Tag Archives: bệnh sơ sinh

Xử lý các bệnh đường tiêu hóa ở trẻ

Hầu hết mọi trẻ đều trải qua hay bị mắc phải một số các chứng bệnh đường tiêu hóa thông thường. Hiểu biết đúng từng chứng bệnh các bà mẹ và ông bố có thể xử lý tốt các chứng bệnh do con mình mắc phải mà không cần thiết phải đến bệnh viện.

Ọc sữa
Tình trạng ọc sữa hay xảy ra ở trẻ sơ sinh, đó là tình trạng do vòng van giữa thực quản và dạ dày không đủ mạnh để cản thức ăn trong dạ dày trào lên thực quản và đôi khi trào ra miệng của trẻ. Trẻ bị ọc sữa có thể do sinh lý, cũng có thể do bệnh lý (những trường hợp do bệnh lý thì hiếm gặp) gây ra.

Đối với trẻ bú mẹ: nên cho bú bầu vú bên trái trước (trẻ mới bú nên lượng sữa trong dạ dày còn ít, có thể nằm nghiêng phải). Sau đó, chuyển trẻ sang bú bầu vú bên phải (lúc này dạ dày trẻ đã nhiều sữa, cần nằm nghiêng trái). Như vậy, sữa sẽ dễ dàng xuống dạ dày mà không gây trào ngược. Không nên cho trẻ bú quá lâu, trung bình 10 phút cho bầu vú thứ nhất và 20 phút cho bầu vú thứ hai, bú trên 30 phút không có lợi cho trẻ.

xu-ly-cac-benh-duong-tieu-hoa-o-tre

Đối với trẻ bú bình: luôn giữ bình sữa hơi nghiêng để đầu núm vú cao su luôn đầy sữa. Không để bình sữa nằm ngang trong khi bú, tránh tình trạng trẻ bú hơi trong bình sữa.

Khi cho bú, không nên để trẻ quấy khóc vì như vậy, trẻ có thể nuốt nhiều hơi, gây căng dạ dày. Sau khi bú xong, cần bế trẻ theo tư thế thẳng, ngực áp vào một bên ngực mẹ, mặt kê lên vai mẹ rồi vỗ nhẹ lưng cho ợ hơi. Sau đó, hãy nhẹ nhàng đặt trẻ nằm nghiêng bên trái, kê gối hơi cao.

Cho trẻ bú chậm, ít một và nhiều lần trong ngày nhằm tránh làm căng dạ dày trẻ quá mức, có thể cho trẻ dùng thêm các loại sữa dễ đông đặc khi vào dạ dày thì sẽ tránh được việc trào ngược.

Khi trẻ đang ọc sữa nên bế cháu lên đầu cao, không để trẻ nằm vì như vậy chất dịch sẽ vào phế quản sẽ nguy hiểm, lấy khăn lau nhẹ miệng trẻ, không nên thấy cặn sữa trong miệng trẻ mà dùng ngón tay đưa vào lau, làm thế trẻ càng bị kích thích óc sữa nhiều hơn. Một lưu ý nữa không nên cho trẻ nằm bú vì trẻ dễ bị sặc sữa. Khi người cho bú chú ý theo dõi sự bú của trẻ về vẻ mặt của trẻ, không nên vừa cho trẻ bú làm việc khác, lơ đãng không tập trung vì điều đó khi trẻ bị sặc sữa sẽ bị hốt hoảng.

Nấc cụt
Nấc là một hiện tượng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Đây là hiện tượng sinh lý bình thường. Nguyên nhân của hiện tượng này là do co thắt không tự chủ và ngắt quãng của cơ hoành, làm cho khí hít vào bị ngưng đột ngột, thanh môn bất ngờ đóng kín lại. Nấc thường kéo dài vài phút và có thể vài lần trong một ngày. Nấc là phản xạ của thần kinh phế vị được hình thành từ trong bào thai để chuẩn bị vận hành các cơ hô hấp cho việc thở ngay sau khi trẻ được sinh ra. Trẻ có thể bị nấc vào bất cứ lúc nào, nhất là sau sinh và giảm dần sau một tuổi. Nấc thường xảy ra sau khi bú, thay đổi tư thế, khi bị nóng, lạnh… Nếu trẻ bị nấc mỗi ngày vài lần, mỗi lần 3 phút là bình thường không cần khám và điều trị gì, dần dần tình trạng này sẽ hết.

xu-ly-cac-benh-duong-tieu-hoa-o-tre1

Để giảm nấc, không nên để cho trẻ quá đói rồi mới cho bú và cũng không nên cho trẻ bú quá no, khi cho trẻ bú bằng bình cần chú ý không để trẻ bú quá nhanh làm dạ dày giãn nhiều hơi. Sau khi bú nên bế trẻ đầu cao khoảng 10 phút.

Xử trí cắt cơn nấc bằng cách cho trẻ uống một vài thìa nước hay bú mẹ, bế trẻ đứng thẳng đỡ đầu và lưng trẻ, để cằm bé tỳ vào vai mẹ sau đó vuốt lưng hoặc vỗ nhẹ để bé ợ hơi, cũng có thể dùng ngón tay ấn cùng lúc vào 2 nắp tai trẻ vài phút. Ngoài ra, cũng có thể gãi nhẹ vào môi của trẻ hay vào vành tai trẻ bởi vì thần kinh tai và miệng của trẻ rất nhạy cảm khi gãi hoặc trẻ khóc, thần kinh thực quản giãn ra, triệu chứng nấc sẽ biến mất.

Trẻ bị tưa miệng
Trẻ bị tưa lưỡi miệng thấy có những mảng vàng đục màu như đậu hũ ở trong má, lưỡi và vòm miệng. Trẻ bị tưa lưỡi lâu ngày sẽ bỏ bú và có thể bị tiêu chảy, viêm phổi do nấm.

Cách xử trí: rơ miệnh (lau miệng) cho trẻ bằng khăn xô mềm thấm nước muối sinh lý nhiều lần trong ngày để tránh tưa lưỡi. Với trẻ bú mẹ, giữ vệ sinh vú mẹ không để bị nhiễm đẹn, còn trẻ bú bình thay bằng núm vú khác mềm hơn để trẻ dễ bú. Nếu trẻ bị tưa lưỡi nhẹ có thể dùng nước mật ong pha loãng lau miệng cho trẻ. Nếu điều trị bằng các biện pháp trên mà biểu hiện tưa lưỡi của trẻ không bớt, có thể dùng Natribicarbonate 4,2%, dạng gói, mỗi ngày 3 lần rơ miệng cho trẻ, mỗi lần 1/2 gói pha loãng sau đó lau sạch lại bằng nước muối sinh lý 0,9%. Sau 4 ngày không có kết quả cần tư vấn bác sĩ nhi khoa.

Táo bón
Táo bón là hiện tượng trẻ sơ sinh đi tiêu với số lần ít hơn so với bình thường (trung bình mỗi ngày trẻ đi tiêu ít nhất 1 lần trở lên, phân vàng hoặc xanh rêu lợt mềm, đóng thành khuôn). Một số dấu hiệu dưới đây cảnh báo tình trạng táo bón ở trẻ sơ sinh: 3 ngày hoặc có khi cả tuần, trẻ mới đi tiêu một lần. Tình trạng này kéo dài hai tuần liên tục hoặc hơn. Đi tiêu ra phân cứng, đóng thành từng cục nhỏ, trẻ quấy khóc và rất vất vả mới đi tiêu được.

