Tag Archives: bệnh tim

Hội chứng mệt mỏi kéo dài ở phụ nữ

Bạn luôn uể oải, mắt nặng trĩu cả khi vừa ngủ dậy? Suốt buổi sáng bạn ngáp dài, đến chiều tình hình còn tệ hơn dù có ngủ trưa? Đó là biểu hiện của hội chứng mệt mỏi kéo dài.

Biểu hiện của hội chứng này rất dễ nhận thấy: Lúc nào bạn cũng mệt mỏi. Ban ngày đi làm thấy mệt đã đành, tối đến bạn cũng uể oải khi ăn cơm, rồi thiếp đi khi bộ phim bạn yêu thích trên tivi đang ở đoạn hấp dẫn nhất. Đi khám, bác sĩ nói bạn không có bệnh gì, chỉ cần nghỉ ngơi nhiều hơn là sẽ khỏi. Và bạn thực sự lo lắng vì biết rằng nghỉ ngơi chẳng giúp ích gì, mỗi ngày bạn ngủ ít nhất 10 giờ đồng hồ đấy thôi.

hoi-chung-met-moi-keo-dai-o-phu-nu

Mệt mỏi là dấu hiệu ban đầu của rất nhiều bệnh. Đó có thể là dấu hiệu rõ ràng nhất của sự phiền muộn, ung thư, mất ngủ, thiếu máu, huyết áp thấp, nhiễm virus, bệnh lupus, bệnh đa xơ cứng, viêm khớp, mất cân bằng tai trong, giảm glucoza huyết, tăng huyết áp, bệnh tim… Nhưng mệt mỏi kéo dài là cơn mệt mỏi suy kiệt không thể giải thích được, kéo dài trên 6 tháng và không do bất kỳ một bệnh tật thể xác tiềm ẩn nào gây ra.

Bệnh nhân bị hội chứng trên thường có cùng một lúc các biểu hiện như đau họng, sưng tuyến nước bọt, sốt nhẹ, đau cơ và đôi khi rối trí. Những triệu chứng này lúc có, lúc không gây khó chịu cho việc chẩn đoán. Vì mệt mỏi là một triệu chứng rất chung nên các bác sĩ thường cho rằng những người quá mệt mỏi là do họ làm việc nhiều hoặc do phiền muộn.

Về nguyên nhân gây ra mệt mỏi kéo dài, có một thuyết cho rằng đó là một sự rối loạn chức năng miễn dịch cụ thể kéo dài, bắt đầu bằng việc nhiễm virus. Người ta ngờ rằng virus epstein-ban, coxsackie là thủ phạm của hội chứng trên, nhưng vẫn chưa chứng minh được chắc chắn.

Một số nghiên cứu cho rằng, các stress lớn như ly hôn, mất việc làm, mất người thân… là khởi nguồn của hội chứng mệt mỏi kéo dài, do stress làm yếu hệ thống miễn dịch.

Một nghiên cứu mới của Mỹ đã bước đầu đem lại một chút ánh sáng về căn bệnh này. Các nhà khoa học đã đo huyết áp của 23 người bị mệt mỏi kéo dài và nhận thấy 22 người có bất thường trong việc điều chỉnh huyết áp: Tim họ đập chậm lại vào đúng lúc lẽ ra phải đập nhanh hơn. Chẳng hạn khi nhấc một vật nặng, tim bạn phải đập mạnh hơn để bơm máu đi khắp cơ thể. Nhưng ở những bệnh nhân mệt mỏi kéo dài thì ngược lại.

Điểm lạ thứ hai là khi cho bệnh nhân nghiêng một góc 70 độ so với sàn nhà để giả định đã đứng một lúc lâu, thì hầu hết bệnh nhân đều bị tụt huyết áp. Họ cảm thấy choáng váng, yếu, buồn nôn và mệt mỏi, bơ phờ nhiều ngày sau đó. Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu phản ứng huyết áp thấp kể trên xảy ra nhiều lần trong ngày ở một mức độ nào đó có thể gây kiệt sức liên tục.

Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân trong nghiên cứu này đã được điều trị thành công bằng thuốc, tăng khẩu phần muối và nước để điều chỉnh huyết áp. 9 người đã hoàn toàn bình phục. 7 người thấy đỡ mệt hơn.

Theo các chuyên gia, bạn có thể bị hội chứng mệt mỏi kéo dài nếu có các dấu hiệu sau:

– Đột nhiên mệt mỏi triền miên, dai dẳng và không lý giải được.
– Dù đã nghỉ ngơi cũng không bớt mệt.
– Khó tập trung và ghi nhớ đến mức ảnh hưởng xấu đến năng lực làm việc.
– Đau các hạch bạch huyết ở cổ hoặc dưới cánh tay.
– Đau nhức các cơ nhưng không hề bị sưng hay tấy đỏ.
– Đau đầu dữ dội.
– Thức dậy sau một giấc ngủ dài cũng không thấy tỉnh táo hơn.

Cách điều trị hiện nay là làm giảm các triệu chứng. Chẳng hạn, dùng các thuốc chống viêm, giảm đau để điều trị cơn đau đầu và đau cơ; dùng thuốc chống phiền muộn để vực dậy tinh thần; tập thể dục thể thao, vật lý trị liệu, tập thở… để thư giãn cơ bắp và tinh thần… Kiên trì làm như vậy một thời gian, bệnh sẽ thuyên giảm và hết lúc nào không biết.

Theo sức khỏe đời sống

Phát hiện bệnh tim bằng kiểm tra huyết áp cả hai tay

Việc kiểm tra áp huyết cả 2 tay, thay vì chỉ một tay có thể giúp các bác sĩ phát hiện sớm bệnh tim tiềm ẩn.

Một nghiên cứu mới phát hiện, khi có sự khác biệt lớn giữa các số đo huyết áp ở 2 tay, những người dường như khỏe mạnh tăng hơn 1/3 nguy cơ bị bệnh tim, đột quỵ hoặc các vấn đề tim mạch tiềm tàng nguy cơ tử vong khác.

Theo thống kê ở Anh, mỗi năm, bệnh tim và đột quỵ đã cướp đi sinh mạng của hơn 160.000 người. Và cứ 7 phút, một ai đó ở đảo quốc sương mù lại chết vì bệnh tim. Trong khi đó, áp huyết cao tăng gấp 3 nguy cơ bệnh tim và đột quỵ, có thể gây hại thận và mắt, cũng như ngày càng có nhiều liên quan đối với chứng mất trí nhớ. Tuy nhiên, các triệu chứng cao huyết áp thường được nhận biết cho tới khi quá muộn.

do-huyet-ap

Các nhà nghiên cứu thuộc Trường Y, Đại học Havard (Mỹ) đã tiến hành đo huyết áp cả 2 tay cho gần 3.400 nam giới và phụ nữ có bề ngoài khỏe mạnh, từ 40 tuổi trở lên. Sự khác biệt nhỏ về số đo giữa tay phải và tay trái là bình thường. Trong nghiên cứu, áp huyết tâm thu thay đổi trung bình khoảng 5 điểm.

Tuy nhiên, ở 10% đối tượng nghiên cứu tồn tại sự khác biệt tới trên 10 điểm giữa số đo huyết áp tâm thu của 2 tay. Những người đàn ông và phụ nữ này đối mặt với việc tăng 38% nguy cơ bị bệnh tim, đột quỵ và các vấn đề liên quan trong 13 năm tới.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, nếu có khác biệt lớn giữa các số đo ở 2 tay, động mạch cung cấp máu cho cánh tay có chỉ số đo cao hơn nhiều khả năng bị mỡ làm tắc nghẽn. Đây là dấu hiệu cho thấy, các động mạch ở tim và não cũng lâm vào tình trạng tương tự, tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Khám phá trên hé lộ, một việc làm đơn giản, nhanh chóng và không đắt đỏ như đo thêm huyết áp cả 2 tay có thể cung cấp cho chúng ta những cảnh báo sớm, có giá trị về bệnh tiềm ẩn. Các dấu hiệu cảnh báo này sau đó có thể tạo ra những thay đổi đối với lối sống, nhằm cải thiện sức khỏe trái tim của họ.

Theo Daily Mail

Dấu hiệu bệnh thấp tim và lời khuyên của bác sĩ

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Dấu hiệu nhận biết

benh-thap-tim

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

Múa giật Sydenham: Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.

BS. Lê Hưng
Theo sức khỏe đời sống

Nguy cơ đột quỵ do hấp thụ nhiều muối

Các nhà nghiên cứu Mỹ cho rằng, ở người cao tuổi, lượng muối hấp thụ quá cao mỗi ngày có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Những nghiên cứu trước đó cho thấy, lượng muối đưa vào cơ thể quá nhiều có thể dẫn đến bệnh cao huyết áp, tuy nhiên chưa có nhận định hay giải thích nào trước đây về mối liên hệ giữa lượng muối cao và bệnh tim mạch và đột quỵ.

dot-quy

Kết quả nghiên cứu tiến hành trong 10 năm, với 2700 người cao tuổi tham gia cho thấy, tỉ lệ nhóm người có lượng muối cao, bị mắc bệnh đột quỵ cao gấp 3 lần so với nhóm người bình thường.

Hãng Reuters trích dẫn một công bố đăng tải trên tạp chí Đột quỵ của Mỹ ngày 26/4, cho biết lượng muối cao có thể nhanh chóng ảnh hưởng huyết áp, không giống với lượng muối có ảnh hưởng lâu dài đến bệnh tim mạch và đột quỵ, do vậy sẽ rất khó khăn để tìm ra mối liên quan giữa chúng.

Tổ chức y tế Thế giới khuyến cáo lượng muối tiêu thụ mỗi ngày tối đa không quá 2000mg. Tuy nhiên nghiên cứu mới nhất lại tham khảo số liệu “không quá 1500mg mỗi ngày” do Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo đưa ra. Nhưng lượng muối ăn trung bình của các đối tượng tham gia nghiên cứu là 3031mg.

Trong 10 năm, có khoảng 235 người thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu, bị đột quỵ. Cụ thể là 66 người trong 558 người có lượng muối trên 4000mg mỗi ngày, bị mắc bệnh đột quỵ; còn trong 320 người có lượng muối dưới 1500mg, chỉ có 24 người bị đột quy.

Đứng đầu dự án nghiên cứu, ông Hannah Gardner, cho biết “Lượng muối cao trong cơ thể tương đối phổ biến và có liên quan đến bệnh đột quỵ.” Ông cho rằng, mặc dù không thể ngay lập tức khẳng định lượng muối cao là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến đột quỵ, nhưng thực tế cho thấy sử dụng ít muối sẽ có cuộc sống khỏe mạnh hơn.

Mức albumin báo động nguy cơ bệnh tim

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, với bất kỳ lượng protein albumin đo lường được trong nước tiểu cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển các vấn đề về tim ở những bệnh nhân đái tháo đường típ 2.

Phát hiện trên vừa được công bố trên tạp chí Journal of the American Society of Nephrology (Mỹ) trực tuyến, có thể giúp xác định những bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nào cần được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Một số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có vấn đề về thận, dẫn đến làm tăng lượng protein albumin trong nước tiểu của họ, một tình trạng được y học gọi là albuminuria. Những bệnh nhân này có nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim – chẳng hạn như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim – cao hơn so với các bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu.

benh-tim

Theo đánh giá của giới chuyên môn, có ít nhất 90% bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu. Tuy nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu Ý muốn tìm hiểu ngay cả trong những trường hợp này có thể làm tăng nguy cơ bị các vấn đề về tim hay không.

Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học Ý đã xem xét mối liên quan giữa các mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim trong số hơn 1.200 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, trong khoảng thời gian 9 năm. Họ nhận thấy rằng, với bất kỳ lượng albumin nào đo lường được trong nước tiểu đều có liên quan với nguy cơ phát triển bệnh tim ở bệnh nhân đái tháo đường.

Các nhà nghiên cứu phát hiện, khi mức albumin bài tiết trong nước tiểu tăng lên, dẫn đến làm tăng nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim ở bệnh nhân. Ngay cả với mức thấp albumin bài tiết trong nước tiểu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cũng có liên quan đến tỷ lệ phát triển các vấn đề về tim.

Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra một nhóm bệnh nhân đái tháo đường típ 2 dùng thuốc điều trị cao huyết áp được gọi là thuốc ức chế ACE (thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin), trong suốt thời gian 9 năm. Họ không phát hiện có mối liên quan nào giữa các mức albumin bài tiết trong nước tiểu với nguy cơ bệnh tim ở nhóm bệnh nhân này.

Điều đó cho thấy rằng, các loại thuốc ức chế ACE có thể giúp bảo vệ tim ở cả hai nhóm bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin cao và nhóm bệnh nhân có mức albumin bình thường trong nước tiểu, tiến sĩ Giuseppe Remuzzi, thuộc Viện Nghiên cứu Dược lý Negri Mario ở Bergamo, Ý, và các cộng sự cho biết.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý, cần thực hiện thêm các cuộc nghiên cứu nữa để xác định mức albumin nào ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có thể được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Mặc dù phát hiện mối liên quan giữa mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2, nhưng nghiên cứu đã không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hai việc này.

Ngồi nhiều có thể mắc một số bệnh nguy hiểm

Theo các nhà nghiên cứu, ngồi suốt 8 tiếng một ngày bạn sẽ bị các vấn đề liên quan đến bệnh béo phì, tim mạch, cao huyết áp và mức cholesterol không bình thường.

Vì vậy, nếu bạn là một trong hàng triệu người đang ngồi nhiều giờ mỗi ngày tại công sở, bạn sẽ gặp một số vấn đề sức khỏe sau:

Bệnh tiểu đường

Những người ngồi hàng giờ trên ghế văn phòng có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hơn. Bạn có thể làm việc cả ngày, tuy nhiên, cứ sau mỗi nửa giờ bạn nên vận động 5 phút để giữ cho cơ thể vận động.

ngoi-qua-nhieu

Bệnh tim

Khi ngồi lâu, cơ bắp đốt cháy ít chất béo và chảy máu chậm chạp hơn, axit béo dễ dàng làm tắc nghẽn tim, dẫn đến bệnh tim mạch. Để tránh vấn đề này, hãy chắc chắn để cơ thể nghỉ ngơi sau mỗi 30 phút làm việc.

Tăng cân

Tăng cân là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất được thấy ở những người ngồi liên tục tại nơi làm việc. Bạn nên nghỉ ngơi 20 phút sau giờ ăn trưa để cơ thể có thời gian tiêu hóa thức ăn. Mặt khác, khi bạn cảm thấy đói, nhai kẹo cao su hoặc uống nước để không cảm thấy đói nữa.

Giãn tĩnh mạch

Giãn tĩnh mạch là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến, và vấn đề này càng trầm trọng hơn với những người ngồi hàng giờ tại bàn làm việc. Ngồi nhiều tạo nhiều áp lực ở chân, dẫn đến việc bạn ngồi sai tư thế.

Đau hông

Đau hông là vấn đề thường gặp ở phụ nữ. Đau hông làm tăng áp lực lên đầu gối và cột sống dẫn đến viêm gân. Những phụ nữ có hông rộng dễ gặp vấn đề sức khỏe này khi ngồi hàng giờ trên ghế.

Tổn thương các cơ quan trong cơ thể

Tuyến tụy sản xuất insulin, mang glucose cho các tế bào để cung cấp cho bạn năng lượng. Nhưng khi chúng ta ngồi quá lâu, cơ bắp không hoạt động, dẫn đến tuyến tụy sản xuất thừa insulin, dẫn đến tổn thương nội tạng này.

Đau cổ

Các vấn đề sức khỏe phổ biến nhất được thấy ở những người ngồi hàng giờ kéo dài tại nơi làm việc là đau cổ. Ngồi quá lâu dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ và sai tư thế vĩnh viễn.

Đau lưng

Thoát vị đĩa đệm và gai cột sống là hai trong số nhiều vấn đề sức khỏe có thể ảnh hưởng đến bạn khi ngồi hàng giờ trong văn phòng.

Ảnh hưởng đến lưu thông máu

Nếu bạn ngồi liên tục trong 4 tiếng, tuần hoàn máu trong cơ thể bạn sẽ bị ảnh hưởng. Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là vùng chậu và vùng chi dưới.

Nguồn vnexpress

Bệnh tim và chứng hồi hộp

Rất nhiều người tự hỏi: tại sao lại có hiện tượng hồi hộp và đánh trống ngực? Ngay cả một số thầy thuốc không phải chuyên khoa tim mạch thật sự cũng không biết nữa.

Hồi hộp còn gọi là đánh trống ngực là một triệu chứng hay gặp ở rất nhiều người bị bệnh tim và cả những người không bị bệnh tim nữa. Nó không phải là một triệu chứng đặc trưng cho một nhóm bệnh tim nào.

Triệu chứng này khi chẩn đoán là dấu hiệu của một bệnh về tim mạch cần phải kết hợp với những triệu  chứng khác như hay mệt, khó thở, phù chân… Việc quá lo âu với khả năng bị bệnh tim khi có cảm giác hồi hộp đánh trống ngực thường làm tăng tiết chất Epinephrine trong máu cộng với sự gia tăng hoạt động của hệ thần kinh thực vật  làm gia tăng nhịp tim và sự co bóp của cơ tim càng làm nặng thêm cảm giác hồi hộp của bệnh nhân và có thể đưa đến cảm giác khó thở, tức nghẹn vùng ngực nữa. Cảm giác này rất hay xảy ra vào ban đêm  hoặc khi bệnh nhân lo lắng.

benh-tim-va-chung-hoi-hop

Trong các điều kiện bình thường với những người khỏe mạnh  có týp thần kinh trung gian trầm tĩnh và cả một số người khác cũng không cảm giác thấy tiếng đập nhịp nhàng của trái tim. Họ chỉ có thể cảm thấy đánh trống ngực và hồi hộp khi đang ở tình trạng căng thẳng vì hoạt động gắng sức, hoặc do xúc động hay hoạt động tình dục. Kiểu hồi hộp và đánh trống ngực này mang tính chất sinh lý bình thường mà nguyên nhân của nó là sự hoạt động quá mức của tim làm tim đập nhhnh và tăng co bóp. Cảm giác này có thể xuất hiện do một số bệnh đi kèm như: sốt, thiếu máu nặng hay hội chứng cường giáp. Ngoài ra, nếu cảm giác hồi hộp đánh trống ngực xuất hiện trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nghĩ đến bệnh tim và cần phải đến khám thầy thuốc chuyên khoa tim mạch để có một chẩn đoán chính xác nhất.

Nguyên nhân về tim mạch hay gặp nhất với những bệnh nhân bị bệnh tim mạch là tình trạng rối loạn nhịp tim bao gồm tình trạng ngoại tâm thu, cơn nhịp nhanh kịch phát, rối loạn thần kinh tim… Những bệnh này có thể là nguyên phát nhưng cũng có thể là hậu quả của bệnh van tim, bệnh động mạch vành hay bệnh viêm cơ tim. Việc chẩn đoán những rối loạn nhịp gây ra triệu chứng hồi hộp đánh trống ngực thật ra không khó, chỉ cần đến khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch nghe tiếng tim, bắt mạch và đo điện tâm đồ. Tìm nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn nhịp tim có thể được xác định bằng việc siêu âm tim.

Tuy nhiên, có một số trường hợp không phải lúc nào bệnh nhân cũng có cảm giác hồi hộp đánh trống ngực thường xuyên mà chỉ xảy ra vào một vài thời điểm trong ngày nhất là vào ban đêm thì khi khám bệnh thông thường người thầy thuốc cũng không phát hiện ra. Khi đó, nghiệm pháp đo điện tim 24 giờ sẽ cho kết quả chẩn đoán chính xác nhất. Bệnh nhân được đeo một máy điện tim nhỏ, gắn các điện cực vào vùng trước tim và sinh hoạt bình thường. Tất cả các hoạt động điện của tim sẽ được máy điện tim ghi nhận và lưu trữ trong đĩa cứng của máy. Ngày hôm sau, những kết quả này sẽ được truyền qua máy tính và nhờ một chương trình đặc hiệu những rối loạn nhịp tim sẽ được ghi nhận.

Việc điều trị chứng hồi hộp đánh trống ngực không phải là dễ dàng. Việc đầu tiên là phải giải tỏa tình trạng lo âu quá đáng của bệnh nhân bằng liệu pháp tâm lý để cắt đứt bớt một phần vòng luẩn quẩn bệnh lý của chứng hồi hộp. Sau đó là sử dụng các loại thuốc chống loạn nhịp và thuốc ức chế việc tăng tiết quá đáng chất Adrenaline va Epinephrine của bệnh nhân. Tất nhiên là phải điều trị các bệnh khác gây ra tình trạng này như sốt cao, hội chứng cường giáp, thiếu máu nặng và các bệnh tim như suy tim, viêm cơ tim, thiếu máu cơ tim… Một số trường hợp phải can thiệp bằng thủ thuật cắt đốt hệ thần kinh tự chủ của tim.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Theo SKDS

Để hạn chế bệnh tim do tăng huyết áp

Tăng huyết áp dẫn đến rất sớm những thay đổi hình thái và nhất là chức năng của thất trái, đó là bệnh tim do tăng huyết áp. Tiên lượng xấu, vì vậy phải sớm chữa tăng huyết áp để giảm phì đại thất trái. Nói chung, một phần ba số người tăng huyết áp mắc phải bệnh tim do tăng huyết áp. Chẩn đoán dựa vào điện tâm đồ và siêu âm sẽ thấy dày thất trái và phì đại thất trái.

dinh-duong-khoa-hoc-duy-tri-he-tim-mach-khoe-manh

Dày thất trái chủ yếu là nguồn gốc của 3 biến chứng: loạn nhịp, thiếu máu cục bộ cơ tim và suy tim. Loạn nhịp có 2 thể: Trên thất: ngoại tâm thu trên thất và các cơn rung nhĩ có liên hệ với giãn nhĩ trái gắn liền với tăng áp suất cuối tâm trương của thất trái; Thất: ngoại tâm thu thất trái, cảnh giác đột tử.

Thiếu máu cục bộ cơ tim: Tăng huyết áp tạo thuận lợi hẹp do vữa ở các động mạch vành. Tiên lượng sẽ xấu nếu thiếu máu cục bộ cơ tim xảy ra trên một thất trái phì đại. Ngoài ra, tăng huyết áp kéo theo những thay đổi hình thái và chức năng động mạch vành màng ngoài tim, các tiểu động mạch và cả các mao mạch của cơ tim; nội mô không còn đáp ứng các chức năng giãn mạch, thành mạch dày ra làm giảm dự trữ mạch vành, các mao mạch dưới màng trong tim bị áp suất nội hang mạnh đè bẹp và xơ hóa. Như vậy, xuất hiện thiếu máu cục bộ cơ tim sớm ở bệnh nhân cao huyết áp có thất trái phì đại.

Suy tim: tăng huyết áp làm thất trái phải cố gắng co bóp mạnh hơn để đẩy máu ra, lâu ngày làm dày thất trái, rồi phì đại thất trái. Hậu quả kế tiếp là nhĩ trái to ra dẫn đến suy tim trái. Nếu không điều trị hoặc điều trị kém sẽ dẫn đến suy tim toàn bộ.

