Tag Archives: bệnh tâm thần

Rối loạn tâm thần ở tuổi thành niên

Trong một xã hội đang hiện đại hoá với nhịp sống tăng nhanh đã gây ra những áp lực quá lớn khiến cho trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần ngày càng nhiều…

Tại Viện Sức khỏe tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội mới đầu giờ sáng đã có khá nhiều người đến khám, trong số đó, thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ không nhỏ. Tại phòng khám trắc nghiệm, S (ở Thái Nguyên) tỏ ra khá quen thuộc với những bài test của bác sĩ.

S cho biết, em bị bệnh về tâm thần từ năm lớp 7 nhưng mãi đến lớp 9 mới phát hiện ra bệnh, lúc đó bệnh đã khá nặng nên phải nghỉ học.

S kể: “Có những lúc em đang tỉnh táo bỗng tự nhiên bị ngây người ra, “ngu đi” cứ như máu không lên não. Khi mới bị bệnh, em thường cảm thấy ghét mọi người trong gia đình, không muốn nói chuyện với bạn bè, người thân, giống như bị trầm cảm”.

Gia đình S đã đưa em đi chữa bệnh ở Thái Nguyên nhưng mãi không khỏi mà bệnh ngày càng nặng, đành đưa về Hà Nội để khám tại Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Đến nay đã được 6 năm, bệnh đang dần thuyên giảm nhưng em vẫn phải thường xuyên đến đây để kiểm tra sức khỏe định kỳ.

roi-loan-tam-than-o-tuoi-thanh-nien

Người có dấu hiệu rối loạn tâm thần cần được đưa đi điều trị sớm

Ngồi cách S không xa là em H với dáng người gầy gò, mệt mỏi đang cùng mẹ đợi khám bệnh. Chị M, mẹ của H chia sẻ: Năm nay H học lớp 10, nhưng không hiểu sao từ sau Tết đến nay em thường xuyên có những biểu hiện như mất trí, lúc nhớ lúc quên, học hành sa sút nghiêm trọng. H thường xuyên kêu mệt mỏi không muốn đi học, nên chị phải đưa con đến khám.

PGS.TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội cho biết: Trong guồng sống chóng mặt hiện nay, con người phải đối mặt với quá nhiều áp lực từ cuộc sống, nên ngày càng có nhiều người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày Viện khám, chữa bệnh và tư vấn cho khoảng 200 bệnh nhân, trong đó độ tuổi thanh niên chiếm không nhỏ. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh như: do môi trường từ gia đình hoặc xã hội, do thay đổi về thể chất, do ô nhiễm môi trường bởi tiếng ồn… đặc biệt đối với những người lao động trí óc.

Theo nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả: PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (chủ biên); Ths Nguyễn Cao Minh, Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học, có từ 12 – 13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6 – 16), tức là có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc có những biểu hiện về sức khỏe tâm thần một cách rõ rệt.

TS Ngô Thanh Hồi, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cho biết, dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với trường Đại học Melbourne (Australia).

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, học sinh tự sát trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể…

Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh tại Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy, trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh trong độ tuổi 10 – 16, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %.

Tâm lý học sinh hiện nay phát triển phức tạp, các em dễ bị dao động, lung lay trước các giá trị sống, biến động từ gia đình đến xã hội, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý.

Nguồn đời sống pháp luật

Tìm hiểu bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần và về lâu dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân (BN).Bệnh thường bắt đầu ở tuổi trẻ và thường kéo dài suốt cả cuộc đời.

Bệnh thường khởi phát nhanh với các triệu chứng cấp tính xuất hiện trong vài tuần hay có thể khởi phát chậm dần dần trong nhiều tháng, nhiều năm.

Trong thời gian bệnh, BN thường trở nên xa lánh những người khác, ít nói chuyện với người thân, trở nên trầm tư, lo âu hoặc hay sợ hãi.

tim-hieu-benh-tam-than-phan-liet

I. Triệu chứng của bệnh TTPL

Các triệu chứng quan trọng nhất gồm:

1. Hoang tưởng

–   Là những ý tưởng sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh tâm thần gây ra nhưng BN cho là hoàn toàn đúng, không thể giải thích hay phê phán được.

–   Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, nhưng thường gặp nhất là:

Hoang tưởng tự cao: thí dụ BN nghĩ rằng mình có thể làm tướng chỉ huy quân đội mặc dù BN chưa từng đi bộ đội hoặc BN nghĩ rằng mình có thể chữa các loại bệnh khó như bệnh ung thư dù BN không học ngành y…

Hoang tưởng bị hại: thí dụ BN nghĩ rằng những người hàng xóm hay người trong gia đình đang tìm cách đầu độc BN…

Hoang tưởng bị chi phối: thí dụ như BN nghĩ rằng có một thế lực vô hình nào đó đang kiểm soát mọi suy nghĩ hay hành động của mình…

– BN sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung hoang tưởng thí dụ như BN sẽ từ chối không ăn cơm chung với gia đình và tự nấu ăn nếu BN nghi có ai tìm cách đầu độc mình…

2. Ảo thanh

–   Là BN nghe một hay nhiều giọng nói tưởng tượng vang lên trong đầu hay vang bên tai.

–   Nội dung của ảo thanh thường là: đe doạ, buộc tội, chửi bới hay nhạo báng BN.

–   BN cũng sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung của ảo thanh thí dụ như BN sẽ bịt tai khi nội dung của ảo thanh là chưởi bới, BN sẽ có hành vi tự vệ nếu nội dung của ảo thanh là đe doạ…

3. Rối loạn khả năng suy nghĩ

Lời nói BN trở nên khó hiểu, đang nói BN bỗng đột ngột ngưng lại rồi một lúc sau mới nói tiếp chủ đề cũ hay nói sang chuyện khác. Đôi khi BN nói lung tung đến nỗi người nghe không hiểu BN muốn nói gì.

II. Các triệu chứng kém quan trọng hơn

4. Mất đi ý muốn làm việc

Đầu tiên BN sẽ không thể tiếp tục làm việc tốt tại cơ quan hay học tập tốt trong trường học. Nếu nặng hơn BN sẽ không còn làm tốt được các công việc hằng ngày như làm việc nhà, giặt giũ, nấu ăn… và nặng nhất là BN sẽ không chú ý đến vệ sinh cá nhân, không tắm rửa, ăn uống kém…

Chú ý: tình trạng này được gây ra do bệnh chứ không phải tại BN lười biếng.

5. Giảm sự biểu lộ tình cảm

Sự biểu lộ tình cảm của BN bị giảm sút nhiều. BN hoặc sẽ không phản ứng trước các sự kiện vui buồn hoặc ngược lại đối với sự  kiện vui thì BN buồn và đối với sự kiện buồn thì BN tỏ ra vui.

6. Sự cách ly xã hội

BN không muốn tiếp xúc với những người khác, ngay cả đối với những người thân trong gia đình BN cũng không muốn nói chuyện. Điều này có thể do khả năng nói chuyện của BN bị giảm sút do bệnh hoặc do BN không muốn nói chuyện với người khác vì có hoang tưởng sợ người ta hại mình.

7. Không nhận thức được rằng bản thân mình đang bị bệnh

Thông thường nhiều BN TTPL không nghĩ rằng mình bị bệnh, do đó họ có thể sẽ từ chối việc đi đến bác sĩ để chữa bệnh.

Nếu BN có một hoặc vài triệu chứng trên đây, cần khuyên BN đến các y bác sĩ tâm thần để chữa bệnh càng sớm càng tốt.

III. Nguyên nhân của bệnh TTPL

Hiện nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân chủ yếu gây bệnh TTPL mà bệnh được nghĩ rằng do một số yếu tố khác nhau phối hợp gây ra:

1. Yếu tố di truyền

Bệnh TTPL có khuynh hướng di truyền trong gia đình. Ở dân số bình thường thì tỷ lệ mắc bệnh là 1%, nhưng nếu có một người trong số cha mẹ bị TTPL thì tỷ lệ mắc bệnh ở các đứa con tăng lên đến 12%.

2. Yếu tố sinh hoá

Vài chất hoá học trong não được nghĩ rằng có góp phần gây ra bệnh này, nhất là chất Dopamine.

3. Yếu tố gia đình

Hiện nay chưa có bằng chứng để nghĩ rằng các rối loạn trong mối quan hệ gia đình có thể gây ra bệnh TTPL. Tuy nhiên người ta nhận xét thấy BN TTPL dễ tái phát hơn nếu không khí trong gia đình căng thẳng.

4. Yếu tố môi trường

Người ta nhận thấy môi trường chung quanh quá nhiều sang chấn (stress) có thể góp phần thúc đẩy sự xuất hiện bệnh TTPL.

VI- Điều trị bệnh TTPL

Hiện nay phương pháp điều trị hiệu quả nhất bệnh TTPL là sự phối hợp giữa thuốc chống loạn thần và công tác phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN.

1. Thuốc chống loạn thần

Các thuốc chống loạn thần cổ điển như như Aminazine, Haldol… đã giúp ích rất nhiều trong việc điều trị bệnh TTPL. Nhờ các thuốc này, ngày nay đa số BN TTPL không cần nằm bệnh viện tâm thần lâu dài mà có thể điều trị ngoại trú bằng cách đến lãnh thuốc đều đặn tại các Phòng khám tâm thần quận huyện hay các Trạm y tế phường xã. Họ vừa uống thuốc vừa có thể sống thoải mái trong gia đình và xã hội.

Hiện nay đã xuất hiện các thuốc chống loạn thần thuộc thế hệ mới như risperidone, olanzapine… vừa có hiệu quả hơn mà lại ít tác dụng phụ hơn các thuốc loại cổ điển nên đã góp phần làm BN yên tâm điều trị lâu dài.

