Tag Archives: bệnh trầm cảm

Trầm cảm – căn bệnh dễ mắc phải

Trầm cảm là một căn bệnh làm suy nhược thể chất và tinh thần, làm mất đi năng lượng, sự tập trung và niềm vui của mỗi người. Những người mắc bệnh trầm cảm không tìm thấy bất kỳ niềm đam mê nào đối với công việc, thậm chí là mất đi niềm tin vào cuộc sống. Dưới đây là một số thói quen dẫn đến trầm cảm mà bạn cần tránh:

Lười tập thể dục

Tập thể dục có ảnh hưởng rất lớn đối với thể chất và tinh thần của bạn. Khi ở trong nhà cả ngày và không tham gia vào bất kỳ hoạt động thể chất nào dễ khiến cho bạn trở nên lười biếng hoặc ăn quá nhiều. Lười biếng và tăng cân có khả năng là dấu hiệu cho thấy bạn đang rơi vào trạng thái trầm cảm. Do đó, bạn nên dành 40 phút mỗi ngày để tập thể dục. Khi tập thể dục, não sẽ sản sinh ra một lượng serotonin và dopamine, những chất thúc đẩy cảm xúc tốt cho trí não khiến bạn sẽ cảm thấy sảng khoái và năng động hơn.

tram-cam-can-benh-de-mac-phai

Chế độ ăn uống không hợp lý

Chế độ ăn uống hợp lý luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh trầm cảm. Những thực phẩm có chứa chất béo Omega-3 được gọi là “thực phẩm não” vì nó là chất dinh dưỡng cần thiết số 1 cho giúp trí não khỏe mạnh. Nếu thiếu đi Omega-3, não dễ tổn thương, và trầm cảm chính là dấu hiệu đầu tiên. Cơ thể của chúng ta không thể tự sản xuất ra Omega-3, do đó chúng ta cần nhận được đủ lượng Omege-3 trong khẩu phần ăn hàng ngày. Bạn nên ăn nhiều cá và hải sản, chúng là nguồn cung cấp Omega-3 tốt nhất giúp bạn chống lại bệnh trầm cảm.

Ngủ ít

Các chuyên gia y tế khuyến cáo bạn nên ngủ ít nhất 7-8 tiếng mỗi đêm. Nếu bạn ngủ đủ giấc thì tinh thần sẽ luôn được thoải mái và tỉnh táo. Khi thiếu ngủ, bạn sẽ rất dễ bị kích động và đôi khi còn mắc chứng hoang tưởng, một yếu tố gây bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, việc ngủ ít sẽ khiến bạn mệt mỏi, làm việc thiếu hiệu quả, bạn sẽ rất dễ “stress”.

Cô lập bản thân

Khi chán nản, bạn thường hay tách bản thân mình ra khỏi bạn bè và gia đình. Thói quen “tự kỷ” này tạo cơ hội cho trầm cảm “tấn công” bạn nhanh hơn. Theo các nhà nghiên cứu, những người thích giao tiếp với mọi người xung quanh ít có nguy cơ bị trầm cảm nhất. Những mối quan hệ với bạn bè, người thân trong gia đình thúc đẩy sự trao đổi chất trong não được tốt hơn, từ đó làm giảm mức độ căng thẳng một cách tối đa. Nếu không có những mối quan hệ với mọi người xung quanh, khả năng trí tuệ của bạn sẽ bị phá vỡ và bạn không thể đối phó với những áp lực khác nhau trong cuộc sống.

Suy nghĩ tiêu cực

Suy nghĩ tiêu cực là một trong những nguyên nhân chính của bệnh trầm cảm. Nếu bạn không ngừng suy nghĩ về các mối đe dọa, những lời từ chối, sự mất mát hay thất bại thì chắc chắn bạn sẽ bị trầm cảm. Có nhiều việc xảy ra xung quanh nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn, vì vậy không cần phải “bám víu” những suy nghĩ của bạn vào chúng. Suy nghĩ về những chuyện bạn không thể thay đổi được không chỉ dẫn tới bệnh trầm cảm, mà còn có thể sẽ khiến bạn “phát điên” lên. Điều quan trọng là bạn phải luôn cố gắng nghĩ về những điều tích cực hơn, thay vì mãi “gặm nhấm” những chuyện đã qua.

Theo ANTĐ

Trầm cảm ở trẻ nhỏ

Thiếu sự chăm sóc của người thân, đặc biệt là mẹ, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi dễ mắc bệnh “trầm cảm vắng mẹ”, ảnh hưởng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ

Do chồng công tác trong ngành hàng hải thường xuyên vắng nhà, bản thân cũng phải đi làm nên chị Nguyễn T.H.T (quận 5 – TPHCM) buộc phải để người vú nuôi đảm đương hầu hết việc chăm sóc con gái T.H.Nh từ lúc 4 tháng tuổi. Mỗi ngày, chị ra khỏi nhà từ sáng sớm khi con còn ngủ, đến tối mới về và thời gian dành cho con cũng hạn hẹp bởi nhiều đêm chị cũng bận rộn với công việc.

Sự cô đơn của con trẻ

tram-cam-o-tre-nho
Khi bé Nh. được hơn 1 tuổi, công việc thư thả hơn, có thời gian chơi với con, chị lại nhận ra dường như cháu bé cũng không thích chơi với mẹ mà chỉ loay hoay một mình với đồ chơi. Nh. thờ ơ với mọi nỗ lực giao tiếp của mẹ, cứ nhìn sang chỗ khác mỗi khi chị chuyện trò, nói chuyện với con. Qua sách vở, chị T. thấy con có những dấu hiệu hay gặp ở trẻ tự kỷ nên đưa đi khám. Rất may, Nh. không bị tự kỷ, cháu chỉ rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ vì gần một năm trời thiếu vòng tay mẹ.

“Khi ở trong bụng mẹ, đứa bé với mẹ là một. Khi ra đời, trẻ cần được cảm nhận hơi ấm, mùi của mẹ. Tuy nhiên ngày nay, người mẹ thường tham gia vào công việc xã hội chứ không ở nhà chăm con như những thế hệ trước. Đa phần sau 4 tháng bà mẹ nghỉ thai sản, đứa bé đã phải xa mẹ và thường được giao cho bà, người thân trong gia đình hay người giữ trẻ chăm sóc. Thậm chí có nhiều phụ nữ phải đi làm sớm hơn. Nếu công việc của mẹ quá bận rộn khiến bé cảm thấy thiếu hơi ấm, tình thương, sự vuốt ve của mẹ, không được bú mẹ… rất có thể bé sẽ bắt đầu tự cô lập mình và có những dấu hiệu xa cách với mẹ” – BS Phạm Ngọc Thanh, cố vấn Khoa Tâm lý Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, phân tích.