Về mặt điều trị, nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thuốc ức chế men chuyển có khả năng mạnh nhất giảm phì đại thất trái (đồng thời làm hạ huyết áp). Những thuốc ức chế men chuyển hiện nay đang được dùng phổ biến là: captopril, enalapril, lisinopril…

BS. Ngô Văn Tuấn
Theo SKDS

Chăm sóc trẻ em mắc bệnh tim

Hầu hết trẻ có bệnh tim thường bị suy dinh dưỡng, suy kiệt, rất khó tăng cân, điều này ảnh hưởng nhiều đến việc phẫu thuật tim của trẻ. Vì vậy làm thế nào để nuôi trẻ cho đủ dinh dưỡng, tăng cân tốt để được phẫu thuật sớm, muốn làm được điều này, Vì sao trẻ mắc bệnh tim thường suy dinh dưỡng?

Về cơ bản, các thành phần dinh dưỡng trong mỗi bữa bú hoặc ăn của trẻ mắc bệnh tim không khác gì so với trẻ bình thường.

Với trẻ bú mẹ do mắc bệnh tim trẻ thường bị khó thở nên khi bú và uống sữa rất khó khăn và rất kém làm cho trẻ khó tăng cân như những trẻ khỏe mạnh khác.

Với trẻ lớn hơn, khi mắc bệnh tim theo chỉ định của các bác sĩ trẻ phải ăn nhạt, không nêm mắm muối khiến trẻ ăn không ngon miệng và chán ăn nên dễ bị suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, với trẻ mắc bệnh tim thì hệ thống đường tiêu hóa và gan mật của trẻ có những rối loạn khiến trẻ không hấp thu được các chất ăn vào cơ thể hoặc trẻ có thể có những dị tật bẩm sinh ở đường tiêu hóa – gan mật đi kèm làm trẻ không tiêu hóa được thức ăn, nên trẻ bị suy dinh dưỡng.

cham-soc-tre-em-mac-benh-tim

Thành phần dinh dưỡng

Nếu trẻ suy dinh dưỡng, phải sử dụng những loại sữa có năng lượng cao, những thực phẩm giàu năng lượng (giàu chất béo). Số lượng thức ăn hoặc sữa ăn vào không thay đổi nhưng trẻ được cung cấp dinh dưỡng cao hơn bình thường, giúp trẻ tăng cân nhanh hơn. Tuy nhiên, do hệ tiêu hóa của trẻ mắc bệnh tim, nhất là trẻ có suy tim hoặc tim bẩm sinh… thì khả năng hấp thu thức ăn kém, nên khi ăn những thực phẩm hoặc uống sữa giàu năng lượng, trẻ có thể bị tiêu chảy, trong trường hợp này cần giảm bớt lượng thức ăn và cần có chỉ định của bác sĩ dinh dưỡng.

Đối với trẻ đã ăn dặm cần phải ăn nhạt, như vậy trẻ sẽ rất chán ăn. Nếu trẻ lớn có thể dễ chấp nhận chế độ ăn này sau khi nghe giải thích. Nhưng trẻ nhỏ dưới 3 tuổi thường không hiểu nên nếu cho trẻ ăn nhạt trẻ sẽ từ chối và không ăn. Trong những trường hợp này cần sự tư vấn của bác sĩ để giúp cha mẹ cho trẻ ăn bình thường và bác sĩ sẽ cho trẻ uống thêm thuốc.

Ngoài ra, với những trẻ sử dụng thuốc lợi tiểu như lasix (furosemide) sẽ dễ bị thiếu chất kali, nên ăn thêm những thực phẩm giàu kali như cam, chuối, nho, đu đủ, nước dừa,…

Cách cho trẻ bú và ăn theo từng độ tuổi:

Đối với trẻ còn bú mẹ: Khi cho trẻ ăn hoặc bú phải nâng cao đầu trẻ lên, tránh nôn và sặc sữa. Không cho trẻ bú hoặc ăn quá no vì trẻ rất khó tiêu hóa nên sẽ dễ bị nôn. Chia bữa ăn hoặc số lần bú ra nhiều lần hơn so với bình thường… Các bữa ăn cụ thể như sau:

Trẻ dưới 6 tháng

– Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn, bất cứ khi nào trẻ muốn, cả ngày lẫn đêm, ít nhất 8 lần mỗi ngày.

– Đối với trẻ 4 – 6 tháng tuổi, chỉ cho trẻ ăn thêm nếu thấy trẻ: Vẫn còn đói sau mỗi lần bú;  Không tăng cân như bình thường, có thể bắt đầu cho trẻ tập ăn dặm từ 1 đến 2 bữa bột, loãng đến đặc dần, với đầy đủ thành phần giống như bột của trẻ 6 – 12 tháng tuổi.

Trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi
 – Cho trẻ bú mẹ cả ngày lẫn đêm, bất cứ khi nào trẻ muốn.

– Cho trẻ ăn dặm các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, với đầy đủ thành phần trong 4 ô vuông thức ăn (xem ảnh).

–  Cho trẻ ăn dặm 3 bữa mỗi ngày nếu trẻ còn bú mẹ; 5 bữa mỗi ngày nếu trẻ không còn bú mẹ; Mỗi bữa 3/4 đến 1 bát con các thức ăn này.

– Cho trẻ ăn thêm các loại hoa quả sẵn có ở địa phương như chuối, đu đủ, cam, xoài…

Trẻ từ 12 tháng đến 2 tuổi
– Tiếp tục cho trẻ bú mẹ bất cứ lúc nào trẻ muốn.

– Cho trẻ ăn dặm các thức ăn giàu chất dinh dưỡng, với đầy đủ thành phần trong 4 ô vuông thức ăn (xem ảnh).

– Cho trẻ ăn dặm 3 – 5 bữa mỗi ngày; mỗi bữa 1 đến 1 bát rưỡi các thức ăn này.

– Cho trẻ ăn thêm các loại hoa quả sẵn có ở địa phương như chuối, đu đủ, cam, xoài…

– Không cho trẻ bú bằng bình sữa mà cho trẻ uống bằng thìa hoặc cốc.
Trẻ từ 2 tuổi trở lên

–  Cho trẻ ăn 3 bữa cùng gia đình, ăn các thức ăn đầy đủ chất dinh dưỡng trong 4 ô vuông thức ăn (xem ảnh);  Xen giữa các bữa chính nên cho trẻ ăn thêm ít nhất 2 bữa phụ là sữa, bánh, phở, mỳ, cháo…

– Cho trẻ ăn thêm các loại hoa quả sẵn có ở địa phương như chuối, đu đủ, cam, xoài…

Theo suckhoedoisong.vn

Stress có thể giúp tăng trí nhớ

Trong khi căng thẳng kinh niên có thể làm tăng nguy cơ đau tim và làm ảnh hưởng tới hệ miễn dịch, thì các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng, các số nguyên tố căng thẳng trong thời gian ngắn (cấp tính) giúp não cải thiện “sức khỏe” – đặc biệt là nâng cao trí nhớ.

Trong nhiều thử nghiệm trên chuột, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các yếu tố làm căng thẳng trong thời gian ngắn làm các tế bào gốc trong não chuột biến thành tế bào thần kinh mới, và hai tuần sau khi lớn lên nó sẽ có tác dụng cải thiện tinh thần của chúng.

stress-co-the-giup-tang-tri-nhoCăng thẳng trong thời gian ngắn có thể nâng cao trí nhớ nhưng những căng thẳng mãn tính có thể làm suy giảm trí nhớ.

“Bạn luôn luôn suy nghĩ về căng thẳng như là một điều thực sự xấu, nhưng không phải như vậy” – Daniela Kaufer, Giáo sư sinh học tích hợp tại Đại học California, Berkeley cho biết: “Một chút căng thẳng có thể tốt trong hành vi và khả năng nhận thức. Tôi nghĩ những căng thẳng liên tục có thể giúp giữ cho não tỉnh táo hơn, và bạn chỉ thực hiện tốt hơn khi bạn tỉnh táo”.

Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng, stress mãn tính, kéo dài sẽ nâng cao mức độ của kích thích tố căng thẳng, làm ngăn cản quá trình tạo các tế bào thần kinh mới trong vùng hippocampus, làm suy giảm trí nhớ.

“Mọi người đều biết mức độ mãn tính cao của kích thích tố căng thẳng làm tăng nguy cơ béo phì, bệnh tim và trầm cảm. Nhưng ít ai được biết đến về những ảnh hưởng của stress cấp tính”, Giáo sư Kaufer nói.

Nguồn giáo dục

Tim bẩm sinh

Nguyên nhân và biểu hiện bệnh tim bẩm sinh: Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là các dị tật ở tim của trẻ (có thể tại vách tim hay van tim và các mạch máu lớn) đã xảy ra trong thời kỳ bào thai, trước khi trẻ được sinh ra (thường xảy ra trong tám tuần lễ đầu tiên của quá trình phát triển bào thai).

Nguyên nhân bệnh tim bẩm sinh:

Từ ngày thứ 25 sau khi thụ tinh, ở bào thai đã bắt đầu hình thành hệ tuần hoàn. Đến tuần thứ 8, quả tim đã được tạo ra hoàn chỉnh. Vì vậy, các tác động từ bên ngoài trong thời gian này đều có thể để lại những dị tật cho tim.

Theo thống kê tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ TP HCM, bệnh tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ 0,8% trong các trường hợp mang thai đầu tiên và 2-6% các trường hợp mang thai lần 2. Nếu trong gia đình đã có 2 người có dị tật tim bẩm sinh, nguy cơ này ở đứa trẻ sẽ ra đời là 20-30%.

tim-bam-sinh

Có đến 50% trường hợp bệnh tim bẩm sinh không xác định được nguyên nhân; số còn lại do 2 nguyên nhân sau:

– Di truyền: Do đột biến gene hay đột biến nhiễm sắc thể trong quá trình mang thai, hoặc di truyền từ thế hệ trước.

– Tác động của môi trường: Do lúc mang thai, người mẹ mắc bệnh, bị nhiễm trùng, nhiễm virus (đặc biệt là cúm và Rubeole), uống rượu quá nhiều, ngộ độc hóa chất và các thuốc chữa bệnh hoặc bị ảnh hưởng của tia phóng xạ.

Các dấu hiệu bệnh tim bẩm sinh:

Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh nhưng không có biểu hiện gì do dị tật không nặng, chỉ tình cờ được phát hiện khi khám sức khỏe hoặc khám vì một lý do khác.

Một số dị tật khác cũng hay đi kèm với bệnh Tim bẩm sinh như: hội chứng Down, sứt môi – chẻ vòm, thiếu hoặc thừa ngón tay – ngón chân, tật đầu to, đầu nhỏ … Tốt nhất gia đình cần đưa trẻ đi khám bệnh ngay nếu phát hiện bé có những triệu chứng khác lạ sau:

– Trẻ hay bị ho, khò khè tái đi tái lại, thở khác thường (thở nhanh, lồng ngực rút lõm khi hít vào), thường bị viêm phổi.

– Trẻ có làn da xanh xao, lạnh, vã mồ hôi. Trẻ bị tím môi, đầu ngón tay, ngón chân, tăng lên khi khóc, khi rặn,

– Trẻ bú hoặc ăn kém, chậm lên cân, thậm chí không tăng cân hay sụt cân. Trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường (chậm mọc răng, chậm biết lật, bò).