Cách xử trí: massage không chỉ tốt cho trẻ đang bị táo bón mà nó còn là biện pháp giúp ngăn ngừa táo bón. Trẻ được 2 – 3 tuần tuổi là các bà mẹ có thể sử dụng cách massage. Chọn lúc trẻ thoải mái nhất, không bị no hay đói quá để tiến hành massage. Trước tiên, các bà mẹ nên làm ấm bàn tay rồi nhẹ nhàng xoa lên – xoa xuống hai bên sườn cho trẻ. Tiếp đến, xoa thành vòng tròn theo chiều kim đồng hồ trên bụng trẻ và ngược lại.

Nắn nhẹ chân trẻ, giúp trẻ co đầu gối, ép nhẹ đầu gối lên bụng trẻ rồi lại duỗi chân ra. Có thể thực hiện 2 lần một ngày, mỗi lần khoảng 5 phút. Tăng cường các cữ bú mẹ trong ngày vì táo bón có thể bắt nguồn từ việc thiếu chất lỏng trong cơ thể trẻ. Nếu trẻ bú bình, các bà mẹ không nên pha loãng sữa vì cách này chỉ hợp với trẻ bị tiêu chảy – khi hệ tiêu hóa yếu và pha loãng sữa để cơ thể dễ hấp thu.

Đối với các bà mẹ cho con bú mẹ, việc ăn uống của mẹ hàng ngày, tăng cường rau xanh và trái cây tươi, đi kèm uống nhiều nước trong ngày. Không nên ăn kiêng quá mức, nên bỏ quan niệm chỉ ăn thịt nạc kho tiêu hay muối tiêu ăn đơn thuần, mà phải ăn đủ loại thức ăn, bữa ăn có canh, rau xanh. Chính điều ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp sữa mẹ có đủ chất giúp cho trẻ bú mẹ tiêu hóa tốt.

Một khi trẻ bị táo bón, nên sử dụng thuốc bơm hậu môn cho trẻ dạng gel, glycerin mỗi tube 2ml, mỗi lần bơm 2 tube. Đây là trường hợp giải quyết trước mắt. Về lâu dài, điều này không tốt cho trẻ mà cần thay đổi cách bú cho trẻ theo chỉ dẫn trên.

Tiêu chảy
Trẻ sơ sinh bị tiêu chảy do nhiều nguyên nhân, có thể do trẻ rối loạn tiêu hóa hoặc nhiễm khuẩn đường ruột, kém hấp thu dưỡng chất, bị dị ứng với sữa hoặc bà mẹ sử dụng quá nhiều thức ăn hoặc thuốc có tính chất nhuận tràng trong giai đoạn cho trẻ bú. Biểu hiện khi trẻ bị bị tiêu chảy bao gồm: đi ngoài nhiều lần liên tục, bú kém, khóc nhiều do đau bụng… Tính chất phân cũng khác như: phân lỏng, nhiều nước hơn, thậm chí phân có thể màu xanh, phân có nhày, có máu. Trẻ có thể sốt, nôn… Nếu không được điều trị kịp thời thì bệnh tiêu chảy ở trẻ sẽ diễn biến rất nhanh. Đặc biệt là tình trạng mất nước sẽ dẫn đến suy thận, suy hô hấp và trẻ có thể tử vong.

Nguyên tắc điều trị: uống nhiều hơn bình thường, điều này rất quan trọng, cho trẻ uống thêm dung dịch bù nước bằng gói bột điện giải Oresol (1 gói Oresol pha 1 lít nước sôi nấu chín để nguội hay pha 1 lít nước khoáng) sau mỗi lần đi tiêu lỏng hay sau khi nôn ói. Nếu trẻ đang bú mẹ thì tiếp tục cho bú. Vai trò uống nhiều nước để phòng tránh trẻ mất nước ở trong cơ thể trẻ. Đồng thời cho bé uống bổ sung kẽm dưới dạng nước, uống l0 – 14 ngày. Kẽm góp phần giúp giảm thời gian và độ nặng của tiêu chảy, đồng thời giúp giảm nguy cơ tiêu chảy trong thời gian tới. Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu sau: Trẻ bỏ bú. Sốt cao hơn > 380C. Trẻ rất khát nước. Trong phân có máu. Cần thiết cho trẻ đi khám bác sĩ nhi khoa. Ngoài ra có thể cho trẻ uống Smecta (diosmectite) với liều dùng 1/3 – 1/2 gói x 2 lần/ngày, giúp thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục, giảm lượng phân thải ra và rút ngắn thời gian tiêu chảy. Một khi trẻ đơn thuần tiêu chảy không có kèm theo sốt, nhiễm trùng hay phân có máu hoặc phân hôi thối nặng mùi. Vì đây là do nguyên nhân nhiễm trùng cần phải dùng thuốc kháng sinh đường ruột kết hợp men tiêu hóa. Không nên dùng Smecta.

Để phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ sơ sinh, ngay từ khi mang thai người mẹ cần được chăm sóc thai sản tốt, vì đó là tiền đề sức khỏe cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là hạn chế được các nhiễm khuẩn trong giai đoạn chu sinh; cho trẻ sơ sinh bú mẹ ngay trong vòng 1 giờ sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và kéo dài đến 24 tháng tuổi. Vì sữa mẹ cung cấp cho trẻ nguồn dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý nhất, giúp cho sự phát triển và hệ miễn dịch của trẻ được toàn diện, giúp trẻ sơ sinh phòng chống bệnh và phòng chống mất nước khi bị bệnh tiêu chảy. Trẻ được bú mẹ sẽ ít mắc bệnh tiêu chảy và tỉ lệ tử vong thấp hơn so với trẻ không được bú mẹ, hoặc không được bú mẹ hoàn toàn; thực hiện vệ sinh trong chăm sóc cho trẻ và người mẹ đúng cách, đảm bảo vệ sinh tốt.

Nguồn sức khỏe đời sống

Sốt ở trẻ sơ sinh – Những điều cần biết

 Sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Dưới 3 tháng tuổi là giai đoạn vô cùng nhạy cảm đối với sức khỏe của trẻ, vì đây là giai đoạn sức đề khàng của bé rất yếu. Dễ bị nhiễm các bệnh lây nhiễm. Và sốt là triệu chứng quan trọng cảnh báo nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm ở bé. Viet-Care sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu sốt là gì, đâu là nguyên nhân dẫn đến triệu chứng sốt ở trẻ, biểu hiện như thế nào và cách điều trị ra sao.

Sốt là gì ?

Sốt được định nghĩa là nhiệt độ ơ thể tăng lên ít nhất 1 ( 0,5 độ với trẻ dưới 3 tháng tuổi ) độ so với mức bình thường 37 độ. Nhiệt độ của trẻ thường chênh nhau khoảng 2 độ, phụ thuộc vào nhiệt độ xung quanh bé, độ dày quần áo, mức độ áp lực hay mức độ hoạt động trong ngày. Nếu bé dưới 3 tháng tuổi nhiệt độ của bé lớn hơn 37,5 độ bạn cần đưa bé đến bác sỹ để kiểm tra.

Yếu tố nào gây sốt ?