Trong trầm cảm ở trẻ em nói chung, sự thiếu vắng mẹ trong những năm tháng đầu đời cũng có thể dẫn đến một dạng trầm cảm đặc trưng ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi – “trầm cảm vắng mẹ”. Trẻ mắc bệnh này có những biểu hiện khá giống với bệnh tự kỷ: không nhìn mẹ, phớt lờ nỗ lực giao tiếp của mẹ; không chịu bú, bú vào là ói hoặc các dạng rối loạn ăn uống khác; khó ngủ, hay khóc… BS Thanh lý giải: “Khi vắng mẹ, ban đầu trẻ sẽ cố gắng tìm cách để được gần mẹ, kêu gọi sự chú ý của mẹ. Nhưng nếu làm mãi không được, trẻ dần cô lập mình và “không thèm” mẹ nữa rồi rơi vào trạng thái trầm cảm. “Trầm cảm vắng mẹ” ở trẻ nhỏ có thể kéo dài đến 3 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về thể chất lẫn tinh thần”.

Trầm cảm ở trẻ em có thể bám theo trẻ cho đến tuổi trưởng thành và có thể hình thành từ những bất ổn tinh thần ở giai đoạn sơ sinh đối với trẻ không được gần gũi mẹ. BS Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc BV Tâm thần TPHCM, cho biết: “Trẻ ở giai đoạn sơ sinh đã cần có sự tiếp xúc với người thân, đặc biệt là mẹ. Nếu quan sát một đứa trẻ sơ sinh vừa mở mắt, chúng ta sẽ nhận ra khi trẻ nhìn thấy người đầu tiên – thường là mẹ – trẻ sẽ chúm chím cười. Khi cảm nhận được khuôn mặt người mẹ trong một thời gian dài, trạng thái tâm thần của trẻ sẽ phát triển ổn định nhất”.

Trẻ cần môi trường ổn định
BS Thanh cho biết một số trẻ em lại bắt đầu bị trầm cảm ở tuổi đi nhà trẻ – khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi. Thiếu mẹ, bị gửi đến môi trường lạ, nhiều trẻ không đủ khả năng thích nghi và bị stress. Cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ, nghĩ rằng nhà trẻ ấy không phù hợp, trẻ bị đối xử không tốt, bị bạn bè bắt nạt… lại vội vàng tìm nhà trẻ khác. Càng bị thay đổi về môi trường, trẻ càng stress và lâu ngày sẽ trầm cảm. Điều này cũng khiến trẻ bị ảnh hưởng về thể chất, giảm sức đề kháng, dễ bị ho, sốt, tiêu chảy… Gia đình thấy bé bệnh, để bé ở nhà chăm sóc. Được gần mẹ, người thân, trẻ tự dưng khỏi bệnh nhưng khi cha mẹ gửi nhà trẻ trở lại thì trẻ lại bị… bệnh tiếp.

“Trẻ bị trầm cảm thường dễ cáu gắt, khóc, từ chối mẹ sau một thời gian vô vọng đòi mẹ, thu mình vào thế giới riêng. Nhiều trẻ sẽ có xu hướng gắn bó với người nuôi dưỡng – có thể là người thân nào đó hay người giúp việc. Người nuôi dưỡng này nếu bị thay đổi nhiều lần cũng dễ ảnh hưởng đến tinh thần của trẻ” – BS Thanh lưu ý.

Nguồn báo người lao động

Phương pháp mới trong việc điều trị trầm cảm

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại, các nhà sinh lý học thuộc Đại học Oxford cho biết.

Kết quả của một thí nghiệm trên quy mô nhỏ của phương pháp này, gọi là phương pháp trị liệu nhân thức dựa trên sự lưu tâm (MBCT), ở những bệnh nhân bị trầm cẩm, được công bố trên tạp chí Behaviour Research and Therapy.

dieu-tri-tram-cam

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

28 người hiện mắc chứng trầm cảm, đồng thời có những giai đoạn trầm cảm trước đó cùng ý định tự tử, được ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Một nhóm được trị liệu thêm bằng MBCT ngoài những phương pháp trị liệu thông thường, trong khi nhóm còn lại chỉ nhận điều trị thông thường. Việc chữa trị bằng MBCT giảm số lượng bệnh nhân trầm cảm nặng, trong khi nhóm còn lại tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng không thay đổi.

Giáo sư Mark Williams và các đồng nghiệp thuộc Khoa tâm thần học Đại học Oxford sẽ tiếp tục công việc nghiên cứu từ những bằng chứng đáng khích lệ này. Họ hy vọng sẽ thực hiện nghiên cứu với những bệnh nhân để chứng tỏ rằng MBCT có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu của Oxford hiện đang thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn hơn so sánh MBCT với một nhóm sử dụng trị liệu thần kinh để xác định yếu tố nào hoặc phương pháp trị liệu nào phù hợp với dạng bệnh nhân khác nhau.

Giáo sư Williams, người phát triển phương pháp trị liệu này đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước việc phát hiện những điều thực sự quan trọng về việc làm thế nào các bệnh nhân có thể duy trì sức khỏe sau trầm cảm. Mục đích của phương pháp trị liệu này là giúp các bệnh nhân có được sự giải thoát về lâu dài khỏi cuộc chiến hàng ngày với trạng thái tâm lý của bản thân”.

Nguồn khoa học

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

Trầm cảm có thể gây ra nhiều nguy hiểm

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.

1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Nguồn afamily

Trầm cảm và đái tháo đường

Trầm cảm là tình trạng rối loạn tâm thần phổ biến nhất có liên quan với đái tháo đường (ĐTĐ). bệnh có thể xảy ra ở nhiều giai đoạn trong diễn tiến tự nhiên của ĐTĐ. Tuy nhiên, đa số người bệnh không được phát hiện và điều trị trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Tỉ lệ trầm cảm trong ĐTĐ là gấp đôi so với dân số chung, với tỉ lệ gộp là 9% nếu chẩn đoán bằng phỏng vấn, và 26% nếu chẩn đoán bằng cách tự chấm điểm triệu chứng trầm cảm theo thang điểm.

tram-cam-va-dai-thao-duong

Tác hại của trầm cảm trong ĐTĐ

Trầm cảm làm tăng 37% nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2.  Ngược lại, ĐTĐ làm tăng 3 lần nguy cơ mắc bệnh trầm cảm, nhất là ở những người ĐTĐ đã xuất hiện biến chứng.

Nguy cơ tử vong tăng lên gấp 5 lần. Trầm cảm có liên quan với tử vong ngay cả khi bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ hoặc chưa có biểu hiện lâm sàng. Bệnh nhân cao tuổi có bệnh ĐTĐ týp 2 và những người có biến chứng thuộc nhóm có nguy cơ cao.

Khi bị trầm cảm, các gánh nặng liên quan đến ĐTĐ được xem là nghiêm trọng hơn, và sự hài lòng với việc điều trị ĐTĐ là thấp hơn. Bệnh nhân có trầm cảm và ĐTĐ thường ít hoạt động thể lực, tăng xu hướng hút thuốc lá, thói quen ăn uống ít có lợi cho sức khỏe và tuân thủ điều trị ĐTĐ kém. Trầm cảm có liên quan đến cách đánh giá tiêu cực về các liệu pháp insulin ở người chưa từng sử dụng insulin, và điều này có thể gây trì hoãn việc điều trị ĐTĐ, chẳng hạn như chậm khởi đầu điều trị bằng insulin trong ĐTĐ týp 2. Trong một nhóm bệnh nhân được lựa chọn ở bệnh viện cho thấy tình trạng trầm cảm kéo dài hơn, tái phát nhiều hơn và mức độ nặng hơn ở người có bệnh ĐTĐ.

