không nên tự mua thuốc kháng sinh cho trẻ uống.

Làm gì để trẻ tăng cường sức đề kháng – phòng tránh tái phát?
1. Súc miệng nước muối loãng: Nếu bé nhà bạn khoảng 1-3 tuổi, bạn có thể pha nước muối loãng, lấy khăn xô nhúng vào nước rồi lau răng, kẽ răng, lưỡi, lợi cho bé. Nếu bé khoảng 3-5 tuổi, bạn có thể pha nước muối loãng cho bé súc miệng để diệt khuẩn, virut gây bệnh cúm, viêm đường hô hấp và các bệnh răng miệng….vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và buổi tối sau khi ngủ.
2. Uống nước ấm: Cho trẻ uống nước ấm vào buổi sáng sớm sau khi ngủ dậy để cổ họng bé không bị khô rát.
3. Không nên mở rộng ngay cửa sổ, cửa phòng lúc sáng sớm vì gió sáng rất lạnh và vẫn còn độc, có thể thổi vào người bé khiến bé bị ho, viêm họng.
4. Mặc ấm cho bé vào buổi sáng và tối, cần thiết có thể quàng khăn mỏng cho bé.
5. Bổ sung vào chế độ dinh dưỡng của trẻ thêm rau xanh chứa nhiều vitamin A, C, chất khoáng. Cho trẻ ăn thêm cá, thịt và đặc biệt không thể thiếu sữa mẹ. Bạn có thể cho trẻ uống nhiều nước một ngày để bù nước.
6. Hạn chế cho trẻ ra ngoài khi trời nắng gắt. Nếu có cho trẻ ra ngoài, bạn phải đội mũ kín mặt, kín đầu cho trẻ, mặc áo dài tay trùm cả người bằng chất liệu mát để nắng không chiếu được vào người trẻ. Bạn có thể cởi bớt áo chống nắng khi bé đã vào chỗ râm mát nhưng không cởi quá nhiều, tránh bé bị lạnh đột ngột.
7. Không cho quạt quay trực tiếp vào người, mặt trẻ cả ban ngày lẫn ban đêm.
8. Không cho trẻ uống nước đá, ăn kem vì đó là những thứ dễ gây viêm hong nhất.
9. Không nên cho trẻ đến những chỗ đông người ngột ngạt, có khói thuốc lá.
10. Tiêm phòng vacxin để phòng chống các loại bệnh cho trẻ.
11. Bổ xung Thymomodulin cho bé với lượng 5ml/ngày giúp bé có hệ miễn dịch khỏe mạnh, tăng cường sức đề kháng!

Nguồn sức khỏe

Bệnh vẹo cột sống ở trẻ em

Trẻ em bị vẹo cột sống thường do mang vác nặng lệch về một phía, trẻ phải lao động quá sức sớm, trẻ ngồi học hay sinh hoạt không đúng tư thế… Khi trẻ bị vẹo cột sống thì khả năng phục hồi khó, việc điều trị cần phải kiên trì, khoa học và cần có thời gian dài.

Bệnh tật lứa tuổi học sinh phổ thông đang có chiều hướng gia tăng gây lo lắng cho các bậc phụ huynh. Đáng ngại hơn khi biết rằng, nguyên nhân chính gây bệnh cho các em bắt nguồn từ việc học tập tại nhà trường. Trong đó, bệnh cận thị đã ngày càng tăng đến mức có thể nói “vào trường gặp… đít chai”. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây còn phát hiện thêm những căn bệnh khác như lệch vai, vẹo cột sống.

veo-cot-song

Kết quả điều tra ở Việt Nam cho thấy : Tỷ lệ học sinh bị vẹo cột sống ở nội thành tăng dần theo cấp học; số trẻ bị vẹo cột sống ở ngoại thành và hải đảo bao giờ cũng cao hơn khu vực nội thành trên tất cả các tiêu chí so sánh.

Theo các bác sỹ chuyên khoa, các nhà khoa học giáo dục thì những yếu tố sau đây chính là lý do phát sinh gây bệnh vẹo cột sống: do trẻ bị mang vác nặng lệch về một phía, trẻ phải lao động quá sức sớm, trẻ ngồi học hay sinh hoạt không đúng tư thế, bàn, ghế và ánh sáng không đảm bảo đúng tiêu chuẩn cho trẻ khi học bài tại trường cũng như tại gia đình.

Đáng tiếc là từ nhiều năm qua, ngành Giáo dục trên phạm vi cả nước, hầu như chưa có nơi nào thực sự quan tâm đến những khả năng gây tác hại xấu đến sức khoẻ của học sinh. Nhiều áp lực về học hành, lao động với cường độ cao đè nặng lên đôi vai trẻ nhỏ nhưng lại chưa được nhìn nhận, đánh giá, phân tích bằng nhãn quan khoa học, tâm, sinh lý lứa tuổi.

Đến nay, khi mà đất nước đã không ngừng phát triển, công tác giáo dục tại các nhà trường đã bắt đầu tiếp cận bằng nhãn quan khoa học thì chúng ta vẫn chưa xây dựng được cái tạm gọi là “tác phong học đường” cho các em. Vì vậy, những thói quen tệ hại trong quá trình học tập ở trường cũng như tại nhà đã không được ai uốn nắn, hoặc không biết gì để điều chỉnh.

Căn bệnh đi từ không đến có, từ ít đến nhiều. Và chỉ khảo sát sơ bộ thôi đã có tới gần 5% số học sinh mắc bệnh vẹo cốt sống. Nếu không có các giải pháp điều chỉnh kịp thời, con số này sẽ gia tăng nhanh chóng.

Thật đáng lo lắng khi biết rằng, cong vẹo cột sống làm trục của hệ xương thay đổi, ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng học tập, lao động và đối với các bé gái còn bị lệch xương chậu, ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản sau này.

Về mặt lâu dài là di truyền, ảnh hưởng xấu đến… giống nòi. Mặt khác, bệnh vẹo cột sống tiến triển âm thầm, kéo dài nhiều năm và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố, nguy cơ. Khi đã mắc thì khả năng phục hồi khó, việc điều trị lại cần phải kiên trì, khoa học và cần có thời gian dài. Nhất là sự điều chỉnh những thói quen đã nhiễm sâu thành hành vi thường ngày của từng học sinh.

Thay đổi hành vi khi còn chưa muộn

Từ phát hiện mang tính khảo nghiệm này, cần phải tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng, yếu tố nguy cơ gây vẹo cột sống – giải pháp phòng ngừa phục hồi chức năng cột sống cho học sinh”.

Xét từ những giải pháp mà đề tài đưa ra, thì việc khắc phục mới chỉ dừng lại ở khoa học thực nghiệm, lấy hành vi điều chỉnh hành vi, lấy những quy định mang tính bắt buộc để thay đổi thói quen. Ví dụ: bàn, ghế đúng quy cách, chỗ ngồi học đủ ánh sáng, không mang vác nặng, luyện tập thể dục vừa sức thường xuyên…

Tuy vậy, như đã nói, đây là việc không dễ vì thói quen là thứ khó thay đổi nhất nếu chỉ thực hiện theo kiểu minh họa cho đề tài và đề tài chỉ là một công trình nghiên cứu khoa học xa rời cuộc sống. Vì vậy, quá trình thực hiện đề tài, đề nghị các tác giả cần tiếp tục chứng minh bằng lý luận khoa học vì sao việc thay đổi hành vi học đường phải làm như thế này mà không làm thế khác.

Bên cạnh đó, ngành Giáo dục, các nhà trường, các bậc phụ huynh cũng cần thay đổi ngay nhận thức, tập trung thành mối quan tâm hơn về đầu tư cơ sở vật chất đủ tiêu chuẩn tại các nhà trường, trong gia đình nhằm cung cấp cho các em những điều kiện học tập tốt nhất, khoa học nhất mà không hề ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung và cột sống nói riêng. Đừng để trẻ em hôm nay… “ông cụ” ngày mai.

Trẻ bị vẹo cột sống sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cơ thể, chậm phát triển về chiều cao, về lâu dài có thể gây biến dạng khung ngực, khung chậu, ảnh hưởng đến tim – phổi.

Cách phát hiện trẻ bị vẹo cột sống: Cho trẻ cởi trần, cúi lưng, ngón tay trỏ chạm đầu ngón chân. Người quan sát đứng ở phía sau thấy gù ở một bên lưng thì đưa trẻ đến cơ sở y tế khám. Sau đó trẻ được tái khám 3 – 6 tháng một lần và theo dõi tiếp tục cho đến tuổi dậy thì.

Việc điều trị vẹo cột sống cho trẻ cần nhiều thời gian và phối hợp nhiều phương pháp: vật lý trị liệu kết hợp thể dục liệu pháp (bơi lội, đu xà) và tùy theo mức độ nặng nhẹ của độ cong vẹo cột sống mà có thể dùng áo nẹp cột sống để hỗ trợ hay phải can thiệp phẫu thuật chỉnh hình. Để phòng ngừa vẹo cột sống, nên hướng dẫn trẻ ngồi học ngay ngắn, đúng tư thế (ngồi thẳng lưng, 2 bàn chân đặt xuống sàn, hai khuỷu tay đặt thoải mái trên mặt bàn, không rụt cổ, không để vở chéo 25 độ khi viết). Không cho trẻ mang cặp quá nặng.

Có nên cắt amidan cho trẻ em?

Mùa hè nhiều bậc phụ huynh muốn tranh thủ thời gian cho trẻ cắt amidan. Thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu amidan là gì, nếu tồn tại – liệu có lợi cho trẻ? Liệu có ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ, trường hợp bị viêm? và có nên cắt amidan? Nếu có thì bao giờ và chỉ định cắt thế nào?

1. Amidan là gì ?
Amidan một tổ chức lympho (tế bào bạch huyết) tập trung thành đám nằm ở hai bên thành họng tạo thành một vòng bạch huyết Waldayer bao gồm amidan vòm họng mà người ta gọi là V.A (Vegetaion adenoide), amidan khẩu cái và amidan đáy lưỡi. Khi nói amidan tức amidan khẩu cái. Còn VA là một tổ chức lympho ở vòm mũi họng, mọi trẻ sinh ra đều có. Khi VA bị viêm và quá phát thì chúng to ra có thể làm cho lỗ mũi sau bị che lấp gây khó thở và thường trẻ phải thở bằng mồm. Còn amidan thì ở trẻ em lớn hay người trưởng thành có thể bị viêm. Bình thường tổ chức amidan và VA sẽ teo dần bắt đầu từ tuổi dậy thì đến tuổi trưởng thành. Về chức năng sinh lý amidan đóng vai trò sinh miễn dịch có lợi cho cơ thể tức tạo ra kháng thể và các lympho bào giúp cho cơ thể chống lại tác nhân gây bệnh đường hô hấp trên, đặc biệt là chống lại tác nhân gây nhiễm trùng (các vi sinh vật gây bệnh). VA và amidan thật đóng vai trò quan trọng trong nỗ lực bảo vệ hệ thống đường hô hấp trên.

Amidan

2. Bệnh thường gặp ở amidan Loại bệnh hay gặp nhất của amidan là viêm amidan. Viêm amidan có thể là viêm cấp tính hoặc mạn tính. Viêm cấp tính bao giờ cũng có sốt cao (thường 39 -40oC), có khi kèm theo rét run, đau họng, rát họng, nuốt đau, ho. Viêm amidan mạn tính cũng sốt nhưng sốt nhẹ, người mệt mỏi, rát họng, ngứa họng, ho khan hoặc có đờm, miệng hôi, đôi khi nuốt có cảm giác vướng ở họng như có sợi tóc hay vật gì nhẹ, nhỏ vướng vào. Viêm amidan mạn tính thường có những đợt cấp tính do thời tiết thay đổi đột ngột từ nóng sang lạnh hoặc uống nước lạnh, nước đá, uống bia, nước giải khát có đá, nằm, ngồi dưới máy điều hoà nhiệt độ hoặc sức đề kháng của cơ thể bị suy giảm.

Khám họng sẽ thấy amidan to một hay hai bên, có nhiều hốc và trong các hốc amidan thường có mủ hoặc màng trắng. Chính các hốc amidan là nơi trú ngụ của các loài vi sinh vật đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh như H. influenzae, S.pneumoniae, S. pyogenes, S. aureus, S. epidermidis… khi có điều kiện thuận lợi là chúng trở nên gây bệnh cho vùng tai, mũi, họng, xoang. Ngoài khả năng bị viêm amidan cũng có thể bị áp xe. Bệnh áp xe amidan thường gặp là áp xe quanh amidan. Áp xe quanh amidan có nguy cơ làm lan toả tổ chức viêm ra các vùng xung quanh như vùng cổ, trung thất. Nếu viêm amidan do vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogens) sẽ có nguy cơ gây thấp tim mà người ta gọi bệnh này là thấp tim tiến triển hoặc gây thấp khớp cấp tính hoặc gây viêm cầu thận cấp. Các bệnh do S.pyogenes gây ra có thể để lại các hậu quả rất nặng nề.

3. Có nên cắt amidan?
Khi amidan bị viêm thì cần gõ cửa phòng khám của bác sỹ chuyên khoa tai, mũi, họng để được đánh giá mức và chỉ định điều trị cụ thể. Trước tiên cần chữa trị để amidan trở lại hoạt động bình thường, bảo vệ đường hô hấp như chức năng vốn dĩ của nó, không nên có suy nghĩ, nhất thiết phải cắt bỏ amidan bị bệnh. Tuy vậy, khi amidan bị viêm nhiễm lâu ngày làm bất lợi cho cơ thể thì người bác sỹ tai mũi họng sẽ có cân nhắc, tính toán thật chi li đến mức cần thiết có cắt amidan hay không. Nếu đã điều trị tích cực, đúng phác đồ, dùng thuốc kháng sinh đúng liều lượng, đủ ngày nhưng không có kết quả, bác sỹ chuyên có thể quyết định phải cắt. Việc cắt amidan là một thủ thuật tuy không phức tạp nhưng phải thực hiện đúng chỉ định chặt chẽ, ví dụ khi amidan viêm nhiễm, phì đại gây tắc nghẽn đường hô hấp và có thể dẫn đến tình trạng ngưng thở khi trẻ ngủ, gây tím tái (do thiếu dưỡng khí), hay quấy khóc; hoặc khi amidan bị viêm mạn tính tái phát nhiều lần (6 -7 lần/năm), viêm cấp tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của trẻ; hoặc amidan to, có nhiều hốc mủ, xét nghiệm mủ có vi khuẩn liên cầu nhóm A kèm theo chỉ số phản ứng ASLO (antistreptolysin O) tăng cao trong máu có nguy cơ gây thấp khớp, biến chứng tim, hoặc viêm cầu thận cấp hoặc đã gây thấp tim tiến triển.

