Tag Archives: bệnh tim mạch

Tuyệt đối không nên bỏ ăn sáng

Bữa ăn sáng đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe. Thế nhưng vì nhiều lý do: bận công việc, con cái thậm chí sợ to vòng eo nên nhiều người không quan tâm, bỏ ăn sáng.

Họ không biết rằng, những người ăn sáng đều đặn không những khỏe hơn, vui vẻ hơn mà còn yêu đời và trẻ trung hơn. Và còn rất nhiều tác dụng tuyệt vời nữa sẽ giúp bạn hiểu vì sao không nên bỏ bữa sáng.

Buổi sáng chúng ta phải hoạt động nhiều cả thể lực và trí óc nên bữa ăn sáng rất cần thiết. Tuy nhiên không phải bạn ăn uống vô độ. Nên chọn thức ăn nhẹ dễ tiêu hóa. Thiếu bữa ăn sáng, sẽ khiến lượng vitamin và khoáng chất bị thiếu trầm trọng, đặc biệt là chất sắt và canxi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe… Vì sao không nên bỏ bữa ăn sáng?

tuyet-doi-khong-nen-bo-an-sang

Cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động: Sau giấc ngủ dài, cơ thể chúng ta thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng. Bữa sáng với đầy đủ các dưỡng chất là cách tốt nhất cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động trong ngày. Năng lượng được cơ thể thu nhận từ bữa sáng, sẽ giúp chuyển hoá và trao đổi chất trong cơ thể. Nhờ đó các cơ quan trong cơ thể sẽ “năng động” và “hăng hái” hơn.

Tăng cường trí não: Các tế bào thần kinh tiêu thụ năng lượng rất nhiều, vì thế, nếu để não đói, khả năng tư duy và ghi nhớ sẽ giảm sút. Để não hoạt động tốt hơn, bạn cần ăn sáng với các thực phẩm như ngũ cốc, rau quả có nhiều chất xơ, thực phẩm giàu protein, hạn chế các món ăn có hàm lượng đường và chất béo cao.

Ngừa ung thư và các bệnh tim mạch: Bữa ăn sáng sẽ giúp hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn, quá trình trao đổi chất cũng triệt để hơn, từ đó sẽ giảm được các nguy cơ gây ra bệnh tim mạch, huyết áp, ung thư… Bữa sáng nhiều rau quả và ngũ cốc là bữa sáng lý tưởng nhất, vì rau quả và ngũ cốc sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư và các bệnh mạn tính khác.

Giảm cân: Khi chúng ta ăn vào, cơ thể sẽ diễn ra quá trình trao đổi chất, đây cũng là lúc cơ thể bắt đầu tiêu hao calo. Sau bữa ăn sáng, quá trình tiêu thụ calo diễn ra mạnh nhất, vì thế ăn sáng được xem là một trong những biện pháp giảm cân hữu hiệu.

Những người thường xuyên không ăn sáng rất dễ rơi vào tình trạng:

Mất cân bằng dinh dưỡng, sức đề kháng thấp: Do nguồn năng lượng ở mức rất thấp nên cơ thể buộc phải lấy năng lượng dự trữ từ gan, khiến gan luôn ở trong tình trạng quá sức. Hơn nữa, nếu buổi sáng không ăn, đến khoảng 9 giờ hoặc 10 giờ trưa bạn sẽ bị đói cồn cào, người nôn nao, huyết áp hạ thấp, gây tổn hại nghiêm trọng đến hệ tiêu hóa. Dần dần khả năng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể bị giảm sút.

Ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc: Không ăn sáng ảnh hưởng nhiều đến năng suất làm việc do bụng đói cồn cào, dạ dày co bóp nhiều sẽ làm bạn không tập trung được vào công việc.

Đau dạ dày và kết sỏi ở bộ máy tiêu hóa: Dạ dày luôn co bóp không, dịch vị tiết ra nhưng không có gì để tiêu hóa, dần dần sẽ dẫn đến viêm loét dạ dày. Do ruột rỗng, nhu động giảm, các chất cặn bã trong ruột của ngày hôm trước không có cơ hội để đào thải ra ngoài, lâu dần nó sẽ kết lại thành sỏi.

Béo phì: Buổi sáng không ăn, nên buổi trưa và buổi tối bạn phải ăn nhiều hơn để có đủ năng lượng. Trong khi hoạt động vào buổi chiều và tối không nhiều, thức ăn sẽ không kịp tiêu hóa hết, khiến cho nhiệt lượng trong cơ thể bạn ngày một tăng, lượng mỡ tích tụ lại ngày càng nhiều. Kết cục bạn sẽ mắc bệnh béo phì.

Nhanh lão hóa: Do không ăn sáng nên cơ thể buộc phải huy động lượng đường và protein được dự trữ sẵn để hoạt động, làm cho bề mặt của lớp da bị khô, rám, mất dinh dưỡng, do vậy dễ xuất hiện nếp nhăn nhất là ở vùng mắt và mặt.

Nguồn sức khỏe

Đề phòng và điều trị bệnh rối loạn tuần hoàn não

Rối loạn tuần hoàn não (RLTHN) là một bệnh thường gặp ở người cao tuổi. Đây là một bệnh do rối loạn chức năng của não gây ra do mạch máu nuôi dưỡng não bị chèn ép, tắc, hẹp… làm cho lượng máu đến nuôi dưỡng não bị thiếu.

Biểu hiện của RLTHN là gì?

Đối với RLTHN cấp tính, biểu hiện thường gặp là chóng mặt, xây xẩm mặt mày, buồn nôn, nôn, nặng đầu khi thay đổi tư thế… Những triệu chứng này thường gặp vào lúc nửa đêm hoặc gần sáng.

Nhiều người bệnh cho biết là họ rất sợ các triệu chứng này bởi nó rất dễ nhầm với tai biến mạch máu não, đặc biệt ở người có tăng huyết áp. Tuy vậy cơn RLTHN không gây yếu, liệt tay chân, nhân trung, mặt… Ngoài các triệu chứng điển hình khi cơn cấp tính xảy ra người bệnh còn có thể thấy kém tập trung tư tưởng, giảm khả năng tư duy, chậm hiểu, lười suy luận và đãng trí.

de-phong-va-dieu-tri-benh-roi-loan-tuan-hoan-nao

Vì sao lại mắc bệnh RLTHN?

Như trên đã nói là do thiếu lượng máu cần thiết đến nuôi dưỡng não mà trong máu có đầy đủ chất dinh dưỡng và đặc biệt là lượng oxygen dồi dào. Hiện tượng này xảy ra có thể do quá trình lão hóa mạch máu não hoặc xơ hóa mạch máu não (xơ vữa động mạch não).

Bệnh xơ vữa động mạch là một bệnh được giới chuyên môn y khoa nhắc đến từ lâu do thành mạch và lòng động mạch dày, cứng (xơ cứng), thậm chí có nhiều mảng xơ vữa thành mạch làm giảm lưu lượng máu và giảm sự lưu thông của máu hoặc tắc dòng máu đến nuôi dưỡng tổ chức não gây nên RLTHN.

Nguyên nhân của xơ vữa động mạch đã được làm sáng tỏ bởi sự lắng đọng mỡ, trong đó cholesterol đóng vai trò chủ đạo. Chất cholesterol phần lớn do tổ chức gan sản xuất ra và được chuyển hóa thành HDL (High Density Lipoprotein) và tồn tại dưới dạng LDL-C. Nếu chất này nhiều quá sẽ hình thành các mảng xơ vữa trong lòng động mạch (chất này còn gọi là cholesterol xấu).

Khoa học đã chứng minh xơ vữa động mạch và biến chứng của nó là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu của người cao tuổi.

Phòng bệnh RLTHN như thế nào?

Để phòng bệnh RLTHN hiệu quả, người cao tuổi không nên ăn hoặc chỉ nên ăn rất ít mỡ động vật, kiêng rượu, bia (vì rượu, bia làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng của gan), lòng đỏ trứng… Tuyệt đối không hút thuốc lá, thuốc lào. Đối với dầu thực vật cũng không nên lạm dụng.

Người cao tuổi cũng cần tập thể dục đều đặn hằng ngày, tập đúng bài, nhẹ nhàng. Đối với người tăng huyết áp cần đề phòng tai biến mạch máu não. Vì vậy người bị RLTHN cần kiểm tra sức khỏe định kỳ ở các cơ sở y tế có đủ trang thiết bị để được thầy thuốc theo dõi, điều trị và tư vấn sức khỏe một cách khoa học.

Nguyên tắc điều trị RLTHN

Trước hết khi có cơn RLTHN cấp hoặc cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua người bệnh cần được đưa ngay đến bệnh viện để được khám và điều trị kịp thời. Trong điều trị cần thiết dùng thuốc ức chế tiểu cầu, thuốc tăng khả năng cải thiện việc cung cấp oxygen cho não. Nếu có các bệnh kèm theo như tăng huyết áp, tiểu đường cần được theo dõi và điều trị kết hợp.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống, TTO

Dấu hiệu bệnh thấp tim và lời khuyên của bác sĩ

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Dấu hiệu nhận biết

benh-thap-tim

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

Múa giật Sydenham: Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.

BS. Lê Hưng
Theo sức khỏe đời sống

Những căn bệnh nguy hiểm đe dọa sức khỏe phụ nữ

Các bệnh về xương, bệnh tim mạch và ung thư vú đều nằm trong danh sách này. Vì vậy, chị em hãy phòng bệnh ngay từ hôm nay.

Bệnh tim mạch

Theo các số liệu thống kê tại Mỹ, bệnh tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Có tới 29% số ca tử vong là do bệnh tim hoặc các bệnh liên quan đến tim mạch gây ra.
Các nhà nghiên cứu cũng cảnh báo rằng, ngày càng có nhiều phụ nữ chết vì bệnh tim khi chưa bước qua tuổi 60. Thậm chí, rất nhiều người chết vì nhồi máu cơ tim, đột quỵ khi còn rất trẻ.

Các nguyên nhân chủ yếu của bệnh tim mạch: lối sống thụ động, ít tập luyện thể thao, ăn nhiều chất béo bão hòa.
Cách phòng ngừa hiệu quả nhất gồm: thay đổi lối sống, cố gắng tập thể thao và ăn uống cân bằng.

nhung-can-benh-nguy-hiem-de-doa-suc-khoe-phu-nu

Ung thư

Một số căn bệnh ung thư mà chị em phụ nữ hay gặp nhất là: ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột và ung thư da. Trong đó, ung thư vú được biết đến như kẻ thù số một của chị em.
Những phụ nữ ngực to có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn người khác và những người từng trải qua phẫu thuật “đại tu vòng 1” sẽ tăng nguy cơ từ 20 – 80% tùy theo số lần chỉnh sửa.

– Không uống rượu, không hút thuốc
– Giữ cân nặng ổn định, không để quá béo hay quá gầy
– Tập luyện thể thao để luôn khỏe mạnh
– Ăn nhiều rau quả, uống nhiều nước
– Kiểm tra định kỳ để tầm soát ung thư.

Loãng xương

Phụ nữ là nạn nhân chủ yếu của chứng loãng xương. Từ khi bước qua tuổi 30, cơ thể bạn đã đối mặt với vấn đề loãng xương nhưng các dấu hiệu chưa rõ ràng như ở độ tuổi 50.

Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, xương của bạn sẽ bị giòn, yếu và dễ gãy, thậm chí bạn có thể bị còng lưng khi bước sang tuổi 50.

Đáng mừng là căn bệnh này hoàn toàn có thể được phòng ngừa bằng cách tập thể dục thường xuyên cùng với chế độ ăn cung cấp đủ canxi.

Alzheimer (giảm trí nhớ)

Alzheimer là căn bệnh ngày càng phổ biến ở người cao tuổi, đặc biệt là ở nữ giới. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị suy giảm nặng nề khiến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được cách phòng ngừa và điều trị căn bệnh này.

Các bác sĩ khuyên nữ giới nên bảo vệ sức khỏe của mình trước căn bệnh này bằng cách thư giãn, hạn chế tối đa căng thẳng, học cách khắc phục stress, tập luyện thể thao thường xuyên, tập thở bằng bụng, ăn uống điều độ và tránh xa thực phẩm đóng hộp.

Omega-3 không có tác dụng với bệnh tim mạch

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg (Đức) đã công bố một kết quả nghiên cứu hoàn toàn trái ngược với các nghiên cứu trước đây về Omega-3, rằng loại axit béo có trong cá này không hề có tác dụng bổ trợ gì trong điều trị các bệnh nhân tim mạch.

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Heidelberg đã công bố kết quả này ngày 30/3 tại một hội nghị của trường Đại học Tim mạch Mỹ ở Florida.

Omega-3a

Các nhà khoa học Đức cho biết đã tiến hành nghiên cứu trên gần 4.000 bệnh nhân thuộc 104 bệnh viện và trung tâm tim mạch ở nước này. Các bệnh nhân sau khi bị đau tim từ 3-14 ngày sẽ được điều trị ngẫu nhiên bằng axit béo Omega-3 với liều lượng cao hoặc thuốc an thần trong một năm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy không sự khác biệt đáng kể nào giữa các bệnh nhân được điều trị theo phương pháp chăm sóc sức khỏe thông thường và các bệnh nhân được bổ sung thêm axit béo Omega-3. Như vậy, Omega-3 không có tác dụng cải thiện cuộc sống cho bệnh nhân bị tim mạch.

Từ lâu, Omega-3 được coi là phương thuốc giúp các bệnh nhân tim mạch giảm nguy cơ rối loạn nhịp tim, tỷ lệ hình thành các mảng xơ vữa gây tắc động mạch.

Theo vietnam+

Mức albumin báo động nguy cơ bệnh tim

Một nghiên cứu mới đây cho thấy, với bất kỳ lượng protein albumin đo lường được trong nước tiểu cũng có thể làm tăng nguy cơ phát triển các vấn đề về tim ở những bệnh nhân đái tháo đường típ 2.

Phát hiện trên vừa được công bố trên tạp chí Journal of the American Society of Nephrology (Mỹ) trực tuyến, có thể giúp xác định những bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nào cần được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Một số bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có vấn đề về thận, dẫn đến làm tăng lượng protein albumin trong nước tiểu của họ, một tình trạng được y học gọi là albuminuria. Những bệnh nhân này có nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim – chẳng hạn như nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim – cao hơn so với các bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu.

benh-tim

Theo đánh giá của giới chuyên môn, có ít nhất 90% bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin bình thường trong nước tiểu. Tuy nhiên, một nhóm các nhà nghiên cứu Ý muốn tìm hiểu ngay cả trong những trường hợp này có thể làm tăng nguy cơ bị các vấn đề về tim hay không.

