Tag Archives: bệnh tiêu hóa

Cách sơ cứu khi trẻ bị sặc bột, cháo

Bột hoặc cháo xay nhuyễn có độ quánh rất cao, khi trẻ bị sặc có thể nút lấy toàn bộ đường thở, làm trẻ khó thở, tím tái rồi tử vong ngay sau 5-10 phút. Vì vậy cần sơ cứu ngay khi trẻ bị sặc bột, cháo.

Khi phát hiện trẻ sặc, khó thở, tím tái, nhanh chóng đặt trẻ nằm sấp đầu thấp trên cánh tay.
Dùng lòng bàn tay vỗ mạnh 5 cái liên tiếp vào lưng trẻ, ở vị trí giữa hai xương bả vai.
Sau đó lật trẻ lại quan sát. Nếu trẻ khóc được, hết tím tái, chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để bác sĩ tiếp tục theo dõi.

cach-so-cuu-khi-tre-bi-sac-bot-chao

Khi phát hiện trẻ sặc, khó thở, tím tái, nhanh chóng đặt trẻ nằm sấp đầu thấp trên cánh tay.

Nếu trẻ vẫn còn tím tái, ấn ngực trẻ bằng cách dùng ngón trỏ và ngón giữa ấn vào nửa dưới xương ức, cụ thể là trên xương ức và dưới đường nối hai vú. Ấn mạnh xuống 5 cái liên tiếp, sau đó quan sát, nếu còn khó thở thì làm lại động tác 2. Làm 6 lần liên tiếp, kinh nghiệm cho thấy nếu làm đúng kỹ thuật, chỉ cần làm 1 – 2 lần là dị vật bị tống ra ngoài. Nếu trẻ hồng hào, chuyển đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế để bác sĩ tiếp tục theo dõi.

Trường hợp trẻ ngưng tim, ngưng thở, cần nhanh chóng tiến hành thổi ngạt và ấn tim. Thổi ngạt bằng cách để trẻ nằm ngửa, ngửa đầu trẻ ra nhằm làm cho đường thở thông thoáng.

cach-so-cuu-khi-tre-bi-sac-bot-chao1

Dùng lòng bàn tay vỗ mạnh 5 cái liên tiếp vào lưng trẻ, ở vị trí giữa hai xương bả vai.

Sau khi hít một hơi thật sâu, người cấp cứu áp miệng luôn qua mũi + miệng trẻ thổi mạnh vào. Trong lúc thổi, quan sát lồng ngực trẻ có lên xuống hay không, nếu có thì chứng tỏ đã làm đúng kỹ thuật, đường thở thông thoáng. Thổi liên tiếp hai cái.

Ấn tim: dùng 2 ngón cái đặt chồng lên nhau, các ngón khác ôm ngực bé, đặt dưới đường nối hai vú. Ấn 100 lần/phút. Nếu kết hợp thổi ngạt và ấn tim, thực hiện 5 lần ấn tim + 1 lần thổi ngạt (trước đó đã thổi 2 cái). Vừa tiến hành thao tác, vừa chuyển bé đến bệnh viện hoặc cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.

Lưu ý: Trên đường chuyển viện không được lúc nào ngưng ấn tim và thổi ngạt, bởi nếu không làm, não sẽ thiếu ôxy, không cấp cứu được.

Theo sức khỏe đời sống

Táo bón ở dân văn phòng

Trong nhịp sống hối hả và bận rộn, sự phổ biến của thực phẩm ăn nhanh chứa nhiều phụ gia, đường, muối, mỡ bão hòa, ít chất xơ, cộng thêm cơ thể ít vận động,… khiến số người bị táo bón ngày càng nhiều. Theo các cuộc khảo sát gần đây nhất, nhóm đối tượng chiếm tỉ lệ bệnh cao là dân văn phòng/công sở, do tính chất, áp lực công việc,…

Táo bón không chừa một ai

tao-bon-o-dan-van-phong
Theo số liệu thống kê của Đại học Y Dược TP.HCM, tại Việt Nam, cứ 3 người thì có 1 người mắc bệnh táo bón, 59% số bệnh nhân bị táo bón là do những nguyên nhân chủ quan. Riêng những năm gần đây, tình trạng bệnh ở độ tuổi từ 25-35, đặc biệt là đối tượng dân văn phòng, đang ngày càng tăng mạnh.

Bệnh táo bón là một chứng bệnh thường gặp, không chỉ gây cho người bệnh những cảm giác khó chịu mà còn có thể dẫn đến một số vấn đề nguy hiểm hơn cho sức khỏe.

Nguyên nhân gây nên táo bón
– Do dinh dưỡng: những người bị táo bón thường có chế độ ăn không hợp lý, đặc biệt với những người ăn ít chất xơ. Người có chế độ ăn kiêng khắt khe cũng dễ bị táo bón.

– Uống ít nước: nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa trong cơ thể và giúp thức ăn dễ tiêu hóa. Khi lượng nước không đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể, rất dễ gây táo bón.

– Do tâm lý: thói quen nhịn đi cầu, đặc biệt là vừa đi vừa đọc sách, báo làm kéo dài thời gian đại tiện cũng là một trong những nguyên nhân gây ra táo bón.

– Một số nguyên nhân khác: bệnh lý ở đại tràng, các bệnh nội tiết như suy giáp trạng, cường giáp trạng… Sử dụng thuốc làm giảm chức năng vận chuyển đại tràng như: thuốc giảm đau, thuốc điều trị tăng huyết áp. Nghề nghiệp phải ngồi lâu, ít vận động cũng là một nguyên nhân của táo bón.

Hậu quả khó lường

tao-bon-o-dan-van-phong1
Táo bón, một chứng bệnh nghe có vẻ đơn giản, nhưng đừng chủ quan coi thường, không ít người đã phải chịu những tác hại khôn lường từ chứng bệnh này, thậm chí dẫn đến tử vong vì “ủ bệnh” quá lâu mà không có biện pháp điều trị kịp thời.

Điển hình là chị Nguyễn Thị Lan, 32 tuổi, một nhân viên công sở bị táo bón mãn tính đã hơn 05 năm, mỗi lần đại tiện rất khổ sở, không chỉ ra máu mà còn lòi thịt ra cả hậu môn. Chị đã cắt trĩ đau đớn vô cùng, nhưng vẫn không hết. Chấp nhận sống chung với bệnh, mỗi lần lòi ra, chị lại ấn vào, nhưng gần đây chỗ đó xuất hiện cả một khối phồng như quả cà chua, thường kèm theo rớm máu, đau, chảy nhầy hoặc són phân liên tục, không ấn vào được. Đoạn trực tràng sa bị nghẽn vì cơ hậu môn co thắt, phù nề, niêm mạc tím tái dần có các mảng hoại tử.

Nguy hiểm hơn, trường hợp của anh Đinh Văn An là trưởng phòng 1 công ty xây dựng tại Q.2. Do phải làm việc liên tục, cộng thêm việc ăn uống thiếu chất dẫn tới táo bón có khi cả tuần lễ không đi tiêu được. Hậu quả bệnh nhân bị thủng ruột do quá trình táo bón lâu ngày gây biến chứng ruột cấp dẫn đến thủng đại tràng xích-ma, thêm việc để lâu không có phương pháp điều trị đúng cách nên khi đưa tới bệnh viện thì đã quá muộn, gây biến chứng nặng nề.

Theo Bác sĩ Hồ Lê Ái Xuân – Trung tâm Tầm Soát Sức Khỏe: “Hầu hết với các trường hợp trên, nguyên nhân do quá trình chậm lưu thông của phân trong ruột già dẫn đến rối loạn tái hấp thu chất độc ngược lại cơ thể gây nhiễm độc và nhiễm khuẩn. Quá trình bán tắc có thể dẫn tới phân bị cô đặc tạo thành sỏi phân gây tắc ruột nếu phẫu thuật không kịp thời có thể vỡ ruột gây viêm phúc mạc như trường hợp trên là rất nặng nề vì bệnh nhân phải chấp nhận đến hai lần mổ, không chỉ gây tổn hại sức khoẻ mà đôi khi người bệnh phải đối diện với nguy cơ tử vong. Chẳng những vậy mà còn có thể bị tắc ruột sau mổ trở lại”

Chữa táo bón: trăm phương nghìn kế
Nhiều người muốn giải quyết nhanh bệnh táo bón thường sử dụng tân dược. Tuy nhiên, nhiều loại thuốc thường đi kèm với tác dụng phụ. Việc sử dụng tân dược quá nhiều trong thời gian dài cũng khiến người bệnh phụ thuộc vào thuốc mà không chắc đã khỏi bệnh.

Một trong những cách phổ biến để chống táo bón là thay đổi khẩu phần ăn. Người bệnh có thể ăn nhiều thức ăn tốt cho nhuận trường như: rau đay, mồng tơi, rau sam, càng cua, giá đỗ, khoai lang.
Người mắc táo bón cần uống nước nhiều, ăn thêm nhiều rau củ để bổ sung chất xơ giúp kích thích nhu động ruột, có thể giúp giảm táo bón. Các loại thức ăn nên kiêng là rượu, trà, cafe, đồ chiên rán, nhiều đạm. Tuy nhiên, cách trị táo bón này thường phải thực hiện lâu dài, tác dụng đến rất chậm, đặc biệt với những người đã bị táo bón nhiều lần và nặng.

Xử lý các bệnh đường tiêu hóa ở trẻ

Hầu hết mọi trẻ đều trải qua hay bị mắc phải một số các chứng bệnh đường tiêu hóa thông thường. Hiểu biết đúng từng chứng bệnh các bà mẹ và ông bố có thể xử lý tốt các chứng bệnh do con mình mắc phải mà không cần thiết phải đến bệnh viện.

Ọc sữa
Tình trạng ọc sữa hay xảy ra ở trẻ sơ sinh, đó là tình trạng do vòng van giữa thực quản và dạ dày không đủ mạnh để cản thức ăn trong dạ dày trào lên thực quản và đôi khi trào ra miệng của trẻ. Trẻ bị ọc sữa có thể do sinh lý, cũng có thể do bệnh lý (những trường hợp do bệnh lý thì hiếm gặp) gây ra.

Đối với trẻ bú mẹ: nên cho bú bầu vú bên trái trước (trẻ mới bú nên lượng sữa trong dạ dày còn ít, có thể nằm nghiêng phải). Sau đó, chuyển trẻ sang bú bầu vú bên phải (lúc này dạ dày trẻ đã nhiều sữa, cần nằm nghiêng trái). Như vậy, sữa sẽ dễ dàng xuống dạ dày mà không gây trào ngược. Không nên cho trẻ bú quá lâu, trung bình 10 phút cho bầu vú thứ nhất và 20 phút cho bầu vú thứ hai, bú trên 30 phút không có lợi cho trẻ.

xu-ly-cac-benh-duong-tieu-hoa-o-tre

Đối với trẻ bú bình: luôn giữ bình sữa hơi nghiêng để đầu núm vú cao su luôn đầy sữa. Không để bình sữa nằm ngang trong khi bú, tránh tình trạng trẻ bú hơi trong bình sữa.

Khi cho bú, không nên để trẻ quấy khóc vì như vậy, trẻ có thể nuốt nhiều hơi, gây căng dạ dày. Sau khi bú xong, cần bế trẻ theo tư thế thẳng, ngực áp vào một bên ngực mẹ, mặt kê lên vai mẹ rồi vỗ nhẹ lưng cho ợ hơi. Sau đó, hãy nhẹ nhàng đặt trẻ nằm nghiêng bên trái, kê gối hơi cao.

Cho trẻ bú chậm, ít một và nhiều lần trong ngày nhằm tránh làm căng dạ dày trẻ quá mức, có thể cho trẻ dùng thêm các loại sữa dễ đông đặc khi vào dạ dày thì sẽ tránh được việc trào ngược.

Khi trẻ đang ọc sữa nên bế cháu lên đầu cao, không để trẻ nằm vì như vậy chất dịch sẽ vào phế quản sẽ nguy hiểm, lấy khăn lau nhẹ miệng trẻ, không nên thấy cặn sữa trong miệng trẻ mà dùng ngón tay đưa vào lau, làm thế trẻ càng bị kích thích óc sữa nhiều hơn. Một lưu ý nữa không nên cho trẻ nằm bú vì trẻ dễ bị sặc sữa. Khi người cho bú chú ý theo dõi sự bú của trẻ về vẻ mặt của trẻ, không nên vừa cho trẻ bú làm việc khác, lơ đãng không tập trung vì điều đó khi trẻ bị sặc sữa sẽ bị hốt hoảng.

Nấc cụt
Nấc là một hiện tượng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Nguyên nhân của hiện tượng này là do co thắt không tự chủ và ngắt quãng của cơ hoành, làm cho khí hít vào bị ngưng đột ngột, thanh môn bất ngờ đóng kín lại. Nấc thường kéo dài vài phút và có thể vài lần trong một ngày. Nấc là phản xạ của thần kinh phế vị được hình thành từ trong bào thai để chuẩn bị vận hành các cơ hô hấp cho việc thở ngay sau khi trẻ được sinh ra. Trẻ có thể bị nấc vào bất cứ lúc nào, nhất là sau sinh và giảm dần sau một tuổi. Nấc thường xảy ra sau khi bú, thay đổi tư thế, khi bị nóng, lạnh… Nếu trẻ bị nấc mỗi ngày vài lần, mỗi lần 3 phút là bình thường không cần khám và điều trị gì, dần dần tình trạng này sẽ hết.

xu-ly-cac-benh-duong-tieu-hoa-o-tre1

Để giảm nấc, không nên để cho trẻ quá đói rồi mới cho bú và cũng không nên cho trẻ bú quá no, khi cho trẻ bú bằng bình cần chú ý không để trẻ bú quá nhanh làm dạ dày giãn nhiều hơi. Sau khi bú nên bế trẻ đầu cao khoảng 10 phút.

Xử trí cắt cơn nấc bằng cách cho trẻ uống một vài thìa nước hay bú mẹ, bế trẻ đứng thẳng đỡ đầu và lưng trẻ, để cằm bé tỳ vào vai mẹ sau đó vuốt lưng hoặc vỗ nhẹ để bé ợ hơi, cũng có thể dùng ngón tay ấn cùng lúc vào 2 nắp tai trẻ vài phút. Ngoài ra, cũng có thể gãi nhẹ vào môi của trẻ hay vào vành tai trẻ bởi vì thần kinh tai và miệng của trẻ rất nhạy cảm khi gãi hoặc trẻ khóc, thần kinh thực quản giãn ra, triệu chứng nấc sẽ biến mất.

Trẻ bị tưa miệng
Trẻ bị tưa lưỡi miệng thấy có những mảng vàng đục màu như đậu hũ ở trong má, lưỡi và vòm miệng. Trẻ bị tưa lưỡi lâu ngày sẽ bỏ bú và có thể bị tiêu chảy, viêm phổi do nấm.

Cách xử trí: rơ miệnh (lau miệng) cho trẻ bằng khăn xô mềm thấm nước muối sinh lý nhiều lần trong ngày để tránh tưa lưỡi. Với trẻ bú mẹ, giữ vệ sinh vú mẹ không để bị nhiễm đẹn, còn trẻ bú bình thay bằng núm vú khác mềm hơn để trẻ dễ bú. Nếu trẻ bị tưa lưỡi nhẹ có thể dùng nước mật ong pha loãng lau miệng cho trẻ. Nếu điều trị bằng các biện pháp trên mà biểu hiện tưa lưỡi của trẻ không bớt, có thể dùng Natribicarbonate 4,2%, dạng gói, mỗi ngày 3 lần rơ miệng cho trẻ, mỗi lần 1/2 gói pha loãng sau đó lau sạch lại bằng nước muối sinh lý 0,9%. Sau 4 ngày không có kết quả cần tư vấn bác sĩ nhi khoa.

Táo bón
Táo bón là hiện tượng trẻ sơ sinh đi tiêu với số lần ít hơn so với bình thường (trung bình mỗi ngày trẻ đi tiêu ít nhất 1 lần trở lên, phân vàng hoặc xanh rêu lợt mềm, đóng thành khuôn). Một số dấu hiệu dưới đây cảnh báo tình trạng táo bón ở trẻ sơ sinh: 3 ngày hoặc có khi cả tuần, trẻ mới đi tiêu một lần. Tình trạng này kéo dài hai tuần liên tục hoặc hơn. Đi tiêu ra phân cứng, đóng thành từng cục nhỏ, trẻ quấy khóc và rất vất vả mới đi tiêu được.