Chú ý:

–   Các thuốc này không gây nghiện. Chúng chỉ góp phần điều chỉnh các chất hoá học trong não.

–   Đa số BN cần điều trị trong thời gian rất lâu dài để đề phòng tái phát. Việc ngưng uống thuốc nhất thiết cần phải hỏi ý kiến bác sĩ tâm thần.

2. Phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN

Bao gồm một loạt các biện pháp nhằm mục đích:

–   Giúp BN TTPL phục hồi khả năng tiếp xúc với mọi người chung quanh, khả năng làm việc và học tập .

–   Giúp gia đình BN hiểu rõ hơn về bệnh TTPL, về cách điều trị và các tác dụng phụ của thuốc chống loạn thần, về cách đối xử thích hợp với BN.

–   Giúp hàng xóm và mọi người trong xã hội có cái nhìn đúng đắn về loại bệnh này để mọi người chung quanh BN thông cảm với BN hơn và họ cũng xem bệnh này cũng giống như những loại bệnh cần được điều trị lâu dài khác như bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp…

V. Những điều nên tránh đối với bệnh TTPL

–   Không nên đưa BN đến thầy bùa, thầy pháp vì bệnh TTPL không phải do ma quỷ gây ra.

–   Không nên tranh luận với BN về sự vô lý của hoang tưởng. Những ý nghĩ bệnh lý đó chỉ có thể biến mất đi nhờ thuốc chống loạn thần.

–   Không nên xiềng xích, trói hay nhốt BN vì thuốc chống loạn thần có thể làm cho BN không còn hung hăng, kích động.

–   Không nên tự ý cho BN ngưng uống thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ tâm thần .

                                                                                    BS. Lê Quốc Nam

  Bệnh viện tâm thần TP. Hồ Chí Minh

Những dạng bệnh thần kinh đáng sợ nhất

Trên thế giới còn tồn tại không ít những dạng bệnh hiếm gặp còn đáng sợ hơn cả những căn bệnh nan y hiện nay. Đó là những chứng bệnh đôi khi biến con người thành những người hoàn toàn khác biệt hoặc gây ra những đau đớn đáng sợ đối với họ.

Chứng bệnh đa nhân cách từng được biết đến trong nhiều câu chuyện nổi tiếng của Mỹ và một số bộ phim về đề tài hình sự, chứng bệnh đa nhân cách MPD (multiple personality disorder) hay còn được biết đến với tên gọi khủng hoảng đa nhân dạng (dissociative indentity disorder – DID) là một trong những chứng bệnh về tâm thần nguy hiểm nhất thế giới hiện nay.

nhung-dang-benh-than-kinh-dang-so-nhat1

Thực chất đây là một dạng bệnh về thần kinh rất khó nhận biết. Bệnh nhân có biểu hiện không khác gì một người bình thường. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, nhân cách bình thường đó bỗng nhiên bị “tan rã” đi và thay vào đó là một nhân cách hoàn toàn khác hẳn, đôi khi là một nhân cách trái ngược hẳn với bản chất con người họ.

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nguyên nhân bắt nguồn từ hiện tượng bị stress và căng thẳng tới mức cực độ trong quá khứ của người bệnh. Chính điều này đã dẫn tới cách hoạt động của vùng não chức năng kiểm soát trí nhớ bị phá vỡ nghiêm trọng.

Những bệnh nhân bị mắc phải chứng bệnh đa nhân cách sẽ tạo thành ít nhất thêm một nhân cách khác đại diện nhất cho bản chất của họ khi gặp phải một tình huống ngẫu nhiên. Khi đó, tính cách mới này sẽ kiểm soát toàn bộ con người họ. Trong một số trường hợp, nó gây trở ngại cho người bệnh trong việc tiếp xúc với người khác.

200014393-001

Trường hợp điển hình cho chứng bệnh đa nhân cách là cầu thủ bóng đá nổi tiếng Herschel Walker. Trong cuốn sách mới đây nhất của mình với tựa đề “my life with dissociative indentity disorder” (cuộc đời tôi và chứng bệnh đa nhân cách), Walker tiết lộ rằng cuộc đời ông luôn bị đứt đoạn do một nhân cách khác xen vào. Đó chính là thứ nhân cách đã dẫn ông tới việc tự tử. Theo các nhà tâm lý, thì hiện tượng chấn thương tâm lý (khi còn nhỏ) cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới sự hình thành căn bệnh đa nhân cách.

ADD – Chứng bệnh thiếu tập trung Trong các dạng bệnh về tâm thần, thì chứng khủng hoảng thiếu tập trung (attention deficit disorder – ADD) là dạng bệnh rất đáng chú ý. Các dấu hiệu của chứng bệnh này hiện còn gây ra không ít tranh cãi trong giới khoa học. Ở nhiều người, ADD chỉ bắt đầu xuất hiện khi họ bắt đầu qua tuổi 25. Điều đó có nghĩa là ADD là một dạng phát triển có quá trình chứ không đơn giản là một căn bệnh.

Khủng hoảng cảm xúc PTED (posttraumatic embitterment disorder). Là một dạng bệnh thường xảy ra với những người bị sốc do bị mất việc, do li hôn hoặc khi có người thân yêu qua đời. Ở những người này, thường xuyên xuất hiện một trạng thái cảm xúc tiêu cực, đau đớn.

Trường hợp đầu tiên được phát hiện bởi nhà tâm thần học người Đức Michael Linden sau sự kiện sụp đổ của bức tường Berlin. Trong thông báo về nghiên cứu của mình, ông cho biết: sau sự kiện đó, có khá nhiều người bỗng nhiên bị rơi vào trạng thái cảm xúc lạ. Họ thường xuyên buồn bã, giận dữ vô lý và cảm giác tuyệt vọng đến cùng cực. Trạng thái này khác hiện tượng stress thông thường và có mức độ cao hơn stress. Ở một số trường hợp, người bệnh liên tục khóc không ngừng và rơi vào trạng thái suy nhược.

Chứng nổi điên bất thường (intermittent enplosive disorder)

Hãy thử tưởng tượng, trong một khoảnh khắc nào đó, một trạng thái tồi tệ bỗng dưng xuất hiện ở con người và khiến người đó nổi điên gây chiến với những người xung quanh mà không rõ vì lý do gì.

Hiện tượng tâm lý tiêu cực này nảy sinh khi người bệnh mất kiểm soát chính bản thân mình và họ bắt đầu hành động hoàn toàn không phù hợp với tình huống. Chứng bệnh này xuất hiện khá phổ biến. Năm 2006, theo thống kê của Viện sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ, chứng nổi điên bất thường đã ảnh hưởng tới 7,3% người trong độ tuổi trưởng thành tại nước này.

Hầu hết các bệnh nhân là phụ nữ. Kết thúc cơn điên, hầu hết họ đều bị vào tù do hậu quả của những hành động không thể kiểm soát gây ra. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, những người bệnh này không đáng phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, bởi đây thực chất là một chứng bệnh đã kiểm soát hành vi con người họ, chứ không phải do chính bản thân họ chủ động. Sau khi kết thúc cơn điên, người bệnh gần như không nhớ tất cả những gì họ vừa gây ra.

Triệu chứng Morgellons: Là một trong những chứng bệnh kỳ lạ và đáng sợ hiện nay theo như đánh giá của giới khoa học. Triệu chứng của bệnh Morgellons là việc xuất hiện những tổn thương trên da giống như bị các vật liệu vô cơ chẳng hạn như sợi và thủy tinh mọc đâm lên trên da.

Trên thực tế, đã có trường hợp bệnh nhân cho biết trên da họ bỗng nhiên mọc ra một loại vật liệu vô cơ. Đó là trường hợp của cô Brandi Koch sống tại Mỹ. Bệnh nhân Koch cho biết, cô đã tận mắt nhìn thấy những sợi màu mọc ra từ da mình. Những sợi này giống như tóc, nhưng chúng có những màu sắc khác nhau.

Trường hợp thứ hai là trường hợp của bệnh nhân Smith. Ông cho biết vào năm 2006, bỗng nhiên ông có cảm giác như bị cào xé da thịt, rồi những sợi lạ bắt đầu mọc trồi lên trên da trông rất kỳ lạ.

Chứng bệnh chống đối (ODD – oppositional defiant disorder): Là một dạng bệnh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và khiến cho chúng có các biểu hiện dạng bất vâng lời, hoặc chống đối lại những lời dạy bảo của cha mẹ.

Theo TS Galynker – một chuyên gia nghiên cứu về ODD, thì nguồn gốc của chứng bệnh này bắt nguồn từ gen, song cũng tồn tại một nguyên nhân thứ hai, đó là do cách dạy bảo của cha mẹ chưa khoa học dẫn tới sự phát triển tâm lý không bình thường ở trẻ. Sự chống đối có thể thể hiện ngay trước mặt, song cũng có thể tồn tại ở dạng ngầm chống đối.

Chứng điên bỏ nhà đi (dissociative fugue state): Là một dạng bệnh hiếm gặp song vẫn tồn tại trên thực tế. Trường hợp bệnh được biết đến nhiều nhất là trường hợp của một luật sư người Mỹ thành công trong sự nghiệp. Ông là cha của hai đứa con xinh xắn trong một gia đình hạnh phúc. Song, đột nhiên người đàn ông này rời khỏi gia đình, công việc và mất tích trong một thời gian dài.

6 tháng sau đó, ông ta được tìm thấy đã thay đổi tên họ và đang sống trong một thành phố khác. Người đàn ông này trước đó đã tìm đến bệnh viện, trong người không một xu dính túi, không giấy tờ và nói với các bác sĩ rằng ông vừa tỉnh dậy trên đường phố và không thể nhớ được mình là ai. Hai tuần sau khi được đưa trở về nhà, ông trở về trạng thái bình thường như 6 tháng trước khi rời khỏi nhà.