Trong cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học Ý đã xem xét mối liên quan giữa các mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim trong số hơn 1.200 bệnh nhân đái tháo đường típ 2, trong khoảng thời gian 9 năm. Họ nhận thấy rằng, với bất kỳ lượng albumin nào đo lường được trong nước tiểu đều có liên quan với nguy cơ phát triển bệnh tim ở bệnh nhân đái tháo đường.

Các nhà nghiên cứu phát hiện, khi mức albumin bài tiết trong nước tiểu tăng lên, dẫn đến làm tăng nguy cơ mắc phải các vấn đề về tim ở bệnh nhân. Ngay cả với mức thấp albumin bài tiết trong nước tiểu ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 cũng có liên quan đến tỷ lệ phát triển các vấn đề về tim.

Các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra một nhóm bệnh nhân đái tháo đường típ 2 dùng thuốc điều trị cao huyết áp được gọi là thuốc ức chế ACE (thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin), trong suốt thời gian 9 năm. Họ không phát hiện có mối liên quan nào giữa các mức albumin bài tiết trong nước tiểu với nguy cơ bệnh tim ở nhóm bệnh nhân này.

Điều đó cho thấy rằng, các loại thuốc ức chế ACE có thể giúp bảo vệ tim ở cả hai nhóm bệnh nhân đái tháo đường có mức albumin cao và nhóm bệnh nhân có mức albumin bình thường trong nước tiểu, tiến sĩ Giuseppe Remuzzi, thuộc Viện Nghiên cứu Dược lý Negri Mario ở Bergamo, Ý, và các cộng sự cho biết.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý, cần thực hiện thêm các cuộc nghiên cứu nữa để xác định mức albumin nào ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có thể được điều trị bằng các loại thuốc bảo vệ tim.

Mặc dù phát hiện mối liên quan giữa mức albumin trong nước tiểu với các vấn đề về tim ở các bệnh nhân đái tháo đường típ 2, nhưng nghiên cứu đã không chứng minh được mối quan hệ trực tiếp giữa hai việc này.

Hành tây tốt cho người bệnh tim mạch

Hành tây là loại rau, gia vị vừa thơm ngon lại rất giàu dinh dưỡng. Thường xuyên ăn hành tây có thể phòng tránh được nhiều bệnh, sức khỏe sẽ tốt hơn và kéo dài được tuổi thọ. Đông y cho rằng hành tây có vị thơm cay, tính ấm, không độc, tác dụng chữa nhiều bệnh như tiêu khát, tăng huyết áp, mỡ máu, xơ vữa thành mạch, bệnh mạch vành tim, cảm mạo phong hàn…
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy hành tây có chứa chất prostaglandin (prostagladin A; PG) và thành phần hoạt tính fibrin nên có thể kích thích hoạt động hòa tan máu, chống lại những chất gây tăng huyết áp trong cơ thể, mặt khác các chất này còn thúc đẩy sự bài tiết muối natri, do đó làm hạ huyết áp. Chỉ cần một lượng nhỏ chất prostaglandin trong cơ thể đã có tác dụng điều hòa huyết áp và các thành phần của máu, đồng thời lại ngăn ngừa sự hình thành huyết khối. Ngoài ra, hành tây có tác dụng diệt khuẩn, trừ đờm, chữa ho, ra mồ hôi, thông tiểu, kích thích tiêu hóa, làm cho ruột, dạ dày nâng cao quá trình bài tiết, chống viêm đường ruột, phòng chống phong thấp, an thần, giúp ngủ ngon giấc, làm giảm hoặc chậm xơ cứng thành huyết quản, có tác dụng đề phòng bệnh mạch vành tim và hạ thấp lượng mỡ trong máu…

hanh-tay-tot-cho-nguoi-benh-tim-mach

Một số bài thuốc chữa bệnh từ

hành tây:

Chữa tàn nhang: Dùng nước ép từ củ hành tây để xoa lên vết bị tàn nhang.

Làm tóc mọc nhanh và dày hơn: Hằng ngày dùng nước ép củ hành tây để xoa vào nơi tóc rụng.

Chữa cảm mạo phong hàn: Khi thấy xuất hiện các triệu chứng như đau nhức đầu, không ra mồ hôi, tay chân nhức mỏi, mũi tắc ngạt, chảy máu cam, ngứa họng, giọng nói khàn, ho có đờm trắng loãng: lấy 60g củ hành tây tươi thái nhỏ, cho vào vài lát gừng tươi, một ít đường đỏ, nấu cùng 300ml nước để uống. Uống vài lần sẽ khỏi.

Phòng bệnh đái tháo đường: Lấy thịt lợn nạc 50g thái miếng và nấu chín rồi cho 50 – 100g hành tây thái nhỏ vào, cùng nấu chín để ăn. Ngày ăn 2 lần, cần ăn thường xuyên.

Chữa mất ngủ, đau nhức các khớp xương: Người Trung Hoa đã dùng hành tây để nấu ăn hoặc ăn sống với liều từ 50-100g mỗi ngày. Cần ăn liền một thời gian.

BS. Hoàng Xuân Đại

Theo SKDS

Sử dụng nitroglycerin trong điều trị bệnh tim mạch

Trong điều trị bệnh lý tim mạch, nhóm thuốc nitroglycerin được sử dụng hết sức rộng rãi, đặc biệt với bệnh nhân bị bệnh thiếu máu cơ tim (cả cấp tính như nhồi máu cơ tim hay cơn đau thắt ngực không ổn định, lẫn mạn tính) và suy tim.

Thuốc có tác dụng gì?

Khi bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch ngoại vi dẫn đến ứ đọng máu ở ngoại vi và trong các phủ tạng, giảm lượng máu lưu hành do đó giảm lượng máu trở về tim với các hậu quả là giảm áp lực dồn máu về thất, giảm áp lực và thể tích cuối thì tâm trương của thất, nói một cách khác là giảm tiền gánh.

Nếu bệnh nhân bị giãn các tiểu động mạch sẽ dẫn đến giảm sức cản ngoại vi, giảm hậu gánh với hậu quả là giảm huyết áp động mạch nhất là huyết áp tâm thu.

su-dung-nitroglycerin-trong-dieu-tri-benh-tim-mach

Như vậy, tác dụng của các thuốc nhóm này có tác dụng giảm cả tiền gánh và một phần hậu gánh. Do vậy sẽ làm giảm công của cơ tim, giảm mức tiêu thụ ôxy của cơ tim giúp cho cung và cầu về ôxy được cân bằng sẽ cắt cơn đau thắt ngực nhanh chóng và đối với bệnh nhân suy tim, thuốc giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng một cách rõ rệt.

Đối với động mạch vành, thuốc còn có tác dụng làm giãn động mạch vành nhưng chỉ những động mạch vành vùng thượng tâm mạc và chưa bị xơ cứng; tác dụng này xuất hiện rất sớm nhưng nhanh hết. Sử dụng các nitroglycerin còn giúp phân bố lại máu trong các lớp cơ tim, tăng cường khả năng tưới máu cho lớp cơ dưới nội tâm mạc (là lớp cơ tim bị ảnh hưởng sớm nhất và nhiều nhất khi cơ tim bị thiếu máu). Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng phát triển tuần hoàn bàng hệ trong cơ tim khi được dùng lâu dài, làm mất các hiện tượng co thắt mạch vành đột ngột xảy ra một cách tự phát hay do các căn nguyên gây nên.

Những tác dụng không mong muốn

Khi sử dụng thuốc làm giãn mạch ngoại vi khiến da bừng đỏ nhất là ở ngực và mắt; giãn các mạch máu trong mắt dễ gây tăng tiết dịch và làm tăng nhãn áp; giãn các mạch máu trong não có thể gây tăng áp lực trong hộp sọ và gây đau đầu.

Thuốc cũng gây hạ huyết áp khi đứng. Đặc biệt hiện tượng choáng váng, chóng mặt hay xảy ra khi dùng thuốc cho bệnh nhân có huyết áp thấp, nhất là người cao tuổi.

Thuốc nên dùng cho trường hợp nào?

Thuốc được chỉ định cho các trường hợp bị thiếu máu cơ tim (biểu hiện lâm sàng bằng triệu chứng đau thắt ngực), đây là chỉ định chủ yếu nhất của các thuốc nhóm này. Đối với cơn đau cấp tính, dạng thuốc ngậm hoặc xịt dưới lưỡi có tác dụng cắt cơn rất nhanh chóng. Chính vì vậy, đối với bệnh nhân bị đau thắt ngực hoặc có tiền sử đau thắt ngực, cần thường xuyên có lọ thuốc xịt dưới lưỡi (hoặc viên ngậm dưới lưỡi) sẵn sàng trong người để sử dụng ngay khi bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của đau thắt ngực. Thuốc cũng được sử dụng một cách lâu dài để dự phòng cơn đau thắt ngực tái phát và thấy có kết quả trong thể cơn đau thắt ngực ổn định làm cơn đau không hoặc ít xuất hiện trở lại, cho phép bệnh nhân làm được nhưng gắng sức lớn hơn.

Trong nhồi máu cơ tim, thuốc được sử dụng sớm ngay từ đầu bằng dạng tiêm tĩnh mạch (thường sử dụng bằng bơm tiêm điện với liều lượng đáp ứng theo mức độ huyết áp của bệnh nhân). Nhiều nghiên cứu cho thấy, thuốc có thể làm thu hẹp diện thiếu máu và hoại tử của tế bào cơm tim, dự phòng suy tim và các biến chứng, làm giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên phải hết sức thận trọng trong sử dụng vì thuốc có thể gây hạ huyết áp và truỵ tim mạch rất nguy hiểm (do vậy cần theo dõi liên tục huyết áp và điều chỉnh liều lượng thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân), hơn nữa, phải đánh giá chính xác khu nhồi máu cơ tim, vì với bệnh nhân có nhồi máu cơ tim thất phải, thuốc gây giảm lượng máu về thất phải do vậy giảm cung lượng tim và dẫn đến sốc tim rất nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.

Sử dụng thuốc như thế nào cho an toàn?

Sử dụng thuốc tại nhà trong tình huống cấp cứu có các dạng tác dụng nhanh như viên ngậm dưới lưỡi hoặc dạng xịt.

Nitroglycerin dạng viên 0,5- 0,75mg ngậm dưới lưỡi, bắt đầu có tác dụng sau 0,5-2 phút, kéo dài tới 30 phút. Nitroglycerin là loại thuốc được dùng khá phổ biến trong cấp cứu, có thể dùng nhiều lần trong ngày nếu không thấy có tác dụng phụ phiền phức.

Nitroglycerin dạng phun bao gồm các biệt dược như natispray, lenitral spray, nitroglycerin spray mỗi lần phun đưa được 0,4mg thuốc vào miệng. Dùng xịt dưới lưỡi, liều sử dụng cũng tương tự như dạng ngậm. Có thể dùng nhiều lần trong ngày.

Tuy nhiên, sau khi dùng thuốc cấp cứu tại nhà để bệnh nhân qua cơn nguy hiểm, cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện, nơi có chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt để có những chẩn đoán và chỉ định dùng thuốc đúng, nhằm tránh những tai biến khác có thể xảy ra.

Ngoài ra còn các dạng bào chế viên nang uống có tác dụng chậm, kéo dài hoặc các dạng dán vào da vùng ngực trái. Thuốc dưới dạng tiêm như lenitral phải được sử dụng tại bệnh viện, nơi có nhân viên y tế thực hiện và theo dõi diễn biến bệnh tình của bệnh nhân. Cần theo dõi huyết áp của bệnh nhân để điều chỉnh liều lượng thích hợp. Không được dùng nếu nghi ngờ hoặc xác định có nhồi máu cơ tim thất phải.

Khi dùng thuốc nhóm này, không được uống rượu vì rượu làm tăng tác dụng của thuốc.

Với người già, người có thể trạng huyết áp thấp cần lưu ý đặc biệt vì thuốc gây hạ huyết áp và có thể gây tụt huyết áp tư thế đứng dẫn đến các triệu chứng của thiếu máu não.

Không dùng dạng phóng thích chậm để ngậm dưới lưỡi vì tác dụng xuất hiện chậm (nhiều người nhầm lẫn sử dụng dạng chậm để ngậm dưới lưỡi khi xuất hiện cơn đau thắt ngực).

Ngoài các chống chỉ định chung như dị ứng hay quá mẫn với thuốc, các trường hợp bệnh nhân không được dùng thuốc này là: huyết áp tâm thu <100 mmHg; tăng nhãn áp.

TS. Nguyễn Hải

Theo SKDS

Lão hóa liên quan tới bệnh tim mạch

Các nhà khoa học Đan Mạch vừa công bố một nghiên cứu mới trên khoảng 11.000 thành viên có 4 dấu hiệu lão hóa: hói hai bên trán kéo đến vùng thái dương, nhăn dái tai, lắng đọng mỡ quanh mí mắt, hói vòng quanh đầu. Kết quả, những người này sẽ tăng 57% nguy cơ nhồi máu cơ tim và 39% nguy cơ phát triển bệnh tim. Trong đó, hai dấu hiệu phổ biến của tuổi già là tóc bạc và xuất hiện nếp nhăn không liên quan đến việc tăng nguy cơ bệnh tim.

lao-hoa-lien-quan-toi-benh-tim-mach

Mặc dù nghiên cứu không chứng minh được các dấu hiệu lão hóa gây ra bệnh tim và ngược lại, nhưng nếu bạn già đi so với lứa tuổi có thể là một dấu hiệu sức khỏe của tim kém. Kết quả nghiên cứu cũng là lời nhắc nhở các bác sĩ nên dành thời gian xem xét toàn diện cho bệnh nhân để có kết quả thật chính xác, giúp người bệnh có kế hoạch tầm soát bệnh tim mạch.