Cách xử trí: massage không chỉ tốt cho trẻ đang bị táo bón mà nó còn là biện pháp giúp ngăn ngừa táo bón. Trẻ được 2 – 3 tuần tuổi là các bà mẹ có thể sử dụng cách massage. Chọn lúc trẻ thoải mái nhất, không bị no hay đói quá để tiến hành massage. Trước tiên, các bà mẹ nên làm ấm bàn tay rồi nhẹ nhàng xoa lên – xoa xuống hai bên sườn cho trẻ. Tiếp đến, xoa thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ trên bụng trẻ và ngược lại.

Nắn nhẹ chân trẻ, giúp trẻ co đầu gối, ép nhẹ đầu gối lên bụng trẻ rồi lại duỗi chân ra. Có thể thực hiện 2 lần một ngày, mỗi lần khoảng 5 phút. Tăng cường các cữ bú mẹ trong ngày vì táo bón có thể bắt nguồn từ việc thiếu chất lỏng trong cơ thể trẻ. Nếu trẻ bú bình, các bà mẹ không nên pha loãng sữa vì cách này chỉ hợp với trẻ bị tiêu chảy – khi hệ tiêu hóa yếu và pha loãng sữa để cơ thể dễ hấp thu.

Đối với các bà mẹ cho con bú mẹ, việc ăn uống của mẹ hàng ngày, tăng cường rau xanh và trái cây tươi, đi kèm uống nhiều nước trong ngày. Không nên ăn kiêng quá mức, nên bỏ quan niệm chỉ ăn thịt nạc kho tiêu hay muối tiêu ăn đơn thuần, mà phải ăn đủ loại thức ăn, bữa ăn có canh, rau xanh. Chính điều ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp sữa mẹ có đủ chất giúp cho trẻ bú mẹ tiêu hóa tốt.

Một khi trẻ bị táo bón, nên sử dụng thuốc bơm hậu môn cho trẻ dạng gel, glycerin mỗi tube 2ml, mỗi lần bơm 2 tube. Đây là trường hợp giải quyết trước mắt. Về lâu dài, điều này không tốt cho trẻ mà cần thay đổi cách bú cho trẻ theo chỉ dẫn trên.

Tiêu chảy
Trẻ sơ sinh bị tiêu chảy do nhiều nguyên nhân, có thể do trẻ rối loạn tiêu hóa hoặc nhiễm khuẩn đường ruột, kém hấp thu dưỡng chất, bị dị ứng với sữa hoặc bà mẹ sử dụng quá nhiều thức ăn hoặc thuốc có tính chất nhuận tràng trong giai đoạn cho trẻ bú. Biểu hiện khi trẻ bị bị tiêu chảy bao gồm: đi ngoài nhiều lần liên tục, bú kém, khóc nhiều do đau bụng… Tính chất phân cũng khác như: phân lỏng, nhiều nước hơn, thậm chí phân có thể màu xanh, phân có nhày, có máu. Trẻ có thể sốt, nôn… Nếu không được điều trị kịp thời thì bệnh tiêu chảy ở trẻ sẽ diễn biến rất nhanh. Đặc biệt là tình trạng mất nước sẽ dẫn đến suy thận, suy hô hấp và trẻ có thể tử vong.

Nguyên tắc điều trị: uống nhiều hơn bình thường, điều này rất quan trọng, cho trẻ uống thêm dung dịch bù nước bằng gói bột điện giải Oresol (1 gói Oresol pha 1 lít nước sôi nấu chín để nguội hay pha 1 lít nước khoáng) sau mỗi lần đi tiêu lỏng hay sau khi nôn ói. Nếu trẻ đang bú mẹ thì tiếp tục cho bú. Vai trò uống nhiều nước để phòng tránh trẻ mất nước ở trong cơ thể trẻ. Đồng thời cho bé uống bổ sung kẽm dưới dạng nước, uống l0 – 14 ngày. Kẽm góp phần giúp giảm thời gian và độ nặng của tiêu chảy, đồng thời giúp giảm nguy cơ tiêu chảy trong thời gian tới. Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu sau: Trẻ bỏ bú. Sốt cao hơn > 380C. Trẻ rất khát nước. Trong phân có máu. Cần thiết cho trẻ đi khám bác sĩ nhi khoa. Ngoài ra có thể cho trẻ uống Smecta (diosmectite) với liều dùng 1/3 – 1/2 gói x 2 lần/ngày, giúp thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục, giảm lượng phân thải ra và rút ngắn thời gian tiêu chảy. Một khi trẻ đơn thuần tiêu chảy không có kèm theo sốt, nhiễm trùng hay phân có máu hoặc phân hôi thối nặng mùi. Vì đây là do nguyên nhân nhiễm trùng cần phải dùng thuốc kháng sinh đường ruột kết hợp men tiêu hóa. Không nên dùng Smecta.

Để phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ sơ sinh, ngay từ khi mang thai người mẹ cần được chăm sóc thai sản tốt, vì đó là tiền đề sức khỏe cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là hạn chế được các nhiễm khuẩn trong giai đoạn chu sinh; cho trẻ sơ sinh bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và kéo dài đến 24 tháng tuổi. Vì sữa mẹ cung cấp cho trẻ nguồn dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý nhất, giúp cho sự phát triển và hệ miễn dịch của trẻ được toàn diện, giúp trẻ sơ sinh phòng chống bệnh và phòng chống mất nước khi bị bệnh tiêu chảy. Trẻ được bú mẹ sẽ ít mắc bệnh tiêu chảy và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ, hoặc không được bú mẹ hoàn toàn; thực hiện vệ sinh trong chăm sóc cho trẻ và người mẹ đúng cách, đảm bảo vệ sinh tốt.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cây thuốc dân gian chữa tiêu hóa kém

Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu nǎm; lá nhỏ hẹ, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần dưới lá ôm lấy thân cây; thân rễ phát triển thành củ; tuỳ theo đất rắn hay xốp củ phát triển to hay nhỏ. ở vùng bờ biển củ to, dài, chất lượng dược liệu tốt hơn, thường gọi là hải hương phụ (hương phụ vùng biển). Vào tháng 6, trên ngọn cây có 3 đến 8 cụm hoa hình tán màu xám nâu; nhụy có đầu núm chia thành 2 nhánh như lông tơ; quả 3 cạnh màu xám. Củ gấu có thể thu hoạch quanh nǎm. Thông thường, người ta đào củ về rửa sạch đất cát, phơi khô, đốt cho cháy hết lông, cất nơi khô ráo đề dùng dần làm thuốc.

Cây cỏ cú

Cây cỏ cú

Theo Đông y, rễ chùm (củ) của cỏ cú để điều chế vị thuốc được gọi là hương phụ có vị cay, hơi đắng, hơi ngọt; tính bình có công dụng chữa kinh nguyệt không đều, thấy kinh đau bụng, viêm tử cung mạn tính, đau dạ dày, ăn uống kém tiêu…

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng 6 – 12g. Dạng thuốc sắc, bột, viên, cao hay rượu thuốc. Dùng riêng hay phối hợp trong các phương thuốc phụ khoa, đau dạ dày.

Cách bào chế: Củ cỏ cú loại bỏ lông và tạp chất; rửa sạch để ráo sao đó nghiền vụn hoặc thái lát mỏng và đổ thêm giấm vào khuấy đều, ủ một đêm, đợi cho hút hết giấm, cho vào chảo sao lửa nhẹ đến màu hơi vàng, lấy ra, phơi khô. Cứ 10 kg Hương phụ dùng 2 lít giấm.

Một số bài thuốc có hương phụ
Chữa kinh nguyệt không đều: Hương phụ 3g, ích mẫu 3g, ngải cứu 3g, bạch đồng nữ 3g, sắc với nước; chia 3 lần uống trong ngày.

Muốn cho kinh nguyệt đều, uống đón kinh 10 ngày trước ngày dự đoán có kinh hoặc gần kỳ kinh hay đau bụng hoặc hương phụ chế tán bột ngày uống 10g với nước nóng hoặc nước ngải cứu. Dùng liên tục trong một tháng hoặc có thể lâu hơn.

Chữa đau bụng, đầy bụng, rối loạn tiêu hóa: Hương phụ 40g, riềng khô 80g (riềng chọn củ nhỏ màu vàng nhạt). Hai thứ tán nhỏ cất vào lọ kín, mỗi lần uống 6 – 8g (trẻ em mỗi lần uống 2 – 4g) với nước chè nóng. Uống 3 – 5 ngày.

Chữa tiêu hóa kém: Hương phụ (sao) 12g, vỏ quýt (sao) 12g, vỏ vối (sao) 12g, vỏ rụt (sao) 16g, chỉ xác 12g. Sắc nước uống 5 ngày.

Chữa cảm cúm, gai rét, nhức đầu, đau mình: Hương phụ 12g, tía tô 10g, vỏ quýt 10g, cam thảo 4g, hành 3 cây, gừng tươi 3 lát, sắc uống (đơn thuốc của Tuệ Tĩnh).
Chú ý: Người âm hư huyết nhiệt không nên dùng.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cảnh báo và phòng chống bệnh viêm đường tiêu hóa

Những tháng cuối năm luôn là ngưỡng của chứng bệnh viêm đường tiêu hóa do virus. Trên thế giới, những cảnh báo và biện pháp phòng chống bệnh đang diễn ra.

Triệu chứng phổ biến nhất là tiêu chảy cấp kèm theo nôn ói và sốt nhẹ. Bệnh do vi rút, ký sinh trùng hay vi khuẩn gây ra và có mức độ lây nhiễm cao. Nó có thể trực tiếp lây sang người khác; gián tiếp qua trung gian nước uống hoặc thức ăn bị nhiễm. Để ngăn ngừa, các bác sĩ khuyên nên rửa tay thường xuyên, đặc biệt sau khi đi vệ sinh, trước và sau khi thay tã lót cho em bé, trước – sau các bữa ăn và cả trong khi chuẩn bị thức ăn, chuyển từ thực phẩm này sang thực phẩm khác. Cũng không nên mớm cơm cho bé trong khi ăn; uống cùng chai hoặc ly nước với người khác.

sick woman

Viêm đường tiêu hóa do virus là chứng bệnh thường gặp vào thời điểm cuối năm. – Ảnh minh họa.

Viêm đường tiêu hóa do vi rút thường bộc phát nhanh, song người bệnh có thể khỏe lại sau vài ba ngày nghỉ ngơi, với chế độ ăn thích hợp. Người lớn không bắt buộc phải đến bác sĩ nếu có thể tự kiểm soát việc bù nước đúng mực với nước đường – muối, canh hầm không chất béo, trà thảo dược. Ngược lại, đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, nhạy cảm với vi rút hơn, khi có triệu chứng nên được nhanh chóng đưa đến bác sĩ nhằm tránh trường hợp mất nước trầm trọng.

Đối với các bé bú sữa mẹ thì không nên cắt ngang cữ bú của bé mà cần kèm theo đó là những cữ bù nước, đường và muối với định lượng nhất định, giữa các bữa ăn. Những người cao tuổi, có hệ miễn dịch suy yếu, cần quan tâm nhiều hơn khi có dịch bệnh về tiêu hóa.

Minh Quân
Theo Thanh niên

Bệnh rối loạn tiêu hóa

Không phải là bệnh chết người, nhưng rối loạn tiêu hóa đem đến cho bạn nỗi khổ sở, khó chịu thường xuyên và dai dẳng.

Đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện do sự co thắt không đều của các cơ vòng trong ống tiêu hóa chính là tình trạng rối loạn tiêu hóa. Nguyên nhân của rối loạn tiêu hóa được cho là sự bài tiết setoronin, hay việc sinh ra nhiều khí methan trong ruột và liên quan mật thiết đến chế độ ăn uống.

Giảm chất lượng cuộc sống

Hai triệu chứng đặc trưng nhất của rối loạn tiêu hóa là đau bụng và thay đổi thói quen đại tiện. Cơn đau bụng có thể âm ỉ hoặc dữ dội, đau thành từng cơn, có thể đau ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi cơn đau từ bụng lan ra sau lưng.

roi-loan-tieu-hoa
“Lịch” đại tiện “quy củ’ trước đây hoàn toàn đảo lộn, mất hẳn tính đều đặn, khi thì tiêu chảy, lúc lại táo bón (tùy từng người mà tình trạng táo bón hay tiêu chảy nổi bật hơn).

Phần lớn bệnh nhân thường xuyên bị chướng căng bụng, hay ợ hơi và trung tiện. Ngoài ra, buồn nôn, nôn, hôi miệng, đắng miệng, ợ chua cũng có thể xảy ra.

Với người cao tuổi, rối loạn tiêu hóa là tình trạng phổ biến do sự xuống cấp của cơ quan này theo thời gian. Nước bọt, dịch dạ dày, ruột và dịch mật đều giảm mạnh. Hệ thống men tiêu hóa cũng chỉ còn một lượng nhỏ so với trước.

Rất nhiều bệnh của hệ tiêu hóa có từ trước như viêm loét dạ dày, tá tràng… không được điều trị dứt điểm, làm giảm hiệu quả việc “xử lý” thức ăn. Tất cả những yếu tố này khiến nhiều người cao tuổi dễ bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên.

Rối loạn tiêu hóa không gây nguy hiểm tính mạng nhưng thực sự làm bệnh nhân thấy mệt mỏi, kém thoải mái, thường xuyên trong tình trạng khó chịu. Vì thế, bệnh nhân nên đến bác sĩ để khám và điều trị nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.

Mặt khác, theo các chuyên gia, nhiều triệu chứng rối loạn tiêu hóa trùng với một số bệnh nguy hiểm như ung thư đường ruột, loét đường tiêu hóa, viêm đại tràng, viêm tụy mạn… Do đó, việc đi khám, làm các xét nghiệm là cực kỳ cần thiết.

“Giảm tải” cho đường ruột

Để giúp hệ tiêu hóa hồi phục và cân bằng trở lại, điều quan trọng nhất là thay đổi chế độ ăn. Ngoài việc đảm bảo tối đa vệ sinh thực phẩm để tránh “nhập khẩu” các vi sinh vật gây hại, bạn cần lưu ý tránh những thực phẩm tuy tốt với người bình thường nhưng lại tai hại với những người rối loạn tiêu hóa.

Đó là những thực phẩm gây đầy hơi như tỏi, hành, đậu, bắp cải, húng quế, cần tây, chuối, mận, nho khô… Sữa cũng là thứ bạn không nên dùng nhiều vì đường lactose là thứ “khó nhằn” đối với bộ máy tiêu hóa kém khỏe mạnh. Các món ăn có nhiều mỡ cũng vậy, quá “nặng” với đường ruột đang có vấn đề của bạn.

Bạn cũng cần hạn chế cà phê, kẹo cao su, các loại nước ngọt có gas, các loại hoa quả hay bánh kẹo nhiều đường fructose, thực phẩm chế biến sẵn… Đồ ăn chua và cay cũng không phù hợp với bạn.

Còn thuốc lá và đồ uống có cồn thì dĩ nhiên là bạn nên tránh xa vì chúng làm giảm khả năng làm việc của đường tiêu hóa.

Hãy kiềm chế trước các bữa tiệc thịnh soạn bởi những người bị rối loạn tiêu hóa không bao giờ nên ăn quá no, càng không nên nạp quá nhiều thức ăn giàu đạm và chất béo cùng lúc. Hãy ăn vừa đủ, ăn chậm và nhai kỹ.

Tốt nhất là hãy đảm bảo ăn uống đúng giờ giấc, thức ăn cần nóng sốt. Nên ăn nhiều rau, uống nhiều nước, nhất là khi triệu chứng táo bón nổi trội ở bạn.

Ngoài chuyện ăn uống thì việc vận động thể chất cực kỳ có lợi cho người bị rối loạn tiêu hóa. Đừng tưởng tập thể dục chỉ tốt cho cơ bắp hay tim mạch, mà nó còn giúp cân bằng hoạt động bài tiết các men tiêu hóa cũng như cân bằng nhu động ruột.

Vận động còn giúp bạn giải tỏa sự căng thẳng tinh thần, vốn khiến cho tình trạng rối loạn tiêu hóa trở nên trầm trọng hơn.

