Tag Archives: bệnh răng miệng

Các bệnh thường gặp ở răng miệng

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên các bệnh về răng miệng như vệ sinh răng miệng chưa tốt, dùng thuốc, hút thuốc lá… làm cho người bệnh mất tự tin và những hệ lụy sức khỏe khác.

Sâu răng

Sâu răng là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất trên thế giới trong đó có nước ta. Sâu răng có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào nhưng rất thường gặp ở trẻ em do vệ sinh răng không tốt, thường xuyên ăn vặt và uống đồ uống có đường…. Nếu không được điều trị sâu răng có thể gây ra đau răng nặng, nhiễm trùng, mất răng và các biến chứng khác.

Sâu răng gây đau răng, gây nhói khi ăn hoặc uống nóng lạnh, đau khi cắn xuống, có mủ quanh răng, nhìn thấy lỗ ở răng… Các biến chứng có thể bao gồm: áp xe răng, mất răng, bị hỏng răng. Vì vậy, nếu thấy các triệu chứng như sưng nướu, chảy máu, mủ quanh răng, hơi thở có mùi hôi… cần tới bác sĩ nha khoa để được khám và điều trị thích hợp.

benh-sau-rang-mieng-thuong-gap

Một số biện pháp sau có thể giúp phòng, chống sâu răng như:

Đánh răng sau khi ăn hoặc uống: Đánh răng ít nhất hai lần một ngày và sau mỗi bữa ăn, sử dụng kem đánh răng có chứa fluoride. Để làm sạch kẽ răng, xỉa hoặc sử dụng chỉ làm sạch kẽ răng. Nếu không thể chải sau khi ăn, ít nhất là cố gắng rửa miệng với nước.

Khám nha sĩ thường xuyên: Ngoài việc vệ sinh răng miệng đúng cách hàng ngày, cần đi kiểm tra răng miệng thường xuyên, để giúp ngăn ngừa các vấn đề về răng miệng hoặc phát hiện sớm các vấn đề về răng miệng để xử lý kịp thời.

Uống nước có bổ sung thêm fluoride giúp giảm đáng kể sâu răng, nhưng hiện nay nhiều người uống nước đóng chai không chứa fluoride.

Tránh ăn uống vặt thường xuyên: Bất cứ khi nào ăn hoặc uống cái gì khác ngoài nước, sẽ giúp miệng tạo ra các axít và phá hủy men răng. Nếu ăn hoặc uống trong suốt cả ngày, răng đang bị tấn công liên tục dễ bị sâu răng. Vì vậy không nên ăn vặt.

Nên ăn các loại thực phẩm cho sức khỏe răng: Một số thực phẩm và đồ uống có tác dụng tốt hơn cho răng như phô mai (một số nghiên cứu cho thấy phô mai có thể giúp ngăn ngừa sâu răng), cũng như trái cây và rau quả, làm tăng lưu lượng nước bọt…

Viêm nướu (lợi) răng

Viêm nướu là một hình thức rất phổ biến và nhẹ của bệnh nha chu, trong đó mảng bám là nguyên nhân gây kích ứng, mẩn đỏ và (viêm) sưng nướu răng. Viêm nướu có thể dẫn đến các bệnh về lợi nghiêm trọng và cuối cùng mất răng.

Nguyên nhân thường gặp nhất của viêm nướu là vệ sinh răng miệng kém dẫn đến hình thành mảng bám. Khi nướu răng khỏe mạnh là chắc và màu hồng nhạt. Nếu nướu răng sưng húp, nâu sẫm đỏ và dễ chảy máu, có thể có viêm nướu. Bệnh viêm lợi ít khi gây đau đớn, vì thế người bệnh bị viêm lợi nhiều khi không biết. Các dấu hiệu và triệu chứng sau cảnh báo viêm nướu bao gồm: sưng nướu răng, nướu răng sưng húp, mềm, lợi teo rút. Nướu răng chảy máu một cách dễ dàng khi dùng bàn chải hoặc dùng chỉ nha khoa, đôi khi được xem như đỏ hoặc hồng trên bàn chải hay chỉ nha khoa. Sự thay đổi màu của nướu răng từ một màu hồng khỏe mạnh đến nâu sẫm đỏ. Người bị viêm nướu răng thường có hơi thở hôi.

Các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ viêm nướu bao gồm: thói quen sức khỏe răng miệng nghèo nàn, sử dụng thuốc lá, bệnh tiểu đường, người lớn tuổi, suy giảm miễn dịch, dùng thuốc, một số virus và nhiễm nấm, khô miệng, nội tiết thay đổi, chẳng hạn như những người liên quan đến mang thai, chu kỳ kinh nguyệt hoặc sử dụng thuốc tránh thai, dinh dưỡng kém.

Nếu không điều trị viêm nướu có thể tiến triển đến bệnh nướu răng, lây lan đến các mô cơ và xương (nha chu), một tình trạng nghiêm trọng hơn nhiều có thể dẫn đến mất răng. Nha chu và sức khỏe răng miệng kém nói chung cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể.

Điều trị thường có thể đảo ngược các triệu chứng của viêm nướu và ngăn chặn sự tiến triển của bệnh nướu đã nghiêm trọng và mất răng.

Hôi miệng

Có nhiều nguyên nhân gây ra hôi miệng như: do thức ăn (thức ăn dắt vào răng không được lấy ra), thực phẩm (một số thực phẩm có mùi như hành, tỏi…), các vấn đề về nha khoa như vệ sinh răng miệng kém và bệnh nha chu, do dùng thuốc, do bệnh lý (viêm mũi, họng), hút thuốc lá…

Việc điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây hôi miệng. Bác sĩ sẽ giúp bạn tìm ra nguyên nhân và có biện pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên, cần chú ý tới một số biện pháp có thể khắc phục chứng hôi miệng như vệ sinh răng miệng hàng ngày (đánh răng sau khi ăn ít nhất hai lần/ngày), hoặc dùng chỉ nha khoa đúng cách loại bỏ thức ăn và mảng bám giữa các răng ít nhất một lần một ngày và uống nhiều nước. Tránh những thực phẩm và đồ uống khác có thể gây hơi thở hôi và thường xuyên kiểm tra răng miệng (ít nhất hai lần một năm)…

Khô miệng

Là tình trạng thiếu nước bọt kéo theo nhiều hệ lụy ảnh hưởng đến việc tiêu hóa thức ăn và sức khỏe của răng miệng. Vì tác dụng của nước bọt sẽ giúp ngăn ngừa sâu răng bằng cách hạn chế vi khuẩn phát triển và rửa đi thức ăn và mảng bám. Nước bọt giúp tăng cường khả năng hương vị và làm cho dễ dàng hơn để nuốt. Ngoài ra, enzym trong nước bọt vào trợ giúp tiêu hóa.

Khô miệng có nhiều nguyên nhân, bao gồm: dùng thuốc (một số loại thuốc dùng trong điều trị bệnh có thể có tác dụng phụ gây khô miệng như các thuốc điều trị trầm cảm và lo âu, thuốc kháng histamine, thuốc thông mũi, thuốc cao huyết áp, thuốc bệnh Parkinson…), do lão hóa, dùng thuốc trị ung thư (thuốc hóa trị có thể làm thay đổi bản chất và số lượng sản xuất nước bọt. Bức xạ trị liệu đầu và cổ có thể ảnh hưởng tới tuyến nước bọt gây ra sự sụt giảm đáng kể sản xuất nước bọt), hút thuốc lá (hút thuốc lá hoặc thuốc lá nhai có thể làm tăng các triệu chứng khô miệng). Khô miệng có thể là một hậu quả của một bệnh hoặc một phương pháp điều trị nào đó, bao gồm bệnh tự miễn dịch, tiểu đường, bệnh Parkinson, HIV/AIDS, rối loạn lo âu và trầm cảm. Đột quỵ và bệnh Alzheimer có thể gây ra nhận thức của miệng khô, mặc dù các tuyến nước bọt hoạt động bình thường. Ngáy và thở bằng miệng mở cũng là nguyên nhân gây khô miệng.