Cũng được xem xét khi đã có một số biến chứng khác do viêm amidan gây ra như viêm phế quản nhiều lần, hen phế quản, viêm tai giữa, viêm xoang hoặc chỉ quá phát không viêm nhưng gây cản trở đường hô hấp cũng như cản trở ăn, uống. Tuy vậy người ta cũng khuyên không nên cắt amidan khi trẻ dưới 5 tuổi (vì một mặt sẽ ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của trẻ, mặt khác vì amidan chưa phát triển hết, nếu cắt nó sẽ phát triển lại) và thật thận trọng khi cắt amidan cho người trên 45 tuổi vì ở lứa tuổi này còn nhiều bệnh kèm theo mà các bệnh đó được chống chỉ định trong cắt amidan như bệnh tăng huyết áp, bệnh về tim mạch (xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành), mặt khác ở lứa tuổi này amidan thường bị xơ hoá nếu cắt có thể gây chảy máu nhiều và kéo dài rất nguy hiểm cho tính mạng người bệnh…

Tóm lại việc có cắt amidan hay không phải do bác sỹ chuyên khoa tai mũi họng chỉ định, các bậc phụ huynh không nên nôn nóng hoặc quá lo lắng về bệnh viêm amidan của trẻ mà tự ý xin bằng được cắt amidan cho trẻ. Bởi vì cắt amidan cũng là một phẫu thuật cho nên cũng có thể có tiềm ẩn tai biến như những phẫu thuật khác đôi khi khó lường trước, mặc dù hiện nay việc cắt amidan được tiến hành bằng nhiều phương pháp hiện đại hơn như cắt bằng dao điện, bằng tia laser…tuy nhiên cũng cần đề phòng một số tác dụng phụ như do thuốc gây mê (gây dị ứng, sốc phản vệ,…), chảy máu sau cắt amidan, hoặc rất hiếm gặp là ảnh hưởng đến phát âm…
PGS.TS Bùi Khắc Hậu
Tri Thức Trẻ

Não bộ của trẻ dễ bị tổn thương khi tình trạng thiếu oxy xảy ra

Câu hỏi:

Con của cháu đi khám Bv nhi trung ương chẩn đoán chậm phát triển do đẻ ngạt. Cháu bé hiện giờ đã được 15 tháng tuổi nhưng chưa biết ngồi, phản xạ yếu ví dụ như lấy tay đánh gió vào mặt cháu không có phản xạ nhắm mắt.

Không biết cầm nắm đồ vật, không nhận ra Bố mẹ. Cháu còn có biểu hiện co giật nhẹ và được Bs chẩn đoán là sóng động kinh nhẹ qua đo điện não đồ.

Cháu có uống thuốc thì thấy đỡ hẳn. Nhưng mấy ngày hôm nay đang ngủ cháu có biểu hiện tỉnh dậy mắt trợn ngược khoảng 1 phút. Hiện tại gia đình rất hoang mang. Xin Bs cho 1 lời khuyên về tình trạng bệnh của cháu là như thế nào? Chân thành cám ơn Bs.

Phạm Hữu Lâm
nao-bo-cua-tre-de-bi-ton-thuong-khi-tinh-trang-thieu-oxy-xay-ra
Trả lời:

Chào bạn Lâm!

Chúng tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của bạn. Như bạn biết mô thần kinh đặc biệt là não bộ của trẻ dễ bị tổn thương, tổn thương sớm và nặng khi tình trạng thiếu oxy xảy ra. Trẻ sanh ngạt sẽ bị thiếu oxy não và tổn thương não xảy ra.

Mức độ tổn thương não tùy thuộc vào mức độ thiếu oxy và thời gian trẻ thiếu oxy. Hậu quả của tổn thương này là trẻ mất các chức năng thần kinh, trẻ chậm phát triển hoặc thậm chí không phát triển được. Đồng thời trẻ sẽ có nguy cơ rất cao mắc một số bệnh lý về thần kinh trong đó thường gặp nhất là động kinh.

Theo như bạn mô tả thì đúng là con bạn đã bị di chứng của tình trạng thiếu oxy não do sanh ngạt. Cháu bị chậm phát triển tâm thần vận động và từ lúc 6 tháng bắt đầu có cơn động kinh. Việc điều trị động kinh lúc đầu có hiệu quả và đến nay thì xuất hiện lại cơn động kinh, đây cũng là một trong những diến tiến thường gặp của nhóm bệnh lý này.

Việc cần làm bay giờ là bạn đưa cháu đến bệnh viện để các bác sĩ chỉnh lại liều thuốc loại thuốc để khống chế cơn co giật hạn chế tình trạng xấu đi. Đồng thời với điều trị động kinh là các phương pháp tâp vật lý trị liệu giúp cháu phục hồi dần. Chúc bạn nhiều kiên nhẫn

Trả lời bởi: BS.CK2.Lê Thị Khánh Vân – TK. Nội Thần Kinh

Viêm tai giữa ở trẻ: Bệnh nguy hiểm khó lường

Viêm tai giữa là một bệnh thường gặp ở trẻ em. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây ra các biến chứng nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, gây liệt dây thần kinh số 7.

Viêm tai giữa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng tới 3 tuổi. Trẻ thường mắc viêm tai giữa do viêm VA lan vào vòi nhĩ, làm cho vòi nhĩ bị viêm và tắc lại. Ở trẻ em, vòi nhĩ ngắn hơn, khẩu kính lớn hơn ở người lớn nên vi khuẩn và các chất xuất tiết ở mũi họng rất dễ lan lên tai giữa. Đặc biệt, hệ thống niêm mạc đường hô hấp (niêm mạc mũi họng, niêm mạc hòm tai, niêm mạc khí phế quản…) ở trẻ rất nhạy cảm, rất dễ phản ứng với những kích thích bằng hiện tượng xuất tiết dịch, làm cho dịch ứ đọng nhiều trong hòm tai, gây viêm.

viem-tai-giua-o-tre-benh-nguy-hiem-kho-luong

Điều nguy hiểm là viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ có thể gây thủng màng nhĩ, làm tiêu xương… ảnh hưởng đến sức nghe của trẻ và dẫn đến rối loạn ngôn ngữ. Nếu không được điều trị triệt để, bệnh có thể gây các biến chứng nhiễm trùng sọ não rất nguy hiểm như viêm màng não, áp xe não, viêm tắc tĩnh mạch bên hoặc gây liệt dây thần kinh mặt (dây số 7).

Ở giai đoạn đầu, biểu hiện của bệnh viêm tai giữa không rõ rệt, trẻ không sốt, không đau tai, rất ít khi có ù tai, không chảy dịch ở tai. Triệu chứng duy nhất là trẻ bị nghễnh ngãng nên các bà mẹ thường hay bỏ qua và cho rằng trẻ thiếu tập trung. Khi chuyển sang giai đoạn mạn tính mới có hiện tượng chảy mủ tai. Vì vậy, ngay từ giai đoạn ủ bệnh (trẻ sốt, thường là sốt cao 39-40oC, quấy khóc nhiều, trẻ bé thường bỏ bú, kém ăn, nôn trớ, đi ngoài, co giật, lấy tay dụi vào tai…), người lớn cần đưa trẻ đi khám và điều trị. Nếu được phát hiện sớm, thầy thuốc sẽ chủ động chích rạch dẫn lưu hoặc sau khi vỡ mủ được điều trị cẩn thận thì bệnh sẽ khỏi sau 1-2 tuần, không để lại di chứng.

Hiện nay, với kỹ thuật nội soi, các thầy thuốc sẽ dùng kính hiển vi điện tử để chích một lỗ nhỏ ở màng nhĩ và đặt vào đó một ống thông nhỏ. Ống thông khí xuyên qua màng nhĩ nhằm hút sạch dịch nhầy quánh trong hòm nhĩ ra ngoài và lưu ống thông khí tại chỗ để dịch có thể tự chảy ra ngoài.

Để phòng bệnh viêm tai giữa cho trẻ, người lớn phải giữ gìn vệ sinh mũi họng hằng ngày cho bé sạch sẽ, hạn chế tối đa trẻ bị viêm mũi họng. Khi trẻ nôn trớ, không nên đặt trẻ nằm đầu thấp vì chất nôn dễ tràn vào tai giữa. Khi gội đầu cho trẻ, không nên hạ thấp đầu quá, nước sẽ chảy vào tai giữa, gây viêm. Nếu trẻ bị viêm mũi họng và viêm VA thì phải điều trị dứt điểm, đúng cách vì đó là nguyên nhân gây viêm tai giữa.

Trong nhiều trường hợp, nếu viêm VA quá nặng phải tiến hành nạo VA, khi có chỉ định của bác sĩ. Khi nghi ngờ trẻ bị viêm tai giữa, các bậc cha mẹ cần đưa trẻ đi khám tại chuyên khoa tai mũi họng ở các bệnh viện có uy tín. Tuyệt đối không được tự ý điều trị cho trẻ.

Lưu ý, viêm tai giữa là một bệnh dễ tái phát, vì thế, trẻ cần được theo dõi thường xuyên ở các cơ sở y tế chuyên khoa.

Theo afamily

Ăn nhiều đã thực sự tốt

Cuộc sống đang từng ngày phát triển, nhu cầu của con người cũng tăng theo những biến đổi xã hội. Các thực phẩm dinh dưỡng ngày càng đa dạng, các sản phẩm được sản xuất trong nước cũng như ngoại nhập đang có mặt ở tất cả các chợ, siêu thị, từ thành thị đến nông thôn.

Điều này gây không ít bối rối cho các bậc phụ huynh khi phải lựa chọn những sản phẩm dinh dưỡng cho con em mình. Có người nghĩ hàng ngoại là tốt, có người nghĩ hàng nội tốt hơn. Người khác lại nghĩ rằng, cứ cho con mình ăn đầy đủ, ăn nhiều sẽ khỏe. Thực tế thì, ăn uống thế nào mới khoa học, mạnh khỏe? Có phải cứ ăn nhiều là đủ chất?
an_giam_can_cho_tre_1
Một số phụ huynh nuôi con theo quan điểm trẻ thích gì thì cho ăn đấy, vì trẻ sẽ ăn được nhiều những món mình thích. Thật ra, như thế không phải là tối ưu, vì theo các nhà khoa học, các chuyên gia dinh dưỡng, mỗi bữa ăn của trẻ nên đầy đủ các chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin và chất khoáng… theo tỷ lệ phù hợp với từng độ tuổi, từng giai đoạn phát triển. Vì vậy, tùy vào từng giai đoạn của trẻ mà điều chỉnh các thành phần cho hợp lý.

Nhiều năm về trước, do điều kiện kinh tế khó khăn, các bậc phụ huynh nuôi con chỉ mong con đủ no đã là tốt rồi, không dám nghĩ đến việc liệu có đủ dưỡng chất hay không. Ngày nay con trẻ không chỉ được ăn no thôi mà mong muốn của các bậc phụ huynh là con mình phải được ăn uống đầy đủ nhất, phát triển tốt nhất về thể chất và trí tuệ. Tuy nhiên không phải ai cũng biết cho con ăn như thế nào là đủ và đúng, một số phụ huynh quan niệm rằng cứ “ăn nhiều là tốt”, mà không biết rằng ăn đúng và đủ mới là tốt nhất. Và sai lầm là ở chỗ đó, các bé có thể ăn nhiều, ăn no nhưng chưa cân đối về mặt dinh dưỡng, nếu các chất cung cấp cho cơ thể quá dư hoặc quá thiếu sẽ dẫn đến việc các bé có thể bị béo phì, suy dinh dưỡng hoặc một vài bệnh khác liên quan đến sự phát triển tầm vóc của trẻ.

Không những trẻ em, người lớn cũng vậy, khi có những sai lầm trong việc ăn uống sẽ dẫn đến những hậu quả không tốt cho sức khỏe. Nhiều người than phiền “tôi ăn rất nhiều nhưng sao vẫn gầy”, hay “tôi đã cố nhịn ăn, nhưng tôi không giảm cân được”. Nguyên nhân là do chế độ ăn không phù hợp, không cân bằng về năng lượng và thành phần các chất dinh dưỡng.

Hiểu được nhu cầu của xã hội, với kiến thức chuyên môn vững vàng và bằng trái tim của người làm cha mẹ, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã không ngừng nghiên cứu cho ra đời các sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt dành cho các độ tuổi khác nhau, từ Nuti IQ Mum dành cho phụ nữ mang thai, Nuti IQ giúp phát triển trí thông minh, NuVita Grow dành cho trẻ từ 3 tuổi trở lên giúp phát triển chiều cao, thể trạng. Và mới đây nhất, các chuyên gia dinh dưỡng của NutiFood đã nghiên cứu thành công dòng sản phẩm Grow Plus+ dành cho trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, đáp ứng đúng mong đợi của các bậc cha mẹ.

Từ góc nhìn của các chuyên gia NutiFood, với tâm niệm: “Trước khi trở thành một chuyên gia, chúng tôi nhìn cuộc sống bằng trái tim của người làm cha làm mẹ”, NutiFood hiểu rằng, sự phát triển của con cái luôn là niềm vui của cha mẹ. Nhìn thấy trẻ lớn lên khỏe mạnh từng ngày chính là động lực để các chuyên gia NutiFood làm việc tốt hơn, cho ra đời những sản phẩm dinh dưỡng tốt nhất, phù hợp nhất với thể trạng người Việt. Chỉ vì một lẽ: “Mỗi sản phẩm NutiFood chính là giải pháp của chuyên gia, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cộng đồng và vì một thế hệ trẻ em Việt Nam cao lớn, khỏe mạnh, thông minh”

Theo  Dantri

Sốt ở trẻ sơ sinh – Những điều cần biết

 Sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Dưới 3 tháng tuổi là giai đoạn vô cùng nhạy cảm đối với sức khỏe của trẻ, vì đây là giai đoạn sức đề khàng của bé rất yếu. Dễ bị nhiễm các bệnh lây nhiễm. Và sốt là triệu chứng quan trọng cảnh báo nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm ở bé. Viet-Care sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Sốt là gì ?

Sốt được định nghĩa là nhiệt độ ơ thể tăng lên ít nhất 1 ( 0,5 độ với trẻ dưới 3 tháng tuổi ) độ so với mức bình thường 37 độ. Nhiệt độ của trẻ thường chênh nhau khoảng 2 độ, phụ thuộc vào nhiệt độ xung quanh bé, độ dày quần áo, mức độ áp lực hay mức độ hoạt động trong ngày. Nếu bé dưới 3 tháng tuổi nhiệt độ của bé lớn hơn 37,5 độ bạn cần đưa bé đến bác sỹ để kiểm tra.

Yếu tố nào gây sốt ?

Hầu hết các trường hợp sốt là biểu hiện của cơ thể chống lại sự lây nhiễm của vi khuẩn hoặc virus cấp tính. Sự tăng nhiệt độ tạo ra môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn hoặc virus xâm nhập. Đồng thời sản sinh các tế bào bạch cầu chống lại bệnh.

Sốt ở bé sơ sinh thường đi kèm những chứng bệnh khác như đau họng, cảm, nhiễm trùng tai; thỉnh thoảng, sốt là triệu chứng của một loại bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
sot -so-sinh
Tại sao bé hay bị sốt ?

Hệ thống kiểm soát thân nhiệt của bé vẫn chưa hoàn thiện. Bé thường bị sốt do một số nguyên nhân thường thấy sau :

– Virus : Phần lớn sốt là do vi khuẩn hoặc virus nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với vi khuẩn, virus bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.

– Mất nước : Một số bé không nhận đủ sữa mẹ thân nhiệt tăng cao, gây sốt. Điều này thường xuất hiện ở ngày thứ 2-3 sau khi chào đời. Bé có thể bị mất nước do bú kém, sốt cao, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục.

– Mặc quá nhiều quần áo : Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.

– Tiêm chủng : Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.

Triệu chứng của sốt như thế nào ?

Bản thân sốt không phải là bệnh mà là phản ứng của cơ thể trẻ với các tác nhân gây bệnh. Bạn hãy gọi cho bác sĩ ngay khi thấy trẻ dưới 3 tháng tuổi có thân nhiệt tăng trên 37,5 độ C hoặc trẻ từ 3-6 tháng tuổi có thân nhiệt 38 độ C. Nếu trẻ sốt kèm theo các dấu hiệu khác như: phát ban, khó chịu, bú kém, khó thở, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục, có biểu hiện mất nước hoặc hôn mê cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ chữa trị kịp thời.

Biểu hiện của bệnh tiêu chảy:

Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện trẻ đi tiêu có máu trong phân (màu máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm, đen), trẻ đi phân lỏng hơn 6 lần/ngày hoặc có dấu hiệu mất nước, phải đưa trẻ đến bác sĩ ngay.