Lan Thu

(Theo Scientific Sessions ,12/2012)

Cai thuốc lá giảm 50% nguy cơ bệnh tim mạch

 

cai-thuoc-la-giam-50-nguy-co-benh-tim-mach

Cai thuốc lá có thể giảm hơn 50% nguy cơ bệnh tim, đột quỵ hay tử vong vì bệnh tim mạch, đặc biệt là ở những người không bị bệnh đái tháo đường. Các nhà khoa học tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts (Mỹ), đã khảo sát thói quen hút thuốc và sức khỏe tim mạch của hơn 3.000 người từ năm 1981 – 2011 cho thấy, người ngưng hút thuốc có thể tăng trung bình từ 2,7 – 5,9kg trong 6 tháng đầu kể từ khi cai thuốc. Nhưng người cai thuốc được hơn 4 năm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch đến 54% so với người vẫn dính với điếu thuốc. Những người mới cai thuốc đến 4 năm cũng được hưởng ích lợi gần như tương tự, ở mức 53%. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trên, các nhà khoa học đề nghị các bác sĩ sử dụng thông tin từ cuộc nghiên cứu để khuyến khích bệnh nhân cai thuốc lá và đừng quá lo lắng về việc tăng cân trong quá trình cai thuốc lá.

Kim Thu (Theo AFP, 3/2013)

10 ngộ nhận về bệnh tim mạch

Tim mạch là căn bệnh nan y nguy hiểm có tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, song kiến thức của con người về căn bệnh này lại rất sơ khai, đôi khi còn lệch lạc làm cho tỷ lệ tử vong không giảm. Đó là nhận xét của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) đưa ra mới đây nhân dịp công bố một số giả thiết và sự thật có liên quan đến căn bệnh này.

1. Còn trẻ không lo mắc bệnh tim?

Theo AHA, nhiều người trẻ tuổi đôi khi cho rằng, họ không bị mắc bệnh, bởi bệnh tim chỉ diễn ra ở nhóm người cao tuổi hoặc cuối đời. Ngộ nhận này hoàn toàn thiếu căn cứ bởi bệnh tim là căn bệnh mang tính tích lũy. Ngay từ khi còn trẻ, nếu duy trì lối sống thiếu khoa học thì các mảng tiểu cầu bám vào thành mạch bắt đầu xuất hiện và tăng dần theo năm tháng, tích tụ gây tắc nghẽn mạch.

2. Không bị bệnh tăng huyết áp bởi không có bất kỳ dấu hiệu nào bên ngoài?

Bệnh tăng huyết áp được y học xem là “kẻ giết người thầm lặng” vì nó không có bất kỳ dấu hiệu nào thể hiện ra bên ngoài, nếu đã có dấu hiệu có nghĩa là bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, nhóm người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch, như có tiền sử gia đình mắc bệnh, béo phì, mắc bệnh đái tháo đường, nên đi khám và điều trị sớm.

3. Trước khi đau tim phải đau tức ngực?

Không nhất thiết cứ phải đau tức ngực mới là đau tim mặc dù phần lớn tức ngực hay khó chịu là dấu hiệu của cơn đau tim. Đau tim có nhiều triệu chứng kể cả khó thở, bồn chồn, choáng váng, khó chịu hoặc đau ở một hoặc cả hai cánh tay, cổ, hàm hoặc đau lưng. Nếu có những dấu hiệu nói trên, nên được khám tư vấn càng sớm càng tốt.

10-ngo-nhan-ve-benh-tim-mach

4. Bị bệnh đái tháo đường nếu dùng thuốc không lo mắc bệnh tim?

Thực tế thì việc điều trị tốt bệnh đái tháo đường có thể làm giảm tỷ lệ mắc hoặc làm chậm quá trình phát triển bệnh tim mạch. Tuy nhiên, ngay cả khi đường huyết ở ngưỡng hợp lý thì tỷ lệ mắc bệnh tim và đột quỵ ở nhóm người mắc bệnh đái tháo đường vẫn cao. Để giảm thiểu rủi ro mắc bệnh tim, người bệnh nên điều trị đồng thời những căn bệnh bản thân mắc phải, đặc biệt là khống chế đường huyết, giảm huyết áp, giảm béo, năng luyện tập, không hút thuốc lá và ăn uống cân bằng, điều độ.

5. Gia đình không có người mắc bệnh tim thì không phải lo?

Đúng, bệnh tim mạch mang tính di truyền, nói như vậy có nghĩa là người sinh ra trong gia đình có tiền sử mắc bệnh tim mạch thì bản thân có nguy cơ mắc bệnh cao và nên có phương án phòng ngừa sớm. Để giảm thiểu, mọi người nên duy trì cuộc sống vận động, kiểm soát mỡ máu, huyết áp, duy trì trọng lượng hợp lý, không uống rượu và nếu mắc các loại bệnh này nên đi khám và điều trị sớm.

6. Không nhất thiết phải kiểm tra cholesterol?

Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo, bắt đầu từ tuổi 20, nên kiểm tra cholesterol và sớm hơn nếu có tiền sử gia đình mắc bệnh. Theo nghiên cứu thì trẻ nhỏ trong những gia đình có người mắc bệnh tim mạch thường có cholesterol rất cao nên khi trưởng thành sớm mắc phải căn bệnh này.

7. Suy tim có phải là tim ngừng đập?

Tim đột nhiên ngừng đập là dấu hiệu rất nặng của nhiều bệnh khác nhau chứ không phải chỉ riêng bệnh suy tim. Khi suy tim thì tim vẫn làm việc nhưng không thể bơm máu được. Nó có thể gây hiện tượng thở dốc, sưng chân, sưng khuỷu gối hoặc ho, hắt hơi liên tục. Trong quá trình tim ngừng đập, người bệnh có thể mất ý thức và ngừng thở.

8. Đau chân không phải là dấu hiệu của bệnh tim mạch?

Đau chân, đau cơ có thể là dấu hiệu động mạch ngoại vi (PAD). Đây là căn bệnh các động mạch ở chân bị tắc nghẽn do các mảng tiểu cầu trong thành mạch quá dày, nhóm người mắc bệnh PAD thì rủi ro mắc bệnh tim cao gấp 5 lần những người không mắc bệnh này.

9. Tim đập quá nhanh có phải là dấu hiệu của đau tim?

Có một số thay đổi về nhịp tim được xem là bình thường như khi vui, buồn thì tim đập nhanh hoặc khi ngủ tim đập chậm. Trong hầu hết mọi trường hợp, sự thay đổi nhịp tim không đáng lo, nhưng cũng có trường hợp là dấu hiệu của căn bệnh loạn nhịp tim, nhịp tim thay đổi bất thường. Hầu hết rối loạn nhịp tim là vô hại nhưng nếu kéo dài cần điều trị để duy trì sức khỏe cho tim.

10. Nên tránh luyện tập thể thao sau khi đã qua một cơn đau tim?

Không đúng. Ngay sau khi cơn đau tim qua đi nên có kế hoạch duy trì cuộc sống vận động, bởi qua nghiên cứu, khoa học phát hiện thấy những người đã qua những cơn đau tim hoạt động thể chất thường xuyên và điều độ thì sống lâu hơn so với những người không luyện tập. Những người mắc các loại bệnh mạn tính, nên chọn cách luyện tập phù hợp và an toàn. Theo khuyến cáo của AHA, nên tập thể thao 2 – 2,5 giờ mỗi tuần hoặc tư vấn bác sĩ tim mạch để sử dụng các bài tập phù hợp với sức khỏe của mỗi người, không nên duy trì cuộc sống tĩnh tại, nằm và ngồi nhiều.

KHẮC NAM (Theo AHA, 3/2013)

Gia tăng bệnh tim mạch do thực phẩm xấu

benh-tim-mach-do-cac-thuc-pham-xau

Thông thường, thịt nạc có hàm lượng mỡ và cholesterol thấp,  protein cao nên được xem là có lợi cho sức khỏe, nhưng ăn nhiều, đặc biệt là thịt đỏ trong bối cảnh nhiễm khuẩn và các hóa chất độc hại do chăn nuôi sẽ gây phản tác dụng, gây tắc nghẽn mạch máu. Đó là phát hiện mới của các chuyên gia ở Bệnh viện Clereland Mỹ (CC) công bố đầu tháng 4 vừa qua trên tạp chí Nature Medicine. Theo nghiên cứu này, những loại khuẩn xấu, hóa chất độc hại có trong thịt đỏ và cách chế biến không hợp lý sẽ gây tác động xấu đến quá trình chuyển hóa của cơ thể. Có 77 người tình nguyện tham gia nghiên cứu được ăn nhóm thịt đỏ giàu chất đạm và 26 người ăn chay. Kết quả, nhóm ăn thịt trong máu gia tăng hợp chất TMAO (trimethylamine-N-oxide), thủ phạm làm tăng quá trình chuyển hóa cholesterol, hạn chế việc khử cholesterol trong thành mạch máu của con người. Ngoài ra, các nhà khoa học còn xét nghiệm phân, kết quả trong phân thải của người ăn nhiều thịt đỏ cũng có số lượng khuẩn xấu cao hơn rất nhiều so với nhóm người ăn chay.

NG. NAM (Theo MD/FC/DC, 4/2013)

Nuôi thú cưng, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch

nuoi-thu-cung-giup-lam-giam-nguy-co-bi-benh-tim

Hiệp hội Tim mạch Mỹ sau khi xem xét lại các nghiên cứu có liên quan trên toàn thế giới đã kết luận rằng nuôi thú cưng, đặc biệt là chó, thì giảm được nguy cơ mắc bệnh tim.

Không những vậy, những người đã mắc bệnh tim khi nuôi thú cưng thì cũng tăng khả năng sống sót.

Theo nhà khoa học Glenn Levine công tác tại Trường Y Baylor (Mỹ), người đứng đầu cuộc nghiên cứu, nguyên nhân có thể xuất phát từ những lợi ích về mặt tâm lý khi có một tình bạn thuần túy và người sở hữu vật nuôi thường chăm sóc bản thân tốt hơn, cảm nhận về bản thân tốt hơn, có động lực để sống lâu hơn.

Thùy Hoàng (Theo Reuter 5/2013)

Những loại trà không nên dùng sau bữa ăn trưa

Có nhiều loại trà quảng cáo trị đủ thứ bệnh từ viêm gan, huyết áp, tim mạch, béo phì… với giá rẻ đã được nhiều người dùng uống hàng ngày. Tuy nhiên, đã có những vụ tai biến về trà thảo dược xảy ra.

Nhân trần không nên kết hợp với cam thảo

Nhân trần – cam thảo là 2 vị thuốc tốt, nhưng kết hợp với nhau sẽ không tốt vì cam thảo giữ nước, nhân trần lại giúp đào thải. Uống nước nhân trần pha cam thảo thay trà không đúng cách còn bị tương tác thuốc, nhất là người tăng huyết áp.

Trà đắng giúp giảm cân, an thần, ngủ ngon, hạ cholesterol máu, trị tiểu đường, bệnh tim mạch, chữa cảm lạnh, đau nhức… Nhưng các chuyên gia dược xếp vào nhóm dược thảo có chứa chất gây hại cho gan, uống nhiều sẽ rối loạn cung cấp máu cho gan, dẫn đến sưng gan, vàng da, bụng có nước, chân phù, chậm nhịp tim, hạ huyết áp đột ngột… Thậm chí mất thăng bằng, tự ngã, tử vong vì suy gan cấp tính, suy giảm chức năng tình dục.

nhung-loai-tra-khong-nen-dung-sau-bua-an-trua

Để trà thảo dược phát huy tác dụng, cần dùng điều độ, tránh uống thường xuyên một loại trà. Ảnh minh họa

Các lương y, bác sĩ khuyến cáo: Không phải bất cứ loại trà thảo dược nào cũng an toàn. Nếu có bệnh dùng trà thảo dược sai, bệnh sẽ nặng hơn. Người không có bệnh, uống nhiều trà thảo dược có thể bị ngộ độc dược chất.

Mua trà cần có nguồn gốc rõ ràng, dùng đúng hướng dẫn sử dụng, xem kỹ xuất xứ, hạn sử dụng. Không nên mua nguyên cây về nấu uống vì rất khó xác định nguồn gốc, độ an toàn (do khi trồng dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng, nguồn nước ô nhiễm…) hoặc sơ chế không đảm bảo vệ sinh, sẽ hại cho sức khỏe.

Ai không nên uống trà thảo dược?

Theo ông Nguyễn Xuân Hướng, nguyên Chủ tịch Trung ương Hội Đông y Việt Nam, người có sức khỏe bình thường có thể sử dụng trà có nguồn gốc thực phẩm từ rau quả như bí đao, rau má, rau đắng, mướp đắng (khổ qua)… Nhưng có những loại trà thảo dược như: Hoa sơn trà, hoa tam thất, hoàn ngọc, nha đam, lược vàng… có tính chất chữa bệnh, dùng thường xuyên thì tính vị (nóng, lạnh, đắng, cay…) của thuốc sẽ làm cơ thể bị mất cân bằng.

Công dụng của các dược liệu có khác nhau, bào chế, liều dùng, cách dùng cũng tạo đặc trưng (như giải nhiệt chống khát, lợi niệu giải độc, kích thích tiêu hóa, giảm mỡ máu, cải thiện trí nhớ, chống viêm loét tiêu hóa, kháng khuẩn tiêu viêm…). Có loại trà thảo dược hợp với người này, nhưng không hợp với người kia.

Người vừa phẫu thuật hoặc đang dùng thuốc, người bị rối loạn chức năng thận, bệnh tim, viêm loét dạ dày và các vấn đề tâm lý, trẻ nhỏ cơ thể còn non nớt không nên uống trà thảo dược.

Người có bệnh tăng nhãn áp, thiếu máu, bệnh gan các bác sĩ khuyên nên tránh uống trà. Người yếu nếu uống trà thảo dược với tính hàn và vị đắng sẽ làm tổn hại đến dương khí và tì vị, dẫn đến nhiều căn bệnh khác.

Đặc biệt, các bà bầu muốn uống trà phải có ý kiến của bác sĩ, bởi các loại thảo mộc khi pha thành trà, cô đặc và uống quá nhiều sẽ không tốt tới sức khỏe mẹ và thai nhi. Một số loại trà có thể vô tình gây kích thích tử cung, co thắt dạ con (như với trà hoa cúc, thìa là, trà sả, ma hoàng, rễ cam thảo, lá mâm xôi, hoa hồi, cây ngải đắng, cây hương thảo…).

Nếu không có bệnh lý về gan, không có y lệnh thì bà bầu tuyệt đối không dùng nhân trần, cam thảo (kẻo cơ thể thải nhiều nước và dinh dưỡng sẽ khiến thai bị suy dinh dưỡng, sinh non hoặc thiếu cân, chết lưu…).

Phụ nữ mới sinh con không uống nhiều trà thảo dược vì dễ có nguy cơ hậu sản. Người mẹ uống nhiều có thể dẫn đến bị mất sữa hoặc ít sữa.

