Tag Archives: bệnh phụ khoa

Bệnh rận mu cần phải điều trị kịp thời

Khi vào cơ thể người, rận mu sẽ sinh sống chủ yếu nhờ vào việc hút máu người. Rận mu ngoài cư trú và sinh sản (đẻ trứng) ở lông vùng sinh dục, chúng có thể trú ở cả ở lông mi, lông mày hoặc có thể thấy ở cả tóc.

Những con rận cái sẽ liên lục sinh nở ở vùng trú ngụ trên cơ thể của “khổ chủ”. Thông thường, mỗi con rận cái đẻ khoảng 26 trứng trong khoảng 3 – 4 tuần. Sau khoảng 8 ngày, các trứng này sẽ nở thành rận con. Vì vậy, nếu không điều trị kịp thời thì sau một thời gian, cơ thể bạn có thể sẽ trở thành “ổ rận”.

Khi rận mu thường xuyên sinh sôi nảy nở như vậy thì đến lúc, nó sẽ không chỉ ở lông mu mà còn tràn xâm lấn tới nhiều nơi khác nhau trên cơ thể. Khi đó, nơi đâu tri cơ thể bạn cũng đều lít nhít những rận và rận. Và như vậy, việc điều trị sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức.

benh-ran-mu-can-phai-dieu-tri-kip-thoi

Để hạn chế khả năng này, người bệnh nên sớm phát hiện ra bệnh, đi khám và điều trị kịp thời, không để cho rận mu có điều kiện phát triển, sinh nở.

Đặc điểm phát hiện rận mu là nơi chúng hút máu thường xuất hiện nốt mẩn đỏ, chấm đỏ và gây ngứa rất khó chịu. Cũng có trường hợp xuất hiện thấy các nốt đỏ, mẩn đỏ nhưng không ngứa. Ngoài ra, có thể thấy hạch vùng bẹn sưng, đau.

Để điều tri triệt để rận, cần phải tiến hành khám kĩ những vùng có lông tóc khác trên cơ thể bệnh nhân và khám, điều trị cho những người có tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân. Hơn nữa, người bệnh còn cần thay nệm giường, quần áo, khăn… Nếu muốn dùng lại phải bỏ chúng trong túi nhựa kín, không có không khí, trong vòng 15 ngày trước khi đem giặt, nhằm diệt rận và trứng còn vướng trên nệm hay áo quần. Khi điều trị rận mu, người bệnh cần kiên trì điều trị theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.

Phụ nữ mãn kinh có tư duy và phản ứng chậm hơn

Một nghiên cứu của Bệnh viện La Colombiere, ở Montpellier, Pháp cho thấy phụ nữ bị mãn kinh trước tuổi 40 có nguy cơ lớn hơn bị các rối loạn về trí nhớ và thời gian phản ứng kém.

Mãn kinh sớm liên quan tới trí nhớ và thời gian phối hợp tay mắt (HRT) kém và các chuyên gia cảnh báo rằng điều trị HRT không làm giảm hoàn toàn những vấn đề này.

Tuổi mãn kinh trung bình là 50 tuổi ở các nước phương tây và nghiên cứu này so sánh kết quả của những phụ nữ bị mãn kinh sớm với những người mãn kinh muộn hơn.

phu-nu-man-kinh-co-tu-duy-va-phan-ung-cham-hon

Phụ nữ bị mãn kinh trước tuổi 40 có nguy cơ lớn hơn bị các rối loạn về trí nhớ và thời gian phản ứng kém. Ảnh minh họa

Gần 5.000 phụ nữ đã được thực hiện các xét nghiệm khi họ bắt đầu tham gia vào nghiên cứu và sau đó 2, 4 và 6 năm.
Kết quả cho thấy những người bị mãn kinh sớm có khả năng cao hơn 40% bị điểm kém hơn trong các bài kiểm tra về khả năng nói lưu loát và trí nhớ thị giác so với những người mãn kinh sau tuổi 50.

Họ cũng có khả năng cao hơn bị giảm thời gian phản ứng và khả năng tư duy tổng thể sau 7 năm.

Những phát hiện này được công bố trên tờ BJOG: An International Journal of Obstetrics and Gynaecology.

Các bài kiểm tra bao gồm nhận biết một bức vẽ họ đã nhìn thấy trước đó, số từ họ có thể nghĩ ra về một thể loại nào đó như màu sắc, con vật trong vòng 30 giây, tiếp theo là bài tập đánh số và kiểm tra nhỏ về trạng thái tinh thần bao gồm khả năng tư duy tổng thể.

Các nhà nghiên cứu cho biết kết quả trên có nghĩa là phẫu thuật cắt bỏ buồng trứng ở phụ nữ dưới 40 tuổi, vốn có thể gây mãn kinh, nên được cân nhắc về ảnh hưởng lên tư duy và trí nhớ.

Họ thấy rằng điều trị bằng liệu pháp thay thế hormone ở thời kỳ mãn kinh không có tác dụng chống lại những thay đổi trong tư duy và trí nhớ.

Một số bằng chứng cho thấy HRT có thể có lợi cho trí nhớ hình ảnh nhưng nó có thể gia tăng nguy cơ nói kém.

Pierre Martin Hirsch, Phó tổng biên tập của BJOG, cho biết: “Với dân số đang già đi, điều quan trọng là phải có một sự hiểu biết tốt hơn về những tác động lâu dài của mãn kinh sớm lên chức năng nhận thức sau này và lợi ích từ việc sử dụng phương pháp điều trị hormone mãn kinh”.

Vì vậy, điều quan trọng là chị em cần chăm sóc sức khỏe của mình thật tốt, đề phòng nguy cơ mãn kinh sớm.

Nguồn afamily

Bệnh nấm Candida sinh dục

Dấu hiệu nhận biết
Nhiễm nấm sinh dục thường gặp nhất là nấm âm đạo. Bình thường, nấm Candida ký sinh trên cơ thể người và không có biểu hiện gì. Khi môi trường pH âm đạo thay đổi tạo điều kiện cho nấm phát triển, gây ra những biểu hiện bệnh.

Bệnh nấm Candida có thể lây truyền theo nhiều đường khác nhau như quan hệ tình dục không an toàn với người mang bệnh qua âm đạo, hậu môn hay miệng. Bệnh có thể lây lan qua các công cụ dùng chung như khăn, quần lót, công cụ trợ dâm (sextoy) với người mang bệnh. Khi mắc bệnh, người phụ nữ thường có hai triệu chứng nổi bật là rất ngứa và ra khí hư. Các biểu hiện khác là đau, cảm giác bỏng rát trong âm đạo, âm hộ, đi tiểu khó và đau khi giao hợp. Trường hợp nặng có thể gây đỏ, phù nề âm hộ và môi nhỏ, môi lớn, đôi khi lan ra cả đùi, bẹn. Bệnh thường nặng lên trước kỳ kinh nguyệt.

benh-nam-candida-sinh-duc

Đàn ông khi quan hệ tình dục với phụ nữ bị bệnh cũng có thể bị viêm quy đầu với biểu hiện đỏ, ngứa, cảm giác bỏng, rát và có chất nhày trắng. Bệnh thường xảy ra vài phút hoặc vài giờ sau khi giao hợp và thường khỏi sau khi rửa sạch.

Thuốc điều trị và dự phòng
Khi nghi ngờ bị nhiễm bệnh, bạn hãy đến các trung tâm y tế xét nghiệm để bác sĩ chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị hợp lý nhất. Hiện nay, thường sử dụng thuốc bôi tại chỗ và thuốc uống toàn thân kết hợp nâng cao sức đề kháng của cơ thể, đồng thời vệ sinh cá nhân đúng cách.

Thông thường, khi xác định bệnh nhân bị nhiễm Candida âm đạo, bệnh nhân sẽ được chỉ định sử dụng thuốc fluconazole uống kết hợp với thuốc đặt âm đạo như miconazole.
Đặt thuốc trước khi đi ngủ.

Đối với nam, thường không cần điều trị vì bệnh có thể tự khỏi, tuy nhiên, nếu bị viêm quy đầu thì có thể bôi các kem chống nấm như ketoconazole, clotrimazole. Đối với những trường hợp hay tái phát, cần dùng thuốc dự phòng từng đợt để phòng sự nhiễm bệnh những đợt tiếp theo.

Các thuốc chống nấm sử dụng toàn thân và tại chỗ hiện nay chủ yếu là nhóm nystatin, ketoconazole, fluconazole hay itraconazol. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuốc này, đặc biệt ở các trường hợp tái diễn, dùng thuốc nhiều lần, cần chú ý theo dõi các tác dụng không mong muốn của thuốc như: buồn nôn, nôn, táo bón, đầy hơi, tiêu chảy, chảy máu tiêu hóa; thiểu năng tuyến thượng thận, gây chứng vú to ở nam giới và giảm tình dục; có thể gặp nhức đầu, chóng mặt, kích động hoặc ngủ gà, viêm da, phát ban, mày đay, tăng enzym gan.

Ketoconazol ức chế enzym gan, làm tăng nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống đông máu, thuốc chống ung thư, kháng histamin H1 thế hệ 2, thuốc an thần và corticoid. Các thuốc kháng acid, kháng histamin H2 và isoniazid làm giảm hiệu quả trị nấm của ketoconazol.

Intraconazol làm giảm nồng độ trong huyết tương của rifampicin, phenytoin, carbamazepin. Tăng nồng độ trong huyết tương của digoxin, cyclosporin các kháng histamin như terfenadin, astemizol (gây độc với tim, xoắn đỉnh) và ảnh hưởng tới chuyển hóa của các thuốc chống tiểu đường.

Để dự phòng, chị em cần lưu ý: không nên mặc đồ lót quá chật, nên dùng loại vải bông; không nên mặc quần tây, quần jean quá chật; Không nên tự tiện sử dụng xà bông, nước hoa, chất khử mùi mà nên tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng các loại này.

Đối với trường hợp bệnh tái phát nhiều lần, cần kiểm tra lại vì rất có thể do bị bệnh đái tháo đường hoặc dùng kháng sinh kéo dài, thuốc tránh thai có estrogen hoặc quan hệ tình dục khi bệnh chưa dứt hẳn… Đây là các nguyên nhân gây suy giảm sức đề kháng, tạo thuận lợi cho nấm phát triển, cần tìm nguyên nhân để điều trị.

Nguồn sức khỏe đời sống

Chữa bệnh sa dạ con

Sa dạ con là tình trạng tử cung sa thấp hơn vị trí bình thường và đây là bệnh lý khá phổ biến ở những phụ nữ sau khi sinh (trên thế giới có đến 15% phụ nữ cao tuổi mắc bệnh). Nguyên nhân thường do sinh đẻ nhiều lần, lao lực quá độ hoặc đại tiện táo bón, phải rặn nhiều làm cho hai mạch xung nhâm hư tổn bất cố hoặc khí hư hạ hãm không làm chủ được cơ nhục gây ra, khi bị nhiễm khuẩn thì kèm thêm thấp nhiệt. Sau đây là một số bài thuốc theo từng thể bệnh.

chua-benh-sa-da-con

Thể khí hư: Thường xảy ra với những phụ nữ gầy yếu, sinh đẻ nhiều lần, khi đẻ rặn quá sức hoặc sau khi đẻ lao động nặng, táo bón. Người bệnh có cảm giác tức vùng bụng dưới, cửa mình, đi tiểu nhiều, nước tiểu trắng, ra nhiều khí hư trắng loãng, người mệt mỏi, đoản hơi, nếu làm việc nặng dạ con càng sa nhiều hơn, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng. Phương pháp chữa là bổ khí, thăng đề (làm dạ con co lên). Dùng bài: bạch đồng nữ 30g, củ dứa dại 12g, lá bạc sau 20g, lá vông 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, uống nóng sau khi ăn khoảng 2 giờ. Uống liên tục đến khi dạ con co lên.

Thể thận hư: Thường gặp ở người có tuổi, do thận khí kém lại mắc bệnh mạn tính như ho, táo bón, làm việc trong tư thế đứng nhiều. Người bệnh mệt mỏi, đau lưng mỏi gối, váng đầu ù tai, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trong, đại tiện bí, ra nhiều khí hư, chất lưỡi nhợt. Phương pháp chữa là bổ thận, bổ máu, nhuận tràng. Dùng bài: bạch đồng nữ 20g, mai mực 16g, đỗ đen 30g, vừng đen 15g. Tất cả các vị đều sao vàng. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, sau khi ăn khoảng 2 giờ, uống nóng.

Thể thấp nhiệt: Dạ con sa ra ngoài và bị nhiễm khuẩn sưng tấy. Người bệnh đau nhức cửa mình, bụng dưới, có thể sốt, cổ tử cung bị loét, chảy nước vàng, khí hư ra nhiều, nước tiểu vàng, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Phương pháp chữa là thanh nhiệt trừ thấp, tiêu viêm, co dạ con. Dùng bài: củ dứa dại 16g, vỏ cây gạo 16g, bồ công anh 16g, củ gai 12g, bông mã đề 10g, sài đất 12g, bạch đồng nữ 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, sau khi ăn 2 giờ, uống nóng.

Kết hợp bài thuốc ngâm rửa âm hộ, dùng cho cả 3 thể, gồm: bồ công anh 20g, lá bạc sau 20g, phèn chua 10g, muối ăn 10g. Cho thuốc vào nồi, đổ 1,5 lít nước đun sôi, ngâm rửa khi nước còn ấm, ngày 1 – 2 lần.

Lương y Đình Thuấn
Nguồn sức khỏe đời sống

Bệnh phụ khoa có thể phòng được

Phụ nữ hầu như đều mắc bệnh về phụ khoa, chỉ có điều người nhiều người ít, có người tự khỏi, có người phải nhờ sự can thiệp của bác sĩ. Có nhiều chị em ngại không đi khám, để lâu ngày dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như tái viêm nhiễm nhiều lần, thậm chí vô sinh. Vì thế, ngoài việc giữ gìn sức khỏe và chú ý tới sự thay đổi của vùng kín thì rất cần có những biện pháp phòng ngừa bệnh sau đây: Trước tiên, chị em phải khám phụ khoa định kỳ tại cơ sở uy tín. Cần xét nghiệm tế bào cổ tử cung để sớm phát hiện nguy cơ ung thư cổ tử cung. Những người đã quan hệ tình dục thì phải thực hiện hành vi tình dục an toàn, lành mạnh tức là sinh hoạt tình dục chung thủy, một vợ một chồng, dùng các biện pháp tránh thai an toàn để tránh mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

benh-phu-khoa-co-the-phong-duoc

Một lối sống lành mạnh, khoa học với chế độ dinh dưỡng hợp lý cũng hạn chế mắc bệnh phụ khoa: không nên thức khuya vì không những ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh như cảm thấy mệt mỏi, sa sút tinh thần, đầu óc căng thẳng, trí nhớ kém, khó tập trung tư tưởng, phản ứng chậm, hay quên, chóng mặt, nhức đầu… mà còn có thể gây rối loạn nội tiết tố, khiến bạn có nguy cơ mắc các bệnh phụ khoa. Phụ nữ không nên ăn uống vô độ để thừa hay thiếu cân. Khi bị rối loạn kinh nguyệt cần được chữa trị vì điều này làm ảnh hưởng đến sự cân bằng và điều tiết hormon, từ đó dễ dẫn đến các bệnh phụ khoa khác. Thể dục tác động đến hệ thần kinh trung ương, các động tác thể dục tác động lên cơ thể, tạo ra những phản xạ có điều kiện, làm thay đổi những hiện tượng sinh lý bất thường và bệnh lý trong sản phụ khoa. Các động tác thể dục nên được kết hợp với thở sâu để tăng cường hoạt động tuần hoàn ở vùng khung chậu.