Trẻ bị nôn mửa:

Trẻ nhỏ “nôn ọe” một, hai lần thì không gây nguy hiểm. Nhưng nếu triệu chứng này xảy ra thường xuyên thì cũng là dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi trẻ nôn ra dịch màu xanh hoặc có máu.

Trẻ cảm thấy khó thở:

Nếu thấy trẻ có biểu hiện khó thở, bạn cũng nên gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Dấu hiệu trẻ khó thở:

– Trẻ thở gấp, nhịp thở nhanh hơn bình thường.

– Quan sát phần giữa xương sườn hoặc phần bụng trên có bị lõm khi trẻ hít vào không.

– Trẻ thở ra hổn hển.

– Đầu trẻ gật gù.

– Môi và da tái nhợt.

Rốn đỏ, rỉ dịch và chảy máu:

Khi thấy chỗ rốn hoặc dương vật của bé đỏ lên, rỉ dịch hay chảy máu, bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì thường đó là những dấu hiệu nhiễm trùng.

Trẻ bị phát ban:

Phát ban cũng là dấu hiệu phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng hết sức lưu ý khi triệu chứng nổi mẩn đỏ trên vùng da rộng, đặc biệt là trên mặt, hoặc đi kèm với biểu hiện sốt, rỉ dịch, chảy máu, sưng…

Cảm lạnh:

Đa số trẻ sơ sinh hay bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nguyên nhân do virus. Các triệu chứng liên quan khi nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc cảm lạnh thường là: bé sốt, kén ăn trong vài ngày đầu, sổ mũi kéo dài 1-2 tuần, triệu chứng ho có thể đến 2-3 tuần sau mới khỏi.

Theo dõi trẻ, nếu thấy các triệu chứng trên ngày càng trở nên nghiêm trọng thì bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ để được chăm sóc và điều trị.

Điều trị như thế nào ?

Khi trẻ bị sốt nhẹ:

Cho trẻ mặt quần áo thoáng hoặc chỉ cần cởi bớt quần áo theo dõi thân nhiệt mỗi 4 giờ và cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống nhiều nước.

Với bé dưới 1 tháng tuổi, bạn không nên tự ý cho bé uống bất kỳ thuốc giảm đau, hạ sốt nào, thay vào đó, bạn nên đưa bé đi khám nếu bé có dấu hiệu sốt. Bạn cũng có thể lau người cho bé bằng nước ấm nhưng không nên pha thêm cồn vào nước.

Trong khoảng thời gian bé bị sốt kéo dài, bạn vẫn nên cho bé “ti mẹ” như bình thường. Khi bé xuất hiện các dấu hiệu bị mất nước như khô miệng, đi tiểu ít, ít nước mắt, mắt bị trũng xuống, bạn nên đưa bé đi khám vì bé có thể được bác sĩ chỉ định truyền chất điện phân để bổ sung lượng nước đã mất.

Nếu bé bị sốt do nhiễm trùng, bé sẽ xuất hiện các dấu hiệu nặng của bệnh rất nhanh. Đó là lý do vì sao bạn nên đưa bé đi khám càng sớm càng tốt.

Lưu ý khi cặp nhiệt độ cho bé :

Với bé sơ sinh, cha mẹ nên dùng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn. Nên sử dụng loại nhiệt kế điện tử thay vì loại thủy ngân vì nhiệt kế thủy ngân dễ bị vỡ, gãy trong quá trình sử dụng. Nhiệt kế điện tử rất dễ đọc kết quả vì phần đuôi của loại nhiệt kế này sẽ hiển thị số đo nhiệt độ, như trên đồng hồ điện tử. Phần lớn các loại nhiệt kế điện tử sẽ cho kết quả tương đối chính xác trong vòng vài chục giây đến hai phút sau đó.

Đo nhiệt độ ở nách: Cách này đơn giản hơn cách đo ở hậu môn nhưng nhược điểm của nó là dễ bị sai số (có thể thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn khoảng 0,5ºC). Nếu muốn dùng nhiệt độ cặp nách cho bé, cha mẹ nên chú ý những điểm sau:

– Trước khi cặp nhiệt độ, cha mẹ nên lau khô nách cho bé để nhiệt kế được tiếp xúc trực tiếp với da.

– Kẹp đầu nhọn của nhiệt kế vào nách bé; sau đó, bạn nên giữa cánh tay đang cặp nhiệt độ của bé áp sát dọc theo cơ thể. Đảm bảo rằng, đầu nhọn của nhiệt kế nằm hoàn toàn trong nách của bé.

– Đợi khoảng 1-2 phút trước khi bạn rút nhiệt kế ra khỏi nách bé và bắt đầu đọc kết quả. Nhiệt kế điện tử thường có dấu hiệu thông báo khi nó đã thực hiện xong nhiệm vụ.

Hai phương pháp đo nhiệt độ không an toàn cho trẻ sơ sinh : Nhiệt kế đo ở miệng vì bé khó giữ yên nhiệt kế dưới lưỡi trong một khoảng thời gian nhất định; Nhiệt kế đo ở tai.

Lưu ý : Hãy đưa ngay bé tới các cơ sở y tế để khám ngay khi thấy xuất hiện dấu hiệu của sốt để bé được chăm sóc tốt nhất.

Theo báo sức khỏe

Bệnh ho gà ở trẻ sơ sinh

Bệnh ho gà là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, gây dịch, phổ biến ở trẻ em, lây theo đường hô hấp. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là những cơn ho dữ dội, đặc biệt điển hình với nhiều biến chứng xảy ra.

Đây là một bệnh lưu hành ở mọi nơi trên thế giới. Ở nước ta, khi chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) chưa được triển khai thì bệnh ho gà thường xảy ra ở trẻ em và xuất hiện quanh năm. Sau năm 1986, Chương trình TCMR được phát triển rộng khắp cả nước và tất cả trẻ dưới 1 tuổi được gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP (bạch hầu, uốn ván, ho gà).
benh ho ga o tre so sinh
Sau nhiều năm liền tiêm vaccin DTP, tỷ lệ mắc và chết của bệnh ho gà đã giảm rõ rệt. Hiện nay bệnh ho gà vẫn còn tản phát ở nhiều nơi và vẫn còn xảy ra dịch nhỏ ở địa phương.

Tác nhân gây bệnh ho gà là trực khuẩn ho gà Bordetella pertussis. Bệnh lây truyền từ người bệnh sang người lành bằng đường hô hấp qua các giọt chất tiết ra từ miệng có chứa vi khuẩn ho gà. Không có người lành mang vi khuẩn hoặc người khỏi bệnh mang vi khuẩn.

Vi khuẩn ho gà có sức đề kháng rất yếu, bởi vậy sự lây truyền là do tiếp xúc trực tiếp, nhất là những người sinh hoạt trong cùng một không gian khép kín lâu dài như hộ gia đình, trường học. Mọi lứa tuổi đều có thể bị ho gà, nhưng trẻ em từ 1-6 tuổi dễ bị hơn. Trẻ càng nhỏ tuổi, bệnh càng nặng.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh khởi phát có thể không có sốt hoặc sốt nhẹ (37oC – 38oC), với các triệu chứng viêm long đường hô hấp (ho khan, hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng). Ho tăng dần thành cơn, hay gặp về đêm.

Ở thời kỳ toàn phát, xuất hiện các cơn ho gà điển hình. Cơn ho xuất hiện đột nhiên vô cớ sau các kích thích, cả ngày và đêm nhưng hay gặp ho nhiều về đêm. Mỗi cơn ho điển hình trải qua 3 giai đoạn. Trẻ ho rũ rượi từng chuỗi liên tục, không tự kìm hãm được. Mỗi chuỗi 15-20 lần ho liên tục, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ ngầu, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt, nước mũi. Cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi chuỗi tiếp theo, trẻ thở rít vào thật dài nghe như tiếng gà rít.

Các cơn ho cứ liên hồi cho tới khi trẻ nôn hoặc khạc được đờm trắng trong, dính như lòng trắng trứng, trong đó có trực khuẩn ho gà. Sau mỗi cơn ho, trẻ mệt mỏi bơ phờ, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Phải mất ít phút, trẻ mới trở lại chơi bình thường. Các cơn ho có thể làm mặt nặng, loét dây hãm lưỡi. 3 tuần sau khi cơn ho xuất hiện, bệnh phát triển tới cực độ và giữ nguyên ở mức đó trong một thời gian tùy từng trường hợp, rồi bệnh lui dần (các cơn ho giảm, thời gian ho ngắn dần, khạc đờm ít sau đó hết dần).

Điều trị

Về nguyên tắc, dùng kháng sinh; điều trị triệu chứng (ho, khó thở) và điều trị biến chứng. Bệnh nhi cần được quan tâm chăm sóc và cho chế độ dinh dưỡng hợp lý. Trong cơn ho phải để trẻ ở tư thế ngồi để tránh trào đờm dãi vào phổi, trẻ nhỏ phải cho nằm nghiêng để dễ móc đờm dãi. Cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu, chia thành nhiều bữa. Trẻ còn bú, tiếp tục cho bú.

Phòng bệnh

Thực hiện cách ly đường hô hấp đối với bệnh nhân, những trường hợp nghi ngờ. Thời gian cách ly thường ở trong khoảng 3 tuần kể từ khi xuất hiện viêm long. Gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP cho trẻ dưới 1 tuổi, theo lịch tiêm chủng của Chương trình TCMR quốc gia:

Liều 1: khi trẻ được 2 tháng tuổi;

Liều 2: khi trẻ được 3 tháng tuổi;

Liều 3: khi trẻ được 4 tháng tuổi.

Theo báo sức khỏe

Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

TS. Lê Thanh Hải, Phó GĐ BV Nhi T.Ư cho hay, viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là bệnh rất hay gặp trong thời tiết giao mùa. Đáng nói là nhiều bậc phụ huynh không biết chăm sóc đúng cách đã khiến bé bị biến chứng nặng nề, gây suy hô hấp.

Dùng thuốc bừa bãi, bệnh nhẹ thành nặng

Chị Nguyễn Thị Loan (Thanh Xuân, Hà Nội) sinh con được 24 ngày thì bé có dấu hiệu ngạt, xổ mũi và ho.

Chị cho con đi khám ở một phòng mạch tư, bác sĩ chẩn đoán là chớm viêm phổi, cho dùng thuốc kháng sinh Zinnat cùng thuốc long đờm Exomuc. Uống thuốc được 3 ngày thì các triệu chứng ho, ngạt mũi giảm. Sau 6 ngày dùng thuốc, bé đã bú nhiều hơn rồi bệnh cũng khỏi hẳn.
viem-tieu-phe-quan-o-tre-so-sinh
Đến khi được 4 tháng, bé lại có những triệu chứng như lần bệnh trước. Sẵn đơn thuốc cũ, chị Hải cho con uống nhưng sau 3 ngày, bệnh không thuyên giảm mà còn có dấu hiệu nặng hơn. Đến bệnh viện, bác sĩ khám và phát hiện cháu bị viêm tiểu phế quản do vi rút, dùng kháng sinh ngay khi mới bị không mang lại hiệu quả cao.

TS. Lê Thanh Hải cho biết, lạm dụng thuốc trong điều trị căn bệnh này không phải là hiếm. Không chỉ các bậc phụ huynh tự ý cho con dùng thuốc, mà ở các tuyến cơ sở, không ít bác sĩ cũng cho bé dùng kháng sinh khi có dấu hiệu ho, xổ, ngạt mũi. Lạm dụng kháng sinh khi mới bị viêm tiểu phế quản thường không mang lại kết quả điều trị như mong muốn.

Dấu hiệu đặc trưng

BS Hải cho hay, căn bệnh này hay gặp ở trẻ bú mẹ và rất dễ nhầm với các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp khác.

Khi bị viêm tiểu phế quản, trẻ thường ho, hắt hơi, xổ mũi nước trong, sốt nhẹ hoặc không sốt. Các bậc phụ huynh cần lưu ý, sốt không phải đặc trưng của căn bệnh. Vì trên thực tế, rất nhiều trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản không hề có biểu hiện sốt, nếu có, chỉ sốt rất nhẹ.

Triệu chứng ho có thể ngày càng nặng và xuất hiện thở khò khè, nhất là về nửa đêm, gần sáng. Khi phát bệnh, cơn ho tăng và trẻ càng khó thở. Khi đó, trẻ sẽ ăn kém đi, hay nôn trớ. Bệnh nặng hơn khi trẻ có dấu hiệu thở hổn hển, ăn kém và tỏ ra rất mệt mỏi, không muốn trò chuyện, chơi đùa.

Điều trị

Bệnh khởi đầu không dùng kháng sinh, chủ yếu là làm long đờm, ăn uống đủ. Nếu được chăm sóc tốt ngay từ đầu, nhiều trường hợp sau vài ngày sẽ tự khỏi.

Những trường hợp gây biến chứng nặng làm bít tắc đường thở, biểu hiện đứa trẻ thở mệt nhọc, ăn uống kém, nôn trớ nhiều thì cần đưa ngay đến viện khám để được điều trị thích hợp.

Trong trường hợp bị bội nhiễm gây sốt, đờm dãi đậm đặc, bác sĩ sẽ có chỉ định dùng kháng sinh.

Khi bé mới có dấu hiệu của bệnh, điều quan trọng là nâng cao thể lực của trẻ và trị các triệu chứng bằng nhiều cách. Trước hết phải cho trẻ tăng cường bú mẹ. Với những trẻ đã ăn dặm, nên cho ăn loãng hơn, uống thêm nước theo nhu cầu, có thể là nước lọc, nước ép hoa quả, nước cháo…

Cho trẻ ăn thức ăn dễ tiêu, làm thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. Lưu ý, trước khi cho trẻ ăn cần làm thông thoáng mũi họng bằng nước muối sinh lý, nhỏ mỗi lần 5-6 giọt, ngày 5-6 lần hoặc hơn. Sau khi nhỏ muối sinh lý, đợi 1 lúc để nước mũi loãng ra rồi dùng dụng cụ hút sạch mũi, hoặc có thể dùng miệng để hút mũi trẻ.

Nếu trẻ bị sốt, không nên ủ trẻ quá ấm. Mặc vừa đủ, dùng nước ấm chườm vào nách, cổ, bẹn. Nếu sốt trên 38,5 độ có thể cho trẻ uống paracetamol để hạ sốt nhưng cần chú ý liều lượng phù hợp với trọng lượng cơ thể.

“Tuy là bệnh thông thường, nhưng do thường gặp ở trẻ sơ sinh đang còn bú mẹ nên cũng không thể chủ quan. Cần đưa ngay trẻ đến viện khi có dấu hiệu suy hô hấp, biểu hiện là cánh mũi thở phập phồng. Trẻ thở mạnh khiến bụng hóp sâu và nhịp thở nhanh hơn, trên 50-70 lần/phút” – BS. Hải cảnh báo.

Để phòng bệnh, cha mẹ cần vệ sinh mũi họng, cơ thể sạch sẽ cho trẻ hàng ngày. Vệ sinh phòng ngủ, chăn ga, gối đệm, đảm bảo phòng thông thoáng. Người lớn không hút thuốc trong nhà. Mẹ trước khi cho con ăn cần rửa tay sạch sẽ. Trong gia đình có người bị bệnh hô hấp cần tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh.

Theo dân trí

Bệnh mềm sụn thanh quản ở trẻ sơ sinh

 Mềm sụn thanh quản là một bất thường bẩm sinh sụn thanh quản dùng để mô tả trường hợp mô nâng đỡ các cấu trúc giải phẫu phía trên thanh quản gồm nắp thanh quản và sụn phễu chưa phát triển kịp khiến các cấu trúc này sa vào đường thở của trẻ tạo nên tiếng thở khò khè.

Đặc điểm bệnh lý Mềm sụn thanh quản là khiếm khuyết bẩm sinh hay gặp nhất ở vùng thanh môn và thanh quản.

