Tag Archives: bệnh tâm lý

Các thuốc trị rối loạn lo âu

Rối loạn lo âu (RLLA) là một trong những rối loạn tâm thần, vì nguyên nhân chưa được biết rõ nên việc điều trị bệnh còn gặp nhiều khó khăn. Các biện pháp điều trị hiện nay bao gồm kết hợp tâm lý liệu pháp và dùng thuốc.

Rối loạn lo âu gây những hậu quả nặng nề hơn, nó có thể làm người bệnh bị trầm cảm; lạm dụng chất gây nghiện; mất ngủ; những vấn đề về dạ dày ruột; nhức đầu; nghiến răng. Do đó cần được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Điều trị RLLA bao gồm dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp với tâm lý liệu pháp. Cần phải điều trị thử bằng nhiều loại thuốc trước khi tìm được loại phù hợp nhất cho bệnh nhân.

cac-thuoc-tri-roi-loan-lo-au

Có nhiều loại thuốc để giảm bớt triệu chứng của RLLA

Các thuốc chống lo âu: Benzodiazepines là những thuốc an thần có ưu điểm làm giảm bớt lo âu trong vòng 30 – 90 phút. Nhược điểm của chúng là gây lệ thuộc thuốc nếu dùng quá vài tuần. Do đó, bác sĩ chỉ dùng thuốc này trong thời gian ngắn để giúp bạn vượt qua giai đoạn đặc biệt căng thẳng. Các thuốc thường dùng nhất gồm: alprazolam (xanax), chlordiazepoxide (librium), clonazepam (klonopin), diazepam (valium) và lorazepam (ativan). Những thuốc này có thể gây lảo đảo, choáng váng và mất phối hợp vận động. Dùng liều cao và trong thời gian dài có thể gây rối loạn trí nhớ. Không được lái xe và vận hành máy móc khi đang uống thuốc.
Buspirone (BuSpar) là một loại thuốc khác thường dùng để điều trị RLLA. Thuốc này phải mất vài tuần mới cải thiện được các triệu chứng, tuy nhiên ưu điểm của nó là không gây lệ thuộc thuốc. Tác dụng phụ thường gặp của buspirone là cảm giác lâng lâng trong một thời gian ngắn xảy ra sau khi dùng thuốc. Những tác dụng phụ ít gặp hơn là nhức đầu, buồn nôn, cảm giác bồn chồn và mất ngủ.

Thuốc chống trầm cảm: Các thuốc này ảnh hưởng đến hoạt động của một số chất dẫn truyền thần kinh được xem là có vai trò trong hình thành RLLA. Các thuốc chống trầm cảm thường dùng điều trị RLLA gồm: fluoxetine (prozac), paroxetine (paxil), imipramine (tofranil), venlafaxine (effexor), escitalopram (lexapro) và duloxetine (cymbalta).

Dù dùng thuốc chống lo âu, thuốc chống trầm cảm hoặc cả hai, bác sĩ cần điều trị thử vài thứ thuốc trước khi chọn được một loại thích hợp và ít tác dụng phụ nhất cho bạn. Bạn không được tự ý mua và sử dụng thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ.

Cũng cần lưu ý rằng một số thuốc không tác dụng ngay, đặc biệt các thuốc chống trầm cảm. Cần phải mất vài tuần để cải thiện hoàn toàn các triệu chứng lo âu. Tâm lý liệu pháp hoặc các kỹ năng đối phó lành mạnh (healthy coping skills) sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn chuyển tiếp này.

Tâm lý liệu pháp

cac-thuoc-tri-roi-loan-lo-au1
Còn gọi là điều trị qua đối thoại và tư vấn. Tâm lý liệu pháp cần được sự giúp đỡ của bác sĩ chuyên khoa tâm thần qua sự lắng nghe và trao đổi.

Có bằng chứng cho thấy việc điều trị bằng phương pháp nhận thức ứng xử (cognitive behavior therapy) có thể cải thiện các triệu chứng của RLLA. Điều trị bằng nhận thức ứng xử giúp bạn phân biệt giữa những niềm tin và cung cách ứng xử không lành mạnh, tiêu cực với những niềm tin đúng đắn và cung cách ứng xử tích cực. Nó dựa trên cơ sở là những ý nghĩ của bạn chứ không phải là người khác và những tình huống sẽ xác định cách bạn sẽ ứng xử ra sao. Ngay cả khi một tình huống bạn không mong muốn vẫn cứ tồn tại, bạn vẫn có thể thay đổi suy nghĩ của mình và ứng xử sao cho tích cực. Phương pháp điều trị nhận thức ứng xử thường được dùng trong một đợt ngắn hạn, nó nhấn mạnh đến việc học hỏi để hình thành và phát triển khả năng làm chủ tư duy và cảm xúc của bạn.

Việc điều trị RLLA hoặc bất kỳ bệnh lý tâm thần nào khác cần phải thích ứng với từng trường hợp. Không có một chế độ điều trị kiểu mẫu nào có thể áp dụng cho toàn bộ bệnh nhân. Chủ yếu là điều trị ngoại trú, nhưng có một số trường hợp nặng cần phải nhập viện.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cần phải chữa tận gốc bệnh thần kinh ngoại biên

Mỗi khi chân tay có triệu chứng tê mỏi, khó chịu nhất là vào ban đêm mùa lạnh, thời tiết thay đổi đó là căn bệnh viêm thần kinh ngoại biên. Cách tốt nhất là người bệnh nên đến bệnh viện (BV) để khám kịp thời nhằm tìm ra phương thuốc điều trị hữu hiệu nhất.

Bệnh phải chữa tận gốc

Trước đây, anh Nguyễn Văn Hưng (phường Trường Thọ, Q.Thủ Đức, TP.HCM) là một người rất ít khi bệnh vặt. Thế nhưng, vừa bước qua tuổi 50 anh bắt đầu mệt mỏi với chứng bệnh tê tay tê chân của mình.

Mỗi lần gặp bạn bè anh than: “Lúc đầu hai chân tôi có biểu hiện đau râm ran tuy không thật sự nhức mỏi. Nhưng càng lâu ngày đôi chân của tôi cứ tê buốt nhất là vào thời gian nửa đêm về sáng”. Công việc bận rộn không có thời gian đi BV nên anh thường điều trị bệnh tại nhà. “Mỗi khi đi mưa về hai chân tôi lạnh ngắt, phải lấy dầu gió xoa thật nóng mới mất cảm giác tê buốt”. Do trị bệnh đằng ngọn chứ chưa chữa tận gốc nên đôi chân của anh Hưng vẫn chưa có chiều hướng chuyển biến tốt hơn.

can-phai-chua-tan-goc-benh-than-kinh-ngoai-bien

Sau khi anh Hưng đi khám bệnh, BS. Trần Lâm Cường (Phòng khám BV Nhân dân Gia Định, TP.HCM) kết luận: “Đây là triệu chứng của bệnh viêm thần kinh ngoại biên – G61”. Theo BS. Cường, hệ thần kinh ngoại biên bao gồm tất cả các dây thần kinh không nằm trong não và tủy sống. Hệ thần kinh ngoại biên bị suy yếu sẽ gây rối loạn quá trình trao đổi thông tin giữa não, da, cơ, mạch máu và cả nội tạng gây ra biến chứng đau râm ran và tê mỏi. Những triệu chứng này thường gây khó chịu đối với người mắc bệnh”. Không chỉ đau tê mỏi mà nhiều khi người bệnh có cảm giác như có kiến bò, mất cảm giác trong người. Nếu suy viêm ở mức độ nhẹ thì bệnh nhân không có cảm giác gì, nhưng khi đã bị nặng kéo dài thời gian không chữa trị thì có triệu chứng mỏi cơ dai dẳng thường gây ảnh hưởng nhiều đến giấc ngủ trong một thời gian dài.

Nguyên nhân thường gặp nhất ở những người mắc bệnh tiểu đường, có chỉ số đường huyết cao trên mức cho phép. Đó là chưa nói đến một số bệnh lý khác như người nhiễm HIV, thiếu vitamin, bệnh gan thận và cả suy giáp. Riêng trường hợp của anh Hưng sau lần khám thứ hai, BS. Nguyễn Đỗ Thứ (BV Nhân dân Gia Định) chẩn đoán là do tổn thương một dây thần kinh trong cơ thể và do bị chèn ép nên thần kinh ngoại biên bị viêm. Để xác định chính xác bệnh, các BS thường chỉ định bệnh nhân xét nghiệm máu để đánh giá nồng độ vitamin B12, phân tích nước tiểu, đặc biệt là xét nghiệm chức năng tuyến giáp và điện cơ. Nếu điều trị đúng thì BS sẽ tìm ra được căn nguyên gây ra bệnh và sửa chữa tổn thương dây thần kinh kịp thời. Có như vậy mới giảm nhẹ được triệu chứng cho bệnh nhân.

Kiên trì châm cứu

Do biến chứng tiểu đường và tuổi cao sức yếu nên bà Trần Thị Ngà (63 tuổi ngụ ở Nhơn Trạch, Đồng Nai) bị nhức mỏi tay chân – một triệu chứng thường gặp của viêm dây thần kinh ngoại biên. Ngoài uống hai loại thuốc điều trị bệnh đường huyết, bà Hà còn được BS BV Đồng Nai chỉ định châm cứu điện trong 2 tuần. Sau khi đường huyết ổn định và dây thần kinh ngoại biên không bị chèn ép thì chứng nhức mỏi tê buốt hai chân của bà cũng giảm dần phải sau nửa năm điều trị căn bệnh viêm dây thần kinh ngoại biên của bà mới dứt hẳn.

Theo khuyến cáo của các BS, cách phòng bệnh tốt nhất là ăn uống lành mạnh, giảm thức ăn nhiều đường như bánh kẹo, tăng cường các loại rau xanh hoa trái, các thực phẩm giàu vitamin B12… Nhưng điều quan trọng nhất là phải điều trị kịp thời những chứng bệnh khác làm suy yếu dây thần kinh ngoại biên như đã nói ở trên. Bệnh này nếu kiên trì chữa trị bằng vật lý trị liệu, châm cứu cũng sẽ có chiều hướng tốt.

Nguồn phòng khám

Tự kỷ có thể bắt nguồn từ trong bụng mẹ

Mới đây, các nhà khoa học Mỹ vừa lên tiếng cho biết họ có bằng chứng mới nhất khẳng định rằng, bệnh tự kỷ phát triển từ đầu thai kỳ. Những phát hiện của những nhà khoa học này cho thẩy rằng sự phát triển sớm của võ não bộ – cấu trúc lớp ngoài cùng của mô thần kinh đã bị phá vỡ ở trẻ mắc chứng tự kỷ.

Theo đó, các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Trường Dược San Diego và Viện Khoa học Não Allen đã phân tích 25 gen trong mô não của những em bé đã chết. Một số bé trong số này bị bệnh tử kỷ, số còn lại thì không. Những mẫu gen này là chỉ dấu sinh học đối với các loại tế bào não trong các lớp khác nhau của vỏ não, mặt khác, chúng còn liên quan đến bệnh tự kỷ và một số gen kiểm soát.

Tiến sĩ Eric Courchesne, giáo sư thần kinh học đồng thời là Giám đốc Trung tâm Tự kỷ Excellence của Đại học San Diego cho biết: “Sự hình thành não bộ của trẻ trong suốt thai kỳ liên quan đến việc tạo ra một vỏ có chứa 6 lớp. Chúng tôi đã phát hiện ra các bản vá lỗi trọng tâm của sự phát triển bị gián đoạn trong các lớp vỏ não ở phần lớn các trẻ em mắc chứng tự kỷ”.

tu-ky-co-the-bat-nguon-tu-trong-bung-me1

Quá trình phát triển não lúc ban đầu, mỗi lớp vỏ não phát triển loại từng loại hình tế bào não cụ thể của riêng mình, mỗi mô cụ thể của kết nối não thực hiện vai trò duy nhất trong xử lý thông tin. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy trong não bộ của trẻ tự kỷ, đánh dấu di truyền quan trọng đã vắng mặt trong các tế bào não nhiều lớp.

Tiến sĩ Courchesne giải thích: “Khiếm khuyết này chỉ ra rằng bước phát triển đầu quan trọng của việc tạo ra 6 lớp riêng biệt với các loại tế bào não cụ thể, được hình thành trước khi sinh đã bị phá vỡ”. Các vùng não bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các vá lỗi đầu mối của các dấu hiệu gen vắng mặt là trán và vỏ thái dương, có thể chiếu sáng tại sao hệ thống chức năng khác nhau được tác động giữa các cá nhân với các rối loạn.

tu-ky-co-the-bat-nguon-tu-trong-bung-me

Cụ thể, vỏ não phía trước có liên quan đến chức năng não cao hơn, chẳng hạn như hiểu được thông tin liên lạc phức tạp và các tín hiệu xã hội. Võ não thái dương có liên quan đến ngôn ngữ.

Tiến sĩ Lein cho hay: “Thực tế chúng tôi có thể tìm thấy các bản vá lỗi là điều vô cùng ấn tượng, bởi coi như vỏ não là bề mặt thô nhám có kích cỡ của một quả bóng rổ và chúng tôi chỉ kiểm tra phần mô kích thước của một cục tẩy bút chì. Điều này cho thấy những bất thường khá phổ biến trên bề mặt của vỏ não”.

Các nhà nghiên cứu cũng cho biết nghiên cứu nguồn gốc của chứng tự kỷ là một thách thức bởi nó thường dựa vào nghiên cứu não bộ người trưởng thành và cố gắng ngoại suy. Vì thế, nghiên cứu bệnh tự kỷ và kiểm soát ở trẻ sẽ có cái nhìn độc đáo về cách bệnh tự kỷ này phát triển trong não bộ như thế nào. Và việc phát hiện những khiếm khuyết xảy ra trong các bản vá lỗi chứ không phải trên toàn bộ vỏ não tạo nên niềm hy vọng cũng như cái nhìn sâu sắc về bản chất của tự kỷ.

Cũng trong nghiên cứu được xuất bản của tạp chí New England Jornal Medicine, các nhà khoa học cho hay các khuyết tật chắp vá như vậy có thể giúp giải thích tại sao nhiều trẻ tự kỷ cho thấy sự cải thiện lâm sàng khi được điều trị sớm và chấm dứt theo thời gian. Những phát hiện này hỗ trợ ý tưởng rằng trẻ mắc chứng tự kỷ thì não bộ đôi khi có thể mắc lại dây điện nối bị phá vỡ trước đố , nâng cao hy vọng rằng sự hiểu biết các bản vá lỗi này cuối cùng có thể mở ra một hướng mới để khám phá làm thế nào để cải thiện chúng.

Nguồn afamily

Tự mình đánh tan stress

Mùa hè với cái nóng oi bức sẽ khiến chúng ta luôn cảm thấy mệt mỏi và stress cũng dễ bề tấn công. Chúng tôi sẽ bật mí giúp bạn cách tự mình giải tỏa stress để đón mùa hè với tậm trạng tuyệt vời hơn.

Bạn hãy dựa vào chính những giác quan của mình vì nguồn cơn của những stress cũng bắt nguồn từ sự cảm nhận của bạn.

Nghe những bản nhạc êm ái

tu-minh-danh-tan-stress

Hãy để cho đôi tai của mình được nghe những bản nhạc mà bạn yêu thích thông qua vật bất li thân – chiếc điện thoại có cắm tai phone để có thể thư giãn cùng những bản nhạc êm dịu ở ngay nơi bàn làm việc hoặc tại nhà. Hãy nghe những ca khúc, chương trình làm bạn cảm thấy vui vẻ.

Nhìn ngắm những khung cảnh yên bình, dễ chịu

Không nên ngồi lì trong phòng làm việc hay ở lì trong nhà mà hãy ra hành lang hay di chuyển đến những nơi có thể phóng tầm mắt của mình đến những nơi đẹp đẽ, quyến rũ và dễ chịu. Trong phòng ngủ hay ở cơ quan có thể treo một bức tranh phong cảnh nơi có thể cho bạn cảm thấy bình yên hoặc gợi nhớ cho bạn về những khoảng thời gian bạn đã rất hạnh phúc, hay ảnh “thiên thần bé nhỏ – kết tình từ tình yêu của bạn đang cười rạng rỡ…

Nhờ chồng/vợ massage

tu-minh-danh-tan-stress1

Bàn tay của người khác giới nhất lại là người mà mình yêu quý, vợ/chồng massage lên cơ thể vì trong thời điểm đó stress sẽ không còn đất sống. Việc mặc những bộ quần áo mềm mại, thoáng mát và dễ chịu, chân đi xăng-đan đế thấp rộng rãi, êm ái sẽ khiến bạn cảm thấy thư thái hơn.

Lưỡi đảo những món ngon mà mình thích

Điều này không có nghĩa là liên tục đánh chén để tạo cơ hội cho lưỡi đảo thức ăn để giải stress. Vì thực tế mùi vị, bố cục và nhiệt độ của thức ăn và nước uống đã được chứng minh là có tác dụng trong việc giảm stress nên khi ăn uống bạn thích, tất nhiên món đó phải có lợi cho sức khỏe. Đường, cà phê là những thức ăn kích thích stress vì vậy không nên dung nạp đồ uống này khi tâm trạng chưa tốt. Đồ uống tốt lúc này là trà thảo mộc và sữa nóng có thể giúp bạn thư giãn.

Ngửi mùi dầu thơm, nước hoa mình yêu thích

tu-minh-danh-tan-stress2

Mùi hương mình yêu thích sẽ là phương thuốc rất hữu hiệu trong việc giảm stress đây cũng chính là lý do vì sao người ta có thể chữa bệnh bằng xoa bóp dầu thơm. Một chút dầu thơm lên thái dương, thắp những ngọn nến thơm hoặc xức loại nước hoa bạn thích… rồi đắm chìm trong đó sẽ cho bạn những cảm giác tuyệt vời.

Theo giadinh.net

Điều trị suy nhược thần kinh

Cuộc sống căng thẳng và làm việc trí óc quá sức là nguyên nhân dẫn tới tình trạng hiện nay nhiều người mắc chứng suy nhược thần kinh. Đây là trạng thái rối loạn chức năng của hệ thần kinh trung ương. Người bệnh thường có biểu hiện đau đầu, ù tai, mắt mờ, mất ngủ, hay mơ, không tập trung, trí lực kém, tinh thần mệt mỏi, tâm thần bất an, thậm chí nam giới có thể di tinh, xuất tinh sớm.