Ngoài ra, nên tập những động tác cơ bản về hông và mông, nhất là những bài tập thể dục nhịp điệu, nếu có điều kiện bạn nên tập yoga, thiền để giảm đau vùng xương chậu và tăng cường sức khỏe của cơ quan sinh sản. Một trong những biện pháp phòng ngừa bệnh phụ khoa tốt nhất là chăm sóc vùng kín hằng ngày với chế độ đặc biệt, nhất là trong những ngày “đèn đỏ”, ngày rụng trứng. Tuy nhiên không nên lạm dụng việc sử dụng các dung dịch vệ sinh, không nên thụt rửa sâu trong âm đạo. Môi trường âm đạo có cả vi khuẩn tốt lẫn vi khuẩn xấu, nếu lạm dụng dung dịch hoặc xà phòng này có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt, tạo điều kiện cho vi khuẩn xấu gia tăng và gây bệnh phụ khoa. Bên cạnh đó, bạn nên chọn những đồ lót thoáng, rộng, thấm mồ hôi.

Nguồn sức khỏe đời sống

Hội chứng buồng trứng đa nang

Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là một trong những triệu chứng rối loạn nội tiết phổ biến nhất ở phụ nữ. Dưới đây là 8 điều bạn có thể bạn chưa biết về PCOS.

1. Kiểm tra 1 lần có thể chưa kết luận được

Nhiều phụ nữ biết rằng PCOS có thể khó chẩn đoán, chính vì vậy, để có kết luận chính xác về bệnh, bạn cần đi kiểm tra liên tục nhiều lần. Nếu bạn đã nghi ngờ mình bị PCOS và chưa được chẩn đoán chính thức, hãy đi khám thêm những lần sau đó để được kiểm tra chính xác nhất.

hoi-chung-buong-trung-da-nang

2. PCOS gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe

Ngoài những ảnh hưởng rõ rệt như kinh nguyệt không đều, mụn trứng cá xuất hiện, rậm lông… PCOS còn có thể thúc đẩy tăng cân, hoặc khiến bạn khó giảm cân (những phụ nữ dáng mảnh mai cũng có thể bị PCOS). Bệnh nhân bị PCOS cũng có thể gặp vấn đề về kháng insulin, từ đó dẫn đến bệnh tiểu đường. Và như nhiều chị em đã biết, những triệu chứng này có thể dẫn đến khả năng khó thụ thai thành công.

3. Có thể phòng ngừa PCOS nhờ thuốc

Liệu pháp hormone ở dạng uống thuốc tránh thai thường được sử dụng với thành công lớn trong việc quản lý các triệu chứng của PCOS .

“Thuốc ngừa thai thực sự có thể làm trầm trọng thêm tình trạng kháng insulin và tăng triglycerides” theo ý kiến của Angela Grassi tại Trung tâm Dinh dưỡng PCOS ở Pennsylvania (Mỹ).

hoi-chung-buong-trung-da-nang1

4. PCOS có thể được gây ra bởi các tuyến thượng thận

Một nghiên cứu mới của Viện Y tế Quốc gia Mỹ đang điều tra về ảnh hưởng của tuyến thượng thận trong rối loạn hormone. Ở một số phụ nữ bị PCOS, mức độ androgen cao có liên quan đến rối loạn tuyến thượng thận.

5. Mắc PCOS vẫn có thể có thai

Nhiều phụ nữ bị PCOS nghĩ rằng họ không thể thụ thai nhưng điều này không đúng sự thật. Trong thực tế, nhiều nghiên cứu về vấn đề vô sinh và PCOS cho thấy bệnh nhân PCOS vẫn có thể có thai được (theo cách tự nhiên hoặc thụ tinh). Vì vậy, bạn cần nhớ rằng, kết luận u nang buồng trứng không có nghĩa là bạn không thể thụ thai.

6. Giảm cân có thể giúp tăng hiệu quả thụ thai ở bệnh nhân PCOS

Nếu không thể phẫu thuật giảm béo, bạn có thể áp dụng các biện pháp giảm cân để tăng khả năng sinh sản cho mình. Cho dù không bị PCOS, việc giảm cân đã quan trọng, với những bệnh nhân PCOS, giảm cân càng quan trọng hơn vì nó sẽ giảm triệu chứng rối loạn nội tiết, tăng kết quả điều trị PCOS và khả năng thụ thai.

Tiến sĩ Serena H. Chen, Giám đốc nội tiết sinh sản và vô sinh tại Trung tâm y tế St Barnabas cho biết “Giảm cân hoặc duy trì một trọng lượng bình thường khỏe mạnh sẽ làm giảm nguy cơ ung thư và làm cho bệnh nhân PCOS phản ứng nhanh hơn đtrongđiều trị. Đối với những người đang cố gắng thụ thai, nó sẽ cải thiện phản ứng với thuốc khả năng sinh sản và không chỉ cải thiện tỉ lệ mang thai mà còn giảm tỉ lệ sẩy thai”.

7. Bệnh nhân PCOS có thể bị ngưng thở khi ngủ

“Phần lớn các người bị PCOS có chẩn đoán tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ. Ngay cả khi không bị ngưng thở khi ngủ, nhiều người vẫn có vấn đề về hơi thở vào ban đêm”, Tiến sĩ Steven Y. Park cho biết.

Để giảm nguy cơ ngưng thở khi ngủ, bệnh nhân PCOS càng nên giảm cân để đạt trọng lượng khỏe mạnh.

8. Một chế độ ăn uống khỏe mạnh là bắt buộc với bệnh nhân PCOS

Một chế độ ăn uống lành mạnh không chỉ hữu ích để giúp bạn duy trì một trọng lượng khỏe mạnh mà nó đặc biệt quan trọng với bệnh nhân PCOS vì nó giúp điều chỉnh nồng độ insulin của bạn.

Thậm chí tệ hơn , các mô mỡ cũng làm trung gian gây viêm (trong đó tăng nguy cơ bệnh tim và các vấn đề huyết áp) và các chất chuyển hóa estrogen, từ đó làm cho bệnh trầm trọng hơn.

Theo sức khỏe

Tăng cường sàng lọc ung thư cổ tử cung

Tần suất mắc ung thư cổ tử cung có xu hướng gia tăng tại Việt Nam. Nếu không có biện pháp can thiệp sàng lọc, dự phòng và điều trị thì trong khoảng 10 năm nữa, tỷ lệ mắc mới và tử vong do bệnh này sẽ tăng thêm khoảng 25%. Thông tin trên được đưa ra tại Hội thảo sàng lọc ung thư cổ tử cung vừa qua tại Hà Nội.

Mặc dù là bệnh có thể dự phòng và phát hiện sớm, nhưng hiện tại ung thư cổ tử cung vẫn là một trong những bệnh ung thư thường gặp nhất và gây tử vong cao thứ hai cho phụ nữ Việt Nam do phát hiện và chẩn đoán muộn.

tang-cuong-sang-loc-ung-thu-co-tu-cung

Tư vấn cho bạn trẻ cách phòng ngừa ung thư cổ tử cung. Ảnh: TL

Nguyên nhân gia tăng bệnh ung thư cổ tử cung tại Việt Nam, theo các chuyên gia y tế là do phụ nữ chưa được sàng lọc định kỳ có hệ thống để phát hiện sớm ung thư qua các xét nghiệm thích hợp. Có nhiều trường hợp khi phát hiện tổn thương tiền ung thư cũng chưa được điều trị kịp thời và hiệu quả. Chính vì vậy, mục đích của hội thảo về các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung là thảo luận, trao đổi và đưa ra các giải pháp tăng cường sàng lọc, phát hiện và điều trị sớm căn bệnh này.

Để đáp ứng nhu cầu kiến thức và kỹ năng đối với các cán bộ y tế trong việc cung cấp dịch vụ sàng lọc, dự phòng và điều trị ung thư cổ tử cung tại các tuyến y tế cơ sở, ngày 16/5/2011 Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 1476/QDD-BYT về việc phê duyệt tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn sàng lọc, điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung” được áp dụng trong tất cả các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân có cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Dự án Hỗ trợ kỹ thuật tăng cường hệ thống y tế tuyến tỉnh là dự án hợp tác song phương giữa Bộ Y tế và Chính phủ Đức thông qua tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) cũng bắt đầu được thực hiện từ tháng 3/2009 với mục tiêu cải thiện sức khỏe người dân thông qua việc tăng cường các dịch vụ y tế có chất lượng và phù hợp cho người nghèo tại các tỉnh Yên Bái, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Phú Yên. Từ năm 2013 – 2015, dự án hướng tới tăng cường năng lực cho các Sở Y tế và các đơn vị y tế trong việc quản lý y tế, cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng dựa trên nhu cầu, tập trung vào sàng lọc, dự phòng và điều trị tổn thương tiền ung thư để dự phòng thứ cấp ung thư cổ tử cung cho phụ nữ ở các khu vực chịu tác động của đói nghèo.

Theo sức khỏe đời sống

Khám phụ khoa định kỳ để phát hiện sớm bệnh huyết trắng

Huyết trắng (khí hư) giữ vai trò hết sức quan trọng trong đời sống sinh lý, thể hiện tình trạng nội tiết, sức khỏe của người phụ nữ. Bệnh thường do vi trùng, ký sinh trùng hoặc vi nấm gây ra nhưng do nằm ở vị trí “hiểm” nên khiến bệnh càng có cơ hội “lộng hành” nhờ được chị em “tiếp tay”.

Không ít chị em phụ nữ sẵn sàng chịu trận và không dám đi khám dẫu xuất hiện những dấu hiệu bất thường về huyết trắng. Tâm lý chủ quan cộng với sự e ngại chính là nguyên nhân của tình trạng trên. Đã có không ít những trường hợp dở khóc, dở cười xảy ra trong quá trình điều trị huyết trắng từ sự kém hiểu biết và việc kiêng kị có phần thái quá của phái đẹp.

Huyet-trang

Huyết trắng bệnh lý không nguy hiểm đến tính mạng nhưng dễ gây các biến chứng nguy hiểm khi không được chữa kịp thời. Đặc biệt, nếu không được chữa trị dứt điểm thì nguy cơ tái phát rất cao và còn kéo theo nhiều hệ lụy khác như: viêm nhiễm vùng kín, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng, khó thụ thai, thậm chí có thể dẫn đến vô sinh…

Phát hiện sớm để điều trị nhanh

Theo các chuyên gia y tế, tất cả các bệnh phụ khoa, trong đó có huyết trắng rất dễ phòng ngừa và chữa trị nếu được chị em quan tâm và được phát hiện kịp thời. Bởi vậy, dẫu luôn bận rộn với bổn phận “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, chị em vẫn nên trang bị thêm cho mình những hiểu biết nhất định về bệnh huyết trắng để bảo vệ sức khỏe và hạnh phúc của chính mình.

Ngoài việc có chế độ ăn uống khoa học, năng tập thể dục, hạn chế thức khuya, tránh mặc đồ lót ẩm ướt, thụt rửa âm đạo nhiều và quan hệ tình dục lành mạnh, chị em cần thường xuyên đi khám phụ khoa định kỳ để “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Khi nghi ngờ mình bị huyết trắng, chị em không nên tự chữa trị mà cần đi khám chuyên khoa để có chẩn đoán chính xác và được tư vấn các biện pháp điều trị hiệu quả.

Theo gia đình

Đi bộ ngừa ung thư vú hiệu quả nhất

Những phụ nữ lớn tuổi đi bộ mỗi ngày một giờ có thể giúp giảm 14% nguy cơ phát triển ung thư vú. Hiệu quả bảo vệ tăng lên 25% nếu họ tập thể dục với cường độ cao. Đây là kết quả của nghiên cứu đánh giá trên hơn 73.000 phụ nữ tuổi mãn kinh được Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) tài trợ.

di-bo-ngua-ung-thu-vu-hieu-qua-nhat

Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân của mối liên hệ này có thể chủ yếu do nội tiết tố. Nguy cơ ung thư vú bị ảnh hưởng bởi “phơi nhiễm” với estrogen trong suốt cuộc đời. Nguy cơ càng tăng nếu tiếp xúc với estrogen càng nhiều. Ở những phụ nữ thường xuyên vận động thì nồng độ estrogen thấp hơn so với những người lười vận động.

Được biết ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ. Theo thống kê tại Mỹ, cứ tám phụ nữ thì có một người phát triển bệnh ung thư vú. Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này là một thông điệp tốt cho cộng đồng. Chỉ cần đi bộ thong thả mỗi ngày đã giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.

BS NGUYỄN TẤT BÌNH

Nguồn tuổi trẻ

Không nên tự chữa bệnh sùi mào gà

Bệnh sùi mào gà do HPV (Human Papilloma virus) gây ra. Đây là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục (cho dù có quan hệ tình dục ở bất kì hình thức nào). Bệnh có thể lây qua tiết dịch âm đạo, qua đường miệng hoặc qua tiếp xúc da với da…

Trước kia, sùi mào gà được xem là một bệnh lành tính. Nhưng ngày nay, các nhà khoa học cho rằng trong một số trường hợp, bệnh có khuynh hướng trở thành ác tính, gây ung thư cổ tử cung ở nữ giới hoặc ung thư dương vật ở nam giới.

Bệnh sùi mào gà (và những bệnh lây truyền qua đường tình dục khác) được gọi chung là bệnh tình dục, chủ yếu lây truyền qua đường tình dục khi cả hai có hành vi giao hợp không an toàn.

khong-nen-tu-chua-benh-sui-mao-ga

Tuy nhiên, tự cơ thể người bệnh cũng có thể mắc những loại bệnh này khi bị nhiễm virus Human papilloma (HPV) mà cơ thể không có khả năng đề kháng lại.

Cũng giống như các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, bệnh sùi mào gà không có nhiều biểu hiện rõ ràng ngay từ khi mới nhiễm virus. Sau khi nhiễm virus 2-9 tháng, người bệnh mới bắt đầu có những dấu hiệu như sùi nhỏ mềm, cao lên như những nhú gai, đường kính khoảng một đến hai mm hoặc là những vòng tròn nhỏ có bề mặt ráp, màu hồng. Về sau, những vết này phát triển thành những mảng rộng trông giống như mào gà hoặc hoa súp lơ màu trắng hồng. Bề mặt mềm, mủn ra, ẩm ướt, giữa các nhú sùi có thể ấn ra một giọt mủ.

Bình thường sùi mào gà không gây đau đớn gì. Trường hợp sùi phát triển to quá có thể gây khó chịu khi đi lại. Khi bị sang chấn, sờ nắn sùi mào gà có thể làm sây sát, chảy máu hoặc bội nhiễm, các hạch bạch huyết vùng bẹn sưng to tạo các sùi có nhiều mủ. Một số trường hợp có thể bị sốt cao hoặc đau đớn.

Hầu hết các bệnh tình dục đều khó chữa trị dứt điểm và nhiễm HPV sinh dục là bệnh phổ biến nhất mà rất nhiều người có thể mắc phải ít nhất một lần trong đời.

Hiện nay, bệnh sùi mào gà chưa có thuốc điều trị triệt để, do vậy người bệnh có thể mang bệnh suốt đời ở tình trạng có biểu hiện triệu chứng hoặc không có triệu chứng. Các phương thức điều trị sùi mào gà có thể là chấm hóa chất, kem bôi đặc trị hoặc đốt lạnh, đốt điện. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ có tác dụng làm giảm triệu chứng hoặc loại trừ thương tổn mà không khỏi bệnh hoàn toàn.

Rất có thể sau khi điều trị các nốt mụn khỏi một thời gian rồi lại tái phát, vì virus HPV vẫn còn trong cơ thể. Hiện nay các phương thức điều trị bệnh sùi mào gà chỉ có tác dụng giảm triệu chứng mà không khỏi hoàn toàn. Phụ nữ mang thai bị sùi mào gà cần tích cực điều trị trước khi sinh con, vì virus này có thể từ đường sinh dục của mẹ xâm nhập vào đường hô hấp của trẻ sơ sinh, gây tử vong.

Bạn nên đi khám theo đúng lịch hẹn của bác sĩ để biết bệnh của mình phát triển thế nào, đã thuyên giảm hay chưa… Việc này sẽ có lợi cho bác sĩ chẩn đoán và kê đơn điều trị phù hợp với tình trạng bệnh của bạn. Tuyệt đối không nên tự ý điều trị bệnh ở nhà, vì có nhiều trường hợp bệnh chuyển sang thể khác phức tạp hơn hoặc có biến chứng nguy hiểm mà người bệnh không biết, nếu không đi khám sẽ không được kê đúng thuốc để chữa. Điều này cực kì nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng.