Mềm sụn thanh quản chủ yếu xảy ra ở sụn nắp thanh môn và sụn phễu hoặc cả 2 cấu trúc trên. Khi sụn nắp thanh môn mềm, nó thường bị kéo dài và xếp nếp. Nếu nhìn nghiêng thì sụn nắp thanh môn bệnh lý này giống chữ omega (Ω) và được gọi là nắp-thanh-môn-hình-chữ-omega.
Baby Laughing
Nếu sụn phễu bị mềm thì nó sẽ bị phình ra . Trong cả hai trường hợp thì các mô sụn nói trên sẽ phập phều và qua nội soi thanh quản sẽ thấy các sụn này bị sẽ bị ép và sa vào che lấp phần trên thanh môn khi trẻ hít vào. Nghẽn tắc đường thở trong thì hít vào như vậy sẽ gây nên một tiếng thở rít khi hít vào và có âm sắc cao gọi là tiếng thở khò khè thì hít vào.

Mềm sụn thanh quản là nguyên nhân gây khò khè kéo dài hay gặp nhất ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Trẻ bị mềm sụn thanh quản dễ bị trào ngược dạ dày-thực quản (ọc sữa) do nghẽn tắc một phần thanh môn trong thì hít vào và khi trẻ cố sức hít vào sẽ làm tăng áp suất âm trong lồng ngực quá mức khiến thức ăn trong dạ dày ở khoang bụng trẻ dễ bị trào ngược lên thực quản (phần đường tiêu hóa nằm trong lồng ngực). Ngược lại, trẻ bị trào ngược dạ dày-thực quản nặng sẽ có các thay đổi về mặt cấu trúc bệnh học tương tự như mềm sụn thanh quản, đặc biệt là sưng và phình sụn phễu.

Đôi khi quan sát được những thay đổi viêm ở thanh quản gọi là viêm thanh quản do trào ngược.

Do bệnh thường liên quan đến sụn nắp thanh môn nên khi đặt trẻ nằm ngửa, dưới tác dụng của trọng lực sẽ làm nắp thanh môn sa vào đường thở nhiều hơn và làm cho trẻ khò khè nhiều hơn.

Người ta chưa rõ nguyên nhân tại sao gây ra mềm sụn thanh quản, có lẽ do vùng thần kinh điều khiển trương lực đường hô hấp chưa phát triển.

Tỉ lệ tử vong / Diễn tiến trầm trọng : Rất hiếm,có thể gây ra thiếu oxy máu và ngạt nhẹ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển bình thường của trẻ. Trong trường hợp nặng có thể kèm theo trào ngược dạ dày-thực quản và khi cho trẻ bú dễ bị sặc sữa hay ói ra sữa vón cục.

Tuổi: Mặc dù đây là khiếm khuyết bẩm sinh nhưng khởi phát triệu chứng ở tuần 4-6 sau sinh vì trẻ dưới tuổi này lưu lượng khí hít thở chưa đủ mạnh để gậy ra tiếng khò khè.

Bệnh cảnh lâm sàng:

• Bệnh cảnh thường gặp là trẻ bắt đầu thở khò khè khi được 2 tháng tuổi, điển hình là lúc 4-6 tuần tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện vào 2-3 tháng tuổi cho đến trước thôi nôi.

• Cơn thở khò khè ngắt quãng khi hít vào. Tiếng thở khò khè lúc đầu dễ lầm tưởng là trẻ bị nghẹt mũi, tuy nhiên nó kéo dài và không có chất nhầy trong mũi của trẻ. Âm sắc của tiếng thở khò khè của trẻ có thể cao giống như tiếng rít.

• Khò khè tăng khi đặt trẻ nằm ngửa, lúc trẻ bứt rứt quấy khóc, hoặc khi có viêm đường hô hấp trên kèm theo. Nhiều trường hợp khò khè trong và sau khi trẻ bú.

• Trừ những lúc có viêm thanh quản kết hợp, nói chung trẻ vẫn chơi và bú như bình thường.

Các triệu chứng sẽ tăng nặng trong vòng vài tháng đầu , thường là từ 4-8 tháng tuổi. Đa số trẻ bị mềm sụn thanh quản sẽ hết các triệu chứng khi được 12-18 tháng.

Các triệu chứng khác có thể kèm theo như:

– Chậm lên cân

– Bú khó

– Ói ọc sữa

– Sặc sữa

– Ngưng thở

– Co kéo lồng ngực khi hít vào

– Tím tái

– Ói ọc dịch chua trong dạ dày

Phân loại:

Nhẹ: Thở khò khè thì hít vào không có biến chứng nghẽn tắc đường thở nghiêm trọng, không ảnh hưởng trẻ bú và không có các triệu chứng khác kèm theo.

Các trẻ này thường hay quấy khóc bảo mẫu nhưng không có vấn đề nào khác ảnh hưởng đến sức khỏe và thường tự khỏi sau 12-18 tháng tuối. Nếu trẻ bị mềm sụn thanh quản nhẹ thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Vừa: Trẻ được xếp vào loại này khi có các triệu chứng sau:

– Khò khè khi hít vào

– Ói ọc sữa

– Nghẽn tắc đường thở (do thanh quản mềm)

– Bú khó nhưng không ảnh hưởng tăng cân đều đặn của trẻ

– Có tiền sử nhập viện nhiều lần vì nghẽn tắc đường thở

– Trào ngược dạ dày – thực quản (ói ọc dịch chua trong dạ dày)

Các trẻ này cũng tự khỏi sau từ 12-18 tháng tuổi nhưng có thể cần phải điều trị chứng trào ngược dạ dày – thực quản. Ngay cả khi trẻ được xếp vào nhóm bệnh vừa thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Nặng: Trẻ xếp loại này thường có thể cần phải được phẫu thuật để chữa trị. Các bác sĩ sẽ đề nghị mổ nếu trẻ có bất kỳ triệu chứng sau:

– Khó thở đe dọa tính mạng

– Có các cơn tím tái nặng

– Không lên cân được vì bú khó

– Co kéo lồng ngực và cổ nặng khi thở

– Cần phải thở oxy

– Bệnh lý tim phổi gây ra do tình trạng thiếu oxy kéo dài

Các xét nghiệm và thủ thuật để chẩn đoán

Điều trị

Chăm sóc nội khoa:

• Trên 99% sẽ dần dần tự khỏi mà không cần điều trị, hầu như đa số sẽ hết khò khè khi được 2 tuổi. Tiếng khò khè sẽ tăng trong 6 tháng đầu sau sinh vì lượng khí trẻ hít thở sẽ tăng theo tuổi. Sau tuổi đó tiếng khò khè không tăng nữa và giảm dần rồi biến mất. Nhiều trường hợp, các triệu chứng biến mất nhưng đặc điểm bệnh học vẫn còn kéo dài cho đến lớn và trẻ có thể bị khò khè trở lại khi gắng sức hay thỉnh thoảng khi bị nhiễm virus đường hô hấp.

• Nếu trẻ khò khè quấy khóc nhiều hơn khi ngủ thì có thể đặt trẻ nằm sấp và nên cẩn thận tránh đặt trẻ nằm trên nệm quá mềm và nên thận trọng vì mền gối có thể bít mặt mũi bé gây ngạt.

• Khi trẻ bị thiếu oxy nặng cần phải nhập viện để đo nồng độ oxy máu. Nếu nồng độ oxy máu trong lúc nghỉ <90% thì trẻ sẽ được cho thở oxy.

• Nếu trẻ vẫn bú được, chơi được, tăng cân bình thường, chỉ có thở khò khè trong 2 tháng đầu sau sinh thì không cần xử trí gì thêm. Mềm sụn thanh quản là một chẩn đoán thường gặp và bác sĩ sẽ trấn an cha mẹ của trẻ về tính chất dạng bệnh này.

• Nếu chưa rõ chẩn đoán hoặc nếu cha mẹ chưa hoàn toàn yên tâm thì bác sĩ sẽ cho trẻ nhập viện để nội soi chẩn đoán.

Phẫu thuật:

• Đối với những trường hợp mềm sụn thanh quản nặng gây trẻ khó bú, kém tăng cân và phát triển, có thể dùng phẫu thuật.

• Phẫu thuật chỉ đơn giản chủ yếu là tạo hình các cấu trúc nâng đỡ quanh nắp thanh quản, lấy đi những phần mô thừa gây tắc khí đạo.

Rất hiếm khi phải áp dụng phẫu thuật để điều trị mềm sụn thanh quản. Nếu trẻ đã được phẫu thuật rồi thì vẫn nên tiếp tục điều trị trào ngược dạ dày thực quản và các bậc cha mẹ vẫn rất cần theo dõi các dấu hiệu chuyển biến xấu để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Ăn uống : Không cần kiêng cữ thức ăn nào hết.

Hoạt động thể chất: Không cần hạn chế hoạt động thể chất của trẻ

Nhập viện:

• Không cần thiết trừ khi trẻ có dấu hiệu thiếu oxy hay ngưng thở.

• Nếu độ bão hòa oxy máu cao hơn 90% thì không cần thở oxy

Điều trị ngoại trú:

• Không cần cho trẻ uống thêm thuốc gì khác.

• Tái khám theo chỉ định của bác sĩ nếu có

• Vẫn tiêm phòng cho trẻ bình thường như các trẻ khác .

Phòng ngừa: Bệnh này không phòng ngừa được và cũng không có yếu tố gia đình.

Biến chứng: Hạ oxy máu & cần thở thêm oxy

Các dấu hiệu cha mẹ nên theo dõi khi trẻ bị mềm sụn thanh quản:

Mang trẻ đến bệnh viện khi có các triệu chứng sau:

– Ngưng thở trên 10 giây

– Thở khò khè + tím tái quanh môi

– Co kéo lồng ngực và cổ không bớt khi bạn xoay trẻ lại hoặc bế trẻ lên

Báo cho bác sĩ biết khi trẻ có các dấu hiệu sau:

– Trẻ khó nuốt và ói ọc liên tục

– Trẻ đứng hay sụt cân

– Trẻ bú kém và bỏ bú giữa chừng

– Trẻ có dấu hiệu sặc sữa

– Trẻ khó thở khi bú

Theo báo sức khỏe

Những bệnh về mắt ở trẻ sơ sinh

Mắt trẻ sơ sinh vốn mỏng manh, nếu không biết cách chăm sóc, theo dõi đúng cách có thể sẽ để lại những hậu quả thật đáng tiếc…

Những bệnh lý thường gặp

Trong những lần khám thai định kỳ, bác sĩ sẽ tập trung hướng dẫn những điều quan trọng cho các bà mẹ. Chuyện chăm sóc mắt trẻ thơ ra sao ít vị quan tâm, vị nào chu đáo hơn thì nói qua loa… Bạn cần có những kiến thức cơ bản về các bệnh mắt ở trẻ sơ sinh để xử trí kịp thời.

– Viêm kết mạc: thường xảy ra ở trẻ sơ sinh. Phát hiện được là đưa trẻ tới bệnh viện chuyên khoa trị ngay.

– Viêm kết mạc do hóa chất: thường xảy ra 24-48 giờ đầu sau sanh. Bệnh thường tự khỏi sau 48-72 giờ. Bệnh này do kết mạc mắt phản ứng với nitrat bạc – thuốc nhỏ mắt phòng ngừa viêm kết mạc do lậu cầu khuẩn.
mot-so-benh-ly-ve-mat-thuong-gap-o-tre-so-sinh
– Viêm kết mạc lậu: do lậu cầu lây từ mẹ sang con trong giai đoạn xổ thai, biểu hiện sau sinh từ 3-5 ngày. Ban đầu, mắt trẻ tiết dịch lẫn máu, về sau mi mắt sưng đỏ tiết ra mủ. Có thể phòng ngừa hữu hiệu bệnh này bằng cách nhỏ nitrat bạc sau sinh, 1 giọt/lần/mắt. Khi mắt trẻ nhiễm bệnh, muốn trị tận gốc phải trị cả cha mẹ và bé. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể gây các biến chứng loét giác mạc, thủng giác mạc khiến trẻ bị mù.

– Viêm kết mạc do Chlamydia: bệnh lây từ mẹ sang con trong lúc mang thai. Khi nhiễm bệnh, sau sinh 5 ngày mắt sẽ tiết dịch, sau đó tiết ra mủ, 2 mắt sưng đỏ. Trị bằng Erythromycin và Teytacycline thuốc mỡ 1% bôi mắt 4-5 lần/ngày cho đến khi hết sưng đỏ.

– Viêm kết mạc do tụ cầu vàng: thường khởi phát sau 3 ngày tuổi, có thể chỉ một mắt bị bệnh, mủ không nhiều. Trị bệnh này bằng Teytacyline thuốc mỡ 1%, bôi mắt 4 lần/ngày, dùng trong năm ngày.

– Viêm kết mạc do virus: thường do Herpex simplex virus (HSV) gây nên. Trẻ nhiễm bệnh này từ mẹ, trong khi sanh. Bệnh phát trễ, thường từ 7-14 ngày sau sinh, có thể viêm ở một hoặc hai mắt. Nên cách ly bé với mẹ, dùng các thuốc kháng virus như Acyclovir (uống) và Nevirapin 3% thuốc mỡ bôi mắt 5 lần/ngày, trong vòng 10 ngày.

Lưu ý: Các viêm kết mạc, trừ viêm do hóa chất, có thể phòng ngừa hữu hiệu nếu người mẹ khám thai định kỳ thường xuyên.

– Đục thủy tinh thể bẩm sinh: tương đối hiếm gặp, nhưng thường trẻ sơ sinh bị nặng hơn người lớn và gây mù nếu không được điều trị sớm (mổ). Biểu hiện: đồng tử trắng đục một phần hoặc toàn phần, lé hoặc mù.

– Tăng nhãn áp bẩm sinh (glaucoma): là bệnh tăng áp lực trong mắt kết hợp với mất thị lực. Khi cả cha và mẹ đều bị bệnh này, thì con cũng có nguy cơ bị, thường ở cả hai mắt. Biểu hiện: hay chảy nước mắt, sợ ánh sáng, nhãn cầu to hơn trẻ bình thường. Cần đưa trẻ đi điều trị ngay mới có thể tránh mù vĩnh viễn.

– Bệnh võng mạc ở trẻ sơ sinh non tháng (ROP): là bệnh lý mạch máu ở võng mạc. Bệnh này thường gặp ở những trẻ sinh thiếu tháng, đặc biệt là những trẻ được cho thở oxy liều cao (nồng độ oxy trên 40%). Có thể phát hiện bệnh này sớm nhất lúc bé từ 6-8 tuần tuổi nhờ đèn soi đáy mắt. Chỉ phát hiện bệnh sớm mới hy vọng điều trị tốt, vì điều trị bệnh này rất phức tạp. Cho nên, ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, chỉ nên cho trẻ thở oxy khi thật cần thiết, nếu lạm dụng thì nguy cơ bị ROP càng cao. Ngoài ra, nồng độ oxy cung cấp cho những trẻ này không nên vượt quá 40%, ngoại trừ các trường hợp bệnh lý nặng.

Lưu ý: Nên vệ sinh mắt trẻ sơ sinh bình thường trong tháng đầu bằng nước muối sinh lý NaCl 9%, liều: 1 giọt/mắt/lần sau khi tắm trẻ.

sưu tầm

Triệu chứng vặn mình, đỏ mặt ở trẻ sơ sinh

Con tôi sinh được 20 ngày, gần đây bé hay vặn mình trong lúc ngủ, hay lúc không ngủ bé cũng vặn mình (mỗi khi vặn mình mặt bé đỏ cả người) và bé không chịu ngủ trong khoảng thời gian từ 2 giờ đến 4 giờ sáng.

Những biểu hiện như thế của con tôi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của bé không ? biểu hiện trên thuộc bệnh lý gì ?