Theo các bác sĩ, trường hợp của người đàn ông này thực chất là một dạng bệnh có tên khoa học là dissociative fugue state có nghĩa là chứng điên dẫn tới việc bỏ nhà đi. Trạng thái kèm theo của chứng bệnh này là việc người bệnh bị mất toàn bộ trí nhớ và khả năng nhận thức trong một thời gian tạm thời, cho tới khi trạng thái bình thường bỗng nhiên đột ngột trở lại.

(Theo SK & ĐS)

Nhận diện bệnh tâm thần

Công tác nhiều năm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, ông La Đức Cương, giám đốc Bệnh viện Tâm thần T.Ư 1, không ít lần chứng kiến những vụ việc đau lòng mà bệnh nhân tâm thần vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm.

Nghiện chất kích thích, gặp nhiều áp lực…

Theo ông Cương, những người nghiện thường có hành vi rất nguy hiểm, họ thường xuyên rơi vào trạng thái ảo giác, hoang tưởng hoặc thay đổi tính cách, hành vi hoàn toàn. Có những người chồng, người cha vốn hiền lành, thương vợ yêu con nhưng chỉ cần một chút rượu, bia là có thể chửi mắng, đánh đập, ra tay tàn ác với vợ con. Điều đáng nói, những người này sau khi tỉnh rượu lại tỏ ra sợ hãi chính hành động của mình, hối lỗi, cầu xin vợ con tha thứ. Nhưng sau khi có rượu, bia thì lặp lại hành vi côn đồ. Với những người nghiện ma túy, đặc biệt ma túy đá và game, thường bị ảo giác chi phối mạnh mẽ hơn so với các chất gây nghiện khác.

nhan-dien-benh-tam-than

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, Bệnh viện 175 TP.HCM, tham vấn cho bệnh nhân – Ảnh: T.T.D.

Thực tế, không ít câu chuyện cướp của, giết người dã man do những người nghiện game, ma túy gây ra. Họ có thể không biết mình mắc chứng rối loạn tâm thần, đặc biệt bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng lại thường phủ định mình bệnh, không thăm khám điều trị, dẫn đến bệnh ngày một nặng thêm.

Ông Cương cũng chia sẻ những áp lực từ xã hội khiến tâm lý con người biến đổi theo. Dường như con người ngày nay không những nóng nảy, hung dữ hơn xưa mà còn có những hành vi cực đoan đáng sợ. Chỉ cần một cái liếc mắt, một câu nói là đã có thể sử dụng đến nắm đấm, thậm chí có thể đâm, chém người!

Trong khi đó, TS Đinh Đăng Hòe (Bệnh viện Hồng Ngọc) lại nhận định một trong những nguyên nhân đáng quan tâm dẫn đến bệnh lý tâm thần ở giới trẻ, đặc biệt giới trẻ thành thị hiện nay, chính là sự “bao cấp”. Theo TS Hòe, phụ huynh (nhất là người có chức vụ hoặc làm kinh doanh) thường tham công tiếc việc, không có thời gian cho con. Nhưng ở một mặt khác, sự nuông chiều trẻ quá mức của phụ huynh có thể dẫn đến việc trẻ bị lệ thuộc, không có khả năng tự lập, đặc biệt cái tôi của trẻ quá lớn, coi mình là trung tâm vũ trụ… dễ dẫn đến hành vi lệch lạc sau này.

Điều trị sớm sẽ rất tốt

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, chủ nhiệm khoa nội tâm thần Bệnh viện 175 (TP.HCM), cho biết có hàng trăm loại bệnh tâm thần khác nhau với rất nhiều triệu chứng, biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên, loại bệnh tâm thần thường gặp nhất là tâm thần phân liệt và rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, trầm cảm.

Theo bác sĩ Hường, bệnh rối loạn cảm xúc có nhiều thể là rối loạn trầm cảm, rối loạn hưng cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc – tức vừa có triệu chứng của tâm thần phân liệt, vừa có rối loạn cảm xúc. Ngoài ra, rối loạn lo âu cũng rất dễ gặp và có liên quan đến các vấn đề xã hội như áp lực, căng thẳng trong công việc, cuộc sống. Thế nhưng, những người bị bệnh rối loạn cảm xúc thường đến bác sĩ tâm thần rất muộn, do bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn cơ thể và người bệnh thường không chịu nhìn nhận mình có bệnh tâm thần.

Cụ thể, có người biểu hiện đau dạ dày, đến bác sĩ tiêu hóa chữa hoài không hết nhưng tới bác sĩ tâm thần điều trị lại hết. Có người biểu hiện như bệnh tim mạch, hay hồi hộp, bồn chồn, đánh trống ngực, bứt rứt. Bệnh nhân đến bác sĩ tim mạch chữa hoài cũng không hết, khi đó mới đến bác sĩ tâm thần thì đã muộn. Vì vậy khi bác sĩ lâm sàng kết luận ai đó không có bệnh nhưng nếu họ vẫn biểu hiện như mắc bệnh thì nên chuyển qua bác sĩ tâm thần khám. Một người bình thường, có sức khỏe tâm thần bình thường có một điểm gen bình thường thì khi gặp phải chấn thương về tâm lý, hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ có một giai đoạn bị chông chênh. Qua giai đoạn chông chênh đó họ trở lại bình thường. Đối với người hơi nhạy cảm với stress một chút, khi gặp phải chấn thương tâm lý hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ xuất hiện giai đoạn im lặng của bệnh. Nếu không giải tỏa, thích nghi được, người đó sẽ có giai đoạn tiền triệu chứng như mất ngủ, hành vi bất thường, bứt rứt khó chịu, rất khó phát hiện.

Muốn phát hiện được giai đoạn tiền triệu chứng, những người trong gia đình phải quan tâm lẫn nhau. Nếu bệnh nhân được điều trị sớm ở giai đoạn này sẽ rất tốt, giúp bệnh lý được chặn lại hoặc đỡ nghiêm trọng hơn.

Làm sao để người bệnh tâm thần chịu đi khám bệnh?

Không ít trường hợp người bệnh không chịu đi khám bệnh. Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hường, với những trường hợp này, người thân có thể tranh thủ lúc bệnh nhân đang có một bệnh nào đó như đau đầu, đau chân hay đau bụng… thì đưa đến bệnh viện khám bệnh. Nếu không làm được cách trên có thể mời bác sĩ chuyên khoa tâm thần đến nhà nói chuyện với bệnh nhân như một người quen đến chơi. Bác sĩ sẽ có cách tư vấn, giải thích, động viên và bệnh nhân sẽ nghe theo bác sĩ, đồng ý đến bệnh viện khám bệnh. Nếu cách này cũng không hiệu quả thì người nhà có thể đến gặp bác sĩ chuyên khoa tâm thần, kể cho bác sĩ nghe những triệu chứng, biểu hiện bệnh của bệnh nhân để có hướng chẩn đoán bệnh và kê toa thuốc điều trị. Sau đó tìm cách cho bệnh nhân uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Theo bác sĩ Hường, ở nước ngoài người ta tổ chức được những đội bác sĩ chuyên khoa đến từng nhà bệnh nhân tâm thần để động viên, thuyết phục người bệnh đến bệnh viện khám, điều trị. Tuy nhiên ở VN chưa tổ chức được như vậy mà chủ yếu vẫn là do người nhà tự tìm cách đưa bệnh nhân đi khám.

Theo tuổi trẻ

Rối loạn lo âu

Rối loạn lo âu (RLLA) có thể tác động đến mọi lứa tuổi nhưng chủ yếu từ tuổi vị thành niên trở lên và thường thấy ở nữ hơn là nam.

Người bị RLLA thường sống với tâm lý cho rằng có điều gì xấu sắp xảy ra và thường tin nó là bệnh tật trong khi thực tế lại không phải vậy.

Trong xã hội ngày nay, stress và lo âu đã trở thành một phần bình thường của cuộc sống khi chúng ta phải đương đầu với những rắc rối tài chính, cái chết của một người yêu mến hay bạn bè, sự đòi hỏi của công việc, những mối quan hệ căng thẳng hay những tình huống khó khăn khác.
Frustrated Woman at Computer With Stack of Paper
Đôi khi những cảm xúc như thế có thể giúp ích vì chúng hướng cho chúng ta có được sự nỗ lực lớn nhất hay phản ứng trong những tình huống khẩn cấp. Tuy nhiên, luôn có sự lo âu hay đột nhiên lo âu vì một lý do mơ hồ là không bình thường vì nó có thể là biểu hiện của RLLA.

Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này.

Triệu chứng gồm đau ngực, hồi hộp, cảm giác nghẹt thở, căng cơ, nhức đầu, đau lưng, co giật cơ bắp, đổ mồ hôi nhiều, hoa mắt, rối loạn tiêu hóa, khô miệng và mất ngủ. Cơn lo âu có thể khởi phát bởi caffein, rượu, đường, thiếu hụt vitamine nhóm B, thiếu Mg hay Ca, dị ứng thức ăn, một vài thuốc khác và sự truyền lactate vào máu.

Những dạng bệnh

RLLA toàn thể (GAD): GAD là dạng nhẹ nhất. Người mắc bệnh RLLA toàn thể có cảm giác khó chịu kéo dài và sự lo lắng không thực tế, đặc biệt xung quanh người khác và có xu hướng dễ dàng bị giật mình. Rối loạn này nhìn chung bắt đầu khi còn nhỏ hay mới trưởng thành và thường gặp ở nữ hơn nam. Nó cũng thường có tính gia đình.

Khó ngủ và mệt mỏi kéo dài, đau đầu, những cơn hoảng loạn thỉnh thoảng, run hay co giật, cảm giác quay cuồng, trầm cảm, đau nhức cơ bắp, bồn chồn không yên, vã mồ hôi, đau bụng, hoa mắt, khó tập trung, hồi hộp, dễ cáu gắt là tất cả những triệu chứng của GAD. Bệnh được chẩn đoán khi một người trải qua ít nhất sáu tháng lo lắng quá độ về một số vấn đề cuộc sống hàng ngày.

