Tag Archives: bệnh thường gặp

Các bệnh thường gặp ở răng miệng

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên các bệnh về răng miệng như vệ sinh răng miệng chưa tốt, dùng thuốc, hút thuốc lá… làm cho người bệnh mất tự tin và những hệ lụy sức khỏe khác.

Sâu răng

Sâu răng là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất trên thế giới trong đó có nước ta. Sâu răng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng rất thường gặp ở trẻ em do vệ sinh răng không tốt, thường xuyên ăn vặt và uống đồ uống có đường…. Nếu không được điều trị sâu răng có thể gây ra đau răng nặng, nhiễm trùng, mất răng và các biến chứng khác.

Sâu răng gây đau răng, gây nhói khi ăn hoặc uống nóng lạnh, đau khi cắn xuống, có mủ quanh răng, nhìn thấy lỗ ở răng… Các biến chứng có thể bao gồm: áp xe răng, mất răng, bị hỏng răng. Vì vậy, nếu thấy các triệu chứng như sưng nướu, chảy máu, mủ quanh răng, hơi thở có mùi hôi… cần tới bác sĩ nha khoa để được khám và điều trị thích hợp.

benh-sau-rang-mieng-thuong-gap

Một số biện pháp sau có thể giúp phòng, chống sâu răng như:

Đánh răng sau khi ăn hoặc uống: Đánh răng ít nhất hai lần một ngày và sau mỗi bữa ăn, sử dụng kem đánh răng có chứa fluoride. Để làm sạch kẽ răng, xỉa hoặc sử dụng chỉ làm sạch kẽ răng. Nếu không thể chải sau khi ăn, ít nhất là cố gắng rửa miệng với nước.

Khám nha sĩ thường xuyên: Ngoài việc vệ sinh răng miệng đúng cách hàng ngày, cần đi kiểm tra răng miệng thường xuyên, để giúp ngăn ngừa các vấn đề về răng miệng hoặc phát hiện sớm các vấn đề về răng miệng để xử lý kịp thời.

Uống nước có bổ sung thêm fluoride giúp giảm đáng kể sâu răng, nhưng hiện nay nhiều người uống nước đóng chai không chứa fluoride.

Tránh ăn uống vặt thường xuyên: Bất cứ khi nào ăn hoặc uống cái gì khác ngoài nước, sẽ giúp miệng tạo ra các axít và phá hủy men răng. Nếu ăn hoặc uống trong suốt cả ngày, răng đang bị tấn công liên tục dễ bị sâu răng. Vì vậy không nên ăn vặt.

Nên ăn các loại thực phẩm cho sức khỏe răng: Một số thực phẩm và đồ uống có tác dụng tốt hơn cho răng như phô mai (một số nghiên cứu cho thấy phô mai có thể giúp ngăn ngừa sâu răng), cũng như trái cây và rau quả, làm tăng lưu lượng nước bọt…

Viêm nướu (lợi) răng

Viêm nướu là một hình thức rất phổ biến và nhẹ của bệnh nha chu, trong đó mảng bám là nguyên nhân gây kích ứng, mẩn đỏ và (viêm) sưng nướu răng. Viêm nướu có thể dẫn đến các bệnh về lợi nghiêm trọng và cuối cùng mất răng.

Nguyên nhân thường gặp nhất của viêm nướu là vệ sinh răng miệng kém dẫn đến hình thành mảng bám. Khi nướu răng khỏe mạnh là chắc và màu hồng nhạt. Nếu nướu răng sưng húp, nâu sẫm đỏ và dễ chảy máu, có thể có viêm nướu. Bệnh viêm lợi ít khi gây đau đớn, vì thế người bệnh bị viêm lợi nhiều khi không biết. Các dấu hiệu và triệu chứng sau cảnh báo viêm nướu bao gồm: sưng nướu răng, nướu răng sưng húp, mềm, lợi teo rút. Nướu răng chảy máu một cách dễ dàng khi dùng bàn chải hoặc dùng chỉ nha khoa, đôi khi được xem như đỏ hoặc hồng trên bàn chải hay chỉ nha khoa. Sự thay đổi màu của nướu răng từ một màu hồng khỏe mạnh đến nâu sẫm đỏ. Người bị viêm nướu răng thường có hơi thở hôi.

Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ viêm nướu bao gồm: thói quen sức khỏe răng miệng nghèo nàn, sử dụng thuốc lá, bệnh tiểu đường, người lớn tuổi, suy giảm miễn dịch, dùng thuốc, một số virus và nhiễm nấm, khô miệng, nội tiết thay đổi, chẳng hạn như những người liên quan đến mang thai, chu kỳ kinh nguyệt hoặc sử dụng thuốc tránh thai, dinh dưỡng kém.

Nếu không điều trị viêm nướu có thể tiến triển đến bệnh nướu răng, lây lan đến các mô cơ và xương (nha chu), một tình trạng nghiêm trọng hơn nhiều có thể dẫn đến mất răng. Nha chu và sức khỏe răng miệng kém nói chung cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể.