Hầu hết các trường hợp sốt là biểu hiện của cơ thể chống lại sự lây nhiễm của vi khuẩn hoặc virus cấp tính. Sự tăng nhiệt độ tạo ra môi trường không thuận lợi cho vi khuẩn hoặc virus xâm nhập. Đồng thời sản sinh các tế bào bạch cầu chống lại bệnh.

Sốt ở bé sơ sinh thường đi kèm những chứng bệnh khác như đau họng, cảm, nhiễm trùng tai; thỉnh thoảng, sốt là triệu chứng của một loại bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng.
sot -so-sinh
Tại sao bé hay bị sốt ?

Hệ thống kiểm soát thân nhiệt của bé vẫn chưa hoàn thiện. Bé thường bị sốt do một số nguyên nhân thường thấy sau :

– Virus : Phần lớn sốt là do vi khuẩn hoặc virus nào đó gây ra. Sốt có nhiệm vụ giúp cho cơ thể chiến đấu với vi khuẩn, virus bằng cách kích thích cơ chế phòng vệ tự nhiên.

– Mất nước : Một số bé không nhận đủ sữa mẹ thân nhiệt tăng cao, gây sốt. Điều này thường xuất hiện ở ngày thứ 2-3 sau khi chào đời. Bé có thể bị mất nước do bú kém, sốt cao, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục.

– Mặc quá nhiều quần áo : Trẻ nhỏ, đặc biệt là sơ sinh, rất dễ bị sốt nếu được ủ quá kín hoặc ở trong một môi trường nóng. Nguyên nhân là do các bé chưa thể tự điều tiết thân nhiệt.

– Tiêm chủng : Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thỉnh thoảng bị sốt nhẹ sau khi tiêm phòng.

Triệu chứng của sốt như thế nào ?

Bản thân sốt không phải là bệnh mà là phản ứng của cơ thể trẻ với các tác nhân gây bệnh. Bạn hãy gọi cho bác sĩ ngay khi thấy trẻ dưới 3 tháng tuổi có thân nhiệt tăng trên 37,5 độ C hoặc trẻ từ 3-6 tháng tuổi có thân nhiệt 38 độ C. Nếu trẻ sốt kèm theo các dấu hiệu khác như: phát ban, khó chịu, bú kém, khó thở, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục, có biểu hiện mất nước hoặc hôn mê cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ chữa trị kịp thời.

Biểu hiện của bệnh tiêu chảy:

Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện trẻ đi tiêu có máu trong phân (màu máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm, đen), trẻ đi phân lỏng hơn 6 lần/ngày hoặc có dấu hiệu mất nước, phải đưa trẻ đến bác sĩ ngay.

Trẻ bị nôn mửa:

Trẻ nhỏ “nôn ọe” một, hai lần thì không gây nguy hiểm. Nhưng nếu triệu chứng này xảy ra thường xuyên thì cũng là dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi trẻ nôn ra dịch màu xanh hoặc có máu.

Trẻ cảm thấy khó thở:

Nếu thấy trẻ có biểu hiện khó thở, bạn cũng nên gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Dấu hiệu trẻ khó thở:

– Trẻ thở gấp, nhịp thở nhanh hơn bình thường.

– Quan sát phần giữa xương sườn hoặc phần bụng trên có bị lõm khi trẻ hít vào không.

– Trẻ thở ra hổn hển.

– Đầu trẻ gật gù.

– Môi và da tái nhợt.

Rốn đỏ, rỉ dịch và chảy máu:

Khi thấy chỗ rốn hoặc dương vật của bé đỏ lên, rỉ dịch hay chảy máu, bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì thường đó là những dấu hiệu nhiễm trùng.

Trẻ bị phát ban:

Phát ban cũng là dấu hiệu phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng hết sức lưu ý khi triệu chứng nổi mẩn đỏ trên vùng da rộng, đặc biệt là trên mặt, hoặc đi kèm với biểu hiện sốt, rỉ dịch, chảy máu, sưng…

Cảm lạnh:

Đa số trẻ sơ sinh hay bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nguyên nhân do virus. Các triệu chứng liên quan khi nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc cảm lạnh thường là: bé sốt, kén ăn trong vài ngày đầu, sổ mũi kéo dài 1-2 tuần, triệu chứng ho có thể đến 2-3 tuần sau mới khỏi.

Theo dõi trẻ, nếu thấy các triệu chứng trên ngày càng trở nên nghiêm trọng thì bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ để được chăm sóc và điều trị.

Điều trị như thế nào ?

Khi trẻ bị sốt nhẹ:

Cho trẻ mặt quần áo thoáng hoặc chỉ cần cởi bớt quần áo theo dõi thân nhiệt mỗi 4 giờ và cho trẻ bú sữa mẹ hoặc uống nhiều nước.

Với bé dưới 1 tháng tuổi, bạn không nên tự ý cho bé uống bất kỳ thuốc giảm đau, hạ sốt nào, thay vào đó, bạn nên đưa bé đi khám nếu bé có dấu hiệu sốt. Bạn cũng có thể lau người cho bé bằng nước ấm nhưng không nên pha thêm cồn vào nước.

Trong khoảng thời gian bé bị sốt kéo dài, bạn vẫn nên cho bé “ti mẹ” như bình thường. Khi bé xuất hiện các dấu hiệu bị mất nước như khô miệng, đi tiểu ít, ít nước mắt, mắt bị trũng xuống, bạn nên đưa bé đi khám vì bé có thể được bác sĩ chỉ định truyền chất điện phân để bổ sung lượng nước đã mất.

Nếu bé bị sốt do nhiễm trùng, bé sẽ xuất hiện các dấu hiệu nặng của bệnh rất nhanh. Đó là lý do vì sao bạn nên đưa bé đi khám càng sớm càng tốt.

Lưu ý khi cặp nhiệt độ cho bé :

Với bé sơ sinh, cha mẹ nên dùng cách cặp nhiệt độ ở nách hoặc hậu môn. Nên sử dụng loại nhiệt kế điện tử thay vì loại thủy ngân vì nhiệt kế thủy ngân dễ bị vỡ, gãy trong quá trình sử dụng. Nhiệt kế điện tử rất dễ đọc kết quả vì phần đuôi của loại nhiệt kế này sẽ hiển thị số đo nhiệt độ, như trên đồng hồ điện tử. Phần lớn các loại nhiệt kế điện tử sẽ cho kết quả tương đối chính xác trong vòng vài chục giây đến hai phút sau đó.

Đo nhiệt độ ở nách: Cách này đơn giản hơn cách đo ở hậu môn nhưng nhược điểm của nó là dễ bị sai số (có thể thấp hơn nhiệt độ ở hậu môn khoảng 0,5ºC). Nếu muốn dùng nhiệt độ cặp nách cho bé, cha mẹ nên chú ý những điểm sau:

– Trước khi cặp nhiệt độ, cha mẹ nên lau khô nách cho bé để nhiệt kế được tiếp xúc trực tiếp với da.

– Kẹp đầu nhọn của nhiệt kế vào nách bé; sau đó, bạn nên giữa cánh tay đang cặp nhiệt độ của bé áp sát dọc theo cơ thể. Đảm bảo rằng, đầu nhọn của nhiệt kế nằm hoàn toàn trong nách của bé.

– Đợi khoảng 1-2 phút trước khi bạn rút nhiệt kế ra khỏi nách bé và bắt đầu đọc kết quả. Nhiệt kế điện tử thường có dấu hiệu thông báo khi nó đã thực hiện xong nhiệm vụ.