Phụ nữ kỳ kinh nguyệt mất rất nhiều máu, thiếu chất sắt, nếu uống trà thảo dược tính hàn vào càng hại cho dạ dày, còn gây chóng mặt, đau bụng.

Trà thảo dược là dược liệu, vì vậy không thể uống nhiều một lúc, càng không thể dùng lâu. Hầu hết trà thảo dược lợi tiểu, do đó không nên uống trước khi đi ngủ, khi đói (nhất là khi vừa ngủ dậy vì sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa). Không nên uống trà thảo dược ngay sau bữa ăn vì chất tanin sẽ làm protein trong thức ăn trở nên cứng, khó tiêu… Không nên uống trà để qua đêm. Cũng không ngâm trà thảo dược trong ấm trước lúc đi ngủ để sáng hôm sau dậy uống, vì không khoa học và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Phương Thuận – Trà Giang
Theo gia đình

Nguy cơ bệnh tim mạch do muối trong thuốc

Dundee – Lượng muối cao trong một số loại thuốc dạng sủi có thể gây hại cho sức khỏe. Theo một nghiên cứu đăng trên báo Y tế của Anh thì nó dẫn tới tỉ lệ tăng huyết áp cao gấp 7 lần. Thậm chí có thể gây ra đột quỵ và tử vong.

Một số loại thuốc tan trong nước, dạng viên hoặc dạng bột, có hàm lượng muối cao. Trong số chế phẩm mà các nhà dược học của trường ĐH Dundee kiểm tra, lượng muối trong một viên Paracetamol 500mg là cao nhất. Nó chứa 18,6mmol Natri. Và với liều tối đa được phép uống một ngày là 4g, tương đương 148,8mmol, lượng muối hấp thụ đã cao hơn so với mức được khuyên ở Anh (104mmol, tương đương 2,4g)

nguy-co-benh-tim-mach-do-muoi-trong-thuoc

Lượng muối cao là do Natri bicácbonat được cho thêm vào chế phẩm để thuốc sủi tốt hơn. Điều này thường thấy ở những loại thuốc giảm đau được kê cho các bệnh mãn tính phải dùng thuốc trong thời gian dài. Điều này có thể gây tác dụng xấu tới vấn đề tim mạch của họ.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu dữ liệu từ Trung tâm liên kết dữ liệu nghiên cứu cuả các phòng khám (CPRD) bao gồm hồ sơ bệnh án của 1,2 triệu bệnh nhân người Anh. Trong khoảng thời gian 7,23 năm có tổng cộng 61072 ca liên quan tới tim mạch (gồm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong). Đem ra đối chiếu thì thấy các bệnh nhân thường được kê các loại thuốc có hàm lượng muối cao.

Trong nghiên cứu của mình các nhà khoa học cũng lưu tâm tới một loạt khả năng, ví dụ như: Lối sống của bệnh nhân cũng có thế gây ra các bệnh về tim mạch, và để điều trị chúng lại phải sử dụng các loại thuốc giảm đau. Tuy nhiên sự liên quan tới việc tăng huyết áp có thể được khẳng định về mặt y học. Tăng huyết áp động mạch là yếu tố nguy hiểm nhất đối với các bệnh về tim mạch. Đặc biệt là đột quỵ.

Natribicacbonat cũng là thành phần của một số loại thuốc bán đại trà, nhưng không được nhắc tới trong nghiên cứu. Quỹ trái tim Anh cho biết, nếu thỉnh thoảng mới uống các loại thuốc có chứa muối thì không có tác hại gì. Tuy nhiên cần hạn chế sử dụng thường xuyên sử dụng trong thời gian dài.

Theo ärzteblatt

Điều trị biến chứng tim mạch do đái tháo đường gây ra

Đái tháo đường (ĐTĐ) gây nhiều biến chứng cho tim mạch và thường là những biến chứng nặng nề. Dưới đây là một số phương pháp điều trị các biến chứng tim mạch do đái tháo đường.

Hội chứng động mạch vành cấp

Hội chứng động mạch vành (ĐMV) cấp bao gồm cơn đau thắt ngực không ổn định, nhồi máu cơ tim (NMCT) không ST chênh lên và NMCT có ST chênh lên. Tiên lượng hội chứng ĐMV cấp trên bệnh nhân ĐTĐ thường xấu, do nhiều nhánh ĐMV cũng bị tổn thương và hình thái tổn thương thường phức tạp, khó can thiệp.

Tái lưu thông ĐMV: tái lưu thông ĐMV là điều trị chính đối với bệnh nhân bị hội chứng ĐMV cấp. Có 3 biện pháp tái thông ĐMV là dùng thuốc tiêu sợi huyết, nong ĐMV và phẫu thuật bắc cầu chủ – vành. Trước đây, người ta cho rằng đối với bệnh nhân ĐTĐ, phẫu thuật bắc cầu chủ – vành là biện pháp điều trị chính. Song từ khi có các loại stent phủ thuốc, phối hợp với các thuốc ức chế thụ thể GPIIb/IIIa của tiểu cầu thì nhiều bệnh nhân ĐTĐ bị hội chứng mạch vành cấp đã được cứu sống nhờ các biện pháp điều trị này.

Trước khi có stent và thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa, tỷ lệ tái hẹp sau nong ĐMV trên bệnh nhân ĐTĐ lên tới 47 – 71%. Nhưng khi kết hợp đặt stent phủ thuốc cùng với các thuốc ức chế thụ thể IIb/IIIa và các thuốc chống gây kết tập tiểu cầu khác thì tỷ lệ tái hẹp chỉ còn 8,1% ở bệnh nhân ĐTĐ được can thiệp ĐMV.

dieu-tri-bien-chung-tim-mach-do-dai-thao-duong

Suy tim

ĐTĐ là yếu tố nguy cơ độc lập của suy tim. Hai nguyên nhân góp phần gia tăng suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ là vấn đề NMCT trong bệnh ĐMV mạn và tình trạng tái cấu trúc thất sau NMCT. Trong nhiều nghiên cứu khác nhau, người ta cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có tần suất suy tim cao hơn hẳn bệnh nhân không ĐTĐ. Việc kiểm soát tốt đường huyết và chỉ số huyết áp sẽ giúp giảm nguy cơ suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ.

Các thuốc sử dụng nhằm phòng ngừa hoặc điều trị suy tim do ĐTĐ thường được sử dụng là: thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, chất đối kháng aldosteron, thuốc chẹn beta giao cảm…

Loạn nhịp tim

Nhiều loại rối loạn nhịp có thể gặp ở bệnh nhân ĐTĐ như: ngoại tâm thu nhĩ, ngoại tâm thu thất, rung nhĩ, bloc nhĩ – thất… Tần suất rung nhĩ trên bệnh nhân ĐTĐ chỉ đứng sau suy tim và tăng huyết áp trong khởi phát rung nhĩ. ĐTĐ cũng là một yếu tố nguy cơ độc lập gây đột quỵ. Tần suất đột quỵ do tình trạng huyết khối gia tăng vì vận tốc dòng máu trong tiểu nhĩ hay trong tâm nhĩ giảm. ĐTĐ sẽ làm gia tăng nguy cơ đột tử ở mọi lứa tuổi nhiều hơn gấp 4 lần, ở nữ nhiều hơn nam. Cơ chế của đột tử do ĐTĐ còn chưa thực sự rõ ràng, có thể do nhiều yếu tố phối hợp như: xơ vữa động mạch, tổn thương vi mạch, rối loạn hệ thần kinh tự chủ, hội chứng QT dài.

Khi đường máu càng cao thì nguy cơ đột tử sẽ càng lớn.

Bệnh động mạch ngoại vi và bệnh mạch máu não

Động mạch ngoại vi (ĐMNV) thường thấy rõ nhất các tổn thương là động mạch chi dưới, động mạch thận, động mạch cảnh… Bệnh nhân ĐTĐ có tần suất bệnh ĐMNV gia tăng từ 2 – 4 lần và khoảng 15% bệnh nhân có chỉ số cổ chân – cánh tay bất thường. Tần suất bệnh cũng gia tăng theo tuổi, theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ và bệnh thần kinh ngoại vi. Biểu hiện lâm sàng hay gặp của bệnh ĐMNV là tình trạng thiếu máu cục bộ chi dưới với biểu hiện lâm sàng là các cơn đau cách hồi.

Các biện pháp điều trị bao gồm: giảm yếu tố nguy cơ tim mạch, ức chế kết tập tiểu cầu, tái lưu thông mạch (nong mạch qua da hoặc phẫu thuật).

Đột quỵ

Nguy cơ tương đối của đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ tăng từ 2,5 – 4,1 lần ở nam và 3,6 – 5,8 lần ở nữ so với người không mắc ĐTĐ. Tương quan giữa tăng đường máu và đột quỵ trên bệnh nhân ĐTĐ ít chặt chẽ hơn so với NMCT.

Bệnh nhân ĐTĐ nếu đã có biến chứng có protein niệu, bệnh võng mạc hay bệnh thần kinh tự chủ thì thường cũng bị gia tăng nguy cơ đột quỵ. Đột quỵ thường do tình trạng thiếu máu cục bộ ở não.

Việc kiểm soát tốt đường máu, huyết áp và chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, phục hồi chức năng hợp lý sẽ góp phần giảm thiểu tối đa những hậu quả do tai biến mạch não gây nên.

Dự án Quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường

Theo SKDS

Sẩy thai liên tiếp – biết nhưng không thể tránh

Mang thai, sinh con là thiên chức của người phụ nữ, thế nhưng không ít người bị sẩy thai liên tiếp nhiều lần. Giới chuyên môn gọi đó là sẩy thai quen dạ.

Nhiều lần mang thai vẫn chưa có con

Chị Thanh Thủy, giáo viên một trường Mầm non ở Thanh Hóa lấy chồng ở tuổi 27 – độ tuổi sinh đẻ đẹp nhất. Thế nhưng gần 4 năm sau khi kết hôn chị vẫn chưa có con. Dù đã nhiều lần mang thai nhưng chị đều bị sẩy một cách vô cớ.

say-thai-lien-tiep-biet-nhung-khong-the-tranh

Lần thứ nhất chị bị sẩy thai khi thai mới được 9 tuần. Tự dằn vặt mình bất cẩn nên mới như vậy, đến lần mang thai sau, chị cẩn thận hơn rất nhiều, không tự đi xe máy đi làm như mọi khi. Nhưng cũng chỉ đến tuần thứ 9 thì chị bị ra huyết và sẩy thai khi đang làm việc nhà. Sau đó chị mang thai thêm 2 lần nữa nhưng cũng chỉ giữ được hơn 2 tháng thì bị sẩy.

Chị Thu Hòa cũng là một trong số chị em không may mắn đường con cái. Vốn là nhân viên kinh doanh, công việc của chị phải đi lại nhiều. Ngày mang thai đứa đầu tiên, do chưa có kinh nghiệm, lại chủ quan đến chị không chú ý, vẫn đi lại nhiều, kể cả đi công tác các tỉnh. Kết quả là đến tuần thứ 12, chị bị ra nhiều máu trong lúc đang làm việc với khách hàng. Mặc dù được đưa ngay đến bệnh viện nhưng các bác sĩ cũng không kịp giữ thai cho chị.

Đến lần mang thai thứ hai, chị rút kinh nghiệm không đi các tỉnh nữa, chỉ chạy việc quanh Hà Nội. Nhưng chị cũng chỉ giữ được thai đến 15 tuần. Lần thứ ba mang thai, chị xin làm việc tại văn phòng. Mặc dù không phải đi lại nhiều nhưng thỉnh thoảng chị Hòa lại thấy ra máu hoặc đau bụng. Những lần như vậy, chị phải ở lại viện vài ngày vì có dấu hiệu dọa sẩy thai. Nghe lời bác sĩ và người thân, đến tuần thứ 20, chị xin nhập viện để yên tâm giữ thai vì theo các bác sĩ, chị có nhiều nguy cơ sẩy thai quen dạ.

say-thai-lien-tiep-biet-nhung-khong-the-tranh1

Không riêng chị Thủy, chị Hòa, rất nhiều chị em phụ nữ rơi vào tình trạng mang thai nhiều lần và liên tiếp bị sẩy thai như vậy. Theo các bác sĩ sản khoa thì hiện tượng này được gọi là sẩy thai quen dạ. Điều đặc biệt là hiện tượng này không phải chỉ gặp ở những phụ nữ lớn tuổi mà ngay cả những chị em đang ở thời kỳ sinh sản lý tưởng nhất cũng có thể gặp.

Cẩn trọng chứng sẩy thai quen dạ

Bác sĩ Lê Thị Kim Dung, sẩy thai tự nhiên, liên tiếp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Nhưng nếu các lần sẩy thai cùng rơi vào một thời gian (cùng tuổi thai) thì khả năng lớn là do khiếm khuyết về gen di truyền, tức là có thể cha và mẹ mang hai bộ gen có những đột biến hoặc gen “xấu” nào đó mà khi kết hợp lại với nhau sẽ gây ra những dị tật hoặc khiếm khuyết nặng khiến cho thai không thể phát triển qua một độ tuổi nhất định.

Nhiều trường hợp nguyên nhân gây sẩy thai liên tục do tử cung kém phát triển, tử cung gấp và đổ ra sau hay u xơ tử cung, dị dạng tử cung, hở eo tử cung, bệnh lạc nội mạc tử cung… hoặc do giảm nội tiết estrogen, progesteron, cường hoặc thiểu năng tuyến giáp… Người mẹ bị bệnh giang mai, tiểu đường, bệnh tim mạch, thận… nếu thường xuyên xoa bụng khi mang thai, quan hệ tình dục quá đà cũng có thể dẫn tới chấn thương vùng bụng, gây ra sẩy thai.

Bác sĩ Dung khuyến cáo, phụ nữ nếu bị sẩy liên tiếp, nhiều lần thì nên tránh có thai ít nhất một năm. Bởi tiếp tục mang thai ngay sau đó, sẽ tạo thành tiền lệ để khí huyết bị hư tổn sẽ dẫn đến vô sinh. Trong thời gian chờ đợi này nên bồi dưỡng sức khỏe để nhanh phục hồi can thận, làm cho tử cung bị thương tổn do sẩy thai được phục hồi bình thường.