Điều trị thường có thể đảo ngược các triệu chứng của viêm nướu và ngăn chặn sự tiến triển của bệnh nướu đã nghiêm trọng và mất răng.

Hôi miệng

Có nhiều nguyên nhân gây ra hôi miệng như: do thức ăn (thức ăn dắt vào răng không được lấy ra), thực phẩm (một số thực phẩm có mùi như hành, tỏi…), các vấn đề về nha khoa như vệ sinh răng miệng kém và bệnh nha chu, do dùng thuốc, do bệnh lý (viêm mũi, họng), hút thuốc lá…

Việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây hôi miệng. Bác sĩ sẽ giúp bạn tìm ra nguyên nhân và có biện pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên, cần chú ý tới một số biện pháp có thể khắc phục chứng hôi miệng như vệ sinh răng miệng hàng ngày (đánh răng sau khi ăn ít nhất hai lần/ngày), hoặc dùng chỉ nha khoa đúng cách loại bỏ thức ăn và mảng bám giữa các răng ít nhất một lần một ngày và uống nhiều nước. Tránh những thực phẩm và đồ uống khác có thể gây hơi thở hôi và thường xuyên kiểm tra răng miệng (ít nhất hai lần một năm)…

Khô miệng

Là tình trạng thiếu nước bọt kéo theo nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn và sức khỏe của răng miệng. Vì tác dụng của nước bọt sẽ giúp ngăn ngừa sâu răng bằng cách hạn chế vi khuẩn phát triển và rửa đi thức ăn và mảng bám. Nước bọt giúp tăng cường khả năng hương vị và làm cho dễ dàng hơn để nuốt. Ngoài ra, enzym trong nước bọt vào trợ giúp tiêu hóa.

Khô miệng có nhiều nguyên nhân, bao gồm: dùng thuốc (một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh có thể có tác dụng phụ gây khô miệng như các thuốc điều trị trầm cảm và lo âu, thuốc kháng histamine, thuốc thông mũi, thuốc cao huyết áp, thuốc bệnh Parkinson…), do lão hóa, dùng thuốc trị ung thư (thuốc hóa trị có thể làm thay đổi bản chất và số lượng sản xuất nước bọt. Bức xạ trị liệu đầu và cổ có thể ảnh hưởng tới tuyến nước bọt gây ra sự sụt giảm đáng kể sản xuất nước bọt), hút thuốc lá (hút thuốc lá hoặc thuốc lá nhai có thể làm tăng các triệu chứng khô miệng). Khô miệng có thể là một hậu quả của một bệnh hoặc một phương pháp điều trị nào đó, bao gồm bệnh tự miễn dịch, tiểu đường, bệnh Parkinson, HIV/AIDS, rối loạn lo âu và trầm cảm. Đột quỵ và bệnh Alzheimer có thể gây ra nhận thức của miệng khô, mặc dù các tuyến nước bọt hoạt động bình thường. Ngáy và thở bằng miệng mở cũng là nguyên nhân gây khô miệng.

Để xác định khô miệng, bác sĩ kiểm tra miệng và xem xét bệnh sử. Đôi khi sẽ cần phải xét nghiệm máu và quét hình ảnh của tuyến nước bọt để xác định nguyên nhân.

Hệ lụy của khô miệng có thể gây các triệu chứng sau đây: khô trong miệng, có vết loét hoặc nứt da ở các góc miệng, nứt môi, hơi thở hôi, khó nói, nuốt, viêm họng, cảm giác thay đổi hương vị, nhiễm nấm trong miệng, tăng mảng bám, sâu răng và bệnh nướu răng.

Điều trị cũng phải tùy thuốc vào nguyên nhân gây khô miệng. Những lời khuyên sau có thể giúp cải thiện triệu chứng khô miệng và giữ cho răng khỏe mạnh: nhai kẹo cao su không đường hoặc kẹo cứng, hạn chế lượng caffeine (caffeine có thể làm khô miệng), tránh các loại thực phẩm ngọt hay chua và kẹo vì chúng làm tăng nguy cơ sâu răng, đánh răng với kem đánh răng có fluoride, không sử dụng nước súc miệng có chứa cồn, không hút thuốc lá, uống nước thường xuyên, hít thở bằng mũi (không thở bằng miệng)…

Nấm miệng

Thường là do nấm Candida gây nên. Nấm Candida tích tụ trên niêm mạc miệng, có màu trắng thường ở lưỡi hoặc má trong, gây tổn thương răng miệng. Các tổn thương có thể bị đau và có thể chảy máu một chút khi cạo ra. Đôi khi nấm có thể lây lan sang vòm miệng, nướu răng, amiđan hoặc sau cổ họng.

Bất cứ ai cũng có thể bị nấm miệng nhưng trẻ nhỏ (sơ sinh), những người đeo răng giả, sử dụng corticosteroid hít hoặc có tổn thương hệ thống miễn dịch (người nhiễm HIV/AIDS) thường hay mắc nấm miệng hơn.