Tim bẩm sinh và các chứng bệnh lý

Trẻ có tật tim bẩm sinh là trẻ khi mới vừa sinh ra đã có những bất thường trong cấu trúc của buồng tim, các vách ngăn trong tim, các van tim, những mạch máu lớn xuất phát từ tim.

Loại bất thường bẩm sinh của tim thường gặp nhất là khuyết tật của vách ngăn hai tâm thất. Một loại khuyết tật ít khi gặp khác là còn ống động mạch – mạch máu trong bào thai làm thông thương giữa động mạch phổi và động mạch chủ lại không đóng lại sau khi sinh). Các khuyết tật thông thường khác là hở vách ngăn tâm nhĩ – các phòng trên của tim, hẹp van động mạch chủ, hẹp van phổi.

Các khuyết tật rất hiếm khác nhưng lại rất trầm trọng như thay đổi vị trí các động mạch chính: động mạch chủ và động mạch phổi đổi chỗ lẫn nhau; hẹp động mạch chủ, và tứ chứng Fallot gồm có khuyết tật của vách ngăn tâm thất, hẹp động mạch phổi, động mạch chủ ở sai vị trí và dày tâm thất phải.

Theo chữa bệnh

Tăng huyết áp thai kỳ làm gia tăng bệnh tim mạch

huyet-ap-thai-ky-la-nguyen-do-tu-tim-mach
Tạp chí Cireulation số cuối tháng 2/2013 đăng tải nghiên cứu của Viện Y học quốc gia Mỹ (NIH) cho biết, phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh tăng huyết áp thì rủi ro bệnh tim mạch vào cuối đời cao hơn so với những người không mắc bệnh này. Trước phát hiện nói trên, khoa học cũng đã phát hiện thấy bệnh huyết áp thai kỳ là thủ phạm làm gia tăng bệnh tim và bệnh thận. Người ta gọi đây là căn bệnh liên quan đến mang thai, nhất là tăng huyết áp, căn bệnh có thể đo kiểm được bình thường và bằng cách xét nghiệm protein có trong nước tiểu. Trong nghiên cứu của NIH, các nhà khoa học đã rà soát lại số liệu của những phụ nữ sinh con từ năm 1966, một nhóm phụ nữ mang thai người Hà Lan tình nguyện tham gia nghiên cứu và được chia thành 2 nhóm, nhóm tăng huyết áp và nhóm huyết áp bình thường. Kết quả, 1/3 phụ nữ có ít nhất một lần tăng huyết áp thai kỳ. Nhóm mắc bệnh tăng huyết áp thai kỳ có rủi ro mắc bệnh tim cao hơn 14% so với nhóm không bị tăng huyết áp vào cuối đời, tỷ lệ tử vong cao 2 – 5 lần so với người không tăng huyết áp; mức độ sử dụng thuốc chữa tăng huyết áp vào cuối đời tăng từ 1,6 – 2,5 lần so với nhóm không bị tăng huyết áp, 1,4 – 2,2 lần rủi ro mắc bệnh đái tháo đường, 1,9 – 2,8 lần bị bệnh thận vào cuối đời so với nhóm không bị tăng huyết áp.

Khắc Hùng

(Theo FC, 2/2013)

Gia tăng bệnh tim mạch do thực phẩm xấu

benh-tim-mach-do-cac-thuc-pham-xau

Thông thường, thịt nạc có hàm lượng mỡ và cholesterol thấp,  protein cao nên được xem là có lợi cho sức khỏe, nhưng ăn nhiều, đặc biệt là thịt đỏ trong bối cảnh nhiễm khuẩn và các hóa chất độc hại do chăn nuôi sẽ gây phản tác dụng, gây tắc nghẽn mạch máu. Đó là phát hiện mới của các chuyên gia ở Bệnh viện Clereland Mỹ (CC) công bố đầu tháng 4 vừa qua trên tạp chí Nature Medicine. Theo nghiên cứu này, những loại khuẩn xấu, hóa chất độc hại có trong thịt đỏ và cách chế biến không hợp lý sẽ gây tác động xấu đến quá trình chuyển hóa của cơ thể. Có 77 người tình nguyện tham gia nghiên cứu được ăn nhóm thịt đỏ giàu chất đạm và 26 người ăn chay. Kết quả, nhóm ăn thịt trong máu gia tăng hợp chất TMAO (trimethylamine-N-oxide), thủ phạm làm tăng quá trình chuyển hóa cholesterol, hạn chế việc khử cholesterol trong thành mạch máu của con người. Ngoài ra, các nhà khoa học còn xét nghiệm phân, kết quả trong phân thải của người ăn nhiều thịt đỏ cũng có số lượng khuẩn xấu cao hơn rất nhiều so với nhóm người ăn chay.

NG. NAM (Theo MD/FC/DC, 4/2013)

Trầm cảm có thể gây ra nhiều nguy hiểm

Bệnh trầm cảm là một biểu hiện của bệnh tâm thần. Bệnh có thể gặp ở bất kì đối tượng nào. Những người thường xuyên gặp áp lực trong cuộc sống, công việc mà không thể giải tỏa thường có nguy cơ rơi vào trạng thái trầm cảm cao.

Ngoài ra, bệnh trầm cảm còn có thể gây ra một loạt các bệnh mãn tính và cấp tính khác như suy giảm hệ miễn dịch, mất ngủ, bệnh tim, đau lưng…

Dưới đây là những hệ quả mà bệnh trầm cảm có thể gây ra cho bạn. Hãy tham khảo để biết cách giải tỏa tâm lý cho mình và khỏe mạnh hơn nhé.

1. Bệnh tim

Bệnh trầm cảm có thể có ảnh hưởng khủng khiếp trên trái tim của bạn. Nếu mức độ trầm cảm là quá nghiêm trọng, nó thậm chí có thể gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim. Đó là bởi vì, khi bạn chán nản, cơ tim của bạn dễ bị viêm do thiếu oxy, có thể dẫn đến cơn đau tim. Vậy nên, những bệnh nhân có vấn đề về tim nên cẩn thận để tránh bệnh trầm cảm dù là trầm cảm ở mức nhẹ nhất.

nhung-nguy-hiem-cho-suc-khoe-do-benh-tram-cam-gay-ra

2. Giảm sức mạnh của hệ miễn dịch

Liên tục bị trầm cảm có thể làm suy yếu sức mạnh của hệ thống miễn dịch và khiến bạn dễ bị cảm lạnh và cúm hơn. Hệ thống miễn dịch bị suy giảm là do hormone gây stress được sản sinh và tồn tại lâu dài trong cơ thể. Điều này cũng giải thích tại sao ngày nay chúng ta dễ bị cảm lạnh và cúm thường xuyên hơn, đó là bởi vì chúng ta thường hay rơi vào trạng thái căng thẳng và chán nản.

3. Mất đi cảm giác ngon miệng

Khi bạn đang chán nản, trầm cảm hay căng thẳng, bạn sẽ có hai xu hướng ăn uống: ăn rất nhiều hoặc là không là không ăn gì cả. Thay đổi trong thói quen ăn uống sẽ dẫn đến thay đổi về cơ chế trao đổi chất và có ảnh hưởng đến sự thèm ăn của bạn, từ đó có thể khiến bạn tăng hoặc giảm cân nhanh chóng.

4. Mất ngủ đêm

Khi bạn chán nản, có thể bạn sẽ cảm thấy khó ngủ do tâm trí bạn không bình tĩnh, liên tục suy nghĩ. Giấc ngủ của bạn cũng dễ bị gián đoạn, dễ tỉnh giấc giữa đêm và khó ngủ trở lại. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và sự tỉnh táo của bạn, thậm chí còn làm cho tình trạng căng thẳng tăng lên.

5. Nhức đầu và đau lưng

Bệnh trầm cảm thậm chí có thể gây ra đau đầu và đau nhức lưng. Mặc dù bệnh trầm cảm không trực tiếp gây ra đau lưng nhưng nó có thể dẫn đến các hậu quả khác là tăng cân, giảm cân, căng thẳng về thể chất, thiếu ngủ, dinh dưỡng thấp, cơ thể mất nước… và các hệ quả này sẽ kéo theo hệ quả khác là đau đầu và đau lưng.

6. Biến động trong áp lực máu

Khi bạn đang chán nản, cơ thể của bạn tự nhiên phát hành hormone stress như cortisol và epinephrine. Những hormone căng thẳng này có thể ảnh hưởng đến huyết áp và nhịp tim, làm cho động mạch của bạn bị yếu đi. Điều này dẫn đến việc hình thành các mảng bám trong động mạch, ngăn chặn lưu lượng máu và cuối cùng gây ra các cơn đau tim và đột quỵ.

7. Mệt mỏi

Khi bạn đang chán nản, bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và mất năng lượng nhanh hơn. Bạn sẽ không thể thực hiện thậm chí các hoạt động đơn giản do không đủ năng lượng. Tuy nhiên, sự mệt mỏi cũng có thể là do thiếu ngủ hoặc đau nhức.

8. Giảm ham muốn tình dục

Những người đã bị bệnh trầm cảm một thời gian dài có thể gặp rắc rối trong đời sống tình dục, cụ thể là trầm cảm làm suy giảm ham muốn tình dục. Đối với nam giới, hậu quả của bệnh trầm cảm gây ra cho đời sống tình dục có thể là không xuất tinh, với nữ giới là bôi trơn âm đạo không đủ, xuất tinh sớm và rối loạn chức năng cương dương.

Nguồn afamily

Điểm danh những yếu tố đe dọa sức khỏe dân công sở

1. Thiếu ngủ

Thiếu ngủ trong thời gian dài sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, trầm cảm và béo phì, thiếu ngủ có thể làm hại chức năng nhận thức, trí nhớ và hệ miễn dịch, đồng thời còn dẫn tới các tại nạn giao thông. Ngủ không đủ còn làm thay đổi nhịp điệu của sự trao đổi chất, giảm cảm giác ngon miệng.

Người trưởng thành nên đảm bảo ngủ tối thiểu 6,5 tiếng/ngày.

Giải pháp: Nên ngủ ở những nơi ít tiếng ồn, ít ánh sáng. Giảm các hoạt động như online, lướt facebook, đánh máy… trước khi ngủ, duy trì thời gian ngủ cố định.

2. Thiếu chất

Ăn kiêng để giảm béo nên dễ khiến cơ thể thiếu một số chất dinh dưỡng nào đó hoặc thiếu năng lượng. Người lớn mỗi ngày tối thiểu cần 1500kcal, nếu khối lượng công việc nhiều, thì cần khoảng 2000kcal, liên tục bổ sung dinh dưỡng là điều kiện làm việc đạt hiệu quả tối đa.

8-sat-thu-de-doa-suc-khoe-cua-dan-cong-so

Giải pháp: Bữa sáng là bữa quan trọng nhất trong ngày, nhịn ăn sáng có thể khiến bạn hạ đường huyết, dẫn tới thiếu máu hoặc tinh thần giảm sút. Bữa sáng nên ăn những món ít béo, ít muối, nhiều chất xơ, hoa quả, sữa và một số loại thịt và trứng.

3. Thiếu máu

Người thiếu máu không thể được cung cấp đủ oxy, năng lượng cơ thể thiếu sẽ cảm thấy yếu ót, chóng mặt, lo lắng, nếu kéo dài móng tay trở nên rất yếu, sắc mặt nhợt nhạt, thiếu sức sống. Thiếu máu còn khiến não thiếu oxy, trí nhớ kém, hay quên, rối loạn tâm thần và trầm cảm.

Giải pháp: Nên ăn nhiều thịt nạc, gan, sò ốc và ngũ cốc, những thứ này có thể xoa dịu triệu chứng mệt mỏi do thiếu máu gây ra.