Để xác định khô miệng, bác sĩ kiểm tra miệng và xem xét bệnh sử. Đôi khi sẽ cần phải xét nghiệm máu và quét hình ảnh của tuyến nước bọt để xác định nguyên nhân.

Hệ lụy của khô miệng có thể gây các triệu chứng sau đây: khô trong miệng, có vết loét hoặc nứt da ở các góc miệng, nứt môi, hơi thở hôi, khó nói, nuốt, viêm họng, cảm giác thay đổi hương vị, nhiễm nấm trong miệng, tăng mảng bám, sâu răng và bệnh nướu răng.

Điều trị cũng phải tùy thuốc vào nguyên nhân gây khô miệng. Những lời khuyên sau có thể giúp cải thiện triệu chứng khô miệng và giữ cho răng khỏe mạnh: nhai kẹo cao su không đường hoặc kẹo cứng, hạn chế lượng caffeine (caffeine có thể làm khô miệng), tránh các loại thực phẩm ngọt hay chua và kẹo vì chúng làm tăng nguy cơ sâu răng, đánh răng với kem đánh răng có fluoride, không sử dụng nước súc miệng có chứa cồn, không hút thuốc lá, uống nước thường xuyên, hít thở bằng mũi (không thở bằng miệng)…

Nấm miệng

Thường là do nấm Candida gây nên. Nấm Candida tích tụ trên niêm mạc miệng, có màu trắng thường ở lưỡi hoặc má trong, gây tổn thương răng miệng. Các tổn thương có thể bị đau và có thể chảy máu một chút khi cạo ra. Đôi khi nấm có thể lây lan sang vòm miệng, nướu răng, amiđan hoặc sau cổ họng.

Bất cứ ai cũng có thể bị nấm miệng nhưng trẻ nhỏ (sơ sinh), những người đeo răng giả, sử dụng corticosteroid hít hoặc có tổn thương hệ thống miễn dịch (người nhiễm HIV/AIDS) thường hay mắc nấm miệng hơn.

Đối với người đang khỏe mạnh thì nấm miệng là một vấn đề nhỏ, nhưng ở những người có hệ thống miễn dịch suy yếu, các triệu chứng của bệnh nấm miệng có thể nặng hơn và khó kiểm soát.

Việc điều trị nấm miệng cũng phải tùy thuộc vào tuổi, nguyên nhân gây nhiễm nấm và sức khỏe tổng thể của người bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định thuốc và liều dùng phù hợp…

Ngoài việc dùng thuốc chống nấm, cần phải thực hiện vệ sinh răng miệng sạch sẽ hàng ngày. Tránh dùng nước súc miệng hoặc thuốc xịt làm thay đổi cân bằng vi khuẩn có lợi trong miệng. Không dùng chung bàn chải đánh răng.

Theo Xuân Thủy (Sức khỏe đời sống)

Chấn thương răng

Trẻ em là lứa tuổi hiếu động, các bé thường hay gặp những tai nạn liên quan đến chấn thương răng trong sinh hoạt hằng ngày. Khoa Răng trẻ em – Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội thường xuyên tiếp nhận và điều trị rất nhiều ca chấn thương có tổn thương răng liên quan đến trẻ em. Hay gặp nhất là các bé đang trong giai đoạn tập đi và các cháu từ 7-12 tuổi.

Các loại chấn thương răng thường gặp ở trẻ

Tổng hợp các tài liệu thống kê cho thấy các tai nạn thường xảy ra ở nhà hoặc khi các cháu chơi đùa, thường gặp ở bé trai hơn bé gái. Răng bị tổn thương thường là răng cửa giữa và răng cửa bên hàm trên (cả răng sữa lẫn răng vĩnh viễn), hiếm khi gặp ở các răng cửa dưới hoặc răng nanh, răng hàm… Các bé có răng cửa hàm trên chìa ra phía trước nhiều thường có nguy cơ chấn thương răng cao hơn gấp 2 – 3 lần so với các bé có khớp cắn bình thường. Các chấn thương dù ở răng sữa hay răng vĩnh viễn nếu không được xử trí kịp thời có khả năng gây ra biến chứng đau, sưng, răng đổi màu, di chứng trên mầm răng vĩnh viễn, rối loạn mọc răng, gây mất thẩm mỹ ở vùng răng phía trước… Do vậy, khi trẻ gặp tai nạn liên quan đến răng, cha mẹ trẻ cần đưa trẻ đến ngay phòng khám hoặc bệnh viện chuyên khoa răng hàm mặt để khám và điều trị.

chan-thuong-rang

Các chấn thương liên quan đến răng thường gặp là: chấn động răng, gãy, vỡ men răng, gãy thân răng, gãy chân răng, trật khớp răng như lún răng hay trồi răng, răng lung lay, răng di lệch, răng rơi ra ngoài…

Biện pháp khắc phục

Đối với răng sữa bị gãy thân răng thì tùy mức độ, nếu đường gãy giới hạn ở men ngà thì mài chỉnh răng và chống ê buốt bằng flour, nếu đường gãy liên quan đến tủy răng thì điều trị tủy hoặc nhổ răng.

Nếu răng sữa bị gãy thân – chân răng hoặc gãy chân răng thì nên nhổ bỏ.

Ở răng sữa, nếu răng bị trật khớp thì tùy từng trường hợp sẽ có những hướng xử trí khác nhau. Với những răng bị chấn động nhẹ hoặc bán trật khớp có thể theo dõi và chụp phim kiểm tra. Với răng bị trồi thì đặt lại răng nhẹ nhàng và dùng thuốc kháng sinh chống viêm trong vòng 8 ngày, nhổ răng nếu có cản trở cắn và lung lay. Trường hợp răng lún toàn bộ thì theo dõi, răng có thể mọc lại sau 1-6 tháng, dùng thêm kháng sinh và chống viêm, nếu không được nên nhổ bỏ. Nếu răng bị rơi ra ngoài không cần thiết cắm lại.

Đối với răng vĩnh viễn bị gãy men răng hoặc men-ngà có thể mài chỉnh và chống ê buốt bằng flour, nếu đường gãy liên quan đến tủy răng thì phải chụp phim xem răng đã đóng chóp hay chưa để có hướng điều trị thích hợp.

Răng vĩnh viễn bị gãy thân – chân răng, gãy thân răng thì phải xem đường gãy có thuận lợi không, nếu đường gãy thuận lợi có thể điều trị bảo tồn chân răng, nếu không sẽ phải nhổ.

Các trường hợp trật khớp ở răng vĩnh viễn (lún răng, trồi răng, răng di lệch, răng rơi ra ngoài…) cần phải được chỉnh lại và cố định lại răng, sau đó điều trị tủy. Răng của trẻ ở độ tuổi này thường chưa đóng kín cuống, do vậy khi gặp chấn thương cần phải điều trị đóng kín cuống răng.