Đối với người đang khỏe mạnh thì nấm miệng là một vấn đề nhỏ, nhưng ở những người có hệ thống miễn dịch suy yếu, các triệu chứng của bệnh nấm miệng có thể nặng hơn và khó kiểm soát.

Việc điều trị nấm miệng cũng phải tùy thuộc vào tuổi, nguyên nhân gây nhiễm nấm và sức khỏe tổng thể của người bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định thuốc và liều dùng phù hợp…

Ngoài việc dùng thuốc chống nấm, cần phải thực hiện vệ sinh răng miệng sạch sẽ hàng ngày. Tránh dùng nước súc miệng hoặc thuốc xịt làm thay đổi cân bằng vi khuẩn có lợi trong miệng. Không dùng chung bàn chải đánh răng.

Theo Xuân Thủy (Sức khỏe đời sống)

Bệnh hay gặp ở phụ nữ trung niên

Phụ nữ khi bước vào tuổi trung niên thường gặp những bệnh bỗng từ đâu đến khiến họ bối rối và khó khăn khi xử trí. Ðó là những cơn bốc hỏa đột ngột, chân tay nhức mỏi thường xuyên, đau đầu triền miên, hay bị hồi hộp, khó thở…

Loãng xương

Loãng xương là căn bệnh không gây chết người, nhưng là mối đe dọa đến chất lượng cuộc sống của hàng triệu phụ nữ trên thế giới. Tuổi mãn kinh, phụ nữ rất dễ bị loãng xương, đặc biệt những người nhỏ bé, người tiền căn gia đình bị loãng xương, mãn kinh sớm hay bị cắt buồng trứng. Khi bị loãng xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hông, xương đùi, cổ xương đùi, xương cẳng chân, bị đau lưng và còng lưng do cột sống bị sụp. Loãng xương còn làm mất khả năng vận động tự nhiên của cơ thể, từ đó gây khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày. Nguyên nhân gây loãng xương thường do chế độ ăn uống thiếu dưỡng chất, đặc biệt thiếu canxi và vitamin D. Ngoài ra, phụ nữ hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng thuốc có chứa chất steroid… cũng dễ bị loãng xương.

Phòng ngừa: Cần có chế độ ăn uống tăng canxi ngay từ tuổi vị thành niên, vận động và tập thể dục vừa sức, đồng thời tránh các yếu tố nguy cơ như hút thuốc, uống rượu, dùng thuốc corticoid. Nên bổ sung 1.000mg canxi và 200 – 4.000 IU (đơn vị quốc tế) vitamin D để giúp xương phát triển tốt, nhất là từ nguồn thực phẩm, thức ăn hàng ngày. Nên dùng sữa có hàm lượng chất béo thấp (3 cốc/ngày). Việc khám sức khỏe định kỳ là hết sức cần thiết với phụ nữ trung niên. Để sống khỏe mạnh ở tuổi mãn kinh, cần giữ cân nặng bình thường, ổn định huyết áp, giảm mỡ máu, vận động nhiều, ăn ít chất béo, tăng cường rau xanh, trái cây, chất xơ, tập thể dục đều đặn.

benh-hay-gap-o-phu-nu-trung-nien

Hội chứng tiền mãn kinh

Người phụ nữ trong thời kỳ phát triển, cơ thể liên tục tiết ra estrogen – nội tiết tố nữ – để tạo ra các đặc tính của phái nữ. Sang tuổi mãn kinh, buồng trứng trong cơ thể phụ nữ không phát triển, nội tiết tố không tiết ra nữa, bắt đầu thiếu hụt estrogen. Vùng khung chậu bị ảnh hưởng, rất dễ sinh ra các bệnh viêm âm đạo, ngứa âm hộ, rong kinh, âm đạo khô, giao hợp khó khăn…, có thể dẫn đến bệnh sa sinh dục, sa bàng quang, són tiểu. Thiếu estrogen cũng ảnh hưởng tới tâm thần kinh, tuyến nội tiết, hệ vận mạch, gây ra nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, bị bốc hỏa từng cơn, chóng mặt, hồi hộp không lý do, đau nhiều nơi trên cơ thể, dễ cáu gắt, sinh ra những lo âu, dễ buồn tủi… Phòng ngừa: Có thể uống estrogen thay thế nội tiết buồng trứng khi mãn kinh để điều hòa cơ thể, song phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Ung thư vú

Đây là nỗi ám ảnh của phụ nữ tuổi trung niên – căn bệnh âm thầm mà rất nguy hiểm. Có tới 18% phụ nữ tuổi 40 chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú, tăng 77% ở tuổi trên 50. Ung thư vú là căn bệnh gây tử vong khá cao cho phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ có chế độ ăn uống nhiều chất béo. Những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ trung niên: gia đình có mẹ hoặc chị em ruột bị ung thư vú, nguy cơ tăng gấp 3 – 5 lần; béo phì: nguy cơ gấp 3 lần; không cho con bú sữa mẹ hoặc không sinh con, hoặc có con đầu lòng quá muộn; dậy thì sớm và mãn kinh muộn.