Hai phương pháp đo nhiệt độ không an toàn cho trẻ sơ sinh : Nhiệt kế đo ở miệng vì bé khó giữ yên nhiệt kế dưới lưỡi trong một khoảng thời gian nhất định; Nhiệt kế đo ở tai.

Lưu ý : Hãy đưa ngay bé tới các cơ sở y tế để khám ngay khi thấy xuất hiện dấu hiệu của sốt để bé được chăm sóc tốt nhất.

Theo báo sức khỏe

Bệnh ho gà ở trẻ sơ sinh

Bệnh ho gà là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, gây dịch, phổ biến ở trẻ em, lây theo đường hô hấp. Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là những cơn ho dữ dội, đặc biệt điển hình với nhiều biến chứng xảy ra.

Đây là một bệnh lưu hành ở mọi nơi trên thế giới. Ở nước ta, khi chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) chưa được triển khai thì bệnh ho gà thường xảy ra ở trẻ em và xuất hiện quanh năm. Sau năm 1986, Chương trình TCMR được phát triển rộng khắp cả nước và tất cả trẻ dưới 1 tuổi được gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP (bạch hầu, uốn ván, ho gà).
benh ho ga o tre so sinh
Sau nhiều năm liền tiêm vaccin DTP, tỷ lệ mắc và chết của bệnh ho gà đã giảm rõ rệt. Hiện nay bệnh ho gà vẫn còn tản phát ở nhiều nơi và vẫn còn xảy ra dịch nhỏ ở địa phương.

Tác nhân gây bệnh ho gà là trực khuẩn ho gà Bordetella pertussis. Bệnh lây truyền từ người bệnh sang người lành bằng đường hô hấp qua các giọt chất tiết ra từ miệng có chứa vi khuẩn ho gà. Không có người lành mang vi khuẩn hoặc người khỏi bệnh mang vi khuẩn.

Vi khuẩn ho gà có sức đề kháng rất yếu, bởi vậy sự lây truyền là do tiếp xúc trực tiếp, nhất là những người sinh hoạt trong cùng một không gian khép kín lâu dài như hộ gia đình, trường học. Mọi lứa tuổi đều có thể bị ho gà, nhưng trẻ em từ 1-6 tuổi dễ bị hơn. Trẻ càng nhỏ tuổi, bệnh càng nặng.

Biểu hiện của bệnh

Bệnh khởi phát có thể không có sốt hoặc sốt nhẹ (37oC – 38oC), với các triệu chứng viêm long đường hô hấp (ho khan, hắt hơi, chảy nước mũi, đau rát họng). Ho tăng dần thành cơn, hay gặp về đêm.

Ở thời kỳ toàn phát, xuất hiện các cơn ho gà điển hình. Cơn ho xuất hiện đột nhiên vô cớ sau các kích thích, cả ngày và đêm nhưng hay gặp ho nhiều về đêm. Mỗi cơn ho điển hình trải qua 3 giai đoạn. Trẻ ho rũ rượi từng chuỗi liên tục, không tự kìm hãm được. Mỗi chuỗi 15-20 lần ho liên tục, càng về sau càng yếu và giảm dần. Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ ngầu, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt, nước mũi. Cuối cơn ho hoặc xen kẽ sau mỗi chuỗi tiếp theo, trẻ thở rít vào thật dài nghe như tiếng gà rít.

Các cơn ho cứ liên hồi cho tới khi trẻ nôn hoặc khạc được đờm trắng trong, dính như lòng trắng trứng, trong đó có trực khuẩn ho gà. Sau mỗi cơn ho, trẻ mệt mỏi bơ phờ, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh. Phải mất ít phút, trẻ mới trở lại chơi bình thường. Các cơn ho có thể làm mặt nặng, loét dây hãm lưỡi. 3 tuần sau khi cơn ho xuất hiện, bệnh phát triển tới cực độ và giữ nguyên ở mức đó trong một thời gian tùy từng trường hợp, rồi bệnh lui dần (các cơn ho giảm, thời gian ho ngắn dần, khạc đờm ít sau đó hết dần).

Điều trị

Về nguyên tắc, dùng kháng sinh; điều trị triệu chứng (ho, khó thở) và điều trị biến chứng. Bệnh nhi cần được quan tâm chăm sóc và cho chế độ dinh dưỡng hợp lý. Trong cơn ho phải để trẻ ở tư thế ngồi để tránh trào đờm dãi vào phổi, trẻ nhỏ phải cho nằm nghiêng để dễ móc đờm dãi. Cho trẻ ăn thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu, chia thành nhiều bữa. Trẻ còn bú, tiếp tục cho bú.

Phòng bệnh

Thực hiện cách ly đường hô hấp đối với bệnh nhân, những trường hợp nghi ngờ. Thời gian cách ly thường ở trong khoảng 3 tuần kể từ khi xuất hiện viêm long. Gây miễn dịch cơ bản bằng 3 liều vaccin DTP cho trẻ dưới 1 tuổi, theo lịch tiêm chủng của Chương trình TCMR quốc gia:

Liều 1: khi trẻ được 2 tháng tuổi;

Liều 2: khi trẻ được 3 tháng tuổi;

Liều 3: khi trẻ được 4 tháng tuổi.

Theo báo sức khỏe

Viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh

TS. Lê Thanh Hải, Phó GĐ BV Nhi T.Ư cho hay, viêm tiểu phế quản ở trẻ sơ sinh là bệnh rất hay gặp trong thời tiết giao mùa. Đáng nói là nhiều bậc phụ huynh không biết chăm sóc đúng cách đã khiến bé bị biến chứng nặng nề, gây suy hô hấp.

Dùng thuốc bừa bãi, bệnh nhẹ thành nặng

Chị Nguyễn Thị Loan (Thanh Xuân, Hà Nội) sinh con được 24 ngày thì bé có dấu hiệu ngạt, xổ mũi và ho.

Chị cho con đi khám ở một phòng mạch tư, bác sĩ chẩn đoán là chớm viêm phổi, cho dùng thuốc kháng sinh Zinnat cùng thuốc long đờm Exomuc. Uống thuốc được 3 ngày thì các triệu chứng ho, ngạt mũi giảm. Sau 6 ngày dùng thuốc, bé đã bú nhiều hơn rồi bệnh cũng khỏi hẳn.
viem-tieu-phe-quan-o-tre-so-sinh
Đến khi được 4 tháng, bé lại có những triệu chứng như lần bệnh trước. Sẵn đơn thuốc cũ, chị Hải cho con uống nhưng sau 3 ngày, bệnh không thuyên giảm mà còn có dấu hiệu nặng hơn. Đến bệnh viện, bác sĩ khám và phát hiện cháu bị viêm tiểu phế quản do vi rút, dùng kháng sinh ngay khi mới bị không mang lại hiệu quả cao.

TS. Lê Thanh Hải cho biết, lạm dụng thuốc trong điều trị căn bệnh này không phải là hiếm. Không chỉ các bậc phụ huynh tự ý cho con dùng thuốc, mà ở các tuyến cơ sở, không ít bác sĩ cũng cho bé dùng kháng sinh khi có dấu hiệu ho, xổ, ngạt mũi. Lạm dụng kháng sinh khi mới bị viêm tiểu phế quản thường không mang lại kết quả điều trị như mong muốn.

