Tag Archives: bệnh thần kinh

Cần phải chữa tận gốc bệnh thần kinh ngoại biên

Mỗi khi chân tay có triệu chứng tê mỏi, khó chịu nhất là vào ban đêm mùa lạnh, thời tiết thay đổi đó là căn bệnh viêm thần kinh ngoại biên. Cách tốt nhất là người bệnh nên đến bệnh viện (BV) để khám kịp thời nhằm tìm ra phương thuốc điều trị hữu hiệu nhất.

Bệnh phải chữa tận gốc

Trước đây, anh Nguyễn Văn Hưng (phường Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM) là một người rất ít khi bệnh vặt. Thế nhưng, vừa bước qua tuổi 50 anh bắt đầu mệt mỏi với chứng bệnh tê tay tê chân của mình.

Mỗi lần gặp bạn bè anh than: “Lúc đầu hai chân tôi có biểu hiện đau râm ran tuy không thật sự nhức mỏi. Nhưng càng lâu ngày đôi chân của tôi cứ tê buốt nhất là vào thời gian nửa đêm về sáng”. Công việc bận rộn không có thời gian đi BV nên anh thường điều trị bệnh tại nhà. “Mỗi khi đi mưa về hai chân tôi lạnh ngắt, phải lấy dầu gió xoa thật nóng mới mất cảm giác tê buốt”. Do trị bệnh đằng ngọn chứ chưa chữa tận gốc nên đôi chân của anh Hưng vẫn chưa có chiều hướng chuyển biến tốt hơn.

can-phai-chua-tan-goc-benh-than-kinh-ngoai-bien

Sau khi anh Hưng đi khám bệnh, BS. Trần Lâm Cường (Phòng khám BV Nhân dân Gia Định, TP.HCM) kết luận: “Đây là triệu chứng của bệnh viêm thần kinh ngoại biên – G61”. Theo BS. Cường, hệ thần kinh ngoại biên bao gồm tất cả các dây thần kinh không nằm trong não và tủy sống. Hệ thần kinh ngoại biên bị suy yếu sẽ gây rối loạn quá trình trao đổi thông tin giữa não, da, cơ, mạch máu và cả nội tạng gây ra biến chứng đau râm ran và tê mỏi. Những triệu chứng này thường gây khó chịu đối với người mắc bệnh”. Không chỉ đau tê mỏi mà nhiều khi người bệnh có cảm giác như có kiến bò, mất cảm giác trong người. Nếu suy viêm ở mức độ nhẹ thì bệnh nhân không có cảm giác gì, nhưng khi đã bị nặng kéo dài thời gian không chữa trị thì có triệu chứng mỏi cơ dai dẳng thường gây ảnh hưởng nhiều đến giấc ngủ trong một thời gian dài.

Nguyên nhân thường gặp nhất ở những người mắc bệnh tiểu đường, có chỉ số đường huyết cao trên mức cho phép. Đó là chưa nói đến một số bệnh lý khác như người nhiễm HIV, thiếu vitamin, bệnh gan thận và cả suy giáp. Riêng trường hợp của anh Hưng sau lần khám thứ hai, BS. Nguyễn Đỗ Thứ (BV Nhân dân Gia Định) chẩn đoán là do tổn thương một dây thần kinh trong cơ thể và do bị chèn ép nên thần kinh ngoại biên bị viêm. Để xác định chính xác bệnh, các BS thường chỉ định bệnh nhân xét nghiệm máu để đánh giá nồng độ vitamin B12, phân tích nước tiểu, đặc biệt là xét nghiệm chức năng tuyến giáp và điện cơ. Nếu điều trị đúng thì BS sẽ tìm ra được căn nguyên gây ra bệnh và sửa chữa tổn thương dây thần kinh kịp thời. Có như vậy mới giảm nhẹ được triệu chứng cho bệnh nhân.

Kiên trì châm cứu

Do biến chứng tiểu đường và tuổi cao sức yếu nên bà Trần Thị Ngà (63 tuổi ngụ ở Nhơn Trạch, Đồng Nai) bị nhức mỏi tay chân – một triệu chứng thường gặp của viêm dây thần kinh ngoại biên. Ngoài uống hai loại thuốc điều trị bệnh đường huyết, bà Hà còn được BS BV Đồng Nai chỉ định châm cứu điện trong 2 tuần. Sau khi đường huyết ổn định và dây thần kinh ngoại biên không bị chèn ép thì chứng nhức mỏi tê buốt hai chân của bà cũng giảm dần phải sau nửa năm điều trị căn bệnh viêm dây thần kinh ngoại biên của bà mới dứt hẳn.

Theo khuyến cáo của các BS, cách phòng bệnh tốt nhất là ăn uống lành mạnh, giảm thức ăn nhiều đường như bánh kẹo, tăng cường các loại rau xanh hoa trái, các thực phẩm giàu vitamin B12… Nhưng điều quan trọng nhất là phải điều trị kịp thời những chứng bệnh khác làm suy yếu dây thần kinh ngoại biên như đã nói ở trên. Bệnh này nếu kiên trì chữa trị bằng vật lý trị liệu, châm cứu cũng sẽ có chiều hướng tốt.