Khi gặp chấn thương răng điều cần thiết nhất là đưa trẻ đến ngay các bệnh viện hoặc phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt. Cha mẹ cũng cần trang bị một số kiến thức sơ cứu căn bản khi gặp chấn thương răng. Các loại chấn thương răng đều ít nhiều gây chảy máu tại chỗ. Vì vậy việc đầu tiên cha mẹ cần làm là cầm máu cho trẻ bằng một miếng gạc sạch tẩm oxy già, ép sát vào vùng răng bị chấn thương hoặc cho trẻ tự tay cầm miếng gạc, vệ sinh vùng xung quanh chấn thương bằng nước sạch. Nếu là răng vĩnh viễn bị rơi ra khỏi xương ổ răng thì rửa răng bị rơi ra ngoài nhẹ nhàng bằng nước lạnh, nước muối sinh lý cho sạch các chất bẩn (không được chà rửa răng), sau đó cầm răng bị gãy bằng gạc tẩm nước muối sinh lý, có thể đựng răng trong cốc sữa tươi không đường hoặc cho trẻ ngậm răng vào miệng trong thời gian đến bác sĩ nha khoa để cắm lại răng vào xương ổ răng. Cần đưa trẻ đến bác sĩ càng sớm càng tốt để tủy và mạch máu được tái lập dễ dàng, cấp cứu trong vòng 6 giờ đầu sau tai nạn tỷ lệ thành công có thể lên tới hơn 50%.

Quan trọng hơn cả, cha mẹ và thầy cô cần để ý bảo vệ và nhắc nhở khi trẻ chơi đùa, tránh những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra. Khi gặp tai nạn ngay lập tức cần đưa trẻ đến những cơ sở y tế chuyên về răng hàm mặt để khám và điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Nhiễm trùng răng miệng

Các nhà nghiên cứu vừa mới có một phát hiện quan trọng về việc vệ sinh răng miệng hàng ngày có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa các hội chứng làm suy giảm trí nhớ ở người.

Theo các nhà nghiên cứu, vi khuẩn gây bệnh nướu răng đã xâm nhập vào não bộ của người mắc bệnh Alzheimer. Điều này cho thấy rằng việc vệ sinh răng miệng hàng ngày có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa các hội chứng làm suy giảm trí nhớ ở người.

nhiem-trung-rang-mieng
Dấu hiệu của vi khuẩn mang tên Porphyromonas gingivalis đã được tìm thấy trong 4 mẫu xét nghiệm trong số 10 mẫu mô não của bệnh nhân Alzheimer. Các dấu hiệu của vi khuẩn này hoàn toàn không có sau khi đem đối chiếu với 10 mẫu xét nghiệm của những người cùng độ tuổi nhưng chưa bao giờ có bệnh mất trí nhớ, theo kết quả của nghiên cứu được công bố trên Tạp chí bệnh Alzheimer.

Nói về khám phá mới, John Crean, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: Phát hiện này hỗ trợ cho một giả thuyết trước đây cho rằng vi khuẩn trong miệng lây nhiễm vào máu thông qua nhai hoặc chân răng đã bị nhổ. Vào theo đường máu, các vi khuẩn sẽ khu trú ở các bộ phận khác của cơ thể bao gồm cả não,

Lâu ngày, những hóa chất do vi khuẩn phân hủy tạo ra có thể trở thành tác nhân đóng góp vào sự phát triển của bệnh Alzheimer. Theo ông Crean, hiệu trưởng trường Y và Nha khoa trực thuộc Đại học Central Lancashire Anh cho biết. “Chúng tôi mới chỉ tìm được sự liên quan chứ không phải là nguyên nhân nhưng đã chứng minh rằng các loại vi khuẩn này xâm nhập được đến não”.

Những vết xước trong khi đánh răng và dùng chỉ nha khoa cũng có thể làm cho vi khuẩn xâm nhập vào máu, vì thế điều quan trọng là phải thường xuyên làm sạch răng để làm giảm số lượng vi khuẩn ở mô nướu và hạn chế các cơ hội lây nhiễm qua đường miệng, ông Crean khuyến cáo.

Chăm sóc răng miệng bằng cách lấy cao răng thường xuyên

Cao răng là chất cặn lắng cứng có màu vàng nâu, thường đóng xung quanh cổ răng. Thành phần của cao răng gồm carbonat canxi và phosphate phối hợp với cặn mềm (mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong môi trường miệng), vi khuẩn, xác các tế bào biểu mô. Ngoài ra, còn có sự lắng đọng sắt của huyết thanh trong máu, nước bọt. Cao răng có thể gây viêm nướu và có mùi hôi.

Khi ăn xong nếu không chải răng ngay, thì khoảng 15 phút sau có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng gọi là màng bám. Nếu màng bám không được làm sạch, các vi khuẩn bám vào màng này và tích tụ ngày càng dày lên, gọi là mảng bám. Lúc này, các mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong miệng tiếp tục bám vào hình thành nên những mảng cứng bám xung quanh cổ răng gọi là cao răng.

Cao răng gây ra một số bệnh về răng miệng như:

– Vi khuẩn trong cao răng gây viêm nướu. Phản ứng viêm này gây ra hiện tượng tiêu xương ổ răng, làm cho răng tụt nướu, thân răng ngày càng dài. Vì vậy, người có cao răng có thể có cảm giác ê buốt khó chịu khi ăn uống. Chân răng bị lộ vì không có nướu che chở và răng bị lung lay, quá trình tiêu xương cũng diễn ra nhanh hơn.

cham-soc-rang-mieng-bang-cach-lay-cao-rang-thuong-xuyen

– Cao răng có thể gây nên các bệnh viêm nướu, viêm nha chu với các biểu hiện như: đánh răng chảy máu, miệng có mùi hôi, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể gây lung lay và rụng răng.

– Vi khuẩn trong mảng cao răng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh ở niêm mạc miệng (viêm niêm mạc miệng, áp-tơ mà dân gian vẫn gọi là bệnh lở miệng), bệnh ở vùng mũi họng (viêm amidan, viêm họng), bệnh tim mạch.

Do những ảnh hưởng nêu trên, cao răng cần phải được cạo sạch và tốt nhất nên cạo định kỳ 4 – 6 tháng/lần. Có thể cạo cao răng bằng dụng cụ cầm tay hay bằng máy siêu âm. Cạo cao răng bằng máy siêu âm sẽ ít đau, ít chảy máu và sạch hơn. Sau khi cạo cao răng, bạn có thể có cảm giác ê, đau, nhiều hay ít tùy mức chịu đau của mỗi người. Cảm giác ê buốt khi ăn uống nhất là uống nước nóng quá hay lạnh quá có thể kéo dài sau vài ngày rồi hết.

Khởi phát của cao răng là màng bám sau khi ăn không được chải rửa sạch. Vì vậy, để ngăn ngừa cao răng, phải kiểm soát được màng bám, giữ răng luôn sạch sẽ. Sau đây là một số lời khuyên để giữ cho hàm răng chắc khỏe:

– Luôn chải răng sạch sau khi ăn.

– Sử dụng chỉ tơ nha khoa lấy sạch mảnh vụn thức ăn ở kẽ răng.

– Ngậm nước súc miệng có bán sẵn hoặc nước muối pha loãng.

– Kiểm tra răng miệng định kỳ 3 tháng/lần để giải quyết những vấn đề vệ sinh mà bản thân cá nhân không thể tự làm sạch được như: làm sạch ở kẽ răng, ở mặt xa các răng hàm, ở những vùng răng giả. Không nên đợi có cao răng mới đi lấy, vì khi cao răng hình thành thì nó đã gây ra tổn thương và để lại hậu quả.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Hòa, Sức khỏe & Đời sống, VNE

Phòng ngừa sâu răng và thuốc chữa

Bệnh sâu răng xảy ra phổ biến ở trẻ em. Những người không giữ vệ sinh răng miệng tốt cũng dễ bị sâu răng. Sâu răng làm tiêu men răng, ngà răng, các tổ chức không có tế bào. Ngoài ra, sâu răng còn làm cho hơi thở hôi, gây đau nhức, khó chịu cho người bệnh và thậm chí là hỏng răng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và thẩm mỹ.