Các món ăn thuốc hỗ trợ

Canh thịt lợn hàu biển: thịt hàu tươi 150g, thịt lợn nạc 150g, bột gia vị vừa đủ. Thịt lợn rửa sạch thái miếng cho vào nồi cùng với hàu, nước vừa đủ nấu canh; thịt chín cho gia vị là được. Chia ăn tùy ý trong ngày. Công hiệu: dưỡng tâm huyết, suy nhược thần kinh, đêm ngủ không ngon, hồi hộp.

dieu-tri-suy-nhuoc-than-kinh

Canh thịt lợn, sò khô: sò khô 40g, thịt lợn nạc 200g, bột gia vị vừa đủ. Thịt rửa sạch thái miếng, sò khô rửa sạch ngâm một lúc rồi cho cả vào nồi nấu canh, thịt chín cho gia vị là được. Ăn trong bữa cơm. Công hiệu: bổ âm, bổ thận chữa thận hư, thần kinh suy nhược, tâm phiền, mất ngủ, hay mơ, tiểu đêm nhiều.

Canh lươn, gà: thịt lươn đã luộc thái chỉ 50g, thịt gà xé 50g, trứng gà 1 quả, mì sợi 10g, rượu, gừng, hành, tiêu bột, xì dầu, nước luộc gà, nước luộc lươn, dầu vừng, muối, bột ngọt, tinh bột ướt vừa đủ.

Bắc chảo lên bếp, đổ nước luộc gà và nước luộc lươn mỗi thứ 1 bát, đun sôi cho thịt gà, thịt lươn, mì sợi, xì dầu, gừng, hành muối, đun sôi lại, cho trứng vào khuấy đều, một lúc cho tiếp tinh bột vào, đun sôi là được; múc ra bát, rắc dầu vừng, hạt tiêu, bột ngọt. Ăn kèm trong bữa cơm.

Công hiệu: bổ khí, thông huyết mạch, lợi gân cốt, trị huyết hư, suy nhược thần kinh, hồi hộp váng đầu, xương khớp đau, phong thấp.

Nước hành, táo: hành củ 7 cây, táo tàu 20 quả. Táo rửa sạch ngâm nở, hành rửa sạch, cho vào nồi, nước vừa đủ, đun to lửa 20 phút, cho hành vào đun thêm 10 phút là được. Chia ăn tùy ý trong ngày. Công hiệu: an tâm thần ích tâm trí, chữa thần kinh suy nhược, mất ngủ, nhiều mộng, giảm trí nhớ.

Nước tiểu mạch, cam thảo, táo tàu: tiểu mạch 60g, cam thảo 6g, táo tàu 30g. Tiểu mạch xát vỏ, táo ngâm nở, bỏ hạt, cho vào nồi cùng cam thảo, đổ nước vừa đủ đun to lửa tới sôi chuyển đun nhỏ lửa khoảng 60 phút, gạn lấy nước lần thứ nhất, lại đun lấy nước lần hai; gộp hai nước lại, chia uống trong ngày. Công hiệu: bổ dưỡng tâm can, an thần định chí, chữa tâm can hư suy, tinh thần hoảng hốt, ngủ không ngon, buồn chán.

Ngoài ra, cần kết hợp với phương pháp xoa bóp ấn huyệt, cụ thể: hằng ngày nên tiến hành xoa bóp các huyệt

Rối loạn tâm thần ở tuổi thành niên

Trong một xã hội đang hiện đại hoá với nhịp sống tăng nhanh đã gây ra những áp lực quá lớn khiến cho trẻ gặp vấn đề về sức khỏe tinh thần ngày càng nhiều…

Tại Viện Sức khỏe tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội mới đầu giờ sáng đã có khá nhiều người đến khám, trong số đó, thanh thiếu niên chiếm tỷ lệ không nhỏ. Tại phòng khám trắc nghiệm, S (ở Thái Nguyên) tỏ ra khá quen thuộc với những bài test của bác sĩ.

S cho biết, em bị bệnh về tâm thần từ năm lớp 7 nhưng mãi đến lớp 9 mới phát hiện ra bệnh, lúc đó bệnh đã khá nặng nên phải nghỉ học.

S kể: “Có những lúc em đang tỉnh táo bỗng tự nhiên bị ngây người ra, “ngu đi” cứ như máu không lên não. Khi mới bị bệnh, em thường cảm thấy ghét mọi người trong gia đình, không muốn nói chuyện với bạn bè, người thân, giống như bị trầm cảm”.

Gia đình S đã đưa em đi chữa bệnh ở Thái Nguyên nhưng mãi không khỏi mà bệnh ngày càng nặng, đành đưa về Hà Nội để khám tại Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viện Bạch Mai. Đến nay đã được 6 năm, bệnh đang dần thuyên giảm nhưng em vẫn phải thường xuyên đến đây để kiểm tra sức khỏe định kỳ.

roi-loan-tam-than-o-tuoi-thanh-nien

Người có dấu hiệu rối loạn tâm thần cần được đưa đi điều trị sớm

Ngồi cách S không xa là em H với dáng người gầy gò, mệt mỏi đang cùng mẹ đợi khám bệnh. Chị M, mẹ của H chia sẻ: Năm nay H học lớp 10, nhưng không hiểu sao từ sau Tết đến nay em thường xuyên có những biểu hiện như mất trí, lúc nhớ lúc quên, học hành sa sút nghiêm trọng. H thường xuyên kêu mệt mỏi không muốn đi học, nên chị phải đưa con đến khám.

PGS.TS Nguyễn Kim Việt, Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội cho biết: Trong guồng sống chóng mặt hiện nay, con người phải đối mặt với quá nhiều áp lực từ cuộc sống, nên ngày càng có nhiều người gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Mỗi ngày Viện khám, chữa bệnh và tư vấn cho khoảng 200 bệnh nhân, trong đó độ tuổi thanh niên chiếm không nhỏ. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh như: do môi trường từ gia đình hoặc xã hội, do thay đổi về thể chất, do ô nhiễm môi trường bởi tiếng ồn… đặc biệt đối với những người lao động trí óc.

Theo nghiên cứu “Sức khỏe tinh thần của trẻ em Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố nguy cơ” của nhóm tác giả: PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (chủ biên); Ths Nguyễn Cao Minh, Phòng Tâm lý học lâm sàng, Viện Tâm lý học, có từ 12 – 13% trẻ em Việt Nam (trong độ tuổi 6 – 16), tức là có khoảng 2,7 triệu trẻ em và vị thành niên trên toàn quốc có những biểu hiện về sức khỏe tâm thần một cách rõ rệt.

TS Ngô Thanh Hồi, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương, cho biết, dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với trường Đại học Melbourne (Australia).

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần đang gia tăng như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, học sinh tự sát trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể…

Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh tại Hà Nội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam cho thấy, trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh trong độ tuổi 10 – 16, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 19,46 %.

Tâm lý học sinh hiện nay phát triển phức tạp, các em dễ bị dao động, lung lay trước các giá trị sống, biến động từ gia đình đến xã hội, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý.

Nguồn đời sống pháp luật

Đối mặt với sự cô đơn

Khi cô đơn, bạn sẽ cảm thấy vô cùng tuyệt vọng và cùng quẫn, muốn tìm một việc gì đó để làm, một nơi nào đó để đi, bởi nỗi cô đơn sẽ đè nén sâu trong tâm hồn bạn.

1. Hãy đi ra ngoài

Một trong những cách đầu tiên để xua tan đi cảm giác cô đơn đó là hãy bước ra ngoài, hòa mình vào với thế giới xung quanh, làm điều gì đó với mọi người. Những người bạn mới sẽ không tự xuất hiện nếu bạn cứ mãi thu mình trong vỏ bọc.

doi-mat-voi-su-co-don

2. Cải thiện bản thân

Hãy suy nghĩ về một khóa học mới như yoga, vẽ tranh, nhảy hoặc nấu ăn. Đăng ký một hoặc hai lớp để có thể gặp gỡ những người bạn mới đồng thời hoàn thiện bản thân hơn, chắc chắn bạn sẽ cảm thấy rất vui!

3. Tìm kiếm tình yêu

Bạn đang cô đơn, và bạn đã sẵn sàng để bước vào một mối quan hệ mới? Hãy tìm cách để kiếm ra tình yêu đích thực của mình, ví dụ như tới những nơi bạn thích cùng các nhóm bạn, tham gia các câu lạc bộ và tìm một người có chung sở thích với bạn. Đơn giản thôi, ếu bạn thích đọc sách, hãy tới thư viện, nếu bạn thích nhảy múa, hãy tới câu lạc bộ học nhảy… chắc chắn nhiều mối quan hệ sẽ không còn làm bạn cô đơn và biết đâu, bạn lại tìm được một ai đó dành cho mình.

4. Ngừng nghĩ rằng mình cô đơn

Cố gắng lấp đầy khoảng khoắc tiêu cực đó bằng những kỉ niệm tươi đẹp khi bên cạnh bạn bè, gia đình, hay những người bạn yêu thương. Nếu có thể, hãy nghĩ đến những khoảng thời gian dễ chịu khi bạn không cô đơn. Biến cảm giác dễ chịu và yêu thương lúc đó thành động lực để tạo ra một cách nhìn khác về cuộc sống.

5. Đi chơi với gia đình

Khi chúng ta già, nhiều người sẽ hối tiếc vì đã ít trở về thăm bố mẹ, thăm gia đình, đã không dành nhiều thời gian cho họ, không tổ chức những buổi đi chơi, đi du lịch cùng nhau. Hãy cố gắng, sắp xếp thời gian để cùng họ đi chơi, lưu lại những kỷ niệm đẹp khi còn trẻ nhé.

Trầm cảm – căn bệnh dễ mắc phải

Trầm cảm là một căn bệnh làm suy nhược thể chất và tinh thần, làm mất đi năng lượng, sự tập trung và niềm vui của mỗi người. Những người mắc bệnh trầm cảm không tìm thấy bất kỳ niềm đam mê nào đối với công việc, thậm chí là mất đi niềm tin vào cuộc sống. Dưới đây là một số thói quen dẫn đến trầm cảm mà bạn cần tránh:

Lười tập thể dục

Tập thể dục có ảnh hưởng rất lớn đối với thể chất và tinh thần của bạn. Khi ở trong nhà cả ngày và không tham gia vào bất kỳ hoạt động thể chất nào dễ khiến cho bạn trở nên lười biếng hoặc ăn quá nhiều. Lười biếng và tăng cân có khả năng là dấu hiệu cho thấy bạn đang rơi vào trạng thái trầm cảm. Do đó, bạn nên dành 40 phút mỗi ngày để tập thể dục. Khi tập thể dục, não sẽ sản sinh ra một lượng serotonin và dopamine, những chất thúc đẩy cảm xúc tốt cho trí não khiến bạn sẽ cảm thấy sảng khoái và năng động hơn.

tram-cam-can-benh-de-mac-phai

Chế độ ăn uống không hợp lý

Chế độ ăn uống hợp lý luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh trầm cảm. Những thực phẩm có chứa chất béo Omega-3 được gọi là “thực phẩm não” vì nó là chất dinh dưỡng cần thiết số 1 cho giúp trí não khỏe mạnh. Nếu thiếu đi Omega-3, não dễ tổn thương, và trầm cảm chính là dấu hiệu đầu tiên. Cơ thể của chúng ta không thể tự sản xuất ra Omega-3, do đó chúng ta cần nhận được đủ lượng Omege-3 trong khẩu phần ăn hàng ngày. Bạn nên ăn nhiều cá và hải sản, chúng là nguồn cung cấp Omega-3 tốt nhất giúp bạn chống lại bệnh trầm cảm.

Ngủ ít

Các chuyên gia y tế khuyến cáo bạn nên ngủ ít nhất 7-8 tiếng mỗi đêm. Nếu bạn ngủ đủ giấc thì tinh thần sẽ luôn được thoải mái và tỉnh táo. Khi thiếu ngủ, bạn sẽ rất dễ bị kích động và đôi khi còn mắc chứng hoang tưởng, một yếu tố gây bệnh trầm cảm. Bên cạnh đó, việc ngủ ít sẽ khiến bạn mệt mỏi, làm việc thiếu hiệu quả, bạn sẽ rất dễ “stress”.

Cô lập bản thân

Khi chán nản, bạn thường hay tách bản thân mình ra khỏi bạn bè và gia đình. Thói quen “tự kỷ” này tạo cơ hội cho trầm cảm “tấn công” bạn nhanh hơn. Theo các nhà nghiên cứu, những người thích giao tiếp với mọi người xung quanh ít có nguy cơ bị trầm cảm nhất. Những mối quan hệ với bạn bè, người thân trong gia đình thúc đẩy sự trao đổi chất trong não được tốt hơn, từ đó làm giảm mức độ căng thẳng một cách tối đa. Nếu không có những mối quan hệ với mọi người xung quanh, khả năng trí tuệ của bạn sẽ bị phá vỡ và bạn không thể đối phó với những áp lực khác nhau trong cuộc sống.

Suy nghĩ tiêu cực

Suy nghĩ tiêu cực là một trong những nguyên nhân chính của bệnh trầm cảm. Nếu bạn không ngừng suy nghĩ về các mối đe dọa, những lời từ chối, sự mất mát hay thất bại thì chắc chắn bạn sẽ bị trầm cảm. Có nhiều việc xảy ra xung quanh nằm ngoài tầm kiểm soát của bạn, vì vậy không cần phải “bám víu” những suy nghĩ của bạn vào chúng. Suy nghĩ về những chuyện bạn không thể thay đổi được không chỉ dẫn tới bệnh trầm cảm, mà còn có thể sẽ khiến bạn “phát điên” lên. Điều quan trọng là bạn phải luôn cố gắng nghĩ về những điều tích cực hơn, thay vì mãi “gặm nhấm” những chuyện đã qua.

Theo ANTĐ

Xác định hai hình thức bệnh tử kỷ mới

Các nhà khoa học vừa đưa ra tuyên bố họ đã xác định được hai hình thức sinh học khác nhau của bệnh tự kỷ.

Trong đó, một loại liên quan đến sự bất thường của bộ não. Theo đó, trẻ em mắc tự kỷ loại này có bộ não to và thường phát triển bệnh vào khoảng 18 tháng tuổi. Trẻ em mắc loại thứ hai có hệ thống miễn dịch hoạt động không đúng cách.

tu-ky-moi

Các nhà khoa học đã xác định được hai hình thức khác nhau của bệnh tự kỷ

Nhóm nghiên cứu đã so sánh kết quả này với phát hiện tương tự vào những năm 1960 về hình thức khác nhau của bệnh ung thư. Họ hy vọng từ đây sẽ giúp tìm ra cách phát triển phương pháp điều trị hiệu quả cho chứng tự kỷ.

“Sẽ là vô vọng nếu chúng ta cố gắng chữa trị tất cả bệnh ung thư cùng một lúc. Và điều này cũng đúng với chứng tự kỷ”, David Amaral, Giáo sư tâm thần học tại Đại học California Davis phát biểu trên tờ Australian.

“Khi một đứa trẻ đi vào phòng khám, thay vì nói chung chung rằng cháu mắc chứng tự kỷ thì bạn có thể đưa ra chẩn đoán rõ ràng đứa trẻ đó mắc bệnh tự kỷ loại A, loại B, hay loại C”, Amaral nói. Từ đó, các nhà nghiên cứu sẽ biết và áp dụng phương pháp điều trị tốt nhất cho tình trạng này, ông chia sẻ.

“Ví dụ, nếu một đứa trẻ có hình thức miễn dịch của bệnh tự kỷ, những gì chúng ta nên làm là kiểm soát hệ thống miễn dịch đó hơn là cố gắng tạo ra một cái gì đấy liên quan đến các chức năng liên kết kỳ tiếp hợp trong não”, Amaral cho biết thêm.

Nhóm nghiên cứu sẽ trình bày phát hiện của họ tại Hội nghị về bệnh tự kỷ khu vực Châu Á Thái Bình Dương ở Perth.

Amaral và đồng nghiệp bắt đầu nghiên cứu bệnh tự kỷ vào năm 2006. Họ tiến hành phân tích các yếu tố khác nhau dẫn tới tự kỷ, bao gồm sự tăng trưởng của não, di truyền học và ảnh hưởng từ môi trường ở trẻ 2-3 tuổi.

Ngoài 2 loại đã được xác định, các nhà khoa học hy vọng sẽ tìm thấy thêm nhiều hình thức khác của căn bệnh này.

Theo Đất Việt

Bệnh tương tư

Tương tư không phải là một bệnh thực thể. Nguyên nhân của nó là sự nhớ nhung mòn mỏi quay quắt, day dứt, bồn chồn, với một tâm trạng lo lắng không yên, một nỗi đam mê kéo dài vô vọng. Theo y học, tương tư là một dạng stress.

Y học hiện đại chia stress làm ba giai đoạn. Ở mỗi giai đoạn có những diễn biến khác nhau, việc điều trị sớm sẽ tránh được những hậu quả hoặc những chấn thương tâm lý tai hại. Với bệnh tương tự thì:

benh-tuong-tu
Giai đoạn báo động: Là sự lo lắng, cảm giác bất an, hồi hộp, tim đập nhanh, tăng nhịp thở, tăng huyết áp… gây thay đổi tâm lý và lối sống.

Giai đoạn chống đỡ : Mối lo lắng và tuyệt vọng đã trở thành một nỗi ám ảnh thường xuyên, dần dần sẽ làm bệnh nhân suy nhược tinh thần lẫn thể chất, người ta thường gọi giai đoạn này là tương tư.

Giai đoạn stress : Bệnh lý đồng nghĩa với bệnh tương tư. Các rối loạn tâm thần, rối loạn cơ thể và tập tính xuất hiện hoặc cấp diễn hoặc tạm thời, hoặc nhẹ hoặc kéo dài, suy kiệt và có thể đưa đến tử vong bởi các bệnh cơ hội khác.