Dùng thuốc cũng là một trong các giải pháp khắc phục rối loạn tiêu hóa, nhưng tuyệt đối bạn đừng tự ý uống hay chỉ “tham vấn” người bán thuốc, vì dùng thuốc gì và như thế nào còn tùy thuộc vào tình trạng, đặc điểm của từng bệnh nhân, vốn rất đa dạng.

Mặt khác, trong việc điều trị rối loạn tiêu hóa, thuốc chỉ đóng vai trò nhỏ, càng ít phải dùng càng hay.

Nguồn sức khỏe đời sống

Biểu hiện của bệnh giun xoắn

Biểu hiện lâm sàng của bệnh giun xoắn có 4 triệu chứng cơ bản:

– Phù mi mắt là dấu hiệu đặc trưng của bệnh, có thể kèm theo phù và chảy máu kết mạc, đôi khi phù toàn bộ đầu, có khi phù cả cổ và chi trên.

– Đau cơ: Đau xuất hiện khi bệnh nhân thở sâu, ho, nhai, nuốt, khi đại tiện. Đau cả ở cơ mặt và cổ.

– Sốt: Thông thường thân nhiệt tăng dần và sau 2 – 3 ngày thì đạt tới tối đa. Nhiễm nhẹ, bệnh nhân sốt âm ỉ.

– Tăng bạch cầu ái toan: Bạch cầu ái toan tăng trong những ngày đầu của bệnh…

nhiem-giun-xoan

Việc phát hiện đúng giun xoắn không dễ bởi đây là bệnh giun duy nhất gây sốt cao kéo dài ở giai đoạn đầu, dễ bị chẩn đoán nhầm thành các bệnh nhiễm khuẩn nặng như thương hàn, sốt rét…

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là kiểm dịch động vật, phát hiện thịt nhiễm giun xoắn và tuyệt đối không ăn các loại thịt chưa nấu chín như lòng lợn, tiết canh.

Theo nld

Thắc mắc về bệnh trĩ nội

Theo mô tả của bạn, giai đoạn đầu với triệu chứng đi cầu ra máu và đã đi nội soi để loại trừ các nguyên nhân gây chảy máu khác, đúng là do bệnh trĩ nội.

tri

Theo mô tả của bạn, giai đoạn đầu với triệu chứng đi cầu ra máu và đã đi nội soi để loại trừ các nguyên nhân gây chảy máu khác, đúng là do bệnh trĩ nội. Trĩ nội gồm có 4 độ: 1, 2, 3 và 4. Với trĩ nội độ 1 chỉ có triệu chứng đi cầu ra máu đỏ tươi và không bị sa búi trĩ ra ngoài; trĩ nội độ 2 có triệu chứng chảy máu khi đi cầu và sa búi trĩ ra ngoài nhưng sau khi đi xong búi trĩ tự tụt vào; trĩ nội độ 3 là búi trĩ sa ra ngoài khi đi cầu, khi đi cầu xong không tự tụt vào và phải dùng tay đẩy vào; trĩ nội độ 4 là búi trĩ sa ra ngoài khi đi cầu và không thể đẩy búi trĩ tụt vào được.

Bị nóng và đau rát sau đi cầu kéo dài khoảng 1 tiếng thì có thể bạn bị nứt hậu môn – có triệu chứng chảy máu khi đi cầu kèm theo là đau rát nóng kéo dài sau đó. Để điều trị dứt tình trạng này, ngoài việc uống thuốc tăng cường thành mạch và đặt thuốc vào hậu môn, bạn phải chú ý điều trị rối loạn đi cầu như tiêu chảy hay táo bón, tránh các thức ăn có nhiều gia vị cay hay thức ăn gây bón. Cần cải thiện chế độ sinh hoạt hằng ngày như không thức khuya, ăn uống điều độ về giờ giấc lẫn khối lượng…

Bác sĩ Dương Phước Hưng
Thanh niên

Phương pháp mới điều trị táo bón hiệu quả

Bệnh viện (BV) đa khoa quốc tế Vinmec đã ứng dụng phương pháp mới trong điều trị táo bón với hiệu quả rõ rệt. Thông tin này được đưa ra tại hội thảo “Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị bệnh lý táo bón và sàn chậu” tổ chức tại BV chiều 7/11/2013 do GS.BS. Mario Pescatori – chuyên gia tiêu hóa hàng đầu đến từ Ý thuyết trình.

benh-nhan-cao-tuoi-tao-bon

Bệnh nhân cao tuổi đang được chữa bằng phương pháp phục hồi chức năng.

GS.BS. Mario Pescatori mang tới hội thảo 3 chủ đề lớn: Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị; Những tiến bộ trong phẫu thuật sàn chậu; Điều trị sa trực tràng. Đây không phải là những chủ đề mới tại Việt Nam nhưng các khía cạnh tiếp cận tiến bộ mà GS. BS. Mario Pescatori đưa ra đã thu hút được sự quan tâm của giới chuyên môn và các đồng nghiệp Việt Nam. Cụ thể, trong chủ đề Táo bón – Nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị, GS.BS. Mario Pescatori đã đề cập tới 5 nguyên nhân cơ năng là tâm lý, cơ mu trực tràng co cứng, đại tràng co thắt quá mức, giảm cảm nhận của trực tràng và tổn thương thần kinh thẹn. Các nguyên nhân này gây táo bón ở 80% số bệnh nhân.

GS.BS. Mario Pescatori cũng đã đề cập đến các phương pháp điều trị nội khoa, đặc biệt là phương pháp biofeedback (tập phản hồi sinh học) kết hợp với kích điện điều trị. Đây là phương pháp hoàn toàn mới, một tiến bộ trong điều trị táo bón và đã được áp dụng thành công tại các nước phát triển. Tại Việt Nam, hiện mới có BV Vinmec tiếp cận và áp dụng phương pháp này. Trong 2 tháng trở lại đây, bệnh viện đã áp dụng điều trị cho gần 20 bệnh nhân với kết quả bước đầu rất khả quan. Ngoài ra, ông cũng đưa ra các kỹ thuật mới trong điều trị sa sàn chậu như phẫu thuật, kích thích điện thần kinh xương cùng…

Theo sức khỏe đời sống

Cách nhận biết bệnh sỏi mật

Sỏi mật là trong lòng ống mật có những viên sỏi nhỏ, to, hay bùn mật ở vị trí trong gan hoặc ngoài gan, ở túi mật. Bệnh có thể gây viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa… rất nguy hiểm.

Sỏi mật hình thành như thế nào?

Người ta thấy có hai loại sỏi mật thường được hình thành là sỏi cholesterol và sỏi sắc tố mật.

Loại sỏi cholesterol: vì một lý do nào đó làm cho các thành phần dịch mật thay đổi tỷ lệ: nồng độ cholesterol tăng lên, nồng độ chất làm tan (muối mật – lecithin) giảm xuống, khi đó cholesterol kết tủa tạo ra những tinh thể là tiền đề cho sự hình thành sỏi mật. Những yếu tố làm giảm bài tiết muối mật gồm: bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật; người béo: dự trữ muối mật giảm, sản xuất muối mật tăng nhanh nhưng không nhanh bài tiết; người cao tuổi. Những trường hợp làm tăng tổng hợp cholesterol: chế độ ăn giàu calo, dùng thuốc oestrogen, cloflbrat. Vai trò của túi mật: túi mật tái hấp thu nước nên làm cho cholesterol được cô đặc hơn; đồng thời túi mật tiết ra chất mueus có tác dụng làm cho cholesterol và sắc tố mật dễ bị kết tủa.

cach-nhan-biet-soi-mat

Sự hình thành sỏi sắc tố mật: ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á hay gặp loại sỏi này. Nguyên nhân là do trứng giun đũa hoặc xác giun làm “nhân” cho sắc tố mật và canxi bám vào gây sỏi. Nếu giun đũa lên đường mật nó gây nhiễm khuẩn và tăng áp lực trong đường mật, gây ra những vết loét xước và sau đó là những chít hẹp xơ vòng ở những nhánh mật phân thùy gan, phía trên vòng xơ ống mật giãn to, mật bị ứ đọng dần dần từ đó hình thành sỏi mật.

Biểu hiện của bệnh sỏi mật
Một người bị sỏi mật sẽ có các dấu hiệu sau: đau bụng với tính chất đau ở vùng hạ sườn phải (HSP), kiểu đau quặn gan, thường xảy ra sau bữa ăn nhiều mỡ, đau nhiều về đêm khoảng 23 – 24 giờ; khi đau kèm theo nôn, bệnh nhân không dám thở mạnh; cơn đau kéo dài vài giờ đến vài ngày. Rối loạn tiêu hoá: chậm tiêu, bụng trướng hơi, bệnh nhân sợ mỡ, táo bón hoặc tiêu chảy sau bữa ăn. Cơn đau nửa đầu (Migraine), đau nửa đầu dữ dội, khi đau có nôn nhiều. Sốt do bị viêm đường mật, túi mật, sốt cao đột ngột kéo dài vài 3 giờ; sốt và đau HSP đi đôi với nhau, nếu đau nhiều thì sốt cao; có khi sốt kéo dài vài tuần, hằng tháng; có khi sốt nhẹ 37,5 – 380C; nếu không viêm thì không sốt.

Vàng da và niêm mạc xảy ra sau đau và sốt 1 – 2 ngày; vàng da kiểu tắc mật gồm da, niêm mạc vàng, nước tiểu vàng, phân bạc màu; vàng da có ngứa, thuốc chống ngứa không kết quả, mạch chậm; vàng da mất đi chậm hơn đau và sốt. Ba chứng: đau, sốt, vàng da còn gọi là Tam chứng Charcot  tái phát nhiều lần, khoảng cách giữa các đợt vài tuần, vài tháng, vài năm. Khám thấy: gan to đều, mức độ to từ mấp mé dưới bờ sườn  đến 5 – 6cm dưới bờ sườn tùy mức độ tắc mật; mặt gan nhẵn, mật độ chắc, bờ tù, ấn đau tức. Túi mật to cùng với gan to, túi mật to, đau khi sờ nắn, có thể co cứng HSP. Xét nghiệm máu: bilirubin toàn phần tăng. Siêu âm thấy sỏi túi mật, sỏi ống mật. Chụp phim Xquang thấy sỏi.

Trên thực tế thường gặp ba thể bệnh chính như sau: một là trường hợp điển hình có Tam chứng Charcot, hội chứng tắc mật, bệnh tái phát nhiều lần, với các triệu chứng như trên chẩn đoán đúng sỏi mật 60- 75%. Hai là triệu chứng lâm sàng không điển hình: có cơn đau quặn gan, không vàng da, không tắc mật; hoặc tắc mật nhưng không đau quặn gan. Ba là bệnh nhân bị sỏi nhưng đến bệnh viên cấp cứu vì biến chứng như: viêm phúc mạc mật với các dấu hiệu nhiễm khuẩn nặng, bụng cứng, vàng da; sốc nhiễm khuẩn; sốt, túi mật to, đau; chảy máu tiêu hoá: nôn ra máu có hình thỏi kiểu như ruột bút chì; đau bụng cấp, nôn, trướng bụng.

Lưu ý trong điều trị và phòng bệnh

Việc dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn là rất quan trọng trong điều trị viêm nhiễm đường mật do sỏi. Tốt nhất là dựa vào kháng sinh đồ để dùng thuốc vừa hiệu quả, vừa rút ngắn thời gian mắc bệnh cho bệnh nhân. Trường hợp chưa làm được kháng sinh đồ thì phải dùng các loại kháng sinh có hoạt phổ rộng, liều cao như: colistin, cephalosporin, ampixillin, gentamyxin… Các thuốc giãn cơ, giảm co thắt như atropin, spasmaverin…; thuốc lợi mật như: sunfat magie, siro actiso, sorbitol…; các thuốc làm tan sỏi dùng trong các trường hợp viên sỏi nhỏ dưới 2cm, túi mật còn tốt, bệnh nhân không thể mổ được, hoặc đề phòng sỏi tái phát sau mổ. Phẫu thuật trong các trường hợp: sỏi gây viêm túi mật hoại tử, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, đau dữ dội mà dùng thuốc giảm đau không kết quả, chảy máu đường mật, áp-xe đường mật dọa vỡ, viêm đường mật kéo dài, tắc mật kéo dài,  tái phát nhiều lần, sỏi túi mật… Lấy sỏi qua máy soi tá tràng…

Bệnh nhân bị sỏi mật cần thực hiện một chế độ ăn kiêng hợp lý đó là: kiêng ăn mỡ, nhất là các loại thịt mỡ động vật như bò, gà, lợn… Ăn giảm calo: chỉ ăn  2.000 calo/24 giờ. Uống các loại nước thuốc nam có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh như nước  khoáng, nước nhân trần, actiso.

Phòng bệnh sỏi mật cần thực hiện nhiều biện pháp sau đây: khám bệnh định kỳ để kịp thời phát hiện và điều trị các bệnh là nguyên nhân gây sỏi mật như bệnh ở đoạn ruột cuối làm giảm hấp thu muối mật, rối loạn lipid máu; kiểm soát ăn uống chống thừa cân béo phì; tránh ăn chế độ ăn giàu calo; tránh dùng các thuốc oestrogen chữa bệnh cho người có bệnh sỏi mật từ trước; định kỳ 6 tháng một lần tẩy giun, thực hiện ăn chín uống sôi để tránh nhiễm giun.

ThS. Bùi Quỳnh Nga

Theo suckhoedoisong

Cảnh giác với bệnh trĩ sau khi sinh

Sinh con xong, nhiều chị em bị chảy máu hậu môn mỗi khi đại tiện, song hầu hết chị em đều chủ quan cho đó chỉ là chứng táo bón thông thường.

Cảnh giác với biểu hiện chảy máu hậu môn của bệnh trĩ

Trĩ là căn bệnh phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai và sau khi sinh con.

Theo Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng Việt Nam thì trĩ là căn bệnh đứng đầu trong các bệnh lý về hậu môn. Mặc dù nguyên nhân chưa xác định rõ nhưng có nhiều yếu tố được xem là tạo điều kiện thuận lợi để bệnh trĩ hình thành và phát triển.

canh-giac-voi-benh-tri-sau-khi-sinh
Đặc biệt là đối với phụ nữ sau khi sinh, thông thường sau khi sinh chị em sẽ phải kiêng cữ thường nhiều thứ như phải nằm, ngồi một chỗ, ít di chuyển, vận động, ăn ít rau, uống nước ít,… nên bệnh trĩ được đà xâm nhập, phát triển. Trong khi đó, có nhiều trường hợp chị em bị trĩ từ khi mang thai do thai nhi chèn áp trực tràng. Trong lúc vượt cạn, việc rặn không đúng cách làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài. Sau khi sinh con chăm sóc sức khỏe không đúng cách cũng khiến bệnh tiến triển nặng hơn.

Bệnh nhân có thể phát hiện chảy máu sau khi đại tiện. Mỗi lần đi đại tiện, bệnh nhân bị trĩ thường phải rặn nhiều, máu chảy thành giọt hay từng tia nhỏ. Kèm theo hiện tượng chảy máu, sẽ có một khối thịt nhỏ lồi ra khỏi lỗ hậu môn và khối thịt sẽ thụt vào sau khi đại tiện xong. Bệnh diễn tiến nặng bệnh nhân có thể có cảm giác được sự lồi ra, thụt vào rõ ràng. Sau một thời gian, khối thịt sẽ lồi to ra, dài hơn, rồi nằm luôn ở phía ngoài hậu môn. Tình trạng này được gọi là sa búi trĩ.

Búi trĩ sa ra ngoài, tiết dịch gây viêm da vùng hậu môn. Nếu bệnh nhân có cảm giác đau, khi đó trĩ đã bị tắc nghẽn hoặc do quá trình rặn đã làm hậu môn bị nứt, áp xe. Vì vậy, mỗi khi đi tiểu, bệnh nhân lại có cảm giác ngứa quanh hậu môn.

Chảy máu hậu môn là biểu hiện đầu tiên dễ thấy nhất ở bệnh nhân trĩ. Tuy nhiên, bệnh nhân cũng cần phải cảnh giác bởi chảy máu trong khi đi tiểu còn là biểu hiện của một số căn bệnh như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung.