Thai phụ có tiền sử sẩy thai càng nên lưu ý khi dùng kem chống rạn da trong thời gian mang thai, động tác xoa lên bụng của các bà bầu làm cho tử cung bị co bóp gây động thai và có thể đẩy thai nhi ra ngoài. Vấn đề quan hệ tình dục trong thời kỳ mang thai cũng cần hết sức thận trọng, nhất là đối với phụ nữ đã từng bị sẩy thai. Tuyệt đối không nên giao hợp trong ba tháng đầu của thời kỳ, ba tháng sau có thể quan hệ nhẹ nhàng, ba tháng cuối thai kỳ cần giảm bớt. Việc kích thích đầu vú cũng là nguyên nhân của sự gia tăng các cơn co tử cung gây động thai. Vì vậy, khi quan hệ tình dục trong thời gian có mang nên tránh động tác này.

Theo bác sĩ Dung, nếu sẩy thai 1 lần thì nguy cơ sẩy thai lần mang thai thứ 2 là khoảng 30%, và đến lần mang thai thứ 3 nguy cơ này tăng lên đến 50%. Vì vậy, khi mang thai chị em nên hạn chế những nguy cơ dẫn đến rủi ro để tránh trường hợp sẩy thai tái phát, dẫn đến sẩy thai quen dạ.

Theo Trí thức trẻ

Nguy cơ tim mạch của các thuốc NSAID không chọn lọc

Cuối năm 2012, Cơ quan y tế châu Âu đã hoàn thành việc xem xét các dữ liệu khoa học mới nhất về nguy cơ tim mạch của thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) không chọn lọc. Hội đồng Giám định thuốc sử dụng trên người (CHMP) của Ủy ban Dược phẩm châu Âu kết luận rằng, các kết quả nghiên cứu mới nhất phù hợp với bằng chứng trước đó. Các dữ liệu sau này liên tục cho thấy một nguy cơ tim mạch cao hơn với diclofenac so với các NSAID không chọn lọc khác.

NSAID không chọn lọc là gì?

Được gọi là không chọn lọc vì các thuốc kháng viêm không steroid ức chế men cyclo-oxygenase (COX) bao gồm cả COX-1 và COX-2 do đó làm giảm tổng hợp prostaglandin (PG) nên có tác dụng giảm đau và viêm.

NSAID không chọn lọc bao gồm các thuốc diclofenac, ibuprofen, naproxen… và được sử dụng dưới nhiều tên thương mại khác nhau với nhiều dạng dùng khác nhau. Các thuốc này chủ yếu được sử dụng theo đơn của bác sĩ. Tuy nhiên. trong thực tế người dân hay tự ý mua sử dụng mà không cần có đơn của bác sĩ.

nguy-co-tim-mach-cua-cac-thuoc-NSAID-khong-chon-loc

Những nguy cơ…

NSAID đã từng là chủ đề mà châu Âu đưa ra xem xét, đánh giá do lo ngại về nguy cơ tim mạch, tác dụng phụ trên tiêu hóa (ảnh hưởng đến dạ dày và ruột) và phản ứng da nghiêm trọng. CHMP cũng liên tục theo dõi sự an toàn của các thuốc NSAID. Sau khi xem xét tất cả các dữ liệu có sẵn từ năm 2006 và phân tích các thử nghiệm lâm sàng… liên quan đến việc sử dụng diclofenac, ibuprofen và naproxen cho thấy, các bằng chứng mới nhất hiện có trên nguy cơ tim mạch của naproxen và ibuprofen là phù hợp với kết luận trước đây của CHMP. Khả năng làm tăng nguy cơ huyết khối nhỏ, nhất là khi các loại thuốc này được sử dụng ở liều cao và điều trị lâu dài.

Đối với diclofenac, các kết quả nghiên cứu mới nhất cũng cho thấy tăng nguy cơ đau tim, đột quỵ hoặc nguy cơ huyết khối. Và nguy cơ về tim mạch của diclofenac là cao hơn hẳn so với các NSAID không chọn lọc khác. Vì vậy, CHMP cho rằng cần khuyến nghị, cảnh báo về nguy cơ tim mạch cho các loại thuốc có chứa diclofenac.

Và khuyến nghị khi dùng

Để sử dụng an toàn các NSAID không chọn lọc, theo CHMP, chỉ sử dụng các thuốc này để giảm đau và viêm như viêm khớp (viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, viêm cột sống dính khớp và bệnh gút cấp tính), rối loạn cơ xương cấp tính, viêm gân, viêm bao gân và viêm bao hoạt dịch và các chứng đau khác do chấn thương (bao gồm gãy xương, đau thấp trở lại, bong gân, trật khớp, chỉnh hình, nha khoa và phẫu thuật nhỏ khác). NSAID không chọn lọc nên tiếp tục được sử dụng theo các thông tin sản phẩm hiện có cho mỗi loại thuốc.

Tất cả các NSAID không chọn lọc nên được sử dụng ở liều thấp nhất có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị ngắn nhất có thể.
Khi kê đơn, cần lưu ý các thông tin về an toàn tim mạch và các rủi ro khác đối với các thuốc này. Bệnh cần theo dõi những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra và thông báo cho bác sĩ điều trị biết.

DS. Hoàng Thu

Theo skds

Dinh dưỡng phòng bệnh tim mạch

Có nhiều yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch trong đó có nguyên nhân do chế độ ăn và lối sống. Vì vậy, yếu tố dinh dưỡng là vô cùng quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh.

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm hút thuốc lá, thừa cân và béo phì, tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường và lối sống ít vận động. Những người có nhiều yếu tố nguy cơ thì khả năng xuất hiện các biến cố tim mạch sẽ cao hơn nhiều. Tuy nhiên, những yếu tố nguy cơ này có thể thay đổi và kiểm soát được, như ngừng hút thuốc lá, kiểm soát huyết áp, điều chỉnh rối loạn mỡ máu, kiểm soát cân nặng, tăng cường vận động… điều chỉnh chế độ ăn vẫn luôn là nền tảng trong việc phòng và điều trị bệnh. Theo các nghiên cứu cho thấy việc thay đổi số lượng cũng như thành phần các chất dinh dưỡng (chất đa lượng, chất vi lượng) có trong khẩu phần ăn đều có ảnh hưởng đến tăng hay giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch bao gồm các yếu tố sau:

dinh-duong-phong-tim-mach

Tổng năng lượng

Béo phì là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim mạch, đồng thời sự phân bố mỡ trong cơ thể cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng, người béo bụng có nguy cơ cao nhất. Để đánh giá mức độ béo phì, người ta dựa vào chỉ số BMI (được gọi là chỉ số khối, tính bằng trọng lượng cơ thể chia cho bình phương chiều cao (kg/m2). Những người béo phì ảnh hưởng đáng kể tới suy tim, nguy cơ suy tim tăng gấp đôi ở những bệnh nhân béo phì (BMI lớn hơn hoặc bằng 30kg/m2) so với người không béo phì. Vì vậy giảm cân rất cần thiết đối với người béo phì và duy trì cân nặng ở mức BMI từ 18,5 – 24,9 kg/m2.
Dinh dưỡng phòng bệnh tim mạch 2
Tập luyện kiểm soát cân nặng giúp phòng tránh nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Có thể tính đơn giản như: lấy chiều cao (cm) trừ đi 100, rồi đem số còn lại chia 10 nhân 9. Ví dụ, một người cao 160 cm thì mức cân nên có là: (160 – 100)/ 10 x 9 = 54 kg.

Nếu ăn quá mức cần thiết sẽ dẫn đến béo phì, các bệnh về chuyển hoá, đái tháo đường, tăng huyết áp… Người ăn quá mức tiêu hao thì sẽ tăng cân, ngược lại ăn ít hơn mức tiêu hao thì sẽ bị giảm cân. Nếu năng lượng ăn cân bằng với năng lượng tiêu hao của cơ thể thì cân nặng sẽ ổn định.

Lương thực chính của người Việt Nam là gạo, tùy theo vùng miền còn có các loại lương thực khác như ngô (bắp) ở miền núi, cao nguyên; khoai ở đồng bằng; củ ở trung du, miền núi.

Lượng gạo hàng ngày ở người trưởng thành trung bình là 300 – 350g, tương đương khoảng 6 bát (chén) cơm. Nếu ăn ngô, 1 bắp ngô tương đương 1 bát cơm, vậy lượng ngô khoảng 6 bắp. Nếu là khoai khoảng 6 củ lớn mỗi ngày.

Chất béo (lipid)

Số lượng và loại chất béo đều quan trọng. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, tổng lượng chất béo nên từ 15 – 20% tổng năng lượng trong ngày. Tuy nhiên loại chất béo sử dụng quan trọng hơn tổng lượng chất béo. Chế độ ăn có nhiều a-xít béo no (có nhiều trong mỡ, bơ, thức ăn nhanh, thức ăn công nghiệp được chế biến ở nhiệt độ cao) làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

Trong khi đó axít béo không no làm giảm nguy cơ này, chất béo chứa axít béo loại này được tìm thấy ở dầu mè, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt bắp, cá, hải sản… Khi thay thế axít béo no bằng axít béo không no có tác dụng làm giảm nguy cơ tim mạch. Các chuyên gia khuyên mỗi tuần nên có 3 – 5 lần ăn cá, hải sản, thay thế cá cho thịt. Đối với những người không thích ăn cá và hải sản có thể sử dụng dầu cá thiên nhiên mỗi ngày 2 – 3g.
Dinh dưỡng phòng bệnh tim mạch 3

Chất đường (glucid)

Glucid gồm các loại chất bột, đường và chất xơ, là thành phần dinh dưỡng cơ bản, chiếm khối lượng lớn nhất và cung cấp năng lượng nhiều nhất trong khẩu phần ăn. Thay thế axít béo no bằng lượng năng lượng từ axít béo không no hoặc glucid đều có tác dụng tốt để giảm nguy cơ mắc bệnh xơ vữa động mạch. Nguồn glucid trong thực phẩm: Gạo tẻ, khoai củ tươi, mì sợi, bánh mì, khoai củ khô; bột khoai khô; bánh phở; sắn tươi; bún; miến …

Chất đạm (protid)

Đạm thực vật có những ảnh hưởng có lợi cho sức khỏe so với đạm động vật, đặc biệt liên quan với tình trạng cholesterol máu. Các loại đậu. Những loại thực phẩm thuộc họ đậu như đậu xanh, đậu đỏ, đậu phộng… Rau có màu xanh đậm (như cải bó xôi, bông cải xanh) rất giàu đạm.

Những nước dùng đạm đậu nành cao có tỉ lệ tử vong do tim mạch thấp hơn so với những nước ăn nhiều đạm động vật. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo: để giảm các nguy cơ của bệnh tim mạch nên ăn các loại chế phẩm từ đậu nành như: Đậu phụ, giá đậu, nước đậu,…

Chất xơ (fiber)

Một số thành phần xơ có khả năng giữ nước cao và được gọi là xơ tan. Xơ tan có trong các loại thực phẩm như một số trái cây, nước trái cây (mận, quả mọng), bông cải, cà rốt, khoai tây, khoai lang, hành. Xơ tan có khả năng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Ngoài ra, chất xơ còn gây cảm giác no giúp tránh ăn quá nhiều năng lượng gây tăng cân.
Dinh dưỡng phòng bệnh tim mạch 4

Các vi chất dinh dưỡng

Các vi chất dinh dưỡng như các vitamin và khoáng chất rất cần cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Khi thiếu vitamin B12, B6, axít folic làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch máu. Nhưng trong chế độ dinh dưỡng hiện nay, hầu hết còn chưa cung cấp đủ các vi chất, vì thế cần được bổ sung các thực phẩm giàu vitamin (từ rau và trái cây).

Ngoài ra các chất chống ôxy hóa cũng ảnh hưởng đến quá trình xơ vữa động mạch. Chế độ ăn có nhiều chất chống ôxy hóa (vitamin E, vitamin A, vitamin C, selen) có thể giảm tới 20 – 40% nguy cơ bệnh mạch vành.

Bên cạnh đó các muối khoáng vô cùng quan trọng trong chế độ dinh dưỡng, nhất là trong tim mạch. Natri (từ muối ăn) và các chất điện giải khác đều ảnh hưởng đến huyết áp. Khoảng 50% người tăng huyết áp có nhạy cảm với muối. Giảm lượng natri giúp phòng ngừa chứng tăng huyết áp và cũng được xem như một phương pháp điều trị bệnh tăng huyết áp. Khuyến cáo gần đây khuyên nên hạn chế lượng muối ăn vào dưới 6g/ngày bằng cách chọn những thức ăn ít muối và hạn chế ăn thức ăn đóng hộp, không ăn kèm muối khi ăn, ví dụ như khi ăn trái cây…
Ngược lại, kali, magiê, canxi liên quan nghịch với huyết áp. Chế độ ăn đủ các vi chất này giúp làm giảm huyết áp. Để tăng cường các chất điện giải này bằng cách tăng cường ăn lượng rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, và các sản phẩm làm từ sữa ít béo.

Bác sĩ Ngô Tuấn Anh

Theo SKDS

Giá đỗ là một thực phẩm tốt cho sức khỏe

Thông tin về lực lượng chức năng TP Hà Nội phát hiện, bắt giữ 80.000 tuýp thuốc kích thích không rõ nguồn gốc có thể khiến giá đỗ lớn thêm từ 1-2cm chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ lại dấy lên nỗi lo về thị trường giá đỗ. Tẩy chay hay vẫn ăn? Tự làm hoặc mua thì cần lựa chọn giá như thế nào?

Độc chất trong giá đỗ là gì?

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), các loại hóa chất kích thích giá đỗ tăng trưởng nhanh thường bao gồm các chất p-chlorophenoxyacetic axit và 6-benzylaminopurine được hòa tan trong dung dịch Na2CO3. Hai hợp chất này đều không có trong danh mục các hóa chất được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định và cũng không có trong danh mục các thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trưởng được phép sử dụng do Bộ NN&PTNT quy định.

Cùng với Hà Nội, Trung tâm Y tế dự phòng quận Bình Thạnh, TPHCM cũng đã lấy mẫu phân tích, rà soát, hóa chất dùng để sản xuất giá đỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc do Công ty TNHH Phú Dung, ở Giang Tô sản xuất. Theo đó, các chất phát hiện gồm hoạt chất 6-benzylaminopurine thuộc nhóm cytokinin và gibberelin A28. Công dụng của các loại hoạt chất trên là giúp giá đỗ chóng nảy mầm. Tuy nhiên, đây là những hoạt chất chưa được nghiên cứu, khảo nghiệm và chưa được phép sử dụng ở Việt Nam.

gia-do-la-mot-thuc-pham-tot-cho-suc-khoe

Vì sao không nên tẩy chay?