Để phòng bệnh này, ngoài thực hiện lối sống lành mạnh; hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ, thực phẩm chứa nhiều đường, chất béo; không nên uống rượu, đồ uống kích thích, không hút thuốc lá; tăng cường luyện tập… chị em nên tự khám mỗi tháng xem có gì bất thường ở ngực, nhũ hoa… đồng thời cần được khám định kỳ ở các cơ sở y tế chuyên khoa mỗi năm một lần. Khi nhận thấy các triệu chứng như: sự thay đổi kích thước và hình dạng của vú, xuất hiện những khối u hay sưng tấy ở nách, chảy máu ở núm vú hay đau ngực… thì có thể là dấu hiệu ung thư vú, hãy nhanh chóng đến các cơ sở khám bệnh chuyên khoa để kiểm tra và điều trị khi khối u còn nhỏ.

Bệnh tim mạch

Ở độ tuổi sinh nở, hệ thống tim mạch của phụ nữ được bảo vệ bởi các hormon sinh dục nữ (estrogen), các hormon sinh dục này có tác dụng giảm hàm lượng cholesterol của cơ thể, bảo vệ thành mạch và tim. Khi đến tuổi tiền mãn kinh, lượng hormon sinh dục bị giảm đáng kể và bắt đầu giai đoạn bùng nổ các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, bệnh mạch vành…) ở phái nữ với diễn biến rất phức tạp. Tuy nhiên, qua nghiên cứu người ta thấy rằng, liệu pháp hormon thay thế không thể giúp được phụ nữ ở tuổi mãn kinh phòng ngừa được sự phát triển của xơ vữa động mạch.

Ngoài sự thay đổi nội tiết, nguyên nhân khiến phụ nữ ở độ tuổi này mắc bệnh tim mạch nhiều hơn so với các độ tuổi khác và nhiều hơn nam giới là do tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 cao hơn, hay bị các rối loạn tuyến giáp hơn, có nhiều vấn đề (áp lực) trong gia đình và công việc hơn so với nam. Hệ thống tim mạch ở phụ nữ cũng dễ bị tổn thương hơn khi có tác động của các tác nhân độc hại, ví dụ thuốc lá, rượu bia… Bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành ở phụ nữ diễn biến phức tạp hơn, hiệu quả chữa trị kém hơn (các phương pháp can thiệp mạch vành hiện đại như thông mạch vành bằng cách đặt stent, nong mạch và nối mạch thông đạt hiệu quả thấp ở phụ nữ), nên vấn đề phòng bệnh, phát hiện và chữa trị kịp thời các bệnh này là quan trọng hàng đầu.

Những biện pháp phòng ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ là giảm cân nếu bị thừa cân, luôn duy trì cân nặng ở mức hợp lý; không nên uống rượu bia, hút thuốc lá; tăng cường rèn luyện thể dục thể thao; chế độ ăn uống phải hợp lý; không ăn quá 5 – 6g muối/ngày; tăng cường ăn các thức ăn có chứa nhiều vitamin E, C, A, B6, B12, acid folic và axít béo không no Omega-3 để bảo vệ thành mạch máu trước nguy cơ hình thành các mảng xơ vữa; hạn chế ăn thịt mỡ, da động vật và các đồ ăn có chứa nhiều cholesterol như tim, gan động vật, bơ, kem, sôcôla; tăng số ngày ăn cá, đậu trong tuần, dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn…; luôn kiểm soát hàm lượng cholesterol, glucoza trong máu và các chỉ số huyết áp ở mức độ cho phép; giảm căng thẳng thần kinh…

ThS. Hà Hùng Thủy

Theo SKDS

Viêm kết mạc mùa xuân nhiễm do dị ứng

Viêm kết mạc mùa xuân là một bệnh do dị ứng ở mắt và hay tái phát. Bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân, khi lượng phấn hoa di chuyển nhiều hơn trong không khí bay vào mắt người có cơ địa dị ứng sẽ gây ra những triệu chứng trên nên được gọi là viêm kết mạc mùa xuân.

Đối tượng dễ mắc bệnh
Bệnh thường gặp ở người bệnh có cơ địa dị ứng phấn hoa, các loại bụi, lông thú vật, côn trùng, hoặc gió, ánh nắng và mỗi khi thay đổi thời tiết. Tuỳ thuộc vào từng cơ địa mà mỗi người chịu sự tác động của các dị ứng nguyên khác nhau. Vào mùa xuân, lượng phấn hoa khuếch tán nhiều trong không khí là yếu tố thuận lợi làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, nhất là những người sống ở vùng rừng núi, nơi có khí hậu ẩm ướt, thảm thực vật phong phú, người trồng hoa, nuôi ong mật,…

Viêm kết mạc mùa xuân có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường thấy ở trẻ em và người trẻ và thường tái phát theo mùa.

viem-ket-mac-mua-xuan

Cần đi khám và điều trị sớm

Những triệu chứng của bệnh viêm kết mạc mùa xuân khiến người bệnh hết sức mệt mỏi, khó chịu. Hơn nữa đây là một bệnh hay tái phát nên cần cẩn thận, nếu không điều trị đúng sẽ dẫn đến biến chứng tổn thương giác mạc, gây suy giảm thị lực. Ðã có rất nhiều người bệnh thường xuyên bị dị ứng, khi bị ngứa mắt tự mua thuốc nhỏ mắt có chứa Cortisone nhỏ, thấy hết ngứa nên từ đó thường xuyên dùng kéo dài sẽ dẫn nhiều biến chứng nguy hiểm.