Bệnh trĩ nếu để lâu sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày. Việc điều trị phụ thuộc vào mức độ của bệnh. Bệnh nhân có thể dùng thuốc uống hoặc các loại thuốc bôi tại chỗ để đẩy lùi sự viêm nhiễm. Chính vì vậy, khi phát hiện sự bất thường, chị em nên đến ngay cơ sở y tế chuyên môn để xác định đúng bệnh và xử lý kịp thời.

Sinh nửa năm hậu môn vẫn chảy máu

Sau khi sinh con gái đầu lòng, chị Hoàng Vân 30 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên bị chảy máu hậu môn mỗi khi đại tiện. Chị Vân cho biết, từ khi mang thai chị hay bị táo bón vài ngày mới đi vệ sinh 1 lần mà đại tiện rất khó khăn, chị thường phải gắng sức rặn. Mặc dù vậy, chưa có lần nào chị bị chảy máu hậu môn nhưng sau khi sinh con, nhiều lần chị thấy máu khi đi vệ sinh.

Thậm chí, có lần chị còn phát hiện máu chảy nhỏ giọt khi đại tiện, vùng hậu môn ngứa ngáy rất khó chịu sau khi tiểu tiện. Chị cho rằng, đó đơn giản là bệnh táo bón nên chỉ cần thay đổi khẩu phần ăn phù hợp, dễ tiêu hóa để giải quyết được vấn đề. Tuy nhiên, dù ăn nhiều rau quả tình hình cũng không cải thiện được là mấy tình trạng táo bón được cải thiện nhưng vùng hậu môn của chị vẫn còn cảm giác đau, đôi khi ngứa rát, sờ vào thấy có một khối thịt nhỏ thò ra. Lúc này chị mới đến bệnh viện khám, bác sĩ kết luận chị bị bệnh trĩ.

Tương tự, chị Lan Anh ở Ba Đình, Hà Nội cũng gặp rắc rối ở hậu môn sau khi sinh em bé. Với chị, mỗi lần đại tiện đều như cực hình. Hậu môn đau rát, ra máu và cảm giác có một khối thịt nhỏ lồi ra khỏi hậu môn, đại tiện xong quanh vùng hậu môn ngứa ngáy rất khó chịu. Nhiều lần trong lúc đi tiểu chị hốt hoảng phát hiện máu chảy thành giọt.

Càng ngày chị càng cảm nhận rõ khối thịt nhỏ ở hậu môn lồi ra, thụt vào mỗi khi đi tiểu. Một thời gian sau đó, khối thịt lồi to, dài và nằm luôn bên ngoài hậu môn cọt sát với quần gây đau. Gọi cho cô bạn thân làm bác sĩ để tư vấn, chị được xác định là bị bệnh trĩ. Tuy nhiên, hàng ngày đi vệ sinh chị thấy máu chảy nhiều nên vô cùng lo lắng. Cuối cùng chị phải đến bệnh viện để khám xét cẩn thận, bác sĩ xác nhận chị bị bệnh trĩ ngoại.

Nguồn afamily

Chứng dư axít dạ dày

Có nhiều nguyên nhân gây dư a xít, trào ngược a xít cấp, như những ai bị béo phì, uống rượu quá nhiều, hút thuốc lá, ăn nhiều dầu mỡ, ăn quá cay và hay ăn vặt… có xu hướng bị dư a xít. Phụ nữ mang thai cũng có thể là nạn nhân của chứng trào ngược a xít.

Triệu chứng phổ biến nhất của tính a xít cấp là ợ chua mà mọi người thường cho là đau tim. Các triệu chứng khác là có cảm giác thức ăn bị mắc kẹt ở giữa ngực hoặc có thể cảm thấy thức ăn trào lại ra miệng (cảm thấy chua miệng), khó thở, đặc biệt là khi cố gắng ngủ, và nặng nề trong lồng ngực.
Chứng dư axít dạ dày
Biện pháp khắc phục quan trọng nhất trong việc kiểm soát nồng độ dư a xít cấp là ăn tối trước khi đi ngủ khoảng ba giờ. Ngoài ra, không uống rượu quá nhiều, không ăn quá nhiều sô cô la, không hút thuốc lá, hạn chế caffeine vì những thói quen này làm trầm trọng thêm độ chua.

Ăn thường xuyên và ăn nhẹ, ít calo. Không để bụng đói, vì nó tạo ra tính a xít. Uống càng nhiều nước càng tốt, ít nhất 6-8 ly nước/ngày vì nước có tác dụng tống a xít ra khỏi cơ thể.

Uống sữa lạnh hoặc nước dừa, ăn trái cây như chuối, đu đủ giúp cải thiện tiêu hóa.

Nhất Linh
Thanh niên

Nguy cơ mắc bệnh viêm ruột ở phụ nữ

Theo một nghiên cứu mới từ Pháp, ăn nhiều protein động vật sẽ gia tăng nguy cơ mắc các bệnh viêm ruột (IBD) ở phụ nữ, Reuters đưa tin.

Nghiên cứu của tiến sĩ Franck Carbonnel thuộc Center Hospitalier Universitaire de Bicetre tại Paris (Pháp) đã được công bố trên Tạp chí Tiêu hóa Mỹ, cho biết những ảnh hưởng của chế độ ăn uống đối với bệnh viêm ruột ở phụ nữ.

Nghiên cứu tiến hành trên 67.000 phụ nữ tuổi từ 40 đến 65, trong thời gian 10 năm. Theo đó, những người tiêu thụ lượng protein động vật nhiều nhất là những người có nguy cơ mắc các bệnh viêm ruột cao nhất, cao gấp ba lần so với những người có chế độ ăn hợp lý, không quá nhiều protein từ động vật.

thica-viem-ruot

Các bệnh viêm ruột là một thuật ngữ chung cho các bệnh đặc trưng bởi viêm nhiễm nghiêm trọng trong hệ thống tiêu hóa như viêm loét đại tràng, bệnh Crohn. Căn bệnh này trở nên phổ biến trên toàn thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II, tính trung bình cứ 500 người thì có một người bị mắc phải.

Các nhà khoa học cũng chỉ rõ một chế độ ăn giàu protein có thể làm thay đổi cấu trúc, hoạt động của các loại vi khuẩn sống trong đại tràng.

Hiện cũng đã có những nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hụt lượng vitamin D cần thiết cho cơ thể cũng có thể dẫn đến các bệnh viêm ruột. Hay tăng cường lượng axit béo omega-3 giúp giảm nguy cơ mắc bệnh viêm ruột, trong khi ăn nhiều axit béo omega-6 lại làm tăng nguy cơ này…

Từ kết quả của những nghiên cứu trên, các nhà khoa học cho biết họ sẽ tiếp tục tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là nam giới và trẻ em, để tìm ra những nguy cơ thực sự của một chế độ ăn uống quá nhiều protein thịt cá đối với sức khỏe của con người.

Theo TNO

Đánh tan đầy bụng, khó tiêu bằng thực phẩm

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Làm sao để nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này.

Đầy bụng, khó tiêu là một trạng thái vô cùng khó chịu. Những người bị đầy hơi, chướng bụng là do hơi được sinh ra trong quá trình chuyển hóa thức ăn không ra ngoài theo đường hậu môn (trung tiện) mà lại đi ngược lên thực quản do cơ thắt thực quản bị giãn ra và được đưa ra ngoài bằng đường miệng bởi triệu chứng ợ.

day-lui-chung-day-bung-kho-tieu-ngay-lap-tuc-nho-thuc-pham

Nguyên nhân đầy bụng, khó tiêu là do bạn ăn uống vô độ, ăn nhiều thực phẩm giàu chất đạm, béo, đường hoặc uống quá nhiều rượu gây ra.

Trong một số trường hợp, triệu chứng đầy bụng, khó tiêu còn khiến bạn cảm thấy buồn nôn và rất muốn nôn. Cảm giác buồn nôn cũng có thể đi kèm với triệu chứng hoa mắt, chóng mặt.

Bạn chỉ muốn nhanh chóng loại bỏ cảm giác khó chịu này. Vậy phải làm sao?

Cách đơn giản nhất để đẩy lùi triệu chứng đầy bụng, khó tiêu là hãy ăn các loại thực phẩm như dưới đây nhé:

– Ăn dứa: Dứa có chứa bromelain và đây là một loại enzyme có tác dụng thúc đẩy tiêu hóa, giảm bớt hơi bị ứ đọng và di ngược lên thực quản, từ đó giảm cảm giác bị đầy bụng. Những người bị bệnh thận không nên ăn dứa vì trong dứa giàu bromelain, sẽ làm hòa tan hemaleucin và casein ở thận, làm suy giảm chức năng của thận.

– Ăn đu đủ: Trong đu đủ có chứa papain, một loại enzyme tiêu hóa có chức năng phá vỡ thức ăn và tiêu hóa hết protein, giải phóng khí và hơi trong bụng. Từ đó, thức ăn được chuyển hóa hết và không gây đầy bụng. Tuy nhiên, những người bị viêm loét dạ dày hoặc các bệnh dạ dày khác nên tránh ăn đủ đủ vì nó có thể khiến bệnh trầm trọng hơn.

– Ăn cần tây: Cần tây giúp giảm bớt lượng nước trữ trong cơ thể vì nó có tác dụng như một loại thuốc lợi tiểu. Khi lượng nước trong cơ thể giảm đi thì chứng đầy bụng cũng được đẩy lùi.

– Ăn măng tây: Măng tây khuyến khích sự phát triển của vi khuẩn “tốt” trong đường ruột. Các vi khuẩn này có tác dụng làm giảm sự gia tăng của khí trong dạ dày và giảm chứng đầy bụng.

– Ăn sữa chua: Tuy sữa dễ gây đầy hơi nhưng sữa chua lại tốt cho đường ruột do chứa vi khuẩn lactobacillus, giúp tiêu diệt các vi khuẩn có hại gây đầy hơi.

– Tiêu thụ hạt tiêu đen: Tinh dầu của hạt tiêu đen có tác dụng xoa bóp dạ dày và tiêu hóa thức ăn, nhờ đó, không còn hiện tượng thức ăn và khí hơi lưu lại ở dạ dày nên tránh được tình trạng đầy bụng.

– Uống trà bạc hà trà: Trà bạc hà hỗ trợ tiêu hóa bằng cách giúp thức ăn được “xử lý” qua dạ dày một cách nhanh chóng. Bạn có thể dùng trà bạc hà đóng gói sẵn trong túi hoặc lá bạc hà tươi vì cả hai đều có tác dụng loại bỏ chứng đầy hơi, đày bụng khó chịu.

Ngoài ra, nếu không áp dụng những cách trên, bạn có thể trị đầy bụng bằng các cách sau đây:

– Uống trà gừng nóng, chiêu từng ngụm nhỏ.

– Uống nước chanh gừng, gồm nước ấm pha với một thìa mật ong, hai thìa nước cốt chanh và vài lát gừng.

– Ăn vài lát gừng tươi chấm muối.

– Xoa nhẹ nhàng vùng bụng, xoa vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới rồi quay lại. Có thể bôi chút dầu nóng khi thoa.

Theo afamily

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây

Ấu trùng sán lớn dưới da là một bệnh mạn tính gây tổn thương ở da, cơ, não… do các u nang sán lợn gây nên. Tùy theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ hoặc rối loạn vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh.

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2 – 3m. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, nhữngđốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn là vật chủ phụ. Ngoài lợn, chó mèo cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Nếu lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Chỉ sau 24 – 72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô hoặc các cơ. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài có kích thước 17-20 x 7-10mm), khi đó còn được gọi là gạo lợn (cysticereus cellulosae). Trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.
Khi người ăn phải trứng sán dây lợn, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, trứng xuống tá tràng, ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”.

san-day

Một người bị bệnh sẽ có các biểu hiện như sau: Ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. U nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hóa. Biểu hiện ở não giống như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng đa dạng như: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị đột tử. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thủy tinh thể, tiền phòng… làm giảm thị lực hoặc bị mù tùy theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất. Để xác định chính xác cần chọc hút và sinh thiết nang ở da tìm ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn. Ngoài ra, xét nghiệm phân tìm trứng sán.

Bệnh ấu trùng sán lợn dưới da cần phải phân biệt với một số bệnh như: u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

Tẩy sán có dễ không?

Dùng một trong các thuốc sau: Có thể dùng quinacrin, người lớn uống từ 0,9 – 1,2g chia liều nhỏ. Ngày hôm trước khi uống thuốc này, nên dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán và sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Lưu ý là nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn thì thuốc quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc. Hoặc dùng thuốc niclosamide 0,5g cho uống 4 – 6 viên, thuốc không độc, hiệu quả cao. Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước. Thuốc có thể làm cho trứng và các đốt sán bị tiêu hủy và đào thải ra ngoài. Nếu bệnh u nang sán lợn ở não, có thể dùng praziquantel, methifolat nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não theo chỉ định của bác sĩ.

Điều trị u nang ở da có thể phẫu thuật khi thật cần thiết để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

theo sức khỏe đời sống

Khi bị rối loạn tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa là một cụm từ dùng để chỉ sự thay đổi hoặc xuất hiện một số triệu chứng ở đường tiêu hóa ví dụ như nôn, buồn nôn, đau bụng …

Rối loạn tiêu hóa là tình trạng không bình thường diễn ra ở đường tiêu hóa (từ miệng đến hậu môn). Rối loạn tiêu hóa có thể là bệnh lý hoặc không phải bệnh lý. Bệnh lý có thể xảy ra ngay tại đường tiêu hóa nhưng cũng có thể xảy ra ngoài đường tiêu hóa. Mọi lứa tuối đều có thể bị rối loạn tiêu hóa và tình trạng rối loạn tiêu hóa ở mỗi một cá thể thường không giống nhau.

Rối loạn tiêu hóa không phải bệnh lý
Trong cuộc sống hàng ngày có nhiều trường hợp rối loạn tiêu hóa nhưng không phải bệnh lý ví dụ như đối với trẻ do ăn chế độ không phù hợp làm cho tiêu hóa không bình thường, biểu hiện là phân nát, có bọt, màu hoa cà hoa cải, mùi tanh…

roi-loan-tieu-hoa

Nhiều trường hợp do mắc bệnh nhiễm khuẩn nào đó phải dùng kháng sinh nhưng người bệnh không tuân thủ chỉ định của thầy thuốc, dùng không đúng liều lượng hoặc dùng kháng sinh không đúng chỉ định làm cho mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở đường ruột, xuất hiện đi đại tiện thấy phân lúc lỏng, lúc đặc, lúc nhão, có mùi tanh, hôi; kèm theo phân bị thay đổi cả về số lượng lẫn mùi, màu sắc và tính chất, đồng thời có thể xuất hiện những cơn đau bụng không thường xuyên. Hiện tượng làm mất cân bằng hệ sinh thái vi sinh vật ở ruột được gọi là “loạn khuẩn”. Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý của một số người, nhất là hiện tượng tự mua thuốc để điều trị bệnh cho mình hoặc người nhà của mình rất dễ dẫn đến “loạn khuẩn”.

Muốn biết có phải bị loạn khuẩn đường tiêu hóa hay không, bạn cần xét nghiệm phân. Khi có kết quả đánh giá bị “loạn khuẩn” của phòng xét nghiệm vi sinh y học, bác sĩ khám bệnh sẽ có phương pháp để điều chỉnh sự “loạn khuẩn” đó. Hoặc trường hợp phụ nữ nghén khi mang thai nhưng cũng có dấu hiệu rối loạn tiêu hóa như không muốn ăn, nôn, buồn nôn, ọe.

Rối loạn tiêu hóa do bệnh lý

Hiện tượng ăn không tiêu, đầy hơi, chướng bụng, nôn, buồn nôn, ọe, đi lỏng hoặc táo bón, đau bụng âm ỉ hoặc đau từng cơn… là những biểu hiện cơ bản của rối loạn tiêu hóa thường gặp trong một số bệnh lý. Tuy nhiên, tùy theo từng loại bệnh mà triệu chứng xuất hiện có khác nhau không nhất thiết có đầy đủ các triệu chứng, có khi chỉ có một hoặc hai triệu chứng cũng có thể gọi là rối loạn tiêu hóa. Hội chứng dạ dày, tá tràng (viêm hoặc loét) đau khi đói hoặc sau ăn, hoặc đau theo chu kỳ kèm theo đầy hơi, chướng bụng, buồn nôn hoặc nôn (trong trường hợp hẹp môn vị, u dạ dày thì nôn nhiều hơn).