Y học hiện đại cho rằng, stress là bất kỳ nhân tố nào đe dọa đến sức khỏe hay tác động có hại đến các chức năng của cơ thể như bị tổn thương, bệnh hay lo âu… Bị stress liên tục, cơ thể sẽ có các phản ứng sinh học nhằm đảm bảo sự sống của mình bằng cách tiết ra các chất gọi là kích thích tố của stress; đặc biệt là có sự gia tăng prolactin. Kích thích tố stress dần dần sẽ làm rối loạn đáng kể vô số chức năng sinh lý, kéo theo sự sa sút trầm trọng về tâm lý, làm xáo trộn hệ thống miễn dịch, hệ thống thần kinh giao cảm và đối giao cảm. Bệnh tương tư cũng vậy.

Bệnh tương tư được mô tả điển hình trong truyện Phan Trần, một một truyện lấy sự tích ở Trung Quốc, đời nhà Tống. Truyện như sau: Phan Công, Trần Công là bạn học, lại cùng làm quan một chiều. Hai phu nhân cùng mang thai, họ Phan sinh con trai là Phan Sinh, họ Trần sinh con gái là Kiều Liên. Họ hứa gả con cho nhau. Khi hai trẻ lớn lên, hai ông cùng xin về hưu, mỗi người mỗi ngả.

Phan Sinh lớn lên, đi thi hương đỗ đầu, nhưng thi hội lại trượt nên không về nhà, quyết học để đỗ kỳ sau. Trong khi đó, Kiều Liên mồ côi cha, quê nhà có giặc phải chạy loạn, mẹ con lạc nhau. Nàng đến tu tại một ngôi chùa ở Kim Lăng, lấy pháp danh Diệu Thương. Khi ở chùa, nàng nhớ mẹ và tưởng đến vị hôn phu, thường ủ rũ buồn rầu, nhờ có sư thầy khuyên giải nên cũng nguôi dần.

Phan Sinh du học tại thành đô, sực nhớ có người cô tu ở Kim Lăng, bèn đến thăm. Anh thấy Diệu Thường “tầm thước trẻ trung” thì phải lòng, mượn bà vãi là Hương Công làm mối. Diệu Thường cự tuyệt, chàng thất vọng thành ra ốm tương tư. Phan Sinh ốm nặng, khi Diệu Thường nể lời sư cô tới thăm hỏi thì mười phần bỗng khỏi hết chín. Tối hôm đó, chàng ôm bệnh đến gõ cửa phòng Kiều Liên đòi vào tạ ơn; nàng sợ chàng quá liều, phải mở cửa cho vào. Qua mấy lời trao đổi, họ nhận ra nhau nhưng vì lễ giáo ở chùa, nên vẫn giữ kín. Sau Phan Sinh đỗ thám hoa, hai người thành vợ chồng.

Nguồn khoa học

Rối loạn tâm lý sau chấn thương

Các nhà khoa học đã tìm thấy tế bào thần kinh ngăn chặn việc hình thành các kí ức sợ hãi trong bộ não của chuột mang tên “Hippocampus”.

Các tế bào thần kinh ức chế này cho phép tạo ra một bộ nhớ về bối cảnh và địa điểm mà không bị ảnh hưởng bởi chính sự kiện khó chịu diễn ra cùng lúc với bối cảnh đó.

Trong một bản báo cáo đăng trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu cho biết, công trình này giúp họ hiểu rõ hơn về cơ sở thần kinh của các bệnh rối loạn tâm lý sau chấn thương ở người.

Attila Lonsoczy, giảng viên đại học Colombia, New York cùng các đồng nghiệp đã chú trọng vào nghiên cứu cách Hipocampus lưu giữ những bối cảnh cụ thể cũng như việc tách chúng ra từ những sự kiện gây sợ hãi.

roi-loan-tam-ly-sau-chan-thuong

Khi nhìn vào những tế bào thần kinh riêng lẻ trong não chuột, người ta nhận thấy các tế bào ức chế thần kinh gọi là “Interneuron” đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các ký ức của nỗi sợ hãi trước khi chúng di chuyển đến các vùng khác trong não.

Trả lời kênh Khoa học của BBC, Tiến sĩ Lonsoczy cho biết: “các tế bào Interneuron được kích hoạt bởi những sự kiện gây sợ hãi, chúng hoạt động như những bộ lọc nhằm ngăn chặn sự xâm nhập các thông tin không mong muốn liên quan đến sự kiện đó”. Bằng cách này, vùng tế bào Hipocampus có khả năng xử lí và lưu trữ những thông tin bối cảnh một cách độc lập mà không có sự can thiệp của những sự kiện gây ảnh hưởng xấu.

Những con chuột thí nghiệm được tạo điều kiện để bộc lộ nỗi sợ hãi, sau đó, chúng được đặt vào các bối cảnh cụ thể để theo dõi. Khi các nhà khoa học vô hiệu hóa các tế bào thần kinh ức chế, những con chuột này đã không còn biểu hiện sự sợ hãi nữa. Kết quả này chứng tỏ rằng nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc ngăn chặn sự hình thành các kí ức sợ hãi ở chuột.

Qua đó, nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của các tế bào Interneuron trong việc mã hóa bộ nhớ lưu trữ nỗi sợ trước khi nó được thông qua và di chuyển đến những vùng khác.

“Ngữ cảnh của sự kiện được phát ra từ những vùng Hippocampus, chuyển đến các vùng khác của não nơi mà các bối cảnh thực sự kết hợp với các sự kiện diễn ra nỗi sợ”.

Hiểu được cách các tế bào thần kinh tiếp nhận các bối cảnh cũng như sự kiện gây sợ hãi có thể giúp các nhà khoa học giúp đỡ bệnh nhân điều trị những tổn thương tâm lý sau chấn thương.

Tiến sĩ Xu Liu, đại diện Viện Công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ nhận định rằng: “Nghiên cứu này đã giải quyết được câu đố về cách Hippocampus mã hóa thành công các bối cảnh mà bỏ qua mọi sự tác động tiêu cực đang diễn ra tại thời điểm đó. Đây sẽ là một nghiên cứu mang ý nghĩa y học trong nhiều năm tới”.

Trầm cảm ở trẻ nhỏ

Thiếu sự chăm sóc của người thân, đặc biệt là mẹ, trẻ nhỏ dưới 3 tuổi dễ mắc bệnh “trầm cảm vắng mẹ”, ảnh hưởng đến phát triển tinh thần và thể chất của trẻ

Do chồng công tác trong ngành hàng hải thường xuyên vắng nhà, bản thân cũng phải đi làm nên chị Nguyễn T.H.T (quận 5 – TPHCM) buộc phải để người vú nuôi đảm đương hầu hết việc chăm sóc con gái T.H.Nh từ lúc 4 tháng tuổi. Mỗi ngày, chị ra khỏi nhà từ sáng sớm khi con còn ngủ, đến tối mới về và thời gian dành cho con cũng hạn hẹp bởi nhiều đêm chị cũng bận rộn với công việc.

Sự cô đơn của con trẻ

tram-cam-o-tre-nho
Khi bé Nh. được hơn 1 tuổi, công việc thư thả hơn, có thời gian chơi với con, chị lại nhận ra dường như cháu bé cũng không thích chơi với mẹ mà chỉ loay hoay một mình với đồ chơi. Nh. thờ ơ với mọi nỗ lực giao tiếp của mẹ, cứ nhìn sang chỗ khác mỗi khi chị chuyện trò, nói chuyện với con. Qua sách vở, chị T. thấy con có những dấu hiệu hay gặp ở trẻ tự kỷ nên đưa đi khám. Rất may, Nh. không bị tự kỷ, cháu chỉ rơi vào trạng thái trầm cảm nhẹ vì gần một năm trời thiếu vòng tay mẹ.

“Khi ở trong bụng mẹ, đứa bé với mẹ là một. Khi ra đời, trẻ cần được cảm nhận hơi ấm, mùi của mẹ. Tuy nhiên ngày nay, người mẹ thường tham gia vào công việc xã hội chứ không ở nhà chăm con như những thế hệ trước. Đa phần sau 4 tháng bà mẹ nghỉ thai sản, đứa bé đã phải xa mẹ và thường được giao cho bà, người thân trong gia đình hay người giữ trẻ chăm sóc. Thậm chí có nhiều phụ nữ phải đi làm sớm hơn. Nếu công việc của mẹ quá bận rộn khiến bé cảm thấy thiếu hơi ấm, tình thương, sự vuốt ve của mẹ, không được bú mẹ… rất có thể bé sẽ bắt đầu tự cô lập mình và có những dấu hiệu xa cách với mẹ” – BS Phạm Ngọc Thanh, cố vấn Khoa Tâm lý Bệnh viện (BV) Nhi Đồng 1, phân tích.

Trong trầm cảm ở trẻ em nói chung, sự thiếu vắng mẹ trong những năm tháng đầu đời cũng có thể dẫn đến một dạng trầm cảm đặc trưng ở trẻ nhỏ dưới 3 tuổi – “trầm cảm vắng mẹ”. Trẻ mắc bệnh này có những biểu hiện khá giống với bệnh tự kỷ: không nhìn mẹ, phớt lờ nỗ lực giao tiếp của mẹ; không chịu bú, bú vào là ói hoặc các dạng rối loạn ăn uống khác; khó ngủ, hay khóc… BS Thanh lý giải: “Khi vắng mẹ, ban đầu trẻ sẽ cố gắng tìm cách để được gần mẹ, kêu gọi sự chú ý của mẹ. Nhưng nếu làm mãi không được, trẻ dần cô lập mình và “không thèm” mẹ nữa rồi rơi vào trạng thái trầm cảm. “Trầm cảm vắng mẹ” ở trẻ nhỏ có thể kéo dài đến 3 tuổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ về thể chất lẫn tinh thần”.

Trầm cảm ở trẻ em có thể bám theo trẻ cho đến tuổi trưởng thành và có thể hình thành từ những bất ổn tinh thần ở giai đoạn sơ sinh đối với trẻ không được gần gũi mẹ. BS Phạm Văn Trụ, Phó Giám đốc BV Tâm thần TPHCM, cho biết: “Trẻ ở giai đoạn sơ sinh đã cần có sự tiếp xúc với người thân, đặc biệt là mẹ. Nếu quan sát một đứa trẻ sơ sinh vừa mở mắt, chúng ta sẽ nhận ra khi trẻ nhìn thấy người đầu tiên – thường là mẹ – trẻ sẽ chúm chím cười. Khi cảm nhận được khuôn mặt người mẹ trong một thời gian dài, trạng thái tâm thần của trẻ sẽ phát triển ổn định nhất”.

Trẻ cần môi trường ổn định
BS Thanh cho biết một số trẻ em lại bắt đầu bị trầm cảm ở tuổi đi nhà trẻ – khoảng 1 tuổi rưỡi đến 2 tuổi. Thiếu mẹ, bị gửi đến môi trường lạ, nhiều trẻ không đủ khả năng thích nghi và bị stress. Cha mẹ thấy con có biểu hiện lạ, nghĩ rằng nhà trẻ ấy không phù hợp, trẻ bị đối xử không tốt, bị bạn bè bắt nạt… lại vội vàng tìm nhà trẻ khác. Càng bị thay đổi về môi trường, trẻ càng stress và lâu ngày sẽ trầm cảm. Điều này cũng khiến trẻ bị ảnh hưởng về thể chất, giảm sức đề kháng, dễ bị ho, sốt, tiêu chảy… Gia đình thấy bé bệnh, để bé ở nhà chăm sóc. Được gần mẹ, người thân, trẻ tự dưng khỏi bệnh nhưng khi cha mẹ gửi nhà trẻ trở lại thì trẻ lại bị… bệnh tiếp.

“Trẻ bị trầm cảm thường dễ cáu gắt, khóc, từ chối mẹ sau một thời gian vô vọng đòi mẹ, thu mình vào thế giới riêng. Nhiều trẻ sẽ có xu hướng gắn bó với người nuôi dưỡng – có thể là người thân nào đó hay người giúp việc. Người nuôi dưỡng này nếu bị thay đổi nhiều lần cũng dễ ảnh hưởng đến tinh thần của trẻ” – BS Thanh lưu ý.

Nguồn báo người lao động

Điều trị suy nhược tinh thần

Suy nhược thần kinh còn gọi là tâm căn suy nhược do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng có liên quan chặt chẽ đến căng thẳng tâm lý, tinh thần gây mệt mỏi, tư tưởng phân tán, mất ngủ, trầm cảm,… Người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và điều trị đúng. Ngoài ra có thể dùng một số món ăn, bài thuốc có tác dụng hỗ trợ tốt trong quá trình điều trị như sau:

Bài 1: Long nhãn (cùi nhãn sấy khô) 10g, gạo lứt 50g. Cách dùng: Ngâm long nhãn vào nước ấm một lúc, sau đó rửa sạch. Gạo lứt cho vào nồi thêm nước nấu thành cháo. Khi gạo chín cho long nhãn vào, đun nhỏ lửa ninh nhừ, mỗi ngày ăn 2 lần. Món ăn này có tác dụng hỗ trợ điều trị tốt với người bị suy nhược thần kinh, mất ngủ, tim đập hồi hộp, hay quên.

dieu-tri-suy-nhuoc-tinh-than

Gạo lứt

Bài 2: Óc lợn 1 cái, thiên ma 10g. Cách dùng: Thiên ma rửa sạch, óc lợn bỏ màng ngoài và tia máu, rồi rửa sạch. Tất cả cho vào tô canh, để vào nồi đổ nước hầm cách thủy khoảng 2 giờ, khi ăn cho thêm gia vị. Công dụng: Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh do căng thẳng tâm lý, ức chế, buồn bực, rối loạn chức năng gan, tâm thần không yên.

Bài 3: Khiếm thực 30g, ý dĩ 30g, mạch môn 30g, hạt sen 30g, đường phèn lượng vừa đủ. Cách dùng: Hạt sen bỏ tâm, mạch môn không bỏ lõi, khiếm thực và ý dĩ rửa sạch, tất cả đem ngâm với nước sạch khoảng 20 phút. Sau đó, cho khiếm thực và ý dĩ vào nồi, đổ nước, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm nhừ chừng 30 phút rồi cho hạt sen và mạch môn vào, đun tiếp khoảng 20 phút nữa là được, cho thêm đường phèn, ăn trong ngày. Công dụng: Thanh tâm, an thần, thích hợp cho những người mất ngủ, bồn chồn, bứt rứt không yên, tinh thần suy sụp.

Bài 4: Tim lợn 1 quả, nhân sâm 10g, đương quy 10g. Nhân sâm, đương quy rửa sạch, thái mỏng, tim rửa sạch, bổ ra cho nhân sâm và đương quy vào trong, đặt trong bát sứ, đổ nước sôi vào, hầm cách thủy 3 giờ, cho thêm gia vị ăn với cơm. Dùng thích hợp với người bị suy nhược thần kinh do suy nhược cơ thể sau ốm, sức yếu, thiếu máu, tâm thần bất an, ngủ không yên giấc. Lưu ý: Những người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy; phụ nữ có thai; người bị tăng huyết áp không được dùng.

Bài 5: Trứng chim cút 4 quả luộc chín, bóc bỏ vỏ; hạt sen 15g bỏ tâm, long nhãn 10g rửa sạch. Cho tất cả vào nồi thêm nước ninh trong 30 phút. Khi ăn thêm chút đường phèn, ăn cái, uống nước. Món ăn này thích hợp với người bị suy nhược thần kinh biểu hiện: mệt mỏi, mất ngủ, hay mê mộng, hồi hộp, trí nhớ giảm sút, chán ăn

Nguồn sức khỏe gia đình

Bệnh tâm lý hoảng sợ

Hội chứng sợ máu, sợ tiêm… xuất hiện ngày càng nhiều, thường làm người bệnh hạ huyết áp và rối loạn nhịp tim, có thể dẫn tới ngất xỉu hoặc tím tái, hoảng loạn.

Bác sĩ Hải Vân, Khoa xét nghiệm – BV Phạm Ngọc Thạch, cho biết, chảy máu là một dấu hiệu cho thấy có điều gì đó không ổn với cơ thể, nên khi nhìn thấy máu của chính mình, nhiều người có thể lo lắng thái quá về sức khỏe.

benham-ly-hoang-so

Chỉ cần nhìn thấy kim tiêm là đã đủ làm người bệnh ngất xỉu

Theo bác sĩ Thắng, chứng sợ máu, kim tiêm… gây ra nhiều hậu quả cho người bệnh. Rất nhiều người sợ các thứ trên không muốn tiếp cận điều trị.

Một số người thậm chí không khám sức khỏe và làm các xét nghiệm cần thiết hoặc sợ máu, kim tiêm đến nỗi khi con cái của họ gặp một vấn đề gì như bị thương, tai nạn,họ khó tiếp cận để sơ cứu ban đầu.

Theo các chuyên gia, rất nhiều người mắc hội chứng này thường giới hạn hoạt động ngoài trời hoặc tham gia các vấn đề xã hội khác vì họ lo sợ có nguy cơ gây tổn thương. Từ đó, họ mắc luôn hội chứng sống khép kín, sợ đám đông…

Để điều trị hội chứng này, các bác sĩ cho biết một trong những phương pháp phổ biến nhất là liệu pháp nhận thức hành vi. Những người mắc bệnh này sẽ được học cách thay thế nỗi ám ảnh do sợ hãi của mình bằng các phản ứng mạnh mẽ hơn khi nhìn thấy máu.

Trong trường hợp nghiêm trọng, theo bác sĩ Vân, có thể dùng thuốc giúp kiểm soát lo lắng. Với hội chứng rối loạn hoảng sợ, bác sĩ Thắng cho rằng, khi bệnh nhân gặp cơn hoảng sợ vô cớ thì không nên di chuyển nhiều, mà tốt nhất là ngồi yên một chỗ, rồi cố gắng thở chậm và thư giãn trong trạng thái thoải mái. Đừng nên quan trọng hóa vấn đề, cho rằng mình bị một căn bệnh khó chữa nào đó trong cơ thể vì làm như vậy thì bệnh cứ kéo dài.

Theo bác sĩ Nguyễn Bá Thắng, Khoa Nội thần kinh BV Nguyễn Tri Phương, người mắc rối loạn hoảng sợ thường có triệu chứng như chóng mặt, đau ngực và thở nhanh.

Bệnh nhân hay có những cơn lo sợ không giải thích được, đến rất đột ngột và phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, những cơn lo sợ vô cớ đó chỉ kéo dài trong vài phút, nhưng có khi cơn hoảng sợ này hết thì lại xuất hiện cơn hoảng sợ khác.