4. Trầm cảm

Cơ thể liên tục mệt mỏi và thiếu sức sống có thể khiến bạn mất hứng thú với nhiều việc, hay quên đặc biệt không có những quyết định sáng suốt.

Những người bị trầm cảm thường bị mệt mỏi mãn tính, rối loạn giấc ngủ, khó ngủ, tâm trạng tệ, bất lực, hay khóc, thường muốn tự sát, phải cố gắng rất nhiều mới giải quyết được các công việc hàng ngày, không thể kiểm soát được suy nghĩ.

Giải pháp: Tự đánh giá trạng thái tinh thần tâm lý để điều chỉnh. Nghiêm trọng hơn đến bệnh viện kiểm tra tâm lý.

5. Suy giảm chức năng tuyến giáp

Cảm thấy mệt mỏi khi dậy vào buổi sáng. Dù ngủ 10 tiếng/ngày vẫn không thèm ngủ hoặc nếu không thiết đi một lát sẽ không thể tiếp tục công việc, các triệu chứng này có thể do sự suy giáp gây ra. Còn những người bị cường giáp có thể do buổi tối mất ngủ khiến ban ngày cảm thấy mệt.

Giải pháp: Hãy đi xét nghiệm máu và tự điều chỉnh đồng hồ sinh học của mình.

6. Mất nước

Cơ thể mất nước thể nhẹ sẽ gây mệt mỏi, bởi vì khi thiếu nước lưu lượng máu giảm xuống, lúc này tim phải tăng nhịp đập để duy trì đủ lượng máu. Đừng đợi đến khi khát mới uống nước, bởi vì khi bạn thấy khát, tức là cơ thể bạn đã mất đi 2-3% lượng nước.

Giải pháp: Hãy uống đủ lượng nước cần thiết. Bởi vì nước có thể tăng sức sống cho hemoglobin, cải thiện chức năng miễn dịch.

7. Bệnh tim

Mệt mỏi chính là dấu hiệu cơ thể bắt đầu thiếu oxy, do cảm giác mệt mỏi thường hay gặp nên ít người để ý. Triệu chứng mệt mỏi do bệnh tim gây ra thường khiến tuần hoàn máu kém, chất thải của sự trao đổi chất có thể tích lũy trong cơ thể, kích thích các dây thần kinh gây mệt mỏi.

Giải pháp: Để ý xem cơ thể có mệt mỏi và bị rối loạn giấc ngủ hay không, để sớm phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh tim.

8. Hội chứng mệt mỏi và hội chứng đau xơ cơ

Hội chứng đau xơ cơ là bệnh viêm khớp dạng thấp, 90% người bệnh gặp khó khi ngủ; trên 50% người bệnh cảm thấy mệt mỏi. Triệu chứng thường nặng hơn khi thời tiết chuyển lạnh, tâm lý căng thẳng, mệt mỏi quá mức. Nếu bạn thường xuyên thấy mệt mà không rõ nguyên nhân, hãy đi bệnh viện kiểm tra xem có mắc chứng đau xơ cơ hay không.

Giải pháp: Nên dành 30 phút đạp xe/ngày để giảm bớt tình trạng mệt mỏi của cơ thể.

Nguồn afamily

Tìm hiểu về chứng viêm

Chứng viêm là một trong những vấn đề sức khỏe ít được mọi người quan tâm. Nhưng nếu không điều trị, bệnh có thể chuyển sang nhiễm trùng, đe dọa sức khỏe của bạn.
Chứng viêm là hiện tượng xảy ra ở tổ chức tế bào, là phản ứng phòng vệ của cơ thể khi cơ thể bị tấn công, kích thích bởi bên ngoài lên cơ thể thông qua phản xạ của hệ thần kinh. Chứng viêm có thể có biểu hiện là sưng, ứ động dịch, phù, xung huyết, mạch ứ đầy máu…

Chứng viêm có thể do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus, kí sinh trung gây nên.

Nhiều người cho rằng chứng viêm chỉ xuất hiện ở một thời điểm nhất định nào đó. Tuy nhiên, chứng viêm hay phản ứng của cơ thể với vết thương hay nhiễm trùng lại có liên quan tới các bệnh như viêm khớp, bệnh tim, tiểu đường, thậm chí là ung thư. Vậy bạn phải làm gì để ngăn ngừa chứng viêm?

1. Ăn nhiều hoa quả và rau xanh

tim-hieu-ve-chung-viem

Các sản phẩm chống viêm hoặc các chất hóa học có nguồn gốc thảo dược thường có chứa chất chống oxy hóa. Theo các nhà nghiên cứu khoa học thì các chất chống oxy hóa có khả năng làm giảm nguy cơ của chứng viêm trong cơ thể.

Ví dụ, uống một cốc trà dâu tây mỗi ngày sẽ cung cấp cho bạn 150% lượng vitamin C bạn cần mỗi ngày. Vitamin C cũng là một trong các chất chống oxy hóa có tác dụng phòng ngừa chứng viêm trong cơ thể rất hiệu quả.

2. Không nên ăn nhiều đường

Đường sẽ ảnh hưởng đến tuyến thượng thận – cơ quan kiểm soát căng thẳng trong cơ thể. Do vậy, khi tuyến thượng thận bị suy giảm chức năng hoạt động, khả năng đối phó với căng thẳng của bạn cũng sẽ giảm dần theo thời gian. Đây cũng chính là lý do khiến cơ thể khó chống lại nguy cơ bị viêm bên trong.

Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi chúng ta căng thẳng, lượng cortisol trong cơ thể chúng ta sẽ tăng, mà cortisol là một trong những hormone tác động đến chứng viêm trong cơ thể. Lượng cortisol tăng tức là nguy cơ bị viêm cũng tăng lên. Do đó, để cơ thể khỏe mạnh và không mắc phải chứng viêm thì bạn không nên ăn nhiều đường.

3. Uống thuốc đúng liều

Aspirin là thốc chống viêm và uống thuốc này có thể giúp duy trì các tiểu huyết cầu trong máu. Nếu bạn đã được bác sĩ kê cho đơn thuốc có loại thuốc này thì bạn nên uống đều đặn cho đến hết, vì các thuốc đó sẽ giúp bạn giảm tình trạng bị viêm cũng như nguy cơ về bệnh tim mạch.

Nếu uống không đủ liều hoặc bỏ dở giữa chừng, thuốc sẽ không phát huy được tác dụng một cách tốt nhất.

4. Thiền

Cuộc sống bận rộn hiện nay đã đẩy nhiều người vào tình trạng căng thẳng không lối thoát. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng căng thẳng kinh niên có liên quan tới hệ thống miễn dịch của chúng ta. Một khi hệ thống miễn dịch không hoạt động tốt, nguy cơ bị viêm trong cơ thể sẽ tăng lên cao hơn.

Để cân bằng cuộc sống, bạn nên dành 10- 15 phút mỗi ngày để thiền. Bạn cũng có thể đi bộ, tập yoga… bởi chúng đều là những môn rất tốt cho sức khỏe, giúp tăng cường hệ miễn dịch hoạt động tốt.

5. Ngủ đủ giấc

Thiếu ngủ có thể khiến bạn gặp nhiều vấn đề về sức khỏe như tăng cân, bệnh tim mạch và tăng cao tình trạng viêm nhiễm.

Các chứng viêm thường có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ, tiểu đường, viêm khớp và lão hóa sớm. Những người ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm trong máu có nhiều protein gây viêm nhiễm và C-reactive protein (loại protein có liên quan đến nguy cơ nhồi máu cơ tim). Vì vậy, bạn cần có thời gian ngủ đủ trong ngày.

Theo Trí thức trẻ

Nên cung cấp lượng nước lọc mỗi ngày

Mỗi người cần cung cấp một lượng nước lọc khác nhau mỗi ngày nhưng không thể phủ nhận một điều rằng, nước lọc là cần thiết cho sức khỏe.

Nói một cách khoa học, nước là cơ sở của cuộc sống và giúp bạn cảm thấy luôn tràn đầy năng lượng. Mặc dù nước không có tác chữa bệnh ung thư nhưng nó lại có thể góp phần giúp phòng ngừa ung thư và nhiều bệnh khác.

Dưới đây là những hiệu quả cụ thể của việc uống nước lọc đối với cơ thể.

1. Uống nước giúp tăng cường trao đổi chất

5-ly-do-uong-nuoc-loc-giup-ban-khoe-manh

Nếu bạn đang cố gắng để giảm cân thì bạn nên uống nhiều nước lọc vì uống nước có thể tăng cường khả năng đốt cháy chất béo trong cơ thể. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism (tạp chí về nội tiết và trao đổi chất) đã kết luận rằng uống nước hàng ngày làm tăng tỷ lệ trao đổi chất lên 30% ở nam giới và phụ nữ khỏe mạnh. Tốc độ trao đổi chất này tăng lên sau khi uống nước khoảng 30-40 phút.

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy uống một hoặc hai ly nước trước bữa ăn có thể làm bạn cảm giác no và ăn ít đi, nhờ đó bạn có thể giảm cân nhanh chóng. Theo Tiến sĩ Andrea N. Giancoli, phát ngôn viên của Học viện Dinh Dưỡng và Chế Độ Ăn uống Hoa Kì thì “sự mất nước trong cơ thể có thể làm chậm sự trao đổi chất xuống 3%”.

2. Uống nước giúp bảo vệ tim

Nếu cơ thể được cung cấp đủ nước, nguy cơ bị các cơn đau tim cũng giảm xuống. Một nghiên cứu sáu năm được công bố trên Tạp chí Dịch tễ học Mỹ cho thấy những người uống nhiều nước mỗi ngày sẽ giảm nguy cơ tử vong do những cơn đau tim tới 41% so với những người uống ít nước. Ngoài ra, so với những người uống không đủ nước cho cơ thể thì những người uống đủ nước có nguy cơ bị ung thư ruột kết thấp hơn 45%, ung thư bàng quang thấp hơn 50% và giảm nguy cơ ung thư vú đáng kể.

Đó là do uống đủ nước giúp lưu thông trong cơ thể tốt hơn, tim hoạt động nhẹ nhàng hơn, các chất thải độc cũng được thải lọc hiệu quả hơn nên giảm các chất oxy hóa, phòng ngừa ung thư.

3. Uống nước giúp đẩy lùi chứng đau đầu

Theo nhiều nghiên cứu thì cơ thể được cung cấp đủ nước sẽ giúp loại bỏ các chứng suy nhược, đặc biệt là đau nửa đầu. Trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Thần kinh học, các nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu trên những người bị đau nửa đầu. Họ được chia thành 2 nhóm, 1 nhóm dùng giả dược, nhóm còn lại uống thêm 1,5 lít nước (khoảng sáu ly) ngoài lượng nước họ tiêu thụ bình thường mỗi ngày. Vào cuối tuần thứ hai, nhóm uống nước đã giảm các triệu chứng đau nửa đầu 21 giờ so với nhóm dùng giả dược, đồng thời cường độ đau đầu của họ cũng giảm.

4. Uống nước giúp tăng cường trí não, tỉnh táo

Não của bạn cần nhiều ôxy để hoạt động ở mức tối ưu, để làm được điều này, bạn nên uống nhiều nước. Trong thực tế, nếu bạn uống đủ lượng nước cần thiết cho cơ thể mỗi ngày, hoạt động nhận thức của bạn có thể được cải thiện đến 30%.