Viêm ruột thừa cấp tính thường có đau bụng âm ỉ hoặc từng cơn, hay gặp nhất là đau ở vùng hố chậu phải kèm theo buồn nôn hoặc nôn, bí trung, đại tiện. Có những bệnh nhân bị sỏi đường tiết niệu (sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang) ngoài đau bụng âm ỉ hoặc quằn quại, đau xuyên ra sau lưng thì đầy hơi trướng bụng, buồn nôn, nôn cũng có thể xuất hiện. Một số bệnh gây viêm ruột cấp tính cũng có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa rầm rộ như đau bụng, buồn nôn, nôn, đi lỏng nhiều lần như bệnh tả, bệnh thương hàn, bệnh lỵ trực khuẩn, bệnh ngộ độc thực phẩm… Viêm đại tràng co thắt thì có những biểu hiện của rối loạn tiêu hóa có phần khác với viêm ruột cấp tính… Có một số cơ quan ngoài đường tiêu hóa nhưng khi bị bệnh cũng có một số triệu chứng rối loạn tiêu hóa như bệnh thiểu năng tuần hoàn não, bệnh rối loạn ốc tiền đình (cũng có triệu chứng buồn nôn, nôn).

Khi bị rối loạn tiêu hóa nên làm gì?

Vì rối loạn tiêu hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau, có từng mức độ khác nhau ở mỗi người, nên người bệnh cần đi khám bác sĩ. Với trẻ em đang bú mẹ, đang ăn bổ sung (ăn sam), đang uống sữa bò, trẻ còi xương, suy dinh dưỡng hoặc các cháu mới đi nhà trẻ, mẫu giáo do chế độ ăn chưa phù hợp tốt nhất là nên đến bệnh viện nhi, khoa nhi hoặc trung tâm dinh dưỡng để được bác sĩ chuyên khoa khám bệnh và tư vấn.

Khi rối loạn tiêu hóa có kèm theo đau bụng thì đi khám bệnh càng sớm càng tốt để đề phòng mắc bệnh cấp tính như bệnh viêm ruột thừa, thủng dạ dày, ngộ độc thực phẩm… Nếu không đi khám ngay để được xử trí kịp thời, người bệnh có thể gặp nguy hiểm đối với tính mạng.

Khi bị bệnh nhiễm khuẩn, người bệnh cần dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ, không tùy tiện  mua kháng sinh để dùng khi chưa có chỉ định.

Theo VTV

Những điều dễ quên khi bị đường tiêu hóa

Ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Vì thế bạn nên nhớ những chỉ dẫn sau.Có một chuyện chắc chắn rất quen thuộc trong nhiều phòng khám. Đó là không ít bệnh nhân gõ cửa thầy thuốc vì rối loạn tiêu hóa dưới dạng đầy bụng, khó tiêu, ợ hơi, nhất là đói run nhưng vừa ăn ít miếng đã no ngang.

Bệnh không nặng đến độ gọi xe cấp cứu nhưng cứ rề rề nay đau mai yếu làm giảm chất lượng cuộc sống. Khổ không chỉ cho bệnh nhân mà còn kẹt cho thầy thuốc vì thường khi siêu âm, nội soi, xét nghiệm thì không tìm ra nguyên nhân.

Hậu quả là bệnh nhân đổi thầy thuốc hoài nhưng vẫn tức cành hông. Đáng tiếc là ít ai ngờ đường tiêu hóa trở chứng nhiều lúc lại vì một số lý do rất thông thường. Chẳng hạn:
duong-tieu-hoa
– Tuy làm đúng nhưng thực hiện quá nhanh, chẳng hạn đổi từ gạo trắng sang gạo lức, sang nếp… cái rụp! Tương tự như thế là trường hợp của người trước đó mạnh miệng với thực phẩm công nghệ bỗng chuyển sang khẩu phần với nhiều rau quả tươi.

– Thông hiểu tính chất hữu ích của chất xơ trong rau quả, mễ cốc nhưng dùng quá liều khiến bội tăng hiện tượng đầy hơi trong khung ruột.

– Thường có khẩu phần quá nhiều tinh bột nên vô tình tiếp tay cho phản ứng lên men của lực lượng vi sinh có hại luôn sống chực chờ trên nền ruột.

– Quá mạnh miệng với các món ngọt theo kiểu ăn vặt suốt ngày mà không ngờ là đường ủ đến lên men rồi thành rượu ngay trong lòng ruột.

– Có thói quen ăn quá nhiều rau cải tươi trong bữa cơm chiều trong khi lá gan theo đúng nhịp sinh học lại giảm hoạt động sau 19 giờ. Hậu quả, các loại hơi có hại cho sức khỏe dễ tích lũy trong lòng ruột.

– Trước đó mạnh miệng với thịt, cá bỗng đổi sang chay trường. Hậu quả là lượng mật trước đó được bài tiết theo thói quen nay bỗng thừa thãi. Mật khi đó sẽ kích ứng khung ruột. Đừng quên rằng mật rất cần thiết để tiêu hóa chất béo trong thịt, cá nhưng thừa mật trong lòng ruột lại là một trong các nguyên nhân dẫn đến ung thư ruột già.

– Uống trà suốt ngày mà không ngờ lượng trà quá cao là lý do khiến thất thoát khoáng tố kali. Hậu quả là nhu động của khung ruột trở nên ù lỳ nên gia chủ không nuốt hơi mà vẫn đầy bụng, không ăn nhiều mà vẫn khó tiêu.

Đổi hướng nếu cần thiết tất nhiên là đúng nhưng cũng như việc điều khiển xe, nếu quẹo quá gắt thì có khi lạc tay lái rồi mất cả chì lẫn chài!

Theo NLĐ

Hỏng đường tiêu hóa vì ăn vừng

Mọi người mách nhau ăn mè (vừng) thay cơm để phòng và chữa đái tháo đường, tăng huyết áp và xơ vữa động mạch… Nhưng theo các chuyên gia, ăn như vậy không tốt chút nào.

Nó sẽ làm cho bạn thiếu dinh dưỡng dẫn tới bệnh lý hoặc làm bệnh nặng hơn.

Đặc biệt, nếu không biết cách ăn, thậm chí nhiều người ăn mè còn có nguy cơ hỏng được tiêu hóa hoặc bị bệnh.

GS.TS Bùi Minh Đức, nguyên trưởng khoa Hóa sinh An toàn thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, phó chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam cho biết, vừng là một thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều chất béo (béo thực vật – không chứa cholesterol) đặc biệt là giàu omega 3 và omega 6, là những loại axit béo thiết yếu mà cơ thể không tạo ra được.
vung
Loại chất béo này có nhiều tác dụng như tạo năng lượng, giúp hấp thu các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K, đặc biệt là tác dụng bảo vệ tim mạch trước nguy cơ tổn thương do lão hóa, bệnh lý thoái hóa, giảm khả năng xơ vữa mạch máu và thiếu máu cơ tim.

Trong vừng cũng có chứa chất đạm, nhiều loại vitamin, giàu khoáng chất như canxi, phospho, magiê… Có lẽ chính vì thế mà hiện nay người ta hay dùng vừng, thậm chí lạm dụng vừng để thay thế các thực phẩm khác.

Nên dùng chung vừng với các thực phẩm khác để có một món ăn.

Điều này hoàn toàn không nên và không đúng vì tác dụng chữa bệnh thì chưa được chứng minh, còn về mặt dinh dưỡng là không đảm bảo. Bởi trong vừng chứa rất ít chất bột đường, gần như không có, trong khi nhu cầu dinh dưỡng ở người bình thường hay ăn kiêng để kết hợp điều trị như đái tháo đường, tim mạch, huyết áp, xơ vữa… thì vẫn phải đảm bảo đủ các nhóm thực phẩm cơ bản gồm: Chất đạm, chất béo, bột đường, vitamin, muối khoáng, nước, chất xơ…

Hơn nữa, xét về mặt năng lượng tính trên 100g thực phẩm thì vừng giàu năng lượng gấp 2 lần cơm nhưng thành phần các chất dinh dưỡng của vừng lại phiến diện, không cân đối và đủ bốn nhóm chất như trong bữa cơm có thịt, cá, rau, dầu…

Trong khẩu phần ăn một bữa cơm thì chất bột đường phải chiếm từ 55 – 65% năng lượng, đạm là 12 – 15%, béo từ 20 – 30% mới phù hợp, còn trong vừng thì thiếu hẳn nhóm cung cấp đường và tỷ lệ chất béo quá cao. Vì vậy, trong bữa cơm, vừng chỉ có thể được xem là một thực phẩm bổ dưỡng dùng để bổ sung, cung cấp thêm dưỡng chất cũng như tăng cường nguồn năng lượng từ chất béo cho bữa ăn.

Cũng cần lưu ý, trong vừng có khoảng 5,36% axit phytic (là chất không có giá trị dinh dưỡng), làm giảm hấp thu một số chất quan trọng như canxi, magie, sắt, kẽm… Ngoài ra, nếu ăn vừng cả hạt, dù nhai kỹ đến đâu cũng không thể vỡ hết được và như vậy, vừa không thể hấp thu được các chất dinh dưỡng trong vừng, vừa gây hại cho đường tiêu hóa. Vì thế, dùng quá nhiều vừng cũng không có lợi cho sức khoẻ.

BS.TTND Nguyễn Xuân Hướng, nguyên chủ tịch Hội Đông y Việt Nam cho biết, vừng trong Đông y có tên gọi là hắc chi ma (vừng đen), bạch tri ma (vừng trắng), có tác dụng hỗ trợ tim mạch, tiêu hóa nhất là người bị táo bón, có lợi cho huyết và dịch, bồi bổ cho cơ thể, làm sáng mắt….

Tuy nhiên, vừng thuộc hàn nếu người thể hàn dùng dễ sinh ỉa lỏng, nếu dùng nhiều lâu dần sẽ hỏng đường tiêu hóa. Hơn nữa, trong Đông y cũng không dùng vừng đơn độc mà thường phối hợp với gạo, khoai hoặc bột sắn dây, các thực phẩm thuộc nhóm bột đường, để có các món ăn, bài thuốc đơn giản bồi bổ sức khoẻ. Dùng đơn độc, vừng không có các tá dược khác để chuyển hóa thành các chất bổ, không tốt cho sức khoẻ.

theo afamily

Biểu hiện và khắc phục bệnh hơi trong đường tiêu hóa

Hơi là khí trong đường tiêu hóa, nó thoát ra khỏi cơ thể khi chúng ta ợ hơi qua đường miệng hoặc trung tiện qua hậu môn. Vì vậy, hơi không những là vấn đề của sức khỏe mà còn ảnh hưởng nhiều đến quan hệ giao tiếp. Nó có thể bất ngờ làm chúng ta ợ hơi thành tiếng, hoặc đột ngột khiến ta phải trung tiện, nhưng nếu hai điều này xảy ra khi bạn đang đối thoại với người khác thì thật là bất tiện. Vậy làm thế nào để hạn chế hơi trong đường tiêu hóa và giúp chúng ta tự tin khi giao tiếp?

Có hơi trong đường tiêu hóa là do chúng ta nuốt không khí qua đường miệng hoặc do sự phân hủy thức ăn trong ruột già bởi vi khuẩn. Khi ăn uống, chúng ta đều có thể nuốt một lượng nhỏ không khí vào ruột. Lượng không khí nuốt phải tăng lên khi ăn uống quá nhanh, hút thuốc, nhai kẹo cao su, uống thức uống có ga… Khi ợ hơi, một lượng khí được thải ra ngoài, phần còn lại đi xuống ruột non và được hấp thụ một phần, một lượng nhỏ đi xuống ruột già và được thải ra ngoài qua hậu môn. Ở người bình thường có ít vi khuẩn trong ruột non, nếu có sự gia tăng quá mức số lượng vi khuẩn hoặc thay đổi chủng loại vi khuẩn trong ruột non sẽ dẫn đến sự sản xuất khí dư thừa và có thể gây ra tiêu chảy, sụt cân. Sự tăng quá mức số lượng vi khuẩn ở ruột non thường do bệnh lí hoặc rối loạn chức năng đường tiêu hóa như bệnh Crohn, bệnh tiểu đường…

Biểu hiện của hơi trong đường tiêu hóa
han-chet-hoi
Ợ hơi, đầy hơi, trung tiện, đau bụng và khó chịu, nhưng không phải ai cũng có các triệu chứng này. Ợ hơi: trong hoặc sau khi ăn là bình thường. Có khi ợ hơi do nuốt quá nhiều không khí và chúng chưa kịp đi xuống dạ dày. Nếu một người ợ hơi thường xuyên có thể bị rối loạn tiêu hóa trên, như bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Mọi người có thể tin rằng không nuốt không khí và phát hành nó sẽ làm giảm sự khó chịu, họ cố ý hoặc vô ý có thể phát triển một thói quen ợ nóng để làm giảm khó chịu.

Trung tiện: ở một người bình thường, có thể trung tiện từ 10-20 lần/ngày. Quá nhiều khí trong dạ dày hoặc ruột non sẽ dẫn đến đầy hơi và trung tiện.

Đầy hơi: là tình trạng căng đầy, trướng bụng. Rối loạn tiêu hóa carbohydrat có thể gây ra đầy hơi. Đầy hơi có thể do đường tiêu hóa chứa quá nhiều khí; hoặc do các bệnh làm ảnh hưởng đến lượng khí đi qua ống tiêu hóa như tắc ruột, bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật, có thoát vi nội hay các mô sẹo gây dính cũng có thể dẫn đến đầy hơi; hội chứng ruột kích thích có thể ảnh hưởng đến lượng khí đi qua ruột. Đầy hơi là một hội chứng đặc trưng bởi rối loạn chức năng đường tiêu hóa với triệu chứng điển hình là khó tiêu, đầy bụng với táo bón hoặc tiêu chảy hoặc xen kẽ cả hai. Tình trạng đầy hơi trong IBS là do tăng nhạy cảm với lượng khí bình thường. Nếu ăn nhiều thức ăn béo có thể chậm làm rỗng dạ dày và là nguyên nhân gây đầy hơi, khó chịu nhưng không nhất thiết có quá nhiều khí.

Các loại thức ăn thường gây ra hơi

Nhìn chung, các loại thực phẩm có chứa carbohydrate đều có thể gây ra hơi. Còn chất béo và protein ít gây ra hơi. Tuy nhiên, có loại thức ăn sinh ra hơi ở người này nhưng không sinh ra hơi ở người kia, do ảnh hưởng của sự tiêu hóa carbohydrate và vi khuẩn trong đường tiêu hóa của mỗi người. Những thực phẩm có thể gây ra khí là: đậu, các loại rau như bông cải xanh, cải bắp, hành tây, nấm, atisô, măng tây…; các loại trái cây như lê, táo, đào, mít…; ngũ cốc; nước ngọt, nước trái cây, nhất là nước táo và nước ép quả lê, các đồ uống có chứa si-rô ngô lượng fructose cao…; sữa và các sản phẩm từ sữa như pho mát, kem và sữa chua; bánh kẹo và kẹo gums…

Phương pháp điều trị hơi đường tiêu hóa

Khi có nhiều hơi trong đường tiêu hóa, có thể điều trị bằng các phương pháp: giảm nuốt không khí, thay đổi chế độ ăn uống, điều trị nội khoa. Giảm hoặc không nuốt không khí có thể giúp giảm hơi trong đường tiêu hóa, đặc biệt là đối với những người ợ hơi thường xuyên. Bạn cần ăn chậm hơn; tránh nhai kẹo cao su và kẹo cứng. Thay đổi chế độ ăn uống: ăn ít các loại thực phẩm gây ra hơi. Tuy nhiên, có nhiều loại thực phẩm rất tốt cho sức khỏe nhưng lại có thể gây ra hơi mà bạn không nên hạn chế như: trái cây, rau quả, ngũ cốc và các sản phẩm sữa. Các thức ăn chứa nhiều chất béo thường không gây ra hơi, nhưng nếu bạn hạn chế ăn các loại thực phẩm nhiều chất béo có thể giúp giảm đầy hơi và khó chịu, bởi vì thức ăn ít chất béo sẽ giúp dạ dày tiêu hóa nhanh, trống rỗng nhanh hơn, cho phép hơi di chuyển nhanh hơn vào trong ruột non. Thuốc lactase có thể giúp  những người không dung nạp sữa lactose tiêu hóa và các sản phẩm sữa để giảm khí.