Bác sĩ có thể cho tôi lời khuyên và chỉ dẫn cho tôi hướng khắc phục hay đi khám ở phòng mạch nào. Rất mong nhận được sự tư vấn của Bác sĩ để bé có giấc ngủ ngon và không vặn mình trong lúc ngủ. (Lê Tấn Tài)

trieu chung van minh do mat

Trả lời

Triệu chứng vặn mình và đỏ mặt thường là sinh lý bình thường của trẻ sơ sinh trước 2 tháng tuổi, biểu hiện bé vặn người, đỏ mặt, triệu chứng kéo dài trong vòng vài phút và tự hết. Ngoài ra be vẫn biểu hiện bình thường, không khóc khó chịu, không ói, vẫn lên cân tốt.

Nếu triệu chứng do thiếu canxi máu, thì thường gặp hơn ở những bé sinh non, dinh dưỡng kém. Trẻ có biểu hiện dễ kích thích với tiếng động, hiếm hơn có khò khè, hoặc nôn ói. trẻ còi, chậm lên cân.

Nếu do trào ngược thức ăn từ dạ dày vào thực quản, thường trẻ sẽ có triệu chứng hay nôn ói, khó chịu và quấy nhiều ban đêm, có thể có khò khè hoặc viêm phổi tái đi tái lại.

Nói tóm lại, nếu con anh vẫn khỏe, vẫn lên cân tốt, thì triệu chứng vặn mình và đỏ mặt là sinh lý bình thường, sẽ tự hết khi bé được 2 – 3 tháng tuổi còn không ngủ vào lúc 2 -4 giờ sáng thì cha mẹ nên điều chỉnh giấc ngủ cho bé.

Trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ có giấc ngủ ngắn, thường 3 đến 4 tiếng sau cử bú, do vậy ba mẹ có thể điều chỉnh lại giờ đi ngủ cho bé.

Chúc cả nhà vui.

Theo báo sức khỏe

Ngăn ngừa hen suyễn cho con không khó

 Không phải ngẫu nhiên mà cứ vào tuần đầu tiên của tháng 5 hằng năm là Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại nhắc nhở chúng ta hãy nâng cao ý thức phòng tránh hen suyễn bởi ngay một nước được tiếng hiện đại như Mỹ mà trong số hơn 300 triệu dân cũng đang có khoảng 22 triệu người mắc và mỗi năm, hen suyễn gây ra khoảng 5.000 ca tử vong cùng 2 triệu lần cấp cứu, 500.000 trường hợp nhập viện.

Ở nước ta, tuy chưa có số liệu điều tra toàn quốc nhưng số người mắc bệnh này chiếm khoảng 5% dân số. Điều đáng lo ngại nữa là tỉ lệ trẻ em nước ta mắc hensuyễn khá cao và theo chiều hướng tăng dần. Theo Bộ Y tế, tỉ lệ trẻ em mắc hen suyễn năm 2000 là 8%-9%; năm 2004 là 10%. Tại TPHCM, theo Tổ chức Y tế ISAAC (chuyên nghiên cứu hen suyễn và dị ứng ở trẻ em trên toàn cầu), vào năm 2004 đã có đến 29,1% trẻ em bị hen suyễn (thuộc loại cao nhất của châu Á).
hen-suyen
Theo GS-TSKH Nguyễn Năng An, Chủ tịch Hội Hen – Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng Việt Nam, một nghiên cứu mới đây thực hiện trên 3.000 dân ở Hà Nội cho thấy tỉ lệ người đã từng bị khò khè hoặc thở rít là 15,3%; khò khè hoặc thở rít trong 12 tháng qua là 9,3%.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có đến gần 50% người dân Hà Nội không biết về nguyên nhân gây hen, không biết hen có thể chữa khỏi, 55% không biết các biện pháp phòng ngừa cơn hen, 75% không biết về các thuốc điều trị hen và 78% không biết hen có thể kiểm soát được. Hiểu biết về hen của cán bộ y tế cũng rất thấp khi chỉ có 42,3% biết về các dấu hiệu của hen; 54,5% không biết phương pháp theo dõi tình trạng kiểm soát hen; hơn 40% không biết sử dụng thuốc dãn phế quản khi có cơn hen cấp.

Những con số nêu trên tuy chưa phản ánh đầy đủ thực trạng nhưng đã đủ để thấy hen suyễn là một gánh nặng ở nước ta. Theo PGS-TS Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Hội Hô hấp TPHCM, hen suyễn không thể chữa dứt hoàn toàn nhưng lại có thể kiểm soát được, giúp bệnh nhân có một cuộc sống gần như bình thường. Chính điều này nên thông điệp của ngày Hen toàn cầu năm 2011 được WHO đưa ra là “Bạn có thể kiểm soát được bệnh hen suyễn” nhằm kêu gọi cộng đồng hãy chú ý hơn nữa các giải pháp phòng chống, ngăn ngừa hen suyễn.

Hen suyễn có tính gia đình nên nếu cha mẹ từng bị thì trẻ có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Những lời khuyên sau đây của các chuyên gia thực sự là không quá khó để chúng ta phòng ngừa ngay trong mỗi gia đình: Không khói thuốc lá, không cho trẻ tiếp xúc với môi trường nhiều khói thuốc lá (quần áo, đầu tóc còn vương khói thuốc cũng có thể gây nguy hiểm cho trẻ); ngay từ lúc mang thai, người mẹ cần tránh thuốc lá, rượu, chất gây nghiện; giảm các yếu tố làm tăng cơn hen trong nhà như bụi, nấm mốc, gián, lông động vật; tránh để trẻ tiếp xúc với nước hoa, keo xịt tóc, sơn hoặc các chất tẩy rửa gia dụng; theo dõi cân nặng của trẻ (tăng cân quá mức trong vài năm đầu đời khiến tỉ lệ mắc suyễn cao hơn).

Làm gì khi trẻ hay bị ho hen

 Hỏi: Con cháu được 4 tuổi, khi thời tiết chuyển mùa thường xuyên bị ho viêm họng nhưng không sốt. Nhưng lại có cơn rít như hen. Vậy cháu phải làm gì để ngăn được bệnh này?

Trả lời: Cháu thường bị triệu chứng trên do cơ địa của cháu mẫn cảm với thời tiết. Để phòng ngừa tình trạng này phải mang khẩu trang khi ra đường và giữ ấm cổ họng… Ngoài ra bạn nên vệ sinh mũi hàng ngày cho cháu.

kienthucseo.edu.vn-deo-khau-trang
Nếu cháu bị cơn rít như hen, bạn nên đưa cháu đi khám để biết chắc cháu có thực sự bị hen hay không. Từ đó có biện pháp điều trị phù hợp và kịp thời, tránh những hậu quả nguy hiểm cho cháu như khó thở thậm chí có thể ngưng thở.

Theo kiến thức

Trẻ suyễn có nên kiêng ăn?

 Chăm sóc sức khỏe cho người bình thường đã khó, dinh dưỡng hợp lý lại là một việc khó hơn, đặc biệt là đối với trẻ bị suyễn. BS.CKII Nguyễn Thị Hoa (khoa Hô hấp, BV Nhi Đồng I) cho biết:
Suyễn là một bệnh mãn tính nên vấn đề dinh dưỡng phải thay đổi sao cho phù hợp với lúc không bệnh, lúc lên cơn. Dựa vào đặc điểm của bệnh: dễ kích ứng với môi trường (bụi, không khí…), khởi phát không báo trước (khó thở, thở nhanh)… để chúng ta có thực đơn hợp lý tránh suy dinh dưỡng lẫn béo phì cho trẻ.

Đối với trẻ, lúc không bệnh (chưa có những đợt kích phát) nên có chế độ ăn theo lứa tuổi. Trong giai đoạn trẻ sơ sinh (nhỏ hơn 6 tháng tuổi) thì sữa mẹ vẫn là tốt nhất. Tuy nhiên, vì một số lý do, người mẹ không có sữa hoặc trẻ không chịu bú thì cũng nên linh hoạt cho trẻ dùng sữa thay thế (khoảng 150mg/kg/ngày). Những loại thực phẩm cho trẻ ăn dặm như bột, cháo, ya-out cũng cần kết hợp với sữa để trẻ không bị suy dinh dưỡng hoặc béo phì.
suyen
Khi trẻ lên cơn suyễn, không nên cho trẻ ăn bất kì loại thực phẩm nào để tránh trẻ bị sặc. Ngoài ra, nên bù nước đặc biệt là đối với trẻ nhỏ. Để hạn chế trẻ bịsuy dinh dưỡng, cha mẹ cần lưu ý cho trẻ ăn nhiều bữa và thực phẩm chứa nhiều chất béo. Kiêng cữ tất cả các loại thức ăn gây dị ứng, tăng nguy cơ kích phát cơn hen.

Bốn nhóm thực phẩm cần thiết: bột đường, sữa đạm, dầu ăn chất béo, rau quả phải được kết hợp trong một bữa ăn với số lượng một/một. Một chén cháo hoặc bột ít nhất cần đảm bảo bốn nhóm thực phẩm kể trên với một muỗng canh thịt bằm nhuyễn, một muỗng canh dầu ăn và một muỗng canh rau xắt hạt lựu.

Việc kiêng cữ thức ăn ảnh hưởng ít nhiều bởi yếu tố dị ứng di truyền từ bố, mẹ, anh, chị em, người thân trong gia đình. Qua thực tế, những trường hợp ghi nhận được thì thức ăn dễ gây dị ứng gồm: trứng, các loại hạt (đậu phộng), hải sản, lúa mì, rượu đỏ; những thực phẩm sinh lưu huỳnh như coca, thức ăn chiên bằng dầu ăn đã sử dụng trước đó…

Để giảm nguy cơ mắc suyễn, BS Hoa khuyên: Đối với các bà mẹ có trẻ ít nguy cơ dị ứng nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, không cho ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi, ăn ít muối. Đối với trẻ có nguy cơ dị ứng cao (có người thân bị dị ứng) cần kiêng cữ những thực phẩm dị ứng gây suyễn, hạn chế thức ăn mới, bú bình…

Theo kiến thức

Hen phế quản ở trẻ em

 Hỏi: Con gái cháu đến nay được 19 tháng. Cứ mỗi lần thời tiết thay đổi cháu lại bị viêm mũi họng rất khó thở dẫn đến ho khan. Đi khám bác sĩ cho biết cháu bị hen phế quản sơ nhiễm. Vậy cháu xin hỏi bác sĩ có phưong pháp hay thuốc gì để điều trị dự phòng cho con cháu không ạ? Và thời gian dự phòng trước giao mùa là bao lâu?
hen-phe-quan
Trả lời: Có thể chị nghe nhầm chứ thực tế không có bệnh hen phế quản sơ nhiễm mà chỉ có hen phế quản, còn gọi là suyễn. Thường bệnh suyễn được chia làm nhiều bậc. Nếu con chị bị suyễn, chị nên thực hiện đúng những biện pháp mà bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn mới phòng ngừa lâu dài được.

Theo kiến thức

Trẻ thở khò khè chưa chắc đã bị suyễn

 Bác sĩ Trần Anh Tuấn, trưởng khoa hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM, cho biết hiện nay bệnh suyễn ở trẻ em có tỉ lệ rất cao, đặc biệt tại các TP lớn như TP.HCM, Hà Nội tỉ lệ này chiếm khoảng 25% trẻ em trong cộng đồng. Khò khè là triệu chứng quan trọng nhất trong chẩn đoán bệnh suyễn, nhưng không phải trường hợp nào khò khè cũng là suyễn.

Mới đây Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP. HCM tiếp nhận bé gái P.L.M.T., 10 tháng tuổi, ngụ ở Thủ Đức, TP.HCM với triệu chứng sốt, ho, khò khè, khó thở. Người nhà cho biết bốn tháng nay cháu bé đã khò khè tới sáu đợt. Lo sợ, gia đình đã đưa cháu đến bệnh viện quận điều trị. Cả ba lần tại đây cháu được điều trị như bệnh nhân bị viêm phế quản nhưng bệnh tình vẫn không cải thiện.
tre-tho-kho-khe-chua-chac-da-bi-suyen
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, các bác sĩ cho chụp X-quang phổi cho thấy bệnh nhi có hiện tượng ứ khí phổi một bên. Nghi ngờ bé có dị vật đường thở, các bác sĩ hỏi người nhà trước đó cháu có bị sặc không, nhưng người nhà trả lời không nhớ. Các bác sĩ tiếp tục chụp CT ngực cho bệnh nhi và thấy một dị vật nhỏ nằm ở phế quản gốc bên trái. Sau đó, bệnh nhi được nội soi gắp ra một mảnh xương nhỏ kích cỡ 2mm.

Theo bác sĩ Anh Tuấn, rất nhiều ông bố bà mẹ đưa con đến bệnh viện khám vì thấy con thở khò khè tưởng mắc bệnh suyễn, trong đó nhiều trường hợp trẻ chỉ bị ngạt mũi. Với những trường hợp này chỉ cần nhỏ nước mũi trẻ sẽ hết khò khè. Còn những trẻ thở khò khè đã được điều trị như bệnh suyễn nhưng vẫn không khỏi cần nghĩ đến nguyên nhân khác như hóc dị vật, dị dạng bẩm sinh đường thở, u bướu trong lồng ngực, bệnh lao…
Như vậy không phải trường hợp nào trẻ thở khò khè cũng là suyễn. Đây không chỉ là cảnh báo cho phụ huynh mà cả nhân viên y tế.

Theo kiến thức

Tránh Tật khúc xạ ở trẻ em

 Mắt có tật khúc xạ là mắt có thị lực kém. Trong lớp học, trẻ mắt kém không nhìn rõ trên bảng, hay chép nhầm bài, đọc nhầm chữ ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Đây là bệnh rất hay gặp ở trẻ em, cần nhận biết và có biện pháp khắc phục sớm.

Cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ quá lớn, khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía trước của võng mạc. Người bị cận thị nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn rõ nhờ vào chức năng điều tiết của mắt trừ khi cận thị quá nặng. Cận thị có thể là bẩm sinh hay mắc phải. Điều chỉnh mắt cận thị làđeo kính phân kỳ để giúp cho ảnh của vật rơi đúng vào võng mạc và khi đó vật sẽ được nhìn rõ.
Viễn thị ngược lại với cận thị là mắt có trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường và khi đó hình ảnh của vật rơi vào phía sau của võng mạc. Người bị viễn thị nhìn xa rõ hơn nhìn gần. Điều chỉnh mắt viễn thị bằng đeo kính hội tụ để kéo ảnh của vật về đúng trên võng mạc. Cần lưu ý là mắt viễn thị thường gây nhược thị và có thể là yếu tố gây ra lác điều tiết nên cần phải được phát hiện và điều trị sớm.

kienthucseo.edu.vn-bao-ve-mat-be2
Loạn thị là mắt có các kinh tuyến khúc xạ không đều nhau. Vật nhìn không in hình rõ nét trên võng mạc và người bệnh nhìn mờ cả xa và gần. Trẻ bị loạn thị thường nhìn mờ khi nhìn lên bảng hay đọc nhầm, chẳng hạn như chữ H đọc thành chữ N, chữ B đọc thành chữ H, chữ I đọc thành chữ T… Loạn thị có thể là đơn thuần hoặc phối hợp với cận thị hay viễn thị. Điều chỉnh mắt loạn thị bằng cách đeo kính trụ.
Lệch khúc xạ là hiện tượng có sự khác nhau về khúc xạ giữa hai mắt, có thể là một mắt cận còn mắt kia viễn hoặc cả hai mắt cùng cận hay cùng viễn nhưng khác nhau về mức độ. Đôi khi là một mắt chính thị còn mắt kia là cận thị đơn thuần, viễn thị đơn thuần hay cận loạn hoặc là viễn loạn.