Nhiều người quá lo lắng độc chất có trong giá đỗ nên đã tẩy chay luôn món ăn này. Tuy nhiên, giá đỗ (làm từ các loại đỗ) là một thực phẩm tốt cho sức khỏe. Trong Đông y, giá đỗ xanh có tác dụng giải độc đa năng, kể cả thạch tín là một khoáng vật rất độc. Đỗ tương sau khi ngâm thành giá đỗ không những giữ nguyên được toàn bộ giá trị dinh dưỡng vốn có mà còn làm tăng thêm lượng vitamin C và amino axit, có tác dụng tốt trong việc ngăn chặn bệnh tim mạch. Giá đỗ tương có những enzym có thể kháng lại carcinogens (các tác nhân gây ung thư). Nếu bổ sung giá đỗ tương trong khẩu phần ăn hằng ngày còn có tác dụng phòng chống hiệu quả bệnh ung thư trực tràng và một số bệnh ung thư khác do trong thành phần của giá đỗ tương có chứa lục diệp tố. Giá đỗ tương là một loại thực phẩm rất tốt cho những người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ, người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol trong máu cao…

Theo TS Nguyễn Duy Thịnh, trong quá trình nảy mầm hạt đỗ xanh, hàm lượng vitamin E tăng cao, protein, đường, canxi, phốt pho, sắt, caroten, vitamin K, beta caroten, vitamin C, các vitamin nhóm B cũng tăng theo, gia tăng sự tổng hợp enzym SOD là chất chống ôxy hóa mạnh nhất hiện nay. Ngoài ra, giá đỗ xanh tốt với nam giới. Vitamin C trong giá đỗ xanh là chất chống ôxy hóa giúp tinh trùng không bị vón cục, dính kết, vì vậy làm tăng cơ hội thụ thai.

Cách chọn giá đỗ sạch

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Duy Thịnh, một mẻ giá đỗ làm theo đúng quy trình sẽ mất từ 4-5 ngày còn giá ngậm thuốc kích thích chỉ mất từ 1-2 ngày. Vì vậy, giá ngậm thuốc có rất ít rễ. Bạn chỉ cần nhìn vào rễ của giá là có thể phân biệt được giá sạch hay không. Cụ thể:

– Giá ngậm thuốc có thân dài, ít rễ hoặc không có rễ, màu trắng bắt mắt.

– Giá sạch có rất nhiều rễ, thân cong queo.

Ngoài ra, bạn không nên chọn những cọng giá dài vì càng dài, lượng protein và các khoáng chất càng ít. Lượng vitamin trong giá đạt cao nhất khi bắt đầu nảy mầm. Nếu cọng giá dài 10cm thì chất dinh dưỡng bị tổn thất đến 20%, trong đó có 74% lượng vitamin C bị mất. Vì vậy, bạn nên chọn cọng giá có độ dài khoảng 2-3cm.

Bạn có thể tự làm giá đỗ xanh bằng cách:

– Đỗ xanh: 300g (sẽ cho khoảng 3kg giá đỗ thành phẩm).

– Nồi đất (hoặc chõ đồ xôi bằng nhôm); Lá tre (hoặc vải màn), que gài.

Cách làm:

– Ngâm đỗ xanh trong nước chừng 2-3 giờ. Sau đó rửa sạch, cho đỗ xanh vào nồi đất, phủ lá tre hoặc vải lên trên, lấy que gài như đan phên trên miệng nồi sau đó úp nồi xuống đất, kênh một miệng nồi lên cho thoáng. Nên để nồi ủ giá ở nơi thoáng mát.

– Ngày đầu tiên ủ không cần phải ngậm nước. Những ngày sau, mỗi ngày cho nước vào nồi ủ giá 3 lần, mỗi lần từ 15-20 phút, sau đó lại úp nồi ủ giá xuống cho ráo nước, nhớ kênh miệng nồi để giá khỏi bị ủng.

– Cuối ngày thứ 4 hoặc ngày thứ 5 là bạn có thể dỡ giá.

Theo news.go

Phòng tránh và kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp

Nếp sống lành mạnh có thể giúp người chưa mắc bệnh tăng huyết áp phòng tránh được bệnh tăng huyết áp, giúp người bệnh tăng huyết áp kiểm soát tốt huyết áp. Biện pháp này có hiệu quả với mọi mức độ tăng huyết áp từ nhẹ đến nặng. Nếu áp dụng song hành với việc dùng thuốc sẽ giúp cho việc kiểm soát huyết áp được tốt hơn.

Nghiên cứu cho thấy: nếu mọi người thực hiện nếp sống lành mạnh sẽ giúp phòng tránh hoặc kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp. Một nếp sống lành mạnh bao gồm các biện pháp: giảm cân nếu thừa cân; thường xuyên hoạt động thể lực, ngưng hút thuốc lá, hạn chế ăn mặn, không ăn hoặc giảm ăn các loại thức ăn chứa chất béo bão hòa và nhiều cholesterol, không hay hạn chế uống rượu bia, ăn đủ kali canxi và magiê.

phong-tranh-va-kiem-soat-tot-benh-tang-huyet-ap

Giảm cân: nếu bạn có cân nặng vượt quá 10% trọng lượng lý tưởng, bạn được các chuyên gia y tế khuyến cáo cần áp dụng ngay các biện pháp giảm cân, nhưng biện pháp này không áp dụng đối với bệnh nhân tăng huyết áp đang mang thai. Bạn nên áp dụng một chế độ ăn ít năng lượng, tránh những bữa ăn giàu dinh dưỡng.

Thường xuyên hoạt động thể lực: luyện tập thể dục thể thao vừa sức, đều đặn giúp phòng ngừa béo phì, do đó giúp hạ thấp huyết áp và ngăn ngừa sự bắt đầu của tăng huyết áp. Bạn nên vận động khoảng 30 phút mỗi ngày và đều đặn các ngày trong tuần.

Bỏ thuốc lá: nếu bạn đang hút thuốc lá thì việc bỏ hút thuốc là biện pháp hiệu quả nhất và tức thì để giảm nguy cơ về tim mạch. Khi hút thuốc, chất nicotin của thuốc lá kích thích thần kinh giao cảm, làm tăng độ cứng thành động mạch, hậu quả là tăng đề kháng insulin, gây bệnh béo phì, làm tăng sự tiến triển của bệnh thận.

Hạn chế ăn muối: người lớn mỗi ngày chỉ nên ăn 2,4g Na, tương đương với 6g muối NaCl/ngày. Kết quả của việc ăn giảm muối là: làm tăng hiệu quả của thuốc hạ huyết áp, giảm mất kali do phải dùng thuốc lợi tiểu, ngưng hay chậm tiến triển của chứng phì đại tâm thất trái, giảm protein trong nước tiểu, giảm bài tiết canxi qua nước tiểu, giảm loãng xương, giảm nguy cơ ung thư dạ dày, giảm tử vong do đột quị, giảm số lần hen phế quản, giảm nguy cơ bị đục thủy tinh thể…

Để giảm ăn mặn, cần phối hợp nhiều biện pháp như: tăng cường ăn thức ăn tự nhiên vì thức ăn tự nhiên có nồng độ natri thấp và kali cao, trong khi đó, phần lớn thức ăn đã được chế biến đã thêm muối (thêm natri) vào và làm mất bớt kali đi. Tuyên truyền cho những cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm giảm lượng muối thêm vào trong thức ăn hay thức uống đã được chế biến. Hướng dẫn mọi người nên đọc nhãn trên sản phẩm chế biến sẵn, tránh những sản phẩm có chứa hơn 300mg natri cho mỗi phần ăn. Không nên thêm muối NaCl vào thức ăn trong khi nấu hay khi ăn, kể cả việc dùng thêm nước mắm hay xì dầu. Đối với người có thói quen ăn mặn, nên sử dụng sản phẩm nửa NaCl và nửa KCl hay chỉ dùng muối thay thế là KCl. Hạn chế dùng các loại thức ăn nhanh ở mức tối thiểu vì nhiều loại thức ăn nhanh có nồng độ muối cao.

Hạn chế các loại thức ăn chứa nhiều chất béo bão hòa và cholesterol: nghĩa là bạn nên hạn chế ăn thịt mỡ của lợn, bò, gà, vịt; tránh ăn da gà vịt, không nên dùng nước béo khi ăn phở, bún…; hạn chế ăn phủ tạng động vật, ăn trứng vừa phải (khoảng 2-3 quả trứng/1 tuần). Bạn nên áp dụng chế độ ăn có nhiều trái cây, rau và những sản phẩm sữa ít béo. Chế độ ăn này giúp giảm rối loạn lipid máu và tạo thuận lợi để giảm cân, qua đó giúp kiểm soát huyết áp tốt hơn, bạn cũng khỏe đẹp hơn.

phong-tranh-va-kiem-soat-tot-benh-tang-huyet-ap1

Hạn chế rượu bia: uống nhiều rượu bia thì nguy cơ tăng huyết áp và tai biến mạch máu não vẫn luôn rình rập bạn. Nhưng nếu bảo bạn bỏ hẳn rượu bia thì lại là vấn đề không tưởng. Vì thế, các nhà khoa học đã nghiên cứu và khuyên chỉ nên dùng số lượng rượu hạn chế ở mức: dưới 30ml ethanol/ngày, tương ứng với 60ml rượu whisky hay 240ml rượu vang hoặc 720ml bia.

Khẩu phần ăn hàng ngày cần đầy đủ kali, canxi và magiê: Nếu bạn ăn tăng chất kali thì lợi ích là giảm được huyết áp vừa phải nhờ làm tăng hiệu quả hạ huyết áp của việc giảm natri trong thức ăn. Khi điều trị tăng huyết áp, do phải dùng thuốc lợi tiểu nên bị giảm kali trong máu, cần ăn các thức ăn có nhiều kali. Trái cây và đậu cung cấp lượng kali lớn nhất trong khẩu phần ăn. Cụ thể các loại thức ăn giàu kali là: quả bơ, chuối, mơ khô, củ cải đường, sữa chua, nước ép cà chua; ngoài ra, các loại: nho khô, dưa vàng, cam, bí ngô, lê… cũng rất dồi dào kali.

Nguồn sức khỏe

Ăn nhiều trứng tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ

Để thỏa mãn khẩu vị, bạn gọi ngay một món trứng chiên? Tuy nhiên, bạn nên cân nhắc với các món chế biến từ trứng. Các món ăn từ trứng có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ ngay cả với người không có các yếu tố di truyền. Đây là kết quả của một nghiên cứu gần đây trên tạp chí New England Journal of Medicine.

Có nên hạn chế ăn trứng?

Bạn không nhất thiết phải khoanh vùng các món trứng nhé! Nghiên cứu sẽ được các nhà khoa học tìm hiểu để đưa ra kết quả chính xác nhất trong thời gian tới.
an-trung
Trong khi chờ đợi những kết quả này, bạn nên ăn trứng một cách điều độ sẽ tốt cho sức khỏe. Các bữa ăn cần cắt giảm chất béo, các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol… Bạn nên hạn chế ăn lòng đỏ của trứng, còn lòng trắng vẫn là phần an toàn nhất và cũng là một nguồn thực phẩm tuyệt vời cung cấp các loại protein ít béo.

Tại sao trứng có thể gây nguy hiểm?

Mới đây, các nhà khoa học kết luận rằng trong lòng đỏ trứng có một chất đã chuyển hóa gọi là lecithin. Khi lecithin được tiêu hóa, nó phân hủy thành các thành phần khác nhau, trong đó bao gồm cả choline hóa học (lòng đỏ là nguồn duy nhất tạo chất choline trong trứng).

Khi vi khuẩn đường ruột chuyển hóa choline, nó giải phóng chất group gan rồi chuyển đổi thành một hợp chất gọi là trimethylamine N-oxit (hay còn gọi là TMAO).

Các TMAO sẽ đẩy nhanh quá trình hình thành mảng bám và cholesterol tích tụ trong động mạch, khiến người ăn trứng nhiều tăng nguy cơ mắc bệnh tim và đột quỵ.

(Women’s Health)

7 nguyên tắc phòng chống ung thư và tim mạch

Một nghiên cứu mới cho thấy, 7 nguyên tắc cơ bản dưới đây có thể giúp giảm tới 50% nguy cơ tử vong do ung thư hoặc các bệnh tim mạch.

Tích cực hoạt động thể chất

Nghiên cứu của Đại học Kansas (Mỹ) hồi tháng trước cho thấy, các nhân viên văn phòng đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ có hại về sức khoẻ do thói quen ngồi nhiều ở bàn làm việc. Theo đó, những người ngồi một chỗ hơn 4 tiếng/ngày có nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như ung thư, tiểu đường và tim mạch cao hơn những người tích cực vận động. Đặc biệt, những người ngồi ít nhất 6 tiếng tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường rõ rệt.
giam-can
Trong khi đó, nghiên cứu của Đại học Leicester (Anh) cho rằng, những người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường có thể cải thiện tình hình bằng cách giảm thời lượng ngồi xuống còn 90 phút mỗi ngày.

Cai thuốc lá

Theo các nhà khoa học người Đức, cai thuốc lá không bao giờ là muộn, cai thuốc lá ở độ tuổi trung niên hoặc già hơn vẫn mang lại những lợi ích nhất định về sức khoẻ. Ngay cả những người đã có tiền sử hút thuốc lâu dài vẫn có thể giảm tới 40% nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đột quỵ trong vòng 5 năm nếu cai thuốc lá. Một nghiên cứu khác của Canada công bố đầu năm negative còn cho thấy, những người bỏ thuốc lá năm 44 tuổi vẫn có thể sống lâu như những người chưa từng hút thuốc.

Kiểm soát lượng đường trong máu

Lượng đường trong máu cao làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường. Trong khi đó, nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn 5 lần ở những người đàn ông trung tuổi mắc tiểu đường và cao hơn 8 lần ở phụ nữ bị tiểu đường. Tổ chức Diabetes UK (Anh) ước tính tuổi thọ của những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 có xu hướng giảm tới 10 năm. Theo nghiên cứu kéo dài hơn 30 năm của Đại học Pittsburgh (Mỹ) công bố năm 2012, những người mắc tiểu đường tuýp 1 sinh sau năm 1965 có tuổi đời trung bình là 69 tuổi.