BS. Bùi Thị Thu Hương/sức khỏe đời sống

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ

Rối loạn tiêu hóa (RLTH) là một thuật ngữ thường dùng để chỉ những bất thường về chức năng dạ dày. Nguyên nhân RLTH rất đa dạng như: bệnh lý của cơ thể, thay đổi chế độ ăn, dùng thuốc… đặc biệt là sự thay đổi chế độ ăn đột ngột của trẻ em khi bắt đầu ăn dặm, sẽ gây nên RLTH thể hiện qua các triệu chứng như: đầy hơi, chướng bụng, táo bón, tiêu chảy, phân sống.

Với những trẻ thường xuyên có biểu hiện bất thường tại đường tiêu hóa, chắc chắn khả năng cung cấp đủ các chất cho cơ thể bị ảnh hưởng.

Trẻ ăn vào ói ra, kém hấp thu… lâu ngày sẽ bị thiếu hụt chất dinh dưỡng và diễn tiến đến suy dinh dưỡng.

Vì vậy, những trẻ có biểu hiện RLTH nên được đi khám sớm và đúng chuyên khoa để có hướng điều trị đúng cho trẻ.
nhung-roi-loan-tieu-hoa-thuong-gap-o-tre
Dưới đây là một số bệnh lý tiêu hóa thường gặp ở trẻ em.

Trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng trào ngược những chất chứa trong dạ dày vào trong thực quản.

Do cấu trúc giải phẫu dạ dày – thực quản của trẻ nhỏ không giống như người lớn, thực quản thì ngắn, phần dưới hơi nở rộng, lớp cơ chưa phát triển hoàn chỉnh và còn yếu, cơ tâm vị co thắt bất thường nên bé rất dễ nôn trớ.

Nếu trẻ nôn ít (vài ba ngày mới ọc 1 lần hay 1 ngày ọc 2 lần), vẫn bú khỏe, lên cân tốt thì không sao và hiện tượng trào ngược này sẽ giảm dần khi trẻ lớn.

Dù có điều trị hay không thì đến năm 2 tuổi, khoảng 60% trẻ sẽ tự hết, 40% còn lại có thể kéo dài đến 4 tuổi.

Táo bón

Táo bón không phải là bệnh, mà chỉ là 1 triệu chứng của nhiều bệnh lý khác nhau hoặc chỉ là 1 rối loạn cơ năng (thường gặp nhất).

Táo bón được định nghĩa khi bé có số lần đi tiêu ít hơn bình thường (thay đổi theo lứa tuổi và mỗi cá nhân) với phân to, cứng, đau khi đi tiêu và đôi khi có máu.

Táo bón có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như: viêm ruột, thủng ruột… Do đó, cần được khám và tìm nguyên nhân gây táo bón để có điều trị thích hợp.

Táo bón rất hay gặp ở trẻ còn nhỏ khi thức ăn có quá nhiều mỡ, chất đạm và ít chất khoáng, cũng có khi do uống nhiều sữa bò, sữa bột vì ít sữa mẹ.

Các cơ bụng và thành ruột cũng có vai trò quan trọng trong việc gây ra táo bón.

Những đứa trẻ còi xương, sinh thiếu tháng rất hay bị táo bón. Ở những trẻ lớn hơn, táo bón thường do ăn nhiều thức ăn cứng hoặc không đủ lượng vitamin B1 cần thiết, có khi do lỗ hậu môn bị rạn.

Việc cho trẻ ăn nhiều rau quả sẽ giúp cho cơ bụng và thành ruột co bóp tốt hơn. Các loại nước ận ép hoặc nước luộc củ cải cũng có tác dụng chống táo bón.

Cách đề phòng táo bón tốt nhất là tập cho trẻ thói quen đi ngoài vào một giờ cố định trong ngày.

Các thuốc nhuận tràng chỉ nên uống sau khi hỏi ý kiến của bác sĩ.

Tiêu chảy

Khi trẻ đi tiêu ra phân lỏng như nước trên 3 lần một ngày thì được coi là tiêu chảy.

Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời.

Do đó, điều quan trọng nhất khi trẻ bị tiêu chảy là phải bù điện giải cho trẻ, tốt nhất bằng nước oresol và phải tuân thủ hướng dẫn pha oresol, cho trẻ uống đúng cách, uống từng ít một, uống liên tục và rải rác trong ngày.

Còn nếu trẻ diễn tiến bệnh nặng hơn, tốt nhất hãy đưa trẻ đến một cơ sở y tế để điều trị.

Để phòng bệnh tiêu chảy, cha mẹ cần chú ý đảm bảo vệ sinh cho trẻ, thực hiện ăn chín uống sôi, vệ sinh tay sạch sẽ trước và sau ăn.

Còn khi bệnh, ngoài việc bù nước, điện giải tốt nhất, cần cho trẻ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, ăn những thức ăn loãng, dễ tiêu giúp tăng cường sức khỏe, trẻ sẽ có đủ sức chống đỡ bệnh, cơ thể chóng phục hồi, không bị suy sụp vì thiếu dinh dưỡng sau tiêu chảy.

Theo sức khỏe đời sống

Chữa rối loạn tiêu hóa bằng thảo dược

Rễ gừng, vỏ cam, hạt thìa là… vị đắng, có tác dụng làm giảm sự khó chịu khi bị bệnh rối loạn tiêu hóa, cải thiện chức năng của đường ruột.

Trong những kỳ nghỉ kéo dài, nhất là dịp Tết, mọi người thường gặp phải các vấn đề về tiêu hóa như đầy bụng, đầy hơi, buồn nôn.

Dưới đây là một số thảo dược có thể chữa rối loạn tiêu hóa.

1. Gốc và lá cây bồ công anh

Đây là một phương thuốc truyền thống chữa các bệnh rối loạn gan và lá lách. Cây bồ công anh chứa thành phần được gọi là sesquiterpene lactone, có tác dụng kích thích sự thèm ăn, cải thiện tiêu hóa. Thành phần này có hiệu quả giống như một loại thuốc nhuận tràng nhẹ.

chua-roi-loan-tieu-hoa-bang-thao-duoc

2. Rễ cây ngưu bàng

Ngưu bàng là một loại thảo dược được sử dụng trong công thức thuốc lợi tiểu và thuốc nhuận tràng. Từ xa xưa tại châu Á, người ta đã sử dụng loại cây này để giải độc gan, thận và mật. Rễ cây chứa axit phenolic, quercetin và luteolin, các chất chống ôxy hóa mạnh.

3. Vỏ cam

Được sử dụng ban đầu như một cách để chữa chứng ợ hơi, vỏ cam chứa một số loại dầu thơm. Ngoài ra trong thành phần của nó có cả synephrine và N-methyltyramine, giúp cải thiện sự ngon miệng và tăng sự tiết dịch tiêu hóa tự nhiên.

4. Hạt cây thì là

Chứa nhiều loại dầu thơm cần thiết, vì thế hạt cây thì là được coi là một phương pháp chữa bệnh truyền thống tại châu Á cho các chứng khó tiêu, đầy hơi và đau bụng. Loại thảo dược này có có mùi thơm và hương vị dễ chịu, giúp làm giảm khí và đau bụng.

5. Rễ cây long đởm

Long đởm thảo là một thành phần phổ biến trong nhiều bài thuốc Đông y. Nó kích thích sự tiết dịch tiêu hóa và tăng cường chức năng của túi mật. Những tác dụng chữa bệnh này là do trong cây chứa các thành phần là gentiopicroside và amarogentin.

6. Củ gừng

Củ gừng chứa nhiều thành phần có lợi như: gingerols, shaogals và một số loại dầu thiết yếu. Nó giúp tăng cường tiêu hóa, giảm buồn nôn và giúp tránh say tàu xe.

Theo Sức Khỏe và Đời Sống

Trường hợp nào không được dùng men tiêu hóa?

Men tiêu hóa là tên gọi của một dòng sản phẩm có chức năng hỗ trợ tiêu hóa, dùng cho cả trẻ em lẫn người lớn. Tuy vậy, người dùng có thể gặp những tác hại do sử dụng men tiêu hóa không đúng hướng dẫn.

Bản chất của men tiêu hóa

Men tiêu hóa là tên gọi một dòng sản phẩm có chức năng hỗ trợ tiêu hóa. Men tiêu hóa ở đây hoàn toàn khác với men vi sinh, vì chúng không phải là các vi khuẩn sinh học đông khô mà là các hợp chất hóa học thực thụ. Một số loại men tiêu hóa dễ thấy trên thị trường như neopeptine, enzyplex, zymoplex, panse, digelase, triase, panthiacone…
truong-hop-nao-khong-duoc-dung-men-tieu-hoa
Không phải tất cả các enzym tiêu hóa trong cơ thể đều có thể chế biến được dưới dạng đông khô và làm thành viên uống men tiêu hóa hay cốm men tiêu hóa. Chỉ một số men trong đó được sử dụng vì những đặc tính dược lý và hóa học phù hợp. Thường thì các enzym của dạ dày, nước bọt và của tụy được bào chế để bổ sung hỗ trợ tiêu hóa. Dù với loại nào thì chúng đều có chung một đặc tính là: trợ giúp cơ thể phân cắt những tảng thực phẩm lớn thành những mảnh thực phẩm nhỏ và dần dần thành những phân tử dinh dưỡng như đường đơn, axit amin, axit béo để cơ thể hấp thu. Vì lẽ đó, men tiêu hóa là một công cụ giúp cơ thể lấy lại sức trong những giai đoạn còn yếu ớt và chưa đủ sức tự mình tiêu hóa thức ăn.

 Những trường hợp không dùng

Theo bác sĩ Lê Thanh Huyền, mặc dù men tiêu hóa là sản phẩm bổ sung để hỗ trợ tiêu hóa, nhưng không phải vì thế chúng ta có thể lạm dụng, dùng kéo dài. Để tận thu tác dụng có lợi, chúng ta cần biết cách dùng sao cho đúng.

Trước hết, không dùng men tiêu hóa với người bị chứng tăng tiết axit dạ dày, viêm loét dạ dày và viêm tụy. Mặc dù trong các chứng bệnh này người bệnh có thể xuất hiện hiện tượng sống phân và tiêu chảy. Sở dĩ không dùng men trong các trường hợp này là vì cơ thể đang dư thừa và hoạt hóa quá mạnh men tiêu hóa nội sinh. Cơ thể hiện tại không thiếu men tiêu hóa nên việc bổ sung thêm men tiêu hóa không những không khắc phục được hiện tượng tiêu chảy mà còn làm hoạt tính các men này trở nên mạnh mẽ quá mức, phá hủy luôn cả thành ống tiêu hóa. Với bệnh nhân bị chứng tăng tiết axit, viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm tụy thì men tiêu hóa bổ sung sẽ là nhân tố làm trầm trọng thêm bệnh và gây viêm loét ống tiêu hóa nặng hơn.

Cũng để bảo vệ sức khỏe ống tiêu hóa, bạn không nên dùng men tiêu hóa lúc đói. Vì khi dùng lúc đói, dạ dày hoàn toàn trống rỗng. Nồng độ axit trong dạ dày sẽ là chìa khóa kích hoạt các men tiêu hóa trong sản phẩm. Các men này được kích hoạt trong tình trạng không có thực phẩm sẵn có, chúng trở nên kích ứng niêm mạc dạ dày và chúng ta dễ bị viêm loét. Tuyệt đối không dùng men tiêu hóa trước bữa ăn, cũng không nên dùng men tiêu hóa sau khi ăn chừng 2 tiếng đồng hồ.

Không dùng men tiêu hóa kéo dài. Việc dùng men tiêu hóa kéo dài không những không thu được lợi ích như mong muốn mà còn làm thay đổi chức năng cơ quan tiêu hóa theo hướng rất xấu. Trong quá trình sinh tồn, cơ thể luôn tự điều chỉnh để phát triển tối đa những phần cần thiết và hạn chế dần những phần không cần thiết. Hành động uống men tiêu hóa kéo dài sẽ tức khắc tác động vào các cơ quan và bộ phận tiết men, làm các cơ quan này giảm tiết dịch tiêu hóa và mất chức năng.

Một số trường hợp khác không nên dùng men tiêu hóa là các trường hợp bị sống phân hoặc bị tiêu chảy có đau bụng kèm theo, các trường hợp đại tiện phân có máu hoặc nôn ra máu. Một số trường hợp khác bị rối loạn tiêu hóa do nhiễm độc các hợp chất hóa học hoặc bị bỏng axit thì cũng tuyệt đối tránh xa thứ sản phẩm này.

Dùng khi nào?

Tất cả những người bị rối loạn hoạt động tiết men tiêu hóa đều có thể dùng được men tiêu hóa. Trẻ em là đối tượng đầu tiên vì hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện và lượng men tiêu hóa thường tiết ra không đủ. Cho nên, trong một số trường hợp cụ thể, em bé đi sống phân thì chúng ta có thể dùng men tiêu hóa.

Ngoài ra là các trường hợp giảm tiết dịch men tiêu hóa, bệnh nhân bị chứng thiểu toan, giảm toan trong dạ dày, bệnh nhân bị viêm dạ dày thể teo đét. Khi đó, dùng men tiêu hóa thực sự hữu dụng. Nếu bạn là người hay bị rối loạn tiêu hóa, bụng ậm ạch, ăn lâu tiêu, một chút men tiêu hóa có thể sẽ có lợi.

Người mới ốm dậy, người thể lực yếu cũng là đối tượng nên dùng. Những người này, do sức khỏe thể trạng yếu, hệ tiêu hóa thường chưa tiết men đầy đủ. Trong những ngày đầu tiên, nên dùng men tiêu hóa để việc tiêu hóa được bình thường, giúp cơ thể hồi phục nhanh.

Theo Sức khỏe Đời sống

Đừng chủ quan khi bé bị táo bón

Táo bón là một triệu chứng hay gặp ở trẻ em với biểu hiện dễ nhận thấy thông qua việc giảm số lần đại tiện bình thường, khó và đau khi đại tiện do phân rắn hoặc quá to. Táo bón làm trẻ có cảm giác khó chịu, quấy khóc, mệt mỏi và sút cân…
Trẻ được coi là bị táo bón nếu dưới 2 lần đại tiện/ngày đối với trẻ sơ sinh, dưới 3 lần đại tiện/tuần (trên 2 ngày/lần) với trẻ đang bú mẹ, dưới 2 lần đại tiện/tuần (trên 3 ngày/lần)với trẻ lớn. Táo bón nếu không được điều trị sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như trẻ biếng ăn, chậm lớn, còi cọc, suy dinh dưỡng, chướng bụng, đầy hơi, ăn khó tiêu, nôn trớ. Những chất độc trong phân cần được thải ra ngoài hằng ngày bị tích lại trong ruột có thể bị hấp thu trở lại trong máu gây hại cho sức khỏe của trẻ. Trẻ sẽ bị sa trực tràng do rặn và ngồi lâu, chảy máu trực tràng nứt hậu môn do phân quá rắn.

be-bi-tao-bon-dung-chu-quan

Tại sao trẻ bị táo bón?

Dị tật bẩm sinh đường tiêu hóa: hiếm gặp, thường chỉ chiếm 5% trong các nguyên nhân gây táo bón: phình to đại tràng (bệnh Hipschsprung), bệnh suy giáp trạng (bệnh Myxoedeme), khi mắc các bệnh này, trẻ thường bị táo bón ngay sau khi sinh.
Các nguyên nhân mắc phải như: trẻ bị nứt hậu môn, bị trĩ nên trẻ đi ngoài bị đau gây co thắt hậu môn. Có thể do sai lầm trong chế độ ăn uống: ăn quá ít, uống ít nước dẫn đến thiếu nước; ăn quá nhiều chất đạm, ít chất xơ do ăn ít rau xanh, quả chín; pha sữa quá đặc, ăn chưa đúng về số lượng hàng ngày, trẻ ăn sữa bò dễ bị táo bón hơn sữa mẹ, mẹ bị táo bón cho con bú khiến trẻ cũng bị táo bón.

Có thể trẻ bị giảm trương lực ruột do mắc một số bệnh như: còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu, mất ngủ… hoặc do dùng thuốc kháng sinh, giảm ho có codein. Ở trẻ lớn còn chịu ảnh hưởng của yếu tố tinh thần như nhịn đại tiện do sợ bẩn, mải chơi hoặc ngại đi đại tiện, ở tuổi mẫu giáo, trẻ sợ cô giáo nên không dám xin phép đi đại tiện, không luyện thói quen đi vệ sinh đúng giờ.