Nguồn phòng khám

Rối loạn tâm thần ở tuổi thành niên

Trong một xã hội đang hiện đại hoá với nhịp sống tăng nhanh đã gây ra những áp lực quá lớn khiến cho trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần ngày càng nhiều…

Tại Viện Sức khỏe tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội mới đầu giờ sáng đã có khá nhiều người đến khám, trong số đó, thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ không nhỏ. Tại phòng khám trắc nghiệm, S (ở Thái Nguyên) tỏ ra khá quen thuộc với những bài test của bác sĩ.

S cho biết, em bị bệnh về tâm thần từ năm lớp 7 nhưng mãi đến lớp 9 mới phát hiện ra bệnh, lúc đó bệnh đã khá nặng nên phải nghỉ học.

S kể: “Có những lúc em đang tỉnh táo bỗng tự nhiên bị ngây người ra, “ngu đi” cứ như máu không lên não. Khi mới bị bệnh, em thường cảm thấy ghét mọi người trong gia đình, không muốn nói chuyện với bạn bè, người thân, giống như bị trầm cảm”.

Gia đình S đã đưa em đi chữa bệnh ở Thái Nguyên nhưng mãi không khỏi mà bệnh ngày càng nặng, đành đưa về Hà Nội để khám tại Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Đến nay đã được 6 năm, bệnh đang dần thuyên giảm nhưng em vẫn phải thường xuyên đến đây để kiểm tra sức khỏe định kỳ.

roi-loan-tam-than-o-tuoi-thanh-nien

Người có dấu hiệu rối loạn tâm thần cần được đưa đi điều trị sớm

Ngồi cách S không xa là em H với dáng người gầy gò, mệt mỏi đang cùng mẹ đợi khám bệnh. Chị M, mẹ của H chia sẻ: Năm nay H học lớp 10, nhưng không hiểu sao từ sau Tết đến nay em thường xuyên có những biểu hiện như mất trí, lúc nhớ lúc quên, học hành sa sút nghiêm trọng. H thường xuyên kêu mệt mỏi không muốn đi học, nên chị phải đưa con đến khám.

PGS.TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội cho biết: Trong guồng sống chóng mặt hiện nay, con người phải đối mặt với quá nhiều áp lực từ cuộc sống, nên ngày càng có nhiều người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày Viện khám, chữa bệnh và tư vấn cho khoảng 200 bệnh nhân, trong đó độ tuổi thanh niên chiếm không nhỏ. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh như: do môi trường từ gia đình hoặc xã hội, do thay đổi về thể chất, do ô nhiễm môi trường bởi tiếng ồn… đặc biệt đối với những người lao động trí óc.

Theo nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả: PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (chủ biên); Ths Nguyễn Cao Minh, Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học, có từ 12 – 13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6 – 16), tức là có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc có những biểu hiện về sức khỏe tâm thần một cách rõ rệt.

TS Ngô Thanh Hồi, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cho biết, dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với trường Đại học Melbourne (Australia).

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, học sinh tự sát trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể…

Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh tại Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy, trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh trong độ tuổi 10 – 16, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %.

Tâm lý học sinh hiện nay phát triển phức tạp, các em dễ bị dao động, lung lay trước các giá trị sống, biến động từ gia đình đến xã hội, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý.

Nguồn đời sống pháp luật

Rối loạn tâm lý sau chấn thương

Các nhà khoa học đã tìm thấy tế bào thần kinh ngăn chặn việc hình thành các kí ức sợ hãi trong bộ não của chuột mang tên “Hippocampus”.

Các tế bào thần kinh ức chế này cho phép tạo ra một bộ nhớ về bối cảnh và địa điểm mà không bị ảnh hưởng bởi chính sự kiện khó chịu diễn ra cùng lúc với bối cảnh đó.

Trong một bản báo cáo đăng trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu cho biết, công trình này giúp họ hiểu rõ hơn về cơ sở thần kinh của các bệnh rối loạn tâm lý sau chấn thương ở người.

Attila Lonsoczy, giảng viên đại học Colombia, New York cùng các đồng nghiệp đã chú trọng vào nghiên cứu cách Hipocampus lưu giữ những bối cảnh cụ thể cũng như việc tách chúng ra từ những sự kiện gây sợ hãi.

roi-loan-tam-ly-sau-chan-thuong

Khi nhìn vào những tế bào thần kinh riêng lẻ trong não chuột, người ta nhận thấy các tế bào ức chế thần kinh gọi là “Interneuron” đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các ký ức của nỗi sợ hãi trước khi chúng di chuyển đến các vùng khác trong não.

Trả lời kênh Khoa học của BBC, Tiến sĩ Lonsoczy cho biết: “các tế bào Interneuron được kích hoạt bởi những sự kiện gây sợ hãi, chúng hoạt động như những bộ lọc nhằm ngăn chặn sự xâm nhập các thông tin không mong muốn liên quan đến sự kiện đó”. Bằng cách này, vùng tế bào Hipocampus có khả năng xử lí và lưu trữ những thông tin bối cảnh một cách độc lập mà không có sự can thiệp của những sự kiện gây ảnh hưởng xấu.