Hậu quả không thể xem thường

Nhìn chung, mắt có tật khúc xạ là mắt có thị lực kém và trẻ thường biểu hiện bằng nheo mắt, nghiêng đầu, vẹo cổ khi nhìn, đôi khi có thể có nhức đầu, nhức mắt… Trong lớp học trẻ không nhìn rõ trên bảng, hay cúi đầu lại gần sách để nhìn cho rõ, hay chép nhầm bài, đọc nhầm chữ thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Những trường hợp này cần được phát hiện sớm và gửi đi khám bác sĩ mắt để có phương hướng điều trị thích hợp. Ngoài ra trẻ phải tuân thủ đầy đủ chế độ vệ sinh học đường như tư thế ngồi học, bàn ghế, bảng đen, ánh sáng phòng học, chế độ giải lao vui chơi và dinh dưỡng hợp lý để không bị mắc phải cận thị học đường hoặc nếu có bị những tật khúc xạ bẩm sinh thì cũng không bị nặng hơn.

Lác mắt không chỉ là vấn đề thẩm mỹ

Lác là một bệnh mắt thường gặp ở trẻ em và là một vấn đề xã hội vì có tới 4% trẻ em sinh ra hằng năm bị lác. Lác mắt là hiện tượng lệch trục nhãn cầu biểu hiện bằng độ lác khi quan sát thấy. Đây không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà còn gây ra nhược thị và rối loạn thị giác hai mắt đi kèm. Lác có thể là lác trong (khi nhãn cầu lệch vào trong), lác ngoài (khi nhãn cầu lệch ra ngoài) hay lác đứng (khi nhãn cầu lệch lên trên hoặc xuống dưới). Khi mắt bị lác, hai mắt sẽ nhìn theo hai hướng khác nhau và sẽ bị nhìn hai hình. Lúc đó não sẽ xóa bỏ hình ảnh của mắt lác, ức chế không cho mắt này nhìn và gây ra nhược thị. Vì vậy người bệnh sẽ mất khả năng nhìn bằng hai mắt đồng thời và sẽ không có được thị giác hai mắt.

Triệu chứng của lác ở trẻ em thường được phát hiện bởi bố mẹ trẻ. Bất cứ trẻ từ 1 tháng tuổi trở lên xuất hiện lác cần phải coi là nghiêm trọng và phải được đưa đi khám ngay.
Điều trị lác có 3 bước liên quan chặt chẽ với nhau là: Điều trị nhược thị, điều trị thẳng trục nhãn cầu để hết lác và điều trị phục hồi thị giác hai mắt. Mắt bị lác thường có tật khúc xạ đi kèm và gây trầm trọng thêm tình trạng nhược thị cũng như các rối loạn thị giác hai mắt nên bất cứ trẻ lác nào có tật khúc xạ đi kèm đều phải bắt buộc đeo kính. Thời gian điều trị lác càng sớm càng tốt, điều trị sớm không những rút ngắn thời gian điều trị mà còn tăng cường hiệu quả điều trị và nâng cao cơ hội phục hồi thị giác hai mắt. Các phương pháp điều trị khác nhau như: đeo kính, bịt mắt tập chỉnh quang, điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật… là tùy theo chỉ định của thầy thuốc với từng trường hợp cụ thể. Ngoài ra trẻ sau khi điều trị khỏi lác vẫn cần phải theo dõi lâu dài và duy trì kết quả điều trị đã đạt được.

Nhược thị và khiếm thị

Nhược thị là hiện tượng mắt kém ở một hoặc hai bên do các nguyên nhân khác nhau như: lác mắt, do tật khúc xạ hay một số bệnh lý tại mắt. Tuy nhiên nhược thị có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu như được phát hiện sớm và điều trị đúng. Các phương pháp điều trị nhược thị có thể là đeo kính, bịt mắt lành, tập chỉnh quang hay phẫu thuật… tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Khác với nhược thị, khiếm thị là một tình trạng khiếm khuyết về chức năng của cơ quan thị giác gây ra bởi các bệnh mắt bẩm sinh, di truyền hay mắc phải, do chấn thương mắt trong cuộc sống… mà không thể điều trị khỏi được bằng các phương pháp điều chỉnh khúc xạ, bằng thuốc hay bằng phẫu thuật. Phương pháp điều trị đối với trẻ bị khiếm thị là sử dụng các phương tiện trợ thị thích hợp giúp cho trẻ có thể tận dụng một cách hữu ích nhất phần thị lực còn lại để có thể hòa nhập với cuộc sống cộng đồng.

Kiến thức

Để con không sợ uống thuốc

 Cho bé uống thuốc không phải công việc quá phức tạp nếu bạn có mẹo. Cùng tham khảo một số gợi ý dưới đây từ Parents để việc cho con uống thuốc không còn là mối lo nữa:

1. Đánh lạc hướng

Cho bé uống thuốc cũng giống như bạn muốn làm điều gì đó, phải tạo được hứng thú cho bé. Chẳng hạn, không để bé nhìn thấy mình sắp bị uống thuốc. Với bé 10 tháng tuổi, có thể cùng bé ngồi xuống sàn nhà và chơi trò “ú-òa” với một chiếc khăn che mặt. Tiếp tục chơi “ú-òa” nhiều lần và sau đó, khéo léo đưa từng thìa thuốc vào miệng bé. Bé sẽ nuốt hết thuốc trước khi biết chuyện gì đang xảy ra.
uong-thuoc
2. Dùng ống thuốc chuyên dụng

Bé sẽ nhổ ra nếu thuốc có vị đắng. Để tránh điều này, cha mẹ có thể dùng dụng cụ cho bé uống thuốc giống như ống thủy tinh ngắn, một đầu có cái bầu nhỏ bằng cao su để đếm các giọt thuốc nước chảy vào miệng bé (hay còn giống như ống tiêm) cho đến khi bé uống được bằng cốc. Dụng cụ này giúp bơm thuốc nước vào sâu bên trong khoang miệng của bé lại tránh thuốc tiếp xúc với lưỡi nên hạn chế vị đắng. Hãy đưa đầu ống dọc theo trong má của bé và nhỏ từ từ.

3. ‘Cải trang’ vị giác

Một số loại thuốc thêm hương liệu như chocolate, dưa hấu để thuốc có vị thơm ngon hơn. Hay vị anh đào của một loại thuốc ho cũng khiến bé thích.

4. Cho bé lựa chọn

Với bé lớn hơn, khoảng 3-4 tuổi, bạn có thể cho bé lựa chọn uống thuốc nước trong cốc hoặc dùng dụng cụ uống thuốc dạng ống tiêm. Cho bé lựa chọn khiến bé chủ động và bạn không phải “đấu tranh” khi cho con uống thuốc vì bé đã có cảm giác được tự quyết định. Bạn cũng có thể cho bé tự quyết thời điểm uống thuốc, trước hoặc sau khi tắm hay mùi vị của thuốc.

5. Làm tê lạnh

Với bé 4-5 tuổi, có thể cho bé uống một chút đồ uống lạnh trước khi để bé uống nước. Nước lạnh giúp làm tê vị giác và nhờ thế, việc uống thuốc đơn giản hơn. Hoặc bạn có thể đặt thuốc trong ngăn mát tủ lạnh để thuốc có vị lạnh. Một số loại thuốc sẽ giảm vị đắng và tăng hương vị thơm ngon khi lạnh.

6. Chơi trò bác sĩ

Hãy để bé giả vờ là bác sĩ cho thú nhồi bông của bé uống thuốc trước khi bạn đưa thuốc cho con. Nó giống như liều thuốc tâm lý khiến bé thoải mái.

7. Hãy chân thành

Đừng bao giờ nói vị thuốc này rất ngon nếu nó không phải thế. Khi bé đến tuổi hiểu lý do (khoảng 3 tuổi), bạn hãy giải thích tác dụng chữa bệnh của thuốc cho con.
Theo Parents

Trẻ kém thông minh vì thiếu iot

 Giới khoa học cảnh báo, tình trạng thiếu hụt iốt đã khiến 1/3 dân số thế giới đang phải đối diện với những vấn đề bất lợi về sức khỏe.

Đặc biệt khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức ở trường đến chứng chậm phát triển nghiêm trọng, đần độn và chết non.

Những lời cảnh báo trên đã được đưa ra từ nhà khoa học tiên phong người Úc – Basil Hetzel – cách đây 40 năm, sau các cuộc nghiên cứu về sinh sản của ông, đồng thời đã làm sáng tỏ vai trò cần thiết của iốt tới quá trình phát triển trí não.

Tại Papua New Guinea (thuộc châu Đại Dương), vào những năm 1960, nhóm nghiên cứu của Hetzel lần đầu tiên chứng minh rằng, tình trạng tổn hại não ở trẻ sơ sinh có thể được ngăn ngừa bằng việc cải thiện vấn đề thiếu hụt iốt ở các bà mẹ trước khi mang thai, các nhà khoa học cho biết.
thieu-iot-tre-kem-thong-minh
Từ đó, Hetzel đã vận động Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tiến hành một chiến dịch toàn cầu nhằm nâng cao ý thức người dân về việc sử dụng iốt. Chiến dịch này đã mang lại kết quả khả quan khi chỉ có 20% dân số thế giới, trước năm 1990 sử dụng iốt, đến nay đã nhảy vọt lên 70% dân số thế giới thường xuyên bổ sung loại khoáng chất này.

“Cho dù chiến dịch đã phần nào mang lại kết quả, giới khoa học tiên đoán rằng vẫn còn nhiều hơn 80 triệu trẻ sơ sinh trên thế giới cần được bảo vệ trước nguy cơ bị thiếu hụt iốt”, Hetzel nói.

“Chúng tôi phát hiện sự thành công đáng ngạc nhiên ở vài quốc gia như Trung Quốc, nơi mà chính quyền đã kiểm soát được vấn đề bằng cách ưu tiên việc bổ sung iốt. Tuy nhiên, có nhiều nước ở khu vực trung tâm tây châu Phi, nơi có hạ tầng cơ sở nghèo nàn, chiến tranh và trình độ dân trí thấp đã khiến cuộc vận động này chưa thực sự đến được với người dân”, các nhà khoa học cho biết.

Hetzel bổ sung: “Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt iot cũng vẫn còn tồn tại ở một vài nơi khác trên thế giới. Đã có những bằng chứng chỉ rõ rằng, kết quả học tập của nhiều học sinh hiện nay đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi việc không bổ sung đủ iốt. Đây là một vấn đề cấp bách mà các quốc gia cần quan tâm và vận động người dân thường xuyên bổ sung loại khoáng chất này trong chế độ ăn hàng ngày, nhằm giúp cải thiện sức khỏe cộng đồng”.

Theo kien thức gia đình

Cảnh báo bệnh lạ Kawashaki ở trẻ em

 Có rất nhiều trẻ em ở TPHCM phải nhập viện do một căn bệnh lạ là Kawashaki. Bệnh rất dễ bị biến chứng dẫn đến suy tim.
Biểu hiện ban đầu ở trẻ nhiễm bệnh là sốt cao, cả người phát ban, da ở tay và chân bị tróc… Bệnh rất dễ bị biến chứng dẫn đến suy tim. Bé Huỳnh Nhật Văn, 9 tuổi ở Bình Phước là một bệnh nhi nhập viện tại Khoa tim mạch Bệnh viện Nhi Đồng 1 TP HCM trong tình trạng sốt cao, cả người phát ban đỏ, mắt đỏ, lưỡi đỏ, da chân, da tay bị bong tróc.

Chị Bùi Thị Mộng Huyền, mẹ của bé Văn, lo lắng: ” Ở nhà tôi thấy cháu sốt phát ban nên ra tiệm thuốc bắc mua thuốc uống tiêu ban. Sau khi uống, chân tay bé bị phù, đỏ lên, người nhà nói nên tránh gió nên không đưa bé đi khám. Ba ngày sau, cháu sưng chân, đỏ mắt và không thấy hạ sốt nên mới cho cháu đến bệnh viện”.

canh-bao-benh-la-kawashaki-o-tre-em
Các bác sĩ chẩn đoán bé bị bệnh Kawashaki, đây là bệnh do một bác sĩ người Nhật có tên Kawashaki phát hiện ra. Biểu hiện bệnh thường bắt đầu với sốt cao 39 – 40 độ C, kéo dài 3-4 ngày, uống thuốc hạ sốt không khỏi, toàn thân phát ban, mắt đỏ… nhiều trẻ còn bị nổi hạch. Bệnh có thể xảy ra ở bất kỳ lứa tuổi nào, đặc biệt ở trẻ dưới 3 tuổi.
Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị biến chứng lên tim mạch, làm tim to, nhịp tim nhanh. Nhưng nguy hiểm nhất là biến chứng làm viêm tắc và giãn mạch vành, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, gây tử vong. Ngoài ra, trẻ mắc bệnh Kawashaki cũng có thể bị sưng khớp, viêm màng não, hayviêm phổi, viêm ruột… Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa tìm ra nguyên nhân gây bệnh.

Bác sĩ Vũ Minh Phúc, Trưởng khoa Tim mạch, Bệnh viện Nhi đồng 1, TP HCM cho biết: “Hiện tại các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn nguyên nhân gâybệnh Kawashaki, chỉ thấy một số triệu chứng hiện ra trên đứa bé và bác sĩ khám, điều trị thôi. Các bác sĩ dự đoán, nguyên nhân gây bệnh Kawashaki có thể liên quan tới một số bệnh nhiễm trùng, nhiễm siêu vi trùng, một số cơ chế liên quan tới miễn dịch… Tuy vậy, cho tới nay, tất cả các nguyên nhân trên đều chỉ là phỏng đoán, chưa có cơ sở khoa học cụ thể”.
Có rất nhiều bệnh gây sốt cao và phát ban ở trẻ nhỏ. Vì vậy, khi thấy trẻ có triệu chứng sốt cao liên tục trong khoảng từ 4 – 5 ngày, các bậc phụ huynh phải đưa trẻ đi khám ngay, tránh những biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.,
Theo sức khỏe đời sống

Bệnh lao ở trẻ em, triệu chứng điển hình và di chứng

 Thông thường bệnh lao trẻ em được phân thành bốn loại cần phải điều trị là:

Lao sơ nhiễm hay còn gọi là lao khởi đầu
Lao cấp tính: có lao màng não và lao kê
Lao hô hấp sau sơ nhiễm: gồm lao phổi và lao màng phổi
Lao ngoài phổi: có nhiều loại như lao hạch, lao xương khớp, lao cột sống, lao màng bụng, màng tim, lao niệu – sinh dục, lao ruột…

rẻ bị sơ nhiễm lao thường có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, sốt nhẹ về chiều, thỉnh thoảng có sốt cao. Ngoài ra còn có thể có ho khan, khạc đàm, đau ngực, khó thở. Tùy theo trẻ mắc loại lao gì mà bệnh cảnh còn có thêm những triệu chứng điển hình khác.
Lao khởi đầu (lao sơ nhiễm)
benh-lao-o-tre-em-trieu-chung-dien-hinh-va-di-chung
Thường gặp nhiều nhất, có thể xảy ra ở trẻ từ dưới 14 tuổi, nhưng thông thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và chưa được chủng ngừa BCG. Khi bị sơ nhiễm lao thường trẻ không có triệu chứng, hoặc có triệu chứng của cảm cúm thoáng qua, hay nóng sốt mệt mỏi… Một số trường hợp diễn tiến nhẹ và tự khỏi nếu trẻ có sức đề kháng tốt.
Lao cấp tính

Lao màng não, lao kê cấp tính là hai biến chứng nặng và sớm của sơ nhiễm lao, dễ đưa đến tử vong nếu không biết và để lại di chứng trầm trọng nếu chẩn đoán trễ. Bệnh xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ không chủng ngừa BCG, trước 2 tuổi.
Lao màng não