Cần phải làm gì?

Khi trẻ bị táo bón, tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà có những cách xử trí thích hợp. Nếu táo bón mới xảy ra, cần điều chỉnh lại chế độ ăn:

Cho trẻ ăn đủ số lượng thức ăn và uống nhiều nước trong ngày.

Bổ sung vào bữa ăn của trẻ nhiều rau xanh và hoa quả có tính chất nhuận tràng như rau khoai lang, mồng tơi, rau dền, khoai lang. Khi nấu bột và cháo, phải băm nhỏ cho trẻ ăn cả cái. Cho trẻ ăn các loại quả có tác dụng nhuận tràng như: chuối tiêu, đu đủ, bưởi, cam, quít, thanh long… Khi trẻ đã bị táo bón, không nên cho ăn hồng xiêm, táo.

Với những trẻ nhỏ: pha sữa loãng hơn bình thường. Khi trẻ 3-4 tháng tuổi, có thể pha thêm 1 thìa cà phê nước quả (cam, quít…) vào nước cho trẻ uống hoặc dùng nước cháo pha sữa cho trẻ từ 4 tháng trở lên. Với trẻ bú mẹ, mẹ bị táo bón thì phải điều trị táo bón cho mẹ: ăn nhiều rau quả, uống nhiều nước, tăng các cữ bú trong ngày.

Xoa bụng cho trẻ theo khung đại tràng từ phải qua trái ngày 3 – 4 lần vào khoảng cách giữa 2 bữa ăn để kích thích làm tăng nhu động ruột. Mát-xa không chỉ tốt cho bé đang bị táo bón mà còn là biện pháp giúp ngăn ngừa táo bón. Bé 2-3 tuần tuổi là bạn có thể sử dụng cách mát-xa. Chọn lúc bé thoải mái nhất, không no hay đói quá để tiến hành mát-xa. Trước tiên, bạn nên làm ấm bàn tay rồi nhẹ nhàng xoa lên – xoa xuống hai bên sườn cho bé. Tiếp đến, xoa thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ trên bụng bé và ngược lại. Nắn nhẹ chân bé, giúp bé co đầu gối, ép nhẹ đầu gối lên bụng bé rồi lại duỗi chân ra. Có thể thực hiện 2 lần/ngày, mỗi lần khoảng 5 phút.

Đối với trẻ lớn hơn:

Ăn đủ và tập thói quen ăn nhiều rau trong bữa ăn. Tập cho trẻ đi đại tiện đúng giờ quy định, chọn thời gian lúc nào thuận tiện mà trẻ không vội vã, nên chọn sau bữa ăn vì lúc này nhu động ruột hoạt động tăng, tránh bắt trẻ ngồi bô quá lâu. Trong trường hợp trẻ bị táo bón do nứt hậu mô, nên rửa sạch hậu môn bằng nước ấm, bôi dung dịch nitrat bạc 2%.

Nếu điều trị bằng cách thay đổi lối sống, chế độ ăn không khỏi thì mới sử dụng tới dược phẩm như dùng thuốc và thụt tháo theo chỉ dẫn của bác sĩ như cho trẻ uống dầu parafin vào buổi sáng, các loại thuốc có chứa magie sulfate có tác dụng nhuận tràng hay các loại thuốc có chứa vi khuẩn sống dưới dạng đông khô như: cốm vi sinh (biobaby); biosyptin, lactomin, lactylac, biofidin… làm cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Thụt tháo là biện pháp cuối cùng: dùng nước ấm có pha glyxerin hoặc mật ong: 30-40ml đối với trẻ dưới 1 tuổi và 100-250ml đối với trẻ trên 1 tuổi. Tuy nhiên, không nên dùng kéo dài có thể gây giãn trực tràng và đại tràng tạo thành thói quen làm mất phản xạ rặn của trẻ.

Các bà mẹ cần lưu ý, khi thấy con táo bón kéo dài trên 1 tuần, khi thay đổi chế độ ăn và áp dụng những cách trên mà không có tác dụng; trẻ đẻ ra đã táo bón, bụng trướng; táo bón làm suy dinh dưỡng, nôn…, cần lập tức đưa trẻ đến khám bác sĩ chuyên khoa nhi để được tư vấn và thăm khám kịp thời.

BS. Nguyễn Văn Độ

Theo SKDS

Nguy cơ bị sa dạ dày do đi bộ sau khi ăn no

Khi tập thể dục, do tác dụng cơ học của vận động sẽ gây ra các biểu hiện ngăn trở quá trình tiêu hoá của dạ dày, lâu dần gây viêm loét dạ dày, đường tiêu hoá…

Chị Nguyễn Thị Nga (Thành Công, Hà Nội) có thói quen sau ăn tối là đi dạo hồ và tập erobic. Sau một thời gian chị thấy tức bụng, bụng ậm ạch khó chịu, đầy trướng… Đi khám chị mới biết mình bị viêm, sa dạ dày do tập thể dục buổi tối sau khi ăn no.

sa_da_day_do_di_bo_buoi_toi

Nhiều người bị sa dạ dày do tập thể dục buổi tối sau khi ăn no.

Lời bàn:

Theo ThS Nguyễn Văn Phú, Trưởng khoa Y học thể thao, Bệnh viện Thể thao Việt Nam, khi vừa ăn xong, về nguyên tắc máu tập trung ở dạ dày và ưu tiên cho cơ quan tiêu hoá để tiêu hoá thức ăn. Nếu lúc đó chúng ta tập luyện, vận động, máu phải phân tán tới các cơ quan ngoại biên, cơ làm cản trở quá trình tiêu hoá và hấp thu thức ăn, dẫn tới tiêu chậm.

Ngược lại, quá trình tiêu hoá cũng ngăn cản quá trình vận động chung của cơ thể gây ra biểu hiện rối loạn tuần hoàn. Như vậy, khiến cho cả sự tập luyện và tiêu hoá đều không có hiệu quả. Hơn nữa, do tác dụng của cơ học của vận động sẽ gây ra các biểu hiện ngăn trở quá trình tiêu hoá của dạ dày, lâu dần gây viêm loét  dạ dày, đường tiêu hoá…

Vì vậy, nên ăn trước khi tập luyện tối thiểu 2 tiếng, không ăn no và uống bia, rượu. Chú ý ăn thức ăn dễ tiêu, ít mỡ, ít chất xơ để tránh tình trạng dạ dày đầy, thức ăn sẽ gây khó khăn khi chạy và thở, ảnh hưởng đến tiêu hóa; tỷ lệ thức ăn nhiều đường bột, ít chất béo và chất đạm, giảm muối. Có thể uống thêm vitamin C.

Theo 24h

Chăm sóc cho trẻ bị trào ngược thực quản

 Trào ngược dạ dày thực quản là hội chứng thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi. Để khắc phục tình trạng này, cách cho bé bú, ăn uống và dinh dưỡng hợp lý đóng vai trò cực kỳ quan trọng.

Nhiều trẻ em bị suy dinh dưỡng, viêm họng, viêm tai… vì bị trào ngược dạ dày thực quản. Thế nhưng nhiều bà mẹ đã bỏ qua những dấu hiệu của hội chứng này vì nghĩ đó là sặc sữa bình thường.

Cho bé bú sai tư thế cũng là một nguyên nhân

Đối với trẻ sơ sinh, hệ tiêu hóa còn non nên cơ thắt trên của dạ dày còn yếu, khi co bóp dễ làm thức ăn bị trào ngược trở lên thực quan hay nôn ra mũi, miệng. Một số trẻ có đoạn thực quản phía dưới cơ hoành dài hơn bình thường cũng dễ gặp phải tình trạng này.

Trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản thường xảy ra nôn trớ khoảng 15 phút sau bữa ăn hay bú. Hiện tượng này sẽ làm đau cuống họng khiến trẻ khó nuốt dẫn đến bỏ ăn gây ảnh hướng đến sức khỏe và sự hấp thu dinh dưỡng. Nhưng người nhà cũng cần để ý, có thể bé bị ói do bú quá no hay do chất lượng sữa ngoài, thức ăn không hợp với trẻ.

Bé hay bị nôn, trớ cũng có thể do hiện tượng sinh lý. Nghĩa là né bị trớ khi bú nhưng vẫn ăn uống, vẫn lên cân đều đặn, không bị thở khò khè, không ảnh hưởng đến sức khỏe, sự phát triển thể chất và sinh hoạt của trẻ. Như vậy thì không đáng lo ngại. Khi lớn lên, dạ dày co thắt tốt hơn trẻ sẻ tự khỏi (thường là sau 3 tuổi). Chứng trào ngược dạ dày thực quản không có biến chứng, từ từ sẽ hết theo thời gian.

Nhưng nếu bị trào ngược dạ dày thực quản nhiều lần trong ngày, khiến trẻ chậm lên cân, gầy gò, biếng ăn, hay thở khò khè… thì nhiều khả năng trẻ bị trào ngược bệnh lý. Nếu không đi khám để chẩn đoán và điều trị kịp thời dễ ảnh hưởng đến hô hấp (viêm phổi), trẻ còn có thể bị khàn tiếng, hen suyễn hay bị viêm tai, viêm xoang, sụt cân, suy dinh dưỡng… Nặng nề hơn, có thể gây loét niêm mạc thực quản, dẫn đến hẹp thực quản khiến trẻ nôn càng nhiều hơn.

Nguyên nhân khiến trẻ bị trào ngược dạ dày còn có thể do người mẹ khi cho trẻ bú, đặt trẻ không đúng tư thế.

Cho trẻ ăn nhiều bữa nhỏ

cham-soc-cho-benh-trao-nguoc-da-day-thuc-quan-1

Phần lớn trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ là hiện tượng trào ngược sinh lý, chỉ bị trong giai đoạn đầu bé mới sinh, sẽ khỏi sau 3 tuổi. Không cần điều trị bằng thuốc. Việc chăm sóc, điều chỉnh dinh dưỡng đúng cách sẽ giúp hạn chế được tình trạng nôn, trớ sau khi ăn hoặc bú mẹ.

Nếu trẻ còn bú mẹ thì nên tránh để bé bú quá no mà nên cho bú nhiều lần. Khi bế bé, không nên để ngửa đầu bé ra sau, tránh sặc sữa vào phổi dễ dẫn đến tử vong. Đối với trẻ đến tuổi ăn dặm, nên cho ăn thức ăn đặc, dễ tiêu hóa. Mẹ có thể nặn sữa ra bình và trộn thêm bột gạo để giúp sữa đặc hơn. Các lần ăn, uống được chia nhỏ nhiều bữa trong ngày, không ép bé ăn quá nhiều.

Không cho bé ăn lại ngay sau khi bị nôn do lúc này dạ dày đã bị mất hết dịch vị, bé có ăn cũng không tiêu hóa được. Nên đợi sau đó 2 tiếng hãy cho ăn lại. Cho bé uống thêm nước để bổ sung lại lượng nước lỏng đã mất khi trẻ nôn, trớ. Nên tráng miệng cho trẻ bằng nước ấm sau khi nôn để rửa sạch miệng và lưỡi. Nếu thức ăn bị sặc lên mũi, bạn nên hút mũi và vệ sinh mũi, miệng thường xuyên để tránh viêm đường hô hấp cho bé.

Ngoài ra, có thể sử dụng sữa công thức dành riêng cho trẻ bị trào ngược dạ dày thực quản có bổ sung chất xơ tự nhiên không bị ảnh hưởng bởi dịch vị dạ dày, giúp duy trì độ sệt của sữa từ bình vào trong dạ dày, giúp trẻ ít bị nôn trớ hơn.

Nên bế thẳng trẻ sau khi ăn khoảng 30 phút. Khi bé ngủ nên điều chỉnh tư thế nằm, lật nghiêng đầu một bên để khi bé ói, thức ăn dễ chảy ra ngoài không chạy ngược vào họng, mũi. Nên bật đèn ngủ ban đêm và bố mẹ nằm bên cạnh để thường xuyên theo dõi khi trẻ ngủ. Bé bị trớ xảy ra trong lúc ngủ mà không được người nhà phát hiện kịp thời thỉ nguy cơ tử vong do tắc thở rất cao.

Bổ sung dinh dưỡng hợp lý

Để giúp trẻ tăng cân, khi bé ăn dặm thì trong bát bột ngoài thịt, cá, trứng… nên cho thêm 1 đến 2 thìa cà phê dầu ăn để tăng năng lượng trong khẩu phần ăn của bé.

Ngoài ra, nên cho trẻ ăn thêm hoa quả tươi để cung cấp các vitamin. Ngoài uống sữa bột, có thể cho bé ăn thêm sữa chua, pho-mát.

Nếu bé bị nôn trớ nhiều lần và kéo dài thì có thể dùng thuốc giảm co thắt dạ dày khi cần thiết nhưng phải có sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ. Nếu tình trạng vẫn kéo dài, nên đưa bé đến bệnh viện để khám và điều trị sớm.

Hạn chế thực phẩm giàu chất béo, a-xít

Các mẹ khi có con bị nôn, trớ thì lo lắng trẻ bị thiếu chất dinh dưỡng, khát nước nên thường cho uống những nước ép trái cây chứa a-xít giàu vitamin C như: nước cam, quýt, bưởi… hay cho trẻ ăn thức ăn nhiều chất béo. Đây là điều sai lầm. Lý do là a-xít sẽ làm tăng tiết dịch của dạ dày, chất béo làm cho việc tiêu hóa thức ăn chậm và khó khăn  hơn, càng làm tăng nguy cơ trào ngược dạ dày thực quản ở trẻ.

Tư vấn chuyên môn: BS. CKI. ĐÀO THỊ YẾN THỦY – Trung tâm Dinh dưỡng TP. HCM.

Theo SKDS

Khi trẻ bị rối loạn tiêu hóa

Rối loạn tiêu hóa ở trẻ em là một trong những bệnh lý khiến các bậc phụ huynh luôn phải quan tâm lo lắng. Có em thì bị táo bón kéo dài, có em lại bị đi ngoài sống phân, tiêu chảy… Vì sao lại thế và làm thế nào để khắc phục?

Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tiêu hóa ở trẻ em

Nói về nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa thì có nhiều, nhưng đối với trẻ em thì những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là do trẻ chưa ý thức được vấn đề vệ sinh cơ thể, vệ sinh ăn uống, nề nếp sinh hoạt và sự lây nhiễm qua tiếp xúc. Đặc biệt là đối với học sinh thì những rối loạn tiêu hóa thường gặp là táo bón và tiêu chảy cấp.

khi-nao-tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-1

Táo bón

Táo bón là một trong những triệu chứng rất phổ biến của bệnh lý hệ thống tiêu hoá và cũng là triệu chứng xuất hiện trong rất nhiều bệnh lý khác trong cơ thể. Tuy chỉ là triệu chứng nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống nhưng gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân và nếu táo bón xảy ra kéo dài ở trẻ em, rất dễ dẫn tới các tổn thương thực thể của đại trực tràng nếu không được điều trị kịp thời.
Có rất nhiều nguyên nhân gây táo bón như sau sốt cao, do dùng thuốc; do thói quen đi đại tiện không đều; do chế độ ăn nhiều đạm, ít chất xơ, do căng thẳng thần kinh, do tổn thương trong ống tiêu hóa… tuy nhiên ở trẻ em trong độ tuổi đi học thường táo bón do một vài nguyên nhân sau: chứng táo bón do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh – giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn. Thường thì chứng táo bón xuất hiện sau khi trẻ trải qua một thời gian viêm nhiễm, không khỏe.

Trong khi bị ốm, trẻ thường không uống đủ lượng nước cần thiết khiến chất thải trở nên rắn và rất khó di chuyển. Những chất thải này sẽ gây xước hậu môn và là nguyên nhân gây ra bệnh nứt hậu môn. Stress cũng có thể dẫn tới táo bón, trẻ có thể bị táo bón khi chúng lo lắng về điều gì đó, chẳng hạn như khi trẻ bắt đầu đi học ở trường mới hoặc khi trẻ gặp vấn đề gì đó ở nhà. Trẻ lười đi vệ sinh, thậm chí ngay cả khi trẻ có “nhu cầu”. Tuy nhiên đây lại là một nguyên nhân ít được để ý đến.