Những con chuột thí nghiệm được tạo điều kiện để bộc lộ nỗi sợ hãi, sau đó, chúng được đặt vào các bối cảnh cụ thể để theo dõi. Khi các nhà khoa học vô hiệu hóa các tế bào thần kinh ức chế, những con chuột này đã không còn biểu hiện sự sợ hãi nữa. Kết quả này chứng tỏ rằng nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc ngăn chặn sự hình thành các kí ức sợ hãi ở chuột.

Qua đó, nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của các tế bào Interneuron trong việc mã hóa bộ nhớ lưu trữ nỗi sợ trước khi nó được thông qua và di chuyển đến những vùng khác.

“Ngữ cảnh của sự kiện được phát ra từ những vùng Hippocampus, chuyển đến các vùng khác của não nơi mà các bối cảnh thực sự kết hợp với các sự kiện diễn ra nỗi sợ”.

Hiểu được cách các tế bào thần kinh tiếp nhận các bối cảnh cũng như sự kiện gây sợ hãi có thể giúp các nhà khoa học giúp đỡ bệnh nhân điều trị những tổn thương tâm lý sau chấn thương.

Tiến sĩ Xu Liu, đại diện Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ nhận định rằng: “Nghiên cứu này đã giải quyết được câu đố về cách Hippocampus mã hóa thành công các bối cảnh mà bỏ qua mọi sự tác động tiêu cực đang diễn ra tại thời điểm đó. Đây sẽ là một nghiên cứu mang ý nghĩa y học trong nhiều năm tới”.

Tìm hiểu bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần và về lâu dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân (BN).Bệnh thường bắt đầu ở tuổi trẻ và thường kéo dài suốt cả cuộc đời.

Bệnh thường khởi phát nhanh với các triệu chứng cấp tính xuất hiện trong vài tuần hay có thể khởi phát chậm dần dần trong nhiều tháng, nhiều năm.

Trong thời gian bệnh, BN thường trở nên xa lánh những người khác, ít nói chuyện với người thân, trở nên trầm tư, lo âu hoặc hay sợ hãi.

tim-hieu-benh-tam-than-phan-liet

I. Triệu chứng của bệnh TTPL

Các triệu chứng quan trọng nhất gồm:

1. Hoang tưởng

–   Là những ý tưởng sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh tâm thần gây ra nhưng BN cho là hoàn toàn đúng, không thể giải thích hay phê phán được.

–   Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, nhưng thường gặp nhất là:

Hoang tưởng tự cao: thí dụ BN nghĩ rằng mình có thể làm tướng chỉ huy quân đội mặc dù BN chưa từng đi bộ đội hoặc BN nghĩ rằng mình có thể chữa các loại bệnh khó như bệnh ung thư dù BN không học ngành y…

Hoang tưởng bị hại: thí dụ BN nghĩ rằng những người hàng xóm hay người trong gia đình đang tìm cách đầu độc BN…

Hoang tưởng bị chi phối: thí dụ như BN nghĩ rằng có một thế lực vô hình nào đó đang kiểm soát mọi suy nghĩ hay hành động của mình…

– BN sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung hoang tưởng thí dụ như BN sẽ từ chối không ăn cơm chung với gia đình và tự nấu ăn nếu BN nghi có ai tìm cách đầu độc mình…

2. Ảo thanh

–   Là BN nghe một hay nhiều giọng nói tưởng tượng vang lên trong đầu hay vang bên tai.

–   Nội dung của ảo thanh thường là: đe doạ, buộc tội, chửi bới hay nhạo báng BN.

–   BN cũng sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung của ảo thanh thí dụ như BN sẽ bịt tai khi nội dung của ảo thanh là chưởi bới, BN sẽ có hành vi tự vệ nếu nội dung của ảo thanh là đe doạ…

3. Rối loạn khả năng suy nghĩ

Lời nói BN trở nên khó hiểu, đang nói BN bỗng đột ngột ngưng lại rồi một lúc sau mới nói tiếp chủ đề cũ hay nói sang chuyện khác. Đôi khi BN nói lung tung đến nỗi người nghe không hiểu BN muốn nói gì.

II. Các triệu chứng kém quan trọng hơn

4. Mất đi ý muốn làm việc

Đầu tiên BN sẽ không thể tiếp tục làm việc tốt tại cơ quan hay học tập tốt trong trường học. Nếu nặng hơn BN sẽ không còn làm tốt được các công việc hằng ngày như làm việc nhà, giặt giũ, nấu ăn… và nặng nhất là BN sẽ không chú ý đến vệ sinh cá nhân, không tắm rửa, ăn uống kém…

Chú ý: tình trạng này được gây ra do bệnh chứ không phải tại BN lười biếng.

5. Giảm sự biểu lộ tình cảm

Sự biểu lộ tình cảm của BN bị giảm sút nhiều. BN hoặc sẽ không phản ứng trước các sự kiện vui buồn hoặc ngược lại đối với sự  kiện vui thì BN buồn và đối với sự kiện buồn thì BN tỏ ra vui.