Viêm kết mạc mùa xuân 2
Hình ảnh mắt bị viêm kết mạc mùa xuân.
Việc điều trị phải được tiến hành từng bước và tùy từng mức độ bệnh. Thông thường, bệnh nhân viêm kết mạc dị ứng sẽ được chỉ định dùng thuốc chống dị ứng, thuốc chống viêm và thuốc dinh dưỡng bề mặt nhãn cầu. Người bệnh tuyệt đối phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp, đục thể thủy tinh,… và tái khám theo đúng hẹn của bác sĩ.

Điều quan trọng là khi có triệu chứng của bệnh như đỏ cả hai mắt, ngứa, cảm giác rát mắt, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, có ghèn gỉ, lúc nào cũng muốn lấy tay dụi mắt nhưng càng dụi càng ngứa. Khi lộn mi thấy ở mi mắt có những nốt (nhú gai) màu đỏ nằm sát nhau,… thì cần đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt để khám và điều trị sớm.

Để phòng bệnh, những người có cơ địa dị ứng với phấn hoa không nên trồng hoa, cắm hoa trong nhà hay ngửi hoa; Đối với người làm nghề trồng hoa, nuôi ong,… khi làm việc hoặc khi đi ra ngoài nên đeo kính để chống bụi, tránh phấn hoa bay vào mắt; rửa sạch mặt và vệ sinh mắt bằng cách nhỏ nước muối muối sinh lý 0,9% sau mỗi lần đi ngoài đường về.

Bác sĩ Trọng Nghĩa

Theo SKDS

Trượt đốt sống: Bệnh không nên xem thường

Trượt đốt sống là bệnh thường gặp, xảy ra chủ yếu ở vùng cột sống thắt lưng. Bệnh có thể do bẩm sinh, thoái hoá, chấn thương, bệnh lý gây ra, trong đó hay gặp nhất là trượt đốt sống do hở eo và do thoái hóa.

Vì sao bị trượt đốt sống?

Một người có thể bị trượt đốt sống do một trong các nguyên nhân sau đây: bẩm sinh, bị rối loạn phát triển, với đặc điểm là các khiếm khuyết về giải phẫu của mấu khớp như: thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng ra sau, thường có dị tật gai đôi cột sống; thiểu sản mấu khớp, định hướng của khe khớp nằm trên mặt phẳng hướng vào trong. Do khe hở eo, khuyết eo do gãy, do hiện tượng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo; chấn thương làm gãy eo gây trượt. Do thoái hoá chủ yếu ở vị trí L4-5, thường gặp ở phụ nữ tuổi từ 40-50; thoái hoá cột sống, nhất là thoái hoá đĩa đệm và các mấu khớp, làm mất tính vững chắc của cột sống gây nên. Do bệnh lý như: nhiễm khuẩn, ung thư làm hoại tử hay phá hủy các cấu trúc của cột sống; bệnh vôi hóa đốt sống. Do chấn thương làm gãy cuống, gãy mấu khớp dẫn tới mất vững cột sống. Do phẫu thuật cắt cung sau kèm theo cắt bỏ các mấu khớp.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_01

Các mức độ tổn thương trượt đốt sống do thoái hóa.

Phát hiện bệnh có khó không?

Bạn có thể phát hiện được bệnh trượt đốt sống căn cứ vào các dấu hiệu sau: bệnh nhân có biểu hiện mất vững cột sống và chèn ép các rễ thần kinh. Người bệnh đau cột sống thắt lưng âm ỉ liên tục, đau tăng khi cột sống phải chịu lực như khi đứng, đi bộ, lao động…nhưng nằm nghỉ thì hết đau hoặc đau giảm hẳn. Khi bệnh nhân thay đổi tư thế cũng gây đau cột sống, phải chống tay vào đùi khi đứng lên. Nếu bệnh nặng thường có thay đổi tư thế thân người và dáng đi. Ở vùng cột sống thắt lưng có thể có biến dạng lõm, gọi là dấu hiệu bậc thang, dấu hiệu nhát rìu… Có bệnh nhân bị đau cách hồi, đây là triệu chứng đau đặc trưng của bệnh: đau khi đi bộ, vì đau phải dừng lại, hết đau mới đi tiếp, đang đi vì đau lại phải nghỉ, hết đau lại đi. Đối với bệnh nhân bị chèn ép rễ thần kinh, họ thường đau cả khi nằm nghỉ. Bệnh nhân bị hẹp lỗ ghép thần kinh được cho là nguyên nhân chèn ép rễ hay gặp nhất. Lỗ ghép hẹp là do các yếu tố như sự lồi vào của bờ sau thân đốt và đĩa đệm, tình trạng khớp giả và tổ chức xơ từ khe hở eo, một phần do cột sống thường xoay nhẹ làm cho lỗ ghép hẹp hơn ở một bên. Số ít bệnh nhân vì tổ chức xơ quá phát từ khe eo rất nhiều trở thành nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh. Các nguyên nhân chèn ép rễ khác ít gặp hơn như thoát vị đĩa đệm tại mức trượt hay là ở vị trí lân cận các đốt sống trượt. Đối với bệnh nhân trượt đốt sống do thoái hoá, tình trạng chèn ép rễ thần kinh do hẹp lỗ ghép khá phổ biến.