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD): OCD xuất hiện khi một người thấy lo lắng một hay nhiều lần tái diễn và không có thực (sự cưỡng chế) và sử dụng một vài hành vi mang tính nghi thức để cố gắng xua đi những lo lắng đó. Cứ 50 người thì có một người bị và tỉ lệ như nhau ở cả hai giới. Rối loạn này có thể bắt đầu ở bất kì lứa tuổi nào nhưng thường là vị thành niên hay giai đoạn đầu của trưởng thành. Đi kèm với OCD thường là trầm cảm, những RLLA khác, rối loạn ăn uống và vấn đề lạm dụng rượu và chất gây nghiện.

Người bị OCD biết rằng nỗi sợ của họ và những hành vi hệ quả không có ý nghĩa nhưng dù sao họ vẫn làm điều đó vì chính họ không bỏ được và vì họ hi vọng tìm thấy sự xoa dịu thông qua hành động của mình. Những bệnh nhân này sợ sự không chắc chắn và thường tìm kiếm sự an tâm từ người khác về hành vi của họ. Những sự cưỡng chế thường gặp bao gồm lau chùi kĩ lưỡng, kiểm tra đi kiểm tra lại để chắc rằng chúng an toàn, sự lặp lại, sự chậm chạp và tích trữ quá đáng.

Ám ảnh sợ: ám ảnh sợ là nỗi sợ phi lý và không cố ý về một vài điều hay tình huống nào đó. Cứ 10 người thì có hơn một người mắc 1 loại nào đó của ám ảnh sợ, chúng có xu hướng mang tính gia đình và thường bắt đầu tuổi thanh niên hay trưởng thành và nữ dễ mắc hơn nam. Trong trường hợp bị ám ảnh sợ, những cách thông thường để đối đầu với nỗi sợ không có tác dụng và người đó có thể trở nên tiều tụy bởi nhu cầu quá mức để tránh bất cứ cái gì gây ra cho họ nỗi sợ hãi mãnh liệt như thế.

Có 3 nhóm : ám ảnh sợ chuyên biệt (nỗi sợ vô lý về một vài đối tượng nào đó như nhện, đi máy bay, độ cao…), ám ảnh sợ xã hội (nỗi sợ lúng túng khó khăn trong một tình thế xã hội) và ám ảnh sợ khoảng rộng (nỗi sợ tình huống nào có thể tạo ra cơn hoảng loạn).

Rối loạn stress sau chấn thương (PTSD): PTSD xuất hiện khi một người đã từng chứng kiến hay trải qua một sang chấn (chiến tranh, cưỡng dâm, thiên tai…) không thể hồi phục hay trở về một đời sống bình thường. Rối loạn này có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào và đi kèm trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện hay lo âu.

PTSD thường bắt đầu trong vòng sáu tháng sau sang chấn (thỉnh thoảng là nhiều năm sau) và thời gian bệnh có thể thay đổi. Những người bị PTSD có thể hồi tưởng về sang chấn, bị tê dại cảm xúc và không thể tập trung vào những công việc thường ngày.

Triệu chứng có thể chia thành 3 loại chính: những cơn ác mộng và hồi tưởng về sang chấn, cô lập với gia đình và bạn bè và giận dữ bất chợt. Rối loạn này được chẩn đoán khi triệu chứng kéo dài hơn một tháng. Thường triệu chứng biến mất mà không cần điều trị, tuy nhiên trong những trường hợp trầm trọng cần phải được điều trị.

Cơn hoảng loạn: cơn hoảng loạn xuất hiện khi, do một nguyên nhân mơ hồ, cơ thể sẵn sàng đối phó với một tình huống khẩn cấp tưởng tượng. Cơ thể sản xuất adrenaline dư thừa và nhịp tim và nhịp thở tăng nhanh. Những cơn này trung bình kéo dài vài mươi phút và hiếm khi quá một giờ. Ở Hoa Kỳ, có từ 3 đến 6 triệu người mắc bệnh này, ở nữ gấp 2 lần nam và có thể bắt đầu ở bất kì tuổi nào nhưng thường là người trưởng thành còn trẻ.

Theo hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, những người bị cơn hoảng loạn có ít nhất 4 trong các triệu chứng sau: hồi hộp, tim đập thình thịch, vã mồ hôi, run rẩy, cảm giác hụt hơi, ngộp thở, đau ngực, buồn nôn hay đau bụng, hoa mắt, cảm giác quay cuồng, mất nhận thức, giải thể nhân cách, cảm giác sợ mất tự chủ hay sợ mất trí hay sợ chết… Được cho là cơn hoảng loạn khi xảy ra đột ngột và xuất hiện mỗi hai tuần hoặc nếu chỉ là cơn duy nhất thì sau đó phải là sự lo âu mơ hồ và sự căng thẳng về cơn đó kéo dài ít nhất một tháng.

Cơn hoảng loạn có thể kèm hoặc không kèm theo ám ảnh sợ khoảng rộng (nỗi sợ khi tiếp xúc đám đông và không có khả năng thoát ra được khi cơn xuất hiện). Người bị cơn hoảng loạn thường cố gắng tránh những cơn sắp tới bằng cách né tránh những nơi hay vật có thể làm khởi phát cơn bằng các trò giải trí hay tìm đến các chất gây nghiện hay rượu bia để trốn tránh nó.

Điều trị

Theo kinh điển, điều trị RLLA bao gồm sự phối hợp hóa dược và tâm lý liệu pháp.

Hóa liệu pháp: thuốc kê toa đối với những bệnh này không là sự điều trị mà chỉ giúp giảm triệu chứng. Mỗi loại thuốc đều có tác dụng phụ riêng

Tâm lý liệu pháp: có rất nhiều loại tâm lý liệu pháp khác nhau. Hành vi liệu pháp nhằm vào sự thay đổi những hành động chuyên biệt và cách sử dụng những kỹ thuật này như là thở bằng cơ hoành (chống lại sự tăng thông khí, điều thường thấy khi bị hoảng loạn).

Trong tiếp xúc liệu pháp, bệnh nhân sẽ được quen dần với điều làm họ hoảng sợ để giúp họ đương đầu với chúng. Nhận thức hành vi liệu pháp hướng dẫn bệnh nhân phản ứng theo nhiều cách khác nhau tùy tình huống gây ra cơn lo âu và hướng đến giúp đỡ họ thay đổi lối suy nghĩ. Liệu pháp nhóm và nhóm tự giúp nhau cũng tỏ ra có ích.

Theo báo sức khỏe

Tâm thần phân liệt ( Phần 3) – Cách điều trị

Khi tâm thần phân liệt không phải là tình trạng duy nhất của bệnh nhân và nguyên nhân cũng chưa được rõ thì các phương pháp điều trị gần đây đều dựa trên những nghiên cứu lâm sàng và kinh nghiệm. Người ta chọn những hướng tiếp cận trên là dựa vào cơ sở chúng có thể làm giảm và ngăn ngừa tái phát triệu chứng của tâm thần phân liệt. Nhiều phương pháp điều trị cũng như điều trị kết hợp đã và đang tìm thấy có ích lợi và đang được tiếp tục phát triển thêm.

Có thể sử dụng thuốc chống loạn tâm thần hay không?

Các thuốc chống loạn tâm thần hay còn gọi là thuốc an thần đã được sử dụng rộng rãi kể từ giữa thập niên 50. Chúng đang cải thiện đáng kể viễn cảnh của các bệnh nhân. Những loại thuốc này làm giảm các triệu chứng tâm thần của tâm thần phân liệt và thường giúp cho bệnh nhân sinh hoạt hiệu quả và thích hợp hơn. Hiện nay, thuốc an thần là phương điều trị sẵn có tốt nhất, nhưng chúng không thể chữa khỏi tâm thần phân liệt hay đảm bảo một cách chắc chắn là các triệu chứng không quay lại. Chỉ có bác sĩ có trình độ, được đào tạo chuyên khoa về các bệnh tâm thần mới có thể tính được liều lượng thuốc. Liều lượng thuốc khác nhau ở mỗi bệnh nhân vì liều lượng cần dùng để giảm triệu chứng mà không gây ra tác dụng phụ thay đổi theo từng người.

Các thuốc an thần thì rất hiệu quả trong điều trị một số triệu chứng của tâm thần phân liệt như ảo giác và ảo tưởng. Phần lớn bệnh nhân đều cho thấy có cải thiện rất lớn. Tuy nhiên, ở một vài bệnh nhân thì thuốc không giúp ích được gì nhiều và ở một số ít thì dường như không có tác dụng. Rất khó dự đoán và phân biệt những bệnh nhân nào thuộc vào hai nhóm này với phần lớn những người có đáp ứng tốt với thuốc an thần.

Đôi khi các bệnh nhân và gia đình có thể trở nên lo lắng về các thuốc an thần dùng để điều trị tâm thần phân liệt. Bên cạnh mối quan tâm về tác dụng phụ (đã đề cập rải rác trong bài) thì có những mối lo lắng rằng thuốc có thể gây nghiện. Tuy nhiên, thuốc an thần không tạo ra một tình trạng hưng phấn hay lệ thuộc thuốc như các thuốc khác.