Dấu hiệu đặc trưng

BS Hải cho hay, căn bệnh này hay gặp ở trẻ bú mẹ và rất dễ nhầm với các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp khác.

Khi bị viêm tiểu phế quản, trẻ thường ho, hắt hơi, xổ mũi nước trong, sốt nhẹ hoặc không sốt. Các bậc phụ huynh cần lưu ý, sốt không phải đặc trưng của căn bệnh. Vì trên thực tế, rất nhiều trẻ sơ sinh bị viêm tiểu phế quản không hề có biểu hiện sốt, nếu có, chỉ sốt rất nhẹ.

Triệu chứng ho có thể ngày càng nặng và xuất hiện thở khò khè, nhất là về nửa đêm, gần sáng. Khi phát bệnh, cơn ho tăng và trẻ càng khó thở. Khi đó, trẻ sẽ ăn kém đi, hay nôn trớ. Bệnh nặng hơn khi trẻ có dấu hiệu thở hổn hển, ăn kém và tỏ ra rất mệt mỏi, không muốn trò chuyện, chơi đùa.

Điều trị

Bệnh khởi đầu không dùng kháng sinh, chủ yếu là làm long đờm, ăn uống đủ. Nếu được chăm sóc tốt ngay từ đầu, nhiều trường hợp sau vài ngày sẽ tự khỏi.

Những trường hợp gây biến chứng nặng làm bít tắc đường thở, biểu hiện đứa trẻ thở mệt nhọc, ăn uống kém, nôn trớ nhiều thì cần đưa ngay đến viện khám để được điều trị thích hợp.

Trong trường hợp bị bội nhiễm gây sốt, đờm dãi đậm đặc, bác sĩ sẽ có chỉ định dùng kháng sinh.

Khi bé mới có dấu hiệu của bệnh, điều quan trọng là nâng cao thể lực của trẻ và trị các triệu chứng bằng nhiều cách. Trước hết phải cho trẻ tăng cường bú mẹ. Với những trẻ đã ăn dặm, nên cho ăn loãng hơn, uống thêm nước theo nhu cầu, có thể là nước lọc, nước ép hoa quả, nước cháo…

Cho trẻ ăn thức ăn dễ tiêu, làm thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. Lưu ý, trước khi cho trẻ ăn cần làm thông thoáng mũi họng bằng nước muối sinh lý, nhỏ mỗi lần 5-6 giọt, ngày 5-6 lần hoặc hơn. Sau khi nhỏ muối sinh lý, đợi 1 lúc để nước mũi loãng ra rồi dùng dụng cụ hút sạch mũi, hoặc có thể dùng miệng để hút mũi trẻ.

Nếu trẻ bị sốt, không nên ủ trẻ quá ấm. Mặc vừa đủ, dùng nước ấm chườm vào nách, cổ, bẹn. Nếu sốt trên 38,5 độ có thể cho trẻ uống paracetamol để hạ sốt nhưng cần chú ý liều lượng phù hợp với trọng lượng cơ thể.

“Tuy là bệnh thông thường, nhưng do thường gặp ở trẻ sơ sinh đang còn bú mẹ nên cũng không thể chủ quan. Cần đưa ngay trẻ đến viện khi có dấu hiệu suy hô hấp, biểu hiện là cánh mũi thở phập phồng. Trẻ thở mạnh khiến bụng hóp sâu và nhịp thở nhanh hơn, trên 50-70 lần/phút” – BS. Hải cảnh báo.

Để phòng bệnh, cha mẹ cần vệ sinh mũi họng, cơ thể sạch sẽ cho trẻ hàng ngày. Vệ sinh phòng ngủ, chăn ga, gối đệm, đảm bảo phòng thông thoáng. Người lớn không hút thuốc trong nhà. Mẹ trước khi cho con ăn cần rửa tay sạch sẽ. Trong gia đình có người bị bệnh hô hấp cần tránh cho trẻ tiếp xúc với nguồn bệnh.

Theo dân trí

Bệnh mềm sụn thanh quản ở trẻ sơ sinh

 Mềm sụn thanh quản là một bất thường bẩm sinh sụn thanh quản dùng để mô tả trường hợp mô nâng đỡ các cấu trúc giải phẫu phía trên thanh quản gồm nắp thanh quản và sụn phễu chưa phát triển kịp khiến các cấu trúc này sa vào đường thở của trẻ tạo nên tiếng thở khò khè.

Đặc điểm bệnh lý Mềm sụn thanh quản là khiếm khuyết bẩm sinh hay gặp nhất ở vùng thanh môn và thanh quản.

Mềm sụn thanh quản chủ yếu xảy ra ở sụn nắp thanh môn và sụn phễu hoặc cả 2 cấu trúc trên. Khi sụn nắp thanh môn mềm, nó thường bị kéo dài và xếp nếp. Nếu nhìn nghiêng thì sụn nắp thanh môn bệnh lý này giống chữ omega (Ω) và được gọi là nắp-thanh-môn-hình-chữ-omega.
Baby Laughing
Nếu sụn phễu bị mềm thì nó sẽ bị phình ra . Trong cả hai trường hợp thì các mô sụn nói trên sẽ phập phều và qua nội soi thanh quản sẽ thấy các sụn này bị sẽ bị ép và sa vào che lấp phần trên thanh môn khi trẻ hít vào. Nghẽn tắc đường thở trong thì hít vào như vậy sẽ gây nên một tiếng thở rít khi hít vào và có âm sắc cao gọi là tiếng thở khò khè thì hít vào.

Mềm sụn thanh quản là nguyên nhân gây khò khè kéo dài hay gặp nhất ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Trẻ bị mềm sụn thanh quản dễ bị trào ngược dạ dày-thực quản (ọc sữa) do nghẽn tắc một phần thanh môn trong thì hít vào và khi trẻ cố sức hít vào sẽ làm tăng áp suất âm trong lồng ngực quá mức khiến thức ăn trong dạ dày ở khoang bụng trẻ dễ bị trào ngược lên thực quản (phần đường tiêu hóa nằm trong lồng ngực). Ngược lại, trẻ bị trào ngược dạ dày-thực quản nặng sẽ có các thay đổi về mặt cấu trúc bệnh học tương tự như mềm sụn thanh quản, đặc biệt là sưng và phình sụn phễu.

Đôi khi quan sát được những thay đổi viêm ở thanh quản gọi là viêm thanh quản do trào ngược.

Do bệnh thường liên quan đến sụn nắp thanh môn nên khi đặt trẻ nằm ngửa, dưới tác dụng của trọng lực sẽ làm nắp thanh môn sa vào đường thở nhiều hơn và làm cho trẻ khò khè nhiều hơn.

Người ta chưa rõ nguyên nhân tại sao gây ra mềm sụn thanh quản, có lẽ do vùng thần kinh điều khiển trương lực đường hô hấp chưa phát triển.

Tỉ lệ tử vong / Diễn tiến trầm trọng : Rất hiếm,có thể gây ra thiếu oxy máu và ngạt nhẹ có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển bình thường của trẻ. Trong trường hợp nặng có thể kèm theo trào ngược dạ dày-thực quản và khi cho trẻ bú dễ bị sặc sữa hay ói ra sữa vón cục.

Tuổi: Mặc dù đây là khiếm khuyết bẩm sinh nhưng khởi phát triệu chứng ở tuần 4-6 sau sinh vì trẻ dưới tuổi này lưu lượng khí hít thở chưa đủ mạnh để gậy ra tiếng khò khè.