Theo Trí thức trẻ

Tìm hiểu về U nang tuyến vú

Nang tuyến vú là 1 một loại bệnh thường gặp ở phụ nữ và nó được phát hiện khi đi khám tổng quát làm cho các chị em phụ nữ lo lắng. U nang tuyến vú là bệnh lý lành tính.

Nguyên nhân:

– Do chị em phụ nữ khi cho con bú thường nằm xuống lượng sữa tiết ra không hết còn đọng lại trong cơ thể, khi cai sữa con xong các bà mẹ lặn không hết sữa để lâu ngày gây ra hiện tượng dư thừa dẫn đến u nang tuyến vú.

– U nang tuyến vú cúng cũng do tuyến mồ hôi tạo ra, nó thuộc về can,gan có công năng tiết và xử lý ,không đi ra ngoài mà tạo thành ung thư tuyến vú.

– Mặc áo ngực quá nhiều hoặc quá dầy cũng là nguyên nhân dẫn đến bệnh u nang tuyến vú.

cach-phat-hien-u-nang-vu

Triệu chứng:

– Mịn, dễ dàng di chuyển, tròn hoặc hình bầu dục với các cạnh khác biệt.

– Đau ngực hoặc đau ở khu vực của khối u vú.

– Tăng kích thước vú và đau vú ngay trước khi thời gian kỳ kinh.

–  Giảm kích thước vú và giải quyết các dấu hiệu và triệu chứng khác sau thời kỳ kinh.

Biện pháp điều trị tại nhà:

–  Mặc áo ngực hỗ trợ. Nếu bị đau vú từ một nang vú, hỗ trợ tốt cho các mô vú xung quanh có thể giúp giảm một số khó chịu.

– Tránh được một số loại chất caffeine. Trên khoa học cho biết loại chất này chưa có chứng minh nó gây ra bệnh ung thư, nhưng với các chị em phụ nữ nên tránh được là một điều tốt khi bỏ được loại chất caffeine trong khẩu phần thức ăn hàng ngày.

– Muối cũng là một trong những loại bạn lên hạn chết ăn, nó có thể giúp cho bạn giảm bớt triệu chứng gây u nang tuyến vú có chứa chất dịch.

Theo sức khỏe đời sống

Nhận biết bệnh xốp xương

Trong xương xuất hiện nhiều các hốc xương do các bè xương bị đứt gãy làm cho xương trở nên xốp hơn. Chính vì vậy mà bệnh còn có tên gọi là bệnh xốp xương.

Sự kiện bệnh thường gặp trên chuyên mục Sức khỏe của Eva sẽ cập nhật đầy đủ những thông tin về các căn bệnh phổ biến trong cuộc sống như bệnh tiểu đường, bệnh đau đầu, bệnh phụ khoa và các bệnh theo mùa… của mẹ và bé.

Xương của chúng ta có cấu tạo tương tự như các cột trụ bê tông cốt sắt, bao gồm 2 phần chính là khung hữu cơ và chất vô cơ. Nhờ cấu trúc này mà xương chúng ta khỏe mạnh và bền vững. Trong bệnh loãng xương có sự suy giảm mật độ xương và tổn thương vi cấu trúc của xương, tức là có sự hủy hoại của các cấu trúc hữu cơ và vô cơ của xương. Kết quả là sức mạnh của xương bị giảm, làm cho xương dễ bị gãy. Có tới 1/5 phụ nữ và 1/8 nam giới sau tuổi 50 bị xốp xương.

Xốp xương là gì?

nhan-biet-benh-xop-xuong

Trong xương xuất hiện nhiều các hốc xương do các bè xương bị đứt gãy làm cho xương trở nên xốp hơn. Chính vì vậy mà bệnh còn có tên gọi là bệnh xốp xương. Các khoáng chất như canxi, phospho cũng bị rửa trôi đi, hàm lượng chất khoáng trong xương giảm đi, xương trở nên nhẹ hơn. Do vậy, bệnh có tên là loãng xương.

Ai có nguy cơ xốp xương?

Có 5 đối tượng có nguy cơ mắc bệnh xốp xương cao. Thứ nhất là những người có tiền sử gia đình có bố mẹ bị xốp xương. Thứ hai là người cao tuổi (cả nam và nữ trên 70 tuổi), nữ giới từ 55 tuổi trở lên, phụ nữ mãn kinh sớm, sinh trên 3 con. Thứ ba là những người thấp bé, nhẹ cân, có tư thế, dáng vóc bất thường, đặc biệt khi họ lại không được cung cấp đủ canxi và vitamin D, nghiện thuốc lá, rượu. Thứ tư là những người có nghề nghiệp tĩnh tại, không tập luyện thể dục thể thao.  Thứ năm là các bệnh nhân mắc một số bệnh lý có thể gây loãng xương như cường giáp, đái tháo đường, cắt buồng trứng, cắt dạ dày- ruột, suy thận. Đặc biệt, một số bệnh nhân phải sử dụng thuốc kéo dài mà một số thuốc có thể gây loãng xương như corticosteroid, thuốc lợi tiểu, thuốc chống động kinh.

Cách nào nhận biết?

Có 3 dấu hiệu lâm sàng gợi ý xốp xương là thay đổi hình dáng cơ thể, đau lưng và gãy xương. Thay đổi hình dáng cơ thể (gù, vẹo, giảm chiều cao). Biểu hiện đau lưng (đau thắt lưng cấp tính và đau thắt lưng mạn tính). Đau xuất hiện tự nhiên; sau chấn thương nhỏ, thường khỏi sau vài tuần. Đau thắt lưng mạn tính kèm theo biến dạng cột sống, biểu hiện bằng đau thắt lưng kéo dài, có những đợt đau cấp tính rồi lại khỏi, kèm theo các thay đổi tư thế cột sống như gù, vẹo cột sống. Có người cong gập lưng khiến cho các xương sườn cọ sát vào cánh chậu. Biểu hiện nặng nhất của xốp xương là gãy xương: lún xẹp thân đốt sống, gãy chỏm xương đùi, gãy đầu dưới xương cẳng tay, xương sườn, xương chậu, phần lớn là ở phụ nữ.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng ngừa bệnh xốp xương, quan trọng là thực hiện chế độ ăn uống hợp lý, hoạt động thể lực đều đặn và phơi nắng.

Chế độ ăn uống: ăn đủ đạm, calori. Bạn cần khoảng 50gr protein mỗi ngày, tương đương với 1 lạng cá biển, 2 cốc sữa chua ít béo và 1 quả trứng. Cần hạn chế chất béo trong khẩu phần ăn vì cholesterol tăng phá hủy xương. Cần đảm bảo đủ canxi, vitamin D. Một ngày, cơ thể cần 1.000mg canxi (người ở độ tuổi từ 19 – 50), 400-800 đơn vị vitamin D và lượng nhỏ magiê, vitamin K hàng ngày để giúp xương chắc khỏe. Canxi có thể cung cấp từ thức ăn hay bổ sung từ sữa hay thuốc chứa canxi. Các thực phẩm hàng ngày như tôm, tép, cua, cá chứa nhiều canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Các loại rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, súp-lơ đều giàu canxi. Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa (bơ, phomat, sữa chua…), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng.

Nguồn vitamin D có thể từ phơi nắng, thức ăn và bổ sung. Thực phẩm giàu vitamin D như nấm tươi, sữa, trứng, cá hồi, trai, sò… Cần ăn rau quả là nguồn cung cấp magiê như rau lá xanh, các loại hạt và đậu. Thực phẩm giàu vitamin K là các loại rau có màu xanh đậm: súp-lơ xanh, bắp cải, cải xoắn. Nếu cần thiết, có thể bổ sung mỗi ngày 1 viên đa sinh tố chứa magiê, vitamin K, acid folic, vitamin B6 và B12. Ngoài ra, nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, lạc, vừng, bắp cải, tỏi… vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương.

Về chế độ hoạt động thể lực, cần tập thể dục đều đặn. Tập thái cực quyền cũng làm tăng tính mềm dẻo cơ bắp, giảm nguy cơ ngã gãy xương. Ngoài ra, nên bỏ rượu, thuốc.

Nguồn sức khỏe đời sống

Cẩn thận với dịch âm đạo bất thường

Cơ quan sinh sản bị tổn thương sẽ phát ra những dấu hiệu đặc trưng nhất là dịch âm đạo tăng lên đáng kể kèm theo mùi hôi hoặc có màu sắc khác thường.

Dịch âm đạo là do các tuyến yên sản sinh ra. Nó giúp mang tế bào chết và vi khuẩn xấu ở âm đạo ra ngoài, giữ cho âm đạo luôn sạch sẽ, ngăn ngừa nhiễm trùng. Dịch âm đạo khi ở trạng thái bình thường sẽ có màu từ trắng trong đến trắng sữa, rất nhờn tùy thuộc thời gian của chu kì kinh nguyệt và không nặng mùi.

Nếu dịch âm đạo có mùi, màu khác màu trắng hoặc trong, độ kết dính bất thường, đặc biệt kèm theo ngứa, nóng rát âm đạo thì rất có thể là dấu hiệu chị em bị nhiễm trùng hoặc bị bệnh nào đó ở cơ quan sinh sản.

can-than-voi-dich-am-dao-bat-thuong

Để biết mình có bị bệnh ở đường sinh sản hay không, hãy kiểm tra dịch âm đạo của bạn nhé:

– Dịch âm đạo ra nhiều cả ngày, trong suốt như lòng trắng trứng: Có thể là biểu hiện của xói món cổ tử cung, rối loạn chức năng buồng trứng.

– Dịch âm đạo ra nhiều, có màu xám, vàng, sủi bọt hoặc vàng nhạt kèm theo ngứa âm đạo, đôi khi dịch có lẫn máu bên trong: Có thể là biểu hiện của viêm âm đạo.

– Dịch âm đạo đặc như bã đậu hoặc sữa chua, âm đạo sưng tấy và đỏ, có cảm giác ngứa và luôn muốn đi tiểu: Có thể là viêm âm đạo do nấm.

– Dịch âm đạo ra nhiều, dạng nước, có màu vàng lẫn mùi hôi, thỉnh thoảng có máu trong dịch, ngứa âm hộ: Có thể là viêm âm đạo do tuổi tác.

– Dịch âm đạo có màu vàng hoặc xanh, dạng mủ, mùi hôi kèm theo sưng ngứa âm hộ: Có thể là biểu hiện của viêm âm đạo cấp tính, viêm cổ tử cung hoặc ung thư cổ tử cung.

– Dịch âm đạo ra nhiều, có vẻ bẩn và hôi, đôi khi có màu nâu hoặc lẫn máu trong đó: Có thể là biểu hiện của viêm nội mạc tử cung, polyp cổ tử cung, xói mòn cổ tử cung.

– Dịch âm đạo ra rất nhiều và liên tục, dạng đặc như bột gạo, có mùi rất hôi: Có thể là dấu hiệu của ung thư âm đạo, u xơ dưới niêm mạc tử cung.

– Dịch âm đạo dạng nước, màu vàng hoặc đỏ, có thể trong dịch có lẫn máu: Có thể là dấu hiệu chứng tỏ ống dẫn trứng không khỏe mạnh.

– Dịch âm đạo dạng mủ hoặc nước, đôi khi ngứa và đau ở bộ phận sinh dục: Có thể là triệu chứng của viêm vùng chậu.

– Dịch âm đạo có lẫn máu bên trong, chu kì kinh nguyệt không đều, có cảm giác bị đè nén, có khối u ở vùng bụng: Có thể là triệu chứng của u xơ tử cung.

– Dịch âm đạo ra nhiều, thậm chí tiết ra như mủ kèm theo đi tiểu thường xuyên và có cảm giác đau: Dấu hiệu của bệnh lậu.

Ngay khi thấy âm đạo tiết dịch bất thường, hãy đi khám sớm để được điều trị kịp thời. Cách điều trị sẽ phụ thuộc nguyên nhân gây bất thường âm đạo. Các biểu hiện dịch âm đạo cũng có thể giống nhau ở những bệnh khác nhau, vì vậy, đi khám bác sĩ là cách tốt nhất để được chẩn đoán đúng bệnh.

Ngoài ra chị em nên lưu ý một vài điều sau đây để giữ cho cơ quan sinh sản của mình được khỏe mạnh:

– Giữ cho âm đạo sạch sẽ bằng cách vệ sinh với nước ấm nhẹ nhàng.

– Không bao giờ sử dụng xà phòng có mùi thơm để vệ sinh âm đạo.

– Không thụt rửa âm đạo và cũng tránh dùng thuốc xịt âm đạo.

– Sau khi đi vệ sinh, nếu dùng giấy thì lau từ trước ra sau để tránh vi khuẩn vào âm đạo và gây nhiễm trùng.

– Mặc quần lót 100% cotton và tránh quần áo quá chật.

Nhipcausuckhoe.com.vn

Nguyên nhân và cách phòng ngừa bệnh phụ khoa

Phụ khoa là bệnh mà hầu như chị em nào cũng dễ bị mắc phải. Vậy nguyên nhân và cách phòng chống nó như thế nào là điều mà chị em thực sự quan tâm.

1. Nguyên nhân gây bệnh phụ khoa
1. Vệ sinh kém.

Cơ quan sinh dục có rất nhiều vi khuẩn sinh sống; dịch tiết ở đây cũng nhiều. Nếu không giữ gìn vệ sinh vùng này thật tốt sẽ khiến cho vi khuẩn, nấm phát triển nhanh và mạnh tấn công và gây nhiễm khuẩn âm hộ – âm đạo. Tuy nhiên, chị em cần lưu ý, việc kém vệ sinh gây bệnh đã đành, nhiều người bị bệnh phụ khoa lại là do quá sạch sẽ, vệ sinh vùng kín nhiều lần trong ngày, vệ sinh quá sâu bên trong, dẫn đến mất cân bằng môi trường, vi khuẩn có nhiều cơ hội tấn công.

2. Lây nhiễm qua sinh hoạt tình dục.

Nhiều chị em thường xuyên bị lây bệnh phụ khoa từ đường quan hệ tình dục mà không biết, vì biểu hiện bệnh nam khoa ít được biểu lộ rõ như ở nữ. Các vi khuẩn ẩn nấp có khi “phát tiết” sau nhiều tháng, hoặc nhiều năm. Khoảng thời gian này, khi quan hệ tình dục với bạn gái hay vợ, họ sẽ truyền bệnh cho bạn tình. Các loại nấm, vi khuẩn, virut lây truyền qua đường tình dục như Chlamydia, Trichomonas, trùng roi, lậu cầu khuẩn, trực khuẩn, xoắn khuẩn, các vi khuẩn kị khí, virut herpes sinh dục… xâm nhập vào tử cung gây phá hủy sự cân bằng hệ vi sinh vật, giảm chức năng tuyến phòng thủ của âm đạo. Những bệnh phổ biến thường thấy là: lậu, giang mai và herpes sinh dục. Đây là những bệnh lý phụ khoa thường gặp và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

phu-khoa

3. Các nguyên nhân khác như:

Stress (do stress đã làm suy yếu hệ miễn dịch), thay đổi môi trường đột ngột, các thủ thuật phụ khoa không an toàn (dụng cụ đặt tránh thai, nạo hút thai…), phụ nữ ở tuổi mãn kinh…

2. Các phòng ngừa hiệu quả

Đối với bệnh phụ khoa, việc phòng bệnh rất quan trọng. Phòng bệnh giúp giảm nguy cơ mắc và tái mắc bệnh viêm nhiễm phụ khoa là cách tốt nhất giúp tiết kiệm tiền bạc, bảo vệ sức khỏe và duy trì hạnh phúc lứa đôi. Nên thực hiện vệ sinh cá nhân để giảm đi khả năng bị nhiễm khuẩn đường sinh dục bằng cách:

Tránh mặc quần chật, thay quần lót hằng ngày, dùng nước sạch để rửa vùng kín. Không nên dùng xà bông hay các chất tẩy rửa mạnh… để vệ sinh vùng kín. Không tự thụt rửa âm đạo khi không có chỉ định của bác sĩ điều trị.