Duy trì cân nặng lành mạnh

Một nghiên cứu mới đây đã được tiến hành trên 894,576 người, phần lớn là người Tây Âu và Bắc Mỹ, có độ tuổi trung bình 46 và mức chỉ số khối cơ thể (BMI) trung bình là 25. Kết quả cho thấy, chỉ số BMI mà nhiều người cho là lý tưởng, từ 22.5 – 25 có thể làm tăng nguy cơ chết sớm. Từ mức BMI = 25 trở lên, nếu BMI tăng 5 đơn vị, nguy cơ tử vong tăng hơn 30%. Đặc biệt, khi BMI tăng 5 đơn vị, tỷ lệ tử vọng do bệnh tim mạch, đột quỵ tăng 40%.

Giữ huyết áp ổn định

Huyết áp cao nếu không được điều trị kịp thời có thể khiến tim phình to, làm hoạt động bơm máu của tim kém hiệu quả, từ đó dễ dẫn tới suy tim.

Một nghiên cứu mới đây đăng trên Chuyên san The Lancet cho thấy, hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm ở Anh, chiếm tới 12% tỷ lệ tử vong, tiếp sau đó là các bệnh huyết áp cao, béo phì, thiếu luyện tập, rượu và chế độ ăn thiếu chất.

Đảm bảo chế độ ăn

Chế độ ăn Địa Trung Hải giàu chất chống oxy hóa có thể giúp giảm 1/3 các cơn đau tim, đột quỵ và tỷ lệ tử vong ở người có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch. Điều chỉnh mức độ cân bằng trong chế độ ăn có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngay cả trước khi chúng “gõ cửa”.

Thêm vào đó, nghiên cứu của Thụy Điển cho thấy, chế độ ăn Địa Trung Hải có thể giúp kéo dài tuổi thọ thêm 3 năm. Chế độ ăn Địa Trung Hải gồm nhiều trái cây, rau, cá, ngũ cốc nguyên hạt, ít thịt và sữa bởi chúng chứa nhiều chất béo bão hòa.

Duy trì lượng cholesterol

Quá nhiều cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị cứng và hẹp lại, từ đó làm chậm và dần dần làm tắc mạch máu lưu thông tới tim, dẫn tới đau tim. Một số loại thực phẩm giúp giảm lượng cholesterol trong máu gồm: Quả sung, táo, mận, đậu phộng, dưa hấu, cà chua, lúa mỳ, cá, rau, bơ.

(Kiến thức)

Suy tim – Con đường chung của các bệnh tim mạch

 Các chuyên gia tim mạch đã nhận định “Suy tim là con đường chung cuối cùng của hầu hết các bệnh tim mạch”, bao gồm các tổn thương thực thể tại tim và nhiều bệnh của hệ thống mạch.

Dấu hiệu nhận biết các nguy cơ suy tim

Dấu hiệu hay gặp nhất ở người bị suy tim là khó thở.Lúc đầu chỉ khó thở khi hoạt động gắng sức, về sau khó thở xảy ra thường xuyên hơn kể cả lúc nghỉ ngơi, đặc biệt ở tư thế nằm nên người bệnh thường phải ngồi dậy để thở.
suy-tim1
Mệt mỏi, phù chi, tiểu đêm cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán.

Một triệu chứng khó thấy hơn và không được chú ý nhiều trong suy tim là ho không có đờm kéo dài, ho tăng khi nằm ngủ.

Ở người trẻ, suy tim có thể do các dị tật tim bẩm sinh, hoặc hẹp hở van tim, hậu quả của bệnh viêm khớp do liên cầu khuẩn ở tuổi thiếu niên không được điều trị dự phòng thích hợp.  Ở người lớn tuổi thường do các bệnh tim mạch mãn tính như: bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, xơ vữa mạch, bệnh huyết khối, rối loạn mỡ máu, rối loạn nhịp tim,…

Suy tim làm suy giảm chất lượng cuộc sống

Người bệnh suy tim thường xuyên bị mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, đau tức ngực do thiếu ôxy; ho, phù, khó thở do ứ trệ tuần hoàn. Các triệu chứng này làm mọi hoạt động của người bệnh bị hạn chế và gây tâm lý hoang mang, bi quan về tình hình bệnh tật. Trong suy tim cấp, người bệnh có thể bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Như vậy, không kể đến hậu quả tử vong do đột tử mà nguyên nhân chính là suy tim, thì hậu quả lâu dài đối với người bệnh chính là sự suy giảm trầm trọng chất lượng cuộc sống.

Giải pháp phòng ngừa suy tim sớm

Người bệnh suy tim buộc phải dùng thuốc suốt đời. Vì thế những giải pháp từ thiên nhiên mang tính an toàn cao sẽ phù hợp cho việc sử dụng lâu dài trong hỗ trợ điều trị.

Suy tim trong y học cổ truyền còn gọi là suy tim ứ huyết, nguyên nhân căn bản là do tâm và huyết mạch suy yếu. Đông y cũng có những bài thuốc giúp bổ khí huyết. dưỡng tâm an thần như cao đan sâm tăng lưu lượng máu tới nuôi dưỡng cơ tim, giảm tình trạng ứ trệ tuần hoàn; cao natto – tiêu cục máu đông; cao vàng đằng –  ngăn ngừa quá trình hình thành mảng xơ vữa.

Suy tim khó có thể chữa khỏi hoàn toàn, các phương pháp điều trị đều hướng đến mục tiêu: giảm triệu chứng và làm chậm lại tiến trình suy tim.Vì vậy việc phát hiện và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, cũng như sử dụng thêm những giải pháp an toàn và hiệu quả bền vững cho trái tim “không khỏe” là vấn đề mấu chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Nguồn dân trí

Chảy máu chân răng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

 Trước đây các nguy cơ gây ra các bệnh tim mạch thường được kể đến là bệnh tiểu đường, béo phì, huyết áp cao và nghiện thuốc lá. Tuy nhiên, mới đây, các nhà khoa học vừa phát hiện việc mất răng cũng gây nguy hại cho tim.

Trong công trình nghiên cứu, các nhà y học đã phân tích hồ sơ y tế của gần 16.000 người sống tại 39 quốc gia về số răng còn lại, tình hình lợi, và tần số những lần bị chảy máu đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.
suc-khoe-rang
Trong một lượng lớn các hồ sơ được phân tích, khoảng 40% số người chỉ còn dưới 15 chiếc răng, và 16% đã mất răng hoàn toàn và 25% thường xuyên phàn nàn về việc bị chảy máu chân răng. Kết quả cho thấy, những người có ít răng thường bị bệnh tiểu đường. Chảy máu chân răng và bệnh nha chu có liên quan nhiều hơn đối với việc mỡ máu và huyết áp.

Các nhà y học cho rằng, khi số răng còn lại càng thấp thì hàm lượng các enzym có hại, gây viêm và tắc nghẽn của động mạch càng cao. Các tác giả nghiên cứu cũng lưu ý rằng, cùng với nguy cơ gây bệnh tim mạch, những người còn lại ít răng bị kèm theo cả nguy cơ mắc hàng loạt bệnh khác như mỡ máu, đường huyết, cao huyết áp, chưa kể phụ nữ còn bị tăng kích thước vòng eo.

Tuy mối quan hệ giữa số răng còn lại và tình trạng của lợi với hệ tim mạch vẫn cần nghiên cứu nhiều hơn nữa, thì ngay từ bây giờ cũng có thể thấy được tầm quan trọng của bộ răng đối với sức khoẻ tổng thể của một người như thế nào và việc giữ gìn bộ răng là điều bất cứ ai cũng phải quan tâm.

Theo Bảo Châu
VietNamNet

Phòng ngừa suy tim sớm

 Việt Nam nằm trong số các nước đang phải “oằn lưng” với căn bệnh tim mạch. Dự đoán vào năm 2017, sẽ có trên 20% người Việt, tức là cứ 5 người có 1 người mắc bệnh tim mạch.

Bệnh tim mạch bao gồm bệnh của tim và hệ thống mạch. Trong hệ tuần hoàn, hoạt động của tim và hệ thống mạch không thể tách rời, chúng luôn chịu tác động qua lại và ảnh hưởng đến nhau. Mỗi ngày tim co bóp khoảng 100.000 nhịp, luân chuyển 7.500 lít máu thông qua hệ thống mạch máu. Do đó, chỉ cần một trục trặc nhỏ của hệ thống mạch cũng ảnh hưởng đến hoạt động của tim và ngược lại.

suy-tim

Các bệnh tim mạch như tim bẩm sinh, hẹp, hở van tim, rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, xơ vữa mạch… và rất nhiều các bệnh tim mạch khác, mặc dù nguyên nhân gây bệnh không giống nhau, nhưng hầu hết đều có chung điểm dừng chân cuối cùng là suy tim –  nguyên nhân hàng đầu của các ca tử vong trên toàn thế giới.

Việc phòng tránh các bệnh tim mạch phụ thuộc rất nhiều vào sự hiểu biết của người bệnh về tình trạng sức khỏe của mình. Nhưng thực tế cho thấy, rất nhiều người bệnh do chủ quan, ý thức phòng và chữa bệnh chưa cao, cộng thêm chưa có nhiều kiến thức về bệnh học và tâm lý ngại đi viện khi triệu chứng còn nhẹ, nên chỉ đến khi các triệu chứng trở nên trầm trọng hơn mới lo đi chữa bệnh, cuối cùng dẫn đến việc phát hiện muộn và quá trình điều trị trở nên rất khó khăn.

Vì vậy, việc phát hiện và điều trị sớm bệnh tim mạch có ý nghĩa rất lớn, giúp làm chậm lại diễn tiến của bệnh. Nếu nhận thấy có các dấu hiệu như: đau thắt ngực, khó thở, mệt mỏi, ho, phù, bạn không nên chủ quan nhất là khi bạn đang mắc các bệnh về tim mạch. Hãy lắng nghe các dấu hiệu cảnh báo từ cơ thể để giúp các bác sĩ chẩn đoán sớm, chính xác và điều trị kịp thời, trước khi trái tim bị suy yếu.

Nguồn dân trí

Uống quá nhiều nước soda có thể gây loạn nhịp tim

Nước soda khi hấp thụ vào cơ thể quá nhiều, sẽ gây ra các vấn đề về tim và các chứng bệnh khác.

Tiến sĩ Naima Zarqane, thuộc Trung tâm y học Princess Grace ở Monaco thực hiện nghiên cứu trường hợp một phụ nữ 31 tuổi bị vấn đề về tim, và ngất xỉu sau nhiều năm uống nước soda.

Người phụ nữ này sống ở Monaco, một quốc gia nhỏ ở miền nam nước Pháp. Bà đã được đưa đến bệnh viện trong tình trạng ngất xỉu. Kết quả xét nghiệm cho thấy lượng kali trong cơ thể bà ở mức cực kỳ thấp. Ngoài ra, theo kết quả điện tim đồ, bà đang gặp phải tình trạng nguy hiểm gọi là hội chứng QT, có thể gây ra loạn nhịp tim.

soda-water

Người phụ nữ này không hề có tiền sử bệnh tim mạch, hay vấn đề về hormone. Tuy nhiên theo lời kể của bà với bác sỹ, từ lúc bà được 15 tuổi, bà đã không hề uống nước hay chất lỏng nào khác ngoài soda – một loại nước ngọt có ga. Mỗi ngày bà uống khoảng 2 lít thức uống này.

Sau khi ngừng uống soda chỉ một tuần, lượng kali trong cơ thể và hoạt động điện tim của người phụ nữ này đã bình thường trở lại.

Trường hợp của người phụ nữ trên đã được các nhà khoa học báo cáo trong cuộc hội thảo của Hiệp hội tim mạch Châu Âu, tổ chức ở Athens, Hy Lạp.

Theo các chuyên gia, uống quá nhiều nước ngọt có ga có thể làm tăng lượng nước xâm nhập vào ruột, gây ra chứng đi ngoài, mất kali. Lượng lớn caffeine hấp thụ vào cơ thể cũng có thể làm gia tăng sản sinh chất urine và giảm sự tái hấp thụ kali. Kali là chất đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhịp tim ở cơ thể người, mức kali quá thấp có thể gây ra rắc rối về nhịp tim.

Sau khi nghiên cứu nhiều trường hợp khác tương tự, giới khoa học phát hiện 6 trường hợp được công bố về tình trạng hấp thụ nước ngọt có ga quá liều, các trường hợp này đều liên quan đến vấn đề về sức khỏe, trong đó có vấn đề tim mạch.

Các chuyên gia cũng cho hay, việc hấp thu soda quá liều có thể dẫn đến tăng cân, một mối hiểm họa chính của bệnh tim mạch.

Theo khoa học

Những nghề nguy hiểm cho tim

Đặc điểm nhất định của một số công việc có thể làm gia tăng nguy cơ các cơn đau tim và các vấn đề khác.

Chẳng hạn như ngồi nhiều giờ tại bàn làm việc, căng thẳng, giờ làm bất thường và tiếp xúc với một số hóa chất, ô nhiễm cũng có thể gây tổn hại cho tim của bạn.

Dưới đây là một số công việc có thể làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mà bạn nên biết.

Nghề ít vận động (ngồi nhiều tại chỗ)

Những người có đặc thù nghề nghiệp ít vận động như nhân viên văn phòng sẽ có nguy cơ gặp các vấn đề về tim cao hơn so với những người có công việc hoạt động tích cực, Martha Grogan – bác sĩ tim mạch của Bệnh viện Mayo ở Rochester, Minnesota (Mỹ) nói.
diem-danh-nhung-nghe-nguy-hiem-cho-tim
Chưa có giải thích chi tiết nhưng ngồi trong một thời gian kéo dài có thể làm giảm độ nhạy cảm insulin và các enzyme thường phá vỡ chất béo. Vì thế, khi làm việc một thời gian, hãy đứng lên và đi bộ xung quanh để thể chất được thư giãn, nghỉ ngơi.

Nghề ứng phó khẩn cấp

Những người làm công việc thường xuyên phải ứng phó khẩn cấp hay có những hoạt động căng thẳng cao như lính cứu hỏa, đội cứu hộ hay các sỹ quan cảnh sát… có nguy cơ mắc bệnh tim cao. Một nghiên cứu cho thấy khoảng 22% trường hợp sỹ quan cảnh sát và 45% ở nhân viên cứu hỏa tử vong trong công việc do bệnh tim mạch, trong khi các công việc khác chỉ 15%.

Giờ làm việc kéo dài, theo ca, ăn uống không lành mạnh tại nơi làm việc, tiếp xúc thường xuyên với căng thẳng, hóa chất độc hại như carbon monoxide hoặc khác chất gây ô nhiễm cũng làm gia tăng nguy cơ khác như tăng huyết áp. Nếu bạn không thể thay đổi công việc, hãy tập trung vào rèn luyện thể chất, duy trì ăn uống lành mạnh và kiểm soát huyết áp thường xuyên.