Nguyên nhân bệnh tâm lý ở trẻ em

Nguyên nhân nằm ở đâu?

Chúng ta đã từng biết đến những vụ việc đáng tiếc khi có những trẻ vị thành niên đang ở lứa tuổi thích khẳng định bản thân đã bị tổn thương vì bị thầy cô giáo nghi ngờ lấy cắp tiền, bị cha mẹ mắng mỏ, bị người thân miệt thị… rơi vào trầm cảm và tìm đến cái chết. Sau mỗi mùa thi đại học sẽ có bao nhiêu học sinh rơi vào thất vọng vì không vươn tới cánh cửa trường đại học mà mình mơ ước? Chắn chắn con số thi rớt sẽ gấp nhiều lần số thi đỗ và như vậy thì bao nhiêu trái tim non nớt cần được cảm thông an ủi, đặc biệt là từ gia đình mình. Một chuyên gia về tâm lý lứa tuổi tại một trung tâm tư vấn tình cảm cho biết, sẽ là rất bất nhẫn nếu như có thái độ nhiếc móc hoặc tỏ ra thất vọng khi thấy con em mình không đỗ đại học. Vào đại học không phải là con đường duy nhất để tiền vào đời. Có rất nhiều người thành công và đạt được những ước mơ của mình mà không hề trải qua một trường đại học nào. Nhiều khi cha mẹ cưng chiều con mình quá, chỉ cho ăn và học đến khi thi đại học. Khi đứa trẻ thì không đỗ, vừa không được trang bị kỹ năng sống đã rơi vào tình trạng không lối thoát, luôn sống trong mặc cảm và trở thành thui chột ý chí, suốt đời sống một cuộc sống khép mình, kém tự tin và từ bỏ ước mơ. Mùa thi đến là lúc mà các trung tâm tư vấn luôn đón nhận những cuộc điện thoại bày tỏ nỗi lo lắng của học sinh trung học. Có em ko sợ không đáp ứng được kỳ vọng của bố mẹ còn hơn cả việc lo thi cử. Nắm được tâm lý này, các bậc phụ huynh nên giải tỏa tâm lý cho con em mình, khuyến khích hy vọng nhưng không kỳ vọng thái quá, vì hơn hết, tâm lý có thỏa mái thì hành vi mới hiệu quả. Đây là một nguyên tắc của mỗi cuộc thi tài, dù là thi trong nhà trường. Như vậy sức khỏe tâm thần của trẻ em phụ thuộc rất nhiều vào người lớn – những người có thể trợ giúp về mặt tâm lý cũng như có thể đưa trẻ vào những sang chấn tâm lý nếu thiếu hiểu biết.

nguyen-nhan-benh-tam-ly-o-tre-em

Bàn luận của giới chuyên môn

Việc những trường hợp bệnh lý

Việc những trường hợp bệnh lý trẻ em tăng đột biến trong thời gian gần đây được xem là hiện tượng của đời sống hiện đại cùng với sự gia tăng của nhiều chứng bệnh khác. Có ý kiến cho rằng, ở thời điểm nào cũng có thể phát sinh những vấn đề ảnh hưởng đến xúc cảm và ý chí của mỗi người song cuộc sống càng phát triển thì sức khỏe tầm thần càng được quan tâm một cách thấu triệt. Hàng loạt các dự án nghiên cứu về các sang chấn tâm lý có thể gặp phải ở lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng được thực hiện. Tuy nhiên vẫn còn những lỗ hổng rất lớn trong cộng đồng do thiếu hiểu biết của cha mẹ, thầy cô giáo khi nuôi dạy con em mình, nhiều bậc cha mẹ chỉ che chở bao bọc chứ không dạy con cái biết cách tự đấu tranh với những vấn đề của cuộc sống dẫn tới hậu quả đáng tiếc.

Nguy cơ trẻ em bị mắc các chứng bệnh tâm lý ở cộng đồng hiện naylà rất lớn và đáng báo dộng. Theo báo Tuổi trẻ mỗi ngày Viện sức khỏe Tâm thần TP. Hồ Chí Minh tiếp nhận từ 400 đến 500 lượt trẻ em đến khám và điều trị về các chứng bệnh liên quan đến tâm lý. Phó trưởng khoa Tâm thần – Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, hàng ngày ở đây phải tiếp nhận khám và điều trị cho khoảng 70 cháu mắc các chứng bệnh này và càng ngày thì con số càng gia tăng, trong đó trẻ mắc nhiều nhất là chứng bệnh tự kỷ.

Vấn đề trẻ mẳc bệnh tâm lý mặc dù đã được các nhà nghiên cứu chú ý tới nhưng chưa thực sự được quan tâm một cách triệt để và thấu đáo. Trẻ em vô cùng nhạy cảm, đôi khi chỉ một hành động, cử chỉ của người lớn cũng có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ đến suốt đời.

Trao đổi với chúng tôi, TS. Trương Bích Hà – Giám đốc Trung tâm tư vấn Truyền thông sức khỏe sinh sản và phát triển cộng đồng cho biết, hầu như các bậc cho mẹ chỉ bắt đầu lo lắng về con cái khi chúng ở tuổi vị thành niên, khi ở chúng xuất hiện những biểu hiện bất thường quá rõ rệt thì cha mẹ mới tìm mọi cách để thay đổi. Đối với một số trẻ em, tới lúc đó mới tìm cách thay đổi thì đã quá muộn. Ở bất kỳ lứa tuổi nào, cha mẹ và xã hội cũng phải chú ý tới tâm lý trẻ, thậm chí phải quan tâm tới trẻ từ khi vừa chào đời.

Áp lực từ chính kỳ vọng của người lớn

Trẻ em hiện nay bị rất nhiều áp lực, lớn nhất chính là áp lực học tập. Trẻ phải biết tiếp cận với các chương trình mà ngay cả Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng phải thừa nhận là quá tải. Điều này thì tất cả mọi người đều rõ. Trẻ em chịu quá nhiều áp lực từ người lớn. Mới ở lứa tuổi mẫu giáo các cháu đã phải học chữ, tập đánh vần, tập viết chữ đẹp… chúng không còn thời gian nghỉ ngơi, vui chơi. Áp lực khiến trẻ bị già trước tuổi, chúng không còn hồn nhiên, ngây thơ như lứa tuổi đáng lẽ chúng được hưởng. Khi đến tuổi đi học, cha mẹ lại đặt quá nhiều kỳ vọng vào con cái. Đáng lo ngại và cũng là điều nguy hiểm là chính gia đình và nhà trường đã tạo ra cho trẻ em ý thức phải cạnh tranh khiến chúng luôn thường trực tâm lý phải ganh đua để hơn nhau. Ở một khía cạnh nào đó, điều đó đáng khuyến khích, tuy nhiên nhiều bậc cha mẹ đặt ra cho chúng và nuôi dưỡng những khát vọng ở trẻ mà không quan tâm tới khả năng thực sự của chúng. Đó là mầm mống cho tính ích kỷ và đố kị, tính ghen ghét đối với người khác, thậm chí khi trưởng thành có thể chà đạp lên người khác để sống.

Theo các nhà tâm lý, sự căng thẳng tâm lý luôn thường trực khiến trẻ em hiện nay đang tiềm ẩn nguy cơ “không bình thường”. Ranh giới giữa một trẻ bình thường và không bình thường là rất mong manh, chúng có thể bị thay đổi tâm lý bất kỳ lúc nào. Sẽ có hai trường hợp xảy ra, đối với những trẻ có hệ thần kinh yếu, trẻ sẽ mắc chứng tự ti, trầm cảm; còn trẻ có hệ thần kinh mạnh, trẻ rất dễ trở nên hung tính hoặc mắc chứng nổi loạn, tính thiện ở trẻ dần mất đi, nhân cách của chúng dần bị thoái hóa.

Các nhà tâm lý biết, các nhà giáo dục cũng không lấy làm lạ, vậy đây thực sự là một vấn đề nan giải?

Theo PGS.TS Phan Trọng Ngọ – chuyên gia tâm lý của trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì hiện nay chúng ta mới chỉ chú ý đến khai thác con người chứ chưa quan tâm triệt để, chưa nhìn sâu cũng như chưa có chiến lược cụ thể về con người. Vấn đề định hướng và các chính sách từ cấp lãnh đạo mới là điều đáng phải bàn nhất, phải bắt nguồn từ chính ý thức trách nhiệm của những nhà quản lý và các cấp giáo dục. Trẻ em không tự tạo ra áp lực cho mình mà chính là do xã hội tạo ra áp lực cho chúng, vì vậy những gì cần làm không phải là thay đổi trẻ em mà phải tìm ra căn nguyên của hiện tượng để giải quyết triệt để.

Trẻ em cần được bảo vệ và cần được bảo vệ một cách khoa học, đó cũng là thông điệp của y học hiện đại.

Cáu gắt thường xuyên

Đột nhiên thấy mình hay cáu gắt, dù một mâu thuẫn nhỏ cũng dễ thành chuyện lớn. Có những chấn động tinh thần thoáng qua lẽ ra cần được chăm sóc thì hầu hết mọi người đều cho rằng chả sao cả hoặc từ từ sẽ hết, nhưng rồi lại trầm trọng hơn.

Trong cuộc sống có những tác động thay đổi tình trạng tâm lý của mình. Thông thường cái sự buồn sau một thời gian sẽ hết một cách tự nhiên. Nhưng có những bực tức mình không thể tự giải quyết được. Sự kéo dài quá lâu khiến chúng ta mất ăn mất ngủ, sa sút tinh thần, có thể dẫn mình đến những hành động liều lĩnh khác. Đó là điều mà chúng ta cần quan tâm đến vấn đề sức khỏe tâm lý sớm.

Người Việt Nam chúng ta nói riêng và người châu Á nói chung thường có cảm giác ngại, sợ người khác biết mình có vấn đề về tâm lý nên giấu, không muốn chia sẻ, đấy lại là nguyên nhân làm tình trạng tệ hơn.

Theo thống kê ở Mỹ, người Việt tìm đến chuyên gia để được giải quyết vấn đề tâm lý chỉ được 10%. Khác với người châu Âu, chỉ cần vợ chồng cãi nhau mà không giải tỏa được là họ đã tìm đến bác sĩ tâm lý chứ chưa nói đến những người có vấn đề tâm lý cá nhân quá lâu dài, quá sâu sắc.

cau-gat-thuong-xuyen

Có thể do văn hóa từ ngàn xưa của mình sống trong nếp nhà nhiều hơn là giao du xã hội rộng rãi. Lúc nào cũng cố gắng nhịn nhục vì nghĩ là gia đình với nhau. Tất cả tạo nên trở ngại cho bản thân người bệnh là không được chữa trị, tác động tới công ăn việc làm, tới giá trị tinh thần của bản thân và tồi tệ hơn là chỉ vì một chấn động tâm lý nhỏ để quá lâu ngày trở thành tâm bệnh mà chúng ta quen gọi là bệnh tâm thần.

* Người ta sợ nói đến bệnh tâm thần, nhưng cần hiểu tách bạch vấn đề tâm lý và bệnh tâm thần thế nào cho đúng, thưa bác sĩ?

– Theo định nghĩa của môn tâm lý tâm thần học, tâm lý bất thường được xem như là một bệnh tâm thần. Tuy nhiên tâm lý bất thường có mức độ từ nhẹ đến nặng. Nhiều người thường hiểu bệnh tâm thần ở mức nặng chứ không phải là triệu chứng tâm lý bất thường. Quan niệm như thế không chính xác.

Ví dụ: một người có cảm giác bất an, lo âu khi đứng một mình trong thang máy là một dạng của bệnh tâm thần nhẹ, hay người không biết gì đến thực tại xung quanh là bệnh tâm thần phân liệt – bệnh tâm thần nặng. Nói tóm lại, tâm lý bất thường hay bệnh tâm thần cũng chỉ là hai cách nói, nhưng ý nghĩa của chúng không có gì khác nhau, chỉ khác nhau là ở mức độ mà thôi.

* Các dấu hiệu rối loạn tâm lý thường gặp nào bắt buộc chúng ta cần sớm đến gặp chuyên gia tâm lý?

– Có những triệu chứng bất thường về tâm lý có thể tự nhiên sau một thời gian sẽ biến mất. Nhưng cũng có những triệu chứng tâm lý bất thường cứ mãi kéo dài nếu như chúng ta không có được sự giúp đỡ của người khác. Các dấu hiệu rối loạn tâm lý cũng rất đa dạng. Ví dụ như bị mất ngủ kinh niên, tự nhiên đột xuất sợ sệt, hoặc thường ở trong trạng thái lo âu, buồn bã chán nản, cảm giác trống trải trong một thời gian dài, mất niềm tin và không còn muốn sống…

* Vậy làm sao để không từ một chấn thương tâm lý trở thành bệnh tâm thần?

– Việc đầu tiên là chúng ta cần có thói quen tìm hiểu, nhận dạng tâm lý chính bản thân mình bằng cách trau dồi kiến thức. Kiến thức về tâm lý càng nhiều thì sự hiểu biết tâm lý của chính mình càng tốt hơn. Kiến thức tâm lý vừa giúp trị liệu cho mình và cũng có thể giúp trị liệu, trực tiếp hay gián tiếp người thân trong gia đình.

Có những sự việc khi bạn đau buồn tột độ, thâm tâm lại nghĩ mình có thể giải quyết được nhưng thật sự những nỗ lực tự giải quyết ấy chỉ khiến bạn bước vào vòng luẩn quẩn, rối trí. Có người sẽ vượt qua được những cú sốc về tinh thần nhưng cũng có người lại tìm đến cái chết là vì vậy. Cần tìm sự trợ giúp từ gia đình, bạn bè… Tốt nhất là đến chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ điều trị tâm lý.

Một điều đáng lưu ý là khi cá nhân hiểu được vấn đề tâm lý tâm thần thì hoặc người đó tự có khả năng vực dậy hoặc tìm đến những nguồn giúp đỡ khác. Vấn đề là do mình tự quyết định chứ không phải ai khác.

Cũng như các bệnh khác, việc phát hiện bệnh tâm thần đóng vai trò quyết định trong kết quả điều trị bệnh. Nếu không kịp thời phát hiện, bệnh không những khó điều trị mà có khi không thể điều trị khỏi được.

Triệu chứng stress càng ngày càng gia tăng

Theo các bác sĩ, stress đang gia tăng trong tình hình cuộc sống có nhiều tâm trạng, nhiều áp lực như hiện nay.

Cách đây một tháng, Viện Sức khỏe tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội) nhận một bệnh nhân nam 35 tuổi là giám đốc doanh nghiệp. Trên người bệnh nhân toàn áo quần hàng hiệu, trông có vẻ khá giả nhưng lại luôn lẫn lộn những người xung quanh. Theo các bác sĩ, bệnh nhân đang gặp một số vướng mắc liên quan đến công việc, dẫn đến lo lắng thái quá và rối loạn hành vi.

Quá nhiều nguy cơ

Theo bác sĩ Lý Trần Tình – giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, mặc dù không có thống kê chính thức, nhưng qua thực hành lâm sàng có thể thấy số lượng bệnh nhân có các vấn đề về stress liên quan đến công việc đang có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Trong năm năm trở lại đây, cơ cấu bệnh lý ở bệnh nhân có các rối loạn về tâm thần đã có sự thay đổi. Trước kia, bệnh nhân tâm thần phân liệt chiếm tỉ lệ rất cao từ 70-80%, gần đây số lượng bệnh nhân có vấn đề về stress, căng thẳng, mất ngủ, trầm cảm lại gia tăng, chiếm tỉ lệ tương đương nhóm bệnh nhân tâm thần phân liệt.

trieu-chung-stress-cang-ngay-cang-gia-tang

Theo phân tích của ông Lý Trần Tình, xã hội ngày nay tiềm ẩn quá nhiều nguy cơ tác động tiêu cực đến đời sống và sức khỏe tâm thần của con người. Có thể thấy những nguy cơ lớn như ô nhiễm môi trường, sự phát triển nhanh chóng, ồ ạt và khó kiểm soát của công nghệ, lối sống mới. Tình hình an ninh trật tự có dấu hiệu đi xuống, chính sách cho an sinh, giáo dục còn nhiều bất cập… tất cả những điều này tạo thành những sức ép, áp lực cho từng cá thể xã hội. Khi những nguy cơ này tác động cùng một lúc và trong một thời gian ngắn lên một người nào đó sẽ trở thành thách thức sức chịu đựng, nếu không thích nghi được rất dễ bị “quỵ ngã” về tinh thần và mắc các chứng rối loạn về tâm thần.

Cũng theo ông Lý Trần Tình, tình hình kinh tế suy thoái như hiện nay kéo theo nhiều hệ lụy, nhiều nguy cơ đến sức khỏe tâm thần của con người. Bệnh viện Tâm thần Hà Nội ghi nhận được rất nhiều trường hợp bệnh nhân trước kia là người thành đạt, là chủ doanh nghiệp phải vào điều trị sau khi phá sản, thất bại trong kinh doanh. Những bệnh lý tâm thần liên quan đến công việc phổ biến nhất là liên quan đến stress trường diễn hoặc stress cấp.

Bệnh nhân bị stress cấp phải chịu một cú sốc quá lớn với sức chịu đựng, từ đó có thể mắc chứng trầm cảm, tâm thần phân liệt. Đối với stress trường diễn, người có bệnh lý này đã phải chịu những cú sốc rất lớn, thất bại trong cuộc sống về công danh, tiền tài hoặc tình cảm suốt một thời gian dài. Những bệnh nhân này thường tìm đến các chất kích thích như rượu, ma túy để giải sầu và mong muốn chấm dứt cơn sầu, nhưng rượu và ma túy chỉ làm tổn hại thêm tinh thần của bệnh nhân, bệnh nhân rất dễ bị sa lầy vào nỗi buồn, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến hậu quả giống như ở stress cấp – bệnh nhân rơi vào trầm cảm hoặc có thể bị tâm thần phân liệt.