Một quan niệm sai lầm khác về thuốc an thần là xem chúng như một dạng kiểm soát trí óc. Các thuốc an thần không điều khiển những suy nghĩ của con người; thay vào đó chúng giúp nhận biết sự khác biệt giữa các triệu chứng tâm thần và thế giới thực tại. Những thuốc này làm giảm ảo giác, kích động, lú lẫn, và ảo tưởng, cho phép người bị tâm thần phân liệt hành động lý trí hơn. Bản thân người bệnh tâm thần phân liệt dường như có thể kiểm soát được ý nghĩ và nhân cách của mình và các thuốc an thần có thể giải phóng họ khỏi các triệu chứng trên và từ đó giúp suy nghĩ rõ ràng hơn, đưa ra các quyết định tốt hơn. Trong khi một số bệnh nhân sử dụng các thuốc trên có thể có tác dụng an thần hay giảm biểu lộ cảm xúc thì các thuốc chống loạn tâm thần với liều thích hợp cho điều trị tâm thần phân liệt không phải là chất ức chế. Nếu được theo dõi kỹ, đôi khi có thể giảm liều thuốc để làm giảm tác dụng không mong muốn. Hiện nay có một xu hướng trong bệnh học tâm thần là dò và dùng liều thấp nhất cho phép bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể sinh hoạt mà không tái phát các triệu chứng loạn tâm thần.

Thời gian sử dụng các thuốc loạn tâm thần như thế nào là tốt ?

tam-than-phan-liet

Các thuốc cũng làm giảm nguy cơ tái phát các triệu chứng tâm thần ở bệnh nhân đã phục hồi. Với việc tiếp tục sử dụng thuốc, khoảng 40% bệnh nhân đã phục hồi sẽ tái phát sau hai năm xuất viện. Tuy nhiên, tỉ lệ này vẫn có ý nghĩa khi so sánh với tỉ lệ tái phát 80% ở bệnh nhân không tiếp tục dùng thuốc. Trong hầu hết trường hợp, không thể nói chắc rằng việc tiếp tục sử dụng thuốc có thể ngăn chặn tái phát; đúng hơn, nó làm giảm tần số xuất hiện. Việc điều trị các triệu chứng tâm thần nặng nhìn chung cần những liều cao hơn liều điều trị duy trì. Nếu các triệu chứng tái phát với một liều thấp hơn, tăng liều tạm thời có thể ngăn chặn nó toàn phát trở lại.

Một số bệnh nhân có thể từ chối việc sử dụng thuốc và tự ngưng thuốc hoặc theo lời khuyên của người khác. Điều này thường làm tăng nguy cơ tái phát (mặc dù các triệu chứng không tái xuất hiện ngay lập tức). Rất khó thuyết phục những bệnh nhân như vậy tiếp tục dùng thuốc, đặc biệt đối với ai lúc đấy thấy trong người khá hơn. Đối với những bệnh nhân không tin vào việc sử dụng thuốc an thần, có thể thích hợp khi dùng dạng tiêm có tác dụng lâu. Các bệnh nhân tâm thần phân liệt không nên ngưng sử dụng thuốc an thần khi chưa được tư vấn và theo dõi y khoa.

Tác dụng phụ của thuốc

Giống như hầu hết các loại thuốc khác, thuốc an thần cũng có những tác dụng không mong muốn bên cạnh các lợi điểm của chúng. Trong khoảng thời gian đầu điều trị thuốc, bệnh nhân có thể gặp các tác dụng phụ như buồn ngủ, bồn chồn, vọt bẻ, run cơ, khô miệng hoặc mờ mắt. Các triệu chứng này có thể khắc phục khi hạ liều hoặc kiểm soát bằng một số thuốc khác. Những bệnh nhân khác nhau có đáp ứng điều trị và tác dụng phụ khác nhau đối với các loại thuốc an thần. Một người có thể đáp ứng tốt hơn với một loại thuốc so với các loại khác.

Tác dụng phụ về lâu dài của các thuốc an thần có thể đưa đến nhiều vấn đề phiền toái. Rối loạn vận động chậm là một bệnh lý điển hình bởi các cử động tự phát thường ảnh huởng lên miệng, môi và lưỡi, đôi khi lên thân mình hoặc các phần khác trong cơ thể. Nhìn chung nó xảy ra ở khoảng 15%-20% bệnh nhân tâm thần phân liệt đang sử dụng thuốc an thần trong nhiều năm tuy nhiên, rối loạn vận động vẫn có thể xảy ra ở những người sử dụng thuốc trong thời gian ngắn hơn. Ở hầu hết các trường hợp thì các triệu chứng của rối loạn vận động đều nhẹ và làm cho người bệnh khó nhận biết.

Vấn đề nguy cơ cũng như lợi điểm của bất cứ phương pháp điều trị tâm thần phân liệt luôn được xem là rất quan trọng. Trong bài này, nguy cơ xảy ra rối loạn vận động vốn gây hoảng sợ như chính bản thân bệnh cần phải được cân nhắc với nguy cơ bùng nổ tái phát có thể làm cản trở mạnh những nỗ lực của bệnh nhân trong việc tái hoà nhập bản thân với trường lớp, công việc, gia đình và trong cộng đồng. Ở những bệnh nhân gặp phải chứng rối loạn vận động thì cần phải đánh giá lại việc sử dụng thuốc. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây cho thấy rối loạn vận động một khi được xem như là không thể hồi phục vẫn có thể được cải thiện thậm chí khi họ tiếp tục dùng thuốc an thần.

Vai trò của các phương pháp điều trị tâm lý xã hội

Các thuốc an thần đã được chứng minh là quan trọng trong việc làm giảm các triệu chứng tâm thần phân liệt như ảo tưởng, ảo giác và thiếu tập trung nhưng không làm giảm vĩnh viễn tất cả các triệu chứng của bệnh. Thậm chí khi đã giảm tương đối các triệu chứng tâm thần ở người tâm thần phân liệt thì nhiều người vẫn có khó khăn đáng kể trong thiết lập và duy trì các mối quan hệ xung quanh. Thêm nữa, các bệnh nhân tâm thần phân liệt dường như không thể hoàn thành đầy đủ quá trình đào tạo đối các kỹ năng công việc do họ thường bị ốm đau trong suốt quá trình học tập-học nghề ở độ tuổi lao động (từ 18 đến 35 tuổi). Do vậy, người bệnh không chỉ gặp phải những khó khăn trong suy nghĩ, cảm xúc mà còn thiếu các kỹ năng xã hội, công việc.

Điều trị tâm lý xã hội chủ yếu giúp giải quyết các vấn đề về tâm lý, xã hội và nghề nghiệp. Nhìn chung, các bước tiếp cận về tâm lý xã hội có ít giá trị trên bệnh nhân bị tâm thần cấp tính (mất khả năng thực tại hoặc chìm trong ảo giác hay ảo tưởng), nhưng có thể có ích đối với các trường hợp nhẹ hơn hoặc có triệu chứng tâm thần đang trong vòng kiểm soát. Có rất nhiều kiểu liệu pháp tâm lý xã hội dành cho người tâm thần phân liệt và hầu hết đều tập trung vào cải thiện chức năng phù hợp với xã hội cho dù là trong bệnh viện hay trong cộng đồng, tại nhà hay ở công sở. Ở đây chỉ đề cập đến một vài hướng tiếp cận này. Tuy nhiên, tính khả thi của các dạng điều trị khác nhau thay đổi rất lớn tuỳ theo nơi.

Tái hòa nhập: Theo nghĩa rộng, tái hoà nhập bao gồm nhiều bướccan thiệp không dùng thuốc trên bệnh nhân tâm thần phân liệt. Các chương trình tái hoà nhập tập trung vào huấn luyện về mặt xã hội, nghề nghiệp là hai mặt mà người bệnh cũng như người từng bị bệnh gặp nhiều khó khăn nhằm giúp họ vượt qua. Chương trình có thể bao gồm tư vấn nghề nghiệp, dạy nghề, các kỹ năng giải quyết khó khăn và quản lý tiền bạc, sử dụng các phương tiện vận chuyển công cộng và huấn luyện kỹ năng xã hội. Những hướng tiếp cận này rất quan trọng cho sự thành công của phương pháp điều trị lấy cộng đồng làm trung tâm cho người bị tâm thần phân liệt vì chúng cung cấp cho người xuất viện những kỹ năng cần thiết để làm chủ cuộc sống đầy biến động bên ngoài bốn bức tường bệnh viện.

Liệu pháp tâm lý giao tiếp: Phương pháp này bao gồm những buổi đối thoại thường xuyên giữa người bệnh với các nhà chuyên môn về sức khỏe tâm thần như bác sĩ tâm thần, bác sĩ tâm lý, nhà hoạt động xã hội về tâm thần, hoặc y tá. Các buổi nói chuyện này có thể tập trung vào các khó khăn, kinh nghiệm đã trãi qua, các suy nghĩ, cảm xúc hoặc các mối quan hệ trong quá khứ hay hiện tại. Bằng cách chia sẽ những gì đã trãi qua với một người đồng cảm, có kỹ năng cũng như nói về thế giới riêng của mình cho người khác, bệnh nhân tâm thần phân liệt có thể từ từ nhận thức nhiều hơn về chính bản thân và về các vấn đề của họ. Họ cũng có thể học cách nhận biết cái thực và cái không thực, biến chất.

Các nghiên cứu gần đây có khuynh hướng cho thấy liệu pháp nâng đỡ, giúp định hướng thực tại nhìn chung đem lại nhiều lợi ích hơn cho bệnh nhân tâm thần phân liệt ngoại trú hơn là liệu pháp tâm lý giúp phân tích tâm thần và tự định hướng bản thân. Trong một nghiên cứu rộng, những bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp tâm lý giúp định hướng thực tại, thích nghi và các kỹ năng giao tiếp nhìn chung có kết quả bằng hoặc tốt hơn những bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp thông thường, tăng cường tự định hướng bản thân.

Não bộ của trẻ dễ bị tổn thương khi tình trạng thiếu oxy xảy ra

Câu hỏi:

Con của cháu đi khám Bv nhi trung ương chẩn đoán chậm phát triển do đẻ ngạt. Cháu bé hiện giờ đã được 15 tháng tuổi nhưng chưa biết ngồi, phản xạ yếu ví dụ như lấy tay đánh gió vào mặt cháu không có phản xạ nhắm mắt.