Nguyên nhân gây sâu răng có nhiều nhưng chủ yếu là do vệ sinh răng miệng kém. Tuy nhiên, những yếu tố bẩm sinh lên quan đến cấu tạo hình thể của răng như rãnh, lõm trên mặt nhai cũng là những nguyên nhân dễ gây sâu răng. Khi ta ăn, thức ăn hình thành mảng bám trên răng, nếu không làm vệ sinh răng đúng cách sau khi ăn thì những mảng bám này chính là nguyên nhân làm cho răng bị sâu. Đường cũng có vai trò hết sức quan trọng trong sự lên men hình thành acid là nguyên nhân gây phá hủy men răng. Hơn nữa, đường là nguồn thức ăn của vi khuẩn. Vi khuẩn gây bệnh sâu răng chủ yếu là Streptococcus mutans hoặc Lactobacillus acidophillus. Những vi khuẩn này dễ dàng có cơ hội phát triển khi các mảng bám không được làm sạch ngay sau khi ăn và lưu cữu trên răng.
sau-rang
Để đề phòng bệnh sâu răng cần phải chải răng thường xuyên vào buổi sáng hoặc tối, tốt nhất là sau mỗi bữa ăn, chải răng đúng cách bằng bàn chải lông mềm, chải mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai, trên và dưới. Nên cầm bàn chải quay 450 về phía lợi, chải kỹ rìa lợi và cổ răng. Súc miệng bằng nước lọc, có thể súc với nước chè (chè tươi, chè hạt, nước vối) trong vài phút vì chè có nhiều flo. Nên tập cho trẻ từ tuổi mẫu giáo thói quen chải răng bằng bàn chải nha khoa với kem có fluor. Đặc biệt, cần tránh ăn bánh kẹo giữa các bữa ăn hoặc ăn vào buổi tối. Nếu ăn nên súc miệng ngay. Dùng nước máy, muối ăn, sữa chứa flo, dùng kem đánh răng có flo giảm được 30% sâu răng.

Khi bị sâu răng cần điều trị sớm bằng khoan răng, trám răng. Nên đến thầy thuốc chuyên khoa răng để điều trị tận gốc bằng cách làm sạch mảng bám, phát hiện lỗ sâu và trám lại bằng thuốc chuyên khoa có thành phần phối hợp calci, phosphate và fluorin. Dùng thuốc trị sâu răng theo hướng dẫn của thầy thuốc. Các thuốc để chấm vào chỗ răng sâu thường là các dung dịch sát khuẩn. Kháng sinh hay dùng là rodogyl gồm hai chất phối hợp là spiramycin và metronidazol. Một số thuốc Đông y cũng có tác dụng tốt. Song cần chọn các thuốc có nguồn gốc rõ ràng và được bán trong các nhà thuốc theo quy định. Không dùng thuốc không rõ nguồn gốc của những người bán rong. Cần điều trị sớm, không đợi răng đau mới chữa.

Nguồn sức khỏe đời sống

Tìm hiểu về bệnh nha chu

Bệnh nướu răng, còn được gọi là bệnh nha chu, là một dạng nhiễm khuẩn nướu răng.

nha-chu

Các yếu tố như vệ sinh răng miệng kém, hút thuốc lá hoặc nhai thuốc lá và gia đình có tiền sử mắc bệnh có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Theo healthday.com, các chuyên gia thuộc Hiệp hội Nha khoa Mỹ cho biết các dấu hiệu cảnh báo tiềm năng của bệnh nha chu bao gồm: nướu răng dễ bị chảy máu, sưng, đỏ hoặc đau nhức; hơi thở thường xuyên hôi hoặc hôi miệng; răng lung lay; răng di chuyển và thưa ra; khi bạn cắn, có sự thay đổi trong cách sắp xếp các răng; vôi răng đóng ở cổ răng.

Theo TNO

Chẩn bệnh nhờ quan sát miệng

Lưỡi đóng bợn trắng hay nổi hạch, tất cả đều có liên quan đến những căn bệnh tiềm ẩn trong cơ thể chúng ta. Tốt hơn hết bạn nên học cách nhìn miệng đoán bệnh để kịp thời chữa trị.

1. Nướu (lợi) sưng và chảy máu

Thông thường triệu chứng này gắn liền với bệnh viêm lợi hoặc viêm vùng chân răng. Tuy nhiên theo tiến sĩ Susan Savage, chủ tịch Hiệp hôi nha khoa Hoa Kì thì việc nướu sưng đỏ và có hiện tượng chảy máu còn có thể là do các nguyên nhân khác. Phổ biến nhất là thiếu vitamin B và D, hoặc cũng có thể là dấu hiệu cho thấy đường huyết bất ổn, mất cân bằng hormone trong thai kỳ. Với phụ nữ mang thai, nó có thể là dấu hiệu nguy hiểm vì có liên quan tới việc sinh non.
rang-meing
2. Đốm trắng trong miệng, lưỡi

Các đốm trắng, đỏ trong miệng và lưỡi có thể là kết quả của việc ăn nhiều đồ nóng nhưng theo các bác sĩ chuyên khoa, chúng còn có thể là dấu hiệu của bệnh nhiễm trùng, là kết quả của thói quen uống rượu và hút thuốc lá. Ngoài ra, với những ai đã từng “yêu” bằng miệng thì nó còn có thể là dấu hiệu của nhiễm nấm.

3. Mòn men răng

Thường thì men răng sẽ bị xói mòn dần qua nhiều năm vì chúng ta chải răng và ăn uống mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu men răng bị mòn nhanh và nhiều thì người bệnh có thể mắc phải chứng ăn uống không kiểm soát, hoặc uống nhiều nước chanh, nước ngọt có gas và các đồ uống tăng lực khác.

4. Răng bị đẩy nghiêng

Thông thường răng bị nghiêng là do bạn nhổ mất một chiếc răng nào đó trong hàm. Răng khôn mọc cũng là nguyên nhân khiến các răng còn lại bị xô lệch. Ngoài ra, nếu bạn hay ăn thực phẩm cứng thì răng cũng dễ bị lệch. Tốt nhất, khi phát hiện răng bị xô nghiêng, hãy đến nha sĩ để kiểm tra nguyên nhân chính xác và điều trị sớm.

5. Răng ố vàng

Hầu hết những ai có màu răng trắng bị chuyển sang màu ngà đều do uống rượu, hút thuốc lá, uống nước ngọt có gas, trà và cà phê thường xuyên. Thói quen uống rượu và nước ngọt có gas thường là biểu hiện cho nhiều bệnh tật, tốt nhất chúng ta nên loại bỏ chúng hoặc hạn chế việc dùng rượu và nước ngọt. Ngoài ra, để trả lại hàm răng sáng bóng, bạn nên đến nha sĩ 6 tháng 1 lần để cạo vôi răng.

Theo afamily

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai

Dân gian thường nói “mỗi đứa con một cái răng” – ý nói khi mang thai, răng của người mẹ sẽ bị ảnh hưởng. Bài biết này nhằm tìm hiểu những bệnh răng miệng thông thường ở phụ nữ mang thai, nguyên nhân cũng như những phương pháp có thể sử dụng để phòng và điều trị.