6. Sự cách ly xã hội

BN không muốn tiếp xúc với những người khác, ngay cả đối với những người thân trong gia đình BN cũng không muốn nói chuyện. Điều này có thể do khả năng nói chuyện của BN bị giảm sút do bệnh hoặc do BN không muốn nói chuyện với người khác vì có hoang tưởng sợ người ta hại mình.

7. Không nhận thức được rằng bản thân mình đang bị bệnh

Thông thường nhiều BN TTPL không nghĩ rằng mình bị bệnh, do đó họ có thể sẽ từ chối việc đi đến bác sĩ để chữa bệnh.

Nếu BN có một hoặc vài triệu chứng trên đây, cần khuyên BN đến các y bác sĩ tâm thần để chữa bệnh càng sớm càng tốt.

III. Nguyên nhân của bệnh TTPL

Hiện nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân chủ yếu gây bệnh TTPL mà bệnh được nghĩ rằng do một số yếu tố khác nhau phối hợp gây ra:

1. Yếu tố di truyền

Bệnh TTPL có khuynh hướng di truyền trong gia đình. Ở dân số bình thường thì tỷ lệ mắc bệnh là 1%, nhưng nếu có một người trong số cha mẹ bị TTPL thì tỷ lệ mắc bệnh ở các đứa con tăng lên đến 12%.

2. Yếu tố sinh hoá

Vài chất hoá học trong não được nghĩ rằng có góp phần gây ra bệnh này, nhất là chất Dopamine.

3. Yếu tố gia đình

Hiện nay chưa có bằng chứng để nghĩ rằng các rối loạn trong mối quan hệ gia đình có thể gây ra bệnh TTPL. Tuy nhiên người ta nhận xét thấy BN TTPL dễ tái phát hơn nếu không khí trong gia đình căng thẳng.

4. Yếu tố môi trường

Người ta nhận thấy môi trường chung quanh quá nhiều sang chấn (stress) có thể góp phần thúc đẩy sự xuất hiện bệnh TTPL.

VI- Điều trị bệnh TTPL

Hiện nay phương pháp điều trị hiệu quả nhất bệnh TTPL là sự phối hợp giữa thuốc chống loạn thần và công tác phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN.

1. Thuốc chống loạn thần

Các thuốc chống loạn thần cổ điển như như Aminazine, Haldol… đã giúp ích rất nhiều trong việc điều trị bệnh TTPL. Nhờ các thuốc này, ngày nay đa số BN TTPL không cần nằm bệnh viện tâm thần lâu dài mà có thể điều trị ngoại trú bằng cách đến lãnh thuốc đều đặn tại các Phòng khám tâm thần quận huyện hay các Trạm y tế phường xã. Họ vừa uống thuốc vừa có thể sống thoải mái trong gia đình và xã hội.

Hiện nay đã xuất hiện các thuốc chống loạn thần thuộc thế hệ mới như risperidone, olanzapine… vừa có hiệu quả hơn mà lại ít tác dụng phụ hơn các thuốc loại cổ điển nên đã góp phần làm BN yên tâm điều trị lâu dài.

Chú ý:

–   Các thuốc này không gây nghiện. Chúng chỉ góp phần điều chỉnh các chất hoá học trong não.

–   Đa số BN cần điều trị trong thời gian rất lâu dài để đề phòng tái phát. Việc ngưng uống thuốc nhất thiết cần phải hỏi ý kiến bác sĩ tâm thần.

2. Phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN

Bao gồm một loạt các biện pháp nhằm mục đích:

–   Giúp BN TTPL phục hồi khả năng tiếp xúc với mọi người chung quanh, khả năng làm việc và học tập .

–   Giúp gia đình BN hiểu rõ hơn về bệnh TTPL, về cách điều trị và các tác dụng phụ của thuốc chống loạn thần, về cách đối xử thích hợp với BN.

–   Giúp hàng xóm và mọi người trong xã hội có cái nhìn đúng đắn về loại bệnh này để mọi người chung quanh BN thông cảm với BN hơn và họ cũng xem bệnh này cũng giống như những loại bệnh cần được điều trị lâu dài khác như bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp…

V. Những điều nên tránh đối với bệnh TTPL

–   Không nên đưa BN đến thầy bùa, thầy pháp vì bệnh TTPL không phải do ma quỷ gây ra.

–   Không nên tranh luận với BN về sự vô lý của hoang tưởng. Những ý nghĩ bệnh lý đó chỉ có thể biến mất đi nhờ thuốc chống loạn thần.

–   Không nên xiềng xích, trói hay nhốt BN vì thuốc chống loạn thần có thể làm cho BN không còn hung hăng, kích động.

–   Không nên tự ý cho BN ngưng uống thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ tâm thần .