ĐTĐ là một bệnh tốn kém, và đồng mắc bệnh trầm cảm làm tăng thêm chi phí chăm sóc sức khỏe lên 4 lần.

Chẩn đoán trầm cảm ở người ĐTĐ

Việc chẩn đoán và điều trị sớm trầm cảm ở người ĐTĐ là rất quan trọng, tuy nhiên trên 50% trường hợp trầm cảm trong ĐTĐ là không được chẩn đoán. Ba lý do khiến bệnh khó phát hiện, đó là: nếu bệnh ĐTĐ là kiểm soát kém cũng có các triệu chứng tương tư như trầm cảm: mệt mỏi, sụt hoặc tăng cân, thay đổi cảm giác ngon miệng, rối loạn giấc ngủ…; người bệnh không tự nhận ra các dấu hiệu trầm cảm, hoặc có biết cũng ít khi thông báo cho bác sĩ; thầy thuốc thiếu sự quan tâm hoặc do khả năng hạn chế.

Trên thực tế, chỉ có khoảng 1/3 số trường hợp trầm cảm ở người ĐTĐ được chẩn đoán. Vì vậy, khi người thân phát hiện người bệnh có các biểu hiện hoặc hành vi bất thường thì nên sớm thông báo cho thầy thuốc.

Các dạng bệnh tâm thần đồng mắc trong ĐTĐ

Các rối loạn tâm thần khác có thể cùng tồn tại với trầm cảm trong ĐTĐ. Tỉ lệ về các rối loạn lo âu và các vấn đề về ăn uống cũng gia tăng ở bệnh nhân ĐTĐ so với những người khỏe mạnh. Vì những rối loạn này có xu hướng đồng xảy ra với trầm cảm trong dân số chung, nên điều này cũng có thể xảy ra trong bệnh ĐTĐ.

Điều trị người trầm cảm và ĐTĐ

Việc đầu tiên là tìm ra các nguyên nhân thực thể gây ra trầm cảm và loại trừ chúng. Các chiến lược đồng chăm sóc sẽ giúp cải thiện sức khỏe người ĐTĐ và trầm cảm, giúp giảm gánh nặng của bệnh. Dùng thuốc chống trầm cảm, cùng với thay đổi lối sống như tập thể lực thường xuyên, chế độ ăn… sẽ giúp cải thiện tốt cho cả bệnh trầm cảm và ĐTĐ. Ngoài ra, người trầm cảm cần có sự quan tâm giúp đỡ của người thân trong gia đình và các chuyên gia tâm lý.

Phòng ngừa trầm cảm ở người ĐTĐ

Mỗi bệnh nhân có những hoàn cảnh riêng biệt và ứng xử với bệnh hoàn toàn khác nhau. Do đó, người bệnh ĐTĐ nên sớm chấp nhận rằng mình mắc bệnh ĐTĐ và cần điều chỉnh một số hành vi sống như: bỏ ngay thuốc lá, giữ tinh thần lạc quan, duy trì luyện tập thể lực, tìm hiểu nhiều về bệnh ĐTĐ và việc điều trị bệnh. Tự chịu trách nhiệm chăm sóc cho chính mình. Đặt mục tiêu điều trị, nhưng nên hiểu rằng cần có thời gian đạt được mục tiêu đó để tránh tâm lý bi quan, chán nản, dễ dẫn đến không tuân thủ chế độ điều trị.

Chia sẻ cảm xúc với người thân trong gia đình và bạn bè, giúp họ hiểu về bệnh ĐTĐ và tạo điều kiện cho mình thực hiện chế độ ăn cũng như các chế độ điều trị và luyện tập một cách nghiêm túc.

Tìm kiếm sự giúp đỡ của bác sĩ khi có bất kỳ thay đổi nào trong cơ thể, đặc biệt là những tổn thương ở bàn chân để có các biện pháp xử trí kịp thời, tránh nguy cơ cắt cụt chi.

 

BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI

Theo báo công an

Nguyên nhân và cách điều trị bệnh trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một tình trạng bệnh tương đối nghiêm trọng có thể xảy ra trong vòng vài tháng đầu tiên sau khi sinh. Nó cũng có thể xảy ra sau khi người mẹ bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Trầm cảm sau sinh có thể khiến bạn cảm thấy rất buồn bã, tuyệt vọng và cảm thấy mình không còn giá trị gì nữa (vô dụng). Và điều này có thể khiến bạn gặp trở ngại trong việc chăm sóc và tạo mối liên kết tình mẫu tử giữa đứa bé và bạn.

Trầm cảm sau sinh không đơn giản chỉ là tình trạng trầm uất, chán nản mà nhiều phụ nữ gặp phải trong vài tuần đầu sau khi sinh. Với tình trạng trầm uất, chán nản bạn có thể sẽ cảm thấy khó ngủ, tính khí thất thường, đôi khi khóc. Những cảm xúc này cũng sẽ đi kèm với cảm giác hạnh phúc và tự hào về đứa con bé bỏng. Nhưng tình trạng trầm uất, chán nản này thường không kéo dài lâu và biến mất trong vòng vài tuần. Nếu kéo dài trong vòng vài tháng thì đó chính là triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh.

tramcam1

Trong một số trường hợp hiếm gặp thì người mẹ có thể mắc phải dạng trầm cảm nghiêm trọng, thường được gọi là chứng loạn trí sau sinh. Người mẹ có thể có những hành động bất thường, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không hiện diện trong thực tại, và có thể là một mối nguy hại cho chính mình và cho con mình. Trường hợp này cần phải cấp cứu ngay bởi tình trạng bệnh có thể diễn tiến xấu đi rất nhanh gây nguy hiểm cho người mẹ hay những người xung quanh.

Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị tình trạng trầm cảm ở người me, bởi vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng sớm hồi phục càng cao.

Nguyên nhân của chứng trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh được cho là bắt nguồn từ sự thay đổi ngưỡng hormone trong cơ thể người phụ nữ xảy ra sau thai kỳ. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể mắc chứng trầm cảm này trong vòng vài tháng đầu sau sinh, sau khi bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Bạn sẽ có nguy cơ cao bị mắc chứng trầm cảm sau sinh nếu :

Bạn đã bị trầm cảm hoặc là trầm cảm sau sinh trước đó

Bạn không có được sự hỗ trợ tốt từ người bạn đời, bạn bè hay người thân

Bạn bị bệnh hay là bị đau bụng trong khi mang thai

Bạn bị nhiều căng thẳng khác trong cuộc sống.

Bạn sẽ dễ mắc chứng loạn trí sau sinh nếu bạn hay bất kỳ thành viên nào trong gia đình mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).

Các triệu chứng

Các triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ có thể là :

Cảm thấy buồn, tuyệt vọng và trống rỗng. Một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy lo lắng.

Mất hứng thú vào các hoạt động thường ngày

Không có cảm giác đói và có thể sụt cân ( nhưng một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy đói hơn bình thường và ăn rất nhiều, dẫn đến tăng cân)

Khó ngủ

Không thể tập trung được

Những triệu chứng này có thể xảy ra vào ngày đầu tiên hay là ngày thứ 2 sau sinh. Hoặc là chúng có thể theo sau các triệu chứng của tình trạng trầm uất sau sinh vài tuần.