Những bệnh lý răng miệng thường thấy

Bệnh sâu răng: trong những tháng đầu tiên khi mang thai, bệnh răng miệng ở sản phụ chưa tăng đáng kể, nguyên nhân thường thấy có thể là do phụ nữ có thai hay nôn và buồn nôn (nhất là từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 12 của thai kỳ và nhất là ở những phụ nữ mang thai lần đầu). Chính điều này làm thay đổi môi trường pH trong khoang miệng, làm xáo trộn khả năng tự bảo vệ khiến dễ phát sinh bệnh lý. Các thay đổi sinh lý khác bao gồm cả sự thay đổi chế độ ăn như thèm ăn một số loại thức ăn đặc biệt, và thường xuyên ăn bữa phụ giữa các bữa ăn chính, điều này ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng, dễ gây sâu răng. Các thức ăn, thức uống dễ gây sâu răng là đồ ngọt và các nước uống có ga chứa carbonate. Các thức ăn này có thể làm dịu cảm giác buồn nôn, tuy nhiên nguy cơ sâu răng rất cao.

benh-ly-rang-mieng-o-phu-nu-mang-thai

Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm

Trong nước bọt chứa những chất làm chắc men răng, ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh sâu răng. Trong thời gian mang bầu, lượng nước bọt tiết ra giảm và hậu quả là bị sâu răng. Thêm nữa, ở tháng thứ 5 – 6 (thai nhi ở 24 – 25 tuần tuổi) là thời điểm hệ xương đang hình thành mạnh mẽ. Lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ. Trong máu của người mẹ khi ấy không đủ canxi và cơ thể đòi hỏi phải cung ứng thêm lượng canxi. Các nhà khoa học tin rằng những phụ nữ bị bệnh sâu răng có nguy cơ đẻ non cao gấp 3 lần so với những bà mẹ mang thai có sức khỏe răng miệng tốt. Họ cũng thống kê được rằng, 25% số những phụ nữ bị bệnh sâu răng được điều tra đẻ non trước tuần thứ 35.

Mòn răng: bình thường răng được bảo vệ bởi lớp men răng. Khi mang thai, do chứng ói, ợ chua khá thường gặp, acid từ dạ dày tiếp xúc với men và ngà răng, xói mòn mặt trong các răng cửa và mặt nhai răng hàm. Quá trình mòn răng diễn ra chậm, làm thai phụ ít để ý tuy nhiên rất khó hồi phục, có nguy cơ cao phải nhổ răng. Trong trường hợp mòn đến lộ ngà, thai phụ sẽ cảm giác ê buốt, đặc biệt khi uống nước đá, hay tiếp xúc không khí. Tình trạng này điều trị phục hồi khá phức tạp.

Viêm nướu và nha chu: phụ nữ có thai thường bị viêm nướu, khu trú hoặc toàn thể. Bệnh thường bắt đầu từ tháng thứ hai và tăng dần trong thai kỳ đến tháng thứ 8. Nguyên do những thay đổi nội tiết và mao mạch, làm cho mảng bám vi khuẩn và bệnh nha chu dễ xuất hiện. Các nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng, sự tích lũy các loại hoóc-môn ở mô nướu ảnh hưởng đến hệ thống mạch máu ở nướu, hệ thống miễn dịch tại chỗ và phản ứng của nó với vi khuẩn trong mảng bám răng. Những thay đổi về miễn dịch trong suốt thai kỳ có liên quan đến sự giảm số lượng bạch cầu trung tính và hoạt động thực bào, giảm đáp ứng của lympho bào và làm giảm sinh kháng thể. Thai phụ có nguy cơ nhiễm trùng và có mối liên hệ giữa nhiễm trùng vùng miệng với nhiễm trùng toàn thân và ngược lại. Điều cần chú ý hơn cả, bệnh nha chu là một yếu tố có thể dẫn đến nguy cơ của đẻ non và trẻ sơ sinh nhẹ cân.

Những tình trạng khác:

– U nướu thai nghén: một khối tăng sinh mềm, màu hồng ở nướu. Khối u thường phát triển nhanh trong 3 tháng giữa và nhỏ lại, mất hẳn sau khi sinh.

– Răng lung lay do tình trạng viêm nướu và viêm nha chu, đồng thời có mất khoáng ở xương ổ. Răng sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.

Điều trị và phòng ngừa?

– Vệ sinh răng miệng đúng cách: mỗi ngày đánh răng ít nhất 2 lần, sau bữa ăn để giữ vệ sinh răng miệng. Thai phụ nên chọn bàn chải răng mềm vì nướu răng trong thời gian này dễ tổn thương hơn bình thường. Nếu ở giai đoạn ốm nghén, sau mỗi lần bị nôn cần súc miệng lại bằng nước sạch để giảm acid trong miệng. Nếu chải răng gây buồn nôn cho các bà mẹ mang thai, thì có thể đánh nhẹ nhàng sau đó xúc miệng lại bằng dung dịch vệ sinh.

Bệnh lý răng miệng ở phụ nữ mang thai: Chuyện nhỏ mà không nhỏ! 2

Ở tháng thứ 5 – 6, lượng canxi cần thiết để hình thành xương của trẻ được lấy từ cơ thể của mẹ

– Khám răng định kỳ: khi mang thai, thai phụ nên khám răng định kỳ để có thể phát hiện và điều trị kịp thời, tốt nhất mỗi 3 tháng. Nếu phát hiện có vôi răng, nha sĩ có thể lấy sạch vôi răng và mảng bám.

– Trám răng và nhổ răng: nếu chỉ trám răng mà không dùng đến thuốc tê thì không ảnh hưởng nhiều. Răng sâu trong thời kỳ này hoàn toàn có thể và nên được trám sớm để tránh tình trạng sâu răng lan đến tủy gây viêm tủy. Tuy nhiên can thiệp nên nhẹ nhàng, đặc biệt trong 3 tháng đầu thai kỳ vì sự hình thành nhau bám vào tử cung vẫn chưa hoàn toàn chắc. Khi thai được 5 tháng thì có thể can thiệp bình thường. Tuy nhiên, thường trong thời gian mang thai không nên nhổ răng vì có thể gây nhiễm trùng huyết ảnh hưởng đến thai nhi. Tuyệt đối hạn chế đến mức thấp nhất chụp X-quang cho thai phụ, đặc biệt trong 3 tháng đầu tiên hình thành cơ quan, bộ khung cho thai, vì có thể làm xáo trộn trong quá trình hình thành bào quan. Nếu phải dùng thuốc, không được tự ý dùng thuốc, phải theo chỉ định của thầy thuốc để đảm bảo thuốc tương đối an toàn cho thai.

Chế độ ăn uống: ăn thực phẩm giàu vitamin C, B12, canxi… và hạn chế ăn đồ ngọt, đồ có ga.

Thay lời kết

Các nhà khoa học khẳng định, những người mẹ có răng sâu sẽ sinh ra những đứa trẻ có hệ miễn dịch kém và bộ máy tiêu hóa làm việc không tốt, chưa kể còn xuất hiện một loạt các bệnh khác. Người mẹ bị sâu răng sẽ khiến trẻ cũng bị sâu răng và viêm vòm họng. Vì thế, đối với những phụ nữ mang bầu, điều quan trọng là phải thường xuyên đi khám răng miệng và có những biện pháp chữa trị kịp thời

BS. Dương Minh Hùng

Theo SKDS

 

Tìm hiểu về răng khôn mọc kẹt

Thuật ngữ  “mọc kẹt” có nghĩa là cái răng đó không có đủ chỗ để mọc lên bình thường hoặc hướng mọc của cái răng đó bị nghiêng làm cho nó không mọc lên được.