Có thể vệ sinh vùng kín hằng ngày bằng dung dịch vệ sinh phụ nữ chuyên dụng. Tuy nhiên, bạn đừng vội cho rằng cứ dùng nước rửa vệ sinh càng nhiều càng sạch. Trong cơ thể phụ nữ, có hai bộ phận có khả năng tự làm sạch là mắt và vùng kín. Do vậy, không nhất thiết phải dùng quá nhiều dung dịch vệ sinh, sẽ làm mất cân bằng độ pH, càng làm cho vi khuẩn sinh sôi.

Sau khi vệ sinh xong cần lau khô bằng khăn sạch, nhớ phải lau từ trước ra sau (hậu môn là cuối cùng). Luôn giữ cho bộ phận sinh dục ngoài khô, sạch.

Với đồ lót tốt nhất bạn nên ngâm khoảng 30 phút rồi vò sạch bằng tay. Cũng không cần cho vào máy sấy khô, hãy phơi đồ lót nơi có ánh sáng mặt trời nhiều nhất cũng là cách diệt khuẩn hữu hiệu để phòng tránh bệnh phụ khoa.

Thời kỳ kinh nguyệt cần chọn băng vệ sinh đảm bảo sạch, đủ thấm, từ 4 – 6 giờ phải thay một lần.

Thư giãn, thả lỏng hoàn toàn là một nhu cầu của cơ thể và “vùng kín” cũng không phải là ngoại lệ. Sau một ngày đi ra ngoài “nghiêm chỉnh”, tối về bạn nên để cơ thể có cơ hội thoát khỏi mọi giàng buộc. “Vùng kín” thả lỏng sẽ giảm được sự ẩm ướt, môi trường vốn rất lý tưởng cho các loại viêm nhiễm.

Thực hành tình dục an toàn tránh mắc hoặc tái mắc phải bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục do các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục. Nên sử dụng bao cao su cho mỗi lần quan hệ tình dục vì bao cao su vừa có tác dụng tránh thai, vừa ngăn ngừa được các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Vệ sinh tốt cho cả hai người trước và sau khi quan hệ tình dục.

Nên khám phụ khoa định kỳ dù không có triệu chứng gì bất thường. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp viêm nhiễm tiến triển ở giai đoạn khá trầm trọng lại được phát hiện trong những lần khám phụ khoa. Các chuyên gia phụ khoa khuyến cáo, phụ nữ từ độ tuổi 18 trở lên nếu đã có quan hệ tình dục cần đi khám phụ khoa ít nhất mỗi năm 2 lần. Việc thăm khám rất đơn giản, không gây đau và rất hiệu quả trong việc phát hiện các dấu hiệu viêm nhiễm hay tiền ung thư.

Ngoài ra, chị em còn cần phải chú ý đến chế độ ăn uống, nên ăn nhiều thức ăn dễ tiêu hóa như rau xanh, hoa quả tươi. Đặc biệt không nên thức khuya.

Theo sức khỏe đời sống

Bệnh phụ nữ văn phòng dễ gặp

Do tính chất và đặc thù công việc là ngồi nhiều một chỗ mà chị em văn phòng có thể phải đối mặt khá nhiều bệnh liên quan đến vấn đề sinh lý của mình.

Suy giảm buồng trứng sớm

Áp lực tâm lý quá lớn, ăn uống không đúng giờ và ô nhiễm môi trường làm việc (do thiếu cây xanh, hút thuốc lá bao gồm cả hút thuốc thụ động…) lại thiếu tập thể dục khiến phụ nữ hiện đại phải đối mặt với nhiều nguy cơ sức khỏe sinh lý. Tác động của các yếu tố bất lợi này sẽ làm cho phụ nữ sớm bị suy giảm buồng trứng hơn so với bình thường.

Thêm nữa, một số chị em sau khi sinh con đã đi làm trở lại sớm khiến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ quá ngắn dẫn đến làm giảm một số chức năng tự miễn đặc trưng của cơ thể nữ giới. Từ đó có thể ảnh hưởng đến chức năng buồng trứng. Đáng buồn là tỷ lệ mắc chứng suy giảm buồng trứng trẻ tuổi gia tăng qua các năm. Phụ nữ bị suy giảm buồng trứng sớm càng dẫn đến mãn kinh sớm.

benh-nghe-nnghiep

Rối loạn nội tiết

Làm tăng ca, thêm giờ, làm việc quên ăn uống (ăn uống không khoa học), ít vận động… là những nguyên nhân góp phần dẫn đến rối loạn chuyển hóa ở chị em. Những chị em chỉ ngủ trong khoảng 4 giờ hoặc ít hơn mỗi ngày dễ gặp các vấn đề về trao đổi chất của cơ thể. Trong khi đó, não bộ – tuyến yên – buồng trứng khi bị rối loạn chức năng sẽ gây ra sự rối loạn nội tiết (chẳng hạn như rối loạn kinh nguyệt, mụn nhọt…)

Làm việc quá nhiều, áp lực công việc lớn khiến chị em văn phòng dễ căng thẳng, stress, tâm lý bất ổn… có thể là tiền nguyên nhân gây nên chứng bệnh trầm cảm… Đây cũng được coi là những nguyên nhân gây ra rối loạn nội tiết. Ngoài ra, vấn đề trao đổi chất, tuần hoàn máu kém còn có thể ảnh hưởng đến quá trình bài tiết chất độc cũng như tốc độ chuyển hóa các chất khác trong cơ thể.

Viêm phụ khoa

Ngoài những căn bệnh văn phòng quen thuộc như đau lưng, mỏi cổ, mỏi mắt, khô da, béo phì… chị em công sở còn có thể “lãnh” thêm nguy cơ bị viêm nhiễm phụ khoa do chính thói quen làm việc của mình.

Phụ nữ văn phòng thường ngồi nhiều lại ít vận động dễ dẫn đến sự suy giảm thể lực, lưu thông máu kém. Chẳng hạn như cản trở lưu thông máu ở chân làm giảm lưu thông máu trong các khoang xương chậu khiến chị em dễ mắc bệnh phụ khoa. Những người đã có vấn đề về phụ khoa thì lại càng làm cho các vấn đề này trầm trọng thêm.

Bên cạnh đó, ngồi nhiều cũng có thể gây viêm nhiễm mãn tính phần phụ và sự lây lan của các mầm bệnh qua đường âm đạo, do đó ảnh hưởng đến toàn bộ vùng chậu.

Điều ngạc nhiên chính là môi trường làm việc trong phòng điều hòa, chế độ làm việc ngồi trên ghế kéo dài, kèm theo đó là sự thay đổi đột ngột nhiệt độ và độ ẩm không khí khi rời phòng làm việc sang môi trường sống có không khí tự do – cũng là nhân tố gây viêm nhiễm. Sự thay đổi đột ngột này đã tạo điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập, tấn công mạnh vào những phụ nữ văn phòng, đặc biệt là “vùng kín”.

Đặc biệt là phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt, ít vận động dễ làm cho máu trào ngược, gây tắc nghẽn vùng chậu mãn tính, kích thích dây thần kinh ngoại biên làm tăng triệu chứng sưng, đau… rất khó chịu.

Vô sinh

Cũng do ít vận động nên chị em văn phòng dễ bị đau trước và trong kỳ kinh nguyệt. Nguyên nhân cơ bản là bởi ít vận động dẫn đến rối loạn lưu thông máu, một lượng máu trào ngược xâm nhập vào các ống dẫn trứng, gây ra đau bụng dưới, đau lưng, đau bụng kinh…

Nghiêm trọng hơn máu ứ cũng dễ dẫn đến bạch huyết hoặc tắc mạch đường máu, tắc nghẽn ống dẫn trứng. Mô tăng sản nội mạc tử cung do máu ứ và ít vận động có mối quan hệ vật lý với sự hình thành của lạc nội mạc tử cung có thể gây ra vô sinh.

Theo afamily

Chữa bệnh lãnh cảm

Lãnh cảm là một chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ, bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình.
Bệnh lãnh cảm có nguyên nhân tâm lý và nguyên nhân sinh lý. ThS . Hoàng Khánh Toàn bàn về nguyên nhân thứ hai.

Trong y học cổ truyền, lãnh cảm thuộc phạm vi các chứng “âm lãnh” và “âm nuy”, được điều trị bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó có việc sử dụng các món ăn – bài thuốc. Xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để độc giả tham khảo.

Bài 1: Nhục thung dung 15g, kỷ tử 15g, thịt dê 100g, hành củ, gừng tươi và gia vị vừa đủ. Thịt dê rửa sạch, thái miếng, ướp đủ gia vị; các vị thuốc thái vụn cho vào túi vải buộc kín miệng rồi cho vào nồi hầm cùng thịt dê cho chín nhừ; khi được bỏ túi thuốc ra, chế thêm gia vị rồi ăn nóng. Mỗi ngày ăn một lần, 7 ngày là một liệu trình. Công dụng: Bồi bổ thận tinh, ôn bổ thận dương, nâng cao năng lực tình dục.

lanh-cam

Bài 2: Tôm nõn 15g, hải mã (cá ngựa) 10g, gà non 1 con (nặng chừng 500g). Gà làm thịt, bỏ nội tạng, rửa sạch; tôm nõn và hải mã ngâm nước ấm trong 10 phút rồi cho vào trong bụng gà; đặt con gà vào 1 chiếc bát lớn, chế đủ gia vị rồi đem hầm cách thủy cho chín nhừ, chia ăn trong 2 ngày, cứ 3 – 5 ngày ăn 1 con, 5 con là 1 liệu trình. Công dụng: Ôn bổ thận dương, dưỡng huyết điền tinh, cải thiện khả năng tình dục.

Bài 3: Đương quy 15g, kỷ tử 20g, hoàng tinh 15g, gừng tươi 20g, thịt dê 100g. Thịt dê rửa sạch, thái miếng; các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem hầm với thịt dê cho thật nhừ, chế đủ gia vị, ăn nóng mỗi ngày một lần, 7 ngày là một liệu trình, có thể dùng liên tục 2 – 3 liệu trình. Công dụng: Ích khí dưỡng huyết, ôn trung bổ dương, tăng cường ham muốn tình dục.

Bài 4: Nhục thung dung 10g, kỷ tử 15g, ba kích 10g, đại hồi 5g, thịt chó 100g. Thịt chó rửa sạch, thái miếng; các vị thuốc cho vào túi vải buộc kín miệng rồi đem hầm nhừ cùng thịt chó, khi được chế thêm gia vị, ăn nóng trong ngày, mỗi ngày dùng 1 lần, 7 lần là một liệu trình. Công dụng: Bổ thận ôn dương, nâng cao năng lực tình dục.

Bài 5: Tôm nõn 15g, trứng chim sẻ 10 quả, kỷ tử 10g, gạo tẻ 100g. Ninh gạo tẻ với tôm nõn và kỷ tử thành cháo rồi đập trứng chim sẻ vào, chế thêm hành, gừng tươi và gia vị vừa đủ, ăn nóng, mỗi ngày một lần, 15 ngày là một liệu trình. Công dụng: Bổ ích can thận, cải thiện ham muốn tình dục.

Bài 6: Rau hẹ 200g, tôm he 50g, thịt gà 50g. Rau hẹ rửa sạch, cắt khúc; thịt gà thái chỉ, tất cả đem xào với dầu thực vật, chế thêm gia vị, ăn nóng, mỗi ngày một lần, 15 ngày là một liệu trình. Công dụng: Ôn bổ thận dương, thúc đẩy công năng tính dục.

Bài 7: Hoài sơn 50g, cá hoa vàng (hoàng ngư) 50g, tôm nõn 50g, trứng gà 1 quả. Xào riêng hoài sơn, cá hoa vàng và tôm nõn với dầu thực vật cho chín rồi đổ chung vào chảo, đun to lửa, đập trứng đảo đều, chế đủ gia vị cho chín, ăn nóng, mỗi ngày một lần, 7 ngày là một liệu trình. Công dụng: Bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ bổ thận, nâng cao khả năng tình dục.

Theo afamily

Xơ nang tuyến vú: bệnh rất hay gặp ở chị em

Xơ nang tuyến vú là một trong những dạng tổn thương lành tính thường gặp ở nữ giới, nó thường do sự rối loạn nội tiết tố nữ gây ra.

Ngực của người phụ nữ được cấu tạo bởi 3 cơ quan chính gồm các tuyến vú, lớp mỡ đệm và mô cơ. Đôi khi có một số mô cơ đột nhiên phát triển dày lên mà không nhất quán giữa hai bầu ngực. Thêm vào đó, lượng chất lỏng chứa trong bầu ngực sẽ tăng đột biến do sự thay đổi lượng hormone. Điều này dẫn tới bệnh fibrocystic. Bệnh fibrocystic hay còn gọi là bệnh xơ nang tuyến vú thường gặp ở độ tuổi 29 đến 49, tỷ lệ từ 34% đến hơn 50%. Đây cũng có thể là điều kiện dẫn tới bệnh ung thư vú.
xo-nang-tuyen-vu-benh-rat-hay-gap-o-chi-em

Ung thư vú cũng và xơ nang tuyến vú cũng có biểu hiện giống nhau, ví dụ như thay đổi kích cỡ ngực hoặc thay đổi hình dạng bầu ngực. Tuy nhiên, có những điểm khác biệt như: da vú bị nhăn, da dày giống da trái cam sành. Vì thế khi gặp các dấu hiệu bất thường này bạn nên tiến hành thăm khám càng sớm càng tốt.

Xơ nang tuyến vú là một trong những bệnh xuất phát từ tình trạng loạn sản tuyến vú. Đây là một dạng tổn thương lành tính thường gặp ở nữ giới, nó thường do sự rối loạn nội tiết tố nữ gây ra. Bệnh thường gặp ở chị em trong độ tuổi 30-50.

Đặc điểm nổi bật nhất của bệnh xơ nang tuyến vú là sự biến đổi đột ngột của u vú. Người bệnh thường gặp nhiều khối u hoặc có u cả hai bên vú, có thể có kèm theo tiết dịch núm vú. Ngoài ra, khi bị xơ nang tuyến vú, nhiều chị em còn cảm nhận thấy các triệu chứng như: đau, thường là đau cả hai vú. Trước ngày có kinh nang thường to nhanh và giảm đau. Ngoài các triệu chứng trên, người bệnh có thể kèm theo rối loạn kinh nguyệt, đau bụng hoặc đau lưng nhiều khi hành kinh.

Bệnh xơ nang tuyến vú có thể được chẩn đoán nhờ vào siêu âm.

Nếu bị xơ nang tuyến vú, chị em không nên quá lo lắng, vì tâm trạng lo lắng chính là nguyên nhân làm cho tình trạng bệnh, các cơn đau nặng thêm. Thay vào đó, chị em nên giữ cho mình tâm lý vui vẻ, thoải, kết hợp với chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý.  Người bị xơ nang tuyến vú cũng nên tránh các thức ăn có nhiều muối, nên ăn thức ăn giàu kali như: cam, quýt, chuối, tránh các chất kích thích như: rượu, bia, cà phê, thuốc lá, uống nhiều nước, bổ sung vitamine B6, magiê, kali.

Để giảm các cơn đau tức thì, chị em có thể dùng thuốc giảm đau nhưng cần theo chỉ dẫn của bác sĩ, hoặc áp dụng biện pháp chườm nóng tại chỗ, dùng nịt ngực thích hợp.

Theo afamily

Dấu hiệu chứng tỏ chị em đã nhiễm bệnh lậu

Đối với nữ giới, các triệu chứng của bệnh lậu không rõ ràng lắm và đặc biệt có thể dễ nhầm lẫn với viêm bàng quang hay viêm âm đạo nên rất dễ bị chẩn đoán nhầm.

Em năm nay mới 21 tuổi nhưng hiện tại em đang phải đối mặt với một vấn đề rất lớn mà từ trước đến này em chưa từng lường tới. Đó là em bị bệnh lậu. Em có biểu hiện ngứa, nổi mẩn ở âm đạo từ lâu rồi. Thời gian này, em còn thấy dịch âm đạo ra nhiều, thậm chí có lần dịch có mủ. Lúc này em mới đi khám thì bác sĩ nói em bị bệnh lậu và bệnh không còn ở giai đoạn đầu nữa.