Không biết cầm nắm đồ vật, không nhận ra Bố mẹ. Cháu còn có biểu hiện co giật nhẹ và được Bs chẩn đoán là sóng động kinh nhẹ qua đo điện não đồ.

Cháu có uống thuốc thì thấy đỡ hẳn. Nhưng mấy ngày hôm nay đang ngủ cháu có biểu hiện tỉnh dậy mắt trợn ngược khoảng 1 phút. Hiện tại gia đình rất hoang mang. Xin Bs cho 1 lời khuyên về tình trạng bệnh của cháu là như thế nào? Chân thành cám ơn Bs.

Phạm Hữu Lâm
nao-bo-cua-tre-de-bi-ton-thuong-khi-tinh-trang-thieu-oxy-xay-ra
Trả lời:

Chào bạn Lâm!

Chúng tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của bạn. Như bạn biết mô thần kinh đặc biệt là não bộ của trẻ dễ bị tổn thương, tổn thương sớm và nặng khi tình trạng thiếu oxy xảy ra. Trẻ sanh ngạt sẽ bị thiếu oxy não và tổn thương não xảy ra.

Mức độ tổn thương não tùy thuộc vào mức độ thiếu oxy và thời gian trẻ thiếu oxy. Hậu quả của tổn thương này là trẻ mất các chức năng thần kinh, trẻ chậm phát triển hoặc thậm chí không phát triển được. Đồng thời trẻ sẽ có nguy cơ rất cao mắc một số bệnh lý về thần kinh trong đó thường gặp nhất là động kinh.

Theo như bạn mô tả thì đúng là con bạn đã bị di chứng của tình trạng thiếu oxy não do sanh ngạt. Cháu bị chậm phát triển tâm thần vận động và từ lúc 6 tháng bắt đầu có cơn động kinh. Việc điều trị động kinh lúc đầu có hiệu quả và đến nay thì xuất hiện lại cơn động kinh, đây cũng là một trong những diến tiến thường gặp của nhóm bệnh lý này.

Việc cần làm bay giờ là bạn đưa cháu đến bệnh viện để các bác sĩ chỉnh lại liều thuốc loại thuốc để khống chế cơn co giật hạn chế tình trạng xấu đi. Đồng thời với điều trị động kinh là các phương pháp tâp vật lý trị liệu giúp cháu phục hồi dần. Chúc bạn nhiều kiên nhẫn

Trả lời bởi: BS.CK2.Lê Thị Khánh Vân – TK. Nội Thần Kinh

Có phải bé bị rối loạn giấc ngủ ?

Câu hỏi:

Thưa Bác sĩ

Con tôi 24,5 tháng. Cách đây 2 tuần, cháu bị sốt phát ban và Bs cho xét nghiệm máu, chẩn đoán sốt phát ban do nhiễm siêu vi, nhưng trong quá trình phát ban vẫn có lúc bé sốt nhẹ và sau 4 ngày (kể từ khi bắt đầu sốt) lúc ngủ bé hay bị giật mình nhẹ và liên tục làm cho bé ngủ không ngon ( không có sốt) .

Tôi cho bé đi khám nhiều lần ( khi ban đã hết và không sốt) Bs lại chẩn đoán bé chỉ bị rối loạn do nhiễm siêu vi, sẽ tự khỏi, cho uống calcium và magne B6 trong 5 ngày, đến nay thì bé đã hoàn toàn hết ban, đã uống hết thuốc nhưng cháu vẫn bị hiện tượng giựt nhẹ tay chân khi ngủ ( bị liên tục kể từ khi bắt đầu ngủ cho đến khi ngủ say).

Khi thức giấc thì bé hoàn toàn bình thường, vui chơi và ăn uống. Chỉ có điều là làm biếng ăn hơn 1 chút và hay cáu gắt. Tôi rất lo lắng, bé cũng không ngủ được ngon. Kính mong Bs giúp tôi nên đi khám ở chuyên khoa nào và làm sao để bé hết hiện tượng trên. Trân trọng cám ơn.
co-phai-be-bi-roi-loan-giac-ngu
Trả lời:

Bạn Vân Anh thân mến!

Ngủ là nhu cầu bắt buộc của cơ thể người, là quá trình các tế bào thần kinh trong não bị ức chế. Điều này tạo điều kiện cho các tế bào thần kinh nghỉ ngơi và phục hồi chức năng. Các quá trình ức chế trong hoạt động thần kinh cao cấp có thể là ức chế tạm thời hay thường xuyên. Ngủ là quá trình ức chế lan tỏa, khuyếch tán khắp vỏ não, sau đó xuống đến các nhân dưới vỏ, não trung gian và não giữa. Quá trình này được điều hòa bởi trung tâm ngủ của vỏ não. Nhờ sự điều hòa đó mà con người duy trì trạng thái thức ngủ và chúng ta có thể thức ngay khi có kích thích đúng mức.

Giấc ngủ bình thường có năm giai đoạn tuần tự xảy ra và lặp lại. Trên điện não sẽ biểu hiện giai đoạn ngủ sóng chậm và ngủ cử động mắt nhanh. Một số tính chất và biểu hiện trong các giai đoạn giấc ngủ cũng khác nhau. Vì thế trong giác ngủ theo chu kỳ ngày đêm đôi lúc vẫn có một số nhịp co cơ hoặc thậm chí giật cơ. Tuy nhiên các nhịp này có tần số thấp, mức độ nhẹ và thừơng không làm thức giấc, không gây ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Theo như những điều bạn đã mô tả về vấn đề liên quan đến sức khỏe của con bạn, chúng tôi nghĩ rằng con bạn đang có một số biểu hiện của rối loạn giấc ngủ. Biểu hiện giật mình, giật nhẹ tay chân trong lúc ngủ là hiện tượng cũng có thể gặp ở trẻ em. Các biểu hiện này đôi khi thoáng qua nhưng cũng đôi khi kéo dài, có thể chỉ có trong một giai đoạn của giấc ngủ nhưng cũng có khi xuất hiện trong nhiều giai đoạn của giấc ngủ.

Nguyên nhân của các cử động tứ chi từng đợt trong giấc ngủ thường không rõ, đôi khi do rối loạn chuyển hóa của một số chất điện giải hoặc một số rối loạn chức năng hệ thần kinh. Một tình trạng hiếm găp khác cũng cần chú ý đó là cơn động kinh ban đêm. Bạn nên đưa con bạn đến phòng khám khoa thần kinh để được khám và làm thêm xét nghiệm trước khi có hướng điều trị cụ thể.

Trả lời bởi: BS.CK2. Lê Thị Khánh Vân – TK.Nội Thần Kinh

Tâm thần phân liệt ( Phần 2) – Nguyên nhân gây bệnh

Tự tử là mối nguy hiểm tiềm tàng cho những người bị tâm thần phân liệt. Nếu một ai đó cố gắng tự tử hoặc biểu hiện các hành vi trên thì nên cần được sự giúp đỡ của chuyên môn ngay lập tức. Bệnh nhân tâm thần phân liệt dường như có tỉ lệ tử vong cao hơn trong cộng động. Đáng tiếc rằng việc tiên đoán khả năng tự tử của các bệnh nhân trên cực kỳ khó khăn.

Các nguyên nhân của tâm thần phân liệtb/ Bệnh không có nguyên nhân đơn độc. Dường như yếu tố di truyền gây ra cơ địa dễ bị tâm thần phân liệt, kết hợp với các yếu tố môi trường ở những cấp độ khác nhau trên những người khác nhau (sẽ phân tích sau). Giống như nhân cách con người là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố văn hoá, tâm lý, sinh học và di truyền thì sự rối loạn về nhân cách như trong tâm thần phân liệt cũng có thể là do tương tác của nhiều yếu tố. Các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất được một “công thức” đặc biệt nào cần để gây ra bệnh lý này. Không một gen đặc hiệu nào được tìm thấy; không đưa được các chứng cứ về khiếm khuyết sinh hoá; và không một yếu tố stress đặc biệt nào tự thân có thể gây ra tâm thần phân liệt.
tamthan2
Các nguyên nhân của tâm thần phân liệt

Bệnh không có nguyên nhân đơn độc. Dường như yếu tố di truyền gây ra cơ địa dễ bị tâm thần phân liệt, kết hợp với các yếu tố môi trường ở những cấp độ khác nhau trên những người khác nhau (sẽ phân tích sau). Giống như nhân cách con người là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố văn hoá, tâm lý, sinh học và di truyền thì sự rối loạn về nhân cách như trong tâm thần phân liệt cũng có thể là do tương tác của nhiều yếu tố. Các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất được một “công thức” đặc biệt nào cần để gây ra bệnh lý này. Không một gen đặc hiệu nào được tìm thấy; không đưa được các chứng cứ về khiếm khuyết sinh hoá; và không một yếu tố stress đặc biệt nào tự thân có thể gây ra tâm thần phân liệt.

Bệnh có di truyền hay không?

Từ lâu người ta đã biết tâm thần phân liệt mang tính chất gia đình. Những người có quan hệ gần với bệnh nhân tâm thần phân liệt dường như dễ mắc bệnh này hơn so với những người không có người thân bị bệnh. Ví dụ, cha mẹ bị tâm thần phân liệt thì mỗi đứa con có 10% nguy cơ bị bệnh trong khi so sánh với cộng động thì nguy cơ bị tâm thần phân liệt ở trong dân số chung chỉ khoảng 1%.

Trong vòng 25 năm qua, hai dạng nghiên cứu với mức độ phức tạp tăng dần đã chứng minh được tầm qua trọng của yếu tố di truyền trong việc mắc bệnh tâm thần phân liệt. Một nhóm nghiên cứu về sự xuất hiện của bệnh trên những trẻ sinh đôi cùng trứng và khác trứng; nhóm còn lại so sánh các gia đình có con nuôi và có con cùng huyết thống.