Mất nước là nguyên nhân duy nhất phổ biến nhất gây ra sự mệt mỏi vào ban ngày, bạn sẽ cảm thấy khó tập trung vào công việc, mất tỉnh táo và dễ quên. Những lúc như vậy, bạn nên uống một cốc nước lọc to. Nước lọc sau khi vào cơ thể cũng giúp thúc đẩy lưu thông máu tốt hơn và tăng nồng độ oxy trong máu cao hơn, nhờ đó, lượng oxy được cung cấp lên não cũng như đến các bộ phận trong cơ thể nhanh hơn, khiến bạn cảm thấy khỏe mạnh cả về thể chất và tinh thần.

5. Giảm nguy cơ táo bón

Nước chính là một loại thuốc nhuận tràng cực kì tốt nên có tác dụng giảm nguy cơ táo bón hiệu quả. Nước hỗ trợ nhu động ruột giúp phân không bị cứng và bạn đi tiêu dễ dàng hơn.

Ngoài ra, uống một chút nước chanh ấm, pha chút muối mỗi sáng thức dậy cũng giúp giảm nguy cơ táo bón rất tốt vì nước chanh hỗ trợ làm sạch ruột, đồng thời muối sẽ giúp cho việc đại tiện dễ dàng.

Theo afamily

Nguy cơ bệnh tim mạch do muối trong thuốc

Dundee – Lượng muối cao trong một số loại thuốc dạng sủi có thể gây hại cho sức khỏe. Theo một nghiên cứu đăng trên báo Y tế của Anh thì nó dẫn tới tỉ lệ tăng huyết áp cao gấp 7 lần. Thậm chí có thể gây ra đột quỵ và tử vong.

Một số loại thuốc tan trong nước, dạng viên hoặc dạng bột, có hàm lượng muối cao. Trong số chế phẩm mà các nhà dược học của trường ĐH Dundee kiểm tra, lượng muối trong một viên Paracetamol 500mg là cao nhất. Nó chứa 18,6mmol Natri. Và với liều tối đa được phép uống một ngày là 4g, tương đương 148,8mmol, lượng muối hấp thụ đã cao hơn so với mức được khuyên ở Anh (104mmol, tương đương 2,4g)

nguy-co-tim-mach-do-muoi-trong-thuoc

Lượng muối cao là do Natri bicácbonat được cho thêm vào chế phẩm để thuốc sủi tốt hơn. Điều này thường thấy ở những loại thuốc giảm đau được kê cho các bệnh mãn tính phải dùng thuốc trong thời gian dài. Điều này có thể gây tác dụng xấu tới vấn đề tim mạch của họ.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm liên kết dữ liệu nghiên cứu cuả các phòng khám (CPRD) bao gồm hồ sơ bệnh án của 1,2 triệu bệnh nhân người Anh. Trong khoảng thời gian 7,23 năm có tổng cộng 61072 ca liên quan tới tim mạch (gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong). Đem ra đối chiếu thì thấy các bệnh nhân thường được kê các loại thuốc có hàm lượng muối cao.

Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học cũng lưu tâm tới một loạt khả năng, ví dụ như: Lối sống của bệnh nhân cũng có thế gây ra các bệnh về tim mạch, và để điều trị chúng lại phải sử dụng các loại thuốc giảm đau. Tuy nhiên sự liên quan tới việc tăng huyết áp có thể được khẳng định về mặt y học. Tăng huyết áp động mạch là yếu tố nguy hiểm nhất đối với các bệnh về tim mạch. Đặc biệt là đột quỵ.

Natribicacbonat cũng là thành phần của một số loại thuốc bán đại trà, nhưng không được nhắc tới trong nghiên cứu. Quỹ trái tim Anh cho biết, nếu thỉnh thoảng mới uống các loại thuốc có chứa muối thì không có tác hại gì. Tuy nhiên cần hạn chế sử dụng thường xuyên sử dụng trong thời gian dài.

Theo ärzteblatt/skds

Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em

Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim va các mạch máu lớn, xảy ra từ lúc còn ở bào thai. Tần suất bệnh TBS chung trên thế giới là 8 trên 1000 trẻ ra đời còn sống.

Phân loại bệnh TBS

Môi trường sống tác động rất nhiều lên việc hình thành bệnh TBS. Bệnh TBS có thể là hậu quả của các yếu tố môi trường độc hại (tia phóng xạ, hóa chất, vi trùng, bệnh chuyển hóa…) ảnh hưởng lên người mẹ trong quá trình mang thai. Nguyên nhân gây bệnh TBS còn có thể bị tác động bởi yếu tố gia đình, di truyền, bất thường nhiễm sắc thể.

Bệnh TBS được chia thành 2 nhóm: không tím (trẻ không bị tím da niêm) và có tím (trẻ bị tím da niêm). Các bệnh TBS không tím thường gặp nhất là: thông liên thất (30,5%), thông liên nhĩ (9,8%), còn ống động mạch (9,7%)…

benh-tim-bam-sinh-o-tre-nho

Bệnh TBS có tím thường gặp nhất là: tứ chứng Fallot (5,8%)… Một số bệnh TBS khác là: hẹp van động mạch phổi, hẹp eo động mạch chủ, kênh nhĩ thất, thất phải hai đường ra, chuyển vị đại động mạch, bệnh Ebstein, không lỗ van ba lá, tâm thất độc nhất…Bệnh TBS nặng thường được chẩn đoán ngay khi trẻ sinh ra. Với trẻ bị dị tật tim nhẹ hơn, triệu chứng dần xuất hiện khi trẻ lớn lên. Bệnh diễn tiến có thể khiến trẻ gặp các triệu chứng như: hay mệt, ngất, chậm phát triển, suy dinh dưỡng, viêm phổi tái đi tái lại, suy tim, tử vong… Với các bệnh này, điều trị thuốc chỉ làm giảm triệu chứng chứ không sửa chữa được tổn thương.

Hiện nay, ngành phẫu thuật tim rất phát triển, phần lớn các bệnh TBS được điều trị khỏi hẳn nhờ phẫu thuật. Một số bệnh lý TBS có tổn thương phức tạp, không thể điều trị hoàn toàn.

Trẻ mắc bệnh TBS nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng cách có thể giúp trẻ phát triển như những trẻ cùng trang lứa, hòa nhập tốt vào xã hội. Chăm sóc tốt cho những trẻ này cũng không phải là vấn đề đơn giản. Chính vì vậy, cha mẹ có vai trò rất lớn trong việc phối hợp với ngành Y tế để điều trị trẻ bị bệnh TBS.

Nhận biết trẻ có bệnh TBS

Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh TBS nhưng không có biểu hiện gì do dị tật không nặng, chỉ tình cờ được phát hiện khi khám sức khỏe hoặc khám vì một lý do khác. Một số dị tật khác cũng hay đi kèm với bệnh TBS như: hội chứng Down, sứt môi – chẻ vòm, thiếu hoặc thừa ngón tay – ngón chân, tật đầu to, đầu nhỏ… Cần đưa trẻ đi khám bệnh ngay nếu phát hiện trẻ có những triệu chứng khác lạ sau:

– Trẻ hay bị ho, khò khè tái đi tái lại, thở khác thường (thở nhanh, lồng ngực rút lõm khi hít vào), thường bị viêm phổi.

– Trẻ có làn da xanh xao, lạnh, vã mồ hôi. Trẻ bị tím môi, đầu ngón tay, ngón chân, tăng lên khi khóc, khi rặn…

– Trẻ bú hoặc ăn kém, chậm lên cân, thậm chí không tăng cân hay sụt cân. Trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường (chậm mọc răng, chậm biết lật, bò…).

Khi biết con mình mắc bệnh TBS, cha mẹ cần hỏi bác sĩ chuyên khoa tim mạch về tất cả những vấn đề quan tâm như: đặc điểm tổn thương, diễn tiến của bệnh, cách thức điều trị, nếu có phẫu thuật thì thời điểm nào tốt nhất để phẫu thuật, cách chăm sóc trẻ tại nhà… để có thể hiểu về bệnh của trẻ nhằm xử trí đúng cách.

Chăm sóc trẻ mắc bệnh TBS

Mặc dù nhiều trẻ mắc bệnh TBS có thể sinh hoạt, học tập không khác những đứa trẻ khác nhưng chúng vẫn cần được chăm sóc kỹ lưỡng và đúng cách để có được sức khỏe tốt. Cha mẹ lưu ý:

– Chăm sóc trẻ chu đáo, giữ trẻ ấm, vệ sinh sạch sẽ, cho trẻ ăn uống điều độ, đủ chất.

– Không cho trẻ vận động mạnh hay chơi giỡn quá nhiều, tránh để trẻ gắng sức và làm những công việc nặng nhọc.

– Trẻ cần giữ vệ sinh răng miệng tốt để tránh bị nhiễm trùng, cần uống kháng sinh khi được làm thủ thuật hoặc điều trị răng để phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

– Cho trẻ tái khám đúng theo lịch và tuân theo sự điều trị của bác sĩ, ngay cả khi trẻ đã được phẫu thuật, bởi vì một số bệnh TBS vẫn cần phải theo dõi sau phẫu thuật và khi lớn lên, trẻ có thể gặp một số vấn đề khác về sức khỏe.

Mẹ cần ngừa bệnh TBS cho trẻ khi mang thai

Bệnh TBS là những dị tật xảy ra ngay từ lúc trẻ còn ở thời kỳ bào thai, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ. Muốn ngừa bệnh TBS, người mẹ cần quan tâm đến những vấn đề sức khỏe trước và trong khi có thai:

– Cải thiện môi trường sống, tránh ô nhiễm.

– Tránh các tác nhân vật lý, hóa học, chất độc, các loại thuốc an thần, nội tiết tố, rượu, thuốc lá…

– Chủng ngừa hoặc tránh tiếp xúc với các nguồn bệnh do siêu vi gây ra như: rubela, quai bị, herpes, cytomegalovirus, coxsaskie B…

– Nếu người mẹ có các bệnh lý chuyển hóa như: đái tháo đường, lupus ban đỏ lan tỏa… thì cần được điều trị.

– Khám và theo dõi thai định kỳ.

BS.CKI. NGÔ BẢO KHOA

Theo báo công an

Bệnh tim không tím ở trẻ sơ sinh

Lúc 14 giờ 30 ngày 3-12-2013, trinh sát Đội CSĐTTP về TTXH CAQ1 bất ngờ ập vào phòng chờ dành cho tài xế tại tầng hầm B2, tòa nhà Kumho số 39 Lê Duẩn, P.Bến Nghé, Q1, bắt quả tang hơn chục con bạc đang sát phạt bằng hình thức đổ xí ngầu ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm 12.194.000 đồng, 3 hột xí ngầu, một bộ đĩa dùng để lắc xí ngầu và 10 ĐTDĐ… Các đối tượng khai nhận, sòng bạc do Lê Ngọc Thi, Nguyễn Văn Đức, Lê Duy Phước và Trần Huỳnh Trung Kiên hùn tiền làm nhà cái, thay nhau đổ xí ngầu đồng thời cá cược ăn thua với các con bạc. Được biết, sòng bài này hoạt động được một thời gian, trong đó các con bạc đều là tài xế của tòa nhà Kumho hoặc các công ty có trụ sở văn phòng tại tòa nhà.

Thanh HuyềnBệnh tim không tím là những dị tật bẩm sinh tim không gây triệu chứng tím. Loại bệnh tim bẩm sinh này thường gặp hơn nhưng ít trầm trọng hơn các dị tật tim gây tím; bao gồm các dạng: hẹp van động mạch chủ hoặc phổi bẩm sinh, thông liên thất, thông liên nhĩ (tồn tại lỗ thông bất thường giữa hai tâm thất hoặc hai tâm nhĩ, làm tăng lượng máu tuần hoàn lên phổi), hẹp eo động mạch chủ, còn ống động mạch (tình trạng ống động mạch đóng không kín lại sau khi sinh làm quá tải lượng máu lên phổi)…

Cách nào để nhận biết trẻ có bệnh tim không tím?