Em thực sự rất sợ vì chắc chắn em đã lây bệnh từ bạn trai em. Anh ấy cũng đã đi khám và làm xét nghiệm. Bác sĩ nói bệnh của anh ấy chưa phát ra mà thôi. Bác sĩ đã kê đơn thuốc cho em nhưng cũng không dặn dò gì nhiều, chỉ hẹn hết thuốc thì khám lại.

dau-hieu-chung-to-chi-em-da-nhiem-benh-lau

Bác sĩ ơi, em rất lo mình không khỏi được bệnh. Có phải do cơ thể em không có sức đề kháng nên bệnh phát ra nhanh hơn người yêu em hay không? Em mong bác sĩ tư vấn giúp em về bệnh này, cần lưu ý những gì khi điều trị để bệnh mau khỏi. Em đã không quan hệ tình dục từ hôm đi khám. Điều em mong nhất lúc này là khỏi bệnh. Mong bác sĩ giúp em. Em xin cảm ơn bác sĩ nhiều! (Hòa Bình)

BS. Hoa Hồng tư vấn:

Bạn Hòa Bình thân mến,

Bệnh lậu do vi khuẩn Neisseria gonorrhea, song cầu trong tế bào. Vi khuẩn lậu có thể sinh sôi nẩy nở nhanh trong môi trường nóng và ẩm ướt của đường sinh sản như cổ tử cung, buồng trứng, vòi trứng và cả đường tiết niệu (niệu đạo). Vi khuẩn cũng có thể phát triển ở miệng, họng, mắt và hậu môn. Nếu không được điều trị, bệnh lậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh sản của nữ.

Bất cứ ai có quan hệ tình dục đều có thể bị bệnh lậu. Đối với nam giới, có người khi bị bệnh không bộc lộ triệu chứng gì nhưng cũng có người chỉ sau 14-30 ngày nhiễm bệnh là các triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài. Điều này cũng một phần là do sức đề kháng của cơ thể. Các triệu chứng của bệnh lậu ở nam giới là cảm giác bỏng rát khi tiểu hay tiết dịch có màu trắng, vàng hay xanh ở dương vật. Đôi khi nam giới bị bệnh lậu thấy đau hay sưng ở tinh hoàn.

Đối với nữ giới, các triệu chứng của bệnh không rõ ràng lắm và đặc biệt có thể dễ nhầm lẫn với viêm bàng quang hay viêm âm đạo nên rất dễ bị chẩn đoán nhầm. Những triệu chứng của bệnh lậu ở nữ giới bao gồm: lỗ niệu đạo sưng đỏ, chảy mủ, ngứa âm đạo, tiểu nhiều lần, tiểu cấp, tiểu buốt, cổ tử cung sưng đỏ, rất dễ bị viêm vùng chậu và các loại bệnh như: viêm ống dẫn trứng, viêm nội mạc tử cung, viêm phần phụ…

Bệnh lậu không được điều trị có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe vĩnh viễn và nghiêm trọng cho cả nam và nữ. Ở nữ giới, nếu không điều trị, bệnh lậu có thể gây ra hậu quả là iêm âm hộ và các tuyến ở vùng âm hộ, âm đạo tạo thành các túi mủ. Phụ nữ đang tuổi sinh đẻ nếu có thai mà bị bệnh lậu thì rất dễ lây cho con sau khi sinh. Trẻ bị nhiễm bệnh lậu có thể phải chịu hậu quả là biến chứng ở mắt, dẫn đến mù lòa.

Chị em cũng cần lưu ý rằng mắc lậu mạn tính rất dễ gây vô sinh do lây nhiễm gây viêm cổ tử cung, tử cung, vòi trứng, buồng trứng và tiểu khung mà để khắc phục điều đó (chữa vô sinh) thật không đơn giản chút nào. Ngoài ra có thể gây viêm bàng quang biểu hiện tiểu dắt, buốt.

Có nhiều loại kháng sinh điều trị hiệu quả bệnh lậu nhưng cần dùng đủ liều mới có thể khỏi hẳn. Dù thuốc có thể chấm dứt nhiễm khuẩn nhưng không sửa chữa được tổn thương vĩnh viễn do bệnh gây ra. Hơn nữa, sức đề kháng của cơ thể là điều rất quan trọng. Những bệnh nhân có sức đề kháng kém thường sẽ thấy những biểu hiện bệnh phát ra sớm và rõ ràng hơn những người có sức đề kháng tốt.

Chính vì vậy, bạn cần tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ trong việc chữa bệnh lậu. Bạn đã kiêng sinh hoạt tình dục là điều đúng đắn bởi nếu không có thể dẫn đến nhiễm trùng kép, làm cho bệnh càng nặng thêm.

Ngoài ra, bạn cũng nên ăn đồ ăn nhẹ nhàng, thanh đạm, có tính thanh nhiệt. Nên uống nhiều nước để bài tiết độc tố tốt hơn. Bạn nên kiêng ăn cay, những đồ ăn có tính kích thích cao như ớt, hạt tiêu, hành tây, rượu, nước chè đặc và hạn chế ăn ít những đồ nóng như thịt dê, rau mùi…

Chúc bạn mau khỏi bệnh!

Theo afamily

u xơ tuyến tiền liệt gây tiểu dắt

Tiền liệt là một tuyến nhỏ nằm sát đáy (cổ) bàng quang ở nam giới, bao xung quanh đường dẫn nước tiểu từ cổ bàng quang đi ra.

Khi có u lành tính tuyến tiền liệt (thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi) , niệu đạo và cổ bàng quang bị chèn ép làm cản trở dòng nước tiểu đi từ bàng quang ra ngoài (hội chứng tắc nghẽn), đồng thời bàng quang tăng sức co bóp để cố gắng chống lại sự tắc nghẽn trên (hội chứng kích thích).
tieu-dat-co-the-do-u-xo-tuyen-tien-liet
+ Hội chứng tắc nghẽn gây các cảm giác như: tiểu khó với biểu hiện như khi tiểu tiện phải rặn mạnh, thời gian đi tiểu kéo dài, tia tiểu yếu có khi không thành tia; đang tiểu thì bị dừng lại do tia tiểu yếu, sau đó nếu rặn cố thì lại có nước tiểu.

+ Còn hội chứng kích thích gây các cảm giác như: tiểu tăng lần trong ngày (tiểu dắt), tiểu gấp (khi buồn tiểu phải đi ngay không thể nhịn được), tiểu són (hay còn gọi là tiểu không tự chủ), đi tiểu song người bệnh không có cảm giác thoải mái.

Cách điều trị

Về điều trị, nếu các triệu chứng rối loạn tiểu tiện không gây cảm giác khó chịu, không làm người bệnh bận tâm nhiều, không gây nguy hại cho sức khỏe và người bệnh có thể điều chỉnh, kiểm soát được thì không nhất thiết phải dùng thuốc ngay nhưng cần có kế hoạch kiểm soát.

Ngược lại, nếu các triệu chứng ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, đe dọa đến sức khỏe… thì nhất thiết phải tìm cách điều trị bằng các thuốc có tác dụng giãn cơ chậu và thu nhỏ tuyến nhằm cải thiện triệu chứng.

Chỉ định điều trị ngoại khoa được đặt ra chủ yếu không phải do độ lớn của u xơ mà do khối lượng nước tiểu tồn lưu trong bàng quang (>80ml) khiến bệnh nhân luôn có cảm giác bàng quang căng nước tiểu, thúc ép đi tiểu nhiều lần trong ngày hoặc tiểu tiện ngắt quãng, bí tiểu, són tiểu, tiểu đêm nhiều, thường xuyên nhiễm trùng đường tiểu…

Bên cạnh phương pháp cổ điển là phẫu thuật mở cắt bỏ tuyến còn có phẫu thuật nội soi, với ưu điểm: cách thức tiến hành “nhẹ nhàng” hơn, ít rủi ro hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn nhiều, khả năng phục hồi sức khỏe nhanh hơn .

Sưu tầm

Chú ý sức khỏe về bệnh cổ tử cung thường gặp

Chỉ cần một chút lơ là khi chăm sóc sức khỏe là chị em có thể bị các bệnh ở cổ tử cung như dưới đây. Các bệnh này hoàn toàn có thể là mối đe dọa cho sức khỏe sinh sản của chị em.
Cuộc sống hiện đại khiến cho chị em có nhiều việc phải lo lắng hơn, áp lực cũng nhiều hơn, điều này ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của chị em. Có thể nói, ngày nay, chị em đã biết quan tâm hơn đến bản thân. Thế nhưng, hầu hết chị em đều chỉ chú ý chăm lo cho dáng vẻ bên ngoài mà ít người quan tâm đến những bộ phận bên trong cơ thể. Đến khi không may có bệnh, các triệu chứng nặng hơn biểu hiện ra ngoài mới đi khám thì đã không kịp.

Đặc biệt với chị em làm công việc văn phòng, nguy cơ bị các bệnh phụ khoa là cao hơn cả. Do đặc thù công việc ngồi lâu cả ngày trong văn phòng, ít vận động, ăn uống thất thường mà vùng chậu của chị em dễ tụ máu, dẫn đến lưu thong máu ở cổ tử cung không thông, hơn nữa ngồi lâu một chỗ ít vận động sẽ khiến cho bí khí vùng âm đạo, tình trạng kéo dài sẽ dẫn tới các bệnh về cổ tử cung.

Tuy nhiên, không phải chị em nào cũng hiểu điều này. Để hiểu hơn về các bệnh thường gặp ở cổ tử cung, chi em nên tham khảo các bệnh sau đây.

chi-em-chu-y-4-benh-tu-cung-gap

Viêm loét cổ tử cung

Viêm loét cổ tử cung là một trong những bệnh thường gặp ở cổ tử cung, bệnh xuất hiện khi bề mặt cổ tử cung bị viêm, tiết ra khá nhiều mủ làm cho lớp biểu mô của cổ tử cung mềm nhũn ra, chết đi rồi bong ra từng mảng, bề mặt cổ tử cung sau đó lại mọc lên một lớp biểu mô mới, nhưng do lớp biểu mô mới này khá mỏng và trong suốt, làm nổi rõ mạch máu và các tổ chức ở trong, bóng đỏ…

Nguyên nhân gây ra tình trạng viêm loét cổ tử cung bao gồm: Sinh hoạt tình dục không an toàn, nạo hút thai nhiều lần khiến tử cung bị tổn thương, sử dung sản phẩm vệ sinh không đảm bảo, hoạt động tình dục quá sớm hoặc có quá nhiều bạn tình…

Những triệu chứng của bệnh viêm loét cổ tử cung bao gồm: Khí hư ra nhiều với các biểu hiện không giống nhau như trong suốt hoặc vàng (tùy theo mức độ bệnh), xuất hiện cảm giác đau lưng, đau vùng chậu dưới và đau bụng kinh. Nếu chứng viêm ảnh hưởng đến dây chằng sẽ có thể có cảm giác đau khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến đời sống tình dục…

Nếu không được chữa trị kịp thời, tích cực bệnh có thể chuyển sang viêm mạn tính và gây ra các hậu quả là: Viêm âm đạo, vô sinh, ảnh hưởng chuyện quan hệ tình dục, tăng nguy cơ ung thư…

Người bị viêm loét cổ tử cung không nên có quan hệ tình dục trong khi đang điều trị. Tùy theo mức độ của bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định các loại kháng sinh cần thiết để điều trị.

Viêm lộ tuyến cổ tử cung

Lộ tuyến cổ tử cung (còn gọi là lạc chỗ hay lộn niêm mạc) là một tổn thương lành tính ở cổ tử cung. Lộ tuyến cổ tử cung xuất hiện khi các tế bào tuyến nằm trong ống cổ tử cung phát triển ra ngoài, xâm lấn tế bào lát mặt ngoài của cổ tử cung.

Viêm lộ tuyến cổ tử cung là tình trạng các lộ tuyến bị viêm nhiễm do vi trùng, do nấm, do ký sinh trùng hay các tạp trùng gây ra.

Viêm lộ tuyến tử cung có các biểu hiện như: Ra nhiều huyết trắng, có mùi hôi, đau ở bụng dưới…

Bệnh viêm lộ tuyến cổ tử cung , nếu kéo dài, sẽ làm cho cổ tử cung to và dài ra, nên nhiều khi tưởng lầm là sa dạ con nên việc phát hiện và điều trị bệnh sẽ gặp khó khăn. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời sẽ làm giảm khả năng thụ thai và có thể làm vô sinh do di chứng của viêm nhiễm làm tắc ống dẫn trứng hay viêm dính tử cung.

Để điều trị viêm lộ tuyến cổ tử cung, bác sĩ có thể cho bạn sử dụng một số biện pháp như đặt thuốc ở âm đạo, uống thuốc hoặc phải dùng các biện pháp diệt tuyến như đốt điện, áp lạnh… bởi nếu lộ tuyến không được điều trị khỏi thì viêm nhiễm rất dễ tái phát.

Polyp cổ tử cung

Polyp cổ tử cung là tình trạng ở mặt trong hoặc mặt ngoài cổ tử cung xuất hiện những u nhỏ với các kích thước lớn nhỏ khác nhau. Polyp được hình thành từ sự phát triển quá mức của các tế bào lát mặt trong tử cung (nội mạc tử cung).

Đa số các trường hợp bị polyp cổ tử cung không có triệu chứng rõ ràng và cụ thể. Hầu hết các trường hợp bị polyp thường được phát hiện qua khám phụ khoa định kì. Bệnh có thể gây ra biểu hiện như ra huyết (nhất là sau khi quan hệ), đau khi quan hệ tình dục…

Polyp cổ tử cung được coi là có thể làm tăng nguy cơ sẩy thay ở những phụ nữ được thụ tinh trong ống nghiệm và gây ra tình trạng khó mang thai. Nếu không được chữa trị kịp thời, các polyp này sẽ phát triển to ra, làm tắc cổ tử cung, hoặc cục u sẽ bít kín cổ tử cung, khiến cho cổ tử cung hẹp hoặc tử cung biến dạng. Từ đó khiến cho tinh trùng không thể xâm nhập một các bình thường được sẽ dẫn đến tình trạng khó mang thai.

Khi bị polyp tử cung, tùy trường hợp mà bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh có cần phẫu thuật cắt bỏ polyp hay không.

Ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là tổn thương ác tính phát triển tại cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung xuất hiện khi các tế bào cổ tử cung biến đổi và phát triển bất thường một cách không kiểm soát. Bệnh này có thể gây tử vong.

Ung thư cổ tử cung là bệnh do virus HPV gây nên và thường gặp ở những đối tượng chị em sau:

– Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
– Người có quan hệ tình dục quá sớm và bừa bãi
– Người đã từng sinh đẻ nhiều hơn
– Người có sức đề kháng kém, hút nhiều thuốc lá

Các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung ở giai đoạn đầu cũng không rõ ràng. Tuy nhiên, nếu thấy các biểu hiện sau, chị em không nên bỏ qua: chảy máu khi quan hệ tình dục, xuất huyết âm đạo bất thường, đau bụng trên, đau thắt lưng, đau khi đi đại tiện, khó khăn khi tiểu tiện, cơ thể thường xuyên mệt mỏi…

Bệnh ung thư cổ tử cung có thể phòng ngừa được bằng 2 cách: khám tầm soát định kỳ và tiêm văcxin để phòng nhiễm các tuýp HPV gây ung thư cổ tử cung.

Thực tế, bệnh ở cổ tử cung hoàn toàn có thể phòng tránh và chữa khỏi nếu được thăm khám thường xuyên, phát hiện kịp thời và chữa trị tích cực. Cách tốt nhất để phòng bệnh là chị em cần đi kiểm tra, khám phụ khoa định kỳ ít nhất 1 năm/lần. Khám phụ khoa giúp chị em ắm rõ được tình trạng sức khỏe của bản thân, một khi phát hiện bệnh thì cần nhanh chóng điều trị. Ngoài ra, chị em cần giữ vệ sinh cơ quan sinh sản bằng cách rửa nước sạch hàng ngày, tránh lạm dụng các sản phẩm vệ sinh có tính axit mạnh có thể gây ảnh hưởng đến bộ phận này.