Bệnh cảnh lâm sàng:

• Bệnh cảnh thường gặp là trẻ bắt đầu thở khò khè khi được 2 tháng tuổi, điển hình là lúc 4-6 tuần tuổi nhưng cũng có thể xuất hiện vào 2-3 tháng tuổi cho đến trước thôi nôi.

• Cơn thở khò khè ngắt quãng khi hít vào. Tiếng thở khò khè lúc đầu dễ lầm tưởng là trẻ bị nghẹt mũi, tuy nhiên nó kéo dài và không có chất nhầy trong mũi của trẻ. Âm sắc của tiếng thở khò khè của trẻ có thể cao giống như tiếng rít.

• Khò khè tăng khi đặt trẻ nằm ngửa, lúc trẻ bứt rứt quấy khóc, hoặc khi có viêm đường hô hấp trên kèm theo. Nhiều trường hợp khò khè trong và sau khi trẻ bú.

• Trừ những lúc có viêm thanh quản kết hợp, nói chung trẻ vẫn chơi và bú như bình thường.

Các triệu chứng sẽ tăng nặng trong vòng vài tháng đầu , thường là từ 4-8 tháng tuổi. Đa số trẻ bị mềm sụn thanh quản sẽ hết các triệu chứng khi được 12-18 tháng.

Các triệu chứng khác có thể kèm theo như:

– Chậm lên cân

– Bú khó

– Ói ọc sữa

– Sặc sữa

– Ngưng thở

– Co kéo lồng ngực khi hít vào

– Tím tái

– Ói ọc dịch chua trong dạ dày

Phân loại:

Nhẹ: Thở khò khè thì hít vào không có biến chứng nghẽn tắc đường thở nghiêm trọng, không ảnh hưởng trẻ bú và không có các triệu chứng khác kèm theo.

Các trẻ này thường hay quấy khóc bảo mẫu nhưng không có vấn đề nào khác ảnh hưởng đến sức khỏe và thường tự khỏi sau 12-18 tháng tuối. Nếu trẻ bị mềm sụn thanh quản nhẹ thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Vừa: Trẻ được xếp vào loại này khi có các triệu chứng sau:

– Khò khè khi hít vào

– Ói ọc sữa

– Nghẽn tắc đường thở (do thanh quản mềm)

– Bú khó nhưng không ảnh hưởng tăng cân đều đặn của trẻ

– Có tiền sử nhập viện nhiều lần vì nghẽn tắc đường thở

– Trào ngược dạ dày – thực quản (ói ọc dịch chua trong dạ dày)

Các trẻ này cũng tự khỏi sau từ 12-18 tháng tuổi nhưng có thể cần phải điều trị chứng trào ngược dạ dày – thực quản. Ngay cả khi trẻ được xếp vào nhóm bệnh vừa thì bạn vẫn rất cần quan tâm theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng diễn tiến xấu để kịp thời mang trẻ đến cơ sở y tế.

Nặng: Trẻ xếp loại này thường có thể cần phải được phẫu thuật để chữa trị. Các bác sĩ sẽ đề nghị mổ nếu trẻ có bất kỳ triệu chứng sau:

– Khó thở đe dọa tính mạng

– Có các cơn tím tái nặng

– Không lên cân được vì bú khó

– Co kéo lồng ngực và cổ nặng khi thở

– Cần phải thở oxy

– Bệnh lý tim phổi gây ra do tình trạng thiếu oxy kéo dài

Các xét nghiệm và thủ thuật để chẩn đoán

Điều trị

Chăm sóc nội khoa:

• Trên 99% sẽ dần dần tự khỏi mà không cần điều trị, hầu như đa số sẽ hết khò khè khi được 2 tuổi. Tiếng khò khè sẽ tăng trong 6 tháng đầu sau sinh vì lượng khí trẻ hít thở sẽ tăng theo tuổi. Sau tuổi đó tiếng khò khè không tăng nữa và giảm dần rồi biến mất. Nhiều trường hợp, các triệu chứng biến mất nhưng đặc điểm bệnh học vẫn còn kéo dài cho đến lớn và trẻ có thể bị khò khè trở lại khi gắng sức hay thỉnh thoảng khi bị nhiễm virus đường hô hấp.

• Nếu trẻ khò khè quấy khóc nhiều hơn khi ngủ thì có thể đặt trẻ nằm sấp và nên cẩn thận tránh đặt trẻ nằm trên nệm quá mềm và nên thận trọng vì mền gối có thể bít mặt mũi bé gây ngạt.

• Khi trẻ bị thiếu oxy nặng cần phải nhập viện để đo nồng độ oxy máu. Nếu nồng độ oxy máu trong lúc nghỉ <90% thì trẻ sẽ được cho thở oxy.

• Nếu trẻ vẫn bú được, chơi được, tăng cân bình thường, chỉ có thở khò khè trong 2 tháng đầu sau sinh thì không cần xử trí gì thêm. Mềm sụn thanh quản là một chẩn đoán thường gặp và bác sĩ sẽ trấn an cha mẹ của trẻ về tính chất dạng bệnh này.

• Nếu chưa rõ chẩn đoán hoặc nếu cha mẹ chưa hoàn toàn yên tâm thì bác sĩ sẽ cho trẻ nhập viện để nội soi chẩn đoán.

Phẫu thuật:

• Đối với những trường hợp mềm sụn thanh quản nặng gây trẻ khó bú, kém tăng cân và phát triển, có thể dùng phẫu thuật.

• Phẫu thuật chỉ đơn giản chủ yếu là tạo hình các cấu trúc nâng đỡ quanh nắp thanh quản, lấy đi những phần mô thừa gây tắc khí đạo.

Rất hiếm khi phải áp dụng phẫu thuật để điều trị mềm sụn thanh quản. Nếu trẻ đã được phẫu thuật rồi thì vẫn nên tiếp tục điều trị trào ngược dạ dày thực quản và các bậc cha mẹ vẫn rất cần theo dõi các dấu hiệu chuyển biến xấu để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Ăn uống : Không cần kiêng cữ thức ăn nào hết.

Hoạt động thể chất: Không cần hạn chế hoạt động thể chất của trẻ

Nhập viện:

• Không cần thiết trừ khi trẻ có dấu hiệu thiếu oxy hay ngưng thở.

• Nếu độ bão hòa oxy máu cao hơn 90% thì không cần thở oxy

Điều trị ngoại trú:

• Không cần cho trẻ uống thêm thuốc gì khác.

• Tái khám theo chỉ định của bác sĩ nếu có

• Vẫn tiêm phòng cho trẻ bình thường như các trẻ khác .

Phòng ngừa: Bệnh này không phòng ngừa được và cũng không có yếu tố gia đình.