Tăng cường lối sống lành mạnh

Bác sĩ Nguyễn Minh Tuấn, phó viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, cho rằng những lo lắng trong cuộc sống, công việc… không những dẫn đến các hiện tượng như mất ngủ, căng thẳng, ăn kém ngon, còn dẫn đến các bệnh thực thể như huyết áp, dạ dày. Hiện tượng lo âu, căng thẳng kéo dài và không được điều trị hiệu quả sẽ trở thành trầm cảm. Theo bác sĩ Tuấn, nhiều trường hợp trầm cảm có triệu chứng nặng luôn tự nghĩ mình đang mắc bệnh hiểm nghèo, không thể chữa được, chỉ có chết mới có thể giải thoát và đã tự tử. Với những trường hợp này, bác sĩ Tuấn khuyên gia đình đưa bệnh nhân đến bệnh viện chuyên khoa để điều trị.

Để chống lại stress và lo âu quá mức trong tình hình kinh tế khó khăn, bác sĩ Tuấn khuyên những người đang có khó khăn liên quan đến tài chính và công việc nên quy hoạch lại chi tiêu, giảm bớt những chi phí không cần thiết, không hợp lý, chấp nhận điều kiện mới để vực dậy tình trạng hiện tại. “Trong tình hình tài chính khó khăn mà vẫn thích đi ăn nhà hàng, sắm đồ hiệu, khoe khoang sự giàu có sẽ càng chịu áp lực tinh thần. Nên thay đổi theo hướng trước tiêu 10, nay kiếm được ít hơn chỉ tiêu 6-7 thì sẽ dễ chịu hơn”- ông Tuấn chia sẻ.

Theo bác sĩ Lý Trần Tình, tất cả mọi người đều có nguy cơ mắc các chứng rối loạn về tâm thần và có thể mắc nhiều lần trong đời. Muốn hạn chế được hậu quả do các chứng rối loạn tâm thần gây ra, trước tiên phải dự phòng các nguy cơ có hại bằng cách sắp xếp hợp lý giữa lao động và nghỉ ngơi, tăng cường tập luyện thể dục, thể thao, giải trí, loại trừ cảm xúc âm tính… Bác sĩ Tình cũng cho rằng cần phải ăn uống hợp lý, tăng cường chất xơ, vitamin trong bữa ăn; chú trọng giấc ngủ không để tình trạng mất ngủ kéo dài. Không đặt ra những mục tiêu, ham muốn quá xa khả năng thực hiện của bản thân, vì nếu không đạt được mục tiêu, ham muốn đó con người rất dễ cảm thấy mình bị thất bại, dẫn đến các cảm xúc tiêu cực khác. Bác sĩ Tình cũng khuyến cáo hạn chế mức tối đa việc sử dụng chất kích thích như rượu bia để giải sầu.

Tìm hiểu bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần và về lâu dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân (BN).Bệnh thường bắt đầu ở tuổi trẻ và thường kéo dài suốt cả cuộc đời.

Bệnh thường khởi phát nhanh với các triệu chứng cấp tính xuất hiện trong vài tuần hay có thể khởi phát chậm dần dần trong nhiều tháng, nhiều năm.

Trong thời gian bệnh, BN thường trở nên xa lánh những người khác, ít nói chuyện với người thân, trở nên trầm tư, lo âu hoặc hay sợ hãi.

tim-hieu-benh-tam-than-phan-liet

I. Triệu chứng của bệnh TTPL

Các triệu chứng quan trọng nhất gồm:

1. Hoang tưởng

–   Là những ý tưởng sai lầm, không phù hợp với thực tế, do bệnh tâm thần gây ra nhưng BN cho là hoàn toàn đúng, không thể giải thích hay phê phán được.

–   Nội dung hoang tưởng rất đa dạng, nhưng thường gặp nhất là:

Hoang tưởng tự cao: thí dụ BN nghĩ rằng mình có thể làm tướng chỉ huy quân đội mặc dù BN chưa từng đi bộ đội hoặc BN nghĩ rằng mình có thể chữa các loại bệnh khó như bệnh ung thư dù BN không học ngành y…

Hoang tưởng bị hại: thí dụ BN nghĩ rằng những người hàng xóm hay người trong gia đình đang tìm cách đầu độc BN…

Hoang tưởng bị chi phối: thí dụ như BN nghĩ rằng có một thế lực vô hình nào đó đang kiểm soát mọi suy nghĩ hay hành động của mình…

– BN sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung hoang tưởng thí dụ như BN sẽ từ chối không ăn cơm chung với gia đình và tự nấu ăn nếu BN nghi có ai tìm cách đầu độc mình…

2. Ảo thanh

–   Là BN nghe một hay nhiều giọng nói tưởng tượng vang lên trong đầu hay vang bên tai.

–   Nội dung của ảo thanh thường là: đe doạ, buộc tội, chửi bới hay nhạo báng BN.

–   BN cũng sẽ có một số phản ứng tùy theo nội dung của ảo thanh thí dụ như BN sẽ bịt tai khi nội dung của ảo thanh là chưởi bới, BN sẽ có hành vi tự vệ nếu nội dung của ảo thanh là đe doạ…

3. Rối loạn khả năng suy nghĩ

Lời nói BN trở nên khó hiểu, đang nói BN bỗng đột ngột ngưng lại rồi một lúc sau mới nói tiếp chủ đề cũ hay nói sang chuyện khác. Đôi khi BN nói lung tung đến nỗi người nghe không hiểu BN muốn nói gì.

II. Các triệu chứng kém quan trọng hơn

4. Mất đi ý muốn làm việc

Đầu tiên BN sẽ không thể tiếp tục làm việc tốt tại cơ quan hay học tập tốt trong trường học. Nếu nặng hơn BN sẽ không còn làm tốt được các công việc hằng ngày như làm việc nhà, giặt giũ, nấu ăn… và nặng nhất là BN sẽ không chú ý đến vệ sinh cá nhân, không tắm rửa, ăn uống kém…

Chú ý: tình trạng này được gây ra do bệnh chứ không phải tại BN lười biếng.

5. Giảm sự biểu lộ tình cảm

Sự biểu lộ tình cảm của BN bị giảm sút nhiều. BN hoặc sẽ không phản ứng trước các sự kiện vui buồn hoặc ngược lại đối với sự  kiện vui thì BN buồn và đối với sự kiện buồn thì BN tỏ ra vui.

6. Sự cách ly xã hội

BN không muốn tiếp xúc với những người khác, ngay cả đối với những người thân trong gia đình BN cũng không muốn nói chuyện. Điều này có thể do khả năng nói chuyện của BN bị giảm sút do bệnh hoặc do BN không muốn nói chuyện với người khác vì có hoang tưởng sợ người ta hại mình.

7. Không nhận thức được rằng bản thân mình đang bị bệnh

Thông thường nhiều BN TTPL không nghĩ rằng mình bị bệnh, do đó họ có thể sẽ từ chối việc đi đến bác sĩ để chữa bệnh.

Nếu BN có một hoặc vài triệu chứng trên đây, cần khuyên BN đến các y bác sĩ tâm thần để chữa bệnh càng sớm càng tốt.

III. Nguyên nhân của bệnh TTPL

Hiện nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân chủ yếu gây bệnh TTPL mà bệnh được nghĩ rằng do một số yếu tố khác nhau phối hợp gây ra:

1. Yếu tố di truyền

Bệnh TTPL có khuynh hướng di truyền trong gia đình. Ở dân số bình thường thì tỷ lệ mắc bệnh là 1%, nhưng nếu có một người trong số cha mẹ bị TTPL thì tỷ lệ mắc bệnh ở các đứa con tăng lên đến 12%.

2. Yếu tố sinh hoá

Vài chất hoá học trong não được nghĩ rằng có góp phần gây ra bệnh này, nhất là chất Dopamine.

3. Yếu tố gia đình

Hiện nay chưa có bằng chứng để nghĩ rằng các rối loạn trong mối quan hệ gia đình có thể gây ra bệnh TTPL. Tuy nhiên người ta nhận xét thấy BN TTPL dễ tái phát hơn nếu không khí trong gia đình căng thẳng.

4. Yếu tố môi trường

Người ta nhận thấy môi trường chung quanh quá nhiều sang chấn (stress) có thể góp phần thúc đẩy sự xuất hiện bệnh TTPL.

VI- Điều trị bệnh TTPL

Hiện nay phương pháp điều trị hiệu quả nhất bệnh TTPL là sự phối hợp giữa thuốc chống loạn thần và công tác phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN.

1. Thuốc chống loạn thần

Các thuốc chống loạn thần cổ điển như như Aminazine, Haldol… đã giúp ích rất nhiều trong việc điều trị bệnh TTPL. Nhờ các thuốc này, ngày nay đa số BN TTPL không cần nằm bệnh viện tâm thần lâu dài mà có thể điều trị ngoại trú bằng cách đến lãnh thuốc đều đặn tại các Phòng khám tâm thần quận huyện hay các Trạm y tế phường xã. Họ vừa uống thuốc vừa có thể sống thoải mái trong gia đình và xã hội.

Hiện nay đã xuất hiện các thuốc chống loạn thần thuộc thế hệ mới như risperidone, olanzapine… vừa có hiệu quả hơn mà lại ít tác dụng phụ hơn các thuốc loại cổ điển nên đã góp phần làm BN yên tâm điều trị lâu dài.

Chú ý:

–   Các thuốc này không gây nghiện. Chúng chỉ góp phần điều chỉnh các chất hoá học trong não.

–   Đa số BN cần điều trị trong thời gian rất lâu dài để đề phòng tái phát. Việc ngưng uống thuốc nhất thiết cần phải hỏi ý kiến bác sĩ tâm thần.

2. Phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho BN

Bao gồm một loạt các biện pháp nhằm mục đích:

–   Giúp BN TTPL phục hồi khả năng tiếp xúc với mọi người chung quanh, khả năng làm việc và học tập .

–   Giúp gia đình BN hiểu rõ hơn về bệnh TTPL, về cách điều trị và các tác dụng phụ của thuốc chống loạn thần, về cách đối xử thích hợp với BN.

–   Giúp hàng xóm và mọi người trong xã hội có cái nhìn đúng đắn về loại bệnh này để mọi người chung quanh BN thông cảm với BN hơn và họ cũng xem bệnh này cũng giống như những loại bệnh cần được điều trị lâu dài khác như bệnh tiểu đường, bệnh cao huyết áp…

V. Những điều nên tránh đối với bệnh TTPL

–   Không nên đưa BN đến thầy bùa, thầy pháp vì bệnh TTPL không phải do ma quỷ gây ra.

–   Không nên tranh luận với BN về sự vô lý của hoang tưởng. Những ý nghĩ bệnh lý đó chỉ có thể biến mất đi nhờ thuốc chống loạn thần.

–   Không nên xiềng xích, trói hay nhốt BN vì thuốc chống loạn thần có thể làm cho BN không còn hung hăng, kích động.

–   Không nên tự ý cho BN ngưng uống thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ tâm thần .

                                                                                    BS. Lê Quốc Nam

  Bệnh viện tâm thần TP. Hồ Chí Minh

Những dạng bệnh thần kinh đáng sợ nhất

Trên thế giới còn tồn tại không ít những dạng bệnh hiếm gặp còn đáng sợ hơn cả những căn bệnh nan y hiện nay. Đó là những chứng bệnh đôi khi biến con người thành những người hoàn toàn khác biệt hoặc gây ra những đau đớn đáng sợ đối với họ.

Chứng bệnh đa nhân cách từng được biết đến trong nhiều câu chuyện nổi tiếng của Mỹ và một số bộ phim về đề tài hình sự, chứng bệnh đa nhân cách MPD (multiple personality disorder) hay còn được biết đến với tên gọi khủng hoảng đa nhân dạng (dissociative indentity disorder – DID) là một trong những chứng bệnh về tâm thần nguy hiểm nhất thế giới hiện nay.

nhung-dang-benh-than-kinh-dang-so-nhat1

Thực chất đây là một dạng bệnh về thần kinh rất khó nhận biết. Bệnh nhân có biểu hiện không khác gì một người bình thường. Tuy nhiên, vào một thời điểm nào đó, nhân cách bình thường đó bỗng nhiên bị “tan rã” đi và thay vào đó là một nhân cách hoàn toàn khác hẳn, đôi khi là một nhân cách trái ngược hẳn với bản chất con người họ.

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nguyên nhân bắt nguồn từ hiện tượng bị stress và căng thẳng tới mức cực độ trong quá khứ của người bệnh. Chính điều này đã dẫn tới cách hoạt động của vùng não chức năng kiểm soát trí nhớ bị phá vỡ nghiêm trọng.

Những bệnh nhân bị mắc phải chứng bệnh đa nhân cách sẽ tạo thành ít nhất thêm một nhân cách khác đại diện nhất cho bản chất của họ khi gặp phải một tình huống ngẫu nhiên. Khi đó, tính cách mới này sẽ kiểm soát toàn bộ con người họ. Trong một số trường hợp, nó gây trở ngại cho người bệnh trong việc tiếp xúc với người khác.

200014393-001

Trường hợp điển hình cho chứng bệnh đa nhân cách là cầu thủ bóng đá nổi tiếng Herschel Walker. Trong cuốn sách mới đây nhất của mình với tựa đề “my life with dissociative indentity disorder” (cuộc đời tôi và chứng bệnh đa nhân cách), Walker tiết lộ rằng cuộc đời ông luôn bị đứt đoạn do một nhân cách khác xen vào. Đó chính là thứ nhân cách đã dẫn ông tới việc tự tử. Theo các nhà tâm lý, thì hiện tượng chấn thương tâm lý (khi còn nhỏ) cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới sự hình thành căn bệnh đa nhân cách.

ADD – Chứng bệnh thiếu tập trung Trong các dạng bệnh về tâm thần, thì chứng khủng hoảng thiếu tập trung (attention deficit disorder – ADD) là dạng bệnh rất đáng chú ý. Các dấu hiệu của chứng bệnh này hiện còn gây ra không ít tranh cãi trong giới khoa học. Ở nhiều người, ADD chỉ bắt đầu xuất hiện khi họ bắt đầu qua tuổi 25. Điều đó có nghĩa là ADD là một dạng phát triển có quá trình chứ không đơn giản là một căn bệnh.

Khủng hoảng cảm xúc PTED (posttraumatic embitterment disorder). Là một dạng bệnh thường xảy ra với những người bị sốc do bị mất việc, do li hôn hoặc khi có người thân yêu qua đời. Ở những người này, thường xuyên xuất hiện một trạng thái cảm xúc tiêu cực, đau đớn.

Trường hợp đầu tiên được phát hiện bởi nhà tâm thần học người Đức Michael Linden sau sự kiện sụp đổ của bức tường Berlin. Trong thông báo về nghiên cứu của mình, ông cho biết: sau sự kiện đó, có khá nhiều người bỗng nhiên bị rơi vào trạng thái cảm xúc lạ. Họ thường xuyên buồn bã, giận dữ vô lý và cảm giác tuyệt vọng đến cùng cực. Trạng thái này khác hiện tượng stress thông thường và có mức độ cao hơn stress. Ở một số trường hợp, người bệnh liên tục khóc không ngừng và rơi vào trạng thái suy nhược.

Chứng nổi điên bất thường (intermittent enplosive disorder)

Hãy thử tưởng tượng, trong một khoảnh khắc nào đó, một trạng thái tồi tệ bỗng dưng xuất hiện ở con người và khiến người đó nổi điên gây chiến với những người xung quanh mà không rõ vì lý do gì.

Hiện tượng tâm lý tiêu cực này nảy sinh khi người bệnh mất kiểm soát chính bản thân mình và họ bắt đầu hành động hoàn toàn không phù hợp với tình huống. Chứng bệnh này xuất hiện khá phổ biến. Năm 2006, theo thống kê của Viện sức khoẻ quốc gia Hoa Kỳ, chứng nổi điên bất thường đã ảnh hưởng tới 7,3% người trong độ tuổi trưởng thành tại nước này.

Hầu hết các bệnh nhân là phụ nữ. Kết thúc cơn điên, hầu hết họ đều bị vào tù do hậu quả của những hành động không thể kiểm soát gây ra. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, những người bệnh này không đáng phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, bởi đây thực chất là một chứng bệnh đã kiểm soát hành vi con người họ, chứ không phải do chính bản thân họ chủ động. Sau khi kết thúc cơn điên, người bệnh gần như không nhớ tất cả những gì họ vừa gây ra.

Triệu chứng Morgellons: Là một trong những chứng bệnh kỳ lạ và đáng sợ hiện nay theo như đánh giá của giới khoa học. Triệu chứng của bệnh Morgellons là việc xuất hiện những tổn thương trên da giống như bị các vật liệu vô cơ chẳng hạn như sợi và thủy tinh mọc đâm lên trên da.

Trên thực tế, đã có trường hợp bệnh nhân cho biết trên da họ bỗng nhiên mọc ra một loại vật liệu vô cơ. Đó là trường hợp của cô Brandi Koch sống tại Mỹ. Bệnh nhân Koch cho biết, cô đã tận mắt nhìn thấy những sợi màu mọc ra từ da mình. Những sợi này giống như tóc, nhưng chúng có những màu sắc khác nhau.

Trường hợp thứ hai là trường hợp của bệnh nhân Smith. Ông cho biết vào năm 2006, bỗng nhiên ông có cảm giác như bị cào xé da thịt, rồi những sợi lạ bắt đầu mọc trồi lên trên da trông rất kỳ lạ.

Chứng bệnh chống đối (ODD – oppositional defiant disorder): Là một dạng bệnh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và khiến cho chúng có các biểu hiện dạng bất vâng lời, hoặc chống đối lại những lời dạy bảo của cha mẹ.

Theo TS Galynker – một chuyên gia nghiên cứu về ODD, thì nguồn gốc của chứng bệnh này bắt nguồn từ gen, song cũng tồn tại một nguyên nhân thứ hai, đó là do cách dạy bảo của cha mẹ chưa khoa học dẫn tới sự phát triển tâm lý không bình thường ở trẻ. Sự chống đối có thể thể hiện ngay trước mặt, song cũng có thể tồn tại ở dạng ngầm chống đối.

Chứng điên bỏ nhà đi (dissociative fugue state): Là một dạng bệnh hiếm gặp song vẫn tồn tại trên thực tế. Trường hợp bệnh được biết đến nhiều nhất là trường hợp của một luật sư người Mỹ thành công trong sự nghiệp. Ông là cha của hai đứa con xinh xắn trong một gia đình hạnh phúc. Song, đột nhiên người đàn ông này rời khỏi gia đình, công việc và mất tích trong một thời gian dài.