Xảy ra từ 2-12 tháng sau sơ nhiễm lao, báo hiệu với triệu chứng sốt nhẹ, thay đổi tính nết. Sau đó một tuần sốt 380C, nhức đầu, ói mửa, khám thấy có cứng cổ và đôi khi có dấu hiệu tổn thương thần kinh, co giật, hôn mê, lé mắt, động kinh, sụp mí mắt. Nếu chẩn đoán chậm đưa đến di chứng nặng như di chứng tâm thần (thiểu năng trí tuệ, rối loạn tính tình, động kinh); yếu liệt nửa người, tay chân co rút, mù mắt, điếc…
Lao kê

Là lao cấp ở phổi, xuất hiện trong những tuần lễ đầu sau sơ nhiễm lao với triệu chứng sốt cao, mạch nhanh, ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, không có nốt hồng ban trên bụng (khác thương hàn) và luôn luôn có dấu hiệu hô hấp khó thở, tím tái. Trẻ bị lao kê thường dễ dẫn đến lao màng não.
Lao đường hô hấp

Lao màng phổi và phổi thường gặp ở trẻ lớn, gần tuổi dậy thì hơn là trẻ nhỏ. Thường có triệu chứng ho kéo dài, sốt nhẹ, sụt cân, ăn uống kém…
Lao ngoài phổi

Thường là biến chứng chậm hơn sau sơ nhiễm lao. Có nhiều dạng lao ngoài phổi như lao cột sống: giai đoạn đầu thường trẻ có biểu hiện đau vùng cột sống rồi từ từ gù lưng; lao xương, khớp: trẻ bị sưng đau khớp và chảy mủ ở xương khớp rò ra ngoài da; lao hệ niệu: trẻ có triệu chứng đi tiểu ra máu, thường có kèm theo sưng tinh hoàn – nếu là bé trai; lao hạch: nổi hạch thường từng chùm, dính nếu để trễ sẽ gây rò mủ làm sẹo xấu; lao ruột: đi tiêu lỏng hoặc đi tiêu ra đàm, máu kéo dài.
Chẩn đoán và điều trị lao ở trẻ em

Ở trẻ em việc chẩn đoán lao, tìm ra vi trùng lao thường khó hơn so với người lớn. Ngay cả bản thân trẻ bị lao phổi cũng khó tìm ra vi trùng lao vì trẻ chưa hoặc không biết khạc đàm. Đối với lao sơ nhiễm trẻ có những triệu chứng, biểu hiện giống như bệnh cảnh viêm đường hô hấp nên rất khó chẩn đoán.
Về điều trị lao ở trẻ em cũng giống như của người lớn. Tuy nhiên, phụ huynh phải tuân thủ điều trị cho con em mình đúng với hướng dẫn của thầy thuốc, điều trị đủ thời gian (6-9 tháng), đủ liều lượng thuốc, đúng phác đồ thì bệnh mới ổn định.
Lời khuyên cho các bậc phụ huynh

Các bậc phụ huynh hãy đưa con em đi tiêm phòng văcxin BCG theo chương trình tiêm chủng mở rộng; phát hiện và điều trị sớm những người trong gia đình bị bệnh lao, tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn lây lao; giữ gìn sức khỏe cho trẻ, cho trẻ ăn đủ chất để chống suy dinh dưỡng; giữ gìn môi trường sống tốt, nhà cửa thoáng đãng, sạch sẽ…
Trong gia đình có người bị lao thì cách ly trẻ, không nên tiếp xúc gần gũi (hôn hít) với trẻ… Khi trẻ có triệu chứng nghi bị lao (ho sốt kéo dài, sút cân hoặc không lên cân, ra mồ hôi trộm…) cần đưa ngay đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị đúng theo công thức của chương trình chống lao quốc gia, đảm bảo theo nguyên tắc DOST (hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát).

Theo sức khỏe đời sống

Bệnh lao hạch ở trẻ em

Bệnh thường gặp ở vùng cổ, xuất hiện nhiều ở trẻ em. Các hạch viêm thông thường (do thương tổn răng, miệng, mũi… ) là nơi vi khuẩn lao dễ dàng xâm nhập, khu trú và dẫn đến lao hạch.
Đường xâm nhập của trực khuẩn lao có thể do nhiễm khuẩn lao toàn cơ thể (như trong lao phổi), gây viêm hạch nhiều chỗ. Trực khuẩn lao có thể xâm nhập trực tiếp vào đường bạch huyết qua thương tổn lao ở niêm mạc miệng, hoặc từ một tổn thương thông thường do sang chấn, nhiễm khuẩn. Trực khuẩn lao qua niêm mạc miệng đi vào đường bạch huyết (lao hạch tiên phát), có khi xâm nhập hệ thống bạch huyết qua niêm mạc miệng mà không để lại dấu vết gì.
Biểu hiện của bệnh
lao-hach_97554
– Thể viêm hạch thông thường: Không viêm quanh hạch, thường ở vùng dưới hàm hay cạnh cổ có một hay nhiều hạch sưng to, cứng, không đau, di động dưới da. Có thể hạch chỉ dừng ở giai đoạn này hay chuyển sang giai đoạn viêm quanh hạch.
– Thể viêm hạch và viêm quanh hạch: Các hạch sưng to và tụ lại thành một khối, nhiều cục dính vào sâu và vào da do viêm quanh hạch. Lúc đầu hạch cứng, không đau, sau mềm và chuyển sáng. Da trở nên loét, rò chảy mủ màu xanh nhạt, không dính, trong mủ có bã đậu lổn nhổn. Lỗ rò có bờ tím, bong ra, có thể bội nhiễm gây viêm hạch lan tỏa. Sau khi khối tổ chức hạch đã bị loại trừ hết, lỗ rò khó để lại những sẹo lồi, sùi trắng hoặc những dây chằng xơ. Trong quá trình viêm hạch lao, nói chung sức khỏe bình thường trừ trường hợp bị bội nhiễm hay kèm theo tổn thương lao phổi, xương…
– Thể khối u: Là viêm hạch lao phì đại. Thể này ít gặp, khối u thường ở cổ, ít được chú ý, thấy một hay vài hạch nổi to, sau dính thành một khối không đau, di động, sờ chắc và không có viêm quanh hạch. Khối u to dần, có thể bằng quả cam, chiếm gần hết vùng bên cổ. Các hạch khác (dưới hàm, mang tai…) cũng bị phì đại. U ở một bên nhưng có khi cả hai bên làm cho cổ như bạnh ra.
Điều trị lao hạch

Về điều trị, cần chú ý chăm sóc sức khỏe, nhất là đối với trẻ em, tránh để viêm hạch mạn tính tạo điều kiện cho trực khuẩn lao xâm nhập. Cần vệ sinh răng miệng, nhổ hoặc chữa răng sâu. Khi đã được chẩn đoán xác định là lao hạch, cần tuân thủ điều trị theo chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa lao, phối hợp với nâng đỡ thể trạng bằng chế độ ăn uống tốt, nghỉ ngơi hợp lý.
Có thể cắt bỏ hạch đối với trường hợp u lympho lao hạch, lao không thành mủ, khu trú, di động. Lao hạch ở trẻ em thường khỏi nếu được điều trị toàn thân, lý liệu pháp, giữ vệ sinh. Không nên cắt bỏ hạch sớm ở trẻ em vì hạch có vai trò bảo vệ chống sự xâm nhập của trực khuẩn lao.
Ở giai đoạn hạch áp xe lạnh sắp vỡ mủ, có thể hút mủ ra, dùng thuốc kháng sinh và tiếp tục dùng rimifon vài tháng dù không còn biểu hiện bệnh.
Theo sức khỏe đời sống

Điều trị bệnh hen cho trẻ

Hỏi:Con trai tôi năm nay 10 tuổi (cao 142cm, nặng 36kg). Cháu bị hen cơ địa dị ứng đã gần 2 năm. Hiện nay vẫn khám theo dõi hen tại BV Nhi. Cháu hơi lười ăn rau quả. Tôi muốn hỏi chế độ ăn uống có có thể cải thiện bệnh hen của cháu không? Và dùng thuốc điều trị hen có tác dụng phụ là làm mất canxi nên tôi phải cho cháu ăn uống như thế nào cho phù hợp và đảm bảo tăng trưỏng cho cháu?

hen-suyen-o-tre-em
Trả lời: Chế độ ăn cho cháu phải chú ý đến những thức ăn nào mà hay gây dị ứng thì tuyệt đối không cho ăn (ví dụ tôm, cua, ốc, hến…).
Phải thay bằng những thức ăn khác có chất tương ứng với những chất không cho các cháu ăn (như thịt, cá, trứng, đậu…). Các mùi (kể cả mùi thơm, mùi khó chịu…) khi các cháu có dị ứng với các mùi đó thì tuyệt đối không được cho các cháu tiếp xúc.
Ngoài những thức ăn, mùi vị gây dị ứng, các cháu phải được ăn đủ chất để đảm bảo dinh dưỡng cho các cháu. Phải bồi bổ các chất vitamin và các chất vi lượng (như Pediakid 22 ngày uống 10ml x2 lần) hoặc các loại nước hoa quả tươi.
Định kì, phải tới bệnh viện để xét nghiệm về canxi và máu để bác sĩ tư vấn các thuốc bổ sung cho cháu.
Theo sưu tầm

Phòng tránh bệnh truyền nhiễm ở trẻ

Bé chuẩn bị đi lớp và bạn đang có rất nhiều điều băn khoăn về vấn đề này. Con sẽ ra sao khi tới lớp và bé có dễ bị mắc các bệnh truyền nhiễm không? Phòng tránh thế nào…

Khi tới nhà trẻ hay đi mẫu giáo trẻ sẽ phải sinh hoạt trong một môi trường tập thể có rất nhiều trẻ khác và vì thế nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm thường rất cao. Thông thường trẻ bắt đầu đến lớp mầm non khi được 2 tuổi. Sự thay đổi môi trường đột ngột này ít nhiều làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, trong đó việc mắc các bệnh truyền nhiễm là nguy cơ lớn nhất.

Đặc điểm miễn dịch của trẻ ở tuổi mầm non

Qua giai đoạn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, trẻ hết dần các kháng thể thụ động do mẹ truyền cho. Hệ miễn dịch lúc này mới bắt đầu hoàn thiện, trong khi cơ thể lại phải tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh từ môi trường. Do đó, ở tuổi này trẻ hay mắc các bệnh như: cúm, nhiễm khuẩn hô hấp, bệnh tai mũi họng…Đặc biệt đối với các bệnh như: viêm họng do siêu vi, sốt virus, viêm phổi, nhiễm giun, dị ứng… là nhóm bệnh mà trẻ có nguy cơ mắc phải và lây nhiễm nhanh. Muốn phòng bệnh cho trẻ, trước tiên bạn cần tìm hiểu kỹ về nơi sẽ cho trẻ đến học.
Student in Line
Các bệnh dễ gặp ở tuổi mầm non

1. Sốt virus:
Trong điều kiện bình thường cũng có những virus ký sinh trên đường hô hấp, tiêu hóa… Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển, xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Các loại virus thường gây sốt gồm: myxo, coxackie, entero, sởi, thủy đậu, viêm não Nhật Bản… Virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hóa, có thể gây thành dịch.

Một trong các triệu chứng nổi bật của tình trạng nhiễm virus là: trẻ bị sốt cao, thường từ 38 -39°C, thậm chí là 40 – 41°C. Trong cơn sốt, trẻ thường mệt mỏi và ít đáp ứng với các loại thuốc hạ sốt thông thường như paracetamol… Một số trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo, không kích thích, vật vã.

2. Rối loạn tiêu hóa: Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt do virus đường tiêu hóa. Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn. Không có các biểu hiện nhiễm khuẩn. Ngoài ra một số trẻ có biểu hiện phát ban, viêm hạch, đau mắt…

Các triệu chứng trên thường xuất hiện rất rầm rộ và sau 3 đến 5 ngày sẽ giảm dần rồi mất đi, trẻ trở lại bình thường.

Tuy nhiên, sốt virus dễ gây thành dịch vì thế khi trẻ bị nhiễm bệnh cần cách ly ngay, không nên cho trẻ đến trường. Một số bệnh do virus đã có vaccin như: viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, rubella… Vì vậy cha mẹ cần quan tâm đến việc tiêm vaccin phòng bệnh cho trẻ.

3. Viêm phổi: Đây là một dạng viêm đường hô hấp cấp – nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Trên thế giới mỗi năm có khoảng 2 triệu trẻ tử vong vì căn bệnh này. Phần lớn các ca viêm phổi đều có thể được chữa trị hiệu quả bằng kháng sinh, song vấn đề ở đây là một khi đã nhiễm bệnh, trẻ nhỏ thường không thể chống đỡ lâu.

Triệu chứng: Biểu hiện của bệnh là khó thở, sốt, ho, trẻ bỏ ăn, bỏ chơi, có thể kèm theo triệu chứng viêm đường hô hấp trên. Bệnh thường diễn biến nhanh nếu không được điều trị kịp thời.

Do đó, cần phải đưa trẻ đến bệnh viện khám và điều trị khẩn cấp ngay khi phát hiện các triệu chứng điển hình như thở gấp và co rút lồng ngực.

4. Nhiễm giun: Giun đũa, giun kim là loại ký sinh trùng trẻ dễ bị nhiễm nhất trong lứa tuổi này. Tay trẻ thường bẩn bởi động tác di chuyển cần sự hỗ trợ của tay, sàn nhà nếu không được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên sẽ có rất nhiều trứng giun đũa, giun kim. Một bên cạnh đó thói quen mút tay của trẻ trong thời kỳ này cũng làm tăng nguy cơ bị nhiễm giun.

Những trẻ nhiễm giun thường tăng cân chậm, suy dinh dưỡng, bụng trướng to. Tình trạng này được khắc phục tốt sau khi tiến hành tẩy giun cho trẻ. Lưu ý chỉ nên tấy giun cho trẻ khi trẻ đã được 24 tháng.

5. Dị ứng: Trẻ ở giai đoạn này rất dễ mẫn cảm với các yếu tố lạ của môi trường. Trong điều kiện ẩm thấp, các loại dị nguyên như: nấm mốc, bọ nhà, lông thú vật… rất dễ làm trẻ bị dị ứng, mẩn ngứa, thậm chí lên cơn hen suyễn. Vì vậy, tùy từng mùa, cần cho trẻ mặc trang phục thích hợp và vệ sinh nhà, phòng, lớp học đầy đủ để trẻ có môi trường thực sự sạch sẽ.

6. Bệnh nhiễm khuẩn hô hấp và bệnh nhiễm siêu vi.

Đây là dạng bệnh mà trẻ cũng có thể mắc phải, bệnh nhiễm khuẩn hô hấp bao gồm viêm hô hấp trên và viêm phế quản phổi. Viêm họng do siêu vi, hay kết hợp với viêm kết mạc rất hay gặp ở các nhà trẻ, có thể gây thành dịch.

Bệnh bắt đầu đột ngột với các dấu hiệu sốt trong vài ngày, kèm theo chảy nước mắt, nước mũi, ho nhẹ, có khi kèm theo đau họng, nuốt khó, nuốt đau. Nhưng trẻ vẫn chơi bình thường. Hầu hết các trường hợp viêm họng do siêu vi đều có thể tự khỏi trong vòng 4 đến 5 ngày nếu không có bội nhiễm vi khuẩn.

Để trẻ tránh nguy cơ nhiễm siêu vi, cần giữ ấm cho trẻ, không cho trẻ dầm mưa, chơi ngoài nắng. Môi trường sống thoáng mát, sạch sẽ và đảm bảo vệ sinh ăn uống cho trẻ… Không cho trẻ chơi những nơi góc nhà, kẹt tủ, chỗ tối để tránh trẻ bị muỗi cắn. Khi trẻ bị sốt cao, sau 2 ngày dùng thuốc hạ sốt mà trẻ vẫn còn sốt phải đưa trẻ đi khám bệnh ngay để phát hiện sớm bệnh sốt xuất huyết.