Biến chứng: Hạ oxy máu & cần thở thêm oxy

Các dấu hiệu cha mẹ nên theo dõi khi trẻ bị mềm sụn thanh quản:

Mang trẻ đến bệnh viện khi có các triệu chứng sau:

– Ngưng thở trên 10 giây

– Thở khò khè + tím tái quanh môi

– Co kéo lồng ngực và cổ không bớt khi bạn xoay trẻ lại hoặc bế trẻ lên

Báo cho bác sĩ biết khi trẻ có các dấu hiệu sau:

– Trẻ khó nuốt và ói ọc liên tục

– Trẻ đứng hay sụt cân

– Trẻ bú kém và bỏ bú giữa chừng

– Trẻ có dấu hiệu sặc sữa

– Trẻ khó thở khi bú

Theo báo sức khỏe

Những bệnh về mắt ở trẻ sơ sinh

Mắt trẻ sơ sinh vốn mỏng manh, nếu không biết cách chăm sóc, theo dõi đúng cách có thể sẽ để lại những hậu quả thật đáng tiếc…

Những bệnh lý thường gặp

Trong những lần khám thai định kỳ, bác sĩ sẽ tập trung hướng dẫn những điều quan trọng cho các bà mẹ. Chuyện chăm sóc mắt trẻ thơ ra sao ít vị quan tâm, vị nào chu đáo hơn thì nói qua loa… Bạn cần có những kiến thức cơ bản về các bệnh mắt ở trẻ sơ sinh để xử trí kịp thời.

– Viêm kết mạc: thường xảy ra ở trẻ sơ sinh. Phát hiện được là đưa trẻ tới bệnh viện chuyên khoa trị ngay.

– Viêm kết mạc do hóa chất: thường xảy ra 24-48 giờ đầu sau sanh. Bệnh thường tự khỏi sau 48-72 giờ. Bệnh này do kết mạc mắt phản ứng với nitrat bạc – thuốc nhỏ mắt phòng ngừa viêm kết mạc do lậu cầu khuẩn.
mot-so-benh-ly-ve-mat-thuong-gap-o-tre-so-sinh
– Viêm kết mạc lậu: do lậu cầu lây từ mẹ sang con trong giai đoạn xổ thai, biểu hiện sau sinh từ 3-5 ngày. Ban đầu, mắt trẻ tiết dịch lẫn máu, về sau mi mắt sưng đỏ tiết ra mủ. Có thể phòng ngừa hữu hiệu bệnh này bằng cách nhỏ nitrat bạc sau sinh, 1 giọt/lần/mắt. Khi mắt trẻ nhiễm bệnh, muốn trị tận gốc phải trị cả cha mẹ và bé. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể gây các biến chứng loét giác mạc, thủng giác mạc khiến trẻ bị mù.

– Viêm kết mạc do Chlamydia: bệnh lây từ mẹ sang con trong lúc mang thai. Khi nhiễm bệnh, sau sinh 5 ngày mắt sẽ tiết dịch, sau đó tiết ra mủ, 2 mắt sưng đỏ. Trị bằng Erythromycin và Teytacycline thuốc mỡ 1% bôi mắt 4-5 lần/ngày cho đến khi hết sưng đỏ.

– Viêm kết mạc do tụ cầu vàng: thường khởi phát sau 3 ngày tuổi, có thể chỉ một mắt bị bệnh, mủ không nhiều. Trị bệnh này bằng Teytacyline thuốc mỡ 1%, bôi mắt 4 lần/ngày, dùng trong năm ngày.

– Viêm kết mạc do virus: thường do Herpex simplex virus (HSV) gây nên. Trẻ nhiễm bệnh này từ mẹ, trong khi sanh. Bệnh phát trễ, thường từ 7-14 ngày sau sinh, có thể viêm ở một hoặc hai mắt. Nên cách ly bé với mẹ, dùng các thuốc kháng virus như Acyclovir (uống) và Nevirapin 3% thuốc mỡ bôi mắt 5 lần/ngày, trong vòng 10 ngày.

Lưu ý: Các viêm kết mạc, trừ viêm do hóa chất, có thể phòng ngừa hữu hiệu nếu người mẹ khám thai định kỳ thường xuyên.

– Đục thủy tinh thể bẩm sinh: tương đối hiếm gặp, nhưng thường trẻ sơ sinh bị nặng hơn người lớn và gây mù nếu không được điều trị sớm (mổ). Biểu hiện: đồng tử trắng đục một phần hoặc toàn phần, lé hoặc mù.

– Tăng nhãn áp bẩm sinh (glaucoma): là bệnh tăng áp lực trong mắt kết hợp với mất thị lực. Khi cả cha và mẹ đều bị bệnh này, thì con cũng có nguy cơ bị, thường ở cả hai mắt. Biểu hiện: hay chảy nước mắt, sợ ánh sáng, nhãn cầu to hơn trẻ bình thường. Cần đưa trẻ đi điều trị ngay mới có thể tránh mù vĩnh viễn.

– Bệnh võng mạc ở trẻ sơ sinh non tháng (ROP): là bệnh lý mạch máu ở võng mạc. Bệnh này thường gặp ở những trẻ sinh thiếu tháng, đặc biệt là những trẻ được cho thở oxy liều cao (nồng độ oxy trên 40%). Có thể phát hiện bệnh này sớm nhất lúc bé từ 6-8 tuần tuổi nhờ đèn soi đáy mắt. Chỉ phát hiện bệnh sớm mới hy vọng điều trị tốt, vì điều trị bệnh này rất phức tạp. Cho nên, ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, chỉ nên cho trẻ thở oxy khi thật cần thiết, nếu lạm dụng thì nguy cơ bị ROP càng cao. Ngoài ra, nồng độ oxy cung cấp cho những trẻ này không nên vượt quá 40%, ngoại trừ các trường hợp bệnh lý nặng.

Lưu ý: Nên vệ sinh mắt trẻ sơ sinh bình thường trong tháng đầu bằng nước muối sinh lý NaCl 9%, liều: 1 giọt/mắt/lần sau khi tắm trẻ.

sưu tầm

Triệu chứng vặn mình, đỏ mặt ở trẻ sơ sinh

Con tôi sinh được 20 ngày, gần đây bé hay vặn mình trong lúc ngủ, hay lúc không ngủ bé cũng vặn mình (mỗi khi vặn mình mặt bé đỏ cả người) và bé không chịu ngủ trong khoảng thời gian từ 2 giờ đến 4 giờ sáng.

Những biểu hiện như thế của con tôi có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của bé không ? biểu hiện trên thuộc bệnh lý gì ?

Bác sĩ có thể cho tôi lời khuyên và chỉ dẫn cho tôi hướng khắc phục hay đi khám ở phòng mạch nào. Rất mong nhận được sự tư vấn của Bác sĩ để bé có giấc ngủ ngon và không vặn mình trong lúc ngủ. (Lê Tấn Tài)

trieu chung van minh do mat

Trả lời

Triệu chứng vặn mình và đỏ mặt thường là sinh lý bình thường của trẻ sơ sinh trước 2 tháng tuổi, biểu hiện bé vặn người, đỏ mặt, triệu chứng kéo dài trong vòng vài phút và tự hết. Ngoài ra be vẫn biểu hiện bình thường, không khóc khó chịu, không ói, vẫn lên cân tốt.

Nếu triệu chứng do thiếu canxi máu, thì thường gặp hơn ở những bé sinh non, dinh dưỡng kém. Trẻ có biểu hiện dễ kích thích với tiếng động, hiếm hơn có khò khè, hoặc nôn ói. trẻ còi, chậm lên cân.

Nếu do trào ngược thức ăn từ dạ dày vào thực quản, thường trẻ sẽ có triệu chứng hay nôn ói, khó chịu và quấy nhiều ban đêm, có thể có khò khè hoặc viêm phổi tái đi tái lại.