Những nghiên cứu gần đây đã khẳng định những phát hiện cơ bản do các nghiên cứu chưa chặt chẽ về mặt khoa học tìm thấy trước đó. Những cặp sinh đôi cùng trứng (có bộ gen giống nhau) có tỉ lệ cùng mắc bệnh tâm thần phân liệt cao hơn những cặp sinh đôi khác trứng (với bộ gen giống như hai anh chị em sinh ra thông thường). Mặc dù những nghiên cứu trên trẻ sinh đôi đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục về vai trò di truyền trong tâm thần phân liệt thì việc chỉ có 40% đến 60% trẻ sinh đôi cùng trứng cùng mắc bệnh gợi ý rằng có thể có sự liên quan của các dạng môi trường hoặc nhiều yếu tố khác.

Một nhóm lớn thứ hai bao gồm những nghiên cứu theo dõi những đứa con nuôi để khảo sát ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường. Ở Đan Mạch đã tiến hành một điều tra toàn diện về sức khỏe tâm thần ở những đứa trẻ có cha mẹ ruột bị tâm thần phân liệt được nhận làm con nuôi và đem so sánh với những con nuôi có cha mẹ ruột bình thường. Người ta cũng so sánh tỉ lệ mắc rối loạn về tâm thần giữa hai nhóm các con nuôi có cùng huyết thống, nhóm thứ nhất có tiền sử về tâm thần phân liệt và nhóm thứ hai không có. Kết quả của các nghiên cứu trên con nuôi này chỉ ra rằng tâm thần phân liệt có nguy cơ cao khi có mối liên hệ sinh học với người bị bệnh, cho dù tiếp xúc rất ít hay không tiếp xúc với người bệnh.

Các nghiên cứu trên đã cho thấy rằng tâm thần phân liệt có nền tảng là di truyền. Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng chính xác của gen vẫn cần phải được tìm hiểu thêm. Hầu hết các nhà khoa học nhất trí rằng chính đặc tính dễ mắc bệnh là yếu tố di truyền mạnh từ đó tạo điều kiện cho sự thành lập của các yếu tố dẫn đến tâm thần phân liệt. Đặc tính dễ mắc bệnh này có thể là do sự thiếu hụt enzyme hoặc một số các bất thường sinh hoá khác, một khiếm khuyết nào đó về thần kinh hoặc các yếu tố khác hay sự kết hợp của nhiều yếu tố.

Chúng ta vẫn chưa hiểu được cơ chế di truyền của gen qui định đặc tính trên và cũng không thể tiên đoán chính xác người mang gen này sẽ mắc bệnh hay không. Ở một vài người thì yếu tố gen đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh còn ở số khác thì nó không mấy quan trọng.

Bố mẹ có phải là một nguyên nhân gây bệnh?

Hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu về tâm thần phân liệt đều nhất trí rằng bố mẹ không phải là nguyên nhân gây bệnh.Trong những thập niên trước, một số bác sĩ về sức khoẻ tâm thần có một khuynh hướng đổ lỗi nguyên nhân gây bệnh ở trẻ em là do cha mẹ. Ngày nay, thái độ này nhìn chung được nhìn nhận là không chính xác mà có tác dụng ngược lại.

Các bác sĩ về sức khoẻ tâm thần nhìn chung bây giờ đang cố gắng tranh thủ sự giúp đỡ của các thành viên trong gia đình vào trong chương trình điều trị và cũng cho thấy sự thông cảm sâu sắc tới những nổi lo về gắng nặng và sự cô lập mà các gia đình đã trãi qua trong nỗ lực chăm sóc người thân bị tâm thần phân liệt.

Có sự khiếm khuyết của một chất nào đó có gây nên tâm thần phân liệt hay không?

Mặc dù người ta vẫn chưa xác định rõ ràng nhóm nguyên nhân thuộc về các chất thần kinh gây nên tâm thần phân liệt thì những kiến thức cơ bản về các chất trong não và mối liên kết của chúng với bệnh nguyên đang được mở rộng nhanh chóng. Các chất trung gian dẫn truyền thần kinh từ lâu đã được nghĩ là có liên quan đến sự tiến triển của tâm thần phân liệt.

Dường như bệnh liên quan đến một vài sự mất cân bằng giữa nhiều hệ thống các chất phức tạp và tương tác lẫn nhau trong não. Cho dù chúng ta vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng nhưng lãnh vực nghiên cứu này vẫn đang rất sôi động và nhiều lý thú.

Sự bất thường về thực thể trong não có gây ra tâm thần phân liệt hay không?

Sự phát triển của chụp cắt lớp điện toán theo trục (CT scan)-một dạng kỹ thuật chụp X-quang quan sát các các trúc sống của mô não-đã thúc đẩy các nghiên cứu thú vị về vấn đề trên. Một số nghiên cứu dựa trên kỹ thuật này gợi ý cho thấy những bệnh nhân tâm thần phân liệt hay có các cấu trúc não bất thường(ví dụ như phì đại các não thất) hơn là ở những người bình thường trong cùng độ tuổi. Cần phải nhấn mạnh rằng một số bất thường được phát hiện còn khá mơ hồ. Chúng không được xem như là đặc tính của tất cả các bệnh nhân tâm thần phân liệt cũng như không được xem là CHỈ xảy ra ở những bệnh nhân này.

Một tiến bộ khác gần đây là chụp PET. Khác với chụp CT vốn cho ra các hình ảnh về cấu trúc não, chụp PET là một cách để đo hoạt động chuyển hóa của những vùng đặc biệt trên não, bao gồm cả những vùng nằm sâu trong não. Chỉ mới có một vài nghiên cứu sơ bộ ứng dụng chụp PET vào tâm thần phân liệt nhưng kỹ thuật mới này cùng với các kỹ thuật chụp khác sẽ hứa hẹn mở ra nhiều thông tin quan trọng về cấu trúc và chức năng sống của não.

Các nghiên cứu hình ảnh đặc biệt khác làm tăng sự hiểu biết của chúng ta về tâm thần phân liệt bao gồm chụp MRI, RCBF và đo EEG bằng máy điện toán. MRI nghĩa là chụp cộng hưởng từ, một kỹ thuật đo đạc chính xác các cấu trúc não dựa trên các hiệu ứng từ trường của các chất khác nhau trong não. Kỹ thuật này đôi khi được gọi là chụp cộng hưởng từ hạt nhân( MRI). Còn trong RCBF- lưu thông máu não từng vùng-bệnh nhân được hít một loại khí có hoạt tính phóng xạ và tỉ lệ biến mất của chất này ở những vị trí khác nhau trên não cung cấp thông tin một cách tương đối về hoạt động của các vùng não trong nhiều hoạt động tâm thần khác nhau. Đo điện não đồ (EEG) bằng máy điện toán là một loại xét nghiệm sóng não ghi nhận các đáp ứng về điện của não trước những kích thích khác nhau. Tất cả những kỹ thuật hình ảnh này đều đang được sử dụng trong nghiên cứu và không phải là một phương thức điều trị mới.

Theo báo sức khỏe

Con dễ bị tự kỷ khi có cha lớn tuổi

cah_lon_tui_con_Tu_ky

Nghiên cứu của nhóm chuyên gia tâm thần học của Anh, Úc và Thụy Điển mới được công bố trên tạp chí của Hội Y Khoa Mỹ JAMA cho thấy đàn ông có con muộn thì con, cháu dễ bị tự kỷ hơn những người có con sớm.

Nhóm nghiên cứu phân tích số liệu y tế quốc gia Thụy Điển, xem xét 5.936 trường hợp tự kỷ và đối chiếu với 30.932 người bình thường. Họ phát hiện những người đàn ông có con gái lúc hơn 50 tuổi dễ có cháu ngoại bị bệnh tự kỷ cao hơn 1,79% và có con trai lúc hơn 50 tuổi dễ có cháu nội bị bệnh tự kỷ cao hơn 1,67% so với đàn ông có con trong khoảng từ 20 đến 24 tuổi.

Đồng tác giả nghiên cứu Emma Frans tại Viện Karolinska ở Thụy Điển cho biết: “Những nghiên cứu trước đây cho chúng ta biết rằng con của những người cha cao tuổi dễ có nguy cơ bị tự kỷ. Nghiên cứu này đi xa hơn khi phát hiện yếu tố nguy cơ đó còn tồn tại qua vài thế hệ”.

Các nhà khoa học cho rằng mối liên hệ giữa việc người cha có con muộn và bệnh tự kỷ ở đời con và cháu chưa được khẳng định rõ nhưng điều đó có thể được giải thích là do những biến đổi diễn ra trong tế bào tinh trùng qua thời gian dài.

Theo 24h

Cậu bé người Mỹ bị động kinh 100 trăm lần mỗi ngày

Ngày 13/3, Tờ Fox News đăng câu chuyện cảm động của một người cha người Mỹ kể về cậu bé từng lên cơn động kinh 100 lần/ ngày nhưng đã thoát khỏi “lưỡi hái thần chết” nhờ sự dũng cảm của con và niềm tin của cha mẹ.

Spike Parrent (6 tuổi) bất ngờ lên cơn động kinh từ năm 4 tuổi (1-2011) và vài tháng sau, số lần động kinh trong ngày của cậu bé đã tăng lên đến con số 100. Gia đình phải cử người túc trực bên Spike trong thời gian dài và mới đây, các bác sĩ buộc phải mổ bỏ vùng não gây ra động kinh để cứu sống bệnh nhi này.

cau_bi_dong_kinh_100_lan_1_ngay_01

Spike Parrent bên cha

Tâm sự với tờ Daily Mail, ông Tom Parrent – cha bé Spike – cho biết vài năm trước Spike là cậu bé vui vẻ, khỏe mạnh. Một ngày nọ, Spike nói rằng em mệt mỏi cần đi nghỉ, sau đó người cha tìm thấy con trong tình trạng co giật, mắt trắng dã, sùi bọt mép.