Cách phòng bệnh cho trẻ

Bên cạnh việc chuẩn bị kỹ càng cho trẻ về mặt tâm lý cha mẹ còn phải đặc biệt chú ý đến quyền được tiêm chủng đầy đủ những loại vaccine trong chương trình tiêm chủng mở rộng. Và nếu có điều kiện nên cho trẻ tiêm thêm những loại vaccine phòng bệnh mà trẻ có thể mắc như: Rubella, thủy đậu, cúm, quai bị… Các vaccine này hiện nay chưa được miễn phí.

Tỉ lệ mắc bệnh của trẻ em dưới 5 tuổi còn cao, không thể tránh được trường hợp có trẻ mắc bệnh vẫn đến trường và sinh hoạt cùng các bạn, sau đó lây nhiễm cho nhau. Các nhà trẻ cũng cần quan tâm đến yếu tố vệ sinh phòng ốc, phòng  học, ngủ cần thoáng mát sạch sẽ vì trẻ còn nhỏ sẽ không tự thực hiện vệ sinh cá nhân cho mình.
Vì thế điều đầu tiên và cấp thiết nhất mà bố mẹ phải làm đó là quan tâm đến sức khỏe của trẻ thường xuyên. Nâng cao sức đề kháng cho trẻ và kịp thời điều trị ngay từ khi trẻ có các triệu chứng nhiễm bệnh.

Theo afamily

bệnh lao ở trẻ em

 Hỏi: Thưa Bác sĩ! Bé nhà tôi chỉ mới được 6 tháng tuổi mà đã bị nhiễm lao phổi do mẹ bị mà không biết nên đã tiếp xúc thường xuyên, kể từ ngày phát hiện bệnh mặc dù sống chung nhà nhưng cách ly không cho mẹ gần bé. Vậy cho hỏi với bệnh của bé có điều trị khỏi không? Vì sao sau khi sinh đã chích ngừaLao rồi mà bé vẫn bị thâm nhiễm? Bác sĩ có chế độ dinh dưỡng nào cho em bé không chỉ giúp dùm tôi. Chân thành cảm ơn.

trả lời: Trẻ bị lao thường có nguồn lao từ người thân (trong các gia đình nghèo, điều kiện sống chật chội và ở những trẻ bị suy dinh dưỡng hệ thống miễn dịch suy giảm) chiếm đến 70% và chủ yếu lây qua đường hô hấp.

phong-ngua-benh-lao-cho-tre
Ngoài ra, trẻ còn có thể bị lây bệnh ở trường học, ngoài cộng đồng.

Nguy cơ từ nhiễm trở thành bệnh là 10%, thường từ 5-15% trong 10 năm sau khi bị nhiễm lao. Nguy cơ này tùy thuộc nhiều yếu tố như tuổi khi nhiễm lao, tình trạng dinh dưỡng của trẻ, tình trạng vi khuẩn lao của nguồn lây tiếp xúc, thời gian và cường độ tiếp xúc nhiều hay ít.
Thường gặp các thể lao sau ở trẻ em: Lao sơ nhiễm hay lao khởi đầu; Lao cấp tính như lao màng não và lao kê; Lao hô hấp sau sơ nhiễm lao phổi và lao màng phổi; Lao ngoài phổi khác.
Lao sơ nhiễm

– Có thể xảy ra từ 0-14 tuổi, nhưng thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi và không có chủng BCG. Biến chứng tại chỗ và ở xa càng nặng nếu trẻ càng nhỏ.
– Sơ nhiễm lao thông thường không có triệu chứng hoặc có triệu chứng cảm cúm thoáng qua hay nóng sốt mệt mỏi, chán ăn hoặc ít khi có triệu chứng giống như thương hàn, sốt cao, mệt mỏi nhưng không rối loạn tiêu hóa. Có trường hợp có biểu hiện ở niêm mạc và ngoài da như: hồng ban nốt nổi 2-3 đợt hay viêm kết giác mạc. Triệu chứng của lao sơ nhiễm rất mơ hồ, giống như biểu hiện của bệnh viêm đường hô hấp nên khó chẩn đoán, dễ bị bỏ sót.
– Trẻ có thể tự khỏi, nếu lao sơ nhiễm tiến triển nhẹ và sức đề kháng của trẻ cao.
Lao cấp tính

Lao màng não, lao kê cấp tính là 2 biến chứng nặng và sớm của sơ nhiễm lao dễ đưa đến tử vong nếu không được chẩn đoán, điều trị sớm. Vi khuẩn lan truyền theo đường máu từ tổn thương ban đầu, xảy ra ở các lứa tuổi, nhưng nhiều nhất ở trẻ nhỏ không tiêm vaccin BCG, dưới 2 tuổi, 5-10% ở trẻ nhỏ và trẻ càng lớn thì tần suất càng ít.
Lao đường hô hấp sau sơ nhiễm ở trẻ nhỏ, bao gồm:

– Lao màng phổi (hiếm gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, thường xảy ra ở trẻ lớn, 6 tháng sau sơ nhiễm lao), với triệu chứng mệt, sút cân, ho, đau tức ngực, Xquang phổi cho thấy tràn dịch;
– Lao phổi, với triệu chứng sốt nhẹ về chiều, mệt, chán ăn, sút cân, tức ngực, ho có đờm hay có máu.
Lao ngoài phổi

Thường gặp lao hạch ngoại vi, lao xương khớp, lao màng bụng và lao niệu, sinh dục.
Về lao kháng thuốc ở trẻ, hiện chưa xác định là có hay chưa, nhưng tình trạng một số trẻ ở các vùng sâu, vùng xa không tuân theo cách chữa trị lao bài bản nên đã xảy ra vi khuẩn lao kháng thuốc với chính bản thân trẻ đó. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hiện nay là do đại dịch HIV/AIDS ngày càng gia tăng sẽ tạo điều kiện để lao kháng thuốc phát triển.

Việc chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em rất khó vì triệu chứng lâm sàng thường mờ nhạt nên dễ bị nhầm với các bệnh lý khác, trong khi lứa tuổi thường bị lao lại dưới 5 tuổi “chưa biết nói, không biết khạc đờm”.
Bệnh lao trẻ em có thể chữa lành được với hóa trị lao ngắn ngày, kể cả các thể nặng nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng nguyên tắc (uống thuốc đúng, đủ, đều và không được bỏ sót).

Để phòng bệnh, sau khi sinh 3 ngày trẻ phải được tiêm vaccin BCG phòng lao. Khoảng 1 tháng sau, nếu không thấy sẹo BCG ở cơ delta thì phải đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa để thử phản ứng IDRR. Trường hợp kết quả thử là âm tính thì cần cho trẻ tiêm lại vaccin phòng lao.

Trẻ em được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não. Nhưng dù đã tiêm phòng lao, ở thời kỳ chưa có miễn dịch không nên để trẻ tiếp xúc với nguồn lây. Và đã có miễn dịch rồi cũng hết sức hạn chế không để trẻ cùng sống hay tiếp xúc với người ho khạc ra vi trùng lao, đồng thời tránh các bệnh truyền nhiễm khác làm suy sụp miễn dịch lao. Ngoài tiêm BCG, trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ các loại vaccin phòng bệnh và có chế độ nuôi dưỡng thích hợp với từng lứa tuổi.

Các bậc cha mẹ cần tránh để trẻ bị suy dinh dưỡng và nếu trong gia đình có người bị lao thì phải cách ly trẻ khỏi nguồn lây.
Bạn nên đưa bé đi khám để có chẩn đoán và điều trị chính xác!

Bệnh bong bóng nước ngoài da

 Bệnh viêm da bóng nước ở trẻ rất dễ bị nhầm lẫn với bệnh thuỷ đậu, tay chân miệng. Làm sao để phân biệt đâu là bóng nước do viêm da?

Buổi chiều đi làm về, chị Nguyễn Thụy Khánh, 30 tuổi, nhà ở đường Phạm Thế Hiển, Q.8, TP.HCM, phát hiện gần gót chân đứa con trai 2 tuổi xuất hiện một vệt đỏ, dài khoảng 10cm. Vết đó bắt đầu phồng rộp.

Chị hỏi chồng và người giúp việc nguyên nhân gây ra vết đỏ nhưng không ai biết.

Viêm da bóng nước bội nhiễm

Anh Thành, ông xã chị, phỏng đoán có thể bé An bị phỏng pô xe vì lúc anh dắt xe vào nhà có thấy bé leo trèo quanh đó. Nghĩ con có khả năng bị phỏng pô, chị lấy thuốc nghệ và dầu mù u bôi vào vết đỏ.
bong-bong-nuoc
Ngày hôm sau, vết phồng rộp đó lan rộng và dài hơn. Đến ngày thứ hai, ở tay, chân, bẹn và mông bé An bắt đầu nổi những nốt đỏ và có bóng nước. Đặc biệt, những bóng nước này tập trung nhiều ở đầu gối và khuỷu tay. Lo sợ con bị thủy đậu hoặc bệnh tay chân miệng, chị đưa con đến bệnh viện.

Sau khi khám, bác sĩ cho biết con chị Khánh bị viêm da bóng nước bội nhiễm. Sau đó, bác sĩ kê toa thuốc uống và thoa 5 ngày. Bác sĩ cũng dặn, nếu sau 3 ngày thấy các bóng nước không giảm, không đóng mày, chị Khánh nên đưa con quay lại khám.

Về nhà, chị Khánh bôi thuốc và cho con uống thuốc theo lời bác sĩ. Kết quả rất khả quan. Các bóng nước trên da bé An đã bắt đầu khô, đóng mày. Sau khi hết thuốc, chị đưa con đi tái khám và thoa thuốc thêm 3 ngày, các bóng nước dần biến mất sau 10 ngày.

Theo bác sĩ Trần Nguyên Khôi, bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM, cho biết, những bóng nước xuất hiện trênd a trẻ thường do các nguyên nhân như thủy đậu, bệnh tay chân miệng, dị ứng và viêm da bóng nước.

Bố mẹ rất khó phân biệt nguyên nhân gây ra bóng nước trên da trẻ. Do đó, bố mẹ cần phải đưa con đi khám để điều trị đúng bệnh, đặc biệt là để đề phòng các bệnh có biến chứng nguy hiểm như thủy đậu và tay chân miệng.

Phân biệt dấu hiệu của viêm da bóng nước

Bệnh viêm da bóng nước thường khởi phát từ một tổn thương như vết trầy xước trên da, ghẻ, chàm, bị nhiễm trùng và tạo ra bóng nước. Bệnh do nhiễm khuẩn như tụ cầu và liên cầu, hoặc do nhiễm siêu vi Herpes Simplex…

Do đó, trẻ cần được bôi đúng loại thuốc tại vị trí da tổn thương phối hợp với thuốc uống toàn thân để các bóng nước khô và không lan rộng. Nếu bôi không đúng thuốc, cơ thể trẻ có sức đề kháng kém, cộng với da là môi trường dễ lây lan vi khuẩn sẽ khiến các bóng nước lan nhanh gây ra tình trạng bội nhiễm như con chị Khánh.

Các đề phòng và chữa trị

Tốt nhất, khi phát hiện bóng nước xuất hiện trên da con, bố mẹ nên đưa con đi khám để được điều trị đúng bệnh. Khi về nhà, bố mẹ vẫn tắm rửa và giữ vệ sinh cho cơ thể trẻ sạch sẽ.

Ngoài ra, bố mẹ không nên cho bé ăn uống kiêng khem như không ăn tôm, thịt bò vì sợ làm thâm da, sẹo lồi khi các bóng nước lành. Đây là những quan niệm sai lầm.

Trong thời gian này, bé cần ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, uống nhiều nước cam, chanh để cơ thể tăng cường sức đề kháng. Bố mẹ cũng mặc áo quần dài cho trẻ để tránh bé gãi các bóng nước. Các bóng nước bị vỡ có thể gây lây lan vi khuẩn và làm xuất hiện các bóng nước mới.

Bệnh viêm da bóng nước có thể tái phát nếu người lớn không giữ vệ sinh cho bé tốt. Bố mẹ nên thường xuyên rửa đồ chơi, giặt chăn màn, giữ phòng bé luôn sạch và sát khuẩn thường xuyên để phòng bệnh viêm da và một số bệnh khác như viêm nhiễm đường hô hấp, dị ứng…

Theo Tiếp thị và gia đình

Bảo vệ da bé khi trời lạnh

 Thời tiết thời tiết hanh khô, rất khắc nghiệt với những làn da mỏng manh của trẻ sơ sinh. Vì thế các mẹ phải thật sự lưu ý khi chăm sóc da các bé khi trời trở lạnh.

1.Khi đi ra ngoài

Trẻ nhỏ rất nhạy cảm với nhiệt độ thay đổi đột ngột. Vì thế trước khi ra khỏi nhà bạn không nên cho bé mặc quá ấm hoặc quá lạnh

Chống hăm do nhiệt
muadong2.jpg4
Mặc dù thời tiết không nóng nực như mùa hè nhưng bé vẫn có thể bị hăm do mẹ cho bé mặc quá nhiều đồ khiến cơ thể bé bị nóng lên. Những vết phồng rộp màu đỏ, ngứa ngáy sẽ xuất hiện khi tuyến mồ hôi bị tắc.
Vì thế bạn nên mặc những bộ đồ vừa ấm lại vừa thông thoáng để bé có thể thở dễ dàng. Và cởi bớt đi khi thấy bé cảm thấy quá nóng. Dùng thuốc hydrocortisone 1% để bôi cho bé khi bé có dấu hiệu hăm.

Chống nứt môi cho bé

Vì hay bị chảy nước dãi nên đôi môi của bé rất dễ bị tổn thương dưới thời tiết lạnh và khô. Bạn hãy bôi một lớp mỏng kem dưỡng môi để tạo một lớp màng chắn ngăn các yếu tố làm cho đôi môi bé nứt nẻ.

Chống nẻ má

Vào mùa khô, mặt và mông của bé thường bị khô nứt nẻ và đỏ ứng lên khiến cho bé cảm thấy rất khó chịu. Về cơ bản, nứt da chính là hiện tượng da khô đã bị viêm. Hiện tượng này  thường là do gió, ma sát từ quần áo, nước dãi chảy nhiều trên cằm, chảy nước mũi hay do dùng tã ẩm.

Để tránh hiện tượng này, bạn nên cho bé mặc thật ấm trước khi đi ra ngoài. Dùng kem dưỡng ẩm loại dày như Eucerin, Aquapho hay sáp chống nẻ bôi lên da bé. Những loại kem này sẽ tạo ra một lớp màng chắn tự nhiên và giúp cho vùng da bị khô sớm mềm mại trở lại.

Bảo vệ khỏi ung thư da
Lưu ý, bạn đừng quên sử dụng kem chống nắng vào mùa đông cho bé khi ra ngoài trời. Vào mùa đông các tia cực tím vẫn hoạt động rất mạnh.

Bạn nên chọn loại kem chống nắng có quang phổ rộng với SPF 30 hoặc cao hơn. Trong 6 tháng đầu tiên, bạn chỉ nên sử dụng các loại kem có chứa oxit kẽm và titanium dioxide cho bé.

2. Chăm sóc da bé lúc tắm

Bảo vệ bé khỏi khô da

Những vùng da đỏ, bong ra từng mảng có thể xuất hiện ở bất kì đầu trên cơ thế bé, đặc biệt là trên mặt. Đặc biệt hiện tượng này rất phổ biến vào mùa đông do không khí lạnh không mang theo nhiều hơi ẩm.
Bạn có thể tắm cho bé hàng ngày miễn là không dùng nước quá nóng để tắm cho bé là được. Tránh sử dụng các loại sữa tắm, xà bông tắm có chứa chất tạo hương hay cồn. Các loại sữa tắm không được lưu lại trên da bé quá 2 phút.

Theo eva