Răng khôn là răng mọc sau cùng trên cung hàm hay còn gọi là răng hàm lớn thứ ba, thường bắt đầu mọc từ tuổi 17 trở đi (nếu còn đủ chỗ sau răng số 7). Mỗi người có bốn răng khôn ở bốn góc hàm, tuy nhiên cũng có người không thấy răng khôn mọc ra vì vẫn còn nằm trong xương hàm. Trong bài viết này chỉ đề cập đến răng khôn hàm dưới vì răng khôn hàm dưới hay bị mọc kẹt.

rang-khon-cung-moc-ket

Phân loại răng khôn mọc kẹt

1. Loại thường gặp nhất là mọc kẹt về phía gần, tức là trục của răng nghiêng về phía trước (về phía răng số 7).

2. Mọc kẹt theo chiều thẳng đứng.

3. Mọc kẹt nghiêng về phía xa (phía sau).

4. Mọc kẹt nằm ngang.

5. Mọc kẹt trong niêm mạc miệng: răng bị lợi che phủ (lợi trùm).

6. Răng kẹt trong xương hàm: răng vẫn bị bọc kín bởi xương hàm và không mọc ra được.

Những lý do nào?

Lý do thông thường nhất là do không đủ chỗ ở sau răng số 7, vì răng số 7 thường mọc khoảng từ 12 – 13 tuổi, trước răng khôn ít nhất 5 năm, và vì sự không tương xứng giữa kích thước răng hàm và kích thước răng làm cho răng khôn là răng mọc sau cùng sẽ không có đủ chỗ.

Có giả thuyết cho rằng: thời đồ đá con người nhai thức ăn thô và cứng làm mòn răng không chỉ ở mặt nhai mà còn ở điểm tiếp xúc giữa các răng làm cho kích thước các răng nhỏ đi, do vậy khi răng khôn mọc lên thì vẫn đủ chỗ. Còn ngày nay, do chế độ ăn thức ăn mềm và nhiều dinh dưỡng nên răng ít hoạt động và mòn ít nên kích thước răng không bị nhỏ đi, cộng với việc xương hàm ít hoạt động nên xương hàm nhỏ đi, hai lý do này làm cho răng khôn ở người hiện đại khó mọc lên  bình thường. Con người thời tiền sử phải nhai thức ăn cứng và nhai nhiều nên răng có nguy cơ vỡ hoặc mất răng, mỗi khi có một răng mất đi thì răng phía sau sẽ di chuyển ra phía trước làm tăng kích thước khoảng trống cho răng khôn mọc lên. Con người thời hiện đại ít có nguy cơ vỡ răng hay mất răng vì ít khi nhai cứng và được các nha sĩ chăm sóc răng.

Các nguy cơ của răng khôn mọc kẹt

Dắt thức ăn và vi khuẩn ở vị trí răng khôn mọc lệch sẽ dẫn đến hôi miệng và dễ bị sâu răng khôn.

Răng khôn mọc kẹt có thể gây viêm nhiễm do thức ăn bị dắt không làm sạch được hoặc do sang chấn vào lợi. Viêm nhiễm làm bệnh nhân bị đau, lợi sưng đỏ mềm, chảy dịch, có thể chảy mủ, viêm nhiễm vùng răng khôn có thể gây sưng amidan, hạn chế há miệng, bệnh nhân khó nhai, nuốt, ảnh hưởng đến cuộc sống, làm giảm khả năng làm việc. Một số người có thể bị biến dạng mặt, viêm nhiễm có thể lan xuống cổ và trung thất (ngực).

Răng khôn mọc lệch về phía gần có thể làm sâu răng số 7 dẫn đến viêm tủy và vỡ răng số 7.

Tạo ra nang thân răng: nang có thể phát triển từ tổ chức phần mềm quanh răng khôn, làm tiêu hủy xương kế cận răng khôn, có thể ảnh hưởng đến răng bên cạnh.

Lý do và việc nhổ răng khôn

Chỉ những răng khôn kẹt nào có nguy cơ gây ra viêm nhiễm hay sâu răng số 7, hoặc có nang quanh thân răng mới cần phải nhổ bỏ, một số trường hợp có thể cắt lợi trùm nếu răng khôn mọc thẳng và có đủ chỗ ở góc hàm. Một số người sợ nhổ răng khôn và muốn dùng thuốc, tuy nhiên thuốc kháng sinh và giảm đau chỉ điều trị nhất thời, trong tương lai bệnh nhân sẽ bị đau lại.

Nhổ răng khôn: bệnh nhân cần được tiêm thuốc tê để mất cảm giác hoàn toàn ở quanh vùng răng khôn, một số trường hợp có thể  gây mê nếu răng khôn kẹt hoàn toàn trong xương hàm, bệnh nhân không được ăn trong vòng 6 giờ trước khi gây mê. Việc nhổ răng khôn kẹt bắt đầu với việc rạch và tạo vạt lợi để bộc lộ vùng phẫu thuật, răng khôn có thể được lấy ra nguyên vẹn hoặc cắt làm nhiều phần nếu kẹt vào răng số 7. Sau khi răng khôn được lấy ra, dìa xương ổ răng khôn cần được làm nhẵn, rửa sạch bằng nước muối, oxy già, betadin rồi khâu đóng vạt lợi, nếu là chỉ không tiêu thì sau 5 ngày bệnh nhân cần quay lại để cắt chỉ. Bệnh nhân cần được cắn gạc từ 15 – 20 phút.

Sau khi nhổ răng khôn: nếu bệnh nhân được chích thuốc tê thì có thể về ngay sau khi nhổ răng xong kèm theo một đơn thuốc gồm thuốc giảm đau, chống sưng nề, có thể thêm kháng sinh nếu bác sĩ lo ngại nhiễm trùng. Nếu bệnh nhân được gây mê thì phải chờ tỉnh táo hoàn toàn và phải có người đưa về cũng kèm theo đơn thuốc như trên.

Bệnh nhân không được súc miệng quá mạnh trong vòng 24 giờ vì có thể làm bong cục máu đông làm chảy máu, sau khi ăn chỉ cần đánh răng và súc nhẹ nhàng bằng nước muối nhạt, không nên dùng đồ ăn nóng và cay vì sẽ làm tăng phản xạ đau và dễ chảy máu, có thể ngậm nước đá để máu nhanh cầm. Bệnh nhân không được uống rượu và hút thuốc trong ngày đầu tiên vì sẽ làm chậm liền vết thương và dễ chảy máu.

Các khó chịu có thể xảy ra sau nhổ răng: bệnh nhân có thể mệt mỏi do thuốc tê hay thuốc mê, có thể rỉ máu trong vòng 12 giờ từ vết nhổ, là một lượng máu rất nhỏ nhưng có thể làm bệnh nhân lo lắng, có thể sưng nhẹ vùng góc hàm trong 4 ngày, có thể đau và cứng hàm trong vài ngày, những vấn đề này sẽ tự hết.

Biến chứng: một số ít trường hợp nhổ răng khôn có thể xảy ra biến chứng như là dị ứng thuốc tê, mê dẫn đến xỉu, ngất và cần được điều trị bằng thuốc chống sốc. Bệnh nhân có thể bị nhiễm trùng do giữ vệ sinh răng miệng không tốt hoặc do thủ thuật của bác sĩ không vô trùng, trường hợp này cần dùng kháng sinh. Bệnh nhân có thể bị tê bì nửa hàm dưới sau nhổ răng do tổn thương dây thần kinh răng dưới, để phòng tránh bác sĩ cần xem kỹ vị trí ống răng dưới trên phim X-quang để tránh làm tổn thương dây thần kinh. Bác sĩ không có kinh nghiệm có thể làm tổn thương răng số 7 bên cạnh.

ThS. LÊ LONG NGHĨA

Theo SKDS

Sâu răng ở trẻ nhỏ

Sâu răng sớm ở trẻ em rất phổ biến, chiếm tỷ lệ 30 – 50% ở các nước đang phát triển và đến 70% ở các nước phát triển. Trẻ bị sâu răng khi nhỏ tuổi được ghi nhận có nguy cơ sâu răng khi lớn lên, vì vậy phòng ngừa sâu răng sớm ở trẻ em giúp tránh được các vấn đề quan trọng về răng miệng sau này

sau_rang_o _tre_nho

Nguyên nhân :

Sau mỗi bữa ăn trẻ không đánh răng, để thức ăn bám vào răng, lên men thối rữa. Vi khuẩn xuất hiện gây viêm chân răng, chảy máu chân răng.