Một phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sinh có thể cảm thấy như là mình bị tách xa ra khỏi đứa con. Bà mẹ có thể tưởng tượng ra những hình ảnh và âm thanh hoàn toàn không có thực (ảo giác và ảo thanh). Bất kỳ người phụ nữ nào bị mắc chứng trầm cảm sau sinh đều có suy nghĩ thoáng qua về việc tự tử hoặc là làm hại đứa con của mình. Nhưng những phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sanh có thể có cảm giác như là có ai đó ép buộc mình phải hành động theo những suy nghĩ phải tự tử và làm hại con mình.

Làm thế nào chẩn đoán trầm cảm sau sinh

Bác sĩ sẽ thăm khám và hỏi về các triệu chứng bệnh của bạn.

Hãy thành thật kể cho bác sĩ nghe về mọi cảm xúc chán nản, trầm uất trong lần thăm khám đầu tiên sau khi sinh. Bác sĩ muốn theo dõi xem liệu cảm xúc của bạn đang diễn ra ra sao.

Điều trị như thế nào ?

Trầm cảm sau sinh có thể được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm hoặc là bằng liệu pháp tâm lý. Với tình trạng trầm cảm nhẹ thì có thể chỉ cần dùng liệu pháp tâm lý là đủ. Nhưng đa phần các trường hợp phải dùng kết hợp cả hai liệu pháp thuốc và liệu pháp tâm lý lại với nhau. Nhiều thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là an toàn cho đứa trẻ trong giai đoạn bú sữa mẹ.

Để tự giúp bản thân cảm thấy tốt hơn, hãy cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục mỗi ngày, và ngủ đủ giấc. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè nếu có thể.

Đừng cảm thấy buồn hay chán nản vì bạn bị mắc chứng bệnh này. Đều đó không có ngĩa rằng bạn là một là một người mẹ tồi. Bởi rất nhiều phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh này. Có thể sẽ mất thời gian, nhưng chắc chắn là bạn sẽ khá hơn sau khi được điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Những nguy hiểm cho sức khỏe do bệnh trầm cảm gây ra

Bệnh trầm cảm hoàn toàn có thể gây nguy hiểm cho cuộc sống của bạn và khiến bạn rơi vào trạng thái rối loạn cảm xúc.

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.
nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra
1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Theo afamily

Trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh (postpartum depression) là một tình trạng bệnh tương đối nghiêm trọng có thể xảy ra trong vòng vài tháng đầu tiên sau khi sinh. Nó cũng có thể xảy ra sau khi người mẹ bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Trầm cảm sau sinh có thể khiến bạn cảm thấy rất buồn bã, tuyệt vọng và cảm thấy mình không còn giá trị gì nữa (vô dụng). Và điều này có thể khiến bạn gặp trở ngại trong việc chăm sóc và tạo mối liên kết tình mẫu tử giữa đứa bé và bạn.

Trầm cảm sau sinh không đơn giản chỉ là tình trạng trầm uất, chán nản mà nhiều phụ nữ gặp phải trong vài tuần đầu sau khi sinh. Với tình trạng trầm uất, chán nản bạn có thể sẽ cảm thấy khó ngủ, tính khí thất thường, đôi khi khóc. Những cảm xúc này cũng sẽ đi kèm với cảm giác hạnh phúc và tự hào về đứa con bé bỏng. Nhưng tình trạng trầm uất, chán nản này thường không kéo dài lâu và biến mất trong vòng vài tuần. Nếu kéo dài trong vòng vài tháng thì đó chính là triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh.
tramcam1

Trong một số trường hợp hiếm gặp thì người mẹ có thể mắc phải dạng trầm cảm nghiêm trọng, thường được gọi là chứng loạn trí sau sinh. Người mẹ có thể có những hành động bất thường, nhìn thấy hay nghe thấy những thứ không hiện diện trong thực tại, và có thể là một mối nguy hại cho chính mình và cho con mình. Trường hợp này cần phải cấp cứu ngay bởi tình trạng bệnh có thể diễn tiến xấu đi rất nhanh gây nguy hiểm cho người mẹ hay những người xung quanh.

Điều quan trọng là phải nhanh chóng điều trị tình trạng trầm cảm ở người me, bởi vì thời gian điều trị càng sớm thì khả năng sớm hồi phục càng cao.

Nguyên nhân của chứng trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh được cho là bắt nguồn từ sự thay đổi ngưỡng hormone trong cơ thể người phụ nữ xảy ra sau thai kỳ. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng có thể mắc chứng trầm cảm này trong vòng vài tháng đầu sau sinh, sau khi bị sẩy thai hoặc là thai chết lưu.

Bạn sẽ có nguy cơ cao bị mắc chứng trầm cảm sau sinh nếu :

Bạn đã bị trầm cảm hoặc là trầm cảm sau sinh trước đó

Bạn không có được sự hỗ trợ tốt từ người bạn đời, bạn bè hay người thân

Bạn bị bệnh hay là bị đau bụng trong khi mang thai

Bạn bị nhiều căng thẳng khác trong cuộc sống.

Bạn sẽ dễ mắc chứng loạn trí sau sinh nếu bạn hay bất kỳ thành viên nào trong gia đình mắc phải chứng rối loạn lưỡng cực (bipolar disorder).

Các triệu chứng

Các triệu chứng của tình trạng trầm cảm sau sinh ở phụ nữ có thể là :

Cảm thấy buồn, tuyệt vọng và trống rỗng. Một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy lo lắng.

Mất hứng thú vào các hoạt động thường ngày

Không có cảm giác đói và có thể sụt cân ( nhưng một vài phụ nữ cũng có thể cảm thấy đói hơn bình thường và ăn rất nhiều, dẫn đến tăng cân)

Khó ngủ

Không thể tập trung được

Những triệu chứng này có thể xảy ra vào ngày đầu tiên hay là ngày thứ 2 sau sinh. Hoặc là chúng có thể theo sau các triệu chứng của tình trạng trầm uất sau sinh vài tuần.

Một phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sinh có thể cảm thấy như là mình bị tách xa ra khỏi đứa con. Bà mẹ có thể tưởng tượng ra những hình ảnh và âm thanh hoàn toàn không có thực (ảo giác và ảo thanh). Bất kỳ người phụ nữ nào bị mắc chứng trầm cảm sau sinh đều có suy nghĩ thoáng qua về việc tự tử hoặc là làm hại đứa con của mình. Nhưng những phụ nữ bị mắc chứng loạn trí sau sanh có thể có cảm giác như là có ai đó ép buộc mình phải hành động theo những suy nghĩ phải tự tử và làm hại con mình.

Làm thế nào chẩn đoán trầm cảm sau sinh

Bác sĩ sẽ thăm khám và hỏi về các triệu chứng bệnh của bạn.

Hãy thành thật kể cho bác sĩ nghe về mọi cảm xúc chán nản, trầm uất trong lần thăm khám đầu tiên sau khi sinh. Bác sĩ muốn theo dõi xem liệu cảm xúc của bạn đang diễn ra ra sao.

Điều trị như thế nào ?