                                                                                    BS. Lê Quốc Nam

  Bệnh viện tâm thần TP. Hồ Chí Minh

Parkinson bệnh phổ biến của người cao tuổi

Parkinson là một bệnh thần kinh mạn tính thường kết hợp với rối loạn tâm thần, gặp chủ yếu ở người cao tuổi (NCT). Theo thống kê thì độ tuổi khởi bệnh Parkinson trung bình vào khoảng trên 60 tuổi, với tỷ lệ mắc là 90 – 100/100.000 dân và tỷ lệ mới mắc là 20/100.000 dân/năm, hiếm gặp các trường hợp khởi bệnh trước 40 tuổi… Khoảng 45% bệnh nhân Parkinson bị trầm cảm và 30 – 60% bị sa sút tinh thần. Phòng và điều trị bệnh vẫn còn gặp khó khăn, bên cạnh đó, bệnh Parkinson có thể dẫn đến một số biến chứng.

benh-parkinson-can-benh-nguoi-cao-tuoi

Nguyên nhân gây bệnh Parkinson chưa được xác định, một số tác giả cho rằng bệnh Parkinson do các tế bào não kiểm soát vận động cơ bắp bị thoái hóa dần. Những tế bào này sản sinh chất dopamin. Dopamin là một chất dẫn truyền thần kinh quan trọng nên những sự thay đổi của nó sẽ dẫn đến nhiều thay đổi khác nhau của sức khỏe con người. Đây là chất có vai trò quan trọng trong việc truyền tín hiệu giữa các tế bào. Khi tế bào não chi phối vận động cơ bị thoái hóa thì lượng dopamin sinh ra sẽ giảm dần trong cơ thể người bệnh, dẫn đến các triệu chứng Parkinson. Nguyên nhân của hiện tượng thoái hóa tế bào thần kinh trung ương (tế bào não) vẫn chưa được khẳng định. Một nghiên cứu gần đây phát hiện ra có một gen đột biến ở trong nhóm người mắc bệnh Parkinson. Mặc dù gen đột biến này không phải là nguyên nhân của tất cả những trường hợp bệnh nhưng phát hiện này đã mở ra cơ hội cho các nhà khoa học thực hiện thêm các nghiên cứu trên động vật để tiếp cận sâu hơn nữa đối với bệnh Parkinson. Tuy nhiên, có một số giả thuyết cho rằng nguyên nhân gây bệnh Parkinson không chỉ duy nhất một tác nhân mà có sự kết hợp của hai tác nhân mang tính chất di truyền và những tác động xấu gây ra bởi môi trường xung quanh (môi trường ô nhiễm chất độc hại, tiếp xúc thường xuyên với một số hóa chất độc hại…). Hiện nay, có một giả thuyết đưa ra về sự ôxy hóa. Người ta cho rằng các gốc hóa học tự do là nguyên nhân của bệnh Parkinson, tất nhiên, để đi đến kết luận cần có thời gian. Một số nhà chuyên môn khuyến cáo cần phân biệt với tác dụng phụ của một số loại thuốc, đặc biệt là thuốc sử dụng để điều trị một bệnh thần kinh nào đó cũng có thể dẫn đến xuất hiện các triệu chứng của bệnh Parkinson.
Parkinson Bệnh của người cao tuổi 2
Hình ảnh não người bình thường và của người bệnh Parkinson.

Biểu hiện chính của bệnh

3 triệu chứng điển hình xuất hiện ở bệnh nhân Parkinson là run (lắc, vẫy) khi nghỉ ngơi, cứng khớp và chậm chạp khi bắt đầu một cử động nào đó. Run thường được bắt đầu ở một tay, run khi nghỉ ngơi, tăng lên khi có tác động tinh thần (stress) nhưng khi ngủ có thể hết run, sau một thời gian dài (vài tháng, vài năm) bắt đầu run giật cả 2 tay nhưng không đối xứng. Song song với các triệu chứng chính của bệnh thì sự mệt mỏi, ăn kém, rối loạn giấc ngủ, hay ngủ ban ngày luôn thường trực. Cứng khớp có thể thấy rõ ràng hơn khi có những cử động cố ý của chi đối bên. Chậm chạp không chỉ thể hiện khi vận động, di chuyển mà còn thể hiện cả khi nói, thể hiện cả ở nét mặt hoặc động tác giảm chớp mắt, hạn chế nhìn lên và tiếng nói nhỏ hơn bình thường. Ngoài 3 triệu chứng này thì ở người bệnh Parkinson còn có thể mất dần phản xạ thăng bằng (đứng không vững). Đây cũng là một triệu chứng của bệnh vì thường xuất hiện muộn và khó chữa trị. Bên cạnh đó có thể xuất hiện các triệu chứng thay đổi về tâm thần, trầm cảm, giảm trí nhớ, lú lẫn, hạ huyết áp, rối loạn tình dục, ra nhiều mồ hôi. Hậu quả của bệnh Parkinson là đi đứng khó khăn, cử động chậm, tay chân cứng và run, cơ mặt bị liệt. Chẩn đoán bệnh Parkinson thấy xuất hiện 2 trong 3 triệu chứng chính (run rẩy, cứng khớp, chậm chạp). Tư thế không vững là triệu chứng thứ tư, tuy nhiên, nó chỉ xuất hiện muộn. Vì vậy, người ta còn gọi bệnh Parkinson là một bệnh rối loạn thoái hóa của hệ thần kinh trung ương làm suy yếu khả năng vận động, lời nói và các chức năng khác. Biến chứng  thường gặp của bệnh Parkinson là những rối loạn về khả năng đi đứng của người bệnh ngày càng gia tăng, một số trường hợp gặp phải chứng loãng xương do mất calci, bí tiểu tiện, táo bón, nuốt khó gây nghẹn khi ăn, khi uống, khi nuốt nước bọt hoặc bị sặc.