Theo aFamily.vn / Tri thức trẻ

60% nam giới mắc đái tháo đường có biến chứng rối loạn cương

Hầu hết các biến chứng do đái tháo đường đều để lại tổn thương và nhiều người bệnh phải đối mặt với nguy cơ tử vong, tàn phế như: nhồi máu não, nhồi máu cơ tim, mù lòa do bong võng mạc, suy thận, cắt cụt chi… Duy có một biến chứng không nguy hiểm đến tính mạng, không đau đớn về thể xác nhưng lại gây những sang chấn về mặt tinh thần, làm ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh: Biến chứng rối loạn cương do đái tháo đường ở nam giới.
60-nam-gioi-mac-dai-thao-duong-co-bien-chung-roi-loan-cuong

Đường huyết tăng cao kéo dài hoặc tăng giảm bất thường sẽ thúc đẩy nhanh quá trình xơ vữa mạch, mạch máu bị tắc hẹp và cản trở việc huy động máu trở về dương vật, làm giảm khả năng cương cứng. Số liệu thống kê cho thấy có tới 60% nam giới mắc bệnh đái tháo đường phải đối mặt với biến chứng rối loạn cương.

Đối với bệnh nhân đái tháo đường có rối loạn cương ở giai đoạn sớm, khi những tổn thương thần kinh và mạch máu chưa trầm trọng thì việc điều trị sẽ mang lại hiệu quả cao. Hiện nay, thực phẩm chức năng Hộ Tạng Đường được nhiều người bệnh ghi nhận trong việc hỗ trợ phòng ngừa và cải thiện biến chứng nói chung và rối loạn cương nói riêng. Các thành phần có trong Hộ Tạng Đường có tác dụng bảo vệ lớp nội mạc mạch máu, bảo vệ tế bào thần kinh nên giảm nguy cơ sinh ra biến chứng.

Kiểm soát tốt đường huyết, cùng lối sống lành mạnh (luyện tập thể thao, không rượu bia, thuốc lá…) và duy trì sử dụng thêm Hộ Tạng Đường sẽ góp phần hạn chế tổn thương do biến chứng, giúp cải thiện rối loạn cương.

Nguồn thanh niên

Nhận biết rối loạn cương dương

Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thành Như (Trưởng phòng khám Nam khoa, Bệnh viện Bình Dân, TP.HCM) cho biết, do rối loạn cương là vấn đề tế nhị, khó nói nên mấy ông thường lảng tránh nói với vợ về bệnh của mình, mà tự tìm thông tin qua bạn bè hay các mục quảng cáo trên báo. Tuy nhiên, với một chút tinh tế, người vợ sẽ đoán được căn bệnh của chồng.

Đặc điểm nhận dạng

BS. Như đưa ra những dấu hiệu thường thấy của người chồng như sau đây để vợ biết được chồng mình đang vướng phải nỗi lòng khó bày tỏ:

Thứ nhất, lao vào làm việc như điên, thậm chí xin trực đêm ở cơ quan càng nhiều càng tốt, về đến nhà trong tình trạng mệt lả và lăn ra ngủ sớm. Cũng có khi là “chiêu” về thật trễ khi vợ ngủ rồi, còn sáng ngủ “nướng” tới tận khi trời sáng bảnh, hoặc đi tập thể dục thể thao ngoài đường, đến khi về nhà thì vợ đã đi làm.

Thứ hai, một số ông tìm cách tránh tối đa những lúc chỉ có hai người bằng cách lôi thêm con cái vào ngủ chung phòng cho vui hay “xin” vợ ra ngoài phòng khách ngủ cho mát.

nhan_biet_roi_loan_cuong_duong
Thứ ba, có ông tự nhiên thay đổi tính tình trong vài tháng gần đây, trở nên cáu gắt bực bội hay lầm lì ít nói, dù cho con cái chăm ngoan, vợ xinh tươi và công việc vẫn làm ăn đều đều.

Thứ tư, có người tỏ ra hơi hoang mang, khi vợ hỏi vì sao cả năm hai vợ chồng không gần gũi thì nói cho qua chuyện, viện cớ người hơi mệt, bị stress, vài bữa lại tốt thôi…

Mẫu số chung của tất cả những chuyện trên, theo BS. Như, là số lần gần gũi giữa hai vợ chồng giảm nhanh đến kinh ngạc, đầu tiên là mỗi tuần một lần, sau đó mỗi tháng một lần, và cuối cùng mất tăm mất tích. Chất lượng quan hệ giảm hẳn, người chồng xuất tinh sớm, hoặc thậm chí không thể duy trì để kết thúc mà là “giữa đường đứt gánh” xảy ra thường xuyên.

Do nhiều nguyên nhân

BS. Nguyễn Thành Như cho biết, hơn một nửa bệnh nhân rối loạn cương là do có bệnh, mạch máu tại dương vật bị hư hại, bệnh về dây thần kinh, bệnh về nội tiết tố. Trước đây, hễ ai bị bệnh này đều đổ thừa do tâm lý nhưng ngày nay, y học đã ghi nhận nguyên nhân tâm lý chỉ chiếm tới 1/5 số bệnh nhân bị rối loạn cương mà thôi. Ngoài ra, những người có bệnh thật sự, lâu ngày tâm lý cũng bị rối loạn theo làm bệnh càng khó chữa. Các lý do gây ra rối loạn:

Tiểu đường: bệnh này gây tổn hại thần kinh và động mạch dương vật. Khoảng 35-50% bệnh nhân nam tiểu đường bị rối loạn cương.

Bệnh dây thần kinh: bệnh xơ cứng rải rác, alzheimer, parkinson và chấn thương tủy sống.

Bệnh mạch máu: xơ vữa thành mạch, cao huyết áp và tăng cholesterol, 70% rối loạn cương là do bệnh mạch máu.

Phẫu thuật: trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt, ung thư bàng quang.

Chấn thương: xương chậu, tủy sống và dương vật.

Bất thường nội tiết: chỉ có 5% rối loạn cương là do nguyên nhân này.

Thuốc lá, rượu bia làm hư hại mạch máu, giảm lượng máu đến dương vật.

Thuốc: thuốc lợi tiểu, trị cao huyết áp, chống loạn nhịp tim, chống trầm cảm, chữa động kinh, lo lắng, an thần, kháng histamine, giãn cơ, chữa ung thư.

Xác định nguyên nhân gây bệnh chính là chữa tận gốc căn bệnh, chứ không phải chỉ chữa triệu chứng đơn thuần, chính là việc mà các bác sĩ nam khoa cần phải làm. Ngoài những xét nghiệm theo chỉ định của bác sĩ, từ bỏ lối sống rượu bia, giảm stress, có nhiều cách để chữa trị rối loạn cương cho quý ông theo… yêu cầu của các bà vợ.
Hiện nay, có nhiều loại thuốc uống thuộc nhóm ức chế men PDE5 được bác sĩ kê toa. Đây là cách điều trị thông dụng và ít biến chứng nhất. Còn có thể kể tới thuốc ngậm apomorphine dưới lưỡi, tác dụng nhanh, nhưng lại gây nôn ói, khó chịu. Hoặc người bệnh dùng ống hút (thường sử dụng cho người cao tuổi), phương cách này rẻ tiền nhưng dương vật lạnh ngắt chứ không nóng như bình thường. Liệu pháp tâm lý tình dục cũng cần được lưu tâm. Còn khi đã hết cách chữa, theo tiến sĩ Nguyễn Thành Như, phải phẫu thuật để đặt thể hang giả. Cách chữa này rất tốn kém, và không có đường rút. Sau khi mổ đặt thể hang giả xong, khi cần, bệnh nhân hoặc vợ sẽ nhấn nút nhỏ trong da để nước bơm vào thể hang giả, giúp dương vật cương, hết cần, lại bấm nút này, dương vật về tư thế nghỉ.

Theo TNO/afamily

Phải làm gi khi trên bảo dưới không nghe

Khi tình trạng “trên bảo dưới không nghe” diễn ra không chỉ 1 vài lần mà tăng dần theo thời gian trong vòng 3 tháng liên tục thì đó là lúc cần phải “báo động”.

Những “thủ phạm” khó tin

Trên 100 triệu nam giới trên toàn thế giới bị chứng rối loạn cương dương (RLCD) và ước tính, con số này sẽ tăng gấp đôi trong một vài năm tới. Và chế độ dinh dưỡng, tâm lý, dùng thuốc, uống rượu…. là các yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng này.

Couple in bed

Dinh dưỡng kém: Cương cứng dương vật là một sự phối kết hợp phức tạp của cơ thể. Máu và hooc-môn hoạt động cùng nhau để đạt được kết quả như mong đợi và quá trình này đòi hỏi yếu tố dinh dưỡng, đặc biệt là những người có hoạt động tình dục nhiều. Nếu chế độ ăn thiếu rau quả, ngũ cốc nguyên cám, các chất béo tốt, rượu vang thì đời sống gối chăn sẽ khó mà “toại nguyện”.
Thiếu luyện tập: Chăm chỉ tập luyện không chỉ tạo ra một sức khỏe dẻo dai mà còn duy trì đời sống gối chăn lâu bền. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc chạy, bơi lội hay aerobic sẽ “tiếp sức” cho quá trình điều trị nếu mắc chứng rối loạn cương.

Stress: Thật không may đối với cánh mày râu khi hoạt động tình dục lại liên quan chặt chẽ với sự lo âu về ngoại hình hay kích thước cậu nhỏ. Chưa kể những căng thẳng hằng ngày cũng ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng cường dương của “cậu nhỏ”.

Rượu: Rượu có thể làm tăng và giảm những ức chế trong ham muốn nhưng uống quá nhiều lại khiến “cậu nhỏ” bị tổn thương. Những người nghiện rượu bị tổn thương gan, hệ thần kinh, gây ảnh hưởng tiêu cực tới chức năng cường dương.

Thiếu giao tiếp: Tình dục là một hình thức giao tiếp. Những cặp đôi không có sự giao tiếp, cởi mở thì sớm muộn sẽ đều phải đối mặt với các vấn đề trong đời sống tình dục. Đặc biệt, những nam giới gặp nhiều khó khăn trong các mối quan hệ sẽ dễ trục trặc trong việc thể hiện ham muốn…

5 nguyên nhân này chính là lý do các bác sĩ đưa ra lời khuyên thay đổi lối sống và hạn chế các yếu tố rủi ro hàng đầu của RLCD khi bắt đầu điều trị.

Các bước khám và điều trị

1. Khám, chẩn đoán bệnh: Do có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến RLCD nên bác sĩ sẽ tiến hành khám toàn diện và cho làm nhiều xét nghiệm khác nhau, thậm chí làm cả test tâm lý.

2. Thay đổi lối sống. Trước và trong khi thực hiện một phương thức điều trị rối loạn cương, bác sĩ sẽ đưa ra khuyến cáo về thay đổi lối sống như tập thể dục, ăn kiêng (để giảm lipid máu, giảm cân…), bỏ hút thuốc lá, giảm uống rượu, tập thư giãn dưỡng sinh.

3. Tư vấn tâm lý: Trong khi được khám bệnh, bác sĩ chuyên khoa sẽ giúp người bệnh nhận ra, hiểu rõ và đối phó với những lo lắng, khó khăn về mặt tâm lý ảnh hưởng đến hoạt động tình dục. Người ta ghi nhận bạn tình nữ đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị nên sự có mặt của họ sẽ góp phần vào thành công của điều trị.
4. Chọn lựa và thực hiện phương thức điều trị được chọn. Phương thức dễ được chọn nhất là dùng thuốc viên uống vì rất tiện lợi. Điển hình là thuốc EDAFINE® chứa hoạt chất sildenafil citrat tương đương 50mg sildenafil base được chính thức sản xuất bởi ICA Biotechnological & Pharmaceutical JSC.

Box: Hoạt chất sildenafil citrat (1) được FDA Hoa Kỳ chấp thuận đưa vào sử dụng năm 1998 sau nhiều công trình nghiên cứu kỹ lưỡng, tường tận kéo dài hàng chục năm. Sildenafil citrat được xem là một phát minh lớn và tiến bộ vượt bậc của y học trong điều trị chứng rối loạn cương dương (erectile dysfunction). Thuốc tác động theo cơ chế ức chế enzyme phosphodiesterase 5 (PDE5) giúp tăng cường dẫn máu đến cơ quan sinh dục nam và duy trì sự cương dương. Theo số liệu thống kê, cho đến nay có hàng chục triệu nam giới trên thế giới đã được điều trị hiệu quả bằng các chế phẩm chứa sildenafil. Qua 12 năm đưa vào sử dụng, tính an toàn của các dược phẩm chứa sildenafil đã được xác nhận nếu dùng thuốc đúng cách. Vì vậy, chúng luôn vẫn dẫn đầu các thuốc điều trị rối loạn cương dương chứa hoạt chất thuộc nhóm ức chế PDE5.

Biệt dược EDAFINE® được ICA sản xuất với công nghệ bào chế mới, làm tăng tính khả dụng sinh học, thời gian bắt đầu tác dụng, hiệu quả và tính an toàn.

Lưu ý: Thuốc  EFADINE® là  thuốc kê đơn được chỉ định điều trị bệnh rối loạn cương dương

Nguồn afamily

Đeo nhẫn cưới có thể gây rối loạn tình dục

Việc đeo nhẫn cưới bằng vàng trong một thời gian dài có khả năng làm giảm tinh binh, nên nhiều quý ông rơi vào cảnh hiếm muộn dù bản thân không có bệnh tật gì.

Nỗi khổ mang tên “không biết”

Anh N.V.N (Từ Liêm, Hà Nội) lấy vợ từ năm 27 tuổi, kết hôn được hai năm nhưng vợ chồng anh vẫn chưa có em bé, mặc dù không kế hoạch gì.

N. tâm sự việc vợ chồng anh vẫn sinh hoạt bình thường mà tin vui chẳng thấy đến. Nhiều lần định đi khám bệnh nhưng lại thấy ngại vì bệnh này khó nói. Anh bắt đầu đọc và tham khảo trên nhiều sách báo tìm hiểu về việc chậm trễ của mình. Anh và vợ lên một kế hoạch sinh hoạt cũng như ăn uống hết sức khoa học. Vợ anh mua thêm rất nhiều đồ ăn bổ dưỡng cho “con giống” khỏe hơn.

700-01276166

Cuối cùng anh phải cầu cứu đến các bác sĩ hi vọng sớm được làm cha. Sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm, các bác sĩ đưa ra kết quả số lượng tinh binh của anh quá ít, không đủ để thụ thai.

Các bác sĩ bắt đầu đi tìm nguyên nhân và được biết N. nghiện nặng thuốc là và bia rượu. Khói thuốc và men rượu đã ảnh hưởng tới tới việc sản sinh “con giống” của anh.

Cũng giống hoàn cảnh của N, anh B.V.H (Tôn Đức Thắng, Hà Nội) làm nhân viên kỹ thuật điện cho một khách sạn 4 sao trong thành phố, lấy vợ đã được 5 năm nhưng vợ chồng anh vẫn chưa trọn hạnh phúc vì chưa có con.

Anh H. đến khám bệnh và than thở với bác sĩ rằng mình đã mất bản lĩnh đàn ông từ lâu, anh chỉ muốn xin tinh trùng để toại ước mơ cho người vợ. Sau khi thăm khám và tìm ra nguyên nhân, bác sĩ đã mách anh ra một nhà nghỉ gần bệnh viện và chờ bác sĩ tới “hỗ trợ”. Chỉ cần một mũi tiêm thuốc kích thích, anh H. đã lấy lại “phong độ”. Đây là lần đầu tiên anh đi đến “bến”. Chỉ vài tháng sau, anh đã vui mừng gọi điện cho bác sĩ thông báo việc mình sắp được làm cha.