Trẻ em thường ăn nhiều chất ngọt như bánh kẹo, bú sữa vào các buổi tối trước khi đi ngủ hoặc bú đêm. Chất ngọt lên men ở răng gây bệnh vùng răng miệng, đặt biệt là sâu răng

Một số vùng dùng nguồn nước thiếu Fluor nên dễ bị sâu răng

Triệu chứng:

Bình thường men răng màu trắng, bọc lấy toàn bộ thân và chân răng. Khi sâu răng trên men răng bị một hay vài điểm đen. Lúc đầu những điểm đen này không đau. Về sau đau nhiều khi nhai, khi súc miệng bằng nước lã, nước nóng. Răng bị đau buốt, nhức lan lên trên hoặc xuống dưới khi cắn phải vật cứng.

Bệnh nhi đau buốt nơi răng sâu, có khi đau đến mức độ không chịu được, bỏ ăn , bỏ chơi

Các biến chứng :

Nếu không được điều trị, tình trạng sâu răng sẽ dẫn đến răng sâu bị hủy hoại toàn bộ và tổ thương đi vào tủy răng, dẫn đến viêm tủy răng và gây đau nhức. Viêm tủy răng có thể tiến triển đến hoại tử, vi khuẩn xâm lấn xương ổ răng và gây áp xe răng. Nhiễm trùng răng sữa có thể ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnh viễn.

Phòng tránh :

Thức ăn hàng ngày phải đầy đủ các dưỡng chất, nhất là các loại vitamin và canxi. Không cho trẻ ăn bánh kẹo, chất ngọt vào các buổi tối trước khi đi ngủ

Cho trẻ đáng răng sau khi thức dậy buổi sáng và tối trước khi đi ngủ bằng bàn chải và kem đánh răng giành riêng cho trẻ. Sau các bữa ăn cần chải nhẹ răng bằng nước muối, cách chải răng là đưa nhẹ bàn chải vòng tròn, tránh gây tổ thương men răng và cổ chân răng

Đa số trẻ em dưới 8 tuổi không chịu đánh răng đầy đủ, do vậy cha mẹ có trách nhiệm về việc vệ sinh răng miệng của trẻ em, làm thay đổi thói quen theo hướng tích cực

Cần theo dõi răng của trẻ trong thời kỳ mọc răng sữa và thời kỳ thay răng sữa, phát hiện răng mọc lệch, sâu men răng. Khi men răng có chấm đen, nên đưa trẻ đi khám răng ngay, không nên để khi nào đau mới đi khám răng

Giảm số lần ăn các chất có đường. Không nên cho trẻ dùng các thức uống ngọt hay dùng chất ngọt vào ban đêm, đối với trẻ có nguy cơ cao bị sâu răng cần tránh dùng các loại bánh snack giữa các bữa ăn

Đăng bởi: Lạc Thư
Theo benhviennhi.org.vn

Bệnh nha chu và sức khỏe

Sách Guiness toàn cầu năm 2001 đã ghi nhận bệnh nha chu là bệnh phổ biến nhất của loài người, là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người trưởng thành.
Bệnh nha chu bao gồm viêm lợi và viêm nha chu là bệnh đa nguyên nhân do các yếu tố vi khuẩn, di truyền, tiểu đường và thuốc lá, biến chứng của bệnh là phá hủy các cấu trúc nâng đỡ răng và xương ổ răng.

Từ đầu thế kỷ 21, Tổ chức Y tế Thế giới cũng như nhiều cơ quan có thẩm quyền về sức khỏe răng miệng quốc gia chính thức kêu gọi cảnh giác về ảnh hưởng của tình trạng viêm nhiễm mô nha chu đối với một số bệnh hệ thống như bệnh tim mạch và bệnh mạch máu não làm tăng nguy cơ đột quỵ; bệnh đường hô hấp như viêm phổi, hen suyễn, bệnh phổi nghẽn tắc mạn tính và nguy cơ sinh non, nhẹ cân ở phụ nữ có thai.

Bệnh nha chu không chỉ dừng lại ở những tổn thương trong miệng mà còn ảnh hưởng và gây nên một số bệnh toàn thân. Vi khuẩn, phản ứng viêm và phản ứng miễn dịch trong bệnh nha chu có thể trực tiếp hay gián tiếp gây nên các rối loạn lưu thông máu, hình thành mảng xơ vữa, gây phản ứng viêm khởi phát hoặc thứ phát…, làm nặng thêm các bệnh toàn thân, phổ biến là bệnh tim mạch, tiểu đường, hô hấp và biến chứng trong thai kỳ.

benh-nha-chu-va-suc-khoe

Bệnh tim mạch

Đối với bệnh tim mạch, bệnh nha chu tham gia vào quá trình hình thành mảng xơ vữa, tăng nguy cơ tạo huyết khối dẫn đến nhồi máu cơ tim và tai biến mạch não.

Bệnh đái tháo đường

Một trong những mối quan tâm hàng đầu về ảnh hưởng của bệnh nha chu là các biến chứng trong thai kỳ, đặc biệt là tình trạng sinh non và sinh trẻ nhẹ cân. Các vi khuẩn trong mô nha chu có thể gây tình trạng vãng khuẩn huyết gây giảm lưu lượng tuần hoàn rau- thai nhi gây nên tình trạng trẻ nhẹ cân và kích thích co cơ tử cung gây sinh non.
Giữa bệnh đái tháo đường và bệnh nha chu có mối tương tác hai chiều. Bệnh nha chu dễ xảy ra và nặng hơn ở người bị bệnh tiểu đường và ngược lại tình trạng đường huyết khó kiểm soát hơn khi có bệnh nha chu tiến triển. Kiểm soát tốt bệnh nha chu trên bệnh nhân đái tháo đường là một phương pháp hiệu quả làm giảm các nguy cơ tai biến của bệnh đái tháo đường. Tình trạng bệnh nha chu nặng trên bệnh nhân trẻ tuổi cũng có thể là một biểu hiện gợi ý đến bệnh đái tháo đường.

Bệnh hô hấp

Viêm nhiễm mô nha chu có liên quan đến bệnh hô hấp đặc biệt là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và viêm phổi, đặc biệt ở những bệnh nhân nằm viện lâu ngày, thở máy hoặc đặt nội khí quản do hít phải các vi khuẩn trong mô nha chu. Chế độ chăm sóc đặc biệt cho những bệnh nhân này được khuyến cáo bao gồm vệ sinh răng miệng nhằm hạn chế tối đa các biến chứng phổi do bệnh nha chu.

Các biến chứng trong thai kỳ

Một trong những mối quan tâm hàng đầu về ảnh hưởng của bệnh nha chu là các biến chứng trong thai kỳ, đặc biệt là tình trạng sinh non và sinh trẻ nhẹ cân. Các vi khuẩn trong mô nha chu có thể gây tình trạng vãng khuẩn huyết gây giảm lưu lượng tuần hoàn rau- thai nhi gây nên tình trạng trẻ nhẹ cân và kích thích co cơ tử cung gây sinh non. Do đó, chăm sóc răng miệng cho phụ nữ có thai là một trong những điều cần biết cho phụ nữ để sinh được những đứa con khỏe mạnh.