Chăm sóc người bệnh Parkinson
Khi một người được bác sĩ chuyên khoa thần kinh khám bệnh và xác định là mắc bệnh Parkinson thì người thân (gia đình, bè bạn, cơ quan) nên động viên khích lệ người bệnh. Bởi vì trong thời kỳ đầu của bệnh, người bệnh thường rất mệt mỏi, chán chường, lo lắng hoặc có thể bị trầm uất, cho nên sự động viên về mặt tình cảm của người thân và tổ chức tập thể là rất cần thiết. Với người bệnh thì không nên quá lo lắng hoặc quá bi quan mà phải vươn lên để tự điều chỉnh hoạt động của bản thân mình. Cần vận động cơ thể bằng hình thức tập thể dục hàng ngày tùy theo điều kiện và sức khỏe của mỗi người như đi bộ. Tuy nhiên, mỗi một ngày cũng chỉ nên vận động cơ thể (khoảng 60 phút là vừa) và nên chia thành 2 – 3 lần, mỗi lần từ 15 – 20 phút. Về sau, khi bệnh tiến triển nặng hơn thì mọi sinh hoạt, ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại cần có sự hỗ trợ của gia đình. Bên cạnh sự chăm sóc thì việc uống thuốc điều trị cũng rất cần có sự quan tâm của người thân, nhất là khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn trầm cảm, lú lẫn hoặc có biến chứng.

PGS.TS. TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Theo SKDS

Kinh sợ với chứng ‘Xác chết di động’

Một trong những hội chứng rối loạn tâm thần kỳ lạ và hiếm có nhất trên thế giới là hội chứng Cotard (hay còn gọi là “xác chết di động”). Nó khiến cho những người bị mắc phải tưởng là mình đã chết hoặc không tồn tại.

Căn bệnh tâm thần hiếm có này được đặt theo tên một nhà thần kinh học người pháp ở thế kỷ thứ 19, ông Jules Cotard. Năm 1880, Jules giới thiệu một trường hợp bệnh nhân đầu tiên bị chẩn đoán mắc căn bệnh này có tên là Mademoiselle X trong một buổi thuyết trình của ông.

Mademoiselle X được cho là người luôn căm thù bản thân, phủ nhận sự tồn tại của Chúa trời, Ác quỷ và cả sự tồn tại của một số bộ phận trên cơ thể. Cô ta cũng tin rằng mình bị nguyền rủa và không thể có có một cái chết tự nhiên, do đó cô ta tự tuyệt thực đến chết.

tam_than_xac_chet_di_DongHãi hùng với hội chứng “xác chết di động” là một trong những hội chứng rối loạn tâm thần kỳ lạ. (Ảnh minh họa)

Từ đó đến nay, đã có rất nhiều ca bị mắc hội chứng Cotard được ghi nhận. Một số người tin rằng họ bị mất hết máu và các cơ quan nội tạng. Một số khác lại nghĩ là mình đang dần bị thối rữa ra.

Hầu hết các trường hợp bị mắc hội chứng Cotard đều được chẩn đoán kèm với chứng tâm thần phân liệt nhưng đôi khi hội chứng này xuất hiện như một phản ứng phụ của thuốc diệt virus gây bệnh herpes.

Về mặt y tế, khu vực não nhận diện các khuôn mặt bị ảnh hưởng. Kết quả là những người này mất toàn bộ cảm xúc khi nhìn mặt những người khác. Do đó, họ sẽ cảm thấy tách biệt với thế giới và nghĩ là mình không còn sống.

Quá trình của căn bệnh bao gồm 3 giai đoạn: ủ bệnh, phát bệnh và trở thành mãn tính. Ở giai đoạn đầu tiên, bệnh nhân sẽ bị trầm cảm và hoang tưởng, đáng chú ý là cảm giác lo sợ. Ở giai đoạn phát bệnh, các triệu chứng sẽ nặng thêm và phát bệnh ra ngoài. Cuối cùng, tại giai đoạn mãn tính là ảo tưởng nặng và trầm cảm kéo dài.

Bệnh Cotard có thể điều trị khỏi nhưng mất thời gian bằng các loại thuốc như thuốc chống trầm cảm, chống ảo tưởng và an thần.

Theo 24h

Cậu bé người Mỹ bị động kinh 100 trăm lần mỗi ngày

Ngày 13/3, Tờ Fox News đăng câu chuyện cảm động của một người cha người Mỹ kể về cậu bé từng lên cơn động kinh 100 lần/ ngày nhưng đã thoát khỏi “lưỡi hái thần chết” nhờ sự dũng cảm của con và niềm tin của cha mẹ.