6 tháng sau đó, ông ta được tìm thấy đã thay đổi tên họ và đang sống trong một thành phố khác. Người đàn ông này trước đó đã tìm đến bệnh viện, trong người không một xu dính túi, không giấy tờ và nói với các bác sĩ rằng ông vừa tỉnh dậy trên đường phố và không thể nhớ được mình là ai. Hai tuần sau khi được đưa trở về nhà, ông trở về trạng thái bình thường như 6 tháng trước khi rời khỏi nhà.

Theo các bác sĩ, trường hợp của người đàn ông này thực chất là một dạng bệnh có tên khoa học là dissociative fugue state có nghĩa là chứng điên dẫn tới việc bỏ nhà đi. Trạng thái kèm theo của chứng bệnh này là việc người bệnh bị mất toàn bộ trí nhớ và khả năng nhận thức trong một thời gian tạm thời, cho tới khi trạng thái bình thường bỗng nhiên đột ngột trở lại.

(Theo SK & ĐS)

Những dấu hiệu trầm cảm ở trẻ lứa tuổi 7-8 tuổi

Nghiên cứu mới cho thấy các dấu hiệu của trầm cảm, dạng rối loạn sức khỏe trí tuệ phổ biến nhất ở Mỹ, có thể được nhận biết ngay từ khi trẻ học lớp 2 – sớm hơn rất nhiều so với người ta vẫn nghĩ.

Một nghiên cứu do trường đại học Washington tiến hành trên gần 1000 trẻ em ở độ tuổi theo học từ lớp 2 đến lớp 8 đã đưa ra 5 nhóm kết quả khác nhau về sự phát triển các dấu hiệu trầm cảm ở thanh thiếu niên.

“Một số trẻ nói rằng chúng không có nhiều bạn, cảm thấy cô đơn hơn và lo âu hơn so với bạn bè cùng trang lứa,” James Mazza, giáo sư tâm lý giáo dục thuộc đại học Washington, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết. “Chúng tiết lộ rằng chúng thấy mình khác biệt so với một đứa trẻ học lớp 2 vô tư lự thông thường.”

“Chúng tôi có thể bắt đầu xây dựng những mô tả sơ lược về sức khỏe tinh thần của trẻ học lớp 2. Điều này là rất quan trọng bởi những em có triệu chứng trầm cảm từ sớm có nguy cơ cao hơn về các vấn đề sức khỏe tinh thần ở tuổi vị thành niên, đây là kết quả đã công bố của nhiều công trình khoa học khác. Chúng tôi muốn khẳng định lại với các bậc phụ huynh rằng, tất cả mọi người, bao gồm cả trẻ em, đều có thể cảm thấy buồn bã hay phiền muộn, nhưng điều này không có nghĩa là chắc chắn chúng sẽ mắc phải chứng trầm cảm sau này. Chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu trầm cảm bắt đầu và phát triển ra sao ở trẻ để từ đó có các biện pháp phòng tránh cho các em, ” Mazza nói.

Nghiên cứu mới này dựa trên các bản tự đánh giá của trẻ cũng như báo cáo từ các bậc phụ huynh và giáo viên trong khảo sát Nâng cao Sức khỏe Trẻ em – một cuộc điều tra dài hạn với qui mô lớn nhằm xem xét sự phát triển sức khỏe và các vấn đề cư xử ở trẻ trong phạm vi 10 trường ngoại ô vùng Pacific Northwest. Khảo sát trầm cảm hiện tại sử dụng dữ liệu từ 511 em trai và 440 em gái, trong số đó 81% là trẻ da trắng.

Nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm kết quả về trầm cảm ở trẻ; trong đó 56% trẻ không có hoặc ít có biểu hiện trầm cảm ở tuổi học lớp 2. Thông tin về 5 nhóm đối tượng cụ thể như sau:

• Kết quả dấu hiệu thấp và ổn định – 26%: những đứa trẻ này không có hoặc hầu như không có dấu hiệu trầm cảm ở năm học lớp 2, và tỉ lệ dấu hiệu không thay đổi theo thời gian cho tới tận năm lớp 8.

Trẻ em trầm cảm

Trẻ em trầm cảm

• Thấp nhưng tăng dần – 30%: Trẻ thuộc nhóm này cũng không có hoặc hầu như không có dấu hiệu trầm cảm khi học lớp 2, nhưng số dấu hiệu tăng lên chút ít trong những năm tiếp theo.

• Trung bình & ổn định – 24%: Nhóm này có ít dấu hiệu nhưng số dấu hiệu tăng lên chút ít trong những năm tiếp theo.

• Vừa phải & thay đổi – 11%: Những trẻ này bắt đầu với nhiều biểu hiện hơn so với nhóm kể trên và số lượng biểu hiện tăng dần qua các năm tiểu học, nhưng sau đó lại giảm ở bậc trung học cơ sở.

• Vừa phải & tăng dần – 9%: Nhóm này ở lớp 2 có số triệu chứng tương đương với nhóm trên, nhưng các biểu hiện không giảm đi mà tiếp tục tăng ở bậc trung học cơ sở.

Nghiên cứu xác định các yếu tố rủi ro liên quan tới bệnh trầm cảm ở các em trai và em gái. Đối với em trai, các vấn đề về hành vi và sự tập trung cho biết trẻ thuộc nhóm nào. Ở các em gái, sự lo lắng là một yếu tố rủi ro xuất hiện sớm. Nghiên cứu cũng tái khẳng định những kết quả trước đây từng chỉ ra sự khác nhau giữa hai giới trong các dấu hiệu trầm cảm, trong đó nữ giới biểu hiện nhiều dấu hiệu hơn nam giới ở tuổi học lớp 8.

“Trẻ em là nguồn thông tin đáng tin cậy nhất về cảm giác, cảm xúc bên trong bản thân chúng. Nhưng cũng cần có cái nhìn đa chiều. Việc thu thập dữ liệu từ các bậc phụ huynh, giáo viên và trẻ để xác định sớm nguy cơ trầm cảm là một biện pháp tốt phát hiện ra những trường hợp có thể gặp phải các vấn đề liên quan sức khỏe tinh thần sau này,” Mazza nói.

G2V Star (Theo ScienceDaily)

Nhận diện bệnh tâm thần

Công tác nhiều năm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, ông La Đức Cương, giám đốc Bệnh viện Tâm thần T.Ư 1, không ít lần chứng kiến những vụ việc đau lòng mà bệnh nhân tâm thần vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm.

Nghiện chất kích thích, gặp nhiều áp lực…

Theo ông Cương, những người nghiện thường có hành vi rất nguy hiểm, họ thường xuyên rơi vào trạng thái ảo giác, hoang tưởng hoặc thay đổi tính cách, hành vi hoàn toàn. Có những người chồng, người cha vốn hiền lành, thương vợ yêu con nhưng chỉ cần một chút rượu, bia là có thể chửi mắng, đánh đập, ra tay tàn ác với vợ con. Điều đáng nói, những người này sau khi tỉnh rượu lại tỏ ra sợ hãi chính hành động của mình, hối lỗi, cầu xin vợ con tha thứ. Nhưng sau khi có rượu, bia thì lặp lại hành vi côn đồ. Với những người nghiện ma túy, đặc biệt ma túy đá và game, thường bị ảo giác chi phối mạnh mẽ hơn so với các chất gây nghiện khác.

nhan-dien-benh-tam-than

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, Bệnh viện 175 TP.HCM, tham vấn cho bệnh nhân – Ảnh: T.T.D.

Thực tế, không ít câu chuyện cướp của, giết người dã man do những người nghiện game, ma túy gây ra. Họ có thể không biết mình mắc chứng rối loạn tâm thần, đặc biệt bệnh nhân rối loạn tâm thần nặng lại thường phủ định mình bệnh, không thăm khám điều trị, dẫn đến bệnh ngày một nặng thêm.

Ông Cương cũng chia sẻ những áp lực từ xã hội khiến tâm lý con người biến đổi theo. Dường như con người ngày nay không những nóng nảy, hung dữ hơn xưa mà còn có những hành vi cực đoan đáng sợ. Chỉ cần một cái liếc mắt, một câu nói là đã có thể sử dụng đến nắm đấm, thậm chí có thể đâm, chém người!

Trong khi đó, TS Đinh Đăng Hòe (Bệnh viện Hồng Ngọc) lại nhận định một trong những nguyên nhân đáng quan tâm dẫn đến bệnh lý tâm thần ở giới trẻ, đặc biệt giới trẻ thành thị hiện nay, chính là sự “bao cấp”. Theo TS Hòe, phụ huynh (nhất là người có chức vụ hoặc làm kinh doanh) thường tham công tiếc việc, không có thời gian cho con. Nhưng ở một mặt khác, sự nuông chiều trẻ quá mức của phụ huynh có thể dẫn đến việc trẻ bị lệ thuộc, không có khả năng tự lập, đặc biệt cái tôi của trẻ quá lớn, coi mình là trung tâm vũ trụ… dễ dẫn đến hành vi lệch lạc sau này.

Điều trị sớm sẽ rất tốt

Đại tá – bác sĩ Nguyễn Văn Hường, chủ nhiệm khoa nội tâm thần Bệnh viện 175 (TP.HCM), cho biết có hàng trăm loại bệnh tâm thần khác nhau với rất nhiều triệu chứng, biểu hiện khác nhau. Tuy nhiên, loại bệnh tâm thần thường gặp nhất là tâm thần phân liệt và rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, trầm cảm.

Theo bác sĩ Hường, bệnh rối loạn cảm xúc có nhiều thể là rối loạn trầm cảm, rối loạn hưng cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc – tức vừa có triệu chứng của tâm thần phân liệt, vừa có rối loạn cảm xúc. Ngoài ra, rối loạn lo âu cũng rất dễ gặp và có liên quan đến các vấn đề xã hội như áp lực, căng thẳng trong công việc, cuộc sống. Thế nhưng, những người bị bệnh rối loạn cảm xúc thường đến bác sĩ tâm thần rất muộn, do bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng rối loạn cơ thể và người bệnh thường không chịu nhìn nhận mình có bệnh tâm thần.

Cụ thể, có người biểu hiện đau dạ dày, đến bác sĩ tiêu hóa chữa hoài không hết nhưng tới bác sĩ tâm thần điều trị lại hết. Có người biểu hiện như bệnh tim mạch, hay hồi hộp, bồn chồn, đánh trống ngực, bứt rứt. Bệnh nhân đến bác sĩ tim mạch chữa hoài cũng không hết, khi đó mới đến bác sĩ tâm thần thì đã muộn. Vì vậy khi bác sĩ lâm sàng kết luận ai đó không có bệnh nhưng nếu họ vẫn biểu hiện như mắc bệnh thì nên chuyển qua bác sĩ tâm thần khám. Một người bình thường, có sức khỏe tâm thần bình thường có một điểm gen bình thường thì khi gặp phải chấn thương về tâm lý, hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ có một giai đoạn bị chông chênh. Qua giai đoạn chông chênh đó họ trở lại bình thường. Đối với người hơi nhạy cảm với stress một chút, khi gặp phải chấn thương tâm lý hoặc gặp bệnh tật, đau ốm, chiến tranh sẽ xuất hiện giai đoạn im lặng của bệnh. Nếu không giải tỏa, thích nghi được, người đó sẽ có giai đoạn tiền triệu chứng như mất ngủ, hành vi bất thường, bứt rứt khó chịu, rất khó phát hiện.

Muốn phát hiện được giai đoạn tiền triệu chứng, những người trong gia đình phải quan tâm lẫn nhau. Nếu bệnh nhân được điều trị sớm ở giai đoạn này sẽ rất tốt, giúp bệnh lý được chặn lại hoặc đỡ nghiêm trọng hơn.

Làm sao để người bệnh tâm thần chịu đi khám bệnh?

Không ít trường hợp người bệnh không chịu đi khám bệnh. Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hường, với những trường hợp này, người thân có thể tranh thủ lúc bệnh nhân đang có một bệnh nào đó như đau đầu, đau chân hay đau bụng… thì đưa đến bệnh viện khám bệnh. Nếu không làm được cách trên có thể mời bác sĩ chuyên khoa tâm thần đến nhà nói chuyện với bệnh nhân như một người quen đến chơi. Bác sĩ sẽ có cách tư vấn, giải thích, động viên và bệnh nhân sẽ nghe theo bác sĩ, đồng ý đến bệnh viện khám bệnh. Nếu cách này cũng không hiệu quả thì người nhà có thể đến gặp bác sĩ chuyên khoa tâm thần, kể cho bác sĩ nghe những triệu chứng, biểu hiện bệnh của bệnh nhân để có hướng chẩn đoán bệnh và kê toa thuốc điều trị. Sau đó tìm cách cho bệnh nhân uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ.

Theo bác sĩ Hường, ở nước ngoài người ta tổ chức được những đội bác sĩ chuyên khoa đến từng nhà bệnh nhân tâm thần để động viên, thuyết phục người bệnh đến bệnh viện khám, điều trị. Tuy nhiên ở VN chưa tổ chức được như vậy mà chủ yếu vẫn là do người nhà tự tìm cách đưa bệnh nhân đi khám.

Theo tuổi trẻ

Tìm hiểu Bệnh tâm lý

Tâm bệnh là gỉ?

Tâm bệnh hoặc bệnh tâm lý là các rối loạn về chức năng của não bộ, gây ra những thay đổi về suy nghĩ, nhận biết, tâm trạng, tính tình hoặc hành vi của người bệnh. Các thay đổi này không phù hợp với quan niệm bình thường của mọi người. Trong đa số các trường hợp, triệu chứng của bệnh đều tạo ra nhiều khó khăn cho sức khỏe, đời sống và khả năng làm việc của con người. Tâm bệnh đã được biết tới từ nhiều ngàn năm về trước nhưng sự điều trị chưa hữu hiệu lắm. Ngày nay, sự tiến bộ của y khoa học đã giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân của bệnh và các phương thức điều trị. Do đó, đa số người mắc bệnh đã sẵn sàng tìm kiếm điều trị, giúp đỡ.

Tâm bệnh và bệnh Thần kinh có giống nhau không?

Hai nhóm bệnh đều có nhiều điểm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong bệnh thần kinh có tổn thương thực thể tại các phần khác nhau của hệ thần kinh như não bộ, tủy sống, dây thần kinh ngoại vi. Người bệnh ít có các hành vi kỳ dị, ý nghĩ bất bình thường nhưng có thể tê liệt nửa người, khó khăn đi đứng, ăn nói… Trong tâm bệnh, các tổn hại thực thể của hệ thần kinh không rõ rệt. Ða số các dấu hiệu bệnh là do rối loạn chức năng của não. Bệnh nhân có thể đi lại bình thường nhưng tâm trạng, hành vi, suy nghĩ của họ đều khác thường. Tâm Bệnh còn được gọi bằng từ “Bệnh Tâm Thần”. Tuy nhiên, khi nói tới “Bệnh Tâm Thần” thì nhiều người hiểu là bệnh Điên. Cho nên các nhà chuyên môn tâm lý học đề nghị danh từ “Tâm Bệnh”, tiếng Anh là “Mental illness” và tiếng Pháp là “Maladie Mentale”.

tim-hieu-benh-tam-ly

Nguyên nhân nào gây ra tâm bệnh? Nguyên nhân đích thực gây ra một số bệnh tinh thần chưa được biết rõ. Tuy nhiên đa số bệnh là do sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau, như là: -Sự mất thăng bằng của một vài hóa chất đặc biệt ở não bộ -Di truyền -Ảnh hưởng xấu lên thai nhi khi mẹ có thai hoặc khi sinh đẻ -Tổn thương não bộ vì nhiễm vi khuẩn, chấn thương… -Yếu tố tâm lý như biến cố đau thương, mất mát, bị bạc đãi, lạm dụng, căng thẳng… -Ảnh hưởng hóa chất như lạm dụng thuốc, rượu, do ô nhiễm môi trường…

Có bao nhiêu loại Tâm bệnh?

Tâm bệnh được phân chia ra làm nhiều loại tùy theo những triệu chứng mà người bệnh diễn tả và các dấu hiệu do quan sát phát hiện.

Sau đây là các tâm bệnh thường thấy: -Rối loạn về tâm trạng như bệnh trầm cảm, bệnh lưỡng cực -Lo âu như bệnh hoảng loạn, ám ảnh tự kỷ, ám ảnh sợ hãi -Bệnh liên quan tới nghiện rượu, thuốc cấm, nicotine, caffein -Bệnh rối loạn tinh thần như tâm thần phân liệt -Rối loạn nhận thức như sa sút trí tuệ, mê sảng -Rối loạn hành vi, bạo động, đập phá, lạm dụng -Rối loạn về phát triển như Chậm phát triển trí tuệ

Xin cho biết các dấu hiệu chính của Tâm bệnh

Rối loạn tinh thần được biểu lộ bằng một số dấu hiệu mà người khác có thể quan sát thấy hoặc các triệu chứng mà bệnh nhân diễn tả. Ðó là:

1-Tâm trạng buồn

Lúc nào người bệnh cũng có vẻ buồn chán, ít cười nói, hay khóc thầm

2-Thay đổi tính tình

Người bệnh hay cáu kỉnh, bực bội, giận dỗi, than phiền, gây gổ với mọi người.

3-Giảm quan tâm đến mọi sự việc và mọi người

Bệnh nhân không còn thích thú và tham gia các sinh hoạt thường lệ, thích sống một mình, tránh các sinh hoạt xã hội, bỏ hoạt động tình dục, nằm lì trong giường, không coi TV, nghe radio, không muốn ra khỏi nhà, bỏ học, bỏ sở làm…

4-Lên cân hoặc xuống cân Từ chối ăn uống hoặc ăn quá nhiều, tăng hoặc giảm ký, dấu thức ăn…

5-Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều.

Thường thường họ khó đi vào giấc ngủ, thức dậy quá sớm, thức giấc giữa đêm, ngủ nhiều ban ngày, nằm thu mình co ro ở góc nhà, hành lang. Một số người lại hay ngủ quá nhiều vào ban đêm.

6-Thay đổi tác phong, dáng điệu

Họ đi đứng chậm chạp, giảm sinh lực, ít nói hoặc nói nhát gừng, tiếng một. 7-Mệt mỏi, hay nẳm vật nằm vạ, ngồi yên một chỗ, không chịu đi ra ngoài, không chăm sóc vệ sinh cá nhân, hay than phiền đau đầu, nhức mình mẩy.