Chụp Xquang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ xác định được mức độ trượt, mức độ thoái hoá của cột sống và nguyên nhân gây chèn ép thần kinh. Chụp cộng hưởng từ còn đánh giá được tình trạng hẹp lỗ ghép.

truot_dot_song_benh_khong_nen_xem_thuong_02

Sử dụng thực phẩm chứa nhiều canxi để hạn chế thoái hóa cột sống

Về điều trị

Hầu hết bệnh nhân bị trượt đốt sống được điều trị nội khoa. Những bệnh nhân ở tuổi thiếu niên, chỉ cần nằm nghỉ, mặc áo cố định ngoài và hạn chế các hoạt động gây đau là có thể cải thiện được các triệu chứng của bệnh. Đối với bệnh nhân là người trưởng thành, trong những đợt đau cấp phải được nằm nghỉ, tránh mọi hoạt động hay lao động; dùng các thuốc chống viêm, giảm đau như paracetamol, aspirin, diclofenac, ibusprophen… sử dụng vật lý trị liệu, các phương pháp phục hồi chức năng, hướng dẫn bệnh nhân tập các bài thể dục tăng cường các cơ lưng, cơ bụng và cơ đùi; thực hiện ăn uống và các tập luyện nhằm giảm cân đối với người béo.

Điều trị bằng phẫu thuật trong các trường hợp: trượt đốt sống có tổn thương rễ thần kinh; có đau cột sống thắt lưng điều trị nội khoa nhưng không đỡ; trượt đốt sống tiến triển ngày càng nặng. Phẫu thuật ghép xương làm liền xương vững chắc giữa các đốt sống, loại bỏ chuyển động bất thường giữa các đốt sống kém vững.

Theo dõi và điều trị sau mổ: sau mổ, bệnh nhân cần được bất động tại giường từ 5-7 ngày. Nếu bệnh nhân hết đau có thể cho ngồi dậy sớm hơn. Chú ý phát hiện biến chứng sớm: nhiễm khuẩn, tổn thương rễ… Cần chụp Xquang trước khi bệnh nhân ra viện để đánh giá vị trí của vít; đánh giá di lệch trượt sau mổ…

Phòng bệnh cần tránh các cử động nặng vùng thắt lưng để tránh tình trạng gãy xương và liền xương xảy ra liên tục ở vùng eo. Phòng tránh các chấn thương làm gãy eo gây trượt đốt sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn trong luyện tập thể thao. Dùng thức ăn chứa nhiều canxi để phòng tránh bệnh loãng xương, hạn chế sự thoái hoá cột sống, nhất là ở phụ nữ từ 40-50 tuổi. Điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn để phòng biến chứng trượt đốt sống. Đối với bệnh nhân đã mổ điều trị trượt đốt sống, sau khi ra viện, cần kiểm tra định kỳ theo hẹn để đánh giá kết quả mổ, sự phục hồi chức năng cột sống, phát hiện sớm di lệch trượt…

ThS. Trần Ngọc Hương
Theo SKĐS

Phòng ngừa bệnh đau lưng như thế nào?

Đau lưng là bệnh thường gặp ở những người trung niên và người lớn tuổi. Nguyên nhân dẫn đến bệnh đau lưng là do sự suy yếu của xương sống lưng và tổn thương cơ bắp mạn tính… Thông thường, những nguyên nhân này thường tác động qua lại lẫn nhau. Ngoại trừ những trường hợp đau lưng có nguyên nhân bệnh lý rõ ràng còn có những trường hợp đau lưng không rõ nguyên nhân. Đau lưng không rõ nguyên nhân thường có liên quan đến tư thế làm việc, sinh hoạt, trong đó thường gặp nhất là những người lao động phải làm việc ở tư thế khom lưng.

Ngoài ra, tư thế sinh hoạt không đúng như ngồi cúi người về phía trước, tư thế ngủ không ngay ngắn, hoặc những người gắng sức khiêng vác các đồ vật nặng… đều có thể gây đau lưng mạn tính.