Trầm cảm sau sinh có thể được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm hoặc là bằng liệu pháp tâm lý. Với tình trạng trầm cảm nhẹ thì có thể chỉ cần dùng liệu pháp tâm lý là đủ. Nhưng đa phần các trường hợp phải dùng kết hợp cả hai liệu pháp thuốc và liệu pháp tâm lý lại với nhau. Nhiều thuốc chống trầm cảm đã được chứng minh là an toàn cho đứa trẻ trong giai đoạn bú sữa mẹ.

Để tự giúp bản thân cảm thấy tốt hơn, hãy cố gắng ăn uống điều độ, tập thể dục mỗi ngày, và ngủ đủ giấc. Tìm kiếm sự giúp đỡ từ gia đình và bạn bè nếu có thể.

Đừng cảm thấy buồn hay chán nản vì bạn bị mắc chứng bệnh này. Đều đó không có ngĩa rằng bạn là một là một người mẹ tồi. Bởi rất nhiều phụ nữ mắc phải chứng trầm cảm sau sinh này. Có thể sẽ mất thời gian, nhưng chắc chắn là bạn sẽ khá hơn sau khi được điều trị.

Ths.Bs Nguyễn Tường Vũ

Theo báo sức khỏe

18 điều có thể bạn chưa biết về stress

Chắc hẳn ai cũng từng bị căng thẳng do công việc, cuộc sống hay rất nhiều lí do khác. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên nhân, cách giải tỏa căng thẳng cũng như ảnh hưởng của nó với sức khỏe.

1. Kẻ giết người thầm lặng

Căng thẳng có thể dẫn đến bệnh tim, cao huyết áp, đau ngực và nhịp tim bất thường. Tất cả những yếu tố này đều không tốt cho tim của bạn và có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm hơn như cơn đau tim và đột quỵ.

2. Những thành phố gây căng thẳng
stress
Nơi bạn sống có thể góp phần gây ra mức độ căng thẳng của bạn. Không có gì ngạc nhiên nếu bạn sống ở những thành phố lớn, mọi người luôn sống gấp gáp, hối hả, bạn sẽ càng dễ rơi vào tình trạng căng thẳng.

3. Uống rượu bia và hút thuốc

Uống rượu bia và hút thuốc sẽ khiến tình trạng căng thẳng của bạn trở nên tồi tệ hơn, mặc dù bạn nghĩ đó là cách giúp bạn bình tĩnh trở lại và quên đi hiện tại.

4. Mụn trứng cá

Nếu bạn thấy mụn trứng cá xuất hiện nhiều, rất có thể tình trạng căng thẳng của bạn chính là nguyên nhân. Căng thẳng làm tăng viêm nhiễm dẫn đến mụn trứng cá.

5. Cười nhiều hơn

Nếu bạn muốn giải tỏa căng thẳng, hãy dành thời gian thư giãn với bạn bè, xem những bộ phim hài… Khi bạn cười, cơ thể sẽ giải phóng những hóc-môn có lợi cho sức khỏe và giảm căng thẳng.

6. Làm bạn tăng cân

Căng thẳng khiến cơ thể giải phóng hóc-môn cortisol, dẫn đến tích tụ mỡ bụng và làm cho các tế bào mỡ phát triển lớn hơn.

7. Cần cho sự sống

Đôi khi sự căng thẳng và áp lực chính là động lực giúp bạn hoàn thành công việc tốt hơn.

8. Giảm ham muốn tình dục

Sự căng thẳng cũng liên quan đến hóc-môn kiểm soát ham muốn tình dục của bạn và thời gian đạt cực khoái của bạn. Tuy nhiên, tình dục lại chính là một cách tuyệt vời giúp bạn giảm căng thẳng.

9. Sô-cô-la

Sô-cô-la đen có khả năng giúp bạn giảm hóc-môn căng thẳng, vì vậy, mỗi khi bạn căng thẳng, hãy ăn một chút sô-cô-la đen.

10. Rụng tóc
stress1
Chứng rụng tóc cũng có thể bắt nguồn từ nguyên nhân là bạn bị căng thẳng. Vì vậy, rụng tóc sẽ được cải thiện nếu tình trạng căng thẳng của bạn được giải tỏa.

11. Công việc căng thẳng

Theo một nghiên cứu, các công việc căng thẳng nhất thuộc về lĩnh vực y tế, hàng không, quảng cáo và bất động sản, trong khi những người làm việc trong ngành công nghệ máy tính và thiên văn học thì ít căng thẳng hơn. Còn công việc của bạn? Bạn có thể làm gì để công việc của mình bớt căng thẳng hơn?

12. Khả năng sinh sản

Sự căng thẳng còn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của bạn. Phụ nữ bị căng thẳng khó có thể rụng trứng. Còn ở nam giới, căng thẳng có thể ảnh hưởng đến số lượng tinh trùng và khả năng di chuyển của chúng. Nếu bạn khó thụ thai, bạn nên nghĩ đến việc cải thiện tình trạng căng thẳng của bản thân hoặc người bạn đời.

13. Trẻ em cũng bị căng thẳng

Ngay cả trẻ em cũng có thể bị căng thẳng. Trẻ bị căng thẳng mạn tính có thể bị rối loạn phát triển tâm thần bởi nó làm giảm sự sản sinh các hóc-môn tăng trưởng trong tuyến yên. Vì vậy, điều quan trọng là bạn cần tạo cho trẻ một môi trường ít căng thẳng để trẻ phát triển toàn diện.

14. Chảy máu

Đây là một thực tế rất thú vị về căng thẳng. Căng thẳng cũng có thể cứu được mạng sống của bạn. Phản ứng của cơ thể với sự căng thẳng khi bị thương như vết đứt, khiến các mao quản của mạch máu co lại và máu chảy chậm lại. Căng thẳng cũng làm máu kết dính nhanh hình thành cục máu đông, giúp ngưng chảy máu.

15. Tiền bạc

Tiền bạc chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến căng thẳng. Nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay, nhiều người phải lo lắng về tiền bạc dẫn đến số người bị căng thẳng nhiều hơn.

16. Lứa tuổi vị thành niên

Theo Hiệp hội Tâm thần Mỹ, căng thẳng chính là mối quan tâm sức khỏe hàng đầu đối với những trẻ ở tuổi vị thành niên. Nhiều chuyên gia lo ngại rằng nếu trẻ không biết cách kiểm soát căng thẳng, chúng có thể gặp những vấn đề sức khỏe về lâu dài.

17. Tập thể dục

Tập thể dục là một phương pháp hiệu quả để giảm căng thẳng. Vì vậy, bạn hãy tăng cường vận động bằng các hoạt động thể chất phù hợp.

18. Giấc ngủ

Giấc ngủ ngon, đủ và sâu sẽ giúp bạn giải tỏa căng thẳng một cách hiệu quả. Vì vậy, nếu bạn bị căng thẳng, hãy chắc chắn rằng bạn phải ngủ đủ giấc mỗi đêm.