Nói tóm lại, nếu con anh vẫn khỏe, vẫn lên cân tốt, thì triệu chứng vặn mình và đỏ mặt là sinh lý bình thường, sẽ tự hết khi bé được 2 – 3 tháng tuổi còn không ngủ vào lúc 2 -4 giờ sáng thì cha mẹ nên điều chỉnh giấc ngủ cho bé.

Trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ có giấc ngủ ngắn, thường 3 đến 4 tiếng sau cử bú, do vậy ba mẹ có thể điều chỉnh lại giờ đi ngủ cho bé.

Chúc cả nhà vui.

Theo báo sức khỏe

Dấu hiệu trẻ 9 tháng tuổi mắc bệnh gan

Gan đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và một số các chứa năng khác trong cơ thể như dự trữ glycogen, tổng hợp protein huyết tương và thải độc.

Gan cũng sản xuất dịch mật, một dịch thể quan trọng trong quá trình tiêu hóa. Gan được xem là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh mà các phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể. Viêm nhiễm, di truyền hoặc bệnh mạn tính có thể gây ra vấn đề về gan đối với trẻ. Dưới đây là những dấu hiệu mắc bệnh gan ở trẻ 9 tháng tuổi.

dau-hieu-tre-9-thang-tuoi-mac-benh-gan

Vàng da

Mắt và da của trẻ trở nên vàng do ứ đọng quá nhiều bilirubin trong máu. Bilirubin là một sắc tố màu vàng được tìm thấy trong mật và được sản xuất bởi gan. Có đến 60% trẻ sơ sinh sẽ bị vàng da, theo báo cáo của tổ chức March of Dimes. Tuy nhiên, một em bé 9 tháng tuổi lại cần chăm sóc y tế kể từ khi vàng da bởi đây là dấu hiệu của bệnh gan.

Bụng, chi dưới sưng

Bệnh gan thường được nghi ngờ khi trẻ bị sưng ổ bụng sưng và chi dưới. Bình thường, trong ổ bụng không có nước khi giữa lá thành và lá tạng của màng bụng, vì một nguyên nhân nào đó, xuất hiện nước, gọi là hiện tượng cổ trướng.

Những thay đổi trong phân

Em bé khỏe mạnh sẽ bài tiết bilirubin qua phân. Nhưng những em bé có vấn đề về gan sẽ không thải bilirubin qua phân và khiến phân của bé nhạt màu hoặc màu trắng. Phân cũng có thể chứa máu hoặc dịch màu.

Nước tiểu sậm màu

Em bé khỏe mạnh nước tiểu sẽ sáng. Một em bé có vấn đề về gan, nước tiểu trở nên đậm màu do có sự tích tụ của bilirubin trong máu. Xét nghiệm nước tiểu sẽ có thể thấy được sự hiện diện của bilirubin. Nước tiểu sậm màu cũng là một dấu hiệu của sự mất nước. Nhưng nếu em bé vẫn uống nước bình thường mà nước tiểu lại sậm, bạn nên đưa trẻ đi khám.

Các dấu hiệu và triệu chứng khác

Trẻ mắc các vấn đề về gan có thể mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn và nôn mửa, ngủ khó đánh thức, thậm chí hôn mê, không tăng cân.

Nếu em bé của bạn xuất hiện bất kỳ những dấu hiệu và triệu chứng trên, bạn nên đưa trẻ tới bác sĩ nhi khoa để chẩn đoán và điều trị.

Nguồn st

Trẻ dễ bị vẹo cột sống vì nằm đệm mềm

Tư thế ngủ và sự thoải mái của giấc ngủ là những nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển trí não cũng như xương của trẻ nhỏ, đặc biệt là những năm tháng đầu đời.

Một nghiên cứu từng được công bố trên tạp chí Pediatrics (Mỹ) cho biết, rất nhiều bà mẹ người Mỹ gốc Phi sử dụng những bộ gối, đệm mềm cho trẻ bất chấp cảnh báo về tăng nguy cơ tử vong. Họ cho rằng sử dụng những bộ gối, đệm mềm giúp trẻ cảm thấy thoái mái hơn và bảo vệ trẻ khỏi bị đau. Song thực tế việc làm này có thể gây nguy hiểm cho trẻ.

tre-em14-veo-cot-song

 Một chiếc đệm cứng vừa phải sẽ tốt cho sự phát triển và giấc ngủ của trẻ.

Phần lớn các ông bố bà mẹ đều cho rằng, nằm trên một chiếc giường có đệm mềm sẽ giúp trẻ ngủ ngon giấc hơn. Thực tế đây là một suy nghĩ sai lầm bởi lẽ xương của trẻ khi còn nhỏ rất mềm và chưa phát triển hoàn thiện, khi để trẻ ngủ trên chiếc giường có đệm mềm một thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của xương. Lâu dài, trẻ có thể bị gù, bị vẹo cột sống hay biến dạng cơ…

Những chiếc giường có đệm mềm sẽ làm tăng độ cong sinh lý của cơ thể, khiến cho các dây thần kinh, dây chằng và khớp của cột sống trong tình trạng quá tải, khó chịu. Hơn nữa, khi nằm trên đệm quá mềm sẽ khiến xương bị võng thành hình cung gây biến dạng cột sống.

Ở trẻ nhỏ, xương chưa được phát triển hoàn thiện, nằm ngủ trên đệm mềm có thể khiến xương sống bị cong. Đặc biệt, đệm mềm không thích hợp với trẻ đang tập lẫy và tập bò. Nguy hiểm hơn, trẻ nhỏ tính hiếu động,  ngay cả trong giấc ngủ, trẻ cũng ít khi nằm yên, nằm trên đệm mềm sẽ tăng nguy cơ chăn trùm qua đầu gây thiếu oxy. Chính vì vậy, tốt nhất là cha mẹ không nên để trẻ nằm trên đệm mềm.

Hãy chọn một chiếc đệm có độ cứng vừa phải giúp cho cột sống ở trạng thái co giãn sinh lý bình thường. Nên chọn loại đệm có độ đàn hồi đồng đều để chỗ tiếp xúc với khuỷu tay trẻ không quá lõm.

Bên cạnh đệm thì việc lựa chọn gối cho trẻ cũng rất quan trọng. Ở trẻ nhỏ, xương đầu vẫn còn rất mềm nên dễ bị biến dạng như bị chứng bẹp đầu, xương đầu bị méo khi bé nằm gối quá lâu với một tư thế nhất định. Hãy cho trẻ gối đầu bằng khăn mềm cao khoảng 1mm hoặc để bé nằm trên một chiếc nệm vừa đủ êm.

Nên chọn loại gối phù hợp để bé có được giấc ngủ ngon. Một chiếc gối êm ái sẽ giúp mạch máu chạy dọc cột sống lên nuôi não và tránh được các nguy cơ biến dạng xương sống, khó thở hay vẹo cột sống.

Gối ngủ của trẻ không nên quá rộng, chỉ vừa đủ đầu để tránh gây ngạt thở cho trẻ. Tuyệt đối không nên chọn những chiếc gối quá cao hay quá thấp vì sẽ gây tác động đến hệ hô hấp và quá trình tuần hoàn máu ở cổ khiến trẻ khó ngủ.

Chất liệu của ruột gối cũng nên là chất liệu mềm mại, nhẹ, thoáng và khô để tiện cho vệc vệ sinh vì trẻ nhỏ thường đổ nhiều mồ hôi trong khi ngủ.

Nguồn st