Một số trẻ bị táo bón do mắc phải hội chứng ruột kích thích (IBS), có thể xảy ra khi trẻ bị stress hoặc khi trẻ ăn phải thức ăn nào đó, thường là thức ăn quá nhiều chất béo hoặc gia vị. Tuy nhiên cũng cần chú ý trong một số trường hợp, táo bón kéo dài có thể là dấu hiệu của một bệnh lý thực thể nào đó như dài đại tràng, trĩ… vì vậy cần đưa trẻ đến bác sĩ để thăm khám nếu táo bón kéo dài.

Tiêu chảy cấp

Người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.
Cũng giống như ở người lớn, nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ em thường gặp nhất là do nhiễm trùng, đây là loại tiêu chảy gặp khắp nơi trên thế giới đặc biệt ở các nước kém phát triển, đồng thời là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và tử vong cao ở trẻ em. Sở dĩ nguyên nhân gây tiêu chảy cấp chủ yếu do nhiễm khuẩn vì điều kiện vệ sinh thấp kém, môi trường ô nhiễm, thiếu nước sạch, ăn ở đông đúc chật chội, thiếu giáo dục và y tế. Hầu hết nhiễm trùng gây tiêu chảy cấp lây truyền qua đường phân – tay – miệng, qua nước và thức ăn nhiễm bẩn.

Khi bị tiêu chảy cấp, ngoài đi đại tiện nhiều lần trong ngày, phân lỏng nhiều nước, thường có kèm theo nôn mửa, đau bụng, sốt và các biểu hiện toàn thân khác tùy theo từng nguyên nhân. Các nguyên nhân hay gặp gây nên tiêu chảy cấp ở trẻ em là:

– Tiêu chảy cấp do phẩy khuẩn, do các vi khuẩn dạng campylobacter gây ra. Ổ chứa vi khuẩn là động vật, thường là ở gia súc và gia cầm như chó con, mèo con, chim, lợn, các động vật gặm nhấm… đều có thể là nguồn lây bệnh cho người. Nguyên nhân các vụ dịch xảy ra phần lớn liên quan đến thức ăn và nhất là thịt gia cầm không được nấu chín, sữa không được tiệt khuẩn và nước chưa được lọc sạch.

– Tiêu chảy cấp do salmonela: đây là nguyên nhân hay gặp nhất trong các nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn. Khi nhiễm vi khuẩn, sau 12 – 36 giờ sẽ xuất hiện các biểu hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng; buồn nôn và nôn nhiều lần, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, dẫn đến mất nước nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến thiểu niệu, vô niệuvà tử vong do rối loạn nước và điện giải. Điều trị chủ yếu bổ sung nước và điện giải, hạ sốt, an thần và cân nhắc khi sử dụng kháng sinh.

– Tiêu chảy cấp do độc tố của tụ cầu: bệnh cảnh này là do ăn phải thức ăn đã nhiễm ngoại độc tố của tụ cầu vàng. Sau khi nhiễm từ 30phút – 6giờ, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau bụng dữ dội vùng thượng vị nhiều hơn vùng rốn, đau quặn từng cơn; buồn nôn và nôn nhiều lần trước khi đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước; thường không có sốt hoặc sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, có thể rối loạn nước và điện giải dẫn đến trụy tim mạch, dễ gây tử vong ở trẻ nhỏ. Điều trị chủ yếu là bổ sung nước và điện giải, trợ tim mạch.

– Bệnh do Rotavirus: bệnh lây theo đường tiêu hóa qua thức ăn, nước uống nhiễm virus. Virus này chủ yếu gây bệnh cho trẻ em dưới 2 tuổi; thường xuất hiện sau 24 – 48h, khởi phát đột ngột với các triệu chứng sốt cao hoặc không sốt, nôn nhiều, ỉa chảy nhiều lần trong ngày, phân nhiều nước, đôi khi dẫn đến rối loạn nước và điện giải rất nhanh. Điều trị chủ yếu là điều chỉnh cân bằng nước và điện giải.
– Bệnh do phẩy khuẩn tả: Bệnh lây nhiễm theo đường tiêu hóa, do ăn phải thức ăn, nước uống… bị nhiễm mầm bệnh trong quá trình nuôi trồng, chế biến, bảo quản… hoặc do ruồi nhặng, chuột gián… làm lây lan mầm bệnh. Đặc biệt nguồn nước bị ô nhiễm là phương tiện lây truyền hết sức nguy hiểm. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, đặc biệt những vùng sau lũ lụt; thường xuất hiện ở các nước và những vùng có trình độ kinh tế xã hội thấp kém, không cung cấp đủ nước sạch, điều kiện vệ sinh môi trường không tốt.

Sau khi nhiễm phẩy khuẩn tả, bệnh biểu hiện đột ngột xuất hiện ỉa lỏng dữ dội, phân toàn nước, màu trắng đục như nước vo gạo có lẫn những hạt trắng lổn nhổn mùi tanh. Đi ngoài dễ dàng, số lượng nhiều, nhiều lần. Sau khi đi lỏng vài giờ sẽ xuất hiện nôn, nôn dễ dàng, số lượng nhiều, lúc đầu là nước và thức ăn, sau dịch giống như dịch phân; thường không sốt hoặc sốt nhẹ; bệnh nhân mệt lả, khát nước, có khi xuất hiện khó thở, các đầu chi lạnh rúm ró, mạch nhanh nhỏ, khó bắt, huyết áp tụt. Nếu không điều trị kịp thời bệnh nhân sẽ tử vong vì shock không hồi phục.

khi-nao-tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-2

Dự phòng rối loạn tiêu hóa thế nào?

Táo bón: Tập cho trẻ có thói quen đi đại tiện đúng giờ, những ngày đầu chưa quen, trẻ không đại tiện được cũng không sao, cứ kiên trì, đúng giờ cho trẻ ngồi vào bô như vậy (khoảng 10-15 phút), nói chung khoảng vài tuần sau là có thể tạo thành thói quen phản xạ đi ngoài.

Tăng cường rau xanh trong bữa ăn của trẻ kết hợp hoa quả như cam, bưởi, đặc biệt là chuối, cho trẻ ăn 1 – 2 quả chuối một ngày có thể đạt được hiệu quả của việc nhuận tràng, uống nước đun sôi để ấm. Ngoài ra có thể cho trẻ uống một chút nước mật ong vào sáng sớm, mỗi lần uống không ít hơn 60ml và pha bằng nước sôi.

Tiêu chảy: Để dự phòng tiêu chảy cấp cho trẻ, người lớn (gia đình và nhà trường) cần giáo dục cho học sinh có ý thức giữ gìn môi trường sạch sẽ; giữ gìn vệ sinh cá nhân như luôn rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh; không chơi đùa tại những nơi có rác bẩn; không ăn thức ăn đường phố, thức ăn không đảm bảo vệ sinh; ăn chín uống sôi… Với người lớn thì cần chế biến và bảo quản thức ăn, nước đảm bảo an toàn thực phẩm; phải đảm bảo có “đôi bàn tay sạch” khi chế biến thức ăn; quản lý tốt chất thải sinh hoạt ra môi trường. Không nên để trẻ gần gũi, ôm ấp vật nuôi, đặc biệt khi vật nuôi có dấu hiệu bị ốm. Cần cách ly trẻ mang bệnh với các trẻ khác để tránh bệnh lây lan…

Rối loạn tiêu hóa là chứng bệnh thường gặp và cũng có nhiều người chủ quan nên đã có những trường hợp đáng tiếc xảy ra. Do đó, người lớn nên quan tâm tới vấn đề tiêu hóa của trẻ để có biện pháp can thiệp kịp thời, tránh những biến chứng có hại cho sức khỏe của trẻ. Điều quan trọng là cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ khi trẻ gặp rối loạn tiêu hóa để được khám, chẩn đoán và có biện pháp điều trị thích hợp.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Hâm nóng thức ăn trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) cảnh báo, thời gian gần đây, khá nhiều ca bệnh trẻ bị rối loạn tiêu hóa đến viện khám, khai thác thông tin thì thủ phạm là do gia đình thường hâm thức ăn của trẻ bằng lò vi sóng.

tre-bi-roi-loan-tieu-hoa-vi-thuc-an-ham-nong-1

Độ tuổi dễ mắc …

Viêm mũi là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ từ khoảng 6 tháng tuổi đến 7 – 8 tuổi. Đây là tình trạng viêm niêm mạc của hốc mũi và vùng họng mũi, vì khả năng miễn dịch ở trẻ còn kém nên rất dễ bị bệnh. Khi trẻ hít thở không khí đi từ ngoài vào đến phổi, cung cấp ôxy cho cơ thể đồng thời những tác nhân gây bệnh cũng vào theo. Nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh tái phát nhiều lần sẽ dẫn đến biến chứng như viêm phổi, viêm tai, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp…

… và những biểu hiện

Trẻ thường bị sốt và xuất hiện đột ngột nếu bệnh nhẹ, thì chỉ 37,5oc nếu bị bội nhiễm sốt khá cao có thể  39 – 40oC, trong 2-3 ngày. Ngoài ra trẻ bứt rứt, quấy khóc, kém ăn, đôi khi có nôn mửa, tiêu chảy… Ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc mũi nhầy mủ và ho. Các biểu hiện nếu kéo dài trên 7 ngày phải đề phòng có những biến chứng của viêm mũi.

Xử trí khi bị viêm mũi

Khi trẻ bị viêm mũi,  hàng ngày cần nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch nước muối 0,9%, ngày 3 – 4 lần cho đến khi trẻ hết chảy nước mũi, dạy trẻ biết cách xì mũi đúng (bịt một bên, xì mũi bên kia). Cho  trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng thịt, cá, trứng, đậu, rau củ quả chín… giúp trẻ nhanh hồi phục.

Nếu trẻ sốt cao trên 38oC, cần hạ sốt bằng phương pháp lau mát và dùng thuốc hạ sốt theo chỉ định của thầy thuốc. Lau mát bằng khăn bông nhúng nước ấm (bằng thân nhiệt của trẻ) vắt kiệt, lau khắp người trẻ. Cho trẻ mặc quần áo mỏng, thoáng, nơi trẻ nằm phải thoáng nhưng tránh gió lùa. Cần phải theo dõi nhiệt độ cho trẻ thường xuyên. Ngoài ra cho trẻ uống nhiều nước vì sốt làm mất nước.

Đặc biệt chú ý khi trẻ đang bị viêm mũi bỗng nhiên thấy sốt cao phải đề phòng biến chứng cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị.

Phòng bệnh như thế nào?

Khi thời tiết thay đổi cần giữ ấm khi trời trở lạnh. Giữ gìn vệ sinh nhà cửa, nơi ngủ. Không dùng tay ngoáy mũi để tránh tổn thương niêm mạc mũi.  Hàng ngày dùng nước ấm hoặc nước muối sinh lý để vệ sinh, rửa mũi. Vệ sinh mũi giúp loại bỏ gỉ mũi, chất nhầy, giúp ngăn ngừa và góp phần tránh các bệnh viêm nhiễm hô hấp như: Viêm mũi, nghẹt mũi, hắt xì và viêm xoang. Khi thấy viêm mũi kéo dài trên 7 ngày hoặc có triệu chứng nặng hơn như đau tai, khàn tiếng, khó thở phải kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị.

Theo sk&đs

Trẻ dễ bị tiêu chảy khi thiếu chất kẽm

Nghe nói khi thiếu kém trẻ thường dễ mắc các bệnh hô hấp và tiêu chảy có đúng không? Để bổ sung vi chất này cần ăn uống như nào cho hợp lý?

thieu-chat-kem-tre-de-bi-tieu-chay

Ths. Bs. Phan Bích Nga, Phó giám đốc Trung tâm Khám và tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, cho biết, tổng lượng kẽm trong cơ thể chỉ chiếm khoảng 2,5g, nhưng kẽm đóng vai trò chuyển hoá trong cơ thể và có vai trò trong những chức năng biệt hoá như miễn dịch, chuyển hoá các chất, đảm bảo cho cơ thể một sự phát triển tốt, nhất là ở trẻ em.

Dấu hiệu thiếu kẽm hay gặp nhất ở trẻ em là gây ra tình trạng biếng ăn, chậm phát triển chiều cao, suy giảm khả năng miễn dịch. Trẻ thiếu kẽm thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, rối loạn tiêu hóa, dễ bị tiêu chảy.

Ngày nay, kẽm là vi chất được các nhà khoa học dinh dưỡng đánh giá rất cao. Thậm chí, trong phác đồ điều trị tiêu chảy của Tổ chức Y tế thế giới cũng đưa ra yêu cầu bổ sung kẽm cùng với các thuốc cần thiết điều trị tiêu chảy.

Nhu cầu về kẽm thay đổi theo độ tuổi, sự phát triển của của trẻ. Với trẻ dưới 1 tuổi cần 5mg/ngày. Trẻ từ 1 – 9 tuổi cần 10mg/ngày. Thanh thiếu niên cần 10 – 15mg/ngày.

Để bổ sung đầy đủ kẽm cho cơ thể cần bổ sung các thực phẩm giàu kẽm như: hàu, trai, sò, thịt nạc đỏ, ngũ cốc thô và các loại đậu, cho trẻ bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi và đảm bảo bổ sung hợp ký đa vi chất qua các bữa ăn hàng ngày.

Cũng theo Ths. Bs. Phan Bích Nga, thiếu kẽm thường đi đối với thiếu sắt. Kẽm cũng bị hạn chế hấp thu bởi thiếu những thành phần như sắt, phitac. Nguyên nhân thiếu kẽm thường thường do chế độ ăn thiếu đạm động vật, thiếu các thực phẩm giàu kẽm.

Trong trường hợp trẻ thiếu kẽm rõ rệt, ảnh hưởng đến cấp độ lớn của trẻ nhỏ, cha mẹ cần cho trẻ đến khám để được chẩn đoán, xác định và điều trị theo đúng phác đồ, bỏo sung kịp thời kẽm dưới dạng thuốc.

Kẽm là vi chất vô cùng thiết yếu giúp cho trẻ sinh trưởng và phát triển bình thường. Tuy nhiên, theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ thiếu kẽm ở trẻ rất cao, khoảng từ 30 – 40% và gần như phụ nữ tuổi sinh đẻ thiếu kẽm. Do đó ngay từ nhỏ trẻ cần được bổ sung kẽm đầy đủ, hợp lý để có những bước phát triển tối ưu.

Theo Vnmedia/Thuocbietduoc

 

Giảm tiêu chảy nhờ rửa tay

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây ra các bệnh tiêu chảy.

giam-tieu-chay-nho-viec-rua-tay-bang-xa-phong

Theo Cục Quản lý Môi trường y tế, Bộ Y tế đã tiến hành điều tra về mối quan hệ giữa rửa tay bằng xà phòng và sức khỏe.

Cuộc nghiên cứu đã tiến hành quan sát hành vi rửa tay của 390 trẻ em từ 6-15 tuổi, 390 người từ 16-60 tuổi và 390 bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi tại hộ gia đình; ngoài ra còn quan sát hiện trạng nguồn nước, khu vực rửa tay, xà phòng, công trình vệ sinh… của các hộ gia đình và nơi công động được điều tra.
Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ học sinh biết cần phải rửa tay xà phòng trước khi ăn, sau tiểu tiện và đại tiện ở cuối kỳ đã tăng 46,7% so với kỳ đầu. Bên cạnh đó, tỷ lệ tăng tương ứng ở nhóm trưởng thành là 39%; tỷ lệ học sinh thực hành rửa tay xà phòng trước khi ăn tăng 49%; còn ở nhóm trưởng thành tăng 48,7%; sau khi đi đại tiện của cả hai nhóm này cũng đã tăng lên 63,2% và 69,8%.
Rửa tay với xà phòng là một việc làm tưởng như rất đơn giản, ai cũng có thể làm được, nhưng trên thực tế số người thường xuyên thực hiện còn rất thấp. Theo WHO, việc rửa tay với xà phòng, hoạt động này sẽ hướng các em có những thay đổi về nhận thức và hành vi đối với việc thường xuyên rửa tay với xà phòng.

Để phòng chống các dịch bệnh đường tiêu hóa, nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính (tả, cúm A/H5N1, H1N1…), đặc biệt là bệnh tay chân miệng đang bùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng, các chuyên gia Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã đưa ra lời khuyên thiết thực là luôn giữ đôi bàn tay sạch sẽ.

Theo vnmedia/Thuocbietduoc