Gia Minh

Parkinson bệnh phổ biến của người cao tuổi

Parkinson là một bệnh thần kinh mạn tính thường kết hợp với rối loạn tâm thần, gặp chủ yếu ở người cao tuổi (NCT). Theo thống kê thì độ tuổi khởi bệnh Parkinson trung bình vào khoảng trên 60 tuổi, với tỷ lệ mắc là 90 – 100/100.000 dân và tỷ lệ mới mắc là 20/100.000 dân/năm, hiếm gặp các trường hợp khởi bệnh trước 40 tuổi… Khoảng 45% bệnh nhân Parkinson bị trầm cảm và 30 – 60% bị sa sút tinh thần. Phòng và điều trị bệnh vẫn còn gặp khó khăn, bên cạnh đó, bệnh Parkinson có thể dẫn đến một số biến chứng.

benh-parkinson-can-benh-nguoi-cao-tuoi

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson chưa được xác định, một số tác giả cho rằng bệnh Parkinson do các tế bào não kiểm soát vận động cơ bắp bị thoái hóa dần. Những tế bào này sản sinh chất dopamin. Dopamin là một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng nên những sự thay đổi của nó sẽ dẫn đến nhiều thay đổi khác nhau của sức khỏe con người. Đây là chất có vai trò quan trọng trong việc truyền tín hiệu giữa các tế bào. Khi tế bào não chi phối vận động cơ bị thoái hóa thì lượng dopamin sinh ra sẽ giảm dần trong cơ thể người bệnh, dẫn đến các triệu chứng Parkinson. Nguyên nhân của hiện tượng thoái hóa tế bào thần kinh trung ương (tế bào não) vẫn chưa được khẳng định. Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra có một gen đột biến ở trong nhóm người mắc bệnh Parkinson. Mặc dù gen đột biến này không phải là nguyên nhân của tất cả những trường hợp bệnh nhưng phát hiện này đã mở ra cơ hội cho các nhà khoa học thực hiện thêm các nghiên cứu trên động vật để tiếp cận sâu hơn nữa đối với bệnh Parkinson. Tuy nhiên, có một số giả thuyết cho rằng nguyên nhân gây bệnh Parkinson không chỉ duy nhất một tác nhân mà có sự kết hợp của hai tác nhân mang tính chất di truyền và những tác động xấu gây ra bởi môi trường xung quanh (môi trường ô nhiễm chất độc hại, tiếp xúc thường xuyên với một số hóa chất độc hại…). Hiện nay, có một giả thuyết đưa ra về sự ôxy hóa. Người ta cho rằng các gốc hóa học tự do là nguyên nhân của bệnh Parkinson, tất nhiên, để đi đến kết luận cần có thời gian. Một số nhà chuyên môn khuyến cáo cần phân biệt với tác dụng phụ của một số loại thuốc, đặc biệt là thuốc sử dụng để điều trị một bệnh thần kinh nào đó cũng có thể dẫn đến xuất hiện các triệu chứng của bệnh Parkinson.
Parkinson Bệnh của người cao tuổi 2
Hình ảnh não người bình thường và của người bệnh Parkinson.

Biểu hiện chính của bệnh

3 triệu chứng điển hình xuất hiện ở bệnh nhân Parkinson là run (lắc, vẫy) khi nghỉ ngơi, cứng khớp và chậm chạp khi bắt đầu một cử động nào đó. Run thường được bắt đầu ở một tay, run khi nghỉ ngơi, tăng lên khi có tác động tinh thần (stress) nhưng khi ngủ có thể hết run, sau một thời gian dài (vài tháng, vài năm) bắt đầu run giật cả 2 tay nhưng không đối xứng. Song song với các triệu chứng chính của bệnh thì sự mệt mỏi, ăn kém, rối loạn giấc ngủ, hay ngủ ban ngày luôn thường trực. Cứng khớp có thể thấy rõ ràng hơn khi có những cử động cố ý của chi đối bên. Chậm chạp không chỉ thể hiện khi vận động, di chuyển mà còn thể hiện cả khi nói, thể hiện cả ở nét mặt hoặc động tác giảm chớp mắt, hạn chế nhìn lên và tiếng nói nhỏ hơn bình thường. Ngoài 3 triệu chứng này thì ở người bệnh Parkinson còn có thể mất dần phản xạ thăng bằng (đứng không vững). Đây cũng là một triệu chứng của bệnh vì thường xuất hiện muộn và khó chữa trị. Bên cạnh đó có thể xuất hiện các triệu chứng thay đổi về tâm thần, trầm cảm, giảm trí nhớ, lú lẫn, hạ huyết áp, rối loạn tình dục, ra nhiều mồ hôi. Hậu quả của bệnh Parkinson là đi đứng khó khăn, cử động chậm, tay chân cứng và run, cơ mặt bị liệt. Chẩn đoán bệnh Parkinson thấy xuất hiện 2 trong 3 triệu chứng chính (run rẩy, cứng khớp, chậm chạp). Tư thế không vững là triệu chứng thứ tư, tuy nhiên, nó chỉ xuất hiện muộn. Vì vậy, người ta còn gọi bệnh Parkinson là một bệnh rối loạn thoái hóa của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói và các chức năng khác. Biến chứng  thường gặp của bệnh Parkinson là những rối loạn về khả năng đi đứng của người bệnh ngày càng gia tăng, một số trường hợp gặp phải chứng loãng xương do mất calci, bí tiểu tiện, táo bón, nuốt khó gây nghẹn khi ăn, khi uống, khi nuốt nước bọt hoặc bị sặc.

Chăm sóc người bệnh Parkinson
Khi một người được bác sĩ chuyên khoa thần kinh khám bệnh và xác định là mắc bệnh Parkinson thì người thân (gia đình, bè bạn, cơ quan) nên động viên khích lệ người bệnh. Bởi vì trong thời kỳ đầu của bệnh, người bệnh thường rất mệt mỏi, chán chường, lo lắng hoặc có thể bị trầm uất, cho nên sự động viên về mặt tình cảm của người thân và tổ chức tập thể là rất cần thiết. Với người bệnh thì không nên quá lo lắng hoặc quá bi quan mà phải vươn lên để tự điều chỉnh hoạt động của bản thân mình. Cần vận động cơ thể bằng hình thức tập thể dục hàng ngày tùy theo điều kiện và sức khỏe của mỗi người như đi bộ. Tuy nhiên, mỗi một ngày cũng chỉ nên vận động cơ thể (khoảng 60 phút là vừa) và nên chia thành 2 – 3 lần, mỗi lần từ 15 – 20 phút. Về sau, khi bệnh tiến triển nặng hơn thì mọi sinh hoạt, ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại cần có sự hỗ trợ của gia đình. Bên cạnh sự chăm sóc thì việc uống thuốc điều trị cũng rất cần có sự quan tâm của người thân, nhất là khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn trầm cảm, lú lẫn hoặc có biến chứng.

PGS.TS. TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Theo SKDS

Những bệnh nguy hiểm đến sức khoẻ của đấng mày râu

Đa số đàn ông thường xem nhẹ sức khỏe của mình, điều này có thể dẫn đến những hậu quả xấu lâu dài về sức khỏe và tử vong sớm. Để tránh những điều điều đáng tiếc, đàn ông nên lưu ý đề phòng những nguy cơ chủ yếu về các chứng bệnh sau.