Trí thức nguy cơ vô sinh cao hơn

Vô sinh là tình trạng một cặp vợ chồng không thể có thai sau 1 năm chung sống dù vẫn giao hợp bình thường, không dùng bất cứ biện pháp tránh thai nào. Vô sinh nam thường do một số nguyên nhân như: không có tinh trùng, tinh trùng ít và vận động kém, xuất tinh ngược hoặc do rối loạn nhiễm sắc thể. Trong đó chủ yếu là ít tinh trùng và kém vận động.

TS, BS Lê Vương Văn Vệ- Giám đốc Bệnh viện Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết, hầu hết những cặp vợ chồng đến khám,  trước khi tiến hành các xét nghiệm, ông thường khuyên người chồng nên tháo nhẫn cưới ra. Ông Vệ lý giải, nhẫn cưới đeo ở ngón áp út có nguy cơ gây ra nhiều rối loạn về khả năng tình dục, thậm chí là tình trạng bất lực.

Đây là kết quả nghiên cứu của bác sĩ chuyên ngành sinh vật học nổi tiếng Sergei Gagarin, người đã khám phá ra các tín vật có thể gây hại này giải thích rằng: Nhiều người biết đến nguyên tắc vật lý khi chất dẫn điện chuyển động trong mạch điện kín sẽ tạo ra sự cảm ứng điện từ theo một hướng nhất định.
Tương tự như vậy, các nơ-ron thần kinh trong ngón tay đóng vai trò như dòng điện, còn chiếc nhẫn là vòng dây dẫn khép kín. Nếu đeo nhẫn vào ngón tay, nó sẽ gia tăng tác động lên cường độ các dòng năng lượng sinh học tương ứng trong ngón tay.

Theo kinh Ka-ma-su-tra, trục năng lượng sinh học của thận (Kidney Meridian) đi qua ngón tay thứ 4, đưa năng lượng tới huyệt Swadhishthana Charka, có chức năng kiểm soát để giữ hệ tiết niệu và hoạt động tình dục trong giới hạn bình thường. Nếu nam giới thường xuyên tháo nhẫn cưới, tác động tiêu cực lên khả năng tình dục sẽ giảm do hạn chế tác động bất lợi lên các dòng năng lượng. Nhưng nếu họ đeo nhẫn cưới liên tục, tình hình có thể sẽ xấu đi một cách rõ ràng.

Thực tế từ Bệnh viện Nam học và hiếm muộn còn cho thấy, các phiền phức mà quý ông gặp phải vô cùng đa dạng, như rối loạn cương dương, dị tật bẩm sinh sinh dục, hẹp bao quy đầu, tràn dịch màng tinh hoàn, dương vật bé, cong vẹo, lạc vị trí…

Theo thống kê của bệnh viện trong những năm gần đây, tầng lớp trí thức thường có nguy cơ bị trục trặc sinh lý cao, trong đó có thể dẫn đến vô sinh. Nguyên nhân chính bởi tầng lớp trí thức có thói quen tham gia nhiều vào các cuộc tiệc tùng, thường xuyên sử dụng bia rượu.

Nguồn afamily

Viêm âm đạo do thiếu nội tiết ở phụ nữ

Viêm âm đạo (VAĐ) là một bệnh lý phổ biến thường gặp nhất trong các bệnh lý phụ khoa, trong đó có rất nhiều nhóm nguyên nhân gây ra VAĐ, có thể do vi trùng, do nấm, do ký sinh trùng… Hiện nay VAĐ còn do nguyên nhân thiếu nội tiết cũng thường gặp trên lâm sàng.

Bệnh lý này gặp ở nữ phụ nữ có phẫu thuật cắt bỏ hai buồng trứng, có điều trị xạ trị hay điều trị hóa chất và ở những phụ nữ trong tuổi mãn kinh.

VAĐ do thiếu nội tiết xảy ra như thế nào?

Niêm mạc âm đạo có nhiều nếp gấp ngang, chịu ảnh hưởng của các nội tiết tố nữ và thường hơi ẩm do các chất dịch tiết ra từ các tuyến như tế bào biểu mô tuyến ở âm đạo, tuyến Bartholin, tuyến Skene và dịch nhầy từ cổ tử cung, tạo nên chất dịch nhầy định vị trong âm đạo. Dịch tiết âm đạo bình thường có màu trắng đục, mịn như bông và tập trung ở túi cùng sau. Vi trùng thường trú trong âm đạo phần lớn các vi trùng ái khí, chủ yếu là các lactobacilli có khả năng chuyển hóa glycogen trong tế bào thành acid lactic giữ cho pH âm đạo ở mức < 4,5. Khi cơ thể thiếu nội tiết tố nữ các tuyến và cấu trúc của thành âm đạo không phát triển do đó chất dịch âm đạo không xuất hiện. Chính điều này làm rối loạn môi trường âm đạo, cũng như thành âm đạo không được bảo vệ. Đây là mấu chốt làm cho âm đạo bị tổn thương biểu hiện sự viêm do thiếu hụt nội tiết tố nữ bao gồm chất thiếu chất là estrogen và progesterone.

viem-am-dao-do-thieu-noi-tiet-1

Cách xác định VAĐ do thiếu nội tiết

Các triệu chứng thường là viêm không đặc hiệu, huyết trắng ít, có thể thấy có mủ hôi, đôi khi lẫn máu, cảm giác của người bệnh đau trằn bụng dưới, nóng rát âm hộ, âm đạo. Có thể đi kèm về rối loạn đường tiểu như tiểu lắt nhắt, tiểu buốt. Khi thăm khám bằng tay hay đặt mỏ vịt vào âm đạo người bệnh, than đau nhiều, kiểm tra thấy niêm mạc thành âm đạo nhợt nhạt, có thể có những chấm xuất huyết đỏ.

Lấy huyết trắng để soi tươi, kết quả thấy tế bào trung gian, không thấy tế bào bề mặt, có thể có vi trùng hay vùng xuất huyết.

Những ảnh hưởng

Bình thường âm đạo chịu sự ảnh hưởng và chi phối của nội tiết tố sinh dục nữ, giúp cho vai trò của âm đạo duy trì tính sinh lý của cơ quan này trong quá trình bảo đảm chức năng tình dục và khả năng tránh được nhiễm trùng.

Một khi nội tiết tố sinh dục nữ bị thiếu hụt hay mất đi, chức năng của âm đạo bị ảnh hưởng rất nhiều. Người bệnh không còn cảm giác hứng thú trong sinh hoạt “vợ chồng”, cảm giác khó chịu thường xuyên xảy ra, một khi vệ sinh không tốt hay có các bệnh lý đi kèm làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm thì nguy cơ nhiễm trùng luôn luôn rình rập.

Cách điều trị VAĐ do thiếu nội tiết

Điều trị chủ yếu là tại chỗ, sử dụng dưới dạng kem thoa vào thành âm đạo hay viên nang đặt vào trong âm đạo, với thời gian điều trị 15 – 20 ngày. Thuốc thường được dùng là một trong các loại thuốc sau đây: thuốc dạng kem thoa, như cream estrogen, cream promestriene, thuốc dạng kem có thể thoa vào âm đạo ngày 1 lần. Thuốc dạng viên nang đặt trong âm đạo như Estriol 0,5mg, Promestriene 10mg, dùng 1 viên ngày, nên đặt vào lúc tối trước khi đi ngủ.

Khi có bội nhiễm đi kèm hay có nhiễm trùng đường tiểu, phải kết hợp thuốc kháng sinh toàn thân như: Cephalexin, Ofloxacin, Doxycycilin. Thường dùng thêm các loại thuốc chống co thắt như Spasmaverin, NO-SPA, Spasless.

Ngoài ra, cần kết hợp chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo đầy đủ các thành phần dinh dưỡng, chất đạm, chất béo, chất bột, chất xơ, vitamin và muối khoáng, tránh ăn kiêng hay ăn không đủ chất. Có một chế độ nghỉ ngơi hợp lý và rèn luyện thân thể hàng ngày bằng các phương pháp tập thể dục…

Chế độ vệ sinh rất cần thiết, không nên lạm dụng thuốc rửa vệ sinh phụ nữ hàng ngày, chỉ cần sử dụng thuốc vệ sinh khi có nhiễm trùng, huyết trắng hôi, hay huyết trắng chuyển màu, không dùng liên tục hàng ngày vì trong thuốc rửa vệ sinh làm bào mòn niêm mạc thành âm đạo và làm mất cân đối môi trường âm đạo. Chỉ cần rửa nước sạch sau mỗi lần vệ sinh và thấm khô bằng khăn giấy là đủ.

Sau khi dùng thuốc dạng kem hay dạng viên đặt thường phải duy trì thường xuyên, có thể nghỉ 3 – 4 tuần rồi duy trì 2 tuần. Cần đi khám phụ khoa định kỳ mỗi 3 tháng 1 lần;  tái khám ngay khi có dấu hiệu lạ.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

Theo SKDS

Tìm hiểu nang tuyến Bartholin

Nang tuyến bartholin là bệnh lý phụ khoa ở phụ nữ tuổi sinh sản. Hàng năm, phụ nữ bị nang tuyến bartholin chiếm 2% số bệnh phụ khoa. Mặc dù việc điều trị đơn giản nhưng vấn đề được quan tâm là sự tái phát và chẩn đoán phân biệt nang tuyến với áp-xe hoặc tổn thương ác tính.

Vị trí của tuyến Bartholin

Tuyến Bartholin là tuyến thuộc cơ quan sinh dục ngoài, nằm ở cửa âm đạo vị trí 4 giờ và 8 giờ. Đây là những tuyến nhỏ nên rất khó để nhìn hay nhận thấy khi tuyến bình thường. Tuyến có dạng hình cầu, đường kính 1cm, được cấu tạo bởi tế bào trụ tiết nhầy. Chức năng của tuyến là tiết ra chất nhầy vào trong bề mặt môi nhỏ của âm hộ bao quanh âm đạo, giữ cho vùng đó được bôi trơn khi giao hợp và giữ ẩm.

Tại sao có nang tuyến Bartholin?

Sự hình thành nang tuyến là do tắc nghẽn ống tuyến, trong khi tuyến vẫn tiếp tục tiết ra chất nhầy, làm hình thành một nang có thành mỏng. Gọi là nang tuyến Bartholin hay cyst Bartholin. Sự tắc nghẽn của ống tuyến có thể do nguyên nhân nhiễm trùng và phù nề làm chèn ép ống tuyến, hoặc do chấn thương, nhiễm trùng mãn tính làm tắc miệng ống tuyến.

tim_hieu_nang_tuyen_bartholin

Nên đi khám phụ khoa khi phát hiện những bất thường.

Chẩn đoán nang tuyến Bartholin

Nang tuyến Bartholin là loại tổn thương dạng nang, kích thước 1,5 – 3cm, thường gặp nhất ở vùng âm hộ. Mặc dù nang tuyến thường chỉ một bên âm hộ và không biểu hiện triệu chứng gì, nên không cần điều trị, nang tuyến có thể tự tiêu đi. Nang tuyến điều trị, khi nang có sự tăng kích thước, có khi 5 – 10cm hoặc bị nhiễm trùng và gây đau ở vùng âm hộ. Thường gặp lứa tuổi 25 – 45. Xác định nang tuyến Bartholin là một chẩn đoán hoàn toàn lâm sàng. Phương pháp chẩn đoán đầu tiên và đơn giản nhất là quan sát tổn thương, xác định kích thước, mật độ, độ di động và cảm giác đau khi ấn. Nang tuyến và ống tuyến nằm phía trong và ở phần dưới của môi nhỏ âm hộ.

Chẩn đoán phân biệt nang tuyến Bartholin

Một số bệnh lý vùng âm hộ – âm đạo có triệu chứng gần giống của nang tuyến Bartholin. U mỡ hay nang vùng môi lớn: khối u nằm ngoài vùng âm hộ, xác định khám bằng tay và quan sát tổn thương. Tụ máu vùng âm hộ: sau chấn thương hay sang chấn vào vùng âm hộ, triệu chứng đau nhức, khối u to, bầm tím rịn máu. Nang tuyến Skene: vị trí nang nằm ngang lỗ niệu đạo, cao hơn tuyến Bartholin 2 – 3cm.

Xử trí nang tuyến Bartholin

Thông thường mở thông túi, có hai phương pháp:

– Rạch bóc nang tuyến, may viền túi làm thông ống tuyến gọi là may thông túi bằng chỉ tan như Chromic 2 ô, giúp tái tạo nang tuyến.

– Bóc chọn nang tuyến may mũi rời bằng chỉ tan. Đây là biện pháp cắt bỏ hoàn toàn nang tuyến. Kết hợp thuốc kháng sinh và thuốc giảm đau, kháng viêm. Mẫu mô nang tuyến sau khi bóc ra, cần gởi làm giải phẫu bệnh, để xác định bản chất nang tuyến.

Áp-xe nang tuyến Bartholin.

Khi nang tuyến bị nhiễm trùng thì nang tăng kích thước rất nhanh sau 2 – 4 ngày và gây đau nhiều, kèm theo sốt. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tuyến Bartholin có thể bị áp-xe mà không cần có tổn thương nang trước đó. Trước ây, quan niệm phổ biến cho rằng, áp-xe tuyến Bartholin là do hai tác nhân chính là lậu cầu hoặc chlamydia. Ngày nay, với những bằng chứng vi sinh học qua các nghiên cứu, các nhà khoa học kết luận rằng áp-xe của cơ quan này là do nhiều loại vi khuẩn gây ra. Brook đã phân lập và báo cáo tổng cộng có đến 67 loại vi khuẩn trong các trường hợp áp-xe tuyến Bartholin.

Xử trí áp-xe tuyến Bartholin

Kháng sinh toàn thân dùng loại kháng sinh như: cefotaxim 1g tiêm tĩnh mạch kết hợp Tobi 80mg tiêm bắp. Dùng giảm đau panadol 0,5g và alpha chymotrpysin. Sau 24 – 48 giờ. Rạch khối áp-xe của tuyến đặt penrose dẫn lưu. Có thể cắt bỏ hoàn toàn tuyến Bartholin. Tiếp tục thuốc kháng sinh bằng đường uống.

Sự tái phát trong nang tuyến Bartholin và cách phòng ngừa

Khoảng 20% trường hợp nang tuyến và áp-xe tuyến Bartholin bị tái phát và thường do vi trùng bệnh lậu gây nên.

Cần vệ sinh vùng âm đạo sạch sẽ, sử dụng việc tắm ngồi là biện pháp ngăn ngừa tái phát.

Việc phẫu thuật để giữ lỗ thông không bị bít lại, như may thông túi, hay có thể cắt bỏ hoàn toàn tuyến ống Bartholin.

Điều trị triệt để các bệnh lây qua đường tình dục.

Sử dụng bao cao su trong giao hợp nhằm ngăn ngừa sự lây truyền.

Ung thư tuyến Bartholin

Có hai dạng: nguyên phát và thứ phát:

Ung thư nguyên phát tuyến Bartholin là một bệnh lý phụ khoa hiếm gặp, chỉ chiếm 1% ung thư đường sinh dục nữ. Ung thư có triệu chứng điển hình giống như của áp-xe tuyến: khối u âm hộ, có hoặc không có loét và giao hợp đau. Do bệnh lý thuộc loại hiếm gặp nên các đặc điểm dịch tễ học của các yếu tố nguy cơ vẫn chưa được biết rõ. Độ tuổi trung bình bị ung thư là: 55 – 65 tuổi.

Ung thư thứ phát tuyến Bartholin là dạng ung thư của vùng mô lân cận hoặc từ nơi khác di căn tới. Chẩn đoán ung thư tuyến Bartholin cần sinh thiết mẫu mô làm xét nghiệm giải phẫu bệnh có sự hiện diện tế bào ác tính. Điều trị ung thư tuyến Bartholin: phẫu thuật kết hợp xạ trị.

BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Tìm hiểu bệnh u nang vú và cách điều trị

U nang vú thường lúc to lúc bé theo chu kỳ kinh nguyệt, và đặc biệt hay xuất hiện vào những lúc kinh không đều. Chúng cứng và di động, khi ta dùng tay day qua day lại.