8-Cảm thấy trở thành vô dụng, không có giá trị, cho là mình xấu xa, bất bình thường

9-Giảm khả năng suy nghĩ, không sáng suốt, hay quên, kém tập trung, dễ bị chia trí.

10-Nghĩ tới chuyện ma chay, chết chóc, dọa và có ý định tự tử, tự hủy hoại thân xác

11-Có dấu hiệu hoang tưởng, tin là có mà thực ra không có; có ảo giác, ảo tưởng như nghe các âm thanh hoặc nhìn thấy sự vật vô hình.

Dấu hiệu thay đổi tùy theo loại bệnh. Nếu có một hay nhiều triệu chứng kể trên, nên tới các nhà chuyên môn để được giúp đỡ, nhất là khi các triệu chứng đó gây ra ảnh hưởng không tốt cho sinh hoạt hàng ngày. Nhận ra bệnh sớm và được trị liệu ngay, các thay đổi khó khăn này có thể hết đi.

Tâm bệnh có chữa được không?

Bệnh có thể chữa được bằng dược phẩm và các phương thức trị liệu khác.

Nói là chữa được mà sao nhiều người không chịu đi chữa?

Có nhiều lý do khiến người bị bệnh tinh thần, đặc biệt là đối với người Mỹ gốc Á châu, ít đi các nhà chuyên môn điều trị vì: – không muốn bộc lộ cho người khác về chuyện tình cảm của mình, – bản chất chịu đựng, vì e ngại người khác biết chuyện riêng tư của mình – cho rằng mắc tâm bệnh là điên khùng, là xấu, là yếu đuối – sợ bị cô lập trong bệnh viện tâm trí – không tin ở cách thức trị liệu hiện có – giới hạn khả năng Anh ngữ, không diễn tả được bệnh nên ngần ngại tới các nhà chuyên môn

Ai có thể chữa được Tâm bệnh?

Các nhà chuyên môn sau đây là những người đóng góp vào việc điều trị và tư vấn, giải tỏa các rối loạn của bệnh nhân. Công việc của mỗi người có khác nhau nhưng tập trung đều là để phục hồi sức khỏe của người bệnh.

1-Bác sĩ Thần Kinh Tâm Trí (Psychiatrist).

Ðây là một y khoa bác sĩ có thêm ít nhất 4 năm huấn luyện chuyên môn về tâm bệnh lý, sau khi hoàn tất chương trình đại học y khoa. Các bác sĩ này có thể khám và chẩn đoán tất cả các loại tâm bệnh, biên toa cho thuốc, áp dụng tâm lý trị liệu và nhận bệnh nhân vào bệnh viện để điều trị. Có bác sĩ chuyên về bệnh tâm lý của trẻ em, người cao tuổi, lạm dụng thuốc rượu và bác sĩ tâm lý tổng quát.

2-Nhà tâm lý học (Psychologist).

Ðây là các nhà chuyên môn nghiên cứu khoa học về tâm lý, có học vị tiến sĩ nhưng không phải về y khoa. Họ được huấn luyện về đánh giá, trắc nghiệm tâm lý, tư vấn, điều trị tâm bệnh bằng lời nói với cá nhân hoặc một nhóm bệnh nhân. Họ làm việc tại trung tâm tư vấn, bệnh viện, trường học hoặc tại phòng điều trị tư.

3-Ðiều dưỡng tâm lý (Psychiatric nurse)

Những chuyên viên y tế này đã được huấn luyện về cách phòng chống, điều trị và phục hồi khả năng cho bệnh nhân tâm lý. Họ thực hiện trị liệu cá nhân, nhóm hoặc với thân nhân người bệnh tại trung tâm tư vấn, bệnh viện, trường học, các trung tâm xã hội…

4-Chuyên viên xã hội (Social Worker).

Là các nhà chuyên môn đã được huấn luyện về tâm lý trị liệu, có thể tư vấn từng người, đôi vợ chồng hoặc từng nhóm bệnh nhân. Họ cũng hướng dẫn bệnh nhân về các vấn đề liên quan tới chính quyền, cộng đồng và các cơ sở tư nhân khác.

5-Chuyên viên hỗ trợ (Case Managers and Outreach Workers).

Các chuyên viên này hành động như người tranh đấu và tư vấn cho bệnh nhân giải quyết các vấn đề phức tạp trong hệ thống y tế, giới thiệu người đang bị bệnh trầm trọng, không nhà ở, không lợi tức… tới các cơ quan chính quyền, cộng đồng để được giúp đỡ trong cuộc sống. Ðôi khi, họ cũng tranh đấu để bảo vệ quyền lợi của người bệnh. Ngoài ra còn các chuyên viên khác như âm nhạc trị liệu, giải trí, hướng dẫn nghề nghiệp…cũng có vai trò hỗ trợ cho việc trị bệnh tâm lý

Bệnh có chữa được bằng dược phẩm không?

Có nhiều loại thuốc chuyên biệt để chữa từng loại tâm bệnh. Các thuốc này rất công hiệu nhưng cũng có một số tác dụng phụ không muốn. Do có bệnh nhân cần dùng thuốc theo chỉ định, hướng dẫn của bác sĩ, không tự ý gia giảm liều lượng hoặc ngưng thuốc

Chữa tâm bệnh ở đâu?

Có nhiều cơ sở công hoặc tư nhân chữa tâm bệnh như tại bệnh viện, trung tâm bệnh tâm lý, phòng mạch các nhà chuyên môn tâm lý, phòng tư vấn tại các tổ chức y tế xã hội, các trung tâm sinh hoạt cộng đồng…

Xin kể những ngộ nhận về tâm bệnh

Một số ngộ nhận về tâm bệnh mà ta cần để ý như:

Ngộ nhận 1.
Người mắc tâm bệnh đều là điên khùng, nguy hiểm, cần phải nhốt riêng. Sự thực: Tâm bệnh không phải là điên, nguy hiểm như nhiều người thưởng nghĩ và họ không đáng để được nhốt riêng. Tuy nhiên, có một số người mắc bệnh tâm lý có thể có khó khăn ứng phó với các điệu kiện sống hàng ngày. Nếu khó khăn trở nên tột độ, họ có thể trở thành nguy hiểm cho chính họ và cho người khác. Chỉ trong trường hợp này họ mới cần ở riêng trong một thời gian ngắn.

Ngộ nhận 2.
Người mắc tâm bệnh không bao giờ trở lại bình thường Sự thực: Với điều trị đúng đắn, giúp đỡ tận tình, bệnh nhân có thể trở lại bình thường và tiếp tục đời sống lành mạnh, sản xuất tốt như mọi người khác.

Ngộ nhận 3.
Chỉ nhìn vào mắt là biết người đó bị tâm bệnh. Sự thực: Mặc dù có nhiều dấu hiệu, triệu chứng khi một người mắc tâm bệnh, nhưng chẩn đoán bệnh không phải dễ dàng và cần có sự ước định của các nhà chuyên môn tâm lý.

Ngộ nhận 4.
Chỉ có mấy người điên mới đi bác sĩ chuyên về tâm bệnh học để khám và trị bệnh. Sự thực: Mọi người dù ở tuổi nào có khó khăn tinh thần đều có thể và đều nên đi bác sĩ chuyên khoa để được khám nghiệm điều trị. Tìm kiếm và nhận giúp đỡ là điều cần thiết và rất tốt, để tránh bệnh trầm trọng hơn.

Ngộ nhận 5.
Nếu ai nói đến tự hủy hoại thì chẳng bao giờ thực hiện Sự thực: Nói đến tự tử là điều quan trọng vì những người này thường có các dự định, kế hoạch rồi thực hiện việc tự hủy hoại. Vì thế, cần hỏi họ cho rõ ràng để phòng ngừa chuyện chẳng lành có thể xẩy ra.

Kết luận

Tâm bệnh là bệnh có thể chữa khỏi nếu chẩn đoán sớm, chữa đúng thầy, đúng thuốc

Phương pháp mới trong việc điều trị trầm cảm

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại, các nhà sinh lý học thuộc Đại học Oxford cho biết.

Kết quả của một thí nghiệm trên quy mô nhỏ của phương pháp này, gọi là phương pháp trị liệu nhân thức dựa trên sự lưu tâm (MBCT), ở những bệnh nhân bị trầm cẩm, được công bố trên tạp chí Behaviour Research and Therapy.

dieu-tri-tram-cam

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

28 người hiện mắc chứng trầm cảm, đồng thời có những giai đoạn trầm cảm trước đó cùng ý định tự tử, được ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Một nhóm được trị liệu thêm bằng MBCT ngoài những phương pháp trị liệu thông thường, trong khi nhóm còn lại chỉ nhận điều trị thông thường. Việc chữa trị bằng MBCT giảm số lượng bệnh nhân trầm cảm nặng, trong khi nhóm còn lại tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm nặng không thay đổi.

Giáo sư Mark Williams và các đồng nghiệp thuộc Khoa tâm thần học Đại học Oxford sẽ tiếp tục công việc nghiên cứu từ những bằng chứng đáng khích lệ này. Họ hy vọng sẽ thực hiện nghiên cứu với những bệnh nhân để chứng tỏ rằng MBCT có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu của Oxford hiện đang thực hiện một nghiên cứu quy mô lớn hơn so sánh MBCT với một nhóm sử dụng trị liệu thần kinh để xác định yếu tố nào hoặc phương pháp trị liệu nào phù hợp với dạng bệnh nhân khác nhau.

Giáo sư Williams, người phát triển phương pháp trị liệu này đồng thời chỉ đạo nghiên cứu, cho biết: “Chúng ta đang đứng trước việc phát hiện những điều thực sự quan trọng về việc làm thế nào các bệnh nhân có thể duy trì sức khỏe sau trầm cảm. Mục đích của phương pháp trị liệu này là giúp các bệnh nhân có được sự giải thoát về lâu dài khỏi cuộc chiến hàng ngày với trạng thái tâm lý của bản thân”.

Nguồn khoa học

Những người bị trầm cảm nặng và hồi quy (tái phát) có thể được hưởng lợi từ một dạng trị liệu mới kết hợp y học cổ đại với những phương pháp trị liệu hiện đại.

Chữa bệnh tâm lý hoảng sợ

Ngày càng có nhiều người mắc chứng sợ máu, kim tiêm, các cơn lo sợ vô cớ không giải thích được đến bệnh viện điều trị. Các chuyên gia cho biết, có thể họ đã mắc căn bệnh rối loạn hoảng sợ.

Đã 30 năm nay, anh Nguyễn Văn Th., ở quận 6, TPHCM không dám bước chân vào bệnh viện. “Cứ gặp bác sĩ, thấy bệnh nhân băng bó là tôi xỉu ngay”, Anh Th.nói.

Cách đây 3 tháng, khi hay tin bố mình viêm ruột thừa phải vào BV Nguyễn Tri Phương để mổ, anh Th. chạy tới, nhưng mới nhìn thấy bố đang được y tá lấy máu xét nghiệm thì lăn đùng ra xỉu. Vậy là cả bố và con đều phải cấp cứu. Từ đó đến nay, anh không dám bước chân tới bệnh viện, cho dù người thân đang điều trị ở đó.

chua-benh-tam-ly-hoang-so
Chị Hồ Thị L, 29 tuổi, ở quận Tân Phú, TPHCM chưa bao giờ dám đến bệnh viện để thăm khám vì bị hội chứng sợ máu. “Thấy máu, dù là trên phim ảnh thôi, tôi cũng toát mồ hôi, tim đập nhanh và tay chân có lúc run lên. Vì vậy, nhiều năm nay, tôi không thể đi khám sức khỏe được”, chị L. kể.

Trong khi đó, anh Lê Minh T., 42 tuổi ở quận 7, TPHCM có công việc ổn định và cuộc sống khá giả, nhưng nhiều năm nay anh T bỗng dưng thấy người khác lạ, hay lo lắng, hồi hộp và hoảng sợ không lý do.

Anh T. cho biết, thỉnh thoảng trên đường đi làm về, cảm thấy có gì đó lo sợ rất mơ hồ. Đến khám ở BV Nguyễn Tri Phương, các bác sĩ cho biết sức khỏe anh T. ổn định, tim mạch không có vấn đề.

Tuy nhiên, do một năm qua anh T. có biểu hiện hoảng sợ vô cớ, nên anh được hội chẩn với các bác sĩ Khoa Nội thần kinh. Bác sĩ Nguyễn Bá Thắng, Khoa Nội thần kinh – BV Nguyễn Tri Phương, cho biết, anh T. mắc chứng rối loạn hoảng sợ và phải điều trị bằng thuốc.

Học cách thay thế nỗi ám ảnh

Hội chứng sợ máu, sợ tiêm… xuất hiện ngày càng nhiều, thường làm người bệnh hạ huyết áp và rối loạn nhịp tim, có thể dẫn tới ngất xỉu hoặc tím tái, hoảng loạn.

Bác sĩ Hải Vân, Khoa xét nghiệm – BV Phạm Ngọc Thạch, cho biết, chảy máu là một dấu hiệu cho thấy có điều gì đó không ổn với cơ thể, nên khi nhìn thấy máu của chính mình, nhiều người có thể lo lắng thái quá về sức khỏe.

Theo bác sĩ Thắng, chứng sợ máu, kim tiêm… gây ra nhiều hậu quả cho người bệnh. Rất nhiều người sợ các thứ trên không muốn tiếp cận điều trị.

Một số người thậm chí không khám sức khỏe và làm các xét nghiệm cần thiết hoặc sợ máu, kim tiêm đến nỗi khi con cái của họ gặp một vấn đề gì như bị thương, tai nạn,họ khó tiếp cận để sơ cứu ban đầu.

Theo các chuyên gia, rất nhiều người mắc hội chứng này thường giới hạn hoạt động ngoài trời hoặc tham gia các vấn đề xã hội khác vì họ lo sợ có nguy cơ gây tổn thương. Từ đó, họ mắc luôn hội chứng sống khép kín, sợ đám đông…

Để điều trị hội chứng này, các bác sĩ cho biết một trong những phương pháp phổ biến nhất là liệu pháp nhận thức hành vi. Những người mắc bệnh này sẽ được học cách thay thế nỗi ám ảnh do sợ hãi của mình bằng các phản ứng mạnh mẽ hơn khi nhìn thấy máu.

Trong trường hợp nghiêm trọng, theo bác sĩ Vân, có thể dùng thuốc giúp kiểm soát lo lắng. Với hội chứng rối loạn hoảng sợ, bác sĩ Thắng cho rằng, khi bệnh nhân gặp cơn hoảng sợ vô cớ thì không nên di chuyển nhiều, mà tốt nhất là ngồi yên một chỗ, rồi cố gắng thở chậm và thư giãn trong trạng thái thoải mái. Đừng nên quan trọng hóa vấn đề, cho rằng mình bị một căn bệnh khó chữa nào đó trong cơ thể vì làm như vậy thì bệnh cứ kéo dài.

Theo bác sĩ Nguyễn Bá Thắng, Khoa Nội thần kinh BV Nguyễn Tri Phương, người mắc rối loạn hoảng sợ thường có triệu chứng như chóng mặt, đau ngực và thở nhanh.

Bệnh nhân hay có những cơn lo sợ không giải thích được, đến rất đột ngột và phát triển nhanh hơn. Tuy nhiên, những cơn lo sợ vô cớ đó chỉ kéo dài trong vài phút, nhưng có khi cơn hoảng sợ này hết thì lại xuất hiện cơn hoảng sợ khác.

Theo y học cổ truyền

Dấu hiệu trầm cảm của chị em phụ nữ

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.

Hứng thú giảm sút, thậm chí biến mất

Những người thích những hoạt động nghiệp dư, một khi có chứng trầm cảm rất dễ bị mọi người xung quanh nhận ra. Tuy nhiên, kể cả người không có bất cứ sở thích ngoài lề nào, nếu công việc thường ngày áp lực, cuộc sống hưởng thụ hay giải trí đều không có hứng thú, không cảm nhận được niềm vui, tức là có thể khẳng định hứng thú giảm sút hoặc mất đi hoàn toàn. Đây là một triệu chứng biểu hiện của trầm cảm.
tram-cam
Cảm giác vô vọng

Người thường cảm thấy mọi thứ rất tồi tệ, tiền đồ tối tăm ảm đạm, tất cả đều không chút hi vọng hay cảm giác vô vọng luôn ùa đến. Tương phản với điều đó, người bình thường luôn có nhiều hi vọng, ví dụ như học tập tiến bộ, sự nghiệp có thành tựu, gia đình mạnh khỏe vvv. Đồng thời cũng có nhiều nguyện vọng nhỏ như tiết kiệm mua đồ thương hiệu, thưởng thức liveshow ca nhạc, đi du lịch đến vùng đất xa xôi… Tóm lại, mất đi niềm hy vọng vào tương lai là một biểu hiện của trầm cảm.

Cảm giác lẻ loi, không ai giúp đỡ

Cảm giác này thực sự đau khổ, đặc biệt họ khó biểu hiện ra và không ít người không muốn đi khám bác sỹ vì họ xác định bác sỹ không thể giúp gì được. Họ luôn cảm thấy họ không giống với những người khác, tựa hồ như đã rời bỏ khỏi trần gian rơi vào một vực sâu thâm cốc và tất cả đã không thể cứu vãn, không ai giúp đỡ được.

Những người như vậy có cuộc sống một ngày dài như một năm, luôn lẻ loi, cô đơn, luôn xa lánh với những người khác. Đây chính là một biểu hiện nổi trội của trầm cảm

Bình luận thấp bản thân

Những người cảm thấy bản thân mình trên thực tế chẳng có tài năng hay không làm tốt bất cứ việc gì kể cả việc nhỏ và đơn giản nhất. Họ luôn cho rằng mình là đồ thải, kiến thức của mình đã sụt giảm trầm trọng hay thậm chí là cảm giác tội lỗi tràn đầy, tội ác tràn ngập và chìm trong cảm giác ấy. Đây cũng là một biểu hiện tiếp theo của trầm cảm.