Nhiều trường hợp tim bẩm sinh không tím không biểu hiện triệu chứng. Nếu suy tim xuất hiện, đứa trẻ sẽ gặp khó khăn về dinh dưỡng do không đủ sức để bú, có xu hướng chậm tăng cân và khóc ít hơn bình thường. Trong trường hợp nặng, trẻ thường khó thở và thở nhanh. Nếu không được chẩn đoán ở giai đoạn sơ sinh, các triệu chứng có thể xuất hiện khi đứa trẻ lớn lên. Đó là chậm phát triển về thể chất, khó thở lúc đầu khi gắng sức và về sau là cả khi nghỉ ngơi.

benh-tim-ko-tim-o-tre-so-sinh

ảnh minh hoạ

Bệnh tim bẩm sinh không tím thường được phát hiện khi nghe tim thấy tiếng thổi bất thường. Các bước tiếp theo để chẩn đoán bao gồm chụp Xquang lồng ngực, ghi điện tâm đồ và siêu âm tim. Thông tim được tiến hành trong trường hợp chuẩn bị cho phẫu thuật.
Điều trị tuỳ thuộc vào loại dị tật. Hẹp van động mạch chủ và phổi bẩm sinh không cần phẫu thuật sớm mà có thể trì hoãn cho đến khi đứa trẻ lớn lên hoặc bước sang tuổi trưởng thành. Tuy nhiên, các trường hợp nặng đòi hỏi phải xử trí ngoại khoa sớm. Các lỗ thông nhỏ trong tim (thông liên thất, thông liên nhĩ) không cần phải điều trị hoặc được đóng kín bằng dụng cụ qua thông tim. Phẫu thuật vá các lỗ thông lớn thường được thực hiện khi đứa trẻ lên 4 tuổi. Hẹp eo động mạch chủ nhìn chung cần được phẫu thuật khi đứa trẻ từ 4 – 8 tuổi.

Còn ống động mạch một số trường hợp được điều trị bằng thuốc, nếu thất bại, can thiệp ngoại khoa sẽ được tiến hành khi trẻ bắt đầu đi học. Nhìn chung, cần dùng kháng sinh dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trước mọi thủ thuật răng miệng hoặc phẫu thuật đối với những trẻ bị dị tật bẩm sinh tim. Trẻ không cần phải hạn chế hoạt động thể lực trừ khi gắng sức gây mệt mỏi hoặc khó thở nhiều.

benh-tim-ko-tim-o-tre-so-sinh-1

Hẹp eo động mạch chủ trên phim chụp MRI.

Những biến chứng khi trẻ mắc bệnh

Thông liên thất và thông liên nhĩ có thể gây tăng áp lực động mạch phổi và suy tim nếu lỗ thông lớn và không được sửa chữa trước tuổi trưởng thành. Hẹp van hoặc eo động mạch chủ làm tăng gánh nặng cho tim, lâu ngày cũng sẽ dẫn tới suy tim.

Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh?

Những người có tiền sử gia đình về bệnh tim bẩm sinh cần được tư vấn di truyền trước khi lập gia đình và sinh con. Phụ nữ chưa được tiêm phòng sởi cần được tiêm vắc-xin trước khi mang thai. Phòng ngừa bệnh tật và hạn chế dùng thuốc là biện pháp dự phòng duy nhất được biết. Trước khi tiến hành phẫu thuật sửa chữa dị tật, có thể giảm bớt triệu chứng bằng thuốc lợi tiểu hoặc digitalis.

ThS. Phan Đình Phong

Theo báo công an

 

Cần giảm cân đúng cách để bảo vệ sức khỏe

 Nguy cơ bệnh tim mạch

Hai dạng béo phì thường gặp là: mỡ thừa tập trung tại vùng bụng, thường gặp ở nam giới (gọi là “bụng bia” hay người hình quả táo) và tích lũy mỡ nhiều ở vùng mông và đùi, thường gặp ở phụ nữ (người hình quả lê). Kiểu béo phì ở bụng có liên quan với sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành và đột qụy.

Các phương pháp giảm cân nhanh thường chỉ mang lại tác động giảm lượng nước trong cơ thể mà không có tác động làm giảm khối mỡ trong cơ thể đặc biệt là lượng mỡ trong máu. Lượng mỡ trong máu cao khiến hàm lượng cholesterol trong máu cũng tăng cao. Nồng độ cholesterol toàn phần trong máu dưới 5,2mmol/dl được coi là bình thường. Khi cholesterol tăng cao sẽ đồng nghĩa với nguy cơ đột qụy tim mạch tăng cao theo tuyến tính. Các nhà khoa học khuyến cáo, nếu bạn là nam giới, tốt nhất không nên để vòng bụng vượt quá 90% vòng mông, nếu bạn là phụ nữ, cố gắng duy trì con số này dưới 80%.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe
Hội chứng rối loạn chuyển hóa

Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: năng lượng dư thừa là nguyên nhân chính của thừa cân – béo phì. Nhưng, giảm cân bằng cách cắt giảm triệt để việc dung nạp thức ăn vào cơ thể lại khiến cơ thể thiếu các loại chất béo, đạm, vitamin và các khoáng chất thiết yếu. Đây là nguyên nhân khiến cơ thể không thể tổng hợp các chất cần thiết làm rối loạn quá trình chuyển hoá và gây ra nhiều bệnh nghiêm trọng như: rối loạn mỡ máu, tiểu đường, suy nhược sinh dục…

Suy nhược cơ thể, mất tập trung

Nhịn ăn, bỏ bữa và tránh xa các loại thịt cá là một trong những sai lầm nghiêm trọng của những người đang muốn giảm cân. Thực tế, khi nhịn ăn hoặc thực hiện chế độ ăn kiêng bất hợp lý, đồng nghĩa với việc lượng calo và dưỡng chất đưa vào cơ thể bị cắt giảm nghiêm trọng. Điều này không những không đảm bảo đủ năng lượng cho nhu cầu hoạt động hàng ngày mà còn khiến cơ thể thiếu chất. Trong quá trình giảm cân, nếu cơ thể rơi vào tình trạng uể oải, mệt mỏi, mất tập trung, chuyên gia khuyên bạn nên dừng ngay quá trình giảm cân và tìm kiếm một phương pháp giảm cân mới phù hợp hơn với thể trạng của bạn.

Cách giảm cân an toàn

Kiểm soát chế độ ăn: Một trong những vấn đề quan trọng nhất để giảm cân đó chính là có thực đơn ăn uống khoa học. Bí quyết được các chuyên gia đưa ra đó là: bổ sung nhiều rau và hoa quả vào bữa ăn hàng ngày, hạn chế ăn các chất béo và uống các dạng nước có cồn, nước ngọt; không nên ăn sau 20h.
giam-can-dung-cach-de-bao-ve-suc-khoe1
Tập luyện nhẹ: Mỗi ngày bạn nên dành ra khoảng 20 phút để tập một bài thể dục nhẹ hoặc đi bộ. Việc này vừa giúp cho bạn giảm được cân, vừa giúp nâng cao sức khỏe, giải tỏa căng thẳng và giúp đem lại giấc ngủ ngon.

Uống mỗi ngày 2l nước lọc: Uống nước để giảm cân là một phương pháp khoa học và đã được chứng minh rõ ràng. Nếu bạn không uống nước, các chất béo trong cơ thể sẽ rất khó tiến hành trao đổi chất và kết quả là khiến cho trọng lượng cơ thể tăng lên nhiều. Chức năng tiêu hóa của cơ thể cần nước, chức năng nội tiết cũng vậy, sự chuyển hóa các chất độc hại dựa vào nước để loại bỏ độc tố ra ngoài, uống nước đầy đủ còn có thể tránh rối loạn tiêu hoá. Bạn có thể uống nước nửa giờ sau khi ăn để hỗ trợ quá trình này.

Sử dụng các sản phẩm hỗ trợ giảm cân: Giải pháp được các chuyên gia khuyên dùng dành những người bận rộn hoặc đã thực hiện các bước giảm cân trên mà không hiệu quả là sử dụng sản phẩm hỗ trợ giảm cân. Bạn lưu ý nên sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có giấy phép của Bộ Y tế như LiteFit USA.

Phương Thảo

Theo sức khỏe đời sống

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Cô lập tế bào bệnh tim

Nhằm tăng hiệu quả chữa bệnh tim từ liệu pháp tế bào gốc, các nhà khoa học từ Đại học Emory, bang Georgia, Hoa Kỳ đã dùng alginate, một chất dạng gel để bọc các tế bào gốc ở bên trong. Nhờ đó, các tế bào gốc trở nên gắn kết hơn, giúp tái tạo cơ tim tốt hơn, đặc biệt là sau cơn nhồi máu cơ tim.

Liệu pháp tế bào gốc cho bệnh tim đang trở nên phổ biến. Trên khắp thế giới, hàng ngàn bệnh nhân tim được điều trị trong các chương trình nghiên cứu lâm sàng với một số dạng tế bào tuỷ xương hay tế bào gốc. Nhưng tác động thực sự lên chức năng tim của đa phần những nghiên cứu này thường là nhỏ và không đồng nhất. Nguyên nhân là do phần lớn các tế bào này không nằm ở tim hoặc bị chết sau khi được đưa vào cơ thể.
co-lap-te-bao-benh-tim
Các nhà nghiên cứu bệnh tim mạch tại Emory đã tìm ra giải pháp cho vấn đề này. Họ đã đóng gói các tế bào gốc trong một viên con nhộng làm từ alginate, một chất dạng gel. Một khi đã được đóng gói, các tế bào gốc sẽ được đặt tại chỗ, tạo ra hiệu quả giảm đau lâu dài.

TS. Robert Taylor, giáo sư y học, trưởng bộ môn tim mạch tại ĐH Y khoa Emory nhận định “Đây là một chiến lược có thể áp dụng cho nhiều loại tế bào trong liệu pháp tái tạo ở bệnh tim mạch”.

Khi được đưa vào tim sau một cơn đau tim, các tế bào gốc sẽ đối mặt với một môi trường viêm nhiễm không thân thiện và các lực cơ học tác động lên chúng chẳng khác nào những ngón tay bóc vỏ hạt dưa. “Những tế bào này giống như những sinh vật sống trong quần thể. Chúng thích ở cùng nhau. Từ một số nghiên cứu liệu pháp tế bào sau cơn nhồi máu cơ tim theo máy đo cơ tim, hơn 90% những tế bào này bị mất đi trong một giờ đồng hồ đầu tiên.”, ông nói.

Việc đóng gói gắn kết cho các tế bào gốc mô giữa lại với nhau trong tim và khiến chúng “hạnh phúc”, cho phép chúng cảm nhận được môi trường bên ngoài và tạo ra các protein nhỏ hơn và chống lại kháng thể xâm nhập.

Hiện nay, màng bọc alginate cũng đang được thử nghiệm lâm sàng để đóng gói các tế bào gốc sản xuất insulin, dùng để điều trị bệnh tiểu đường.

Nguồn sức khỏe đời sống

Phòng tránh 5 bệnh dễ mắc nhất trong mùa thu

Mùa thu được coi là thời điểm thời tiết có nhiều thay đổi, thậm chí là giao thoa giữa mùa hè và mùa đông. Chính vì vậy, vào mùa thu, nhiệt độ ngày và đêm có thể thất thường, biến động lớn. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến bạn có thể mắc nhiều bệnh nếu không biết cách chăm sóc tốt cho sức khỏe.

Vậy, những bệnh bạn cụ thể bạn có nguy cơ mắc nhiều hơn cả trong mùa thu là bệnh gì?