Spike Parrent (6 tuổi) bất ngờ lên cơn động kinh từ năm 4 tuổi (1-2011) và vài tháng sau, số lần động kinh trong ngày của cậu bé đã tăng lên đến con số 100. Gia đình phải cử người túc trực bên Spike trong thời gian dài và mới đây, các bác sĩ buộc phải mổ bỏ vùng não gây ra động kinh để cứu sống bệnh nhi này.

cau_bi_dong_kinh_100_lan_1_ngay_01

Spike Parrent bên cha

Tâm sự với tờ Daily Mail, ông Tom Parrent – cha bé Spike – cho biết vài năm trước Spike là cậu bé vui vẻ, khỏe mạnh. Một ngày nọ, Spike nói rằng em mệt mỏi cần đi nghỉ, sau đó người cha tìm thấy con trong tình trạng co giật, mắt trắng dã, sùi bọt mép.

Thoạt đầu, các bác sĩ cho rằng bé co giật là do sốt cao gây ra (thường gặp ở 5% trẻ em) nên kê thuốc và cho về nhà nhưng vài giờ sau, bệnh tình Spike lại tái phát. Em được chẩn đoán bị bệnh động kinh, một chứng rối loạn mãn tính khiến người bệnh thường xuyên lên cơn co giật.

Chỉ riêng tháng 2-2011, cậu bé bị động kinh thường xuyên hơn với 100 cơn co giật mỗi ngày và liên tục cấp cứu tại Trung tâm Y tế Đại học Duke (Mỹ). Lúc đó, ba mẹ Spike chỉ biết ôm con vào lòng và trò chuyện để cậu bé quên đi cơn đau đớn.

cau_bi_dong_kinh_100_lan_1_ngay_02

Spike chơi đùa và sinh hoạt như những đứa trẻ bình thường sau phẫu thuật

Tuy mang bệnh tật nhưng Spike vẫn luôn chiến đấu và giữ thái độ lạc quan trong suốt quá trình chữa trị. Sau khi điều trị động kinh bằng thuốc không thành công, cha mẹ Spike cho con thực hiện chế độ ăn kiêng ketogenic tiêu thụ nhiều protein và mỡ được chứng minh là có hiệu quả với người mắc bệnh này.

Phương pháp ăn kiêng mang lại hiệu quả chưa được bao lâu thì bệnh cũ lại tái phát, cha mẹ Spike lại mang em tới Bệnh viện động kinh Cleavland. Tại đây, các bác sĩ đề nghị phẫu thuật não loại bỏ thùy trán bệnh nhi để ngăn chặn các cơn động kinh.

Tháng 9/2011, Spike được phẫu thuật và từ đó đến nay các cơn co giật không trở lại nữa. Cha mẹ Spike đang tiến hành các bài tập vật lý trị liệu cho em, đồng thời luyện tập thêm kỹ năng đọc, viết cho con trai.

Hiện tại, ông Tom Parrent – cha của bệnh nhi Spike đang ra sức giúp đỡ những bậc cha mẹ có con mắc bệnh tương tự, ông khuyên họ nên tìm đến bác sĩ để điều trị và đừng bao giờ từ bỏ hy vọng.

Theo 24h

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Nếu như trước đây, bệnh nhân đến bệnh viện Tâm thần TP.HCM khám và điều trị chủ yếu là thể tâm thần phân liệt và động kinh, còn những biểu hiện của stress, trầm cảm, suy nhược thần kinh… không nhiều, thì hiện nay các bệnh này đã ngày một nhiều hơn.

Các nghiên cứu từ Hong Kong, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á cho thấy, mất mát trầm trọng về tài chính, đặc biệt là mất việc làm dễ dẫn đến gia tăng bệnh tâm thần hoặc tự tử. Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, càng có nhiều người già không nơi nương tựa, bị bỏ quên, trẻ em phải đương đầu sớm với những khó khăn trong học tập, khả năng hoà nhập kém… cũng là những yếu tố dẫn đến rối loạn lo âu, trầm cảm và nhiều hệ luỵ khác.

Dấu hiệu bất thường

Sau đây là một số ít gợi ý về các biểu hiện bất thường trong hoạt động tâm thần hay gặp nhất:

Đối với bệnh tâm thần phân liệt: tự nhiên không muốn tiếp xúc, tự tách mình với mọi người và người thân, sao nhãng công việc, kể cả vệ sinh bản thân. Đôi lúc nói lầm thầm một cách bí ẩn hoặc khoe khoang, cự cãi những điều phi lý không có trong thực tế…

Đối với bệnh trầm cảm

Có biểu hiện stress không vượt qua được, rồi lo lắng những điều nhỏ nhặt mà trước đó có thể cho qua, khó ngủ, hay giật mình, thối chí, khó tập trung hoàn thành công việc, không ham muốn, lặng lẽ thở dài như than thân trách phận… Đây là những biểu hiện rất nguy hiểm. Đáng tiếc, vì công ăn việc làm, nhiều bệnh nhân trầm cảm cố gắng che giấu tình trạng bệnh của mình, chỉ đi khám khi đã quá nặng, nên phải tốn nhiều tiền và thời gian điều trị hơn.

benh_tam_than

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Trẻ già đều có thể bị

Thanh thiếu niên ngày nay cũng chịu nhiều áp lực nên có thể bị stress nhiều hơn và cũng bị trầm cảm như người lớn, nhưng cách thể hiện ra ngoài có khác đôi chút. Đó có thể là sinh hoạt thất thường, tự cư xử với bản thân đôi khi quá đáng, tự buông trôi hay ghét những gì trước kia là sở thích. Tất nhiên là học hành giảm sút, thầy cô phàn nàn… Lưu ý, nhiều bất thường trong hoạt động tâm thần ở thanh thiếu niên xuất phát từ gia đình. Có thể do phụ huynh chưa dành nhiều thời gian tìm hiểu kiến thức tâm sinh lý lứa tuổi con mình, do bận rộn làm việc để có nhiều tiền hơn cho cuộc sống hiện đại.