Để phòng ngừa đau lưng, hàng ngày, mọi người cần kiểm soát tư thế làm việc, sinh hoạt và tư thế nằm ngủ sao cho khoa học, hợp lý. Thường xuyên thay đổi tư thế làm việc, làm những động tác vươn vai giữa giờ có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa đau lưng do tư thế gây nên.

phong_ngua_benh_dau_lung_nhu_the_nao

Khi ngủ, giường phải rộng rãi để có thể trở người một cách thoải mái. Những người luôn ngủ trong một tư thế, không trở mình khiến một phần cơ thể máu huyết lưu thông kém, cơ bắp bị chèn ép, có nguy cơ dẫn đến đau lưng. Tư thế ngủ tốt nhất là nằm nghiêng hoặc nằm ngửa, tuy nhiên, cần phải thay đổi tư thế thường xuyên.

Trong sinh hoạt và lao động hàng ngày, một số người thường có thói quen rụt cổ, khom lưng hoặc co hông… Những tư thế này tuy có lợi cho những công việc cụ thể nhưng do tư thế đơn điệu, một số cơ bắp nằm trong tình trạng co rút lâu, dễ dẫn đến mệt mỏi, thậm chí bị tổn thương.

Mỗi người ngay từ khi còn trẻ nên chú ý uốn nắn, sửa chữa tư thế làm việc sinh hoạt cho đúng. Đối với những người không thể thay đổi tư thế do tính chất công việc, giữa giờ làm việc nên nghỉ ngơi, thư giãn, làm một số động tác ngược với tư thế làm việc.

Chẳng hạn, với người làm việc thường xuyên khom lưng thì nên duỗi thẳng lưng, đối với người làm việc xoay hướng bên phải thì trong lúc nghỉ nên làm động tác xoay hướng về bên trái.

Khi thay đổi tư thế nên thực hiện từ từ, không được thay đổi đột ngột. Khi bị trẹo lưng cần phải làm động tác xoay lưng nhẹ nhàng trong phạm vi có thể. Nếu cần thiết có thể đến bác sĩ để khám và điều trị, không nên xoa nắn lưng một cách tùy tiện.

Uống thuốc không phải là phương pháp tốt nhất trong việc phòng ngừa đau lưng. Một phương pháp khác có thể phòng ngừa đau lưng là tập luyện đi lùi.

Tuy nhiên, khi tập luyện phải chọn nơi địa hình bằng phẳng, rộng rãi, tốt nhất là có hai người cùng tập luyện và cần phải kiên trì tập trong một thời gian dài. Thời gian và cường độ luyện tập phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe của bản thân, nên tiến hành tuần tự từ thấp lên cao, từ ít đến nhiều.

BS. Trần Quốc Ninh
Theo SKĐS

Giải quyết các vấn đề tiêu hóa của trẻ nhỏ

Bất dung nạp đường tiêu hóa ở trẻ hiện là một vấn đề phổ biến. Một nghiên cứu được thực hiện trong năm 2012 cho thấy trẻ em dưới 3 tuổi thường gặp các vấn đề về dung nạp khi sử dụng sữa công thức. Có đến 56% hiện tượng trào ngược ở trẻ sơ sinh, 47% táo bón, 44% đau quặn bụng, 65% tiêu chảy và 34% nôn trớ…

Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó khăn trong việc chẩn đoán vấn đề này đối với cả bác sĩ nhi khoa và các bậc phụ huynh.

Giờ đây, đã có thêm công cụ sàng lọc độc đáo để chẩn đoán và xử trí hiệu quả các triệu chứng không mong muốn này.
giai-quyet-cac-van-de-tie
Bất dung nạp đường tiêu hóa ở trẻ nhỏ – không nên xem thường

Chia sẻ về vấn đề dinh dưỡng của trẻ, GS.TS.BS. Nguyễn Gia Khánh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhi Khoa Việt Nam, Chủ tịch Hội Tiêu hóa Nhi khoa, cho biết: “Mỗi trẻ có nhu cầu ăn uống khác nhau, và những gì có thể phù hợp đối với khẩu phần ăn của trẻ này có thể không phù hợp với trẻ khác”.

Những tháng đầu sau khi sinh, hệ tiêu hóa của trẻ dần thích nghi với các chất dinh dưỡng khác nhau để tăng cường chức năng hấp thụ và miễn dịch. Giai đoạn này, trẻ có thể bị nhiều rối loạn về tiêu hóa, nhưng đa số các trường hợp đều không được chỉ định nhập viện theo dõi. Một số nguyên nhân gây ra hiện tượng này còn phải kể đến là kỹ thuật cho ăn, khẩu phần ăn, protein, lactose hay prebiotic trong bữa ăn của trẻ. Trong một số trường hợp, các bác sĩ nhi khoa và các nhân viên y tế cũng gặp nhiều khó khăn trong việc chẩn đoán và lên phác đồ điều trị đối với một vài tình trạng tiêu hóa ở trẻ.