Nghề lái xe

Tài xế có nhiều khả năng bị tăng huyết áp hơn so với những người khác, ông Peter L. Schnall, MD, giáo sư y khoa tại Đại học California, Irvine nói. Nguyên nhân có thể là bởi vì lái xe là một nghề nghiệp ít vận động lại đòi hỏi phải cảnh giác để tránh tai nạn và giữ cho hành khách an toàn.

Trong một nghiên cứu, 56% lái xe buýt ở Đài Bắc (Trung Quốc) bị tăng huyết áp so với 31% lao động ở nghề khác. Những người này cũng có cholesterol cao hơn, trọng lượng cơ thể tăng và tỷ lệ mắc bệnh tim cũng nhiều hơn.

Nghề trực ca luân phiên

Trực ca luân phiên là lịch trình phổ biến đối với các bác sỹ, y tá và nhiều nghề khác. Đặc thù công việc này đã được chứng minh là có mối liên hệ với nguy cơ bệnh tim và tiểu đường type 2. Nguyên do là lịch trình công việc bất kể ngày đêm đã phá vỡ nhịp điệu sinh học. Mà “đồng hồ cơ thể” đóng một vai trò quan trọng trong đường máu, huyết áp, và các quy định của insulin.

Nhưng lối sống cũng có thể là một yếu tố nguy cơ. Những công nhân làm đêm dường như có khả năng hút thuốc nhiều hơn, Nieca Goldberg, giám đốc Trung tâm sức khỏe phụ nữ tại Trung tâm Y tế NYU Langone ở thành phố New York nói. Và thời gian ngủ ngắn cũng có liên quan đến nguy cơ bệnh tim lớn hơn (chỉ ngủ 5-6 giờ thay vì 7-8 giờ mỗi đêm ).

Công nhân hầm và cầu đường

Một nghiên cứu năm 1988 thực hiện trên hơn 5.000 công nhân đường hầm ở thành phố NewYork phát hiện thấy: Những người làm việc trong ngành giao thông, cầu đường có nguy cơ tử vong liên quan đến tim mạch tăng 35% so với bộ phận dân số khác. Nguyên nhân là do những lao động này tiếp xúc thường xuyên với mức độ carbon monoxide cao. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tiếp xúc với không khí ô nhiễm có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Ngoài ra, làm việc nhiều giờ hay mất việc cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về tim.

Những nhân viên làm việc nhiều giờ liên tục cũng có nguy cơ bệnh tim cao hơn, nhất là với bệnh về động mạch vành. Tiến sĩ Schnall đã tìm thấy một nguy cơ gia tăng 67% đối với bệnh tim mạch vành trong số các công chức dân sự người Anh, người đã làm việc 11 giờ một ngày so với những người chỉ làm việc 7-8 giờ.

Nếu bạn không thể cắt giảm giờ của bạn, thay vì tập trung vào các yếu tố nguy cơ, bạn có thể kiểm soát: ăn nhiều trái cây và rau quả, ngủ đủ giấc, tập thể dục vài lần một tuần.

Trong khi một số ngành nghề có thể nguy hại đến tim của bạn thì có một điều rất ngạc nhiên là mất việc cũng có thể gây ra những nguy hại đối với trái tim. Theo một nghiên cứu năm 2004 và một nghiên cứu của Đại học Harvard từ năm 2009 cho thấy những người bị mất việc có nhiều khả năng phát triển một số vấn đề mới liên quan đến sức khỏe, chẳng hạn như huyết áp cao, tiểu đường và bệnh tim.

Theo afamily

Tăng huyết áp (THA) gây suy thận và ngược lại

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy: tăng huyết áp (THA) gây suy thận và ngược lại, suy thận lại gây biến chứng THA. Vấn đề đặt ra là phải kiểm soát được huyết áp để tránh bị suy thận. Đồng thời cần điều trị tốt suy thận mới hạn chế được THA.

HA và suy thận tác động lẫn nhau

Nếu bạn bị THA thì cùng với thời gian, tình trạng huyết áp cao sẽ phá hủy các mạch máu trong cơ thể, làm giảm lượng máu cung cấp đến thận và các cơ quan khác. Huyết áp tăng cao còn phá hủy bộ lọc ở cầu thận, dẫn đến hậu quả là thận không thể loại bỏ những chất cặn bã độc hại cũng như nước dư thừa ra ngoài. Nước ứ thừa ở trong hệ mạch máu ngày một nhiều làm huyết áp lại càng tăng cao hơn. Do đó, THA là nguyên nhân chính dẫn đến suy thận mạn.

tang-huyet-ap

Trong cơ thể, thận có chức năng là giữ cho huyết áp được ổn định. Nhưng khi thận của bạn bị tổn thương, khả năng điều hòa huyết áp suy giảm làm cho huyết áp tăng cao. Nếu bạn bị suy thận, bệnh THA làm cho bệnh thận của bạn càng tăng nặng. Như vậy, THA có thể là một biến chứng của suy thận mạn. Nếu rơi vào tình trạng này, bạn cần thực hiện đúng chỉ định điều trị của bác sĩ nhằm kiểm soát huyết áp ở mức cho phép, hãm tốc độ tổn thương thận không bị ngày càng xấu đi và phòng tránh bệnh tim bởi THA còn gây tổn thương tim.

Cách ngăn chặn và điều trị suy thận?

Một khi đã bị THA thì nguy cơ bị suy thận là khá cao. Bạn cần đi khám để xem bác sĩ có yêu cầu bạn làm thêm các xét nghiệm nhằm đánh giá chức năng thận của bạn. Những xét nghiệm cần làm gồm: xét nghiệm creatinine máu để đánh giá mức lọc máu cầu thận (GFR), từ đây có thể biết chức năng thận của bạn, nếu GFR quá thấp, nghĩa là thận không còn khả năng loại bỏ các chất thải độc hại và nước dư thừa trong máu; xét nghiệm nước tiểu xem có protein không, khi có protein trong nước tiểu là một dấu hiệu cho thấy thận đã bị tổn thương, lượng protein càng cao chứng tỏ thận bị tổn thương càng nặng và bạn có thể bị tổn thương cả tim. Nếu đã bị suy thận thì bên cạnh xét nghiệm kiểm tra GFR và protein nước tiểu, cần phải làm thêm các xét nghiệm: siêu âm để kiểm tra thận xem có vấn đề gì bất thường về kích cỡ, cấu trúc hoặc có tắc nghẽn; điện tâm đồ kiểm tra chức năng tim; xét nghiệm glucose, lipid (mỡ, cholesterol) trong máu; kiểm tra cân nặng và chiều cao để tính chỉ số BMI.

Khi bạn đã theo một phác đồ điều trị ổn định, bạn có thể không cần đi khám bệnh thường xuyên. Bệnh nhân chỉ cần gặp bác sĩ trong các trường hợp: bắt đầu dùng một loại thuốc mới; phải thay đổi liều dùng của thuốc; bệnh thận tổn thương nặng hơn; không thể kiểm soát được huyết áp… Giai đoạn này ngoài các xét nghiệm đánh giá mức độ suy thận, bạn còn được đo lượng kali trong máu, vì khi thận bị suy, lượng kali có thể tăng cao trong máu, rất nguy hiểm cho trái tim. Mặt khác, một số loại thuốc điều trị THA và suy thận cũng có thể làm tăng lượng kali. Bác sĩ sẽ chỉ định thực đơn ăn kiêng cho bạn nếu lượng kali trong máu bạn tăng cao.

Điều trị thế nào nếu bị cả THA và suy thận?

Mục tiêu điều trị cần đạt được là: kiểm soát huyết áp dưới 130/80mmHg; ngăn chặn thận không bị tổn thương nặng thêm; giảm nguy cơ bị bệnh tim. Để đạt được những mục tiêu này, bạn cần tuân thủ theo một phác đồ điều trị phù hợp với bệnh suy thận, có thể bác sĩ sẽ yêu cầu bạn khám thêm bởi chuyên gia về thận hoặc huyết áp để có được một phương pháp điều trị tối ưu. Bạn cũng cần kết hợp ăn kiêng và thực hiện một lối sống phù hợp với giai đoạn suy thận. Nếu ở giai đoạn 1 – 2, bạn ăn chế độ nhiều trái cây, rau, bơ sữa; ở giai đoạn 2 – 3, bạn cần phải ăn nhạt dưới 2.400mg mỗi ngày, giảm chất béo và cholesterol vì chúng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim; giai đoạn 3 – 4 để hạn chế những bệnh về xương, bạn cần kiểm soát lượng protein, ăn rất ít thức ăn chứa nhiều phốtpho (vì nó sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh về xương) như sữa, phomát, sữa chua, bia, coca; giảm lượng kali trong bữa ăn. Ngoài ra, bạn cần phải giảm cân nếu đang béo quá; nên tập thể dục nhẹ nhàng 30 phút mỗi ngày; không uống rượu, bia; không hút thuốc lá. Dùng thuốc điều trị THA phối hợp từ 2 loại trở lên; kèm theo thuốc lợi tiểu. Bạn không được tự ý bỏ thuốc, không kiểm soát huyết áp là nguy hiểm vẫn rình rập bạn vì THA là “kẻ giết người thầm lặng”.

Cách kiểm soát huyết áp

Trị số huyết áp bình thường của người lớn 18 tuổi trở lên thường ở mức 110/70mmHg – 120/80mmHg. Nếu huyết áp tối đa từ 120 – 139mmHg và huyết áp tối thiểu từ 80 – 89 có khả năng bị THA, bạn cần theo dõi và thực hiện các bước kiểm soát huyết áp. Khi huyết áp đo được từ 140/90mmHg trở lên là bạn đã bị THA.

Bệnh THA thường không có triệu chứng rõ rệt nên nó được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”. Vì vậy, muốn biết huyết áp của bạn là cao, thấp hay bình thường, cách duy nhất là đo huyết áp. Có nhiều loại máy đo huyết áp: loại máy cơ (do người bóp bóng hơi để đo) và máy điện tử chạy bằng pin. Máy cơ có hai loại phổ biến là máy huyết áp có cột thủy ngân và máy huyết áp có mặt đồng hồ để đọc chỉ số. Các loại máy điện tử thì trị số huyết áp và nhịp tim hiện trên màn hình. Bạn có thể đo huyết áp bằng cách đến khám ở các cơ sở khám chữa bệnh hoặc bạn học cách để tự đo tại nhà. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý rằng một lần đo huyết áp cho kết quả cao cũng chưa chắc là bạn đã bị THA; cần phải có bác sĩ đo sau nhiều lần mà trị số huyết áp vẫn cao, khi đó mới đúng là bạn bị THA. Bạn phải uống thuốc hạ huyết áp hàng ngày, trong thời gian dài, đúng theo chỉ định của thầy thuốc mới mong kiểm soát được huyết áp.

ThS. Nguyễn Mạnh Hà -suckhoedoisong

Nguy cơ dẫn đến bệnh tim vì stress

Stress đòi hỏi lượng hormone và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục, do đó gây nên tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim đập quá mức cần thiết.

Điều này dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm cho áp lực tại thành mạch tăng lên, gây nguy hiểm cho sức khỏe.

Theo các nhà khoa học, stress là trạng thái mà mỗi người phải tự nỗ lực bản thân mình một cách cao nhất, mặc dù họ không mong muốn, nhằm để đáp ứng với những tình huống và sự kiện trong cuộc sống của họ. Điều này có nghĩa, stress không chỉ là phản ứng của cơ thể trước những thách thức mang tính thể chất, tâm lý mà còn là những phản ứng thuộc về hành vi, tinh thần và tình cảm.
stress-nguy-co-dan-den-benh-tim
Căng thẳng thần kinh: Khởi phát của bệnh tim

Những căng thẳng thần kinh thường gặp trong cuộc sống hiện đại khác với những căng thẳng mang tính thể chất. Những căng thẳng này thường không giảm đi mà thường xuyên tăng lên và kéo dài liên tục.

Phản ứng với những căng thẳng này đòi hỏi lượng hormone và năng lượng từ chất béo ít hơn nhưng lại liên tục. Tuy nhiên, cơ thể phản ứng trước sự căng thẳng về tinh thần hay thể chất là như nhau. Do đó, lượng hormone và chất béo được huy động trong những căng thẳng thần kinh không được tiêu thụ hết, dẫn tới tình trạng tăng huyết áp, nhịp tim đập quá mức cần thiết. Điều này dẫn tới sự rối loạn về huyết động, làm cho áp lực tại thành mạch tăng lên, đặc biệt có thể xảy ra ở mạch vành mạch máu nuôi tim.

Khi rối loạn huyết động tăng và các hormone do căng thẳng gây ra lưu hành liên tục trong máu sẽ làm tổn thương niêm mạc thành mạch. Được huy động bởi các hormone này, các tiểu cầu trong máu vận chuyển đến và bám dính tại thành mạch với mục đích làm giảm quá trình tổn thương. Nhưng chính quá trình này lại làm cho thành mạch dày lên và dẫn đến nguy cơ tắc mạch. Bên cạnh đó, cholesterol tỷ trọng thấp cũng được sản xuất ra từ các tế bào mỡ trong quá trình phản ứng với căng thẳng. Theo thời gian, những thay đổi này sẽ dẫn đến quá trình xơ vữa ở động mạch vành, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Những hậu quả khác

Khi động mạch vành hẹp đến mức giảm lưu lượng máu một cách nghiêm trọng, sẽ dẫn đến việc máu cung cấp cho cơ tim không đủ để duy trì hoạt động co bóp, trong khi tim cần co bóp nhiều hơn để đáp ứng với sự căng thẳng. Kết quả là, cơ tim thiếu máu cục bộ. Hơn nữa, chính những hormone tiết ra do căng thẳng cũng có thể gây co nhỏ thành mạch nên càng làm giảm lượng máu lưu thông qua mạch vành và cơn đau tim xảy ra. Sự thiếu máu cục bộ cơ tim đi kèm với những hoạt động thể lực gắng sức sẽ gây ra cơn đau tim thắt ngực.

Ở một số người, đôi khi sự căng thẳng về tinh thần, tình cảm và quá trình thiếu máu cục bộ cơ tim diễn ra một cách lặng lẽ. Điều này càng nguy hiểm hơn vì ở những người đó không nhận thấy dấu hiệu đau ngực hay khó chịu nên họ sẽ không coi trọng, lo lắng bệnh tình để có hướng điều trị kịp thời đúng đắn, dẫn tới hậu quả khôn lường.

Theo afamily