1. Bệnh tim

Quả tim giống như một chiếc động cơ, nếu không chú ý bảo dưỡng thì hậu quả không chỉ là những bệnh về tim mạch, mà còn có thể gây tử vong. Theo số liệu của Hiệp hội Tim-mạch Mỹ thì có đến 1/3 số đàn ông bị các bệnh khác nhau về tim-mạch, trong đó những người đàn ông da đen tử vong nhiều hơn. Việc kiểm tra định kỳ kịp thời có thể phát hiện được bệnh và điều trị sớm khi còn chưa quá muộn.

2. Bệnh nghẽn phổi mãn tính

Bệnh nghẽn phổi mãn tính thông thường được bắt đầu từ chứng ho ở những người hút thuốc, lâu dần từ chứng ho có thể dẫn đến ung thư phổi và tràn khí phổi. Hàng năm số đàn ông bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi càng gia tăng. Tất nhiên môi trường ô nhiễm và các yếu tố nghề nghiệp cũng đóng vai trò lớn song nguyên nhân chính gây ung thư phổi vẫn là hút thuốc.

3. Nghiện rượu

Số người tử vong vì rượu và phải nhập viện do sở thích uống rượu ở đàn ông lớn hơn so với phụ nữ. Hơn nữa, đàn ông uống rượu nhiều gấp đôi phụ nữ và tác động do uống rượu có xu hướng bạo lực và bạo lực tình dục. Tình trạng sử dụng rượu không điều độ gây ra nguy cơ phát sinh ung thư vòm miệng, họng, thực quản, gan và ruột kết. Rượu cũng ảnh hưởng đến việc sản xuất nội tiết tố, điều này có thể dẫn đến chứng bất lực và vô sinh. Thêm nữa, nếu uống rượu trong thời gian dài mà không có sự kiềm chế và hỗ trợ sẽ dễ nảy sinh khuynh hướng tự sát.

4. Trầm cảm và tự sát

Theo đánh giá của Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia Mỹ, ít nhất có 6 triệu đàn ông bị rối loạn trầm cảm, bao gồm cả ý nghĩ tự tử. Để khắc phục tình trạng này, các nhà tâm lý khuyên nên đặt ra cho mình những mục đích thiết thực, sống giữa gia đình và những người thân, dành thời gian thực hiện những quyết định quan trọng và tập luyện thể thao.

benh_nguy_hiem_cho_nam_gioi_01

Trầm cảm là bệnh thủ phạm hủy hoại sức khỏe của đàn ông

5. Những chấn thương và tai nạn bất ngờ

Ngay cả người đàn ông khỏe mạnh cũng không đảm bảo tránh được những nguy cơ như bị chấn thương, chết đuối, chấn thương sọ não hay bị đâm xe. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh thì một trong những nguyên nhân tử vong chủ yếu của đàn ông là các tai nạn thảm khốc, trong đó tai nạn bị chấn thương do nghề nghiệp mà nạn nhân chủ yếu là đàn ông chiếm đến 92% .

6. Bệnh gan

Về kích thước, gan của đàn ông tương đương với một quả bóng. Chức năng của gan là hấp thụ chất dinh dưỡng và loại bỏ các độc tố ra khỏi cơ thể. Trong số những bệnh phổ biến về gan là xơ gan, viêm gan, các bệnh tự miễn và các bệnh do di truyền, kể cả ung thư gan. Việc sử dụng rượu và hút thuốc làm tăng nguy cơ phát sinh các bệnh về gan.

7. Tiểu đường

Những người đàn ông bị bệnh tiểu đường có nhiều khả năng bị rối loạn chức năng cương dương và mức testosteron giảm. Bệnh tiểu đường nếu không được điều trị sẽ dẫn đến các bệnh về thận, tim, hệ thần kinh, mắt và thậm chí có thể bị mù lòa.

8. Cúm và viêm phổi

Những người nhạy cảm với các bệnh này thường là có hệ miễn dịch suy yếu. Điều này có thể gây ra bởi bệnh nghẽn phổi mãn tính, tiểu đường, suy tim, thiếu máu, AIDS hoặc ung thư. Tốt nhất là người đàn ông trên 65 tuổi nên được tiêm chủng cúm hàng năm, điều đó sẽ làm giảm ngay 70% nguy cơ nhiễm bệnh.

benh_nguy_hiem_cho_nam_gioi_02

Cúm và viêm phổi là thủ phạm hủy hoại sức khỏe đàn ông9. Ung thư da

Những người đàn ông trên 50 tuổi sẽ có nguy cơ bị ung thư da lớn gấp 2 lần so với phụ nữ, bởi họ bị tác động của ánh nắng mặt trời nhiều hơn và ít chịu đi khám hơn. Các nhà ung thư học khuyên nên giảm ăn muối, đeo kính mát trước khi ra đường và sử dụng kem chống nắng.

10. HIV và AIDS

Những người nhiễm HIV thường không hiểu chính xác là họ đang nhiễm bệnh, bởi vì các triệu chứng ban đầu tương tự như triệu chứng của cảm lạnh hoặc cúm thông thường. Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh thì trong năm 2009 có 61% các trường hợp nhiễm HIV là thuộc những người đàn ông đồng tính luyến ái và 69% các ca nhiễm khác xảy ra trong thanh thiếu niên từ 13 – 19 tuổi

Theo 24h

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Nếu như trước đây, bệnh nhân đến bệnh viện Tâm thần TP.HCM khám và điều trị chủ yếu là thể tâm thần phân liệt và động kinh, còn những biểu hiện của stress, trầm cảm, suy nhược thần kinh… không nhiều, thì hiện nay các bệnh này đã ngày một nhiều hơn.

Các nghiên cứu từ Hong Kong, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á cho thấy, mất mát trầm trọng về tài chính, đặc biệt là mất việc làm dễ dẫn đến gia tăng bệnh tâm thần hoặc tự tử. Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, càng có nhiều người già không nơi nương tựa, bị bỏ quên, trẻ em phải đương đầu sớm với những khó khăn trong học tập, khả năng hoà nhập kém… cũng là những yếu tố dẫn đến rối loạn lo âu, trầm cảm và nhiều hệ luỵ khác.

Dấu hiệu bất thường

Sau đây là một số ít gợi ý về các biểu hiện bất thường trong hoạt động tâm thần hay gặp nhất:

Đối với bệnh tâm thần phân liệt: tự nhiên không muốn tiếp xúc, tự tách mình với mọi người và người thân, sao nhãng công việc, kể cả vệ sinh bản thân. Đôi lúc nói lầm thầm một cách bí ẩn hoặc khoe khoang, cự cãi những điều phi lý không có trong thực tế…

Đối với bệnh trầm cảm

Có biểu hiện stress không vượt qua được, rồi lo lắng những điều nhỏ nhặt mà trước đó có thể cho qua, khó ngủ, hay giật mình, thối chí, khó tập trung hoàn thành công việc, không ham muốn, lặng lẽ thở dài như than thân trách phận… Đây là những biểu hiện rất nguy hiểm. Đáng tiếc, vì công ăn việc làm, nhiều bệnh nhân trầm cảm cố gắng che giấu tình trạng bệnh của mình, chỉ đi khám khi đã quá nặng, nên phải tốn nhiều tiền và thời gian điều trị hơn.

benh_tam_than

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Trẻ già đều có thể bị

Thanh thiếu niên ngày nay cũng chịu nhiều áp lực nên có thể bị stress nhiều hơn và cũng bị trầm cảm như người lớn, nhưng cách thể hiện ra ngoài có khác đôi chút. Đó có thể là sinh hoạt thất thường, tự cư xử với bản thân đôi khi quá đáng, tự buông trôi hay ghét những gì trước kia là sở thích. Tất nhiên là học hành giảm sút, thầy cô phàn nàn… Lưu ý, nhiều bất thường trong hoạt động tâm thần ở thanh thiếu niên xuất phát từ gia đình. Có thể do phụ huynh chưa dành nhiều thời gian tìm hiểu kiến thức tâm sinh lý lứa tuổi con mình, do bận rộn làm việc để có nhiều tiền hơn cho cuộc sống hiện đại.