Khi xảy ra tình trạng không dung nạp ở trẻ, các bà mẹ thường có khuynh hướng tìm kiếm một giải pháp dinh dưỡng khác cho con mình. Đã có khoảng 25% trẻ sơ sinh được thay đổi sữa công thức trong 4 tháng đầu đời và 47% trẻ sơ sinh được thay đổi sữa công thức trong 6 tháng đầu đời, và có đến 67% trẻ nhỏ được chuyển sang sữa công thức có nguồn gốc sữa bò. Tuy nhiên việc chuyển đổi nếu không phù hợp có thể làm trầm trọng hơn các vấn đề dung nạp ở trẻ, dẫn đến tình trạng kém tăng trưởng, thậm chí suy dinh dưỡng.

Công cụ mới trong chẩn đoán và xử lý vấn đề tiêu hóa ở trẻ

Để giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ hơn về các vấn đề dung nạp ở trẻ và cân nhắc thận trọng trước khi chuyển đổi sữa công thức cho trẻ, Hội Nhi Khoa Việt Nam (VPA) đã phối hợp với Abbott giới thiệu chương trình “Hướng dẫn thực hành giải quyết các triệu chứng tiêu hóa thường gặp ở trẻ nhỏ” với công cụ sàng lọc mới (GPS). Bộ công cụ này bao gồm 5 lưu đồ nhằm giúp các bác sĩ nhi khoa và đa khoa dễ dàng chẩn đoán và xử lý tốt hơn các triệu chứng phổ biến về tiêu hóa ở trẻ em. Các lưu đồ này do các chuyên gia quốc tế về tiêu hóa nhi và dị ứng nhi từ châu Âu, châu Á, Mỹ Latin và Hoa Kỳ cùng nhau nghiên cứu và phát triển.

Chia sẻ về lợi ích của GPS, GS.TS.BS. Nguyễn Gia Khánh cho biết: “Các lưu đồ này sẽ cung cấp cho các nhân viên y tế một tiêu chuẩn về chăm sóc để có thể chẩn đoán và xử lý các triệu chứng bất dung nạp phổ biến”.

Theo đó, GPS với 5 lưu đồ riêng biệt hỗ trợ bác sĩ nhi khoa chẩn đoán tại chỗ để đánh giá và xử lý 5 triệu chứng tiêu hóa thường gặp nhất ở trẻ gồm: quấy khóc/đầy hơi, táo bón, trào ngược, đau quặn bụng và dị ứng đạm sữa bò. Nhờ đó,các bác sĩ có thể tư vấn phát đồ dinh dưỡng hợp lý và khuyến nghị công thức sữa phù hợp.

Nguồn sức khỏe đời sống

Thông tin về bệnh chàm đầu chi

Chàm đầu chi là loại bệnh ngoài da phổ biến và là bệnh thường gặp ở những vùng khí hậu nhiệt đới.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh rất đa dạng nhưng thường có đặc điểm chung như: ngứa ngáy, khó chịu; mụn nước thành từng mảng, giới hạn không rõ, tiến triển thành từng đợt, dai dẳng và hay tái phát.

benh_cham_dau_chi

Bệnh thường tiến triển theo từng giai đoạn. Lúc đầu, mụn nước mọc rải rác hoặc tập trung ở rìa các ngón chân, tay hoặc kẽ chân với kích thước nhỏ như đầu đinh ghim, đôi khi to rõ như bọng nước, gây ngứa ngáy trên da. Mỗi đợt có thể kéo dài từ một vài ngày đến một vài tuần. Mụn nước có thể vỡ đi do bệnh nhân gãi hoặc vỡ tự nhiên. Đến giai đoạn này, mảng chàm lỗ chỗ nhiều vết trợt hình tròn còn gọi là giếng chàm (giai đoạn này dễ bị bội nhiễm). Huyết thanh chảy ra ngoài, nếu lấy bông hay giấy đắp lên thì huyết thanh sẽ tạo thành một mảng dày. Dần dần, sự xuất tiết giảm, vảy tiết khô đọng rồi bong ra để lộ lớp da nhẵn bóng mỏng. Lớp da vừa tái tạo, tự rạn nứt, bong thành mảng dày hoặc vụn như cám, hoặc da dày lên, tăng sắc tố, có kẻ ô gọi là liken hóa.

Sau một thời gian khá lâu nếu không có mụn nước tái phát da sẽ trở lại bình thường không có sẹo, bởi vì tổn thương chỉ nằm ở lớp thượng bì.

Khi mắc bệnh này, người bệnh cần đến gặp bác sĩ chuyên khoa để được chỉ định dùng thuốc bôi, uống. Không nên tự mua thuốc về bôi vì có thể làm bệnh nặng thêm. Bên cạnh đó, người bệnh nên tránh các loại chất tẩy rửa như xà phòng, nước rửa bát… Người bệnh cũng tránh những loại giày dép có màu và cứng gây chà sát lên vùng da bị chàm. Không được tự ý bóc da hay kỳ cọ vì sẽ dễ gây bội nhiễm. Bạn nên kiên trì điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Theo suckhoevadoisong