Những u nang bên trong chứa dịch lỏng là nguyên nhân thường hay gây những khối lạ trong vú ở những phụ nữ còn kinh trên 40 tuổi (phụ nữ dưới 40 ít bị hơn). U nang vú có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào, nhưng hiếm khi xảy ra cho phụ nữ đã mãn kinh không dùng kích thích tố.

Bác sĩ thường khó mà phân biệt đây là một u nang trong chứa dịch lỏng hay một bướu đặc. Dùng siêu âm hoặc đâm kim vào khối bướu thử rút ra dịch có thể giúp ta phân biệt được điều này.

tim_hieu_benh_u_nang_vu_va_cach_dieu_tri

Cấu tạo vú – Ảnh minh họa

Nếu khi đâm kim vào khối bướu rút ra được dịch lỏng, và sau đó khối bướu biến mất, không thấy xuất hiện lại, thì đó là một u nang vú lành tính. Song nếu dịch rút ra từ khối bướu là máu hoặc khối bướu không hoàn toàn biến hẳn sau khi rút dịch; hoặc trong một thời gian ngắn, khối bướu vẫn tái phát sau nhiều lần rút dịch, nó cần được mổ lấy ra để đem thử thịt.

Sau khi bác sĩ đâm kim hút chất dịch ra từ u nang trong vú bạn, và u nang biến mất, bạn nhớ trở lại tái khám bác sĩ trong vòng 4 đến 6 tuần. Chưa thấy “nó” xuất hiện lại, ta tạm mừng, song thỉnh thoảng bạn nên đến khám bác sĩ, để biết chắc “nó” đã đi luôn.

Cũng có những u nang nhỏ xíu, sờ không thấy, song khi chụp phim hoặc siêu âm tình cờ thấy, tuy nhiên chúng là u nang lành tính, bạn không cần phải làm gì.

Theo Khẻo mỗi ngày

Viêm âm đạo do nấm Candida: Vì sao hay tái phát?

Nấm âm đạo thường gặp ở phụ nữ là do một loại nấm có tên Candida Albicans gây ra. Ở điều kiện bình thường, nấm thường trực trong môi trường ở dạng bào tử nhưng không gây bệnh. Chỉ khi gặp điều kiện thuận lợi như thời tiết nóng, ẩm hoặc có nguyên nhân nào đó gây mất cân bằng môi trường sinh lý âm đạo, nấm mới phát triển và gây bệnh.

viem_am_dao_do_nam_candida_vi_sao_hay_tai_phat

Điều kiện để nấm Candida phát triển và gây bệnh

Candida là một loại nấm men có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước nhỏ khoảng 2-5 µm, thường sống hoại sinh trong đường tiêu hóa của người, động vật và trong âm đạo… Ở người khoẻ mạnh bình thường, nấm candida tìm thấy được 30% ở miệng, 38% ở ruột, 39% ở âm đạo, 17% ở phế quản…

Nấm Candida có thể phát triển và gây bệnh ở bất cứ đâu trên cơ thể con người nhưng chủ yếu ở da, niêm mạc. Niêm mạc ở âm hộ, âm đạo của phụ nữ là nơi có thể dễ dàng bị nấm Candida ký sinh tại chỗ phát triển và gây bệnh khi có điều kiện thuận lợi.

Bệnh viêm âm đạo do nấm Candida là bệnh thường gặp trong các bệnh phụ khoa. Bệnh có liên quan đến việc sử dụng kháng sinh có phổ diệt khuẩn rộng và kéo dài, ở phụ nữ có thai vào 3 tháng cuối của thai kỳ, có độ pH ở âm đạo thấp và người bị bệnh tiểu đường… làm cho nấm ký sinh có cơ hội phát triển gây bệnh. Ở những đối tượng nữ có hoạt động tình dục mạnh hoặc dùng thuốc phòng tránh thai cũng là người có thể có yếu tố nguy cơ bị mắc bệnh viêm âm hộ, âm đạo do nấm Candida. Bệnh nhân thường có biểu hiện triệu chứng ngứa ngáy âm hộ, có cảm giác nóng bỏng, giao hợp bị đau đớn và khó khăn… Khám phụ khoa thấy niêm mạc âm hộ, âm đạo bị viêm đỏ, có mảng màu trắng, dịch tiết ra như sữa đông. Tổn thương có thể lan ra  quanh âm hộ và háng bẹn của bệnh nhân.

Bệnh hay tái phát

Bệnh do nấm Candida ở âm đạo phụ nữ nhưng khi điều trị muốn khỏi bệnh phải điều trị cả cho vợ và chồng. Ở nhiều phụ nữ sau điều trị nấm âm đạo rất hay tái phát, ngoài nguyên nhân do chồng không cùng điều trị thì còn do người phụ nữ chủ quan, không làm đúng theo lời dặn của bác sĩ trong vệ sinh cá nhân như giặt riêng đồ lót bằng xà phòng, phơi khô ngoài nắng to trước khi mặc để tránh nhiễm nấm từ những đồ lót mặc lần trước. Không tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ là khi dùng hết thuốc phải khám và xét nghiệm lại theo đúng lịch hẹn, dẫn đến tình trạng thuốc uống thuốc chưa đủ liều, đặt chưa trị dứt điểm sạch nấm. Đặc biệt, một số trường hợp còn tự ý mua thuốc đặt khi thấy có biểu hiện ngứa, ra khí hư, do đó làm tăng nguy cơ kháng thuốc, tái phát rất cao.

Cách phòng như thế nào?

Viêm âm đạo do nấm candida gây ngứa rát, khó chịu khi quan hệ tình dục, ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt hằng ngày và rất dễ tái phát môi trường pH dễ thay đổi. Vì vậy, để tránh nhiễm nấm, chị em nên thường xuyên vệ sinh bộ phận sinh dục, giữ quần áo khô ráo, sạch sẽ, phơi ở nơi có ánh sáng mặt trời. Khi vệ sinh chỉ nên rửa ở bên ngoài, không nên thụt rửa sâu để tránh làm mất cân bằng môi trường pH. Khi nhiễm nấm, cần đi khám, xét nghiệm và tuân thủ đúng chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Nếu phụ nữ có gia đình bị nhiễm nấm thì nên điều trị cả hai vợ  chồng. Vì khi giao hợp, các vi khuẩn nấm sẽ đọng lại ở bao quy đầu của người chồng và đây là nguyên do khiến người vợ rất dễ nhiễm nấm trở lại.

Bác sĩ  Thu Lan
Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Tuổi mãn kinh – Những chuyện khó nói

Cái gọi là tuổi mãn kinh (MK) là thời kỳ chuyển đổi chức năng của người phụ nữ, từ chỗ hoạt động mạnh mẽ sang trạng thái giảm dần rồi kết thúc. Trong giai đoạn này, sinh hoạt tình dục (TD) tương đối mang tính ổn định về nhận thức, kinh nghiệm cũng như ổn định về kinh tế. Giai đoạn này chủ yếu làm cho cân bằng TD, duy trì TD với tình yêu, làm cho TD trở thành hơi ấm của cuộc đời. Về tâm lý thì chín chắn, đi vào trạng thái ổn định, bền vững về TD, quan tâm chăm óc nhau về thể xác lẫn tâm hồn.

Đa số phụ nữ đi vào thời kỳ MK có nhu cầu TD ít hơn so với thời trẻ tuổi. Nguyên nhân là do có sự giảm nội tiết tố sinh dục, từ đó dẫn đến giảm khả năng bài tiết chất nhờn ở âm đạo, khiến cho sinh hoạt TD trở nên khó khăn hơn, cảm thấy đau rát do tổn thương niêm mạc, hoặc dễ mắc bệnh phụ khoa thông thường khiến chị em không muốn sinh hoạt TD. Trên thực tế, qua nghiên cứu của các nhà khoa học thấy rằng, không ít nữ giới khi đi vào giai đoạn MK lại cảm thấy nhu cầu TD tăng lên, cảm thấy thoải mái hơn khi còn trẻ vì không sợ mang thai, không phải tính toán chu kỳ rụng trứng, không phải chịu sự quấy rầy của con cái. Vì vậy, có người cho rằng, thời gian này là thời kỳ vàng son của cuộc sống chăn gối vợ chồng. Sinh hoạt TD của họ không những không giảm mà còn tăng lên, thoải mái hơn, hấp dẫn và quyến rũ hơn.

tuoi_man_kinh_nhung_chuyen_kho_noi

Về nội tiết tố giúp cho sự ham muốn về TD cho cả hai giới là testosterone. Testosterone ở nữ giới có nguồn gốc phần lớn từ tuyến thượng thận, cho dù ở tuổi MK, người nữ vẫn còn ham muốn TD, đó cũng là điều bình thường. Và cũng nên nhớ rằng, sinh hoạt TD giai đoạn này cũng cần có sự điều hỉnh cho hợp lý hơn so với thời trẻ. Cần kéo dài khúc dạo đầu hơn, cần âu yếm vỗ về để đánh thức tâm lý TD, cần sử dụng chất bơi trơn.

Đi vào giai đoạn MK, việc duy trì sinh hoạt TD là việc làm hết sức cần thiết vì đây là hình thức giúp cơ thể vận động, có tác dụng lên toàn diện các cơ bắp, gia tăng hoạt động vừa phải của tim, gia tăng nhịp thở vận động các khớp xương hay chân và cột sống, giúp cải thiện cho sức khỏe. Đặc biệt là giao hợp sẽ tạo nên hưng phấn, quan hệ TD đầy tình yêu sẽ giúp phục hồi nhanh chóng những khả năng đã bị đánh mất. Nó đem lại bình an và hạnh phúc, mang lại niềm vui tinh thần, thỏa mãn về mặt tâm lý cho người lớn tuổi và có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống của họ.

TD không chỉ đơn thuần là niềm vui mà còn giúp cải thiện sức khỏe của bạn một cách đáng kể, cả về mặt thể chất lẫn tâm lý, là liều thuốc chữa đau đầu cực kỳ công hiệu, giảm stress, điều chỉnh giấc ngủ. Sinh hoạt chăn gối đều đặn sẽ làm tăng cao mức testosteron lẫn estrogen trong cơ thể. Testosteron không chỉ giúp thêm hưng phấn TD mà còn khiến cho xương và cơ trở nên rắn chắc hơn, đồng thời duy trì khả năng làm việc của tim.

Thời kỳ MK được chia ra làm 3 giai đoạn, thời kỳ tiền MK, thời kỳ tắt kinh và thời kỳ hậu MK. Tuổi MK thường ở vào độ tuổi khoảng 45 – 50, trung bình 47. Thời kỳ MK chỉ ghi nhận qua hồi cứu sau 12 tháng liên tục không hành kinh, chịu những xáo trộn của thời kỳ này như: mệt mỏi, đau đầu, mất ngủ, hay quên, tê các đầu chi, nôn mửa, giảm thị lực, ù tai, hoa mắt, chóng mặt, chán ăn, có khi trầm uất diễn đạt tư duy trầm lặng, cảm thấy lo lắng, đa nghi phiền muộn.

Khoa học có đủ bằng chứng để kết luận rằng TD rất có lợi, nó có thể làm tăng khả năng hoạt động của não, tăng nhịp tim, phòng chống bệnh tật, ốm đau và giúp cho mỗi người cảm nhận tốt hơn về bản thân.

Trong xã hội căng thẳng ngày nay, thật khó để có một cuộc sống TD đắm say, nhưng chỉ cần không ngừng cố gắng, miễn rằng ham muốn, mơ ước duy trì TD giống như thèm ăn các món ngon, thay đổi món ngon như thời trẻ, thì sẽ nhận thấy rằng những nỗ lực của mình sẽ được bù đắp.

Tóm lại, TD nói chung, sinh hoạt TD ở tuổi MK nói riêng, là một khía cạnh của hạnh phúc, giúp cho chúng ta thoát khỏi sự cô đơn, yêu đời hơn và khỏe mạnh. Nó còn biểu thị những tình cảm mà thời thanh niên và trung niên chưa hiểu hết được.

Từ tuổi MK đến tuổi xế chiều vẫn tiếp tục sinh hoạt TD bằng những cảm nhận TD nhẹ nhàng hơn và cũng thỏa mãn thông qua các hình thức như vỗ về, ôm ấp, quan tâm và tha thứ cho nhau.

Theo Sức Khỏe & Đời Sống/ BS.CKII. TRẦN QUỐC LONG

Tìm hiểu bệnh ung thư nội mạc tử cung

Ung thư nội mạc tử cung đứng thứ 12 trong các loại ung thư thường gặp ở phụ nữ và đứng thứ 3 trong các loại ung thư bộ phận sinh dục nữ, sau ung thư cổ tử cung và ung thư buồng trứng. Đa số trường hợp ung thư nội mạc tử cung xảy ra ở bệnh nhân trên 50 tuổi. Ngày nay tuổi thọ của phụ nữ tăng lên, nên ung thư nội mạc tử cung cũng gia tăng theo tuổi. Dưới đây là những điều cần biết về ng thư cổ tử cung.

roi-loan-kinh-nguyet-1_0

Triệu chứng thường gặp của ung thư nội mạc tử cung

Ở giai đoạn sớm, có triệu chứng ra dịch âm đạo bất thường như huyết trắng hay ra máu ngoài kỳ kinh. Ở giai đoạn trễ: xuất huyết âm đạo dai dẳng hay ra dịch hôi, đau tức vùng hạ vị (do tử cung ứ dịch), tiểu khó, đi tiêu khó (do tử cung chèn ép bàng quang và trực tràng). Muộn hơn có thể gây dò bàng quang – âm đạo, hoặc trực tràng – âm đạo hoặc dò bàng bàng quang – âm đạo – trực tràng.

Phần lớn ung thư xuất phát từ những tuyến của nội mạc, khởi đầu có dạng như những chồi, polyp trong lòng tử cung, bề mặt bướu có phần hoại tử và xuất huyết gây chảy máu âm đạo đến 90% các trường hợp.

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp chảy máu âm đạo bất thường đều có nguyên nhân từ ung thư nội mạc tử cung. Nhưng người bệnh cũng không nên chủ quan bỏ qua triệu chứng này, khi có xuất huyết âm đạo ở tuổi mãn kinh hay chảy máu ngoài chu kỳ kinh, nên đi khám chuyên khoa để được khám và làm các xét nghiệm nhằm chẩn đoán bệnh sớm và điều trị kịp thời.
Các xét nghiệm náo có thể chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung

Chỉ 1/3 số trường hợp xuất huyết âm đạo là do ung thư nội mạc tử cung, 1/3 do nguyên nhân lành tính và 1/3 là không rõ nguyên do. Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư nội mạc tử cung bao gồm:

Hình ảnh học: siêu âm, CT scanner, cộng hưởng từ (MRI) để phát hiện những bất thường trong lòng tử cung (dầy nội mạc tử cung, sang thương nội mạc tử cung, hay ứ dịch trong lòng tử cung…).

Giải phẫu bệnh: nạo sinh thiết lòng tử cung trước khi điều trị để biết tuýp mô học và mức độ biệt hóa của tế bào ung thư.

Xét nghiệm thụ thể: estrogen (ER) và thụ thể progesteron (PR) giúp hướng dẫn điều trị nội tiết sau mổ. Nếu ER (+) và PR (+) thì sẽ điều trị nội tiết sau mổ (dùng progesteron dạng uống  hoặc chích) và tiên lượng tốt hơn.
Phương pháp điều trị ung thư nội mạc tử cung

Giai đoạn sớm:

Ung thư còn khu trú tại nhân tử cung, mổ cắt tử cung và hai phần phụ, có thể nạp hạch chậu hai bên hoặc không, nếu hạch chậu có di căn thì xạ trị thêm.

Giai đoạn muộn:

Ung thư xâm lấn ra khỏi tử cung, ăn lan các xơ lân cận như bàng quang, trực tràng, ruột, vạch hậu… Nếu còn cắt được tử cung thì phẩu thuật, sau đó xạ trị và hóa trị. Nếu không cắt được tử cung thì xạ trị và hóa trị.

Theo Bác sĩ Phạm Văn Bùng – Thuốc & SK