Mất đi linh hoạt

Họ cảm thấy toàn bộ con người của họ đã sụp đổ, nổ tung, tan ra như xác pháo. Họ xác định rõ cảm giác đó không phải là cơ thể họ không có sinh lực mà là tinh thần của họ đã mất đi động lực, làm việc gì (kể cả vệ sinh cá nhân) đều cần người khác thúc giục hoặc họ đẩy sang một bên không quan tâm, bản thân không muốn động đến cái gì.

Không ít người vật lộn, đấu tranh để hưng phấn hơn lên, nhưng đều kiên trì không nổi. Người bệnh cho rằng họ đã ở trong “một vũng bùn lầy, không ai kéo lên được”.

Cuộc sống không có ý nghĩa

Không phải phương thức cuộc sống không có ý nghĩa mà chính là họ cảm nhận cả cuộc đời nhân sinh cơ bản là vô nghĩa. Không chỉ như vậy mà còn nhận thấy sống tức là chịu tội tạo nghiệp ác, sống không bằng chết, họ thường xuyên âm ủ ý định tự sát, thậm chí thực hiện tự sát.
Bất cứ có một biểu hiện nào rõ ràng và nổi trội trong 6 biểu hiện trên, chúng ta đều nên nghĩ đến khả năng bị trầm cảm. Trầm cảm là một loại bệnh tổng hợp, đương nhiên không chỉ có một dạng triệu chứng, có thể có triệu chứng không rõ ràng. Nếu có nghi ngờ, khó xác định, chúng ta nên lập tức đi khám bác sỹ.

Theo Dân trí

Chữa trị căng thẳng ở bà bầu

Căng thẳng là trạng thái tinh thần thường gặp ở phụ nữ mang thai. Nó ảnh hưởng đến sức khỏe, làm họ dễ bị sinh non và những đứa trẻ được sinh ra có trọng lượng thấp. Tuy nhiên, theo nghiên cứu mới công bố trên tạp chí PLoS ONE, ăn nhiều cá trong thai kỳ sẽ giúp giảm nguy cơ trên.

Các nhà khoa học đã khảo sát chế độ dinh dưỡng của 9.500 phụ nữ mang thai. Kết quả cho thấy, những người không ăn cá có tỉ lệ căng thẳng cao hơn 53% so với những người ăn thường xuyên. Những người ăn chay căng thẳng cao hơn 25% so với những người ăn nhiều thịt và cá, những người có sức khỏe tốt và có chế độ dinh dưỡng lành mạnh bị căng thẳng thấp hơn 23% so với những người có thói quen ăn uống không lành mạnh.
an-ca

Nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ tăng lên khi mang thai. Nhóm nghiên cứu khuyên rằng, mỗi tuần phụ nữ mang thai nên ăn các loại cá thường hai lần và ăn loại cá chứa nhiều dầu một lần là đủ để giảm đáng kể sự căng thẳng.

Song, cần tránh một số loại như cá mập, cá kiếm và không nên ăn quá 4 hộp cá ngừ mỗi tuần vì chúng chứa hàm lượng thủy ngân cao, có hại cho sự phát triển của thai nhi. Ngoài ra, không nên ăn quá hai lần các loại cá mỡ như cá hồi, cá thu, cá vược mỗi tuần, nhưng không hạn chế ăn các loại cá thịt trắng như cá tuyết và cá bơn sao.

Tiến sĩ Juliana Vaz, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Để có một thai kỳ khỏe mạnh, phụ nữ cần có chế độ ăn uống lành mạnh với đầy đủ các loại ngũ cốc, rau xanh, sa lát, trái cây, sữa, thịt, gia cầm, đậu và cá”.

Đồng tác giả Pauline Emmett thì cho biết, những phụ nữ ăn nhiều cá khi mang thai rất hạnh phúc, mặc dù vẫn chưa chắc chắn thành phần dinh dưỡng nào trong cá có hiệu quả cao nhất.

Theo Vietnamnet

Kiểm soát cơn giận

Bạn hay dễ nổi giận và trút cơn tức giận theo cách mà sau đó bạn thường phải hối tiếc? Nếu đúng như vậy thì bạn cần lưu ý, khi nóng giận mất kiểm soát sẽ gây hại đến sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Đếm số từ 10-1: Khi bạn tức giận, hãy bắt đầu đếm số thứ tự giảm dần từ 10-1. Đếm một cách từ từ. Cách này giúp bạn quên chú ý đến vấn đề đang gây tức giận và giúp bạn có thêm thời gian để suy nghĩ.

Ra ngoài đi dạo: Thông thường, bạn tức giận là vì một cá nhân nào đó, hoặc vấn đề gia đình, hay điều gì đó liên quan đến bạn bè hoặc gia đình. Vì vậy, chỉ cần tránh xa những điều này một lúc và đi bộ dạo chơi một lát sẽ giúp bạn thấy dễ chịu hơn.

Hít thở sâu: Là một cách giúp xử lý cơn tức giận hiệu quả. Bạn hãy tập trung vào việc hít thở. Với mỗi lần hít thở, cơn tức giận sẽ rời khỏi bạn một ít. Nó giúp bạn bình tĩnh lại và có thêm thời gian để thư giãn cũng như suy nghĩ.

kiem-soat-benh
Xác định nguyên nhân: Cách lành mạnh nhất để xử lý cơn tức giận là tìm ra lý do và tìm cách giải quyết. Bạn cố gắng tự xác định nguyên do khi hoàn toàn bình tĩnh. Nếu cần, có thể nhờ bạn thân hoặc thành viên gia đình giúp đỡ.

Tìm giải pháp khả dĩ: Sau khi xác định được những nguyên nhân làm bạn tức giận, hãy cố gắng tìm ra giải pháp tốt nhất có thể. Chẳng hạn, nếu tủ quần áo lộn xộn của chồng làm bạn giận dữ mỗi khi nhìn thấy nó thì bạn hãy nói chuyện với anh ấy. Nếu vấn đề vẫn không cải thiện thì chấp nhận nó và bắt đầu tránh nó.
Thiền, tập yoga hoặc tập thể dục: Đều có tác dụng tốt đối với sức khỏe tinh thần và cảm xúc. Nó làm cho bạn dễ chấp nhận, khoan dung hơn đối với nhiều tình huống mà bạn dễ nổi giận, đồng thời cũng giúp kiểm soát cảm xúc tốt.

Học cách quên và tha thứ: Đôi khi việc quên đi những điều làm bạn tức giận cũng cần thiết, mặc dù việc quên và tha thứ cho người khác không dễ dàng chút nào. Nhưng đây là một cách tuyệt vời để xử lý cơn giận nếu bạn có thể làm được.

Nói chuyện với bạn bè: Trong nhiều trường hợp, sự thất vọng, mệt mỏi của chúng ta thể hiện ở dạng giận dữ và gia đình của chúng ta trở thành nạn nhân của nó. Mở lòng với bạn thân sẽ giúp bạn rất nhiều trong những tình huống như vậy. Bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm hơn.

Làm những điều ưa thích: Khiêu vũ, nghe nhạc, đi ra ngoài và gặp gỡ bạn bè hoặc làm bất cứ điều gì bạn muốn khi bạn đang rất tức giận. Ban đầu, việc chuyển từ trạng thái giận dữ sang tâm trạng hành động rất khó nhưng một khi bạn làm được điều đó, nó trở nên dễ dàng hơn.

Cuộc sống tươi đẹp: Tin vào những điều tích cực này và nói: “Cuộc sống tươi đẹp”, “Tôi may mắn có một cuộc sống tốt đẹp như vậy”. Tiếp tục lặp đi lặp lại những câu tích cực như vậy sẽ làm dịu các giác quan và giúp bạn lấy lại bình tĩnh.
Theo TNO

Nhận biết các biểu hiện của trầm cảm

”Nếu bạn đang ở vào thời điểm mà bạn nghĩ rằng mình cần có 1 liệu pháp hỗ trợ thì rất có thể bạn đang bị trầm cảm”, Tracey Lipsig Kite, một chuyên gia liệu pháp tâm lý Mỹ, cho biết.

Nhiều người bị trầm cảm bị cơ và đau khớp, đau đầu và mệt mỏi Biểu hiện của trầm cảm Trầm cảm là một bệnh kết hợp của những cảm xúc đặc trưng: buồn bã, sự thờ ơ, cảm giác vô dụng và đánh mất đi sự quan tâm đối với các hoạt động xã hội. Những cảm giác này có thể kéo dài đến 2 tuần hoặc tiếp tục trong nhiều năm sau. Sự khác nhau giữa sự chán nản và bệnh trầm cảm là sự kéo dài và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng.

tram-cam_16-26910

Trầm cảm không có nghĩa là lúc nào cũng có những cảm xúc tồi tệ. “Dễ cáu kỉnh là một trong những triệu chứng điển hình của trầm cảm”, ông Rakesh Jain, MD, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lâm sàng (Texas, Mỹ), nói. Các bác sĩ cũng thường bỏ qua các biểu hiện thể chất trong khi đó 67-69% người bị trầm cảm bị đau cơ, khớp, đau đầu và mệt mỏi. Sharon Charles Haznedar, Giám đốc hành chính Các dịch vụ y tế công New York cho biết trầm cảm là căn bệnh âm thầm và thường làm cho nạn nhân không thể yêu cầu sự giúp đỡ. “Tôi đã từng gặp những bệnh nhân nói rằng họ cần có 1 kế hoạch để đi qua 1 căn phòng”. “Trầm cảm rút cạn năng lượng của một người. Việc đi khám, tìm hiểu về lịch khám và điền thông tin vào tờ đơn có thể là rất khó khăn khi bạn bị trầm cảm”. Sự khác nhau về giới tính trong trầm cảm Phụ nữ mắc trầm cảm cao gấp đôi nam giới.

Tuy nhiên, nam giới thường có xu hướng tự tử do bệnh nặng hơn. Trầm cảm sinh ra trầm cảm Như một vết thương hở hay gãy xương, trầm cảm không thể tự khỏi. Một nửa số người có biểu hiện trầm cảm đã không uống thuốc chống trầm cảm sẽ dễ tái hơn. Và sự tái phát lần 2 sẽ làm tăng nguy cơ của lần 3. Và sau 3 lần bị trầm cảm mà không uống thuốc sẽ có tới 90% nguy cơ tái phát ở lần thứ 4. Và cứ như vậy, những lần tái phát sau sẽ nặng và thường xuyên hơn. Vậy nên nếu nghĩ mình bị trầm cảm thì cần đi khám ngay.

Theo dantri/Health

Dấu hiệu kín của trầm cảm

Bất cứ người nào cũng có thể lâm vào tình trạng bị trầm cảm mà không hay biết, hoặc không thừa nhận rằng tinh thần mình đang xuống dốc.

Sau đây là một số dấu hiệu của bệnh trầm cảm:

Tự tin quá mức

Nhiều người, đặc biệt là những người thành công hơn xung quanh, thường đối phó với trầm cảm bằng cách đi ngược lại điều mà họ đang cảm nhận. Chẳng hạn như họ sẽ theo đuổi những mục tiêu đầy tham vọng một cách bất thường, hoặc từ bỏ việc làm hiện tại để theo đuổi công việc kinh doanh cá nhân. Phản ứng này có thể xảy ra khi một người cảm thấy vô vọng và không kiểm soát được mọi chuyện. Nỗ lực thái quá trong phòng ngủ cũng là điều đáng lưu ý đối với những cá nhân có thể mắc trầm cảm.

tram-cam

Bia rượu vô chừng

Chất cồn giúp gây tê hệ thần kinh, cho phép con người chịu đựng được những hoạt động mỗi ngày, theo nhận xét của nhà soạn kịch người Anh Bernard Shaw. Thực tế cho thấy hành động nhậu nhẹt là phương pháp đối phó phổ biến nhất mà con người thường áp dụng để tự điều trị những chấn thương về cảm xúc. Vấn đề ở đây là liệu pháp này thường đẩy họ vào tình trạng khủng hoảng kép chứ chẳng giúp xoa dịu được tinh thần đang nhức nhối.

Nóng giận vô cớ và vô cảm

Một trong những dấu hiệu đặc trưng của bệnh trầm cảm là dễ nổi nóng một cách vô chừng. Chỉ cần một vụ va quệt nhỏ là đủ khiến họ sửng cồ gây gổ. Hoặc nhiều người chọn cách lờ đi cảm xúc của chính mình, và hậu quả là không giải quyết được chuyện gì mà còn đẩy những người quan tâm vào tình thế khó xử. Một dấu hiệu nữa của trầm cảm là bạn gặp vấn đề khi tiếp nhận sự tán dương hoặc lòng tốt của người khác.

Không thể ngừng quan hệ xã hội

Giao tiếp rộng có vẻ là một hành động tích cực. Tuy nhiên, nếu chỉ nhằm giúp bạn bớt cảm thấy lẻ loi hoặc không phải đối diện với những suy nghĩ và khoảnh khắc buồn bã thực tại, quan hệ xã giao không phải cách giải quyết vấn đề. Đó là chưa kể bạn sẽ chẳng vui vẻ gì khi tối ngày cố gắng lấp đầy thời gian bằng những cuộc hẹn hò vô bổ.

Vô phương tập trung

Nỗ lực hết mức nhưng không thể ngăn chặn những dòng suy nghĩ vẩn vơ tràn ngập đầu óc. Đây có thể là một dấu hiệu của trầm cảm. Nếu mơ mộng nhưng vạch ra được những biện pháp tiến đến mục tiêu cuối cùng, cứ tự nhiên. Nhưng nếu từ một người bình thường muốn trở thành ngôi sao chỉ trong một đêm, đó là khởi đầu của sự bất thường.

Làm cật lực hơn chứ không sáng tạo hơn

Khi tinh thần xuống dốc, người ta không thể đưa ra một cách giải quyết đúng đắn cho một sự việc. Những người bị trầm cảm có thể vùi đầu vào công việc, nhưng kết quả lại chẳng khá khẩm gì, do sự minh mẫn của họ bị che lấp hoàn toàn. Và bất cứ vấn đề nào cũng có thể đẩy người bị trầm cảm vào tình trạng khóc cười khó đoán. Đơn giản là họ không làm chủ được cảm xúc của mình.

Theo tno

Phát hiện tự kỷ từ 6 tháng tuổi

Những sự thay đổi ở não trẻ từ 6 tháng tuổi có thể là dấu hiệu cảnh báo sớm cho chứng tự kỷ, cho phép can thiệp sớm nhất để giảm thiểu ảnh hưởng ở trẻ.

Trong quá trình nghiên cứu cách não phát triển trong giai đoạn đầu đời của trẻ, các chuyên gia của Đại học North Carolina (Mỹ) phát hiện các vùng chất trắng đảm trách nhiệm vụ liên kết các khu vực khác nhau của não đã không hình thành sớm ở trẻ sau này bị chứng tự kỷ so với trẻ phát triển bình thường. Sự thay đổi này trầm trọng hơn ở trẻ sau này phát bệnh tự kỷ, theo chuyên gia Jason Wolff đang nghiên cứu về những bất thường trong quá trình phát triển. Ngược lại, ở não của trẻ bình thường, các vùng chất trắng hình thành một cách nhanh chóng. Theo đó, bộ não tự tổ chức với tốc độ khá nhanh.

tu-ky

Kết quả nghiên cứu đăng trên chuyên san American Journal of Psychiatry cho thấy trong năm đầu đời của trẻ, có khả năng can thiệp hoặc thậm chí phá vỡ tiến trình phát triển của chứng tự kỷ trước khi nó mọc rễ bên trong não. “Rất có khả năng cải thiện hậu quả cho những trẻ không may”, theo chuyên gia Wolff. Ông khẳng định năm đầu tiên là giai đoạn quan trọng trong quá trình phát triển của não bộ, và cũng là lúc các triệu chứng đầu tiên của chứng tự kỷ bắt đầu xuất hiện. Trong cuộc nghiên cứu, các chuyên gia theo dõi sự phát triển não của 92 trẻ sơ sinh khi chúng mới được 6 tháng, và khi 1 – 2 tuổi. Tất cả đối tượng đều có anh chị bị tự kỷ và kết quả cho thấy chúng đối mặt với nguy cơ bị chứng rối loạn này cao hơn.

Các chuyên gia đã sử dụng phương pháp quét não tân tiến gọi là DTI, một dạng quét MRI nhưng cho phép theo dõi những sự thay đổi trong tổ chức não của đối tượng theo thời gian. Khi đối tượng được 2 tuổi, có đến 28 trẻ bị tự kỷ trong khi 64 em may mắn thoát khỏi số phận giống như anh chị. Từ đó nhóm của ông Wolff xác định được những dấu hiệu ban đầu của chứng rối loạn nguy hiểm trên. Các nghiên cứu trước đó xác định được những sự khác biệt về thể tích não ở trẻ 2 tuổi, và những nhà nghiên cứu khác cũng đã theo dõi các vùng chất trắng ở trẻ lớn hơn đã phát chứng tự kỷ, nhưng chưa có nhóm nào kiểm tra cấu trúc trên ở trẻ mới 6 tháng tuổi như đội của chuyên gia Wolff. Thực tế có quá nhiều vùng chất trắng bị ảnh hưởng cho thấy tự kỷ là hiện tượng của toàn bộ não chứ không ảnh hưởng riêng lẻ một hay hai khu vực nào.

Về câu hỏi điều gì đã gây nên tình trạng khác biệt trong phát triển não, chuyên gia Wolff cho rằng còn quá sớm để có thể xác định được. Tuy nhiên, nhiều cuộc nghiên cứu đã đưa ra cùng một kết luận về sự tương tác phức tạp giữa các gien, cũng như cảm nhận và kinh nghiệm của đứa trẻ đối với thế giới. Và trong khi việc quét não đã giúp phơi bày sự khác nhau giữa trẻ sẽ bị tự kỷ và trẻ khỏe mạnh, chuyên gia Wolff cho biết nhóm của ông không đề nghị sử dụng biện pháp này trong việc chẩn đoán rối loạn ở trẻ mới 6 tháng tuổi. Thay vào đó, phát hiện trên cho phép giới chuyên gia hiểu rõ hơn về sự phát triển của chứng tự kỷ. Theo ông Wolff, trẻ con không đột ngột rơi vào tình trạng tự kỷ mà nó có hẳn một quá trình giống như ủ bệnh trước khi đối tượng thực sự rơi vào vòng xoáy không lối thoát của chứng rối loạn này.

Theo TNO