Những đối tượng có vấn đề răng miệng và bệnh toàn thân mạn tính chiếm một tỉ lệ rất đáng kể trong dân số. Để chăm sóc sức khỏe toàn diện cho những đối tượng này, cần nâng cao ý thức và hiểu biết về mối liên quan giữa bệnh răng miệng và bệnh toàn thân trong ngành Răng Hàm Mặt và ngành y, thực hiện những quy trình khám và điều trị toàn diện hơn và quan trọng nhất là phổ biến kiến thức đến công chúng để tự chăm sóc tốt sức khỏe răng miệng, đồng thời phòng ngừa và kiểm soát bệnh toàn thân hiệu quả hơn.

BS.Lê Hồng Vân

Theo TTVN

Các bệnh thường gặp của tủy răng

Tủy răng là mô liên kết có mạch máu, bạch mạch và thần kinh, nằm trong khoang tủy, giới hạn xung quanh bởi mô ngà cứng bao gồm hai phần: tủy buồng và hệ thống ống tủy. Tủy răng đảm nhiệm chức năng dẫn truyền thần kinh và nuôi dưỡng răng.

Bệnh lý tủy chủ yếu là bệnh viêm các thành phần mô học tủy răng, thường tiến triển một chiều gây nên các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau tùy giai đoạn tiến triển của bệnh.

Các bệnh của tủy răng

Hiện nay bệnh lý tủy răng là một bệnh hay gặp và khá phổ biến. Vì vậy điều trị tủy là công việc hằng ngày của bác sỹ răng hàm mặt chuyên sâu. Hiểu rõ về bệnh lý tủy răng sẽ giúp cho nha sỹ thực hành điều trị  cũng như phòng ngừa những nguy cơ gây ra cho tủy răng trong quá trình thực hành nội nha. Diễn biến bệnh lý tủy qua 3 giai đoạn sau: viêm tủy có hồi phục; viêm tủy không hồi phục và hoại tử tủy.

cac-benh-ly-hay-gap-o-tuy-rang

Viêm tủy có hồi phục

Là tình trạng viêm nhẹ của mô tủy có khả năng hồi phục về trạng thái bình thường nếu các yếu tố bệnh nguyên được loại bỏ. Viêm tủy có hồi phục có thể không biểu hiện triệu chứng.

Nếu có thì thường là triệu chứng đặc thù như nhạy cảm với các kích thích nóng, lạnh hoặc không khí. Các kích thích này thường gây cảm giác ê buốt thoáng qua,thường chỉ kéo dài vài giây hoặc vài chục giây sau khi loại bỏ kích thích.

Thực tế lâm sàng giai đoạn viêm tủy có hồi phục rất ít gặp do bệnh nhân khi đến khám thường bệnh đã tiến triển nặng hơn.

Viêm tủy không hồi phục

Có thể là viêm tủy đau hoặc không đau, với viêm tủy không hồi phục thể đau. Cơn đau tủy điển hình: là cơn đau tự nhiên, thường đau lan tỏa lên nửa đầu nửa mặt cùng bên, bệnh nhân thường chỉ khu trú được vùng đau chứ không xác định được chính xác răng đau. Các cơn đau có thể kéo dài hàng giờ hoặc ngắn trong vài phút và nặng lên khi có các kích thích như: nóng, lạnh hoặc thay đổi tư thế.

Ổ viêm tủy không hồi phục thể không đau, trên lâm sàng có thể thấy lỗ sâu hở tủy hay một khối màu đỏ sẫm, lốm đốm vàng nhô ra khỏi buồng tủy. Bệnh nhân thường không có cảm giác đau.

Hoại tử tủy

Bệnh nhân không có triệu chứng đau, đau chỉ xuất hiện khi có viêm lan rộng tới chân răng. Trên lâm sàng thấy có tổn thương tổ chức cứng, có thể có tiền sử đau buốt.

Biến chứng của viêm tủy

Bệnh lý tủy với khởi phát là viêm tủy có hồi phục nếu không được điều trị kịp thời sẽ gây ra viêm tủy cấp, sau đó tủy sẽ bị hoại tử dần đưa đến viêm tủy mãn rồi đến tủy chết, thối. Những chất hoại tử của tủy có thể thoát qua lỗ chóp chân răng gây nên những bệnh lý vùng quanh chóp, viêm tổ chức liên kết, viêm xương hàm…, hoặc tụ lại ở chân răng tạo nên u hạt, nang chân răng…Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến mất răng.  Ngoài ra, vi khuẩn có thể gây những biến chứng ở xa như viêm xoang hàm, viêm nội tâm mạc (Osler)…

cac-benh-ly-hay-gap-o-tuy-rang-1

Các phương pháp điều trị tủy với kĩ thuật hiện đại

Điều trị bảo tồn răng luôn luôn là một thách thức lớn , không chỉ với bác sỹ răng hàm mặt nói chung mà còn với các bác sỹ chuyên sâu về nội nha. Công việc đòi hỏi người bác sỹ điều trị ngoài chuyên môn sâu cần có những trang thiết bị tiên tiến hiện đại.

Trong suốt quá trình phát triển, những quan điểm về điều trị tủy răng đã có nhiều thay đổi. Công việc điều trị tủy được thực hiện tuần tự từ lấy sạch mô tủy bệnh lý, tạo hình hệ thống ống tủy, làm sạch và dùng vật liệu trơ về mặt sinh học để hàn kín hệ thống ống tủy theo không gian ba chiều. Theo quan điểm hiện đại, giai đoạn tạo hình là vô vùng quan trọng. Kết quả điều trị tủy thành công hay thất bại phụ thuộc vào việc đã loại bỏ được hết vi khuẩn hay chưa.

Hiện nay, Khoa Chữa răng và Nội nha thuộc bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Hà Nội đang áp dụng những thiết bị hiện đại nhất, đạt tiêu chuẩn quốc tế.  Quá trình tạo hình có sử dụng hệ thống file máy và file tay Protaper giúp rút ngắn thời gian làm việc đồng thời tạo độ thuôn lớn tăng hiệu quả làm sạch loại bỏ vi khuẩn. Tỷ lệ thành công sau điều trị rất cao.

Hệ thống file Protaper máy, Pathfile

Trong quá trình sửa soạn, các ống tủy được bơm rửa và làm sạch bởi dung dịch Natri hypochloride 2,5%, Glyde… Giữa các lần hẹn, bệnh nhân được đặt thuốc Canxy hydroxide trong ống tủy nhằm diệt sạch mọi vi khuẩn gây bệnh.

Đồng thời trong giai đoạn sửa soạn hệ thống ống tủy, các bác sỹ sử dụng máy định vị chóp Propex II để xác định một cách chính xác chiều dài ống tủy. Việc sửa soạn theo đúng chiều dài giúp loại trừ khả năng đẩy vi khuẩn xuống sâu hơn, từ đó tăng khả năng thành công của điều trị.

Máy đo chiều dài ống tủy

Trong quá trình điều trị, hệ thống đầu siêu âm nội nha giúp xác định chính xác ống tủy đồng thời  làm sạch tới tận cùng các ống tủy bên, ống tủy phụ, giúp loại trừ phần lớn lượng vi khuẩn.

Hệ thống siêu âm nội nha

Kết thúc quá trình, ống tủy được hàn kín khít theo cả 3 chiều trong không gian bằng nhiều phương pháp hiện đại chuẩn quốc tế như lèn ngang, lèn dọc sử dụng hệ thống Thermafil, Obtura….

Hệ thống Thermafil, Obtura
Cần lưu ý rằng  nếu không áp dụng đúng quy trình kĩ thuật đã nêu thì hậu quả tất yếu sẽ dẫn đến thất bại. Khi đó việc điều trị tủy lại là vô cùng khó khăn, tỉ lệ thành công không cao và thậm chí có thể phải nhổ bỏ răng.

TS. Phạm Thị Thu Hiền

Theo SKDS