Còn ở người già, dễ thấy nhất là bắt đầu quên chỗ để đồ đạc của mình, quên lối đi, quên những điều con cháu nhắc nhở, thích nói chuyện ngày xưa, ăn cơm rồi mà nói chưa… Có người thì nét mặt ngơ ngơ, ngược lại có người hay nghi ngờ bị trộm tiền, thậm chí ghen ghét vô cớ, giận dỗi…

Điều trị: sớm dễ trễ khó

Điều trị bệnh tâm thần rất khó vì người bệnh ít tuân thủ uống thuốc, lại đòi hỏi điều trị thời gian dài nên chi phí nhiều. Cách điều trị tâm thần hiện đại là điều trị ngoại trú, phối hợp với nhiều biện pháp khác như dùng thuốc đặc trị, liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng, hoà nhập từ chính trong gia đình người bệnh tới khu dân cư, cộng đồng… Hiện đã có hầu như đủ các loại thuốc đặc trị đối với các loại bệnh tâm thần thường gặp, nếu được chẩn đoán và dùng đúng thuốc sớm, người bệnh có thể hồi phục. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh của mình và tuỳ tiện dùng các loại thuốc điều trị trầm cảm, stress… khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

Bệnh nhân tâm thần rất cần sự hỗ trợ, cảm thông từ cộng đồng. Do đó, nếu trong cuộc sống chúng ta gặp những biểu hiện như trên từ người thân, bạn bè hay đồng nghiệp… thì hãy cùng sẻ chia, tâm sự… để giúp họ giải toả cảm xúc. Xua tan muộn phiền, mệt mỏi cũng là một cách giảm bớt những triệu chứng về bệnh tâm thần trong nhịp sống hối hả của thời đại. Càng kỳ thị, càng phân biệt đối xử với người bệnh tâm thần thì chi phí chữa trị càng lớn.

Ngoài ra, gần đây nhiều người áp dụng các phương pháp phản khoa học để điều trị, cách này không những tốn công sức, tiền của mà còn tác hại rất lớn đến sức khoẻ, làm tình trạng bệnh nặng thêm.

Theo 24h

Những dấu hiệu cảnh báo bệnh tâm thần ở trẻ em

Các bậc cha mẹ thường không để ý tới những dấu hiệu mắc bệnh tâm thần ở trẻ và hậu quả là nhiều trẻ em đã không được điều trị đúng cách khi mắc bệnh.

nhung-dau-hieu-benh-tam-than-o-tre-nho

• Các rối loạn lo âu. Trẻ em bị rối loạn lo âu do bị ám ảnh ức chế, rối loạn căng thẳng do ảnh hưởng bởi chấn thương tâm lý gây ra những lo lắng dai dẳng, ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của trẻ.

• Thiếu chú ý và quá hiếu động (Bệnh ADHD). Biểu hiện là trẻ gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý, hiếu động thái quá và hành vi bốc đồng, bộc phát, không kiềm chế được.

• Tự kỷ là một trong nhóm các vấn đề nghiêm trọng được gọi là rối loạn phổ tự kỷ xuất hiện trong thời thơ ấu – thường xuất hiện ở trẻ dưới 3 tuổi. Mặc dù các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng khác nhau nhưng tất cả rối loạn tự kỷ đều ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của một đứa trẻ.

• Rối loạn ăn uống. Rối loạn ăn uống như chán ăn hay ăn quá nhiều đều là những dấu hiệu đáng lo ngại.

• Rối loạn tâm trạng. Rối loạn tâm trạng như trầm cảm gây ra sự biến đổi cảm xúc, không ổn định, cảm xúc liên tục thay đổi.
Các dấu hiệu cảnh báo nghiêm trọng:

– Tâm trạng thay đổi. Luôn có cảm giác buồn bã hoặc cảm giác sợ hãi tràn ngập không có lý do ảnh hưởng tới những mối quan hệ của trẻ trong gia đình và trường học.

– Hành vi thay đổi. Bao gồm những thay đổi mạnh mẽ trong hành vi, nhân cách, cũng như hành vi nguy hiểm không kiểm soát.

– Khó tập trung ảnh hưởng tới kết quả học tập ở trường.

– Lạm dụng chất kích thích. Một số trẻ em sử dụng ma túy hoặc rượu để cố gắng đối phó với cảm xúc của mình.

(Theo Antd/MSN)