Thoạt đầu, các bác sĩ cho rằng bé co giật là do sốt cao gây ra (thường gặp ở 5% trẻ em) nên kê thuốc và cho về nhà nhưng vài giờ sau, bệnh tình Spike lại tái phát. Em được chẩn đoán bị bệnh động kinh, một chứng rối loạn mãn tính khiến người bệnh thường xuyên lên cơn co giật.

Chỉ riêng tháng 2-2011, cậu bé bị động kinh thường xuyên hơn với 100 cơn co giật mỗi ngày và liên tục cấp cứu tại Trung tâm Y tế Đại học Duke (Mỹ). Lúc đó, ba mẹ Spike chỉ biết ôm con vào lòng và trò chuyện để cậu bé quên đi cơn đau đớn.

cau_bi_dong_kinh_100_lan_1_ngay_02

Spike chơi đùa và sinh hoạt như những đứa trẻ bình thường sau phẫu thuật

Tuy mang bệnh tật nhưng Spike vẫn luôn chiến đấu và giữ thái độ lạc quan trong suốt quá trình chữa trị. Sau khi điều trị động kinh bằng thuốc không thành công, cha mẹ Spike cho con thực hiện chế độ ăn kiêng ketogenic tiêu thụ nhiều protein và mỡ được chứng minh là có hiệu quả với người mắc bệnh này.

Phương pháp ăn kiêng mang lại hiệu quả chưa được bao lâu thì bệnh cũ lại tái phát, cha mẹ Spike lại mang em tới Bệnh viện động kinh Cleavland. Tại đây, các bác sĩ đề nghị phẫu thuật não loại bỏ thùy trán bệnh nhi để ngăn chặn các cơn động kinh.

Tháng 9/2011, Spike được phẫu thuật và từ đó đến nay các cơn co giật không trở lại nữa. Cha mẹ Spike đang tiến hành các bài tập vật lý trị liệu cho em, đồng thời luyện tập thêm kỹ năng đọc, viết cho con trai.

Hiện tại, ông Tom Parrent – cha của bệnh nhi Spike đang ra sức giúp đỡ những bậc cha mẹ có con mắc bệnh tương tự, ông khuyên họ nên tìm đến bác sĩ để điều trị và đừng bao giờ từ bỏ hy vọng.

Theo 24h

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Nếu như trước đây, bệnh nhân đến bệnh viện Tâm thần TP.HCM khám và điều trị chủ yếu là thể tâm thần phân liệt và động kinh, còn những biểu hiện của stress, trầm cảm, suy nhược thần kinh… không nhiều, thì hiện nay các bệnh này đã ngày một nhiều hơn.

Các nghiên cứu từ Hong Kong, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á cho thấy, mất mát trầm trọng về tài chính, đặc biệt là mất việc làm dễ dẫn đến gia tăng bệnh tâm thần hoặc tự tử. Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, càng có nhiều người già không nơi nương tựa, bị bỏ quên, trẻ em phải đương đầu sớm với những khó khăn trong học tập, khả năng hoà nhập kém… cũng là những yếu tố dẫn đến rối loạn lo âu, trầm cảm và nhiều hệ luỵ khác.

Dấu hiệu bất thường

Sau đây là một số ít gợi ý về các biểu hiện bất thường trong hoạt động tâm thần hay gặp nhất:

Đối với bệnh tâm thần phân liệt: tự nhiên không muốn tiếp xúc, tự tách mình với mọi người và người thân, sao nhãng công việc, kể cả vệ sinh bản thân. Đôi lúc nói lầm thầm một cách bí ẩn hoặc khoe khoang, cự cãi những điều phi lý không có trong thực tế…

Đối với bệnh trầm cảm

Có biểu hiện stress không vượt qua được, rồi lo lắng những điều nhỏ nhặt mà trước đó có thể cho qua, khó ngủ, hay giật mình, thối chí, khó tập trung hoàn thành công việc, không ham muốn, lặng lẽ thở dài như than thân trách phận… Đây là những biểu hiện rất nguy hiểm. Đáng tiếc, vì công ăn việc làm, nhiều bệnh nhân trầm cảm cố gắng che giấu tình trạng bệnh của mình, chỉ đi khám khi đã quá nặng, nên phải tốn nhiều tiền và thời gian điều trị hơn.

benh_tam_than

Có biểu hiện stress không vượt qua được là dấu hiệu của bệnh tâm thần

Trẻ già đều có thể bị

Thanh thiếu niên ngày nay cũng chịu nhiều áp lực nên có thể bị stress nhiều hơn và cũng bị trầm cảm như người lớn, nhưng cách thể hiện ra ngoài có khác đôi chút. Đó có thể là sinh hoạt thất thường, tự cư xử với bản thân đôi khi quá đáng, tự buông trôi hay ghét những gì trước kia là sở thích. Tất nhiên là học hành giảm sút, thầy cô phàn nàn… Lưu ý, nhiều bất thường trong hoạt động tâm thần ở thanh thiếu niên xuất phát từ gia đình. Có thể do phụ huynh chưa dành nhiều thời gian tìm hiểu kiến thức tâm sinh lý lứa tuổi con mình, do bận rộn làm việc để có nhiều tiền hơn cho cuộc sống hiện đại.

Còn ở người già, dễ thấy nhất là bắt đầu quên chỗ để đồ đạc của mình, quên lối đi, quên những điều con cháu nhắc nhở, thích nói chuyện ngày xưa, ăn cơm rồi mà nói chưa… Có người thì nét mặt ngơ ngơ, ngược lại có người hay nghi ngờ bị trộm tiền, thậm chí ghen ghét vô cớ, giận dỗi…

Điều trị: sớm dễ trễ khó

Điều trị bệnh tâm thần rất khó vì người bệnh ít tuân thủ uống thuốc, lại đòi hỏi điều trị thời gian dài nên chi phí nhiều. Cách điều trị tâm thần hiện đại là điều trị ngoại trú, phối hợp với nhiều biện pháp khác như dùng thuốc đặc trị, liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng, hoà nhập từ chính trong gia đình người bệnh tới khu dân cư, cộng đồng… Hiện đã có hầu như đủ các loại thuốc đặc trị đối với các loại bệnh tâm thần thường gặp, nếu được chẩn đoán và dùng đúng thuốc sớm, người bệnh có thể hồi phục. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh của mình và tuỳ tiện dùng các loại thuốc điều trị trầm cảm, stress… khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa.

Bệnh nhân tâm thần rất cần sự hỗ trợ, cảm thông từ cộng đồng. Do đó, nếu trong cuộc sống chúng ta gặp những biểu hiện như trên từ người thân, bạn bè hay đồng nghiệp… thì hãy cùng sẻ chia, tâm sự… để giúp họ giải toả cảm xúc. Xua tan muộn phiền, mệt mỏi cũng là một cách giảm bớt những triệu chứng về bệnh tâm thần trong nhịp sống hối hả của thời đại. Càng kỳ thị, càng phân biệt đối xử với người bệnh tâm thần thì chi phí chữa trị càng lớn.

Ngoài ra, gần đây nhiều người áp dụng các phương pháp phản khoa học để điều trị, cách này không những tốn công sức, tiền của mà còn tác hại rất lớn đến sức khoẻ, làm tình trạng bệnh nặng thêm.

Theo 24h

Đẩy lùi nguy cơ trầm cảm khi mang thai bằng tập Yoga

Cứ 5 thai phụ thì có 1 người bị trầm cảm nặng trong thai kỳ, nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy yoga có thể có lợi cho những thai phụ này.

Theo một nghiên cứu của Trường đại học Michigan, những thai phụ được xác định là có nguy cơ cao bị bệnh tâm thần và tham gia vào chương trình can thiệp yoga đã giảm rõ rệt các triệu chứng trầm cảm.

day_lui_nguy_co_tram_cam_khi_mang_thai_bang_tap_yoga

Tác giả nghiên cứu, giáo sư tâm thần học Maria Muzik, cho biết “Chúng ta biết rằng phụ nữ có thai tập yoga để giảm căng thẳng nhưng chưa có dữ liệu về hiệu quả của phương pháp này”. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng đầu tiên có triển vọng về việc yoga có thể là liệu pháp thay thế hiệu quả cho phác đồ thuốc ở thai phụ có các dấu hiệu trầm cảm. Liệu pháp này thúc đẩy sức khỏe của cả mẹ và thai nhi.

Các rối loạn tâm thần trong thai kỳ, bao gồm trầm cảm và lo âu, có thể trở thành một vấn đề sức khỏe trầm trọng. Những thay đổi hóc-môn, bẩm tố di truyền và các yếu tố xã hội trong giai đoạn này khiến một số thai phụ cáu kỉnh kéo dài, cảm giác bị lấn át và không có khả năng đối phó với căng thẳng. Nếu không điều trị, các triệu chứng này mang lại các nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng cho cả mẹ và thai nhi, bao gồm tăng cân ít, tiền sản giật, đẻ non và ít gắn bó với đứa con.

Muzik cho rằng trong khi thuốc chống trầm cảm được chứng minh là điều trị hiệu quả cho những rối loạn tâm thần này, các nghiên cứu trước cho thấy nhiều thai phụ không muốn dùng thuốc vì lo ngại cho sự an toàn của đứa bé.

Trong nghiên cứu này, những phụ nữ có dấu hiệu trầm cảm và có thai 12-26 tuần đã tham gia các buổi tập yoga 90 phút, tập trung vào điệu bộ cơ thể thai phụ cũng như hỗ trợ nhận thức về cách mà cơ thể họ thay đổi để giúp thai nhi phát triển.

Theo SKĐS/ Theo TPO