Còn ở người già, dễ thấy nhất là bắt đầu quên chỗ để đồ đạc của mình, quên lối đi, quên những điều con cháu nhắc nhở, thích nói chuyện ngày xưa, ăn cơm rồi mà nói chưa… Có người thì nét mặt ngơ ngơ, ngược lại có người hay nghi ngờ bị trộm tiền, thậm chí ghen ghét vô cớ, giận dỗi…

Điều trị: sớm dễ trễ khó

Điều trị bệnh tâm thần rất khó vì người bệnh ít tuân thủ uống thuốc, lại đòi hỏi điều trị thời gian dài nên chi phí nhiều. Cách điều trị tâm thần hiện đại là điều trị ngoại trú, phối hợp với nhiều biện pháp khác như dùng thuốc đặc trị, liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng, hoà nhập từ chính trong gia đình người bệnh tới khu dân cư, cộng đồng… Hiện đã có hầu như đủ các loại thuốc đặc trị đối với các loại bệnh tâm thần thường gặp, nếu được chẩn đoán và dùng đúng thuốc sớm, người bệnh có thể hồi phục. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh của mình và tuỳ tiện dùng các loại thuốc điều trị trầm cảm, stress… khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

Bệnh nhân tâm thần rất cần sự hỗ trợ, cảm thông từ cộng đồng. Do đó, nếu trong cuộc sống chúng ta gặp những biểu hiện như trên từ người thân, bạn bè hay đồng nghiệp… thì hãy cùng sẻ chia, tâm sự… để giúp họ giải toả cảm xúc. Xua tan muộn phiền, mệt mỏi cũng là một cách giảm bớt những triệu chứng về bệnh tâm thần trong nhịp sống hối hả của thời đại. Càng kỳ thị, càng phân biệt đối xử với người bệnh tâm thần thì chi phí chữa trị càng lớn.

Ngoài ra, gần đây nhiều người áp dụng các phương pháp phản khoa học để điều trị, cách này không những tốn công sức, tiền của mà còn tác hại rất lớn đến sức khoẻ, làm tình trạng bệnh nặng thêm.

Theo 24h

Nuôi con bằng sữa mẹ giảm bệnh trầm cảm khi trưởng thành

Tạp chí y học Psychotherapy and Psychosomatics của Mỹ số ra ngày 7/9 đăng tải nghiên cứu của các nhà khoa học Đức phát hiện thấy trẻ nuôi bằng sữa mẹ giảm nguy cơ bệnh trầm cảm khi trưởng thành. Kết luận này dựa vào nghiên cứu ở 52 người (tuổi trung bình 44) đã từng điều trị bệnh trầm cảm và 106 người không mắc bệnh. Kết quả phát hiện thấy nhóm người không mắc bệnh trầm cảm có 73% được nuôi bằng sữa mẹ khi mới sinh so với 46% ở nhóm mắc bệnh trầm cảm.

nuoi_con_bang_sua_me_giam_benh_tram_cam_khi_truong_thanh

Trong nghiên cứu các nhà khoa học cũng đã tính đến các yếu tố ngoại lai như tuổi tác, giới tính, điều kiện sống, thói quen cá nhân… Sau khi cân nhắc, các nhà khoa học cho rằng sở dĩ việc nuôi con bằng sữa mẹ giảm bệnh trầm cảm là do nhiều yếu tố mang tính tương hỗ, chẳng hạn như làm tăng tình mẫu tử, giúp xây dựng mối quan hệ tốt cho con người ngay từ khi lọt lòng. Ngoài ra, trong sữa mẹ còn chứa nhiều dưỡng chất giúp não phát triển theo một chiều hướng tích cực, giúp trẻ tăng trí thông minh, giảm béo phì, giảm tăng huyết áp và bệnh trầm cảm khi trưởng thành.

K.N (Theo MI , 9/2012)
Theo SKĐS

Trẻ tự kỷ ngày càng tăng qua các năm

Số trẻ mắc bệnh tự kỷ ở Việt Nam đang tăng nhanh qua các năm. Nếu như năm 2008 chỉ có 900 trẻ tới khám tại bệnh viện thì năm 2011 có tới 2.200 trẻ

su-gia-tang-ngay-cang-nhieu-o-tre-tu-ky

Thông tin trên được Th.S Nguyễn Thị Hồng Thuý, Khoa tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết tại hội thảo “Chứng tự kỷ – Những điều cần biết”, ngày 25/11.

Th.S Nguyễn Thị Hồng Thuý cũng cho biết, trong số những trẻ bị tự kỷ thì có khoảng 50% trẻ ở thể tự kỷ điển hình, còn lại là thể nhẹ và trung bình. Điều đáng chú ý chỉ có khoảng 30% số trẻ đã tái khám và theo dõi định kỳ.

Theo một nghiên cứu của Khoa Tâm bệnh, Bệnh viện Nhi Trung ương, 82% số cha mẹ khi biết con bị tự kỷ đã rơi vào trạng thái căng thẳng, lo âu, trầm cảm.

Th.S tâm lý lâm sàng Trần Văn Công, Đại học Vanderbilt, Hoa Kỳ cho biết, khoảng 1/3 số người tự kỷ bị động kinh, nếu không được điều trị sẽ làm suy giảm khả năng nhận thức, trí nhớ, giảm khả năng học tập và hoạt động…

Hiện nay, chưa có thuốc chữa tự kỷ và chưa thống nhất về nguyên nhân gây bệnh. Vì vậy, các chuyên gia tâm bệnh khuyến cáo cha mẹ không nên sử dụng các dịch vụ hoặc chuyên gia được quảng cáo là chữa khỏi được cho trẻ tự kỷ.

Mặc dù chưa thống nhất về nguyên nhân gây bệnh nhưng các nhà khoa học đang có xu hướng cho rằng, có nhiều nguyên nhân cùng tác động theo những cách phức tạp, để lại hệ quả trong cấu trúc hoặc chức năng của não bộ, gây ra tự kỷ.

Do đó, cách điều trị duy nhất không thể khắc phục mọi nguyên nhân. Thêm nữa, mức độ và đặc điểm tự kỷ ở từng trẻ khác nhau nên nhu cầu về trợ giúp, can thiệp và giáo dục cũng rất khác nhau, vì thế không thể có một phương pháp nào tốt cho mọi trẻ tự kỷ.

Theo Vnmedia