1. Đau họng

Vào mùa thu, hệ thống miễn dịch của cơ thể thường bị suy giảm hơn so với các mùa khác, vì vậy bạn rất dễ bị cảm lạnh. Hơn nữa, vào mùa thu, sự thay đổi nhiệt độ, không khí lúc ẩm, lúc hanh khô kết hợp với gió mạnh có thể khiến cho các loại virus gây bệnh sinh sôi mạnh. Chỉ cần một chút lơ là trong việc chăm sóc sức khỏe là sức đề kháng của bạn đã có thể giảm xuống khiến cho khả năng mắc các bệnh viêm nhiễm, đặc biệt là viêm, đau họng

Các triệu chứng khi bị đau họng có thể bao gồm: Sưng họng, ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và hay thỉnh thoảng bị nôn. Họng tấy đỏ và amiđan sưng, đôi khi có hạch…

Để đề phòng bệnh phát triển, bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ để có biện pháp phòng bệnh tốt nhất.

benhcanphongtranhnha

2. Hen suyễn dị ứng

Giống như mùa xuân, mùa thu là thời điểm mà co người dễ bị dị ứng hơn hẳn mùa hè và mùa đông. Với nguy cơ mắc bệnh dị ứng cao, bạn cũng có thể dễ mắc bệnh hen suyễn dị ứng trong mùa này.

Hen suyễn dị ứng thường là do cơ thể phản ứng với thứ gây dị ứng như phấn hoa, lông thú vật, nấm mốc… gây ra. Triệu chứng thường gặp nhất của hen suyễn dị ứng thường là khó thở.

Nếu bạn là người dễ bị dị ứng với phấn hoa thì hãy lập kế hoạch các hoạt động ngoài trời khôn ngoan để tránh phấn hoa và cây cỏ – nguồn dị ứng phổ biến. Phấn hoa xuất hiện nhiều trong những ngày khô và gió, giảm nhanh vào những ngày ít gió, mưa hoặc ẩm ướt. Nếu bạn thường bị dị ứng với nấm mốc, bụi bặm hay chất gây dị ứng trong nhà thì bạn cần giữ cho nhà cửa sạch sẽ, giữ độ ẩm trong nhà ở mức thích hợp để hạn chế nấm mốc và các yếu tố có thể gây dị ứng phát triển.

Dùng thuốc ngừa dị ứng cũng là cách để phòng bệnh, tuy nhiên, khi dùng thuốc bạn nên tham khảo tư vấn của bác sĩ.

3. Loét dạ dày, tá tràng

Loét dạ dày, tá tràng là bệnh mà bạn có thể gặp tại bất kì thời điểm nào trong năm. Tuy nhiên, vào mùa thu, khi hệ miễn dịch của bạn giảm thì cơ thể bạn cũng khó chống tác ảnh hưởng của các vi khuẩn gây bệnh, do đó, hệ tiêu hóa của bạn càng bị ảnh hưởng năngk nề, nguy cơ loét dạ dày tá tràng càng tăng.

Bệnh loét dạ dày, tá tràng thường xuất phát từ nguyên nhân cơ bản như: hút thuốc lá, uống nhiều rượu, căng thẳng, thói quen ăn uống nghèo dinh dưỡng, mắc các bệnh mãn tính, di truyền hoặc nhiễm khuẩn Helicobacter Pylori. Các triệu chứng phổ biến nhất khi bị loét dạ dày tá tràng là mất cảm giác ngon miệng, đau bụngvà nôn mửa. Đặc biệt, các cơn đau do loét dạ dày thường xuất hiện ngay sau bữa ăn trong khi đau loét tá tràng xuất hiện sau khi ăn vài tiếng.

Dù cho có bị đau lúc nào đi nữa thì bạn vẫn nên đi gặp bác sĩ để biết chính xác nguyên nhân tại sao.

4. Suy tim

Vào mùa thu, những người có vấn đề về tim mạch sẽ càn tăng nguy cơ bị bệnh tim. Đó là bởi vì, khi thay đổi thời tiết đột ngột, cơ thể phải đấu tranh để thích ứng với sự biến đổi khí hậu, từ đó có thể làm quá tải hệ thống tim mạch, gây hậu quả nghiêm trọng cho tim mạch, ví dụ như suy tim.

Để phòng ngừa bệnh tim mạch, bạn nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng nhiều rau xanh, hoa quả và cá, hạn chế chất béo có hại, không hút thuốc và chăm chỉ thể dục để điều hòa hệ tim mạch.

Nếu bạn có vấn đề về tim mạch hay huyết áp bạn cần chú ý theo dõi và điều chỉnh hoạt động của tim và mạch, huyết áp để ngăn chặn các cơn phát bệnh, không nên để đến khi bị bệnh trầm trọng mới điều trị.

5. Bệnh đau mắt đỏ

Bệnh đau mắt đỏ hay còn gọi là bệnh viêm màng kết. Bệnh thường gặp vào mùa hè đến cuối mùa thu. Vào thời điểm này, thời tiết từ nắng nóng chuyển sang mưa, độ ẩm không khí cao, khi giao mùa… nên khiến cho hệ thống miễn dịch và sức đề kháng bị suy yếu đi nhiều, cơ thể mất khả năng phòng bệnh nên dễ bị virus gây bệnh tấn công.

Bên cạnh đó, môi trường nhiều khói bụi, vệ sinh kém, sử dụng nước ô nhiễm, dùng chung khăn mặt, gối… cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh bùng phát.
Bệnh đau mắt đỏ thường có biểu hiện rõ nhất là mắt đỏ và có dử mắt. Dử mắt có thể màu xanh hoặc màu vàng tùy tác nhân gây bệnh. Mi mắt sưng nề, mọng, mắt đỏ (do cương tụ mạch máu), đau nhức, chảy nước mắt.

Để chữa bệnh đau mắt đỏ hiệu quả nhất phải phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Vì vậy, nếu không may bị bệnh tốt nhất bạn nên đi khám. Để phòng bệnh, bạn cần chú ý vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, khi ra ngoài phải có biện pháp bảo vệ mắt và tránh tiếp xúc với người bị bệnh…

Theo Tri thức trẻ

Phát hiện nguyên nhân di truyền gây bệnh ung thư tinh hoàn

Hai nghiên cứu riêng rẽ về bộ gene người đã tìm ra những manh mối mới về nguyên nhân di truyền gây bệnh ung thư tinh hoàn và nguyên nhân không di truyền gây bệnh tim bẩm sinh.

Các nhà khoa học Đại học Pennsylvania (Mỹ) đã kiểm tra bộ gen của hơn 13.000 nam giới, so sánh mã gene của những người mắc bệnh ung thư tinh hoàn, căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở thanh niên trẻ ngày nay, với mã gene của những người khỏe mạnh.

Họ đã phát hiện 4 biến thể gene mới làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh chết người này.

bo-gene-nguoi

Như vậy, các nhà khoa học thế giới cho đến nay đã biết rõ về 17 biến thể gene làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tinh hoàn.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Đại học Y khoa Yale (cũng của Mỹ) đã phát hiện một dạng biến thể gene không có ở các cặp cha mẹ, nhưng lại xuất hiện ở con đẻ của họ.

Biến thể này là nguyên nhân gây ra ít nhất 10% các ca mắc bệnh tim bẩm sinh nghiêm trọng, hiện tượng khiếm khuyết ở thai nhi tác động đến gần 1% trẻ sơ sinh.

Giáo sư về di truyền học Rechard Lifton cho biết điều đáng chú ý nhất là các biến thể gen gây bệnh tim bẩm sinh chính là các biến thể gen gây bệnh tự kỷ.

Theo ông Lifton, các phát hiện này chứng tỏ có thể có những nguyên nhân chung gây các bệnh bẩm sinh thông thường.

Nghiên cứu về gene là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong y học.

Xác định được đặc tính gene gây bệnh sẽ mở ra triển vọng xét nghiệm gene để xác định các đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao nhất, đồng thời mở đường cho việc nghiên cứu cách thức ngăn chặn bệnh phát triển hoặc tiêu diệt mầm bệnh.
Theo Vietnam+

Những dấu hiệu cảnh báo bạn bị bệnh tim

Một mảng hói ở đỉnh đầu hoặc một nếp nhăn nhỏ theo chiều dọc ở dái tai có thể chỉ đơn giản là dấu hiệu cho thấy bạn có nguy cơ bị bệnh tim.

Các nhà nghiên cứu Đan Mạch nhận thấy, nếu bạn có ít nhất 3 trong 4 dấu hiệu gồm: hói ở đỉnh đầu, đường chân tóc hớt ra sau trán, nếp nhăn ở dái tai và u vàng quanh mắt thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch là 39% và nguy cơ lên cơn đau tim là 57%.

Kết quả này đã tính đến cả yếu tố tuổi tác. Vì thế, “khi bạn trông già hơn so với tuổi thì điều đó cho thấy bạn có vấn đề về sức khoẻ tim mạch”, tiến Anne Tybjaerg-Hansen, một bác sĩ và giảng viên thuộc Bệnh viện Đại học Copenhagen nói.

dau-hieu-benh-tim-ed072

Theo Foxnews, các nhà nghiên cứu đã sử dụng những dữ liệu từ nghiên cứu về bệnh tim của Đại học Copenhagen, với sự tham gia của gần 10.900 người trên 40 tuổi. Trong nghiên cứu kéo dài 35 năm thì hơn 3.400 người đã bị bệnh tim và hơn 1.700 người từng lên cơn đau tim. Các chuyên gia đã kiểm tra 6 dấu hiệu của tuổi tác, trong đó loại trừ 2 yếu tố là tóc màu xám và nếp nhăn dường như không có mối liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim.

Bên cạnh đó, khi xem xét riêng yếu tố giới tính thì họ nhận thấy rụng tóc ở nữ giới cũng không liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim. Tuy nhiên, trong số 737 nam giới có đường chân tóc hớt ra sau trán thì 82 người từng bị đau tim. Điều này có nghĩa những nam giới bị rụng tóc có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

Nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã xem xét việc rụng tóc có thể là một dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch, nhưng đưa ra những kết luận trái ngược nhau. Một vài nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa mức độ nghiêm trọng và phân loại hói đầu với nguy cơ bị bệnh tim ở những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác thì lại không thấy sự liên hệ này. Rõ ràng nguy cơ mắc tim mạch và hói đầu gia tăng theo tuổi tác nên rất khó để các nhà khoa học có thể tách biệt hai yếu tố này trong các nghiên cứu.

Thực tế thì mối liên hệ giữa những dấu hiệu này và nguy cơ mắc bệnh tim vẫn chưa rõ ràng. Vì thế cần có những nghiên cứu sâu hơn nữa.

Theo tiến sĩ Tybjaerg-Hansen, nghiên cứu xác nhận một thực tế lâm sàng phổ biến tại các phòng mạch khi các bác sĩ khám và nhìn xem người bệnh trông già hay trẻ hơn so với tuổi. Vì thế 4 dấu hiệu này cung cấp thêm chỉ dẫn cho các bác sĩ trong điều trị bệnh. “Lời khuyên đưa ra là người bệnh hãy thay đổi lối sống và áp dụng các biện pháp giảm lipid máu vì nguy cơ mắc tim mạch của họ cao hơn”, bà nói.

Chẳng hạn, u vàng quanh mắt là một dấu hiệu cho thấy cholesterol trong máu cao, một yếu tố nguy cơ phổ biến dẫn đến bệnh tim mạch.
Kết quả nghiên cứu trên được trình bày tại hội nghị của hội tim mạch Mỹ tổ chức vào ngày 6/11.

Theo afamily